Địa danh tiếng Hoa ở tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh Niên luận Ngôn Ngữ Học Phân loại đầy đủ địa danh tiếng Hoa theo địa danh chỉ địa hình, hành chính, vùng và phân loại dựa theo âm tiết. Trình bày ý nghĩa và giá trị của một số địa danh tiếng Hoa ở Sóc Trăng, Trà Vinh: giá trị phản ánh lịch sử, tự nhiên, tín ngưỡng, văn hóa, và về mặt ngôn ngữ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
NIÊN LUẬN CHUYEENH NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
Đề tàiĐỊA DANH TIẾNG HOA Ở TỈNH SÓC TRĂNG
VÀ TRÀ VINH
GVHD: PGS.TS Nguyễn Công Đức SVTH:
LỚP:
MSSV:
TP.HCM, ngày tháng năm
Trang 2M c l c ụ ụ
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Kết cấu niên luận 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10
1.1 Về địa danh học 10
1.1.1 Khái niệm địa danh 10
1.1.2 Phân loại địa danh 12
1.1.3 Về địa danh tiếng Hoa 15
1.2 Vài nét về địa bàn tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh 16
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 16
1.2.2 Lịch sử và địa giới hành chính 20
1.2.3 Đặc điểm dân cư 25
1.2.4 Đặc điểm ngôn ngữ 26
1.2.5 Kết quả thu thập và phân loại địa danh 28
1.3 Tiểu kết 33
CHƯƠNG 2: PHÂN LOẠI ĐỊA DANH TIẾNG HOA TỈNH SÓC TRĂNG VÀ TRÀ VINH 35
2.1 Phân loại theo đối tượng 35
2.1.1 Địa danh chỉ địa hình 35
2.1.2 Địa danh chỉ hành chính 37
2.1.3 Địa danh vùng 47
2.1.4 Địa danh chỉ công trình xây dựng 48
2.2 Phân loại theo đối tượng 52
Trang 32.2.1 Địa danh chỉ địa hình 52
2.2.2 Địa danh hành chính 55
2.2.3 Địa danh chỉ vùng 64
2.2.4 Địa danh chỉ công trình xây dựng 65
2.3 Phân loại theo âm tiết 71
2.3.1 Địa danh đơn tiết 71
2.3.2 Địa danh đa tiết 71
2.4 Tiểu kết 72
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA CỦA MỘT SỐ ĐỊA DANH TIẾNG HOA Ở TỈNH SÓC TRĂNG, TRÀ VINH VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ PHẢN ÁNH HIỆN THỰC 73
3.1 Thành tố chung 73
3.2 Ý nghĩa một số địa danh tiếng Hoa ở tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh 73
3.3 Giá trị phản ánh hiện thực địa danh tiếng Hoa ở tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh 75
3.3.1 Giá trị phản ánh về lịch sử 75
3.3.2 Giá trị phản ánh về mặt tự nhiên 75
3.3.3 Giá trị phản ánh về tín ngưỡng, văn hóa 75
3.3.4 Giá trị phản ánh về mặt ngôn ngữ 75
3.5 Tiểu kết 75
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 80
Trang 4DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Địa danh là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, có chức năng định danh
sự vật, nguồn gốc và ý nghĩa nhất định Hiểu rõ những đặc điểm ngôn ngữ trongphương thức cấu tạo địa danh sẽ là nguồn tư liệu quý giá cho nhiều ngành khoa họckhác như lịch sử học, địa lý học, dân tộc học, văn hóa học,… Bên cạnh đó, địa danhgắn bó chặt chẽ với văn hoá và có mối quan hệ khăng khít với địa lý cũng như lịch
sử phát triển dân cư của một vùng Ở một vùng đất có nhiều dân tộc cộng cư vớinhau, địa danh ở nơi đó cũng mang dấu tích của nhiều ngôn ngữ khác nhau Nhữngđịa danh ấy đã trở thành những đài kỉ niệm bằng ngôn ngữ độc đáo, lưu trữ các thôngtin văn hóa về thời đại mà nó chào đời, được lưu giữ mãi về sau
Sóc Trăng và Trà Vinh là hai tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long- là nơi hội
tụ, giao thoa và phát triển của ba dân tộc Kinh - Khmer - Hoa Trên bước đường hìnhthành và phát triển hai vùng đất này đã sản sinh ra những tên đất, tên làng, tạo thànhmột hệ thống địa danh phản ánh những nét đặc trưng của người Hoa Một mặt, quátrình sưu tầm, phân tích, giải thích địa danh tiếng Hoa ở hai tỉnh giúp chúng tôi hiểu
rõ hơn về lịch sử, văn hóa, địa hình của con người nơi đây Mặt khác, việc nghiên cứucòn nhằm bổ sung một phần tư liệu cho ngành địa danh học Việt Nam
Địa danh tiếng Hoa ở hai tỉnh này khá phong phú, đa dạng do quá trình tiếpxúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán diễn ra trong một thời gian dài Ở góc độ hiểu biết,địa danh tiếng Hoa là những từ gốc Hán được chia thành ba loại là từ Hán Việt cổ, từHán Việt và từ Hán Việt Việt hóa Tuy nhiên, chúng tôi chỉ trình bày các địa danh cónguồn gốc là từ Hán Việt vì từ Hán Việt cổ và từ Hán Việt Việt hóa đã thực sự hòanhập vào trong số những từ Việt vốn có (từ “thuần Việt”) gây khó khăn trong việcnhận diện Tính đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về địadanh tiếng Hoa của hai vùng đất này dưới góc độ ngôn ngữ Cho nên đây là một đề tàinhiều vấn đề phức tạp, nhưng với mong muốn giải đáp thắc mắc về những tên gọiquen thuộc và trên hết là góp phần nhỏ về những tiền đề lý luận, thực tiễn trong việcnghiên cứu địa danh tiếng Hoa, nên chúng tôi chọn đối tượng này để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Trang 5Có thể nói, nghiên cứu địa danh học Việt Nam được hình thành khá lâu đời.Ban đầu việc tìm hiểu này được phôi thai trong các tản văn, sách biên khảo địa
phương chí theo kiểu “địa danh địa chí” Các tác phẩm Dư địa chí (1380 – 1442) của Nguyễn Trãi , Đại Việt sử ký toàn thư (thế kỷ XV) của Ngô Sỹ Liên, Ô châu cận lục (1553) của Dương Văn An, Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quý Đôn …
Thời Nguyễn, Lê Quang Định (1760 - 1813) viết bộ sách 10 quyển Hoàng Việt
nhất thống dư địa chí (1806) nội dung ghi lại đầy đủ hệ thống giao thông đường bộ
lẫn đường thủy nước ta vào đầu thế kỷ XIX Tác giả không những mô tả chi tiết vềđường đi, các dịch trạm, các địa danh, sông núi, khe suối,… mà còn chú giải cụ thểnhững mặt mạnh mặt yếu, chỗ hiểm chỗ thuận lợi của từng địa phương Bộ sách nàyđược vua quan triều Nguyễn đánh giá cao và trở thành công cụ tra cứu cho các côngtrình địa chí về sau
Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825) với bộ Gia Định thành thông chí nội dung kiến
giải về nguồn gốc ý nghĩa địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế của năm trấn thuộc Gia Định
thành Bao gồm ba tập Thượng, Trung, Hạ, chia làm sáu phần: Tinh dã chí, Sơn xuyên
chí, Cương vực chí, Phong tục chí, Sản vật chí và Thành trì chí.
Thời Minh Mạng, Phan Huy Chú (1782 – 1840) với bộ Lịch triều hiến chương
loại chí được đánh giá là “một bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống ở Việt Nam mà
không có công trình nào sánh nổi về bề rộng của phạm vi các vấn đề” Ngoài ra, còn
có Đại nam địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu, Thối thực ký văn của Trương
Quốc Dụng…
Thời Tự Đức, Đặng Xuân Bảng (1828 – 1910) biên soạn Sử học bị khảo đã đề
cập đến những vấn đề địa lý học cũng như những chuyển biến địa danh trong lịch sử
Có thể nói, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu địa danh ở Việt Nam có đề cập đếncác vấn đề phân loại địa danh, đánh dấu nước chuyển mình của việc nghiên cứu địadanh từ lẻ tẻ sang một cách có khoa học hơn
Nhóm tác giả Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn
Thuật, Hoàng Hữu Thường biên soạn quyển Đại Nam quốc cương giới vựng biên
(1886) ghi chép danh sách và vị trí các cấp hành chính trực thuộc từ tỉnh, phủ, huyện,
xã, thôn, ấp; phong tục; khí hậu; danh thắng… các tỉnh từ Hà Nội đến Bình Thuận
Để phục vụ cho mục đích xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã đưa nhiềuchuyên gia nghiên cứu về đất nước, con người Việt Nam, trong đó có địa danh Có thể
Trang 6kể tên một số công trình tiêu biểu như: Nghiên cứu về tập quán và ngôn ngữ của
người Lô Lô và La Quả (1908) của A Bonifacy; Tài liệu nghiên cứu ngôn ngữ STiêng (1955) của H Maspero, Nhận xét về địa lý ngôn ngữ Á, Úc (1966) của
A.G.Haudricourt,…
Giữa thế kỉ XX địa danh học Việt Nam có sự phát triển đáng kể Mở đầu là hai
bài viết của Hoàng Thị Châu là Về việc tìm sử liệu trong ngôn ngữ dân tộc (1964) và
Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông (1967) đã áp
dụng các phương pháp ngôn ngữ học để nghiên cứu địa danh Nhiều công trình xuất
hiện trên các báo và tạp chí như: Phương pháp vận dụng địa danh học trong nghiên
cứu địa lý học, Lịch sử cổ đại Việt Nam (1984) của Đinh Văn Nhật, Những đặc điểm cấu thành địa danh Bến Tre (1985) của Nguyễn Phương Thảo, Sự hình thành và diễn biến của các tên làng người Việt cho đến năm 1945 (1987) của Bùi Thiết,…
Những năm đầu thập niên 1990, ngành địa danh học Việt Nam có một bướcngoặt lớn với nhiều công trình nghiên cứu, luận án, sách lý luận và từ điển địa danh
Năm 1990, Lê Trung Hoa với luận án Những đặc điểm chính của địa danh ở thành
phố Hồ Chí Minh Luận án đã trình bày một cách có hệ thống về định nghĩa, cấu tạo,
ý nghĩa và giá trị phản ánh hiện thực của địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh Ngoài
ra, Lê Trung Hoa cũng viết nhiều bài viết như: Tìm hiểu ý nghĩa và nguồn gốc một số
thành tố chung trong địa danh Nam Bộ (1983), Địa danh bằng chữ và địa danh bằng
số (1999), Vấn đề biên soạn từ điển địa danh (2003), Bên cạnh đó, còn có quyển Địa danh học Việt Nam (2006) tìm hiểu những vấn đề cụ thể cũng như lý giải ý nghĩa
nguồn gốc của địa danh Việt Nam
Bùi Đức Tịnh (1999) với quyển Lược khảo nguồn địa danh Nam Bộ chỉ ra vấn
đề quan trọng về địa danh ở Nam Bộ Theo tác giả, địa danh dùng cho bốn loại thể:
các vật thể thiên nhiên với cách gọi đặc biệt của Nam Bộ như: bãi, bàu, bưng; các vị trí có liên quan đến giao thông như: bến, cầu; các vị trí tập hợp dân cư như: chợ, xóm; các đơn vị hành chính quân sự như: dinh, đồn,…Ngoài ra, ông cũng tìm hiểu những biến đổi liên hệ đến địa danh, những từ tố thường thấy trong địa danh ở Nam Bộ: Ba,
Bà, Cái, Trà.
Nguyễn Văn Âu (2000) cho ra đời công trình Một số vấn đề về địa danh học
Việt Nam Đây là công trình có tính chuyên khảo về địa danh trong ngành khoa học về
địa danh ở nước ta bao gồm hai phần: phần khái quát và phần địa danh cụ thể Trongphần khái quát giới thiệu những cơ sở lý luận chung cho việc nghiên cứu địa danh,
Trang 7phần địa danh cụ thể thì xếp thành hai loại lớn là địa danh chỉ địa hình và địa danhhành chính.
Nguyễn Hữu Hiếu (2005) cho ra đời quyển Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam
Bộ qua chuyện tích và giả thuyết qua đó tác giả đi sâu nghiên cứu một số đặc điểm về
địa danh cũng như giới thiệu nguồn gốc từ những chuyện kể, giả thuyết trong dângian
Các luận án Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2003) của Từ Thu Mai, Những
đặc điểm chính của địa danh Đăk Lăk (2004) của Trần Văn Dũng, Những đặc điểm chung của địa danh tỉnh Vĩnh Long (2008) của Nguyễn Tấn Anh…
Ngoài ra, có một số từ điển địa danh cũng được xuất bản như: Sổ tay địa danh
Việt Nam (1995) của Đinh Xuân Vịnh, Sổ tay địa danh Việt Nam (1998) của Nguyễn
Dược – Trung Hải, Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng do Ngô Đăng Lợi chủ biên (1998), Từ điển địa danh thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh của Lê Trung hoa
(chủ biên)
Như vậy, nhìn chung việc nghiên cứu địa danh Việt Nam đã và đang đượcnhiều nhà khoa học quan tâm Những tư liệu quý giá vừa nêu đã hỗ trợ chúng tôi rấtnhiều trong quá trình khảo sát, nghiên cứu và thực hiện niên luận này
2.2 Nghiên cứu về địa danh ở tỉnh Sóc Trăng
Những công trình nghiên cứu về địa danh ở tỉnh Sóc Trăng bao gồm một số tàiliệu như sau:
Trong cuốn Địa phương chí tỉnh Ba Xuyên được nhà nước Việt Nam cộng hòa
xuất bản vào năm 1971 Có thể nói đây là quyển địa chí duy nhất mà chúng tôi tìmthấy viết về tỉnh Sóc Trăng Nội dung quyển sách gồm tám phần Tuy nhiên, chỉ cóphần thứ nhất của quyển sách đề cập đến lịch sử, di tích, danh lam thắng cảnh Đây làmột tài liệu quan trọng và rất có giá trị trong việc tìm hiểu địa danh nơi đây
Tài liệu hội thảo khoa học lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Sóc Trăng trước 1945 là tài liệu tập hợp nhiều bài viết có tính chất khoa học Những bài viết này
tập trung nghiên cứu, trình bày lịch sử hình thành, phong tục tạp quán, văn hóa của badân tộc: Kinh- Khmer- Hoa.Trong đó có vài bài viết về địa danh nhưng khá ít Các
Trang 8nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra nhiều giả thuyết, nhiều cách giải thích về những địadanh của tỉnh.
Ngoài ra, còn có luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học của tác giả Nguyễn Thúy
Diễm với đề tài Nghiên cứu địa danh tỉnh Sóc Trăng đã góp một phần nhỏ về những
tiền đề lý luận, thực tiễn trong việc nghiên cứu địa danh nói chung
Tóm lại, có thể khái quát hiện trạng nghiên cứu về địa danh Sóc Trăng là chưathực sự xem địa danh như là một đối tượng chính để đi sâu vào nghiên cứu mà chỉdừng lại ở việc xem xét, đánh giá nó
2.3 Nghiên cứu về địa danh ở tỉnh Trà Vinh
Những công trình nghiên cứu về địa danh ở tỉnh Trà Vinh bao gồm một số tàiliệu như sau:
Quyển Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn (1726 – 1783) được viết vào khoảng
1776, thời điểm đang diễn ra cuộc khẩn hoang, mở rộng lãnh thổ về phía Nam Tácphẩm có những tư liệu quý về cảnh quan, môi trường thiên nhiên, những biến độngkinh tế và chính trị vùng sông Tiền, sông Hậu nói riêng, vùng đất Nam Bộ nói chung
Tác phẩm Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1765 – 1725) được
viết vào khoảng thời vua Gia Long (1802 – 1820) Đây là quyển địa phương chí đầutiên đề cập một cách khái quát về địa giới, khí hậu, vùng đất, con người, sản vật, núisông, phong tục và tình hình kinh tế vùng đất Nam Bộ nói chung, trong đó có vùngđất Trà Vinh nói riêng ở thế kỷ XVII – XVIII
Quyển Địa phương chí tỉnh Vĩnh Bình (1973) cơ bản nói được những đặc điểm
cùng vùng đất Vĩnh Bình thời ấy, giúp ta hiểu thêm hơn về vùng đất Trà Vinh xưa.Các tác giả trình bày rất rõ về địa lý, lịch sử, văn hóa và một số địa danh của vùng đấtVĩnh Bình này
Việc biên soạn quyển Monographie de la province de Trà Vinh (1903) của
L.Mesnard giúp phần nào hiểu thêm về địa lý hành chính của Trà Vinh cuối thế kỷXIX
Quyển Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn (Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh) của
Nguyễn Đình Đầu được viết năm 1994 Đây là tài liệu nghiên cứu địa danh hànhchính vùng đất Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh thời Pháp thuộc Qua đó, chúng ta cũng
Trang 9biết được sự sở hữu ruộng đất của nhà Nguyễn cũng như một số địa danh Hán Việtcủa tỉnh lúc bấy giờ.
Ngoài ra, còn có luận văn thạc sĩ chuyên ngành văn hóa học của tác giả Lý ThịMinh Ngọc về Văn hóa qua địa danh ở tỉnh Trà Vinh đã góp một phần nhỏ về nhữngtiền đề thực tiễn và lý luận khi làm niên luận này
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là địa danh tiếng Hoa ở tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Trà Vinh.Chúng tôi sẽ tập trung khảo sát tên gọi các đối tượng địa lý tồn tại trên địa bàn Cụthể đó là địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên hay còn gọi là địa danh chỉ địa hình
(bàu, kinh, sông, rạch,…), địa danh chỉ các công trình xây dựng (cầu, đường, bến
phà, bến đò, chợ,…), địa danh hành chính (thành phố, thị trấn, thị xã, phường, xã, ấp,…), địa danh vùng (khu công nghiệp, cụm công nghiệp,…).
- Phạm vi nghiên cứu niên luận chủ yếu liệt kê địa danh tiếng Hoa và bước đầutìm hiều ý nghĩa của những địa danh tiếng Hoa này ở Sóc Trăng và Trà Vinh
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong niên luận này, chúng tôi sử dụng các thủ pháp và phương pháp nghiêncứu như sau:
- Phương pháp nghiên cứu và thu thập tư liệu: đây là phương pháp được vận
dụng đầu tiên vì giúp chúng tôi thu thập nguồn dữ liệu chính Bởi vì đối tượng nghiêncứu là địa danh Tư liệu chúng tôi thu thập được gồm nhiều nguồn khác nhau:
+ Tư liệu lưu trữ hành chính từ trước đến nay của hai tỉnh tồn tại dưới dạng các vănbản được cán bộ địa phương lưu trữ Những tư liệu này có tính pháp lý, tính chínhxác cao có thể cho biết sự ra đời, biến đổi hoặc mất đi của các địa danh, nhất là địadanh hành chính
+ Bản đồ ề các loại địa hình, hành chính, kinh tế, quân sự qua các thời kỳ
+ Báo, tạp chí: các báo địa phương và các bài báo viết về địa phương
+ Các trang web: một số trang về du lịch, văn hóa nghệ thuật của hai tỉnh
- Phương pháp khảo sát bản đồ: đây là phân đoạn được thực hiện sau khi thu
thập các tư liệu theo hai bình diện đồng đại và lịch đại để phát hiện ra địa danh tiếngHoa
Trang 10- Phương pháp thống kê, phân loại: đây là phương pháp quan trọng Bước
đầu thu thập tài liệu từ bảng thống kê của các cơ quan chức năng và từ các bản đồ, từđiển, địa phương chí hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh Rồi sau đó thống kê ngôn ngữhọc để tìm địa danh Hán Việt có tần số xuất hiện và tiến hành phân loại theo đốitượng và số lượng âm tiết địa danh tiếng Hoa
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Sau khi tiến hành liệt kê, phân loại chúng
tôi tiến hành so sánh đối chiếu địa danh tiếng Hoa giữa hai tỉnh trên để xác địnhnguồn gốc và ý nghĩa ban đầu của địa danh Ngoài ra, áp dụng nghiên cứu tổng hợp,liên ngành để bài niên luận mang tính khoa học hơn
5 Kết cấu niên luận
Niên luận chia làm ba phần Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, nội dung chính được
trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết : Trình bày những vấn đề lý thuyết xoay quanh niên luận
bao gồm định nghĩa, nêu đối tượng và phân loại địa danh Đồng thời, phân tích về địadanh tiếng Hoa hay địa danh Hán Việt cũng như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên củatỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh, từ đó có cái nhìn bao quát để tiến hành nghiên cứu
Chương 2: Phân loại địa danh tiếng Hoa ở tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh Sau khi đã có
kết quả phân loại địa danh ở chương 1, chúng tôi tiến hành phân loại chi tiết địa danhtiếng Hoa ở tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh: phân loại theo đối tượng và phân loại theo
âm tiết
Chương 3: Ý nghĩa và những giá trị phản ánh hiện thực của một số địa danh tiếng
Hoa ở tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh Trong chương này, chúng tôi tiến hành trình bày
thành thành tố chung, nêu ý nghĩa của một số địa danh Hán Việt, cũng như bước đầu
so sánh địa danh tiếng Hoa của hai tỉnh, qua đó tìm thấy được những giá trị phản ánhhiện thực khách quan do địa danh mang lại
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Về địa danh học
1.1.1 Khái niệm địa danh
Địa danh là một phạm trù thuôc từ vựng học Điều này được thể hiện qua sơ đồ sau:
Theo quan điểm của G M Kert: “Địa danh là tên gọi được đặt cho các đốitượng địa lý, ra đời trong một khu vực có người sinh sống, được tạo ra bởi một cộngđồng dân cư, một tộc người Chúng là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàngngày và các hoạt động chính trị - xã hội ở nơi đó” [13; 16]
Nhà nghiên cứu A V Superanskaja trong công trình “Địa danh học là gì?” chorằng: “Địa danh là tên gọi các địa điểm được biểu thị bằng những từ riêng Đó là cáctên gọi địa lý, địa danh hay toponymia Những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là nhữngvật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vậtthể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôinhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi [14; 13]
Trang 12Theo tác giả An Chi thì Toponymie là một danh từ của tiếng Pháp hiện đại, có
nghĩa là địa danh học Đây là một từ phái sinh từ hậu tố “-ie” từ danh từ toponyme, có
nghĩa là địa danh Toponyme gồm hai hình vị căn tố (top(o) và onyme) bắt nguồn từ hai danh từ Hy Lạp cổ là topos (có nghĩa là nơi chốn) và onoma (có nghĩa là tên) [1;
47,48]
Một số từ điển ở nước ta thường giải thích địa danh theo lối chiết tự có nghĩa là
tên đất Trong Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh cho rằng địa danh là “tên các miền
đất (nom de terre)” [3; 268] Còn trong từ điển của Hoàng Phê lại định nghĩa “Địadanh: tên đất, tên địa phương” [4; 304] Có thể thấy các khái niệm trên chỉ đưa racách hiểu chung chung gây khó khăn trong việc xác định địa danh Địa danh khôngchỉ là tên gọi của các đối tượng địa lý, dùng riêng cho tên đất mà còn là tên gọi củacác đối tượng chỉ địa hình tự nhiên
Từ điển bách khoa Việt Nam cho rằng: “Địa danh là tên gọi các lãnh thổ, các
điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nông thôn,khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, các núi, các đèo, cao nguyên, thunglũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển, đại dương có tọa độđịa lý nhất định ghi lại trên bản đồ Địa danh có thể phản ánh quá trình hình thành,đặc điểm của các yếu tố địa lý tự nhiên và lịch sử với những nét đặc sắc về kinh tế, xãhội của các lãnh thổ” [15;780] Khái niệm khá rõ ràng tuy nhiên chưa đề cập đến cácđơn vị hành chính, các công trình xây dựng
Hoàng Thị Châu quan niệm: “Địa danh hay là tên địa lý (toponym,geograpphical name) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hìnhkhác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính,… được con người đặt ra” [5;139]
Nguyễn Văn Âu trong Địa danh Việt Nam có định nghĩa: “Địa danh là tên đất,
gồm tên sông, núi, làng mạc,… hay tên các địa phương, các dân học” [11; 5] “Địadanh học (Toponymie) là một môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lý các địaphương” [12; 5] Tác giã đã tiếp cận địa danh theo góc độ địa lý – văn hóa khi đưa raquan niệm này
Nguyễn Kiên Trường: “Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên
và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [9; 16] hay “Địa danh hay tênriêng địa lý là đối tượng nghiên cứu và mối quan tâm của nhiều ngành khoa học Địadanh mang những đặc điểm vốn có của ngôn ngữ: nó có thể là một hay nhiều âm tiết;
Trang 13là một đơn vị từ vựng hoàn chỉnh (từ, cụm từ); có cấu trúc ngữ pháp nhất định (một từhay một đoản ngữ…) Địa danh có chức năng xác định cá thể hóa các đối tượng, điểmhay vùng địa lý Địa danh là một trong những phương tiện giúp con người nhận thứcthế giới” [10; 329].
Bùi Đức Tịnh cho rằng: “Địa danh là một danh từ có nghĩa tổng quát để chỉ têngọi các loại vật thể tự nhiên được phân biệt về phương diện địa lý, các vị trí cần phânbiệt trong sinh hoạt xã hội và các đơn vị được xác định trong tổ chức hành chính hayquân sự” [2; 10]
Huỳnh Công Tín đưa ra định nghĩa: “Lớp từ vựng phương ngữ Nam Bộ phảnánh rõ nét tư duy của người đồng bằng Nam Bộ là lớp từ thể hiện việc đặt tên đất, tênlàng, tên sông, tên chợ,… gọi chung là những địa danh hay những từ có liên quan tớiđịa danh Những cách đặt tên này phản ánh đặc điểm, tình hình của vùng, đồng thời
nó cũng nêu bật được tâm trạng và cách suy nghĩ của người Nam Bộ nói chung quaquá trình khai phá và xây dựng vùng đất mới” [6; 60]
Từ Thu Mai cho rằng: “Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đốitượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất Mặc dù nằm trong hệ thống nhữngloại hình khác nhau nhưng các đối tượng địa lý bao giờ cũng xuất hiện trong thực tếvới những cá thể độc lập”.[16; 19]
Theo tác giả Lê Trung Hoa: “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định, đượcdùng làm tên riêng của các địa hình tự nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnhthổ (không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian haichiều Trước địa danh ta có thể đặt một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó: sôngHương, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi), vùng Ba Vì, thành phố Cần Thơ, đườngNguyễn Du,…”[7; 18]
1.1.2 Phân loại địa danh
Về việc phân loại địa danh có nhiều cách phân loại khác nhau giữa các nhànghiên cứu trong và ngoài nước như sau:
G P Smolicnaja và M.V Gorbanevskij trong “Toponimija Moskvy” chia địadanh làm bốn loại:
1 Phương danh (tên các địa phương);
Trang 142 Sơn danh (tên núi, đồi, gò,…);
3 Thủy danh (tên các dòng chảy, ao, vũng,…);
4 Phố danh (tên các đối tượng trong thành phố)
Bên cạnh đó, A.V Superanskaja với “Chto takoe toponimika?” chia địa danhlàm bảy loại:
1 Phương danh;
2 Thủy danh;
3 Sơn danh;
4 Phố danh;
5 Viên danh (tên các quảng trường);
6 Lộ danh (tên các đường phố);
7 Đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trên nước, trên không).Chia địa danh dựa vào tiêu chí đối tượng mà địa danh biểu thị
Đặng Xuân Bảng (1828 – 1910) là người đề cập đến vấn đề phân loại địa danh
từ rất sớm qua công trình “Sử học bị khảo”, phần Địa lý khảo Hoàng Thị Châu trong bài viết Về việc tìm sử liệu trong ngôn ngữ dân tộc cũng nói đến việc phân loại địa danh thành hai hệ thống tiểu địa danh gồm: tên thôn xóm, gò đồi, khe suối, đầm hồ,…
và đại địa danh gồm: tên lục địa, đại dương, nước, vùng, thủ đô, thành phố, sông,
biển,…
Trần Thanh Tâm trong Thử bàn về địa danh Việt Nam năm 1976 đã chia địa
danh Việt Nam thành sáu loại:
1 Loại đặt theo địa hình và đặc điểm
2 Loại đặt theo vị trí không gian và thời gina
3 Loại đặt theo tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử
4 Loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu
5 Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế
6 Loại đặt theo sinh hoạt xã hội
Trang 15Nguyễn Văn Âu trong hai công trình Địa danh Việt Nam và Một số vấn đề về
địa danh học Việt Nam đã phân địa danh theo ba cấp: loại, kiểu và dạng Trong đó, có
hai loại: tự nhiên và kinh tế -xã hội, bảy kiểu (thủy danh, sơn danh, lâm danh, làng xã,huyện thị, tỉnh, thành phố và quốc gia) và mười hai dạng (sông ngòi; hồ đầm; đồi núi;hải đảo; rừng rú; truông; trảng; làng; xã; huyện, quận; thị trấn; tỉnh; thành phố vàquốc gia)
Trần Văn Dũng trong Những đặc điểm chính của địa danh ở Đăk Lăk đã chia
địa danh Đăk Lăk thành hai nhóm lớn: nhóm địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên vànhóm địa danh chỉ các đối tượng do con người kiến Theo ngữ nguyên, tác giả chialàm năm loại:
1 Loại địa danh gốc bản địa (đặt theo cách và tiếng của các dân tộc thiểu số tạichỗ - các dân cư sống lâu đời trên địa bàn)
2 Loại địa danh thuần Việt
3 Loại địa danh Hán – Việt
4 Loại địa danh gốc khác
5 Loại địa danh chưa xác định được nguồn gốc
Trong hai công trình Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh và Địa
danh học Việt Nam của tác giả Lê Trung Hoa Dựa vào hai tiêu chí tự nhiên/ không tự
nhiên (tức là theo đối tượng) và tiêu chí ngữ nguyên, tác giả đã phân địa danh thànhnhững loại sau: Theo đối tượng gồm có:
1 Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên (còn gọi là địa danh chỉ địa hình);
2 Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo, gồm có ba loại: địa danh chỉ các côngtrình xây dựng thiên về không gian hai chiều, địa danh hành chính và địa danhvùng (không có ranh giới rõ ràng)
Theo ngữ nguyên, gồm có:
1 Địa danh thuần Việt;
2 Địa danh Hán Việt;
3 Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số (Chăm, Khmer, Ba Na, Ê Đê,Gia Rai, Tày, Thái, Mường,…);
4 Địa danh ngoại ngữ (chủ yếu là địa danh gốc Pháp)
Nguyễn Kiên Trường trong Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng
(sơ bộ có so sánh với địa danh một số vùng) đã phân loại địa danh Hải Phòng dựa vào
Trang 16ba tiêu chí Tiêu chí loại hình gồm nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên vànhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn (gồm các tiểu nhóm: 1 Nhóm địa danh
cư trú – hành chính và các địa danh gắn với hoạt động của con người, do con ngườitạo nên; 2 Nhóm địa danh đường phố và địa danh chỉ công trình xây dựng) Tiêu chínguồn gốc ngữ nguyên, tác giả chia địa danh thành các tiểu loại có nguồn gốc khácnhau: nguồn gốc Hán Việt, nguồn gốc thuần Việt, nguồn gốc từ tiếng Pháp, nguồn gốc
từ phương ngữ Quảng Đông, nguồn gốc khác như Tày – Thái, Việt – Mường,…,nguồn gốc hỗn hợp và địa danh chưa xác định được nguồn gốc Ngoài ra, tác giả còn
bổ sung thêm tiêu chí thứ ba là chức năng giao tiếp (biệt xưng, tự xưng, giản xưng,tục xưng,…) và theo hệ quy chiếu đồng đại – lịch đại (cổ, cũ, hiện nay)
Bài niên luận này, chúng tôi phân loại theo đối tượng và phân loại theo âm tiếtnhư sau:
Theo đối tượng:
1 Địa danh địa hình;
1.1.3 Về địa danh tiếng Hoa
Có thể nói, địa danh tiếng Hoa được bắt nguồn từ từ gốc Hán theo diễn biếnthời gian được chia thành ba loại:
a Từ tiền Hán Việt (cũng gọi là cổ Hán Việt, hay Hán Việt cổ)
b Từ Hán Việt
c Từ hậu Hán Việt (cũng gọi là từ Hán Việt Việt hóa)
Ba loại từ này có vị trí đặc biệt trong từ vựng tiếng Việt, chúng có số lượng rất lớn
và được sử dụng vào mọi lĩnh vực đời sống của người Việt như chính trị, văn hóa,
kĩ thuật, quân sự… cũng như trong đặt tên địa danh cả nước nói chung, ở hai tỉnhSóc Trăng và Trà Vinh nói riêng Đặc biệt, từ tiền Hán Việt là từ Hán cổ mà tiếngViệt mượn trước thời Đường, từ hậu Hán Việt là từ Hán Việt có sự biến đổi về mặt
Trang 17ngữ âm cho phù hợp với đặc điểm ngữ âm tiếng Việt Hai loại này rất giống với từthuần Việt về ngữ âm cũng như về khả năng hoạt động Đây là hai loại từ gốc Hánrất khó phân biệt, nhất là về âm đọc Một chữ Hán nhiều khi có hai, ba âm đọc.Còn về từ Hán Việt là lớp từ Hán mà tiếng Việt vay mượn từ đời Đường và dựatrên âm đọc ở Trường An là âm đọc chính thức từ thời bấy giờ Một số học giả chorằng có thể âm đọc Hán Việt là sự phản ánh ngữ âm đời Đường được dùng để dạychữ Hán vào khoảng thế kỷ VIII – IX Cách đọc “Đường âm” này trong quá trìnhtriển khai đã bị âm hệ và quy luật phát âm của tiếng Việt làm ảnh hưởng và dầndần có sự biến đổi, nhất là từ thế kỷ X trở đi khi Việt Nam đã giành được độc lập,thoát ly dần với âm hệ Đường, và hình thành một quy luật phát âm mang sắc thái
của người Việt và vùng văn hóa Việt Nam Trong số hàng vạn chữ loại này (chữ
Hán) thì âm đọc của khoảng năm đến bảy ngàn “chữ” có tính quy luật và tính hệthống rất rõ, chúng đối ứng một cách nghiêm ngặt với âm hệ thiết vận trong tiếngHán Chính nhờ có tính hệ thống và tính quy luật của cách đọc Hán Việt ấy mà,nói chung, về mặt lý thuyết, người Việt có thể đọc được hầu hết các chữ Hán.Điều đó cho thấy rằng, âm đọc Hán Việt là một hệ thống ngữ âm có quy luật pháttriển và diễn biến riêng biệt, đồng thời cũng có những chức năng và công dụngriêng So với các loại từ gốc Hán khác thì từ Hán Việt hoàn toàn chiếm ưu thế,chúng có số lượng lớn, theo thống kê của Maspero thì chúng chiếm 60% tổng số
từ vựng tiếng Việt Vì vậy, quá trình sưu tầm địa danh tiếng Hoa ở tỉnh Sóc Trăng
và Trà Vinh chúng tôi xin phép được liệt kê các địa danh Hán Việt và giải thíchchúng, còn từ Hán Việt cổ và từ Hán Việt Việt hóa đợi khi nào có điều kiện sẽ giảiquyết
1.2 Vài nét về địa bàn tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
TỈNH SÓC TRĂNG:
- Vị trí địa lý:
Tỉnh Sóc Trăng nằm ở cửa Nam sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh231km, cách Cần Thơ 62km; nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Cần Thơ,Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh Trà Vinh, BếnTre và Tiền Giang Vị trí tọa độ: 9012’ - 9056’ vĩ Bắc và 105033’ - 106023’ kinhĐông Diện tích tự nhiên 3.311,7629 Đường bờ biển dài 72 km và 03 cửa sông lớn:Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ ra Biển Đông Sóc Trăng có 09 huyện: Cù Lao
Trang 18Dung, Châu Thành, Kế Sách, Long Phú, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Ngã Năm, Trần Đề,Thạnh Trị; 01 thị xã: Vĩnh Châu, và thành phố Sóc Trăng là trung tâm hành chính củatỉnh.
- Điều kiện tự nhiên:
Về khí hậu: Sóc Trăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió
mùa, hàng năm có mùa khô và mùa mưa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10,mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,80C, ítkhi bị bão lũ Lượng mưa trung bình trong năm là 1.864 mm, tập trung nhất từ tháng8,9,10, độ ẩm trung bình là 83%, thuận lợi cho cây lúa và các loại hoa màu phát triển
Về đất đai, thổ nhưỡng: Sóc Trăng có tổng diện tích đất tự nhiên là 331.176,29
ha Đất đai của Sóc Trăng có độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc phát triển cây lúanước, cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu nành, các loại rau màu như hành, tỏi
và các loại cây ăn trái như bưởi, xoài, Hiện đất nông nghiệp là 276.677 ha, trong đó,đất sản xuất nông nghiệp là 205.748 ha, đất lâm nghiệp có rừng 11.356 ha, đất nuôitrồng thuỷ sản 54.373 ha, đất làm muối và đất nông nghiệp khác Trong tổng số278.154 ha đất nông nghiệp có 144.156 ha sử dụng cho canh tác lúa, 21.401 ha câyhàng năm khác và 40.191 ha dùng trồng cây lâu năm và cây ăn trái Riêng đất phinông nghiệp là 53.963 ha và 2.536 ha đất chưa sử dụng (số liệu được cập nhật theo
Niên giám thống kê Sóc Trăng 2008) Sóc Trăng còn có dải cù lao thuộc huyện Kế
Sách, Long Phú và Cù Lao Dung chạy dài ra tận cửa biển với nhiều cây trái nhiệt đới,không khí trong lành như cồn Mỹ Phước, Khu du lịch Song Phụng, là địa điểm lýtưởng để phát triển loại hình du lịch sinh thái
Về đặc điểm địa hình: Sóc Trăng có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng
Độ cao cốt đất tuyệt đối từ 0,4 - 1,5 m, độ dốc thay đổi khoảng 45 cm/km chiều dài.Nhìn chung địa hình tỉnh Sóc Trăng có dạng lòng chảo, cao ở phía sông Hậu và biểnĐông thấp dần vào trong, vùng thấp nhất là phía Tây và Tây Bắc Tiểu địa hình códạng gợn sóng không đều, xen kẽ là những giồng cát địa hình tương đối cao và nhữngvùng thấp trũng nhiễm mặn, phèn Đó là những dấu vết trầm tích của thời kỳ vậnđộng biển tiến và lùi tạo nên các giồng cát và các bưng trũng ở các huyện Mỹ Tú, thị
xã Sóc Trăng, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu Vùng đất phèn có địa hình lòngchảo ở phía Tây và ven kinh Cái Côn có cao trình rất thấp, từ 0 - 0,5 m, mùa mưa
Trang 19thường bị ngập úng làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân trongvùng
Về sông ngòi: Sóc Trăng có hệ thống kinh rạch chịu ảnh hường của chế độthủy triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1 m.Thủy triều vùng biển không những gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của
cư dân địa phương, mà còn mang lại nhiều điều kỳ thú cho du khách khi đến thamquan, du lịch và tìm hiểu hệ sinh thái rừng tự nhiên
Về tài nguyên rừng và biển: Sóc Trăng còn có nguồn tài nguyên rừng với diệntích 11356 ha với các loại cây chính: Tràm, bần, giá, vẹt, đước, dừa nước phân bố ở 4huyện Vĩnh Châu, Long Phú, Mỹ Tú và Cù Lao Dung Rừng của Sóc Trăng thuộc hệrừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn
Sóc Trăng có 72 km bờ biển với 02 cửa sông lớn là sông Hậu (đổ theo 02 con sônglớn Trần Đề, Định An) và sông Mỹ Thanh, có nguồn hải sản đáng kể bao gồm cá đáy,
cá nổi và tôm Sóc Trăng có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế biển tổng hợp,thuỷ hải sản, nông - lâm nghiệp biển, công nghiệp hướng biển, thương cảng, cảng cá,dịch vụ cảng biển, xuất nhập khẩu, du lịch và vận tải biển
Về hệ thống đường giao thông: Đường bộ: Tỉnh lộ: 409,315 km, huyện lộ:491,6 km Về đường thủy: Sóc Trăng có 72 km bờ biển giáp biển Đông và hạ lưusông Hậu (đoạn từ Cần Thơ chảy ra cửa Định An và Trần Đề) cùng các kênh rạch nốivới sông Hậu tạo nên một mạng lưới thuận lợi trong giao thông đường thủy Về cảng:Cảng Trần Đề diện tích 36 ha tại xã Trung Bình, huyện Trần Đề Cảng Trần Đề có khảnăng tiếp nhận cùng lúc 30 tàu cá, trong đó có khoảng 38.000 tấn thủy sản
TỈNH TRÀ VINH
- Vị trí địa lý:
Tỉnh Trà Vinh nằm ở phía Đông Nam đồng bằng sông Cửu Long, giữa 2 consông lớn là sông Cổ Chiên và sông Hậu Phía Bắc Trà Vinh là tỉnh Bến Tre được ngăncách bởi sông Cổ Chiên (một nhánh của sông Tiền), phía Tây Nam giáp với tỉnh SócTrăng và thành phố Cần Thơ qua ranh giới sông Hậu, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long,phía Đông là biển Đông Ở vị trí nằm giữa hai con sông Cổ Chiên, Hậu Giang và mộtmặt giáp biển (dài 65km), nơi có 2 cửa sông (Cung Hầu và Định An) được xem là 2cửa sông quan trọng thông thương đồng bằng sông Cửu Long với biển Đông, nối với
Trang 20cả nước và quốc tế Do vậy, Trà Vinh ở vào địa thế có tầm quan trọng về kinh tế vàquốc phòng đối với đồng bằng sông Cửu Long Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là222.567 ha, với 08 đơn vị hành chính, gồm thị xã Trà Vinh và các huyện Càng Long,Cầu Kè, Tiểu Cần, Châu Thành, Trà Cú, Cầu Ngang và Duyên Hải.
- Điều kiện tự nhiên:
Về khí hậu: Trà Vinh có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cận xích đạo, khôngchịu ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nhưng lại bị tác động mạnh mẽ của gió đôngnam từ biển thổi vào Nhiệt độ trung bình trong năm từ 26,0 - 27,60C Biên độ nhiệt
độ trung bình giữa các tháng biến thiên từ 3 - 50C Tổng lượng nhiệt trong năm đạt tới
98570C Lượng mưa trung bình trong năm ở Trà Vinh đạt 1403mm Trong cả tỉnh,lượng mưa giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Khí hậu của Trà Vinh có hai mùa
rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11đến tháng 4 năm sau Lượng mưa tập trung trong mùa mưa tới 85,6% tổng lượng mưa
cả năm Các tháng mùa khô đều ít mưa, đặc biệt tháng 1 và tháng 2 rất ít mưa, lượngmưa dưới 20mm/tháng
Về đất đai, thổ nhưỡng: Tỉnh Trà Vinh có những nhóm đất chính sau: Đất cátgiồng: phân bố tại các giồng cát hình cánh cung chạy dài song song với bờ biển Độcao địa hình từ 1,4 - 2m Đất phù sa bao gồm: đất phù sa phát triển trên chân giồngcát, đất phù sa không nhiễm mặn, đất phù sa nhiễm mặn ít, đất phù sa nhiễm mặntrung bình, đất phù sa nhiễm mặn nhiều Đất phèn gồm có các loại: đất phèn khôngnhiễm mặn, đất phèn nhiễm mặn trung bình, đất phèn nhiễm mặn nhiều Nhìn chung,đất Trà Vinh nhiễm mặn tới 56% và nhiễm phèn 27% diện tích
Về đặc điểm địa hình: Địa hình Trà Vinh mang tính chất của địa hình đồng
bằng châu thổ ven biển, chịu ảnh hưởng bởi tác động giao thoa giữa sông và biển Độcao trung bình 1-3m, trong đó đại bộ phận có độ cao từ 0,4 - 1,0m Nhìn chung trongtoàn tỉnh, các huyện phía bắc có địa hình bằng phẳng hơn so với các huyện phía Nam.Dọc theo hai bờ sông thường có địa hình cao và thấp dần về phía nội đồng Vùng nộiđồng tương đối bằng phẳng,bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt,trong đó có những ô trũng cục bộ Khu vực ven biển có địa hình dạng sóng với nhiều
giồng cát hình cánh cung, độ cao từ 3m đến 5m Khu vực có địa hình cao nhất (hơn
4m) gồm các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long Sơn (huyện Cầu Ngang), NgọcBiên (Trà Cú), Long Hữu (Duyên Hải) Khu vực có địa hình thấp dần (0,4m) tậptrung tại các cánh đồng trũng thuộc các xã Tập Sơn, Ngãi Xuyên, Ngọc Biên (Trà
Trang 21Cú), Thanh Mĩ (Châu Thành), Mĩ Hòa, Mĩ Long, Hiệp Mĩ (Cầu Ngang), Long Vĩnh(Duyên Hải).
Về sông ngòi: Tỉnh Trà Vinh có 3 sông lớn: sông Hậu, sông Cổ Chiên và sông
Mang Thít với tổng chiều dài 578km Ngoài ra, hàng trăm sông rạch nhỏ và kênh đào
dẫn nước từ sông chính về đồng ruộng Hệ thống thủy văn của tỉnh Trà Vinh chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ của biển Vùng biển Trà Vinh thuộc chế độ triều biển Đông, chủ yếu
là bán nhật triều với biên độ dao động khá lớn, trung bình khoảng 3m Tình trạng
nhiễm mặn của Trà Vinh tương đối nghiêm trọng Hàng năm có khoảng 90% diện tích
tự nhiên bị nhiễm mặn với chiều dài xâm nhập mặn khoảng 30km tính từ biển vào
Về tài nguyên rừng và biển: Ven biển Trà Vinh có các khu rừng ngập mặn với
các loài như: mắm, đước, bần, sú, vẹt Rừng tập trung ở các huyện Duyên Hải, CầuNgang, Trà Cú, Châu Thành Ngoài ra còn có các dải dừa nước ven sông, rạch Ở các
vùng hoang hóa có các loài lăn, lác, bàng Rừng ngập mặn Trà Vinh là môi trường
sinh sống của một số loài động vật như ong, chim, thú, bò sát, lưỡng cư như khỉ,chồn, trăn, rắn, rùa… Biển Trà Vinh có nhiều tôm cá và các loài thủy sản khác Trữlượng thủy sản 1,2 triệu tấn Cá biển có 42 loài, cá nước lợ có 37 loài, cá nước ngọt
có 15 loài, tôm có 32 loài Tỉnh Trà Vinh nổi tiếng với những bãi nghêu rộng lớn, nhất
là ở Mĩ Long (huyện Cầu Ngang)
Về hệ thống đường giao thông: Đường bộ: cả tỉnh có 2,1 nghìn km đường các
loại và trên 70 cầu Có các quốc lộ quan trọng và bị cắt bởi 2 sông lớn nên có nhiều
hạn chế Trà Vinh có 4 tuyến tỉnh lộ (911, 912, 913, 914) với tổng chiều dài hơn 450km Đường thủy: là thế mạnh của Trà Vinh Cửa sông Định An và Cung Hầu có thể tiếp nhận tàu trên 500 tấn Trà Vinh có bến cảng nội địa cách thị xã 4km trên bờ
sông Tiền với diện tích hơn 4 vạn m2, cầu tàu dài 35m, độ sâu 6m và tàu 500 tấn ravào dễ dàng
1.2.2 Lịch sử và địa giới hành chính
TỈNH SÓC TRĂNG
Thời chúa Nguyễn: Lập Trấn Di đạo – Địa danh và đơn vị hành chính đầu tiên
của Tỉnh Năm 1679, một số người ở tỉnh Quảng Đông nước Đại Minh, do khôngchịu làm tôi thờ nhà Đại Thanh mà đến phương Nam xin hàng phục Chúa Nguyễnưng thuận và cho họ đóng ở Mỹ Tho (trấn Định Tường) và Đồng Nai (Biên Hòa)
Trang 22Đồng thời với khoảng thời gian này là sự nhập cư của người Hoa vào Gia Định (là cơ
sở cho việc nhập cư của người Hoa vào vùng Sóc Trăng này)
Năm 1714, chúa Nguyễn phong Mạc Cửu làm thống binh trấn Hà Tiên gồm có
6 đạo: Hà Tiên, Phú Quốc, Long Xuyên, Kiên Giang, Trấn Giang, Trấn Di Đặc biệt,Trấn Di được nhiều người xem là tên gọi đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng
Trong những năm 70 của thế kỷ XVIII, có những sự kiện về sau ảnh hưởngđến lịch sử tỉnh Sóc Trăng như sau:
Năm 1732, chúa Nguyễn cho đặt châu Định Viễn về dinh Long Hồ Lỵ sở ở đất thôn
An Bình Đông, huyện Kiến Đăng, trấn Định Tường
Năm 1757, Mạc Thiên Tứ đã thay cha Mạc Cửu làm thống binh trấn Hà Tiên và buộcvua Cao Mên dâng đất Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc) Trước đó, vua CaoMên đã cắt đất dâng Trà Vang (Trà Vinh) và Ba Thắc (Sóc Trăng và Bạc Liêu) chochúa Nguyễn Sau đó, Nguyễn Cư Trinh xin dời dinh Long Hồ đến xứ Tầm Phào hayTầm Xoi – Tầm Bao và đặt ba đạo: Đông Khẩu, Tân Châu, Châu Đốc lần lượt ở xứ
Sa Đéc, cứ Cù Lao Diên trên Tiền Giang, xứ Châu Đốc trên Hậu Giang Bấy giờ, SócTrăng là phủ Ba Thắc thuộc đạo Châu Đốc Năm 1768, cảng Ba Thắc chính thứcđược thành lập Từ đây, Ba Thắc đã thật sự trở thành vùng đất khá quan trọng vì cócảng biển lớn và trọng yếu
Thời kỳ triều Nguyễn - Hình thành phủ Ba Xuyên:
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên làm vua hiệu là Gia Long chia Gia Định thành ngũ trấn:Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên Sóc Trăng lúc này thuộc trấnVĩnh Thanh, phủ Định Viễn, huyện Vĩnh Định gồm 37 thôn, điền
Năm 1832, vua Minh Mạng cho đổi ngũ trấn thành lục tỉnh gồm: Gia Định (PhiênAn), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Trong đó, An Gianggồm 3 phủ: Tuy Biên (Châu Đốc), Tân Thành (Sa Đéc), Ba Xuyên (Sóc Trăng) Nhưvậy, Sóc Trăng lúc bấy giờ có tên gọi là Ba Xuyên gồm huyện Phong Nhiêu (BãiXàu), Phong Thạnh (Nhu Gia), Vĩnh Định (Ba Xuyên)
Năm 1836, Minh Mạng cho lập thêm nhiều làng mới trong phủ Ba Xuyên như: MỹPhước thôn, Đại Hữu thôn, An Lạc thôn, An Thạnh Nhất thôn, An Thạnh Nhì thôn,Tân Thạnh thôn
Trang 23Thời Pháp thuộc với sự hình thành hạt Ba Xuyên và tỉnh Sóc Trăng
Năm 1862, triều đình Nguyễn cắt nhượng 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định,Kiên Tường) cho Pháp Năm 1867, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây (Hà Tiên, Vĩnh Long,
An Giang)
Năm 1868, Pháp chia Nam Kỳ thành lục tỉnh: Biên Hòa, Sài Gòn, Mỹ Tho, ChâuĐốc, Hà Tiên, Vĩnh Long Sóc Trăng lúc này thuộc tỉnh Châu Đốc có 3 hạt: ChâuĐốc, Sa Đéc, Ba Xuyên Hạt Ba Xuyên có lỵ sở tại Sóc Trăng
Năm 1876, Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực với 19 hạt và 2 thành phố: Sài Gòn,Chợ Lớn Bốn khu vực đó là: khu vực Sài Gòn, khu vực Mỹ Tho, khu vực VĩnhLong, khu vực Bassac (Hậu Giang) Khu vực Bassac gồm các hạt: Châu Đốc, HàTiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Ôn, Sóc Trăng
Ngày 01/01/1900 Pháp bãi bỏ hạt thành lập tỉnh Sóc Trăng thuộc Nam Kỳ Lúc bấygiờ, tỉnh Sóc Trăng gồm có 3 quận: Châu Thành, Kế Sách, Long Phú Dân số có105.000 người, trong đó người Kinh 57.000 (%), Khmer 38.000, Hoa 10.000
Năm 1915, tỉnh Sóc Trăng có 10 tổng, 92 xã Trạm hành chính đặt tại Phú Lộc, BanLong, Đại Ngãi, Bố Thảo, Nhu Gia, Bãi Xàu
Năm 1953, tỉnh Sóc Trăng gồm 5 quận: Sóc Trăng, Kế Sách, Long Phú, Lịch HộiThượng, Thạnh Trị
Thời kỳ chế độ Sài Gòn (chế độ cũ miền Nam)
Năm 1957, theo sắc lệnh số 143/NV ngày 25/10/1957, tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêusáp nhập lại thành tỉnh Ba Xuyên Tỉnh mới có 08 quận: Mỹ Xuyên, Long Phú, KếSách, Thuận Hòa, Thạnh Trị, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Phước Long
Năm 1961, quận Phước Long được giao trả cho Chương Thiện Vì vậy, tỉnh BaXuyên còn lại 07 quận: Mỹ Xuyên, Long Phú, Kế Sách, Thuận Hòa, Thạnh Trị, VĩnhLợi, Giá Rai
Năm 1964, tỉnh Bạc Liêu được tái lập do Nghị định số 245/NV ngày 08/9/1964 củaThủ tướng Chính phủ và đã nhận lấy của tỉnh Ba Xuyên 03 quận: Vĩnh Lợi, VĩnhChâu, Giá Rai Vậy tỉnh Ba Xuyên còn lại 05 quận: Mỹ Xuyên, Long Phú, Kế Sách,
Trang 24Thuận Hòa, Thạnh Trị và có thêm một quận mới là Lịch Hội Thượng Năm 1969, SócTrăng có thêm quận Ngã Năm và Hòa Tú.
Thời kì đất nước sau ngày thống nhất:
Năm 1976, tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng) được nhập với Phong Dinh, Chương Thiện(Cần Thơ) thành tỉnh Hậu Giang theo Nghị định số 31/NĐ ngày 21/02/1976 củaChính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Tháng 4/1992, tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động với 01 thị xã và 06 huyện:thị xã Sóc Trăng, huyện Mỹ Tú, huyện Kế Sách, huyện Thạn Trị, huyện Mỹ Xuyên,huyện Long Phú và huyện Vĩnh Châu
Ngày 11/01/2002, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định
số 04/2002/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Phú để thành lậphuyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
Ngày 31/10/2003, theo Nghị định số 127/2003/NĐ-CP của Chính phủ về việc thànhlập huyện Ngã Năm thuộc tỉnh Sóc Trăng Theo Nghị định này, địa giới hành chínhhuyện Thạnh Trị được điều chỉnh để thành lập huyện Ngã Năm Như vậy tỉnh SócTrăng (tính đến ngày 31/12/2004) có một thị xã (thị xã Sóc Trăng) và 08 huyện (Mỹ
Tú, Long Phú, Vĩnh Châu, Vĩnh Châu, Thạnh Trị, Ngã Năm, Cù Lao Dung, Kế Sách,
Mỹ Xuyên)
Ngày 08/02/2007, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hànhNghị định số 22/2007/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Sóc Trăng thuộc tỉnh SócTrăng Ngày 24/09/2008, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam raNghị định số 02/2008/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mỹ Tú và thànhlập thêm huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
Đến ngày 23/12/2009, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam banhành Nghị quyết số 64/NQ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính hai huyện Mỹ Xuyên,Long Phú và thành lập thêm huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng
Ngày 25/8/2011, Chính phủ ra Nghị quyết số 90/NQ-CP thành lập thị xã Vĩnh Châu
Nhìn chung, lịch sử hình thành tỉnh Sóc Trăng gắn liền với lịch sử hình thànhvùng đất Nam Bộ và trải qua những quá trình tách nhập địa giới cũng như thay đổi
Trang 25tên gọi qua các triều đại Mỗi tên gọi gắn liền với một triểu đại, một chế độ xã hộinhất định và mang một ý nghĩa biểu trưng khác nhau.
TỈNH TRÀ VINH
Năm 1708 chúa Nguyễn được Mạc Cửu dâng cho chúa vùng đất rộng lớn từPhú Quốc, Vũng Thơm, Trũng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Hà Tiên Năm 1759, Nặc Tôntrả ơn chúa Nguyễn bằng cách dâng phần đất Tầm Phong Long vì giúp Nặc Tôn giànhlại ngôi vị thiên đế Lúc bấy giờ Long Hồ dinh là tên gọi cho tỉnh Trà Vinh và VĩnhLong
Năm 1732 Ninh Vương Nguyễn Phúc Chu quyết định thành lập một đơn vịhành chính mới trên vùng đất phía Nam dinh Phiên Trấn Đơn vị hành chính mới đó
là dinh Long Hồ, thuộc phủ Gia Định Lãnh thổ dinh Long Hồ lúc đó là một vùng đấtrộng mênh mông, trong đó có vùng đất Trà Vang “Lỵ sở của phủ Trà Vang được đặttại thôn Vĩnh Tường (nay là các ấp từ Vĩnh Bảo, Vĩnh Trường, Xuân Thạnh của xãHòa Thuận)
Năm 1832 Minh Mạng đổi Long Hồ dinh thành Vĩnh Long trấn và tỉnh TràVinh chưa có tên Vĩnh Long trấn được chia làm 4 phủ: Định Viễn, Hoằng An, HoằngTrị và Lạc Hóa Phủ Lạc Hóa có 2 huyện: Tuân Nghĩa và Trà Vinh
Sau khi Lê Văn Duyệt mất thì vua Minh Mạng chia Nam Kỳ thành 6 tỉnh: GiaĐịnh, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên Bấy giờ Trà Vinhvẫn còn là một huyện của phủ Lạc Hóa thuộc tỉnh Vĩnh Long
Năm 1867, Nam Kì chia thành 21 tỉnh và Trà Vinh là tỉnh số 5 Đây là ngàykhai sinh ra tỉnh Trà Vinh
Năm 1876, Pháp chia tỉnh Vĩnh Long cũ thành 3 tiểu khu (hạt tham biện): VĩnhLong, Trà Vinh, Bến Tre Năm 1899 tỉnh trưởng được thay cho chức tham biện
Ngày 20 tháng 12 năm 1899 Trà Vinh được thành lập theo nghị định của toànquyền Đông Dương trên cơ sở đổi tên gọi tiểu khu hay hạt tham biện thành tỉnh, nghịđịnh có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 Dưới thời Pháp thuộc Trà Vinh gồm 8quận: Càng Long, Cầu Ngang, Cầu Kè (ban đầu thuộc tỉnh Cần Thơ, sau nhập tỉnhVĩnh Long rồi Trà Vinh), Châu Thành, Long Toàn (nay là huyện Duyên Hải), TiểuCần, Trà Cú và Trà Ôn
Trang 26Năm 1951, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (thuộc chính quyền ViệtNam Dân chủ Cộng hòa) nhập hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Trà.Huyện Tiểu Cần được nhập vào huyện Càng Long, tỉnh Vĩnh Trà tồn tại đến năm
1954 Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bìnhtheo sắc lệnh 143-NV của Thủ tường ngày 22 tháng 10 năm 1956 Tuy nhiên, chínhquyền Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam sau này là Chính phủ cáchmạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòakhông công nhận tên này mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Trà Vinh
Năm 1957 chính quyền Ngô Đình Diệm lại sáp nhập quận Vũng Liêm vào TràVinh
Ngày 14/01/1967 lại tách rời quận Vũng Liêm và Trà Ôn cho Vĩnh Long (theosắc lệnh số 01/SL/ĐUHC) Trà Vinh còn lại bảy quận
Năm 1975 tỉnh Vĩnh Bình một lần nữa bị xem là huyện của tỉnh Cửu Long,huyện Trà Vinh và thị xã được đổi từ Phú Vinh sang Trà Vinh
Năm 1976 Trà Vinh hợp nhất với Vĩnh Long thành tỉnh Cửu Long và cho đến
26 tháng 12 năm 1991 mới tách ra như cũ
1.2.3 Đặc điểm dân cư
TỈNH SÓC TRĂNG
Tỉnh Sóc Trăng là nơi hội tụ, giao thoa và phát triển của ba dân tộc Kinh –Khmer- Hoa Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, Sóc Trăng vẫn còn là một vùngđất hoang vu và dân cư thưa thớt Người Khmer là thành phần quan trọng nhất trongdân số của vùng này Điều này có thể chứng minh qua nhiều ngôi chùa Khmer cũngnhư tập quán sinh hoạt đặc trưng của họ vẫn còn đậm nét và phổ biến Vào thời điểmvùng đất Sóc Trăng được chính thức sáp nhập vào lãnh thổ của chúa Nguyễn, luồng
di cư của người Việt ở các vùng đất đông dân Thuận Quảng vào đồng bằng Nam Bộ
đã rất mạnh Thành phần dân cư Việt lúc bấy giờ đa số là những người dân cùng khổ,không chịu nổi chế độ áp bức bóc lột của chúa Trịnh Vì thế họ đã tìm đến vùng ĐồngNai – Gia Định để xây dựng cuộc sống mới bằng đường thủy Bên cạnh đó, những tùnhân vượt ngục cũng là thành phần quan trọng trong đợt di dân này và đều chung mộttinh thần đó là tìm một vùng đất mới để sinh sống làm ăn Tập quán lao động chủ yếu
là trồng lúa
Trang 27Ngoài ra, người Hoa cũng đã có mặt rất sớm trên vùng đất trù phú này Họ lànhững thương nhân, di thần, tráng định vì chán nản triều đình Mãn Thanh mà sangnước ta Lúc đầu, họ định cư ở Đồng Nai Sau đó, họ tiến dần xuống vùng Sóc Trăngbằng đường thủy theo sông Tiền, sông Hậu Trong thế kỷ XVII, XVIII các thương giangười Hoa đã đi lại, buôn bán trên khắp vùng biển Đông Nam Á Các cảng của ViệtNam là nơi lui tới thường xuyên của các thuyền buôn Trung Quốc Cảng Bãi Xàu ởSóc Trăng cũng là nơi hội tụ của thuyền buôn các nước vào thời kỳ này bên cạnhnhững trung tâm buôn bán sầm uất như Cù Lao Phố (Biên Hòa), Mỹ Tho, Hà Tiên,Gia Định Dần dần, họ định cư hẳn ở đây Trong quá trình định cư họ mang theotruyền thống tín ngưỡng – tôn giáo vào vùng đất này Người Hoa có phong tục thờcúng tổ tiên và thờ Thánh – Thần, Thiên – Địa; thờ thần tài, thờ tổ tiên, thờ Phật…Trong năm có các ngày lễ như lễ tết Nguyên Đán, lễ tết Nguyên Tiêu, Đoan Ngọ, VuLan, Trung Thu Họ sinh sống bằng nghề buôn bán, một bộ phận khác được chínhquyền nhà Nguyễn khuyến khích cùng với người Khmer, người Việt khai phá đấthoang trồng trọt, canh tác.
TỈNH TRÀ VINH
Trà Vinh là tỉnh có nhiều dân tộc đang sinh sống Cộng đồng các dân tộc cư trú ở TràVinh bao gồm người Kinh, người Khơ-me, người Hoa và một vài dân tộc khác(Chăm, Tày, Nùng…) Người Kinh chiếm 68,8% dân số của tỉnh Tiếp theo là ngườiKhơ-me với gần 30,1% và người Hoa là hơn 1%
Cộng đồng các dân tộc đã tạo nên tính chất đa dạng và phong phú trong đời sống văn
hóa của Trà Vinh.
1.2.4 Đặc điểm ngôn ngữ
TỈNH SÓC TRĂNG VÀ TRÀ VINH
Tiếng địa phương của tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh mang những đặc trưng ngữ
âm của phương ngữ Nam Bộ
Hệ thống thanh điệu trong thổ ngữ có 5 thanh điệu, bao gồm: thanh ngang(thanh không dấu), thanh huyền, thanh ngã -hỏi, thanh sắc, thanh nặng Không có sựphân biệt giữa hai thanh ngã – hỏi, phát âm nhập thành một
Trang 28Phụ âm đầu: 23, có các phụ âm cong lưỡi /ȿ, ɀ, ʈ/ (chữ viết ghi là s, r, tr) ỞNam Bộ, có thể phát âm rung lưỡi /ɀ/ (chữ viết ghi là r), phụ âm /v/ phát âm thành /d/.
Ví dụ: con ve thành con de, mẹ về thành mẹ dề Có bán nguyên âm /w-/ đứng ở vị trí
phụ âm đầu; không có âm /z/ (chữ viết là gi) nhưng được thay thế bằng âm /j/ Ngoài
ra, còn có sự lẫn lộn giữa s/x và tr/ch
Âm đệm /-w-/ đang mất dần Ví dụ: doanh nghiệp thành danh nghiệp, chuyển
động thành chiển động…
Âm cuối: thiếu các âm /-ŋ, -k/, chúng biến thành /-n,-t/ Ví dụ: lính thành lứn,
lênh đênh thành lơn đơn, tịch mịch thành tựt mựt Do các nguyên âm trở nên trung
hòa thành các nguyên âm dòng giữa nên cặp phụ âm cuối /-ŋm ,-kp / không còn ở thế
bổ sung mà trở thành những âm vị độc lập Nguyên âm cuối “y” phát âm thành “i” Ví
dụ: may đồ thành mai đồ, bàn tay thành bàn tai Phương ngữ Nam Bộ đồng nhất các vần “in”, “it”, với “inh”, “ich”, “un”, “ut” với “ung”, “uc” Ví dụ: in ấn thành inh ấn,
quả mít thành quả mích hay cái mụn thành cái mụng, út Nhi thành úc Nhi.
Vần vốn có trong phương ngữ Bắc Bộ và Trung Bộ bị nhập thành một vần
trong phương ngữ Nam Bộ như: -iu, -êu, -iêu thành –iu ; -ưu, -ươu thành –u; -im,
-iêm,-êm thành –im ; -ưi, -ươi thành –ưi.
Nhìn chung, ngôn ngữ Sóc Trăng và Trà Vinh có những đặc điểm giống vớiphương ngữ Nam Nộ Trong phát âm, người dân có xu hướng đơn giản hóa các âmtiết cho dễ đọc Ví dụ: các âm “d, gi, v” đều được đọc thành “d”, “s ,x” đọc thành
“x”… Cũng có một số phát thanh viên phát âm /v/ thành /bj/ Trong ngôn ngữ thôngtin đại chúng và các hoạt động văn hóa, giáo dục, sự phân biệt các phụ âm này đượcduy trì rất có ý thức
Bên cạnh việc sử dụng tiếng Việt như một công cụ giao tiếp chủ yếu thì ngườiKhmer và người Hoa ở Sóc Trăng còn sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình trong sinhhoạt giữa những người trong cùng một cộng đồng Về người Khmer từ lâu đã có ngônngữ cũng như chữ viết riêng của mình, nhờ đó mà các di sản văn hóa dân tộc đượcghi chép, bảo lưu và truyền lại cho đến ngày nay Tương tự, người Hoa ở Sóc Trăngbên cạnh việc sử dụng tiếng Việt thì họ còn dùng tiếng Hoa như là một ngôn ngữ sinhhoạt chung cho cộng đồng, góp phần tạo nên nét đặc sắc trong ngôn ngữ cũng nhưtrong văn hóa dân tộc Theo Phan An “Trước đây, việc học tập của con em người Hoachủ yếu do cộng đồng người Hoa tự tổ chức Ở Sóc Trăng có một số trường như
Trang 29trương Bội Thanh Quốc Cường… do bà con người Hoa ở địa phương hoặc có sự giúp
đỡ của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh xây dựng nên Một số giáo viên đượcmời từ Sài Gòn về và có lúc có cả giáo viên Hồng Kông, Đài Loan đến giảng dạytheo các chương trình riêng Sau giải phóng, các trường Hoa được chuyển sang hệthống giáo dục thống nhất trong cả nước Ngoài chương trình phổ thông, các học sinhngười Hoa được học thêm một số tiết tiếng Hoa như là ngôn ngữ dân tộc”
Nhìn chung, sự giao lưu, tiếp xúc và giao thoa về ngôn ngữ đã dẫn đến sự hộinhập, đan xen và cộng hưởng trong ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày
1.2.5 Kết quả thu thập và phân loại địa danh
TỈNH SÓC TRĂNG
Qua quá trình tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau, chúng tôi thu thập được
2281 địa danh Căn cứ vào các tiêu chí đã trình bày ở phần 1.1.3, chúng tôi tiến hànhphân loại như sau:
1.2.5.1 Phân loại theo đối tượng:
a. Địa danh chỉ địa hình: Tổng số địa danh chỉ địa hình là 429, chiếm 18,81%
gồm 12 tiểu loại: bãi biển, bàu, cồn, cù lao, cửa sông, giồng, hồ, kinh, rạch, sông,
Trang 30b Địa danh hành chính: Tổng số địa danh hành chính là 893 địa danh, chiếm
39,15% gồm 8 tiểu loại: ấp, huyện, khóm, phường, thành phố, thị trấn, thị xã, xã.
c. Địa danh chỉ công trình xây dựng: Tổng số địa danh chỉ công trình xây dựng
là 915 địa danh, chiếm 40,11 % với 14 tiểu loại: bến đò, bến xe, cảng, cầu trên huyện
lộ, cầu trên tỉnh lộ, chợ, công viên, đường phố, hoa viên, hương lộ, quảng trường, sân bay, sân vận động, tỉnh lộ.
Trang 31d. Địa danh vùng: Tổng số địa danh vùng là 44 địa danh chiếm 1,92 % có 7 tiểu
loại là cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu dân cư, khu du lịch, khu văn hóa, làng
nghề, xóm.
Dưới đây là bảng kết quả phân loại địa danh theo đối tượng:
Qua quá trình tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau, chúng tôi thu thập được
3138 địa danh Căn cứ vào các tiêu chí đã trình bày ở phần 1.1.3 , chúng tôi tiến hànhphân loại như sau:
1.2.5.2 Phân loại theo đối tượng
a Địa danh chỉ địa hình
Trang 32- Tổng số địa danh chỉ địa hình là 1214 địa danh chiếm 38,65 % có 14 tiểu loại
là ao, bàu, biển, cánh đồng, cồn, cù lao, cửa biển, cửa sông, giồng, kênh, rạch, rừng,
- Tổng số địa danh chỉ hành chính là 845 chiếm 26,91% bao gồm 07 tiểu loại:
ao, ấp, huyện, khóm, phường, thành phố, thị trấn, xã.
Trang 33c Địa danh chỉ vùng
- Tổng địa danh chỉ vùng là 165 chiếm 5,25% bao gồm 10 tiểu loại: cụm công
nghiệp, cụm công nghiệp –TTCN, khu, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu văn hóa, khu di tích lịch sử văn hóa, làng nghề, xóm và vùng.
d Địa danh chỉ công trình xây dựng
- Tổng địa danh chỉ công trình xây dựng là 916 chiếm 29,17% bao gồm 24 tiểu
loại: bến, bến cảng, bến phà, bến thủy, bến hàng hóa, bến khách, bến thuyền, bến xe
khách, cầu, cầu trên tỉnh lộ hương lộ, chợ, cống, đê biển, đê sông, đường đô thị, đường phố, hương lộ, kè, ngã ba, ngã tư, ngã năm, quốc lộ, sân vận động, tỉnh lộ.
Trang 34Vinh tương đối phức tạp với nhiều vàm, cồn, giồng… Cuối cùng là tỉnh Trà Vinh
Trang 35nhiều địa danh hơn tỉnh Sóc Trăng Sau khi thu thập tất cả địa danh chúng tôi tiếnhành nhận diện địa danh tiếng Hoa ở chương 2.
Trang 36CHƯƠNG 2: PHÂN LOẠI ĐỊA DANH TIẾNG HOA TỈNH
SÓC TRĂNG VÀ TRÀ VINH
Dựa vào kết quả thu thập và phân loại địa hình tỉnh Sóc Trăng và tỉnh TràVinh, chúng tôi tiến hành liệt kê các địa danh tiếng Hoa hay còn gọi là địa danh từHán Việt tìm được:
TỈNH SÓC TRĂNG
2.1 Phân loại theo đối tượng
2.1.1 Địa danh chỉ địa hình
1 Bãi biển - Vĩnh Châu
- Hòa Khởi (Thị xã Vĩnh Châu)
- Hòa Phú (huyện Mỹ Xuyên)
- Hưng Thạnh (huyện Long Phú)
- Hưng Thạnh (huyện Mỹ Xuyên)
- Lai Hòa (Thị xã Vĩnh Châu)
- Phú Giao (huyện Thạnh Trị)
Trang 37- Phú Tường (huyện Mỹ Tú)
- Tân Biên (huyện Thạnh Trị)
- Tân Chánh (huyện Ngã Năm)
- Tân Hội (huyện Long Phú)
- Tân Lập (Thị xã Vĩnh Châu)
- Tân Lập (huyện Mỹ Tú)
- Tân Phước (huyện Mỹ Tú)
- Tân Thanh (huyện Long Phú)
- Thành Tân (huyện Kế Sách)
- Tiểu (huyện Kế Sách)
- Trần Đề (huyện Trần Đề)
- Công Điền (huyện Kế Sách)
- Hòa Hưng (huyện Mỹ Xuyên)
- Hậu Bối (huyện Kế Sách)
- Hòa Bình (huyện Mỹ Xuyên)
- Hòa Nghĩa (Thị xã Vĩnh Châu)
- Gia Hòa (huyện Mỹ Xuyên)
- Long Phú (huyện Long Phú)
Trang 38- Mỹ Hương (huyện Mỹ Tú)
- Mỹ Thanh (Thị xã Vĩnh Châu)
- Trung Hòa (huyện Thạnh Trị)
- Trường Hưng (huyện Long Phú)
12 Vàm - Đại Ngãi (huyện Long Phú)
2.1.2 Địa danh chỉ hành chính
1 Ấp - An Trung (An Thạnh 1, huyện Cù Lao
- An Lạc (An Thạnh Tây, huyện Kế Sách)
- An Phú (An Thạnh Tây, huyện Kế Sách)
- An Hòa (An Lạc Tây, huyện Kế Sách)
- An Tấn (An Lạc Tây, huyện Kế Sách)
- An Công (An Lạc Tây, huyện Kế Sách)
- An Ninh (An Lạc Thôn, huyện Kế Sách)
- An Thới (An Lạc Thôn, huyện Kế Sách)
- Phú Tây (An Mỹ, huyện Kế Sách)
- Trường Lộc (An Mỹ, huyện Kế Sách)
- Trường Phú (An Mỹ, huyện Kế Sách)
- An Nghiệp (An Mỹ, huyện Kế Sách)
- Trường Thọ (An Mỹ, huyện Kế Sách)
- Phụng An (An Mỹ, huyện Kế Sách)
- Trung Hải (Đại Hải, huyện Kế Sách)
- Đông Hải (Đại Hải, huyện Kế Sách)
- Nam Hải (Đại Hải, huyện Kế Sách)
- Thành Tân (Kế Thành, huyện Kế Sách)
Trang 39- Bồ Đề (Kế Thành, huyện Kế Sách)
- Mỹ Thạnh (Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách)
- Mỹ Thuận (Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách)
- Mỹ Tân (Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách)
- Mỹ Lợi (Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách)
- An Phú Đông (Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách)
- Mỹ Yên (Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách)
- Mỹ Phước (Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách)
- Phong Thới (Phong Nẫm, huyện Kế Sách)
- Phong Thạnh (Phong Nẫm, huyện KếSách)
- Phong Hòa (Phong Nẫm, huyện Kế Sách)
- Phong Phú (Phong Nẫm, huyện Kế Sách)
- Ninh Thới (Thới An Hội, huyện Kế Sách)
- Đại An (Thới An Hội, huyện Kế Sách)
- Mỹ Hội (Thới An Hội, huyện Kế Sách)
- An Nhơn (Thới An Hội, huyện Kế Sách)
- An Hòa (Thới An Hội, huyện Kế Sách)
- An Định (Kế Sách, huyện Kế Sách)
- An Khương (Kế Sách, huyện Kế Sách)
- An Thành (Kế Sách, huyện Kế Sách)
- An Phú (Kế Sách, huyện Kế Sách)
- Hòa An (Xuân Hòa, huyện Kế Sách)
- Hòa Phú (Xuân Hòa, huyện Kế Sách)
- Hòa Quới (Xuân Hòa, huyện Kế Sách)
- Hòa Thành (Xuân Hòa, huyện Kế Sách)
- Hòa Lợi (Xuân Hòa, huyện Kế Sách)
- Nhất (Châu Khánh, huyện Long Phú)
- Nhì (Châu Khánh, huyện Long Phú)
- An Đức (Đại Ngãi, huyện Long Phú)
- Ngãi Hòa (Đại Ngãi, huyện Long Phú)
- Ngãi Phước (Đại Ngãi, huyện Long Phú)
- An Hưng (Long Đức, huyện Long Phú)
- Hòa Hưng (Long Đức, huyện Long Phú)
- Lợi Hưng (Long Đức, huyện Long Phú)
Trang 40- Tân Lập (Long Phú, huyện Long Phú)
- Phú Đức (Long Phú, huyện Long Phú)
- Phú Đa (Phú Hữu, huyện Long Phú)
- Phú Trường (Phú Hữu, huyện Long Phú)
- Phụng An (Song Phụng, huyện Long Phú)
- Phụng Sơn (Song Phụng, huyện Long Phú)
- Tân Lịch (Tân Hưng, huyện Long Phú)
- Tân Hội (Tân Thạnh, huyện Long Phú)
- Trường Thọ (Trường Khánh, huyện LongPhú)
- Trường Hưng (Trường Khánh, huyện LongPhú)
- Trường An (Trường Khánh, huyện LongPhú)
- Trường Lộc (Trường Khánh, huyện LongPhú)
- Trường Bình (Trường Khánh, huyện LongPhú)
- Châu Thành (Lịch Hội Thượng, huyệnTrần Đề)
- Hội Trung (Lịch Hội Thượng, huyện TrầnĐề)
- Thanh Liêm (Đại Ân 2, huyện Trần Đề)
- Nam Chánh (Lịch Hội Thượng, huyện TrầnĐề)
- Tài Công (Tài Văn, huyện Trần Đề)
- Hưng Thới (Thạnh Thới An, huyện TrầnĐề)
- Thạnh Nhàn (Thạnh Thới An, huyện TrầnĐề)
- Thạnh Ninh (Thạnh Thới Thuận, huyệnTrần Đề)
- Thạnh Phú (Thạnh Thới Thuận, huyệnTrần Đề
- Đào Viên (Liên Bình, huyện Trần Đề)