Danh Từ Riêng Trong Phép Giảng Tám Ngày Của A.De Rhodes Niên luận Ngôn Ngữ Học Trình bày đặc điểm của danh tử riêng trong phép giảng 8 ngày, bao gồm chi tiết về mặt ngữ nghĩa (ký hiệu, ý nghĩa tâm lý, ý nghĩa văn hóa và triết học), và mặt ngữ pháp. Đặc biệt, cung cấp bảng đối sánh danh từ riêng trong phép giảng tám ngày với từ điển hiện đại
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
NIÊN LUẬN CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
Đề tài:
DANH TỪ RIÊNG TRONG PHÉP GIẢNG
TÁM NGÀY CỦA A.DE RHODES
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3PHẦN 1: DẪN NHẬP
1.1. Lý do chọn đề tài
Bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới cũng cần có phương tiện để biểu thị cho mộtđối tượng cụ thể Đối tượng ấy có thể là người hoặc vật, có thể là động vật hoặc bấtđộng vật được gọi là danh từ Danh từ là một trong ba từ loại cơ bản của tiếng Việt,chiếm một số lượng từ rất lớn trong kho từ vựng tiếng Việt Danh từ có vai trò quantrọng bậc nhất trong cơ cấu ngữ pháp, để cùng với động từ tạo nên những vấn đề chủyếu về từ pháp và cú pháp của tiếng Việt Tuy nhiên, có không ít tác giả khi bàn vềdanh từ hoặc mô tả về các nhóm danh từ đã không nhắc gì đến danh từ riêng, và đángtiếc là họ không nêu rõ lý do về sự vắng mặt của danh từ riêng
Bên cạnh đó, chữ viết của một quốc gia là một trong những vấn đề lớn Dovậy, nghiên cứu lịch sử chữ quốc ngữ ở nước ta là một việc làm cần thiết và đòi hỏinhiều kiến thức xã hội, lịch sử, văn hóa Theo nhiều nghiên cứu, chữ quốc ngữ là docác giáo sĩ nước ngoài đặt ra Họ làm công việc này vì sự cần thiết của bản thân họ, vìyêu cầu truyền giáo Trong sinh hoạt cũng như trong báo cáo với bề trên, họ phải tìmcách ghi lại các địa danh, tên người Cao hơn nữa là nhu cầu học tiếng của người bản
xứ để cuối cùng có thể dùng tiếng nói của nhân dân bản địa mà truyền giáo, chỉ nhưthế thì công việc mới có hiệu quả cao Những vấn đề đã kể trên tất yếu xảy ra ở bất cứnơi nào mà các giáo sĩ đặt chân tới, nhất là những đất nước đã có một trình độ vănhóa khá cao như Trung Hoa, Nhật Bản và có cả Việt Nam Nếu như Từ điển Việt – Bồ
- La xuất bản vào giữa thế kỉ XVII thì Từ điển Latinh - Bồ - Nhật đã xuất bản vàocuối thế kỉ XVI, nghĩa là sớm hơn nửa thế kỉ Theo đó, việc phiên âm tiếng bản địa rachữ Latinh nhằm mục đích truyền giáo là một hiện tượng phổ biến, mang tính khuvực, chứ không phải chỉ có ở Việt Nam
“ Phép giảng tám ngày” của giáo sĩ Alexandre de Rhodes là tác phẩm chữ quốcngữ đầu tiên được in ấn công phu, xuất bản tại Roma năm 1651 mà đối với chúng tahiện nay, cuốn sách có hai lợi ích to lớn: văn hóa và tôn giáo Đây thực sự là cuốnsách quý và hiếm đối với những ai muốn nghiên cứu sự hình thành của chữ quốc ngữcũng như cách trình bày giáo lý công giáo từ đầu thế kỉ XVII Cho tới nay, cuốn sáchnày chỉ nằm trong một vài thư viện Châu Âu
1.2. Lịch sử nghiên cứu
Trang 4Những tài liệu nghiên cứu ngữ pháp về danh từ riêng
Có lẽ Trần Ngọc Ninh trong quyển Cơ cấu Việt ngữ, quyển 3, Lửa thiêng, Sài Gòn là tác giả Việt Nam đầu tiên, khi bàn vể danh từ đã khẳng định danh từ riêng
“ là từ vô căn vô nghĩa và ở bên lề của hệ thống ngôn ngữ ” Ông đã phân tích vàchứng minh một số đặc điểm của tên riêng và danh từ riêng như: khả năng kết hợp,tính vô căn, vô nghĩa Tuy nhiên, ông chưa cho thấy rõ vị trí ngôn ngữ học của danh
từ riêng trong sự đối chiếu với các đơn vị ngôn ngữ có những nét tương tự với nó
Nguyễn Tài Cẩn ( 1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, đi theo một con đường riêng, có phần khác với mọi
người Ông chia ra một loại lớn danh từ gọi chung là “ từ chỉ đơn vị”, bao gồm hainhóm nhỏ là “ từ chỉ đơn vi tự nhiên” và “ từ chỉ đơn vị quy ước” Nguyễn Tài Cầmcũng đặt nhiều nghi vấn khi ông cho rằng danh từ tiếng Việt phần lớn đều có điểmkhông giống danh từ ở nhiều ngôn ngữ trên thế giới, về căn bản chúng là danh từ xếpvào loại không đếm được
Cao Xuân Hạo ( 1992) lần đầu tiên đã đề xuất ra một các phân loại tương tự
và danh từ tiếng Việt trong đó trước hết là sự đối lập của hai lớp lớn: danh từ đơn vị
Bùi Đức Tịnh trong Văn Phạm Việt Nam chia danh từ làm hai loại là danh từ
chung và danh từ riêng Theo đó, những danh từ chỉ dùng để gọi một vật, một conthú, một người hoặc một nhóm người nhất định thì gọi là danh từ riêng Danh từ riêng
tiếp tục được phân ra làm hai loại là danh từ riêng khái quát và danh từ riêng chỉ
định.
Nguyễn Kim Thản trong cuốn Nghiên cứu Ngữ pháp Tiếng Việt, NXB Giáo
Trang 5Ông cho rằng danh từ riêng có những đặc trưng ý nghĩa – hình thức biểu thị tên gọicủa một sinh vật, một tập thể hay một sự kiện riêng biệt và nhìn chung không bị số từ,lượng từ, phó danh từ và đại từ chỉ định hạn chế Tuy nhiên, đối với những danh từriêng chỉ tên người, đặc trưng ngữ pháp này không tuyệt đối Những danh từ này,trong trường hợp ngẫu nhiên, có thể đặt sau một số từ khi ở một nơi nào đó có haingười trùng tên nhau.
Nguyễn Thị Ly Kha với Danh từ khối trong tiếng Việt hiện đại ( so sánh với tiếng Hán hiện đại) Luận án tiến sĩ Khoa học Ngữ Văn, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001, đưa ra quan điểm của các tác giả về việc phân chia danh từ thành danh từ
chung và danh từ riêng Tác giả cho rằng đây là hướng phân chia quen thuộc nhưngnếu căn cứ vào kết quả của tiêu chí chung- riêng sẽ chỉ cho ta đối lập về công dụng
mà chưa cung cấp những đối lập cần thiết về ngữ pháp Đồng thời, tác giả cho rằng,danh từ riêng hầu hết là một loại sự kiện thuộc bình diện lời nói Bất cứ sự phân loạinào cũng giả định rằng các sự kiện được phân loại phải thuộc cùng một bình diện.Tuy nhiên, khi phân loại chung- riêng, các tác giả trên chưa đáp ứng thõa mãn yêucầu này, vì đã lấy hai đối tượng thuộc hai bình diện khác nhau làm chỗ dựa, dẫn đếnviệc thiếu sức thuyết phục và thiếu tính hệ thống khi xử lí các sự kiện của danh từ vàdanh ngữ, nếu đặt danh từ chung- cái thuộc về ngôn ngữ, cạnh danh từ riêng- cáithuộc về lời nói, và đối xử với một thái độ như nhau
Hồ Lê trong Cú Pháp Tiếng Việt quyển 3, Cú pháp cơ sở , Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1992 có đề cập sơ lược đến danh từ riêng trong tiếng
Việt Bên cạnh việc mô tả sự kết hợp của danh từ với một số từ loại khác, Hồ Lê chorằng những từ như: trời, đất, trâu, bò, áo, quần…và những từ chỉ tên riêng của người,của vật, của nới chốn đều là tiểu loại của danh từ
Nguyễn Hữu Quỳnh trong quyển Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Bách Khoa Hà Nội năm 2001 có nêu cụ thể các đặc điểm chung của danh từ Tuy nhiên, ông phân
loại danh từ theo một cách rất mới mẻ, gồm có: danh từ riêng, danh từ loại thể, danh
từ chỉ đơn vị đo lường, danh từ chỉ chất liệu, danh từ chỉ thời gian, danh từ chỉphương hướng, danh từ chỉ người, danh từ chỉ vật và danh từ chỉ khái niệm trừutượng Theo đó, Nguyễn Hữu Quỳnh định nghĩa “ danh từ riêng là tên gọi riêng mộtngười, một vật, một địa phương, một tổ chức hoặc một sự kiện, hiện tượng, khái niệmriêng biệt” Chẳng hạn như: Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội, chiến thắng Điện Biên Danh
từ riêng trong tiếng Việt thường dùng dưới dạng cụm từ và danh từ riêng chỉ người
Trang 6thường kết hợp với danh từ chỉ quan hệ xã hội, gia đình, ví dụ: đồng chí Trần Phú,bác sĩ Phạm Ngọc Thạch…Nguyễn Hữu Quỳnh còn cho rằng danh từ riêng không kết
hợp với các từ chỉ số lượng và các đại từ này, ấy, kia…thí dụ không thể nói hai Hà
Nội, năm Đà Nẵng…Đối với trường hợp hai ba người cùng trùng tên thì có thể nói: “
Ở đây có hai An, anh muốn gặp An nào?” Quan điểm này của Nguyễn Hữu Quỳnh có
phần tương tự với cách nhìn của Nguyễn Kim Thản như đã nêu trên
Trần Trọng Kim trong quyển Văn phạm Việt Nam, NXB Thanh Niên gọi tất
cả những tiếng dùng để gọi riêng từng người, từng họ, từng xứ, từng nước…là danh
tự riêng Bên cạnh đó, ông đề cập nhiều hơn đến danh tự chung và cách viết nhữngtiếng danh tự ra sao Chẳng hạn, trong một tiếng danh tự ghép, thì phải viết có dấugạch ngang để nối hai tiếng đó với nhau như: nhà – cửa, Việt – nam…
Nguyễn Chí Hòa trong quyển Ngữ pháp Tiếng Việt Thực hành, NXB ĐHQG
Hà Nội, nêu ra các đặc trưng của danh từ, chức năng của danh từ, và phân chia tiểu
loại danh từ như nhiều nhà ngôn ngữ học: danh từ chung, danh từ riêng Theo ông,danh từ riêng không kết hợp trực tiếp với số từ và thông thường thì danh từ riêngcũng sẽ không kết hợp với các nghi vấn từ “ nào”, “ gì” và các đại từ chỉ định “ này”,
“ ấy” Nguyễn Chí Hòa còn cho rằng, trong tiếng Việt, danh từ riêng thường kết hợpvới các danh từ chỉ đơn vị, ví dụ: Nguyễn Văn An -> Em Nguyễn Văn An
Có lẽ Từ loại tiếng Việt hiện đại của Lê Biên, NXB Giáo Dục, là quyển sách
có viết về danh từ riêng đầy đủ và chi tiết nhất Lê Biên cũng chia danh từ làm haitiểu loại: chung và riêng Tuy nhiên, ông cho rằng danh từ riêng chỉ là tên gọi sự vật,
nó không mang nghĩa sở chỉ, sở biểu Cho nên, có trường hợp chỉ là một sự vật đơn
nhất như mặt trăng, mặt trời…vẫn không phải là danh từ riêng Bên cạnh đó, Lê Biên
cũng đưa ra quan điểm như Nguyễn Chí Hòa và Nguyễn Hữu Quỳnh, rằng vì đặctrưng nhất định của mình, bản thân các tên riêng đã được xác định nên danh từ riêngthường không dùng kèm theo các từ chỉ số lượng và từ chỉ định Ngoài ra, Lê Biêncòn chia danh từ riêng làm hai bộ phận:
- Bộ phận chỉ tên riêng Việt Nam: Lê Quý Đôn, rừng Cúc Phương…
- Bộ phận chỉ tên riêng về người, về loài vật địa danh nước ngoài: Ô – nô –
rê đơ Ban – dắc…
Trang 7Lê Biên cũng nhấn mạnh rằng, trong tên riêng Việt Nam, quan trọng nhất là nhữngtên riêng chỉ về tên người và ông phân tích đầy đủ về tự, hiệu, húy cũng như các xuthế cấu tạo tên riêng bằng cách phiên âm trực tiếp cách phát âm của tiếng nước ngoài.
Lê Trung Hoa với quyển Nhân danh học, NXB Trẻ bàn luận những vấn đề về
tên người – một bộ phận của của danh xưng học Theo ông, nhân danh học là mộtngành đã ra đời từ rất lâu ở các nước Âu – Mỹ và phát triển với hàng trăm công trình
đã được công bố Tuy nhiên, ở Việt Nam chỉ mới có một vài bài nghiên cứu về mộtvài phương diện của họ và tên người Việt Nam “Nhân danh học” của Lê Trung Hoagồm có 5 phần cụ thể và rõ ràng: họ, tên đệm, tên chính, các nhóm danh hiệu và cáchgọi tên của người Việt Từng phần như vậy, tác giả phân tích rõ ràng về khái niệm,chức năng, vị trí, nguồn gốc…
Bài viết của Lý Toàn Thắng về Loại từ và các tiểu loại danh từ trong tiếng Việt in trong quyển Loại từ trong các ngôn ngữ ở Việt Nam, tập 1, NXB Khoa học
Xã hội, năm 2000 cho rằng M B Emeneau ( 1953) là người đầu tiên đề xuất ý kiến
chia danh từ làm hai loại lớn là : danh từ có biệt loại ( Classified nouns) và danh từkhông biệt loại ( Nonclassified nouns) trên cơ sở khả năng kết hợp của chúng với loại
từ đi trước, so sánh: ( hai con) gà với ( hai) tỉnh Lý Toàn Thắng trong bài viết này đã
đồng tình với ý kiến của Cao Xuân Hạo trước đó và ông cho rằng, sự phân loại của
Cao Xuân Hạo có một ưu điểm lớn “ đã xích gần lại với những phổ niệm của ngữ
pháp đại cương”, và hơn nữa, có căn vào cả những thuộc tính ngữ nghĩa và cú pháp
của danh từ
Hoàng Dũng và Nguyễn Thị Ly Kha trong bài viết về Danh từ và các tiểu loại danh từ tiếng Việt, in trong quyển Ngữ pháp tiếng Việt – những vấn đề lí luận, NXB Khoa học Xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, cùng đưa ra những hướng
phân loại danh từ thường gặp nhưng họ chia danh từ ra làm hai loại: danh từ đơn vị
và danh từ khối Ý kiến này của Hoàng Dũng và Nguyễn Thị Ly Kha đi theo quan
điểm trước đó của Cao Xuân Hạo trong quyển Ngữ pháp chức năng tiếng Việt tập 2, Ngữ đoạn và Từ loại, NXB Giáo Dục, do Cao Xuân Hạo làm chủ biên, định nghĩa
danh từ là loại thực từ có thể tự mình làm thành một ngữ danh từ, làm trung tâm của
Trang 8cũng nghiêng về phân loại theo hướng đề cao mặt ngữ nghĩa của tên riêng, còn quanđiểm viết hoa thiên về mặt thuần ngôn ngữ học của ông chỉ chiếm một phần nhỏtrong sách.
The World Book Dictionary (2006, NXB.World Book, USA) định nghĩa tên
riêng như sau: “proper noun: a classification of nouns naming a particular person,place, or thing, written with an initial capital letter John, Chicago, Monday, andWorld War are proper nouns; boy, city, and day are common nouns” Có thể tạm dịch
“tên riêng: sự phân loại của danh từ, gọi tên cụ thể 1 người, địa điểm hoặc là 1 sự vật,viết hoa ký tự mở đầu John, Chicago, Monday, và World War là danh từ riêng; boy,city, và day là danh từ chung”
Các nghiên cứu về A De Rhodes và “ Phép giảng tám ngày”
Bài giới thiệu “Phép giảng tám ngày” của Nguyễn Khắc Xuyên đăng trong cuốn sách do Tinh Việt Văn Đoàn xuất bản năm 1961 đã nói đến lợi ích tôn giáo và
phương diện giáo lý của “ Phép giảng tám ngày” Đồng thời, ông miêu tả sơ lược vềnội dung cũng như đặc điểm của cuốn sách này thông qua phương pháp dạy giáo lýcủa giáo sĩ A.de Rhodes
Nguyễn Khắc Xuyên với Quan điểm thần học trong “ Phép giảng tám ngày” của giáo sĩ Đắc Lộ, tạp chí Đại học ( Huế), số 1, tháng 2, năm 1961.
A.de Rhodes, “ Phép giảng tám ngày” Tủ sách Đại Kết, thành phố Hồ Chí
Minh, 1993
Lý Toàn Thắng và Võ Xuân Quế trên tạp chí Ngôn ngữ, khi nói đến việc sưu tầm và
nghiên cứu về lịch sử chữ Quốc ngữ đã khẳng đinh có “ sự cộng tác của một số nhàkhoa học trong và ngoài nước” với “ một số tài liệu viết tay bằng chữ Quốc ngữ chưa
hề được công bố hoặc chỉ mới được công bố dưới dạng tư liệu mà chưa sưu tầm đượcvăn bản”
Hoàng Tiến với Chữ quốc ngữ và cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20, NXB Thanh Niên nghiên cứu về buổi đầu của chữ Quốc ngữ, những đóng góp của chữ
Quốc ngữ vào nên văn hóa cũng như lịch sử của nước ta Hoàng Tiến đề cập đến giáo
sĩ A de Rhoeds – người khai sinh ra chữ quốc ngữ Theo ông, tất nhiên việc này cócông sức đóng góp của nhiều người nữa, nhưng A de Rhodes là người giữ công đầu
Trang 9Từ những yếu tố đã nêu, việc tìm tòi và tra cứu về những vấn đề liên quan đến
từ loại được xem là một bộ phận làm nên thế đối lập với danh từ chung ở buổi bìnhminh của chữ quốc ngữ là điều cần thiết và đáng chú ý
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các đặc điểm về ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng của danh từ riêng được khảosát trong “ Phép giảng tám ngày” của A.de Rhodes
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và miêu tả
Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu các đặc điểm của danh từ riêng trong “ Phép giảng tám ngày” củaA.de Rhodes trong mối quan hệ giữa ba bình diện ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng, đềtài sẽ góp thêm ý kiến về sự cần thiết và tính tất yếu khuynh hướng nghiên cứu các sựkiện ngôn ngữ cũng như văn hóa, tôn giáo
Ý nghĩa thực tiên
Ngoài ra, việc đối sánh chữ quốc ngữ ở buổi đầu hình thành so với từ điểntiếng Việt hiện tại sẽ tạo điều kiện để việc mô tả được thấu đáo và trọn vẹn hơn
1.6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, mục lục, phần nội dung của niên luận gồm ba chương chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương này đưa ra những yếu tổng quát về danh từ, danh từ riêng cùng vớicác nghiên cứu, tìm tòi về “ Phép giảng tám ngày” cũng như về giáo sĩ A de Rhodes
Trang 10Chương 2: Đặc điểm của danh từ riêng trong “ Phép giảng tám ngày”
Chương hai đi sâu vào làm rõ những đặc điểm và tính chất của danh từ riêngdựa trên ngữ liệu “ Phép giảng tám ngày”, lập bảng ngữ nghĩa và lấy ví dụ minh họacho lý thuyết về danh từ riêng
Chương 3: Đối sánh danh từ riêng trong “ Phép giảng tám ngày” với từ điển hiện tại
Chương này tập trung so sánh cách viết và sử dụng danh từ riêng trong giáo lý
“ Phép giảng tám ngày” và một số từ điển của Huỳnh Tịnh Paulus Của hay Tầmnguyên từ điển so với từ điển chính tả của Hoàng Phê và Hoàng Long
Trang 11II Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Một số vấn đề về danh từ - danh từ riêng
2.1.1 Danh từ 2.1.1.1 Định nghĩa danh từ:
Có không ít định nghĩa khái niệm danh từ, vì bản chất phức tạo của danh từ và
vì mỗi ngôn ngữ có những cách thức biểu hiện khác nhau Cho đến nay vẫn chưa cóđược một định nghĩa danh từ có khả năng dung nạp đầy đủ mọi đặc điểm của danh từtrong các ngôn ngữ Nhìn chung, có thể khái quát các kiểu định nghĩa danh từ thành
ba hướng chính như sau:
- Danh từ là từ gọi tên người, nơi chốn hay sự vật
- Danh từ là lớp từ có khả năng kết hợp với những yếu tố chỉ lượng, kết hợp với mạo
từ, có khả năng đảm nhận vị trí trung tâm trong cấu trúc danh ngữ
- Danh từ là từ loại có ý nghĩa phạm trù sự vật, có các phạm trù ngữ pháp giống, số,cách, thực hiện các chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu như chủ ngữ, bổ ngữ,định ngữ
Tuy có nhiều hướng định nghĩa và cách trình bày về tính chất, đặc điểm của
danh từ, nhưng nhìn chung, về cơ bản các tác giả đều nhất trí rằng danh từ là từ chỉ
thực thể và hình thức tồn tại của thực thể, là thành tố không thể thiếu trong khung vị
từ Có thể định nghĩa danh từ là “ từ loại có thể tự mình làm thành ngữ đọan dùng để chỉ những sự vật, hay những thực thể được xử lí như sự vật ( hành động, biến cố, trạng thái, tình cảm, tính chất…), tức là danh ngữ, một trong những bộ phận của câu chuyên biểu thị các tham tố của sự tình.
2.1.1.2 Nhận diện danh từ
Trong ngữ pháp học cổ điển, cấu trúc luận và ngữ pháp tạo sinh, việc phânđịnh từ loại bao giờ cũng dựa vào những tiêu chí hình thức Còn trong ngôn ngữ họchiện đại, từ loại được phân định theo ba tiêu chí: khả năng làm thành ngữ đoạn, chứcnăng cú pháp, các phương tiện hình thứ c đánh dấu chức năng cú pháp khi thể hiệncác vai nghĩa Ngôn ngữ học hiện đại cũng sử dụng tiêu chí hình thức để phân định
từ loại danh từ, nhưng khác với ngôn ngữ học cấu trúc cổ điển ở chỗ ngôn ngữ họchiện đại coi những tiêu chí hình thức như là những dấu hiệu và những hệ quả củachức năng cú pháp và ngữ nghĩa
Trang 12Là từ loại biểu thị tham tố của sự tình, nghĩa khái quát nhất của danh từ lànghĩa sự vật, chỉ thực thể ( người/ vật) tham gia vào cấu trúc tham tố của vị từ.Nguyễn Kim Thản viết: “ Danh từ là một loại thực từ biểu thị những cái có tĩnh chất
sự vật ( sinh vật, vật thể, hiện tượng, sự việc trong đời sống thực tại và của tư duy)”.Nguyễn Anh Quế thì khẳng định: Danh từ thường chỉ sự vật, hiện tượng, khái niệm.Đinh Văn Đức nhấn mạnh: “ Ý nghĩa của danh từ là ý nghĩa thực thể”, danh từ là lớp
từ chỉ các khái niệm sự vật cụ thể, các khái niệm trừu tượng, và tất cả các khái niệmkhác được nhận thức một cách độc lập
Xuất phát từ đặc điểm loại hình đơn lập của tiếng Việt, khi bàn về các đặcđiêm ngữ pháp của danh từ tiếng Việt, các tác giả Trương Vĩnh Ký, Nguyễn KimThản, Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Hồ Lê và Lý Toàn Thắng …về cơ bản đềucho rằng danh từ tiếng Việt là từ loại:
2.1.1.3 Phân loại danh từ tiếng Việt
Mặc dù thừa nhận danh từ tiếng Việt không phải là một khối thuân nhất, nhưngkhi phân định, giới Việt ngữ học vẫn đi theo nhiều hướng khác nhau nên kết quả lạikhông giống nhau
Những hướng phân loại danh từ:
Dựa vào công dụng gọi tên cho một hay nhiều vật, lấy tiêu chí chung – riênglàm điểm xuất phát, những tác giả như Hoàng Tuệ, Nguyễn Kim Thản, Nuyễn TàiCẩn, Hoàng Văn Thung phân chia danh từ thành danh từ chung và danh từ riêng Đây
là hướng phân chia quen thuộc, được nhiều tác giả sử dụng Nhưng căn cứ và kết quảcủa tiêu chí chung – riêng hầu như chỉ cho thấy sự đối lập về công dụng mà chưacung cấp những đối lập cần yếu về ngữ pháp
Dựa vào tiêu chí biệt loại, Emeneau phân loại danh từ tiếng Việt thành danh từbiệt loại và danh từ không biệt loại Cao Xuân Hạo cho rằng kết quả phân chia củaEmeneau làm nảy sinh một sự đối lập không hề có trong thực tế Vì loại từ là một
Trang 13trong những chức năng về nghĩa có thể có được của danh từ chứ không phải là một từloại, và càng không phải là công cụ để phân loại danh từ.
Theo Hồ Lê, thiếu sót lớn của Emeneau là bản thân ông cũng không phân biệtthật rõ những danh từ nào là danh từ biệt loại và danh từ không biệt loại, và xem loại
từ là từ loại tách khỏi danh từ
Dựa vào ngữ nghĩa, Đinh Văn Đức phân loại danh từ thành: danh từ trừutượng và danh từ cụ thể Cách phân loại này phản ánh được thế đối lập có thực trongnội bộ các đối tượng được biểu thị bằng danh từ: có những đối tượng là “ vật” cụ thể
và có không ít đối tượng là “ vật” không hữu hình, kèm theo đó là những đặc điểmngữ pháp của mỗi loại
Dựa vào tiêu chí đếm được hay không, Trương Vĩnh Ký tuy không tuyên bốmột cách hiển ngôn về việc dùng tiêu chí đếm được và không đếm được để phân loạidanh từ tiếng Việt, nhưng có thể nói ông là người đầu tiên đã sử dụng tiêu chí này.Trương Vĩnh Ký cũng là tác giả đầu tiên lập một danh sách 221 danh từ số và mộtdanh sách gồm 14 danh từ khái quát và lại biệt dùng với vị từ
Trong một công trình công bố vào năm 1982, và trong một số bài bàn về danh
từ được công bố từ năm 1988 đến nay, Cao Xuân Hạo khẳng định tiêu chí phân loạidanh từ tiếng Việt phải là tiêu chí đếm được và không đếm được Cũng căn cứ vàotiêu chí này, Diệp Quang Ban chia danh từ thành danh từ đếm được và danh từ khôngđếm được Những từ chứng như số đếm, từ chỉ lượng, phân lượng từ, đã giúp tách vànhận diện hai lớp danh từ này
Hai tiểu loại lớn của danh từ tiếng Việt: danh từ chung – danh từ riêng 2.1.2 Danh từ chung
Diệp Quang Ban [ stt, 86] định nghĩa danh từ chung là tên gọi của từng lớp sựvật đồng chất về một phương diện nào đó, tức là ý nghĩa ở danh từ chung là thứ ýnghĩa chung, khái quát cho nhiều vật cụ thể thuộc cùng một lớp đồng chất Đó chính
là tính chất trừ tượng từ vựng của danh từ chung
Trang 14Nguyễn Kim Thản [ STT, 146 - ] danh từ chung chiếm tỉ lệ chủ yếu trong cácdanh từ Về ý nghĩa, nó là tên gọi khái quát của cả một loại sự vật chứ không phải làtên gọi một sự vật riêng biệt.
Trần Trọng Kim [ STT, 4] danh tự chung là tiếng để gọi chung các sự, các vậtcùng một loại Ông chia danh tự chung ra thành: cụ thể danh tự và trừu tượng danhtự
Theo Bùi Đức Tịnh [ STT, 218 - 221], danh từ chung là những danh từ dùng đểgọi chung những người, thú, vật, cùng một loại với nhau
Nguyễn Chí Hòa [ stt, 26] danh từ chung là danh từ chỉ một chủng loại sự vật,
có tính khái quát, trừu tượng, không có mối liên hệ đơn nhất giữa tên gọi và sự vật cụthể
2.1.3 Danh từ riêng
2.1.3.1 Khái niệm
Theo Từ điển tiếng Việt
“Danh từ dùng làm tên riêng để gọi tên từng sự vật, đối tượng riêng lẻ đượcgọi là danh từ riêng”
“ Về mặt ý nghĩa, danh từ riêng là tên người, tên đất, tên sách báo, tên thời
đại, tên gọi những tổ chức cụ thể…” [ Diệp Quang Ban, 87]
“ Danh từ riêng là những từ có đặc trưng ý nghĩa – hình thức như sau: biểu thị tên gọi của một sinh vật, một tập thể, hay một sự kiện riêng biệt, và nói chung
không bị số từ, lượng từ, phó danh từ và đại từ chỉ định hạn chế [ Nguyễn Kim
danh” [ Lê Biên, 30]
Trang 15“ Những danh từ dùng để gọi một vật, một con thú, một người hoặc một nhóm
người nhất định Đó là những danh từ riêng.” [ Bùi Đức Tịnh, 218]
“ Danh từ riêng là tên gọi riêng của một người, một vật, một địa phương, một
tổ chức hoặc một sự kiện, hiện tượng, khái niệm riêng biệt.” [ Nguyễn Hữu Quỳnh,
119].
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam hầu như cho rằng danh từ riêng làloại danh từ dùng để gọi tên một người, một vật, một sự kiện, một hiện tượng tựnhiên, một vùng đất, một tổ chức,…cụ thể và riêng biệt
2.1.3.2 Cương vị ngôn ngữ học của danh từ riêng
Saussure đã chỉ rõ: một sự kiện thuộc bình diện ngôn ngữ phải tồn tại với tưcách là cái mã chung của cộng đồng, phải mang tính khách quan , không mang tính cánhân, tính nhất thời Nếu một sự kiện ngôn ngữ không tồn tại với tư cách là cái mãchung của cộng đồng, mà lại mang tính cá nhân, tính chủ quan, tính nhất thời thì sựkiện đó phải thuộc bình diện lời nói
Danh từ riêng tồn tại với tư cách là cái riêng, cái cụ thể mang tính cá nhân.Khác hẳn với danh từ chung, vị từ, số từ, liên từ và cũng không hề giống với quy tắcngữ pháp hay phương tiện từ vựng, những trường hợp vẫn thường được gọi là danh từriêng không hề có tư cách là cái mã chung của cộng đồng – cái tư cách mà bất cứ sựkiện ngôn ngữ nào cũng buộc phải có – trái lại, danh từ riêng mang tính cá nhân, cụthể là danh từ riêng không phải là yếu tố có sẵn Mỗi một người tùy theo ý muốn chủquan và nhu cầu cá nhân, mà có thể đặt tên cho mỗi vật một cách khác nhau Ngay cả
họ, một thành tố của danh từ riêng chỉ người cũng mang đặc điểm của danh từ riêngchứ không hề man đặc điểm của danh từ chung, cho dù nhiều người có chung một họ
Vì vậy, việc gọi một vật duy nhất bằng cái tên X/Y/Z hoàn toàn mang tính cá nhân.Chính đặc điểm này của danh từ riêng đã dẫn đến ba hệ quả:
Một là khác với hầu hết các sự kiện ngôn ngữ, rất nhiều danh từ riêng mangtính võ đoán, trái lại, tính có lý do rất rõ ràng Khi đặt tên làng xã, tên con cái, tên tácphẩm…người ta ít nhiều đều muốn gửi gắm vào đó một niềm mong ước, một khátvọng, một kỉ niệm,…
Hai, là khác với các sự kiện ngôn ngữ, danh từ riêng không có biến thể Chẳng
hạn, trong ngôn ngữ các yếu tố huỳnh / hoàng, châu/ chu, sơn/ san, lài/ nhài, hồng/
Trang 16hường…được coi là hai biến thể của một từ, nhưng dưới góc độ tên riêng ta hoàn toàn
không thể đồng nhất Chẳng hạn, không thể gọi Huỳnh Thúc Kháng là Hoàng ThúcKháng, Mai Hoa thành Mai Bông…
Ba là, tên riêng có thể thay đổi bằng một đề nghị của cá nhân, bằng một sắclệnh, một nghị định hoặc của chính quyền, một điều hầy như không thể có đối với sựkiện ngôn ngữ
Danh từ riêng luôn luôn gắn với một sở chỉ nhất định Đặc điểm này khiến chodanh từ riêng chỉ người và vật dễ dàng xuất hiện trong hô ngữ với sắc thái trung hòatrong lúc danh từ chung ít khi xuất hiện trong hô ngữ và nếu có thì thường mang tínhchất hữu trưng Khi đó, danh từ chung không còn được dùng với nghĩa gốc – chỉchung – mà thay vào đó là nghĩa xác định, cụ thể và tính đánh dấu về tu từ cũng đượcbiểu hiện rõ
2.1.3.3 Đặc điểm của danh từ riêng
Đặc điểm định danh cá biệt sự vật tạo cho danh từ riêng những nét đặc thù về ýnghĩa và về ngữ pháp
Về việc kết hợp với các từ khác thì danh từ riêng không có khả năng kết hợprộng rãi như danh từ chung Chẳng hạn khả năng kết hợp với từ chỉ lượng nói chungchỉ xảy ra khi có một số danh từ riêng trùng nhau, hoặc danh từ riêng được dùng theophép chuyển nghĩa để chỉ những cái tương tự hoặc khi gộp nhiều danh từ riêng lạithành khối chung
Danh từ riêng tên người thường đi sau danh từ chỉ chức vụ theo quan hệ đồng vị ngữhoặc đi sau loại từ ( danh từ chỉ loại), hoặc đi sau cả loại từ và danh từ chỉ chức vụ
Ví dụ:
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ Hồ Chí Minh, Cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh
Theo đó, Diệp Quang Ban cũng nhấn mạnh rằng từ chỉ chức vụ và loại từ cóthể viết hoa để tỏ bày tỏ sự kính trọng
Lê Biên khi nhận xét về đặc trưng của danh từ riêng, ông cho rằng “ điều đángchú ý là, danh từ riêng chỉ là tên gọi sự vật, nó không mang nghĩa sở chỉ, sở biểu Cho
Trang 17nên, có trường hợp chỉ là một sự vật đơn nhất như mặt trăng mặt trời…vẫn khôngphải là danh từ riêng.
Do đặc trưng của danh từ riêng, bản thân tên riêng đã được xác định nên danh
từ riêng thường không dùng theo các từ chỉ số lượng và từ chỉ định Trường hợp sautên riêng có từ “ này” chỉ là lối gọi tên, có tác dụng dẫn xuất trong lời thoại trực tiếp (Hoa này…An này)
Trường hợp sau tên riêng có định ngữ đặc trưng chỉ có tác dụng phân biệt khi
có hiện tượng trùng tên, như Hùng cận, Hoa béo, hoặc như một biệt danh Trườnghợp trước tên riêng có từ chỉ số lượng thì hoặc là số từ không hàm nghĩa số đếm màchỉ có tác dụng để gộp, liệt kê hiện tượng trùng tên như: lớp có 3 Thúy, 2 An Hoặc làtên riêng đã chuyển nghĩa ( hoán dụ) dùng tên gọi chung cho nhiều sự vật giống nhaunhư: những Nguyễn Viết Xuân, những Điện Biên Phủ…
2.1.3.4 Phạm vi - tiêu chí nhận diện danh từ riêng
Nguyễn Thị Ly Kha cho rằng danh từ riêng tồn tại với tư cách là cái riêng, cái
cụ thể mang tính cá nhân, không hề có tư cách là mã chung của cộng đồng, cũngkhông phải là yếu tố có sẵn Bên cạnh đó, danh từ riêng luôn gắn với một sở chỉ nhấtđịnh, mang nghĩa xác định, cụ thể và tính đánh dấu về tu từ cũng được biểu hiện rõ
Dựa theo quan điểm của các nhà Việt ngữ học đã nêu, đề tài niên luận này chorằng danh từ riêng = tên riêng
Đặc trưng phân biệt danh từ chung và danh từ riêng theo Nguyễn Kim Thản
Trang 18ngôn ngữ Ấn – Âu, như tiếng Pháp Tiếp theo về mặt ngữ nghĩa, tên riêng không còngiữ cái nghĩa vốn có của từ như tên chung Sau cùng, tên riêng không thể dịch sangmột ngôn ngữ khác như tên chung.
2.1.3.5 Phân loại danh từ riêng
Có thể căn cứ vào chức năng của danh từ riêng để phân loại
Trước tiên là danh từ riêng chỉ người Tên những người bình thường, và tên nhữngngười nổi tiếng: Lê Lợi, Nguyễn Trãi,…
• Tên những cá nhân và tên những dân tộc ( Trong một số ngôn ngữ, người ta cho rằngdân tộc là một loại người, nên tên dân tộc không phải là tên riêng và không nên viếthoa, lập luận ấy tưởng là không thõa đáng: các dân tộc Việt Nam, Thái, Êđê, Chăm,Pháp, Anh, Nga…là những loại người, nhưng mỗi loại vẫn là một cá thể trong tínhchất hoàn chỉnh
• Tên nơi chốn: Việt Nam, Hà Nội, Thăng Long…hay cả như: Hỏa, Kim, Thổ … (cácsao)
• Tên thời kì, thời điểm, sự kiện lịch sử: Bắc thuộc, Lê – Trịnh, …
• Tên tổ chức: Đông kinh nghĩa thục, Việt Minh…
• Tên công trình: Bình Ngô đại cáo, Truyện Kiều, và tên sản phẩm: (chè) ThanhHương…( một loại sản phẩm gồm nhiều đơn vị nhưng có đặc điểm để phân biệt vớicác loại khác, cũng là thực thể cá thể)
Còn có thể kể trường hợp tên súc vật, thường là gia súc như: Vện, Vàng … màngười ta thường cứ đặt bên cạnh tên người: xét về chức năng xã hội, những tên riêngnày không quan trọng
Và có nhiều trường hợp mà trong nhiều ngôn ngữ, thấy có phân vân ( tên riênghay tên chung) và lúng túng ( viết hoa hay viết thường) như tên các hướng đông, tây,nam, bắc; các mùa: xuân, hạ, thu, đông; các cương vị xã hội gia đình: bác sĩ, má,chú…; các kí hiệu khoa học: pi, gamma…; và hai trường hợp đặc biệt là mặt trời, mặttrăng ( thường không viết hoa)…
Năm loại tên riêng trong bảng phân loại trên vừa rõ là tên riêng, vừa đáng chú ýnhất Chúng biểu thị những cá thể vật chất và tinh thần, cổ kim, kim cổ có vai tròquan trọng trong đời sống văn hóa – xã hội
Trang 19Dựa vào phạm vi tên gọi, Lê Biên chia danh từ riêng thành hai lớp: lớp tên riêngchỉ người và lớp tên riêng chỉ địa danh Nói một cách dễ hiểu hơn, danh từ riêng, tênriêng Việt Nam có thể chia thành hai phần chính: nhân danh và địa danh.
Ngoài ra, Diệp Quang Ban chia danh từ riêng làm ba loại: danh từ riêng ThuầnViệt, danh từ riêng Hán Việt và danh từ riêng có loại phiên từ tiếng nước ngoài
Đề tài niên luận đi theo hướng phân chia của Lê Biên, đồng thời còn có một sốtrường hợp riêng không xếp vào nhân danh cũng như địa danh được, đó là: tên loàivật, tên sách kinh thánh trong ngữ liệu “ Phép giảng tám ngày” v v
2.1.3.6 Cách viết danh từ riêng
Trước tiên xin được điểm qua một số cách viết tên riêng trong một số văn bảnquy phạm pháp luật:
Đầu tiên là Quy định về chính tả tiếng Việt kèm theo quyết định số 240/QĐ ngày
05/03/1984 của Bộ Giáo dục, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình ký Đây là một trong những
văn bản có tính quy phạm chung đầu tiên về việc viết tên riêng được đưa ra Tuynhiên văn bản này do Bộ Giáo dục ban hành nên chỉ có tính chất quy ước trong mộtphạm vi nhất định như việc giảng dạy chính tả, viết sách giáo khoa,… chứ chưa cótính ảnh hưởng cao cũng như tác động nhiều đến báo chí
Tiếp sau đó Bộ Giáo dục lại tiếp tục đưa ra Quy định tạm thời về viết hoa tên
riêng trong sách giáo khoa, Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, số 07/2003/QĐ – BGDĐT, ngày 13/03/2003, Thứ trưởng Đặng Huỳnh Mai ký Văn bản
này ra đời sau quyết định số 240/QĐ năm 1984, kế thừa được những quy cách trước
đó đã nêu Quy định gồm hai phần cách viết tên riêng Việt Nam và cách viết tên riêngnước ngoài Quy định được sử dụng trong việc biên soạn và biên tập sách giáo khoaviết theo Chương trình các môn học ở tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
Vì vậy cũng như văn bản trước đó phạm vi của quy định cũng khá hẹp
Tiếp đó vào năm 2006 Dự thảo quy định cách viết cách đọc tên riêng nước
ngoài trong các văn bản quản lý nhà nước (2006) đã được gửi tới các bộ ngành để lấy
ý kiến đóng góp Đây là một động thái tích cực của nhà nước để đặt nền móng chomột cái “khung chung” trong việc chuẩn hóa cách viết cách đọc tên riêng nước ngoài,
dự thảo đã nhận được những phản hồi rất tích cực Tuy nhiên dự thảo còn một sốđiểm hạn chế, thứ nhất văn bản chỉ nằm ở mức “dự thảo” chưa thể đưa vào thựcnghiệm; thứ hai văn bản chỉ xoay quanh cách viết tên riêng tiếng nước ngoài mà chưa
có tầm nhìn bao quát hơn về các vấn đề chung của tên riêng như tên riêng tiếng Việt,
Trang 20tên riêng các dân tộc thiểu số; thứ ba dự thảo chỉ xoay quanh phạm vi “văn bản quản
lý nhà nước” nên tính áp dụng chưa cao
Văn bản quy phạm nhà nước mới nhất được ban hành về vấn đề tên riêng là
Thông tư số 01/2011/TT-BNV hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính do Bộ Nội vụ ban hành ngày 19/01/2011 Phần đề cập đến vấn đề tên riêng là
phần Phụ lục VI Viết hoa trong văn bản hành chính Phụ lục gồm có năm phần lần
lượt giải quyết các vấn đề về viết hoa: viết hoa vì phép đặt câu, viết hoa danh từ riêngchỉ tên người, viết hoa tên địa lý, viết hoa tên cơ quan tổ chức, viết hoa các trườnghợp khác Thông tư đã nêu lên được một cách khá đầy đủ và khoa học quan điểmchung của nhà nước về cách viết hoa nói chung và cách viết tên riêng nói riêng Tuynhiên văn bản chỉ mang tính chất quy định đối với văn bản hành chính
Diệp Quang Ban cũng nhắc đến những cách viết tên riêng có xu thế trở thành phổbiến hiện nay do sự giản tiện về chính tả của nó Đó là cách viết tên riêng bằng conchữ hoa đứng đầu mỗi tiếng rời khi viết ( tức là những tiếng không đứng liền vớitiếng khác hoặc không nối với tiếng khác bằng dấu ngang nối)
Hoàng Tuệ cũng nêu ra một số quy tắc viết tên người Việt phổ biến hiện nay Viếthoa tất cả các phần, các yếu tố là hợp lý và dễ thực hiện một cách thống nhất Trongquy tắc ấy, không dùng gạch nối; điều này có gây ra băn khoăn … Cứ ngỡ rằng gạchnối là dấu hiệu có ích khi cần làm rõ cấu tạo, nếu cấu tạo đã rõ thì không cần dùng nó.Trong ngôn ngữ, có một nguyên tắc chung: cần có đủ yếu tố hình thức để phân biệtkhông nên thiếu cũng không nên thừa; cái thiếu, khi có thể và cái thừa khi cần, đềuphải có tác dụng sẽ bị thải dần … Trong các tiếng Anh, Pháp … có khi tên trước haytên sau là một tổ hợp ghép có tác dụng về cấu tạo, trong trường hợp đó, có khi người
ta dùng gạch nối, như: Julia – Curie , nhưng quy tắc này không cứng rắn mà có phầntùy thuộc vào cá nhân Phải chăng là đối với tên người Việt cũng có thể chấp nhận ýmuốn của cá nhân dùng gạch nối để làm rõ, khi thấy cần, cấu tạo của tên mình
2.2. Khái quát về Phép giảng tám ngày và Giáo sĩ A de Rhodes
2.2.1 Phép giảng tám ngày
Phép giảng tám ngày của linh mục A de Rhodes là tác phẩm chữ quốc ngữ đầutiên được in ấn mà chúng ta hiện có
Cuốn sách này do nhà in của Bộ Truyền giáo Roma ấn hành năm 1651, khổ 17
x 23, gồm 315 trang là văn bản, mỗi trang chia làm hai cột: cột bên trái là bản văn La
Trang 21ngữ và cột bên phải là văn bản Việt ngữ Đây là một cuốn sách quý và hiếm đới vớinhững ai muốn nghiên cứu sự hình thành của chữ Quốc ngữ cũng như cách trình bàygiáo lý công giáo ngay từ đầu, ở thế kỷ XVII.
Cuốn sách quý hiếm này đến nay chỉ nằm trong một vài thư viện ở Châu Âu
Vì là sách đầu tiên in bằng thứ chữ mà người ta quen gọi là chữ quốc ngữ, tức
là Việt ngữ phiên âm theo mẫu tự Latinh, nên Phép giảng tám ngày là một thành công
vẻ vang trong việc tác tạo chữ Việt phiên âm Nó phải là sách căn bản để tìm hiểunguồn gốc chữ Quốc ngữ
Thứ đến phương diện tôn giáo Vì là sách giáo lý in đầu tiên bằng Việt ngữ nênngày nay người ta được biết về việc đào tạo các tín hữu trong một phạm vi quangtrọng là việc dạy giáo lý Hơn thế nữa, nếu bằng vào những lời giảng dạy thời đó vànếu xét đến một vài sách giáo lý cổ truyền, người ta sẽ nhận ra tính cách độc đáo vềphương pháp cũng như chất liệu trong Phép giảng tám ngày Thêm vào đó, vấn đề từngữ Ki tô giáo nguyên thủy cũng được đặt ra Bởi vậy, về mặt văn hóa cũng như vềmặt tôn giáo, sách giáo lý Việt ngữ phiên âm này cs một giá trị vô song
Lợi ích văn hóa và vấn đề thành lập chữ Quốc ngữ:
Dưới con mắt khảo cứu của mọi sử gia và văn học gia, chữ quốc ngữ khôngphải là kết quả tìm tòi của riêng một ai Đó là một sự nghiệp chung, nghĩa là củanhiều người, trong số đó phải kể đến các giáo sĩ người Ý và nhất là người Bồ Tuynhiên, bằng chứng rõ rệt xác định sự hình thành của chữ quốc ngữ chính là mấy tácphẩm của giáo sĩ A de Rhodes
Lợi ích tôn giáo hay phương diện giáo lý của phép giảng tám ngày:
Thực ra chúng ta có thể gọi Phép giảng tám ngày là một sách giáo lý, nhưng làsách giáo lý trình bày trong màu sắc Minh giáo, thích hợp cho một dân tộc, một vănhóa riêng biệt là xã hội Việt Nam vào thế kỉ XVII
2.2.1.1 Nội dung của “ phép giảng tám ngày”
Hai ngày đầu, tác giả bàn giải về những chân lý chủ chốt trong sinh hoạt conngười, như ý nghĩa cuộc đời, vấn đề linh hồn và Thượng đế (I) bản thể sự tính củaNgài, sự hiểu biết Ngài là Đấng Hóa công và thưởng phạt (II) Đó là những điều lý trícon người có thể tìm hiểu và thấu thái dễ dàng
Trang 22Tiếp đến hai ngày sau, trong đó giáo sĩ đề cập đến chân lý Thiên Chúa tỏ racho loài người nhận biết được cách dễ dàng Đó là việc tác thành thiên địa chiếu theosách Sáng thế, và việc dựng nên Adong tổ tông loài người ( III) Rồi tiếp tục diễngiảng về lịch sử nhân loại, lớp người kế tiếp tổ tông Adong gọi là các tổ phụ (IV).
Nhưng khung cảnh bổng đổi thay: nhân dịp một câu chuyện trong Kinh thánh,tác giả đã lợi dụng để chuyển sang lịch sử tôn giáo, nhất là Khổng giáo, Lão giáo vàPhật giáo Tác giả không quên mấy sự thờ cúng khác cũng như việc thờ ông bà ôngvải ( IV) Như vậy, A de Rhodes đã theo những chi tiết trong phương pháp trình bàygiáo lý đã biên trong hai quyển lịch sử kể trên, nghĩa là sau khi đã diễn giải về một ítchân lý căn bản về linh hồn và Thượng đế, cũng như công cuộc dựng nên vũ trụ vàloài người, thì bấy giờ ngài mới chỉ trích những sai lạc cùng tệ lạm trong các tôn giáo
cổ truyền
Bắt đầu từ ngày thứ năm, giáo lý đạo Ki tô mới thực sự được đề cập tới Trướchết là mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, rồi tới mầu nhiệm Chúa Giesu giáng thế, hóathân làm người trong lòng một trinh nữ và sinh hạ tại Belem ( V) Và kế đó, là cuộcđời trần gian của Đức Giesu Kito, cuộc đời ẩn dật, cuộc đời công khai, các phép lạngài làm ( VI), cuộc đau thương, thụ thống thụ nạn, cái chết và sự phục sinh củaNgài, việc Ngài lên trời và Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo hội thành lập trên thếgiới ( VII) Sau cùng là số phận tối hậu của con người: tận thế, loài người sống lại,phán xét chung, sự thưởng phạt đời đời Một đoạn kết bàn giải về thập giới và sự sửasoạn chịu phép rửa tội (VII)
2.2.1.2 Đặc điểm của phép giảng tám ngày
Đặc điểm thứ nhất nằm trong việc trình bày giáo lý theo lịch sử cứu rỗi haychương trình cứu rỗi của Thiên Chúa Ki tô giáo không phải chỉ là một học thuyết,một mớ các hệ thống tư tưởng, một lý thuyết trừu tượng, nhưng trước hết là một lịch
sử để tỏ cho loài người biết chương trình giải thoát nhân loại của ngài Ki tô giáođược xây dựng trên lịch sử đó Bởi vậy, giáo lý không phải là những công thức trừutượng, song là một tiến diễn lịch sử, một việc kể chuyện về những kỳ công của ThiênChúa làm trong lịch sử, kể từ tạo thiên lập địa cho đến Chúa Giesu Kito, và từ ChúaGiesu Kito cho đến chung cục thế giới
Đặc điểm thứ hai đứng trong việc sử dụng những giá trị văn hóa cố hữu của
Trang 23ghép những ngành tư tưởng cố hữu vào Ki tô giáo, hay ghép Ki tô giáo vào những giátrị tích cực của sinh hoạt tinh thần của người dân Việt Kết quả của công việc này làmột thành tích rực rỡ Người ta phải lấy làm lạ rằng, nhờ hai ngày đầu của “ Phépgiảng tám ngày” mà quần chúng Việt Nam thế kỷ XVII đã được biết về một vũ trụquan Ki tô giáo, một nhân sinh quan Ki tô giáo, những điều mà các hiền nhân quân tửchưa đề cập đến hoặc chỉ giải thích một cách mơ hồ.
Đặc điểm thứ ba ở việc trình bày những chân lý Ki tô giáo dưới khía cạnh một
sự hợp lý, đúng lý, phải lý, nhất là trong hai ngày đầu Điểm này rất thích hợp với conngười duy lý là các nho gia thế kỉ XVII, và cũng hợp với hầu hết mọi người có lý trí.Ngài thường chủ trương và minh chứng rằng: đạo thật là đạo lý, đạo phải lẽ, nếu cóđạo nào phải lẽ thì phải “ chịu lấy đạo chính phải lẽ” ấy
Về vấn đề chữ quốc ngữ cũng như về phạm vi tôn giáo, người ta còn có thểbàn luận chu đáo hơn, cũng như người ta phải nghiên cứu về từ ngữ Ki tô giáo trongPhép giảng tám ngày, bởi vì sách giáo lý in bằng Việt ngữ phiên âm đầu tiên Không
có gì hấp dẫn bằng việc đối chiếu từ ngữ của “ Phép giảng tám ngày với mấy sáchgiáo lý bằng Hoa ngữ thế kỷ XVI – XVII, mặc khác, những từ ngữ “ Phép giảng támngày” với những từ ngữ thông dụng trong Việt ngữ Người ta sẽ nhận thấy, một lầnnữa ở đây, sự cố gắng trình bày những tư tưởng mới lạ, những tư tưởng thần họctrong những từ ngữ phổ thông và thích hợp
Phép giảng tám ngày đối với người Ki tô là một sách giáo lý để tham khảo,lịch sử còn đối với người Việt Nam bất kỳ thuộc tôn giáo nào, thì cuốn sách này cũng
là thành tích văn hóa vô giá, bởi vì đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong lịch sửdân tộc và văn hóa Việt Nam, đó là sự thành lập và sử dụng chữ quốc ngữ, một lốiviết văn tự nước nhà vừa đơn giản vừa dễ dàng, thành một dụng cụ truyền đạt văn hóa
tư tưởng tinh nhuệ đệ nhất trong miền Đông Nam Á
2.3. Đôi nét về Alexandre de Rhodes
A.de Rhodes là người Pháp gốc Do Thái, sinh ở tỉnh Avignon [ Nguyễn KimThản] một giáo sĩ truyền giáo dòng Tên đồng thời là một nhà ngôn ngữ học Ông làngười đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam bằng côngtrình Tự điển Việt – Bồ La, hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt
Trang 24Không có một tài liệu nào thật chính xác nói về ngày sinh của ông Có nơi nói ôngsinh năm 1591, nơi khác thì 1593 Phần đông các tác giả nghiêng về giả thuyết saucùng này.
Năm 1620 ông đến Roma Năm 1624 ông đến Phú Xuân, đời chúa Sãi – ĐàngTrong ( Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim ghi tên là Jean Rhodes) Ở 4 tháng ông
đã thông hiểu tiếng Việt, qua 6 tháng ông đã giảng đạo bằng tiếng Việt Ông còn dựngđược giáo đường ở Phú Xuân
Khi giáo sĩ Julien Baldinoti bị chúa Trịnh Tráng – Đàng Ngoài gây khó dễ,nhận được tin, ông đã ra Bắc ngày 19/5/1625 Nhờ vào tài ngoại giao khéo léo, biếuchúa Trịnh một cái đồng hồ quả lắc và được giảng đạo tại kinh đô [ Trần Trọng Kim]
Cha A de Rhodes đã nghiên cứu cách phát âm của người Đàng Ngoài (vùngBắc Bộ và Bắc Trung Bộ bấy giờ) để đặt ra vần quốc ngữ có đủ được hết mọi giọngtrong tiếng Việt Nhiều nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng càng đi vào miền Namcách phát âm càng bớt giọng đi, không nhiều thanh sắc bằng giọng Bắc Bộ và BắcTrung Bộ
2.4. Tiểu kết chương:
Những định nghĩa và tiêu chí nhận diện danh từ cùng với bước đầu tìm hiểu vềngữ liệu “ Phép giảng tám ngày” để làm nền tảng cho những lý luận sau
Trang 25III. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA DANH TỪ RIÊNG TRONG
IV. PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY
V
VI. 3.1 Về mặt ngữ nghĩa
VII.Câu hỏi thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học và những nhà triếthọc là: Danh từ riêng, và nói rộng ra là tên riêng có nghĩa hay không? Câu hỏi này,nói như David Kapalanlà “ một cơn ác mộng của các nhà lý thuyết”
VIII.Triết gia thế kỷ XIX John Stuart Mill ( System of Logic, cuốn I, chương 2,mục 5) cho rằng tên gọi có thể chia làm hai loại: có nghĩa liên tưởng ( connontative),tức là chỉ chủ thể và đặc trưng, và không có nghĩa liên tưởng ( nonconnontative), tức
là chỉ chủ thể hay đặc trưng Tên chung và những miêu tả xác định – những danh ngữ
có sở chỉ - thì thuộc loại trước Còn tên riêng thuộc loại sau Tên riêng chỉ cá thể mà
nó gọi tên, chứ không cho ta biết đặc trưng của cá thể đó Tuy tên riêng không hoàntoàn võ đoán nhưng một khi đã khai sinh, thì nó độc lập với lý do này Một người tênJohn vì đấy là tên bố anh ta, một thành phố có tên Dartmouth vì thành phố này ở cửa (mouth) sông Dart Nhưng từ John không biểu thị cái người cha và người con ấy cùngtên, thậm chí từ Dartmouth cũng không biểu thị thành phố này ở cửa sông Dart: nếucát lấp cửa sông hay sông đổi dòng chảy xa thành phố thì thành phố không nhất thiết
vì thế mà phải đổi tên
IX. Như vậy, “ nghĩa [của tên gọi] không nằm trong cái nó biểu thị, mà ở cái nógợi ý Cái tên gọi duy nhất của đối tượng mà không gợi ra cái gì cả, đó là tên riêng,
và nói một cách chặt chẽ, chúng không có nghĩa”
X. Quan điểm này không phải đã thuyết phục mọi người Bertrand Russell [188,211] chẳng hạn cho rằng tên riêng có nghĩa, tức là cái cá thể mà nó trực chỉ Rõ ràng
ở đây như P F Strawson [192, 220] nhận định, B Russell đã nhầm lẫn nghĩa và sởchỉ, một chuyện mà ngữ nghĩa học hiện đại từ sau Gottlob Frege đã phân biệt dứtkhoát
XI. Nhưng đến đây sẽ nảy sinh câu hỏi của John Searle: “ Nếu tên riêng nói chungkhông minh định đặc trưng gì của đối tượng được chỉ, thì làm thế nào thực hiện đượcviệc xác định sở chỉ?” Xuất phát từ J S Mill, người ta không trả lời được câu hỏinày Theo đó, việc sử dụng tên riêng tiền giả định đối tượng được gọi tên phải có
Trang 26những đặc trưng nào đó Giả sử ta yêu cầu người dùng tên “ Aristotle” nêu lên những
gì họ cho là chủ yếu và đã được xác lập về triết gia này Họ sẽ trả lời bằng một số câu
có tính chất miêu tả đủ để quy sở chỉ cho Aristotle thì vẫn là câu hỏi còn để ngỏ, ít khiđặt ra thì người sử dụng sẽ quyết định tiêu chí ấy là gì một cách ít nhiều võ đoán Từ
đó, J R Searle [189, 253] kết luận: “ Tên riêng có nghĩa hay không? Nếu câu này hỏitên riêng có dùng để miêu tả hay minh định đặc trưn của đối tượng hay không, thì câutrả lời là “không” Nhưng nếu là hỏi tên riêng về mặt logic có gắn kết với đối tượngđược chỉ hay không, thì theo một cách nói không chặt chẽ, câu trả lời là “có”
XII. Danh từ riêng, và nói rộng ra là tên riêng, chỉ là những “ cái đánh dấu”(markers) Nhưng J R Searle chứng minh sở chỉ và đặc tính của sở chỉ không phảikhông có quan hệ với nhau Tuy vậy, nhìn chung danh từ riêng cũng như tên riêng làcâu chuyện lời nói, và vì thế dễ hiểu là các đặc trưng gắn với đối tượng không phải aicũng hiểu như nhau Nếu cho tên riêng có nghĩa dù “ theo một cách nói không chặtchẽ” (in a loose sort of way) như lời khẳng định dè dặt của J R Searle thì đó cũngchỉ là có nghĩa trong hành chức, trong lời nói Hơn nữa, “ nghĩa” của danh từ riêngtheo cách hiểu của J R Searle, nếu có, là chuyện “ ngôn ngữ học chi ngoại”.(extralinguistic), không nằm trong bản thân của tên riêng, không được tên riêng gợi
ra Và như thế, khẳng định của J S Mill: “[…] nói một cách chặt chẽ, chúng không
có nghĩa” không hề mâu thuẫn với quan điểm của J R Searle
XIII.Chính vì thế, không phải ngẫu nhiên người ta không thể định nghĩa danh từriêng Ngay cả những danh từ riêng có gốc gác là vị từ, số từ, liên từ, giới từ hay thán
từ hay những danh từ riêng hình thành theo lối ẩn dụ (so sánh mai, lan, thái dương,ngọc, đẹp, với Mai, Lan, Thái Dương, Ngọc, Đẹp) không thể gợi lên trong óc chúng
ta một thuộc tính nào về vật được “dán nhãn” với tư cách danh từ riêng, nó thuần túytrỏ vào vật cụ thể xác định Chính điều đó khiến cho nó khi tồn tại với tư cách tênriêng của một vật, thì không còn đồng nhất với từ gốc nữa (chẳng hạn, Nhớ (tên mộtbài thơ của Hồng Nguyên), Trăng trối (tên một bài thơ của Tố Hữu), Hâm (tên mộttiểu phẩm vui của Nguyễn Tiến), Nhớ, Đẹp, Ca, Xanh, Năm, Bảy, Tám (tên người)không hề được hiểu là vị từ hay là số từ mà đều được hiểu là những tên riêng và đượcdùng như những tên riêng có nguồn gốc là danh từ riêng, tách khỏi những ngữ cảnhnày, nó lại quay về bản chất từ loại cũ) Chính điều đó giải thích tại sao lại có nhữngdanh từ riêng như Quốc, Vỹ, Luân, Giang, v.v , có gốc gác là hình vị, chứ không phải
là từ, so sánh:
Trang 27a. Anh Quốc, chú Vỹ * quốc lâm nguy pn: quốc gia/ tổ quốc lâm nguy.
b. Cậu Giang bác Luân * gang thu về một mối pn: giang sơn thu về mộtmối
XIV.Cũng chính điều đó cho phép người ta đặt những cái tên “ không bìnhthường”: Nam, Trai, Hùng cho con gái nhưng Thư, Hoa, Hồng, Huệ cho con trai,những cái tên Tây Li Na, Mi Sa, An Na cho người Việt; những cái tên ( Phạm Trung)Pồn, ( Lê) Luynh, (Phan Văn) Ruề, (Lê Thị) Vòng, (Đức) Kôn, (Yên) Mynh, ( Đức)Min, không trùng với bất cứ từ nào trong vốn từ của tiếng Việt, thêm vào đó, nó còn
có cấu trúc âm tiết hoàn toàn xa lạ với khuôn mẫu âm tiết Việt ngữ, có âm không nằmtrong danh sách âm vị Việt ngữ, hay có cách viết không tuân thủ quy tắc chính tảtiếng Việt Như vậy, ta có thẻ khẳng định thêm một lần nữa: danh từ riêng là sựkiện ngôn ngữ thuộc về bình diện lời nói
XV. Một tên riêng ( danh từ riêng) tạo nên trong trí óc ta sự liên hệ đến một
thực thể trong tính chất cá thể Đó là chức năng ngữ nghĩa của tên riêng Chức năng
này xác định cho tên riêng một vai trò rất quan trọng đối với tư duy, với đời sống conngười, vai trò mà ta phải rất chú ý trong sự chuẩn hóa tên riêng Ví dụ đơn giản nhất
mà Hoàng Tuệ đưa ra trong cuốn “ Tuyển tập ngôn ngữ học” là tình huống giả sử
11 cầu thủ của một đội bóng, chẳng ai mang số cả (trường hợp này, số là một tênriêng) thì trọng tài và khán giả sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc nắm bắt Ngoài
ra, đọc sách báo mà tên riêng in khác nhau, không biết đó là tên một nơi chốn haynhững nơi chốn khác nhau, một người hay nhiều người khác nhau… Điều đó cho thấyrằng, nếu không có danh từ riêng hoặc danh từ riêng không rõ ràng, hay không biết,không nhớ tên riêng đều là những trở ngạirất lớn đối với tư duy của mỗi người
XVI. Chức năng ngữ nghĩa của danh từ riêng tạo điều kiện để phân biệt rõ rệtvới danh từ chung Một danh từ chung đem đến khái niệm mang tính chất khái quáttrừu tượng
XVII. Chẳng hạn, khi nói “ Chúa”, “ đạo” là một dan từ chung không chỉ riêng
một ai, một tín ngưỡng nào cả Nhưng “ Chúa Iesu”, “ Chúa bà Maria” hay “ đạo Kito”, “đạo Nho” là một tên riêng Mỗi tên riêng này chỉ một
đức chúa, một tín ngưỡng mà ta có thể nhận biết được
XVIII. Bảng liệt kê danh từ riêng trong “ Phép giảng tám ngày” sắp xếp theotrật tự xuất hiện trong từng ngày giảng
Trang 28XXVI. An nam XXVII. Một cách gọi miệt thị và coi thường
của người Pháp đối với Việt Nam.XXVIII.
3 XXIX. Đại minh XXX. Nhà Minh, lấy quốc hiệu Đại Minh, làtriều đình phong kiến cai trị Trung
Quốc trong 276 năm
XXXI.
4 XXXII. Khổng ( ông Khổng/Khổng Tử) XXXIII. Hay còn gọi là Khổng Phu Tử, là mộtnhà tư tưởng, nhà triết học, nhà giáo
dục, nhà chính trị nổi tiếng ngườiTrung Hoa
XXXIV.
5
XXXV. Ngô ( nước Ngô) XXXVI. Là tên gọi của một nước Chư hầu nhà
Chu, từ khi triều đại này ra đời cho tớikhi kết thúc giai đoạn Xuân Thu tronglịch sử Trung Quốc
XXXVII.
6
XXXVIII.Nữ Oa XXXIX. Người đi vào truyền thuyết với điển
tích “ luyện thạch vá thiên” , giết Hắclong và quan trọng nhất là lập nên hônnhân, là nữ thần bảo trợ cho gia đình.Thường được mô tả là đầu người thânrắn
XLIV. Cha cả XLV. Một tên gọi khác của Chúa Cha, Chúa
Giuse – người kiến tạo nên mọi sự trêntrái đất
XLVI.
9
XLVII. Chúa Cha XLVIII. Danh ngôi thứ nhất trong Ba Ngôi
Thiên Chúa, còn được gọi tắt là “Cha”
LIII. Mục – Mũi LIV
LV LVI. Ngục Hoàng LVII. Hay còn gọi là Ngọc Hoàng, là vị vua
Trang 29đình trong quan niệm tại Trung Quốc
và tại Việt Nam
LVIII.
1
LIX. Lão – Tử LX. Là một nhân vật chính yếu trong triết
học Trung Quốc, sự tồn tại của ôngtrong lịch sử hiện vẫn đang còn đượctranh cãi Lão Tử được coi là ngườiviết Đạo Đức Kinh – cuốn sách củaĐạo giáo có ảnh hưởng lớn và ôngđược công nhận là khai tổ của Đạogiáo
LXI.
1
LXII. Bàn – Cổ LXIII. Được coi là vị thần khai thiên lập địa,
sáng tạo ra vũ trụ trong thần thoạiTrung Quốc Đây cũng là vị thần đầutiên trong Tam Thanh của Đạo giáo.LXIV.
1
LXV. Thái – Cực LXVI. Là một thuật ngữ triết học Trung Hoa
miêu tả tính toàn thể không hề phânchia của trạng thái hoàn toàn sơ khaihoặc nói về tiềm năng vô tân, tráingược với Vô Cực – nghĩa là không cóbắt đầu, không có kết thú
LXVII.
1
LXVIII. đức Thợ Cả LXIX. Tên gọi khác của đức Chúa trời, đấng
kiến tạo mọi sự trên trái đất
LXXVII. thằng ngụy Lucifer LXXVIII.Có hai nghĩa:
- Thứ nhất là “ Sao Mai” ( một tước hiệucủa vua Babilon, người tự nâng mình lênngang hàng với các thần thánh)
- Thứ hai là Satan, tức là thủ lĩnh các thiênthần phản nghịch cùng Thiên Chúa
LXXIX.
2
LXXX. thánh Michael LXXXI. Thống lãnh thiên thần Michael, người
đã đánh bại thiên thần phản nghịchLucifer
LXXXII.
2
LXXXIII.quỉ Satan LXXXIV.Có nghĩa là “ thủ lĩnh của các thiên
thần sa ngã”, là kẻ thù của Thiên Chúa
Trang 30Hay còn gọi là Ác thần.
LXXXV.
2 LXXXVI.ông Adam LXXXVII.Thiên Chúa dựng nên từ đất ( gốc tiếngTên của vị thủy tổ nhân loại được
Hipri là “ adamah” được trao quyềnchăm sóc Vườn Địa Đàng, và đặt têncho các sinh vật Ngài cũng ban tặngcho Adam một người đàn bà là Ev,được tạo dựng từ cạnh xương sườn củaông
LXXXVIII.
2 LXXXIX.bà Eva XC. Eva có gốc tiếng Hipri là (hawwa) – dođộng từ (hâyâh) nghĩa là “sống” Đây
là tên của vị Tổ mẫu mà Tổ phụ Adam
đã đặt cho, “ vì Bà là mẹ của chúngsinh” Đó là người phụ nữ mà ThiênChúa đã ban tặng cho Adam
XCI.
2
XCII. ông Noe XCIII. Một vị tổ phụ trong Kinh Thánh, người
đã theo lệnh Chúa đóng một con tàu vàthoát được
XCIV.
2
XCV. ông Abel XCVI. Abel có gốc tiếng Hipri là “ havel”, là
người còn trai thứ hai của Adam vàEva Theo sách Sáng Thế, ông làmnghề chăn chiên
XCVII.
2
XCVIII. thằng Cain XCIX. Có nghĩa là “ kẻ giết người” vì Cain là
con trai trưởng của Adam và Eva, Cain
đã giết em trai của mình là Abel
C.
2
CI. ông Seth CII. Là vị thần đầu quái vật của Ai Cập,
ông là người đã từng xé rách con mắtthần của Horus Chính ông là người đãviết ra những văn bản về Kim tự tháp
và những văn bản trên quan tài Trongthần thoại Ai Cập, Seth được coi làmột ác thần
CVII. ông Mathusala CVIII
Trang 313 CXXVIII.ông Abraham CXXIX. Abraham, con ông Thare, là tổ phụ củadân Israel và nhiều dân gốc Semite.
Ông sinh tại thành Ur xứ Chaidaeokhoảng năm 1800 TCN Tên ông lúcđầu là Abram, về sau được Thiên Chúađổi thành Abraham, có nghĩa là “ Chacủa muôn dân”
Trang 32CLXXVI.bà Maria CLXXVII. Là tên gọi, có gốc tiếng Hy Lạp là
Mαpiα – được phiên từ tiếng Hipri.CLXXVIII. Maria có nghĩa: giọt nước biển, sao
biển, người phụ nữ đáng kính, đáng cangợi Danh xưng Maria rất quen thuộcvới Kito hữu, vì là tên của người đãsinh ra Chúa Giesu, Con Thiên Chúa.CLXXIX.
5
CLXXX. điều giảng
Sanctissma Trinitas CLXXXI.
CLXXXII CLXXXIII. Ecclesia Catholica CLXXXIV
Trang 35CCLXXIII. làng Cana CCLXXIV. Nơi Chúa Giesu làm phép lạ đầu
tiên cho nước hóa thành rượu tại mộttiệc cưới
Trang 369 CCCVI. thằng Barabba CCCVII.
CCCVIII.
9
CCCIX. cây Crux CCCX. Có nghĩa là “ thập tự thánh giá” là
khung gỗ có hình chữ “T” của tiếng
Hy LạCCCXI.
9 CCCXII. Chúa Caesa CCCXIII.
Trang 38CCCXCII. Ngoài những đặc điểm về mặt ý nghĩa, danh từ riêng trong “ Phép giảng
tám ngày” còn mang những tính chất về mặt ngữ dụng với nhiều tầng ýnghĩa
CCCXCIII 3.2.1 Ý nghĩa kí hiệu
CCCXCIV. “Mọi người ai cũng có họ tên, ý nghĩa đầu tiên của họ tên mangtính chất kí hiệu Kí hiệu là cơ sở thường dùng để truyền đạt thông tin, họ tên ngườidùng làm kí hiệu để thể hiện đặc điểm riêng của người sở hữu tên, đồng thời nó còndùng để phân biệt và giao tiếp trong đời sống xã hội” […]
CCCXCV. Từ xưa đến nay, trong giao tiếp giữa người với người nhất thiếtphải dùng từ xưng hô, không thể vô lễ chỉ gọi người đối diện bằng từ “ này” Sốngtrong xã hội, mọi người trước tiên đều phải có kí hiệu mang tính khu biệt, nếu không
sẽ gặp khó khăn trong xưng hô, trong giao tiếp và gây nhầm lẫn giữa người này vớingười kia Ngoài ra, tất cả các vùng lãnh thổ, vùng đất, địa danh đều phải mang một
kí hiệu nhất định, nếu không cugx sẽ gây nhầm lẫn vùng này với vùng kia Từ đó, tênriêng được xem là kí hiệu có tác dụng tượng trưng và phân biệt
CCCXCVI. Trên trái đất, duy nhất chỉ có loài người là động vật sử dụng “ kíhiệu” Loài người luôn luôn gán cho các sự vật xung quang ý nghĩa Tất cả là căn cứvào mối quan hệ phía trước của nhân loại, cho dù đối tượng thuộc về giới tự nhiên,cũng sẽ phải căn cứ vào mối quan hệ giữa chúng với nhân loại Đặt cho người hoặcmột vùng đất một tên gọi đặc biệt sẽ khu biệt được người này với người kia, vùng nàyvới vùng kia
CCCXCVII. Ví dụ: Thánh Michael và thánh Ioseph
Trang 39CCCXCVIII. Họ đều là đàn ông, nhưng khác nhau ở tổ hợp các chữ cái kếthợp cùng nhau => có sự khu biệt rõ rệt.
CCCXCIX. thánh Maria và thánh Sara.
CD. Họ đều là đàn bà, nhưng khác nhau ở tổ hợp các chữ cái kết hợp cùngnhau => có sự khu biệt rõ rệt
CDI. Một học giả người Liên Xô trong cuốn Tự ngã luận cho rằng: “ Từ góc
độ ngữ pháp, tất cả họ tên riêng trên thực tế đều là kí hiệu của đối tượng, cũng làphương tiện để giao lưu, nhưng họ tên người mang đặc điểm của cá nhân, tên vùngmiền, địa danh thì mang đặc điểm một quần thể nhất định Mỗi người sở hữu một cáitên để có thể phân biệt với nhau, đặc biệt người mang tên ấy ý thức được chính mình.Mỗi vùng sở hữu một cái tên để có thể phân biệt với nhau, và những người sinh sốngtrong vùng miền đó cũng tự ý thức được tên địa danh mà mình đang sinh sống Conngười từ lúc mới sinh ra đã mang một tên gọi, và cho dù hoàn cảnh thay đổi thì chúng
ít khi bọ mất đi Đồng thời, họ tên có chức năng tạo ra kí hiệu xã hội nhất định, có thểchỉ rõ xuất thân, gia thế, địa vị xã hội của người mang tên và những phẩm chất khác.Chức năng xã hội và chức năng cá thể của tên người tuy đối lập nhau nhưng chỉ làphản ánh tính tự nhận định và trong tính này đặc tính xã hội và đặc tính cá thể cóquan hệ chặt chẽ, xen lẫn vào nhau”
CDII. Trong cuộc đời con người, kí hiệu của tên và diện mạo cùng tồn tạisong song Khi con người già và chết đi thì kí hiệu của tên người trong rất nhiềutrường hợp vẫn được lưu truyền Người đời sau thông qua kí hiệu này có thể tưởngtượng hình ảnh của người đó Vì vậy, ý nghĩa kí hiệu đối với tên riêng có tính quantrọng nhất và tính bền vững lâu nhất
CDIII. Ví dụ: “ Phép giảng tám ngày” mô tả đức Chúa Giesu là người đã cứu
vớt nhân loại bằng tình thương của Ngài Chính vì vậy, cho dù đức Chúa Giesu không
còn nữa, cái tên của ông vẫn tồn tại Chúng ta thông qua kí hiệu này để tưởng tượng
đến chúa Giesu và công ơn của Ngài.
CDIV. Trong đời sống xã hội, kí hiệu của tên riêng chỉ địa danh và đặc điểmcủa vùng đất đó cùng tồn tại song song Kí hiệu của tên riêng chỉ địa danh có thểđược thay đổi tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, đô thị hóa v v Tuy nhiên phần lớnvẫn được lưu truyền Người đời sau thông qua kí hiệu này có thể nhận thức được từngđịa danh mà họ muốn
Trang 40CDV. Vú dụ: “ Phép giảng tám ngày” nêu ra khá nhiều địa danh liên quan đếncông cuộc giảng đạo của cố giáo sĩ A.de Rhodes như:
CDVI. Đại minh, An nam, Galile.
CDVII. Những quốc gia này được phân biệt với nhau thông qua kí hiệu ngônngữ và các điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa… Cho đến nay, tuy những tên gọi này
đã bị thay đổi vì hoàn cảnh lịch sử hay đô thị hóa, nhưng khi nhắc đến, con người vẫnnhận thức được những vùng lãnh thổ này thông qua vốn hiểu biết của từng người
CDVIII 3.2.2 Ý nghĩa tâm lý:
CDIX. Ý nghĩa tâm lý chủ yếu thể hiện tác dụng gợi ý tâm lý của họ tên ngườihay tên địa điểm, nơi chốn Gợi ý là phương pháp gián tiếp, ảnh hưởng đến việc hìnhthành hành vi và tâm lý đối với con người Ảnh hưởng tâm lý này khiến con ngườiphải dựa vào phương thức hành động hoặc tiếp thu ý kiến và niềm tin nhất định Do
đó, tên riêng của người hay của một địa điểm là một kí hiệu hình tượng dùng văn tựthể hiện Kí hiệu này có thể xuất phát từ âm, hình, nghĩa của tên người, tên nơi chốn
mà liên tưởng và tưởng tượng Kết quả của sự liên tưởng và tưởng tượng tức là có thểtạo cho con người gợi ý dựa trên tâm lý
CDX. Tác dụng gợi tâm lý của tên riêng chỉ người đối với người sở hữu họ tênmang ý nghĩa rất rõ ràng Tên người mang đặc điểm của tính chuyên nhất, tín bềnvững ( nếu nhưu bản thân người ấy khôn đồi tên) Không thể nói những cống hiến vàhành động của một người không hề liên quan đến tên riêng của người đó
CDXI 3.2.3 Ý nghĩa văn hóa:
CDXII. Việc đặt tên riêng bản thân nó là một hành vi văn hóa, hiện tượng vănhóa Học giả logich học đương đại người Mỹ và cũng là học giả triết học Saul Kripke
trong cuốn Đặt tên và tính tất yếu đưa ra ký luận: “ lịch sử và nhân quả đặt tên” Dựa
theo lý luận này, tên riêng chỉ người có liên quan đến sự thật lịch sử, đưa ra những têngọi của đối tượng nhất định”
CDXIII. Ví dụ: Thích Ca làm cội rễ bụt Ngô, mà sinh ra đã có trời trước ba
nghìn năm dồ
CDXIV. ( Ngày thứ nhất, Phép giảng tám ngày)