Tiếng Bắc tình tứ biết bao qua câu quan họ Bắc Ninh, trong khi đó tiếng Huế lại da diết như câu hò mái đẩy, còn tiếng Nam Bộ thì nồng thắm trong ca khúc cải lương… Một phương ngữ được xá
Trang 1Mở Đầu
Lãnh thổ nước ta trải dài từ Nam tới Bắc với 54 dân tộc anh em Mỗi dân tộc có một nét bản sắc riêng, một tiếng nói riêng góp phần làm phong phú thêm truyền thống văn hóa của dân tộc Tìm hiểu về ngôn ngữ cũng chính là tìm hiểu về cội nguồn, về bản sắc của mỗi dân tộc và của toàn đất nước
Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia – phương tiện giao tiếp chung được sử dụng rộng rãi trên khắp đất nước Việt Nam Song, ở mỗi địa phương khác nhau, nó lại mang những nét riêng vô cùng phong phú, đa dạng Mỗi một phương ngữ là một biến thể ngôn ngữ nhất định, vừa khác biệt với tiếng toàn dân, vừa mang nét chung cho toàn vùng phương ngữ Ngôn ngữ hình thành từ cuộc sống và phản ánh cuộc sống của từng địa phương khác nhau về kinh tế, văn hóa sẽ khác nhau Tiếng Bắc tình tứ biết bao qua câu quan họ Bắc Ninh, trong khi đó tiếng Huế lại da diết như câu hò mái đẩy, còn tiếng Nam Bộ thì nồng thắm trong ca khúc cải lương…
Một phương ngữ được xác định bằng một tập hợp những đặc trưng ở nhiều mặt: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng ngữ nghĩa đối lập với các phương ngữ khác Ở Việt Nam chủ yếu có
ba vùng phương ngữ chính: phương ngữ bắc (Bắc Bộ), phương ngữ trung (Bắc Trung Bộ), phương ngữ nam (Nam Trung Bộ và Nam Bộ) Nếu phương ngữ Bắc là cơ sở hình thành nên ngôn ngữ văn học, còn phương ngữ Trung bảo lưu nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt, thì phương ngữ Nam là một phương ngữ mới được hình thành dần dần trong vòng
5 thế kỷ gần đây
Ở bài tiểu luận này, nhóm chúng em sẽ tìm hiểu về những đặc điểm của Phương ngữ Bắc Điều này được thể hiện qua ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Phương ngữ Bắc còn thể hiện được các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, sinh hoạt xã hội của con người Bắc
Bộ Tìm hiểu phương ngữ là một cách khẳng định thêm tính độc đáo, phong phú và đa dạng của con người Bắc Bộ trong lời ăn tiếng nói của mình Phương ngữ Bắc đã làm nên nét đặc sắc của con người ở vùng Bắc Bộ so với những vùng miền khác trên đất nước Việt Nam
Chương 1 Khái quát về phương ngữ Bắc Bộ
1. Vị trí địa lý.
Trang 2Bắc Bộ là một trong 3 vùng lãnh thổ chính (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ) của Việt Nam Bắc Bộ nằm ở vùng cực Bắc lãnh thổ Việt Nam, có phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và phía Đông giáp biển Đông Được bắt đầu từ vĩ độ 23độ23’ Bắc đến 8độ27’ Bắc với chiều dài là 1.650 km Chiều ngang Đông - Tây là 500 km, rộng nhất so với Trung Bộ và Nam Bộ
Vùng lãnh thổ này Bắc Bộ được chia thành 3 vùng lãnh thổ nhỏ:
Tây Bắc Bộ (bao gồm 6 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Hoà Bình, Lai Châu, Sơn La) Vùng này chủ yếu nằm ở hữu ngạn sông Hồng Riêng Lao Cai, Yên Bái đôi khi vẫn được xếp vào tiểu vùng Đông Bắc
Đông Bắc Bộ (bao gồm 9 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh.)
Đồng bằng sông Hồng (bao gồm 10 tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc.)
2. Phân vùng phương ngữ Bắc Bộ
Phương ngữ Bắc lại có thể được chia thành 3 vùng nhỏ hơn:
- Phương ngữ vòng cung biên giới phía Bắc nước ta
Phần lớn người Việt ở khu vực này đều mới đến từ các tỉnh đồng bằng có mật độ cao như Thái Bình, Hà Nam Ninh (cũ) Do quá trình cộng cư xảy ra gần đây nên phương ngữ này phát triển theo hướng thống nhất với ngôn ngữ văn học, mang những nét khái quá chung của phương ngữ Bắc, và không chia manh mún thành nhiều thổ ngữ làng xã như phương ngữ Bắc ở các vùng đồng bằng – cái nôi của người Việt cổ
- Phương ngữ vùng Hà Nội và các tỉnh xung quanh : Hà Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang), Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc, Phú Thọ), Hà Sơn Bình (Hà Tây, Hoà Bình), Hải Hưng (Hải Dương, Hưng Yên), Hải Phòng.
Đây là vùng mang những đặc trưng tiêu biểu của phương ngữ Bắc
- Phương ngữ miền hạ lưu sông Hồng và ven biển (Thái Bình, Hà Nam Ninh, Quảng
Ninh)
Vùng này còn lưu giữ lại cách phát âm khu biệt d với gi,r ; s với x; tr với ch mà các
phương ngữ Bắc khác không phân biệt nữa
Chương 2 Tìm hiểu đặc điểm của phương ngữ Bắc Bộ.
1. Những đặc điểm ngữ âm của Phương ngữ Bắc Bộ
1.1. Thanh điệu
- Có 6 thanh điệu: ngang, huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng
Ví dụ: So sánh thanh điệu của Hà Nội với Nghệ - Tĩnh và Huế
Trang 3Hà Nội Nghệ -Tĩnh Huế
- Khu biệt: đối lập từng đôi một về âm vực và âm điệu
Âm điệu
Âm vực Bằng
Trắc
ngang
Thanh ngã Thanh sắc
huyền
Thanh hỏi Thanh nặng
- Thanh ngang có âm điệu bằng phẳng, cường độ không thay đổi, âm vực trung bình
- Thanh huyền có âm điệu hơi đi xuống, âm vực thấp, cường độ không thay đổi
- Thanh ngã âm điệu biến thiên theo hai chiều: đi xuống rồi đi lên như hình V với nhánh đi lên gấp đôi, cường độ thay đổi
- Thanh hỏi âm điệu biến thiên hai chiều lên – xuống nhưng không chia thành 2 giai đoạn rõ rệt như thanh ngã
- Thanh sắc bắt đầu ở độ cao hơi thấp hơn thanh ngang, đi ngang hay hơi chúi xuống ở đoạn đầu
- Thanh nặng bắt đầu ở độ cao khởi điểm của thanh huyền, âm điệu đi ngang hay hạ dần như thanh huyền,
đến 1/3 thanh điệu thì đi xuống, cường độ thanh điệu tăng dần Thanh nặng có trường
độ ngắn nhất trong hệ thống
1.2 Âm đầu
- Số lượng: 20 âm vị
- Không có những phụ âm ghi trong chính tả là s, r, gi,
tr Tức là không phân biệt giữa: s/x, r/d/gi, tr/ch.
- Ở đa số các phương ngữ Bắc hiện nay, mà tiêu biểu là phương ngữ Hà Nội đã mất đi dãy
phụ âm tiền ngạc tr, gi, s và phụ âm rung r
Trang 4Ngoài ra phụ âm ngạc, nổ, vô thanh ch /c/ được phát âm như một phụ âm tắc – xát đầu lưỡi – răng ts ở thế hệ trung niên và thanh niên Hà Nội.
- 5 phụ âm tr, ch, gi, s, r đã biến đổi trong phương ngữ Hà Nội và những vùng xung quanh theo hướng dịch vị trí cấu âm ra phía trước: ch và tr thành ts, gi và r thành z, S thành s
Ví dụ: Chanh chua thành /tsenh tsuô/
Trong trắng thành /tsong ͫ tsăng/
Gia giáo thành /za zaw/
Rì rào thành /zì zào/
Sao sáng thành /saw sáng/
Như vậy, ở phương ngữ Bắc thiếu dãy phụ âm tiền ngạc nhưng lại hình thành đôi đối
lập vô thanh – hữu thanh ở dãy phụ âm xát: [f/v], [s/z], [x/G] Phụ âm r mất cách cấu
âm rung lưỡi ở nhiều địa phương và thành phụ âm xát vành lưỡi [z], trong các trường phổ thông ở Bắc Bộ vẫn có khuynh hướng duy trì phụ âm [r] rung lưỡi
- Những biến đổi trên chỉ mới xảy ra gần đây, vào đầu thế kỉ XX, sau khi chính tả đã ổn
định.Chúng phải xảy ra sau khi các phụ âm đôi bl, tl, ml đã biến thành các phụ âm đầu tiền ngạc và ngạc: Z(gi),C(tr),nh (nh) Ví dụ: blời – giời, tlâu – trâu, mlạt – nhạt.
- Hiện tượng lẫn lộn l / n cũng tiêu biểu cho phương ngữ Bắc
Ví dụ: Long lanh nói thành nong nanh, nôm na nói thành lôm la.
“Đi Hà Nội mua cái nồi nấu cơm nếp” nói thành “Đi Hà Lội mua cái lồi lấu cơm lếp”…
Đây không phải là một hiện tượng nói nhịu mà là hiện tượng phương ngữ Trong tiếng Tày – Nùng cũng có sự lẫn lộn này, còn trong tiếng Thái của vùng Tây – Bắc thì
lẫn lộn l với đ.
1.3. Âm đệm
- Phương ngữ Bắc phát âm âm đệm tương đối chuẩn
- Hệ thống âm đệm phương ngữ Bắc gồm:
+ Âm đệm /-w-/ đứng sau phụ âm đầu và trước phụ âm cuối, là một âm lướt trong kết cấu âm tiết
+ Âm đệm /-w-/ có tác dụng làm biến đổi âm sắc của âm tiết, làm trầm hóa âm sắc của âm tiết
+ Âm đệm /-w-/ là một bán nguyên âm môi – ngạc mềm, có độ mở rộng hay hẹp tương ứng với độ mở của nguyên âm đi sau nó
- Sự thể hiện chính tả:
+ Được ghi bằng chữ “o” trước ba nguyên âm /e/, /a/, /ă/ như : hoa, hoe, hoẵng, khoắn,…
+ Được ghi bằng chữ “u” trước các nguyên âm còn lại như: khuya, thúy, thuở, thuế,…
+ Sau phụ âm đầu /-k-/ luôn được ghi bằng chữ “u” không kể nó là nguyên âm
hẹp hay rộng như :qua, quê, quý,…
- Sự phân bố:
+ Xuất hiện sau hầu hết các phụ âm đầu, trừ các phụ âm môi /b/, /m/, /f/, /v/
+ Sau các phụ âm môi, trong một số từ phiên âm nước ngoài như: buýt, voan, phuy nước.
+ Không đứng trước các nguyên âm [ư] và [ươ], điều này có lẽ là do xu hướng dị hóa mạnh
Trang 5+ Sau các phụ âm /n/, /Ɣ/ xuất hiện trong một vài từ như: noãn, góa.
1.4. Âm chính
- Phương ngữ Bắc có đầy đủ âm chính bao gồm:
+ 13 nguyên âm đơn: /i/, /e/, /ε/, /ɯ/, /ɤˇ/, /ɤ/, /a/, /ă/, /u/, /o/, /ɔ/, /ɔˇ/, /εˇ/ + 3 nguyên âm đôi: /ie/, /ɯɤ/, /uo/
- Biến thể /ươ/ → /iê/ khi nó đứng trước bán nguyên âm /-u/
Ví dụ: Rượu → riệu, hươu → hiêu
- Biến thể /ư/ → /i/ khi nó đứng trước bán nguyên âm /-u/
Ví dụ: Trừu → trìu, cứu → kiú
- Biến thể /ă/ → /â/, xét về đặc điểm cấu âm /ă/ và /â/ đều là nguyên âm dòng giữa
Ví dụ: Con tằm → con tầm, cặp sách → cập sách
- Biến thể /a/ → /â/ xét về đặc điểm cấu âm /a/ và /â/ đều là nguyên âm dòng giữa
Ví dụ: Ảnh màu → ảnh mầu, số bảy → số bẩy, hết thảy → hết thẩy
Âm cuối
Nguyên âm
Trước
Iê i ê e
-iêm
-i:m -ê:m -e:m
-iên -i:n -ê:n -e:n
-inh -ênh -enh
-i:w -ê:w -e:w
Trang 6Ươ ư ơ â a ă
-ươm -ơm -âm -am -ăm
-ươn -ưn -ơn -âm -an -ăn
-ương -ưng
-âng -ang -ăng
ă -aw -ăw
-ươj -ưj -ơj -âj -aj -ăj
Sau
Uô u ô o
-uôm -u:m -ô:m -o:m
-uôn -u:m -ô:n -o:n
-uông
-ung ͫ -ông ͫ -ong ͫ
-uôj -u:j -ô:j -o:j
Bảng vần trong các phương ngữ Bắc (Hoàng Thị Châu, Phương ngữ học Tiếng Việt Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008)
1.5. Âm cuối
- Số lượng: có đủ các âm cuối ghi trong chính tả
- Có 3 cặp âm cuối nằm trong thế phân bố bổ sung là:
+ [-nh, -ch] đứng sau nguyên âm dòng trước: /i, e, ê/.
+ [-ng, -k] đứng sau nguyên âm dòng giữa (hàng sau không tròn môi – theo cách gọi của GS Đoàn Thiện Thuật): /ư, ơ, â, a/.
+ [-ngm, kp] đứng sau nguyên âm dòng sau tròn môi: /u, ô,.
- Trong chính tả, đôi phụ âm thứ 3 này không được thể hiện phân biệt với đôi phụ âm thứ
2, mặc dù chúng được phát âm khác nhau (cặp thứ 2 là các âm cuối mở, còn cặp thứ 3 lại
là các âm cuối ngậm môi)
2. Những đặc điểm từ vựng của phương ngữ Bắc Bộ
Phương ngữ Bắc mang đầy đủ những đặc điểm về từ vựng của tiếng Việt Hệ thống từ láy, từ ghép, từ đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa đa dạng, phong phú Ngôn ngữ gợi cảm giàu hình ảnh, âm thanh với một số lượng lớn từ tượng hình, tượng thanh
Nhìn chung, phương ngữ Bắc Bộ luôn được coi là chuẩn mực, là cái gốc để hình thành nên những phương ngữ khác
Có những tổ hợp song âm nhưng Phương ngữ Nam chọn yếu tố thứ nhất còn Phương ngữ
Bắc chọn yếu tố thứ hai: dơ bẩn, đau ốm, lời lãi, bao bọc, mai mối, hư hỏng, dư thừa, kêu gọi, sợ hãi, hình ảnh, la mắng, bồng bế, hăm dọa…
Trang 7Cũng có những tổ hợp ngược lại, Phương ngữ Bắc chọn yếu tố đầu, Phương ngữ Nam
chọn yếu tố sau: thóc lúa, giẫm đạp, đón rước, lừa gạt, sắc bén, lau chùi, thứ hạng, chăn mền, chậm trễ, tìm kiếm, vâng dạ, đùa giỡn, thuê mướn, mau lẹ, hung dữ, trêu chọc…
Bảng so sánh một số đại từ giữa các phương ngữ tiếng Việt
Phương ngữ Bắc Phương ngữ Trung Phương ngữ Nam
Trang 8chúng tao bầy choa tụi tao
Bảng so sánh một số danh từ giữa các phương ngữ
Trang 9Dọc mùng Môn ngọt Bạc hà
Bảng so sánh một số động từ giữa các phương ngữ
Nam
Trang 10Bảng so sánh một số tính từ giữa các phương ngữ
Nam
Do quá trình tiếp xúc ngôn ngữ nên lớp từ vay mượn trong phương ngữ Bắc có khá nhiều
từ có nguồn gốc từ tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Tày – Thái
Một số từ ngữ vay mượn tiếng Pháp
Điều này là do nước ta bị người Pháp xâm lược và chịu ảnh hưởng trực tiếp của họ (giữa thế kỉ 19) Vay mượn vừa bằng con đường khẩu ngữ vừa qua con đường chính thức trong giáo dục nhà trường và giao tiếp hành chính, hàng loạt từ gốc Pháp đã du nhập vào Những từ này được người Việt phân chia thành những âm tiết tách rời và phát âm theo cơ cấu ngữ âm của tiếng Việt và thêm thanh điệu cho cho các âm tiết đó, hoặc chuyển âm này thành âm khác cho phù hợp với cách phát âm của mình Còn đối với những từ ngắn thì cấu trúc hóa lại thành một âm tiết theo kiểu tiếng Việt, những từ dài thì được rút ngắn bớt, đặc biệt là những từ được vay mượn qua tiếp xúc khẩu ngữ
Từ vựng của Phương
Trang 11Bốt Poste
Một số từ ngữ vay mượn tiếng Hán
Tiếng Việt trải qua quá trình tiếp xúc với tiếng Hán từ rất lâu đời, thông qua nhiều con đường và bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau Trong ba phương ngữ chính, Phương ngữ Bắc tiếp thu nhiều từ Hán Việt hay nhiều từ gốc Hán hơn cả
Các từ gốc Hán nói chung và từ Hán Việt nói riêng có vị trí đặc biệt trong hệ thống từ vựng của Phương ngữ Bắc Chúng có số lượng lớn và năng lực sản sinh mạnh, gia nhập vào mọi lĩnh vực giao tiếp của đời sống người Việt Có thể chia thành từ Hán cổ và từ Hán Việt
Vì đi vào tiếng Việt đã lâu nên từ Hán cổ được đồng hóa rất mạnh, những từ này đã trở
nên rất quen thuộc như: chè, chén, buồng, buồm, mùi, mùa…
Từ Hán Việt đã được người Việt đọc âm chuẩn ( Trường An) của chúng thoe hệ thống
ngữ âm của mình : mã, khinh, cận, nam, nữ…
Ví dụ: Từ “hoa” gốc Hán Việt được vay mượn vào Phương ngữ Bắc chiếm vị trí danh từ
và mang nghĩa trung tâm, thay thế cho từ “bông” vẫn dùng phổ cập ở Phương ngữ Trung
và Phương ngữ Nam Nhưng từ “bông” không hoàn toàn đã mất đi ở Phương ngữ Bắc
Nó bị từ “hoa” đẩy sang vị trí phụ với chức năng phụ tố của danh từ: một bông hoa Điều
này là do Phương ngữ Bắc trải qua sự xây dựng của ngôn ngữ văn học, trong đó các nhà
Trang 12Nho chữ Hán đóng một vai trò không nhỏ cho nên tiếp thu nhiều từ Hán Việt và gốc Hán, làm cho những từ đó được sử dụng phổ biến trong vùng đó
Ví dụ trên cho thấy sự cạnh tranh của từ bản địa với từ ngoại lai và sự phân bố lại nghĩa thường để cả hai từ song song tồn tại và làm phong phú thêm vốn từ vựng
Từ vựng của Phương
Phóng thích Thích phóng
Bồn chồn Bồi hồi (đi đi lại lại) Cậy quyền thế ra oai Hách (đẹp rực rỡ) Lạc (trong Củ lạc) Lạc hoa sinh
Một số từ ngữ ảnh hưởng từ tiếng Tày – Thái
Tiếng Tày – Thái cũng có ảnh hưởng nhất định đến từ vựng của phương ngữ Bắc Do vị trí địa lý gần, giữa các ngôn ngữ trong vùng đã có sự tiếp xúc thường xuyên và chúng ảnh hưởng lẫn nhau theo nhiều chiều, khá phức tạp Trong từ vựng của phương ngữ Bắc có nhiều từ mà hình thức ngữ âm và ý nghĩa giống hoặc gần giống với các từ tương đương trong tiếng Tày – Thái
Ví dụ:
Từ vựng Phương ngữ Bắc
Từ trong tiếng Tày - Thái
Ngoài ra còn có một số từ ghép được tạo ra bằng cách kết hợp một từ thuần Việt và một
từ gốc Tày – Thái
Ví dụ: mặt nạ (nạ = mặt, gốc Tày – Thái), súng ống (ống = súng, gốc Tày – Thái), chim chóc (chóc = chim, gốc Tày – Thái),…
3. Những đặc điểm ngữ pháp trong phương ngữ Bắc Bộ.
Ngữ âm là đặc điểm chính thể hiện sự khác biệt giữa phương ngữ của các vùng, miền Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm chung về mặt ngữ pháp tiếng Việt thì phương ngữ Bắc cũng có một số đặc điểm điển hình để khu biệt với các phương ngữ còn lại
Trang 13Về hệ thống đại từ chỉ định và nghi vấn: này, thế này, ấy, thế ấy, kia, kìa, đâu, thế nào,…
Về hệ thống đại từ xưng hô: tôi, tao, chúng tôi, chúng tao, mày, chúng mày, nó, chúng
nó, ông ấy, bà ấy,…
Về đại từ hóa danh từ: Những từ có tần số xuất hiện cao như “ấy”, “với lại”, được rút ngắn trong phương ngữ Bắc, nhưng không tạo thành một phương thức ngữ pháp như “ấy” thành “ý” (anh ý, chị ý) “với” thành mí (đi mí tôi), “chứ lại” thành “chứ lỵ”.
Về những từ phái sinh: ở phương ngữ Bắc chỉ có từ “nhiều” là có từ phái sinh: bao nhiêu, bấy nhiêu Ở phương ngữ Bắc chỉ nói từ rày với nghĩa từ nay trở đi.
Để nhấn mạnh ý phủ định, ở miền Bắc cũng có những từ khác nhau bên cạnh từ “không”,
“chẳng” dùng thống nhất như: chả có.
Ngữ khí có vai trò quan trọng trong việc xác định các phương ngữ, chỉ cần thay đổi ngữ khí và giọng điệu, nó thể hiện ngay sự khác nhau về phương ngữ Phương ngữ Bắc cũng
có những ngữ khí từ điển hình: Ở đây vui quá nhỉ!, Cho cháu ông nhé!, Anh không biết à?,Chuyện gì đấy nào?,Nó đi từ sáng sớm kia đấy …
Kết luận
Mặc dù được xem là ngôn ngữ chuẩn song ngôn ngữ Bắc vẫn không nằm ngoài quy luật biến đổi ngôn ngữ do những tác nhân khách quan và chủ quan Sự biến đổi này vừa làm tăng thêm tính phong phú cho ngôn ngữ nhưng cũng làm mất đi nhiều nét đặc trưng thuần
cổ Chính vì vậy, chúng ta cần phải có những phương hướng, chính sách để bảo tồn cái cũ cũng như tích cực cập nhập cái mới trong sự chuyển biến ngôn ngữ nói chung và phương