1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương ngữ bắc trung bộ phương ngữ học

16 4,9K 20

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 307,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa phương ngữ, phân chia các vùng phương ngữ và giới thiệu về phương ngữ Bắc Trung Bộ: ………...2 3... Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của dân tộc và mở mang lãnh thổ vào phươ

Trang 1

MỤC LỤC:

1 Dẫn nhập:………1

2 Định nghĩa phương ngữ, phân chia các vùng phương ngữ và giới thiệu về phương ngữ Bắc Trung Bộ: ……… 2

3 Đặc điểm phương ngữ BTB: 3.1 Đặc điểm ngữ âm: ……….3

3.2 Đặc điểm về từ vựng và ngữ nghĩa:……… 12

3.3 Đặc điểm về ngữ pháp:……… 19

4 Kết luận: ……… 21

5 Thư mục tài liệu tham khảo: ……… 23

Trang 2

Tiếng Việt được dùng phổ biến trên phạm vi toàn quốc Người ở cực Bắc – địa đầu tổ quốc

thuộc tỉnh Hà Giang và người ở cực Nam –tận cùng đất nước của lãnh thổ trên đất liền thuộc tỉnh Cà Mau và ở trên các hải đảo, quần đảo có thể hiểu được tiếng nói của nhau Tuy nhiên,

trong quá trình phát triển của dân tộc và mở mang lãnh thổ vào phương Nam, tiếng Việt do chịu

ảnh hưởng của các yếu tố về địa lý, lịch sử…đã hình thành nên tiếng địa phương ( phương ngữ )

ở các vùng với những nét đặc trưng riêng và sự khác biệt nhất định (về từ ngữ, giọng nói, lối hành văn…) Chỉ cần nghe giọng nói là ta dễ dàng nhận ra người nói gốc vùng nào.Đặc biệt là những người ở vùng Bắc Trung Bộ

1 Định nghĩa phương ngữ, phân chia các vùng phương ngữ và giới thiệu về phương ngữ Bắc Trung Bộ

- Định nghĩa phương ngữ:

“ Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác”

( theo Hoàng Thị Châu)

- Có nhiều quan điểm trong việc phân chia phương ngữ lãnh thổ tiếng Việt:

+ H Maspéro -1912, Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt: 2 phương ngữ: Bắcvà Trung Theo ông thì người Việt ở miền Nam là gốc ở miền Bắc mới vào sinh sống không lâu, do đó tiếng miền Nam về cơ bản là giống phương ngữ Bắc cho nên có thể xếp chung một nhóm với phương ngữ Bắc Còn phương ngữ Trung thì đối lập với phương ngữ Bắc ở điểm còn giữ lại những nét cổ xưa

+ Hoàng Phê: 2 phương ngữ: Bắc và Nam còn Trung bộ là một chuỗi phương ngữ nhỏ có tính chuyển tiếp

+ Nguyễn Bạt Tụy-1950, Hoàng Thị Châu-1963 và nhiều nhà nghiên cứu: 3 phương ngữ: Bắc – Trung – Nam

+ Nguyễn Kim Thản-1982, L.Cadière-1902 :4 phương ngữ: Bắc, Trung Bắc, Trung Nam, Nam

+ Nguyễn Bạt Tụy-1961: 5 phương ngữ: Bắc ( Bắc Bộ và Thanh Hóa), Trung Trên( từ Nghệ

An đến Quảng Trị), TRung giữa ( từ Thừa Thiên đến quãng Ngãi), Trung dưới ( từ Bình Định đến Bình Tuy) , Nam ( từ Bình Tuy trở vào)

+ Có người cho rằng không thể phân chia vì có trạng thái chuyển tiếp từ vùng nọ sang vùng kia

Trong đó giải pháp phân chia phương ngữ tiếng Việt ra làm 3 phương ngữ được nhiều người chấp nhận và hợp lý hơn cả

Sau đây chúng ta sẽ xét về đặc điểm phương ngữ vùng Bắc Trung Bộ ( bao gồm các tỉnh từ Thanh Hóa đến đèo Hải Vân)

Trang 3

Vào khoảng thế kỷ IX, X đến thế kỷ XI, XII, sự phân hóa giữa vùng Mường Hòa Bình , Sơn La với vùng Việt ở châu thổ sông Hồng càng ngày càng đậm nét Nhưng càng đi sâu vào dải đất hẹp Trung bộ thì sự phân hóa đó càng yếu dần Vào khoảng đời nhà Lý có thể xem vùng ngôn ngữ ven biển Nghệ Tĩnh chỉ như là một vùng hơi bị Việt hóa chưa xa cách các thổ ngữ Mường bao nhiêu Sau này ảnh hưởng của ngôn ngữ Bắc Bộ tràn vào miền Trung ngày càng mạnh mẽ, vùng xuôi ngày càng Việt hóa mạnh hơn, trở thành một phương ngữ Việt, trong lúc ở miền núi vẫn còn sử dụng ngôn ngữ gần với thổ ngữ Mường Vùng Bắc Trung Bộ còn được gọi là khu IV

và là vùng còn bảo lưu nhiều nét cổ của ngôn ngữ Việt

- Phương ngữ Bắc Trung Bộ cũng có thể chia thành 3 phương ngữ nhỏ hơn:

+ Phương ngữ Thanh Hoá

+ Phương ngữ vùng Nghệ Tĩnh ( Nghệ An, Hà Tĩnh)

+ Phương ngữ vùng Bình Trị Thiên( Quảng Bình- Quảng Trị- Thừa Thiên Huế)

2 Đặc điểm phương ngữ BTB:

3.1 Đặc điểm ngữ âm:

- Hệ thống thanh điệu:

Gồm 5 thanh điệu, khác với hệ thống thanh điệu phương ngữ Bắc cả về số lượng lẫn chất lượng ( thanh không, thanh huyền, thanh hỏi, thanh sắc và thanh nặng)

+ Vùng Thanh Hóa và vùng Bình Trị Thiên : lẫn lộn thanh hỏi và thanh ngã ( chủ nghĩa xã hội chủ nghỉa xả hội, đã  đả, Nguyễn  Nguyển, quảng trường > quãng trường,…) Nhưng vùng Bình Trị Thiên về mặt điệu tính các thanh lại giống với thanh điệu Nghệ Tĩnh

+ Vùng Nghệ Tĩnh: không phân biệt thanh ngã với thanh nặng( cái võng  cái vọng, đôi đũa

→ đôi đụa, mỡ ( dầu mỡ) > mợ, đã > đạ, … hay một số thổ ngữ cũng không phân biệt thanh hỏi với thanh nặng: phải > phại, đủ > đụ

- Hệ thống phụ âm đầu:

Số lượng: 23 phụ âm.

Trong số 23 phụ âm trên, hơn phương ngữ Bắc 3 phụ âm uốn lưỡi /ş/, /z/,/ / (chữ quốc ngữ ghi

bằng s, r, tr) Trong nhiều thổ ngữ có 2 phụ âm bật hơi / f/, / χ/(giống như chữ viết đã ghi lại)

thay cho 2 phụ âm xát /f, χ/ trong phương ngữ Bắc Ví dụ:

“ Anh mới đi cày về hả? ” >“ phài” ( có nghĩa là “ vâng” – trong 1 số thổ ngữ Hà Tĩnh), từ “ phài” được phát âm thành “ ph” chứ không phải “ f”

+ Vùng Thanh Hóa:

Phương ngữ Thanh Hóa gồm 20 phụ âm như phương ngữ Bắc, tuy nhiên một số vùng ven biển

có tới 23 phụ âm giống như phương ngữ Trung, hơn phương ngữ Bắc 3 phụ âm uốn lưỡi /ʂ/,/

ʐ/, /ʈ/ (chữ quốc ngữ ghi bằng s, r, tr).

Phương ngữ này cũng giữ lại một số phụ âm tắc đang trong quá trình xát hóa như /k/ / ᵧ / (ví

dụ: cấy, so với gái trong phương ngữ Bắc Bộ), /d/ /z /(đao/dao)…

Nhà ngôn ngữ học Hoàng Thị Châu đã khảo sát về sự phân biệt phụ âm /ʈ/ /c/ở Thanh Hóa Kết

Trang 4

Đông Nam), phần lớn người dân có phân biệt /ʈ/ /c/ Hiện tượng phân biệt /ʈ/ /c/ cũng diễn ra ở

một số xã của huyện Nông Cống và lẻ tẻ ở một số xã của các huyện khác trong tỉnh Tuy nhiên,

phần đông người Thanh Hóa không phân biệt /ʈ/ /c/ Đặc biệt là một số địa phương phát âm /ʈ/

thành /t/ (trời trong trẻo thành tời tong tẻo) như các xã Nga Mỹ, Nga Thủy thuộc huyện Nga

Sơn, xã Phú Yên thuộc huyện Thọ Xuân

Một số thổ ngữ ở các huyện Thọ Xuân và Triệu Sơn (phía tây và tây nam đồng bằng Thanh

Hóa) thậm chí còn phát âm / c/ thành /ʈ/,/ z/ thành /ᶎ/ Ví dụ về một đoạn đối thoại giữa các cụ

già ở xã Hạnh Phúc, huyện Thọ Xuân:

“ Ngoài đềnh họ đang riễn cấy tích tri rứa?”(Ngoài đình họ đang diễn cái tích gì đấy?)

“ Trả biết họ đang riễn cấy tích tri, chỉ thấy đang tốc râu đổ rượu”.

( chả biết họ đang diễn cái tích chi, chỉ thấy đang tốc trâu đổ rượu”).

Một cuộc khảo sát đã cho thấy ở Thanh Hóa, vào đầu thế kỉ 21 một số thổ ngữ còn lưu giữ những biến thể phát âm phụ âm đầu không gặp ở các thổ ngữ hay phương ngữ nào khác ở Việt Nam, đó là các biến thế [ɟ], [k'], [p'], [ɾ] của các phụ âm /c/,/f/, /χ/, /ʐ/, /ʂ/

+ Vùng Nghệ Tĩnh và vùng Bình Trị Thiên: có thêm cấu âm quặt lưỡi, tức là lưỡi uốn cong và

phía dưới của đầu lưỡi tiếp xúc hoặc là gần chạm mạc ( sau chỗ tiếp giáp lợi và ngạc) /ş/, /z/, / /,giữ lại phụ âm bật hơi /f/ / χ/.

Ví dụ: phá phách  phá phéch,

Vùng Nghệ Tĩnh: phụ âm đầu những từ như da dẻ, gia đình đều phát âm là /z]/ và không có

sự phân biệt nào hết / za1 zɛ4/ /za1 diɳ2/

• Vùng Bình Trị Thiên:- một số thổ ngữ vùng Bắc BTT: có hai phụ âm /Dj]/ trong từ da dẻ [Dja Djẻ] và [j] trong từ gia đình [ja đình] Khu vực này còn giữ lại một số phụ âm khá cổ: những phụ âm kép mà yếu tố thứ hai là âm đệm hay thuộc tính phụ âm đầu hiện nay chưa rõ: [Bj, Dj, chj, kj] Vd: vui vẻ  [Bjui Bjẻ], dẻo  [Djẻo], con gián  [con chján] Thổ ngữ bắc BTT đang giữ lại những phụ âm [chj, kj] của thế kỷ 15 về trước và [Bj, Dj] của thế kỷ 17

- Những thổ ngữ còn lại đều phát âm hai trường hợp là [j]: /ja1 jɛ4/ ,/ ja1 diɳ2/ và những từ trên không có yếu tố ngạc hóa

Ngoài ra âm [j] còn thay thế cho /ɲ/ Vd: cái nhà nho nhỏ/kai5 ja2 jɔ1 jɔ4/

Không chỉ vậy, trong một số thổ ngữ ở Hà Tĩnh, Quảng Bình khi phát âm phụ âm đầu có sự khác biệt so với PNB, cụ thể có sự biến đổi:

/ʈ/ , /c/ : triều/ chiều, trậm/ chậm, tray/ chày, trọn/ chọn, trọi/ chọi,…

/z/,/d/ : cây da/ cây đa,…

/l/, / ɲ/: lạt/ nhạt, lầm/ nhầm, lanh/ nhanh, lú/ nhú,…

/ᶊ/,/ ť/: sẹo/ thẹo, sẫm/ thẫm, sưa/ thưa,…

Trang 5

/f/, /b/: phỏng/ bỏng, phăm/ băm, phẻ/ bẻ,…

/ʈ/ /ʂ/: tràng/ sàng, trả/ sả, trào/ sào,…

/ ť / /c/: thọc/ chọc, thun/ chun, thụng/ chùng,…

/ɲ/ /c/: nhởi/ chơi, nhằng nhịt/ chằng chịt,

Từ những đặc điểm trên, ta nhận thấy điểm nổi bật trong phương ngữ BTB là còn giữ lại nhiều phụ âm tắc mà hiện nay PNB đã được xát hóa:

Các phụ âm tắc được xát

hóa

Ví dụ

/ b/ → / v/ Bui → vui, bo → vo, bưa→vừa,…

/ d/ → /z/, /ʑ/ Đa → da, đao → dao, rao, đơi → dơi, đưới →dưới,…

/f/ → / v/ Phổ → vỗ, phở → vỡ, ăn phúng → ăn vụng,…

/x/ → /γ/ Khải → gãi, khỏ → gỏ, khở → gỡ, …

/t’/ → /z/ Dột → thốt, mưa giầm → mưa thâm,

/ c/ →/ z/ Chi → gì, chờng→giường, rau chêng→ rau giền,…

/ l/ →/ ȶ/, /ɲ/ Lôông→ trồng, lổ → trổ, lài → nhài, lằng → nhằng,…

/ z/ → / ɲ/ Dăn deo, dăn dó → nhăn nheo, nhăn nhó, duộm → nhuộm, dức→

nhức,…

- Hệ thống vần:

Giữ được nhiều nét tương đối cổ mà các phương ngữ khác không có Đó là những vần :

 / eɳ-ek/ (ênh-êch): bêng (bênh vực), kêng (con kênh), mêng môông (mênh mông), thêng thang (thênh thang), lêng láng (lênh láng), ếc (ếch), mắt xếc (mắt xếch)…

 / ǯɲ- ǯk/ (-anh-ach): eng (anh), béng (bánh), trời heng (trời hanh), keg (canh), lèng (lành), méc (mách), nói séc (nói thách)…

 /-oŋ-ok/ ( -ông-ôc): ôông (ông), bôồng bế (bồng bế), chợ đôông ( chợ đông), đôống ( đống), con ôốc (con ốc), bôốc (bốc)…

 /ɔŋ -ɔk/ (-ong –oc): ): con oong (con ong), đoong (đong), nác troong (nước trong), boóc vỏ (bóc vỏ), khoóc (khóc), moọc (mọc)…

Trang 6

+ Trong hệ thống vần của phương ngữ Thanh Hóa có một số vần không có trong tiếng Việt phổ thông cũng như không thấy ở các phương ngữ khác như /âj/ [ệi], ví dụ: /câj6/ hay [chệi]

tương ứng với chị trong tiếng phổ thông), /âƯ/ [ẫư] (ví dụ: /cƯ4/ hay [chẫư], tương ứng

với chữ), /âw/ [ôu] (ví dụ: /mâw6/ hay [mộu], tương ứng với mụ.

Những biến thể mới với nguyên âm ngắn, có sự khác nhau giữa các phương ngữ:

+ Nghệ Tĩnh: phụ âm cuối ngạc hóa như phương ngữ Bắc: /-iŋ –ik/, /-eŋ –ek/, /-ɛŋ- ɛk/

+ Bắc Bình Trị Thiên ( phía Bắc sông Bến Hải- Quảng Trị): /-iŋ –ik/, / -eŋ –ek/, /-ɛŋ–ɛk/ + Nam Bình Trị Thiên ( Nam sông Bến Hải): /-ωn –ωt/, [-ân- ât], /-ăn –ăt/

Ví dụ: Nghệ Tĩnh: tình hình, mệnh lệnh, khanh khách

Quảng Bình: tìng hìng, mệng lệng, khengkhek

Huế: từn hừn, mận lận, khăn khắt

Không chỉ vậy, một vài thổ ngữ cũng có những biến thể đặc biệt:

/ω/ > /ɤ/ trứng > trớng, mừng > mờng, mợ > mự, đựng

> đợng,

/ έ/ > / ɤ’/ Cách mạng > cất mạng, lanh lợi > lân lợi,… /ie/ > /ε/ Miếng > méng, miệng > mẹng,

/ ωɤ/ > / a/ Lửa > lả, nước > nác, mượn > mạn, …

/ uo/ > / ͻ/ Lúa > ló, luồn > lòn, muối > mói,

/ ɤ’ḭ/ > /i/ Chấy > chí, nầy > ni, mày/ mầy > mi, vây cá >

vi cá,…

/ ɤ’ṷ/ > / ω/ Trâu > tru, nâu > nu, bâu > bu, cậu > cụ, sâu >

su, trấu > trú,…

/o/ > /ω/ Chổi > chủi, tối > túi, môi > mui, hôn > hun,

khôn > khun,…

/ ω/ > /ɤ’/ Chưn > chân, nhứt > nhất, nhựt > nhật,

/- ωn, - ωt/ > /- in, - it/ bứt rứt > bít rít, nhất > nhứt, nứt > nít, chưn >

chin,…

/ - wωn, - wωt/ > / - win, - wit/ (cây) quất > (cây) quýt

Trang 7

+ Ở Huế: những vần kết hợp với âm cuối /-n, - t/> /-ŋ, -k/

Ví dụ: “ con ngan” > /kɔŋ1 ŋaŋ1/, “ ăn” >/ăŋ1/,…

Bảng vần trong các phương ngữ Bắc Trung Bộ.

Âm cuối

Nguyên âm

Trước iê

i

ê

e

-iêm -i: m -ê: m -e: m

-iên -i: n -ê: n -e: n

-iêng -inh/ -ing -ênh/ -ê:ng -enh/ e: ng

-iêw -i:ư -ê:w -e:w

ư

ơ

â

a

ă

-ươm -ưm -ơm -âm -am -ăm

-ươn -ưn -ơn -ân -ân -ăn

-ương -ưng

-âng -ang -ăng

-uơw -ưw

-âw -aw -ăw

-ươj -ư:j -ơj -âj -aj -ăj

u

ô

o

-uôm -u: m -ô: m -o: m

-uôn -u:n -ô:n -o: n

-uông -ung/- ung -ô: ng/ -ông -o:ng/-ong

-uôj -u:j -ô:j -o:j

- Hệ thống âm cuối:

Phụ âm /-ŋ, -k/ có thể kết hợp được với nguyên âm ở cả 3 hàng Tuy vậy, trong những từ chính trị-xã hội mới xuất hiện gần đây vẫn có các cặp âm cuối [-nh, ch] và [-ngm, k]

Giữ lại phụ âm cuối /–n/ trong khi nơi khác là phụ âm vuối zêro: chỉn/ chỉ, nhén/ nhẹ, bín/ bí,

rẹn/ rễ…

+ Nhiều thổ ngữ của phương ngữ Thanh Hóa còn giữ lại hệ thống phụ âm cuối với khá nhiều

từ cặn có phụ âm cuối /–n/, trong khi các phương ngữ khác đã biến đổi thành /-j/.

• cằn cấn/cày cấy, kha cắn/gà gáy, trốc cún/đầu gối…

cái vắn/cái váy, ban/vai, con mõn/con muỗi, cấy chũn/cái chổi…

Trang 8

Đặc biệt, trong một số trường hợp các âm đầu lưỡi /n/, /t/ khi đi sau các âm chính /i/ và /ε/ thì

trở thành các âm mặt lưỡi, ví dụ xin thành xinh (nhưng tin được giữ nguyên mà không trở thànhtinh), nít thành ních, quỵt thành quỵch…

+ trong thổ ngữ Huế: /-t- thì bị đổi thành /-k/, ví dụ: nhất > nhấc, cất >cấc, ướt > ước, mứt >

mức, tuất > tuấc, chuột >chuộc,

Hệ thống phụ âm các vùng phương ngữ tiếng Việt

Vị trí Orthography Phương ngữ

Bắc

Phương ngữ Bắc Trung bộ

Phương ngữ Trung

Phương ngữ Nam

Phụ

Âm

đầu

X

[s]

Ch

[tɕ]

R

[z]

Phụ âm

cuối

Trang 9

sau e

[k, t]

t

sau ê

[t]

[k, t]

t

sau i

[t]

N

N

sau i, ê

Đối lập đặc điểm phương ngữ BắcTrung Bộ với Bắc Bộ và Nam Bộ ta có bảng sau:

Bảng so sánh ngữ âm 3 phương ngữ tiếng Việt

Phương ngữ

20, s->x, r/gi->d, tr->ch (Có

ngoại lệ, xem bên dưới) ươu->iu đầy đủ

Trang 10

Phương ngữ

Trung 5 thanh

23, phân

biệt s/x, r/d/gi,tr/ch

Phụ âm /-ŋ, -k/ có thể kết hợp được với nguyên âm ở cả 3 hàng

Phương ngữ

Nam

5 thanh,

không phân

biệtthanh hỏi/thanh ngã

phân biệt s/x, r/d/gi, tr/ch mất nhiều

vần

3.2 Đặc điểm về từ vựng và ngữ nghĩa:

Một trong những biểu hiện dễ phân biệt phương ngữ giữa các vùng miền nhất, đó chính là bình diện từ vựng và ngữ nghĩa.Giữa các phương ngữ có sự khác nhau về từ vựng Vì vậy, dựa trên bản thân sự phát triển lịch sử ngữ âm của tiếng việt, mọi từ vựng thuộc danh từ, động từ, tính từ,

hư từ,…trong mọi lĩnh vực đời sống và những nguồn gốc khác, để chúng ta nhận diện được một

số đặc điểm sau:

Và dưới đây là bảng từ liệt kê một số từ khác nhau giữa ba miền:

- Danh từ:

Trang 11

13 Cá quả Cá tràu, Cá lóc

19 Quả dứa Dưa gai, thơm, dứa,

chứa

Trái gai, thơm

- Động từ:

- Tính từ:

Trang 12

50 Ngại ngùng Dị, ngại Ngượng ngùng

51 Xấu hổ Ôông ngai, ốt nhột/ ôốc

nhôộc, trẽn

Mắc cỡ

- Danh từ chỉ thời gian trong phương ngữ BTB:

+ Các buổi trong ngày: sớm, trưa, chiều/ triều, túi

+ Bựa ni ( hôm nay), bựa qua ( hôm qua), bựa sơ ( hôm kia), bựa tê/ riếp ( ngày trước hôm kia),

Bựa mai ( ngày mai), bựa mốt ( ngày kia), mốt tê ( sau ngày kia)

+ Chầu ( dịp, dạo), mọi chầu/ mọi bựa ( khoảng thời gian quá khứ), chầu ni (dịp này), chầu nớ/ chặp ấy ( dạo ấy), chặp nựa ( lát nữa), chặp ni ( dạo này), chặp nọ ( dạo nọ), …

+ Khi túi ( lúc tối), khi hồi ( lúc nãy),…

Qua khảo sát một số từ vựng, chúng-tôi nhận-thấy rằng trong phương ngữ BTT hiện nay còn tồn tại khá nhiều từ được xem là cổ, hoặc có yếu tố cổ

Vốn từ vựng của phương ngữ BTB không những thân thuộc trong sinh hoạt khẩu ngữ mà cũng đã đi vào nhiều ca dao, dân ca thấm đượm đặc trưng của con người nơi đây:

- “Thò tay mà ngắt cọng ngò

Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ”.

- “Ai lên Tuyên Hóa quê miềng

Chè xeeng mật ngọt nặng nguyền nác non”.

- “ Đèo Ngang hai mái chân vân Người về Hà Tịnh dạ ái ân Quảng Bình”.

- “ Đồn rằng kẻ Côộc lắm cau Chợ Tréo lắm ló, Quán Hàu lắm vôi

- “ Khun ngoan qua cựaThanh Hà

Trang 13

Đố ai có kéng bay qua Lũy Thầy”.

- Dạ ái hoài cho dù xa ngái

Em xin chàng chớ ngại chớ nghi

Để cho em lên Đại xuống Tuy

Đắt mần thuê, ế mần mạn đợ khi đói lòng”.

3.3 Đặc điểm về ngữ pháp:

Bên cạnh những nét khác biệt có tính chất ngữ âm học, âm vị học và một số đặc điểm về từ vựng và ngữ nghĩa, phương ngữ BTB cũng có một số đặc điểm ngữ pháp thú vị như sau:

- Hệ thống đại từ chỉ định và nghi vấn:

- Hệ thống đại từ xưng hô:

Ngày đăng: 30/08/2016, 18:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh ngữ âm 3 phương ngữ tiếng Việt - Phương ngữ bắc trung bộ  phương ngữ học
Bảng so sánh ngữ âm 3 phương ngữ tiếng Việt (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w