1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh đặc điểm sử dụng phép liên kết nội dung qua hai tác phẩm viết về bác hồ (búp sen xanh của sơn tùng cha và con của hồ phương) luận văn ths ngôn ngữ học 60 22 01 pdf

126 704 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ thời hạn giữa các bloc sự kiện ở từng chương của từng phần trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” .... Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng chương ở phần III tiểu t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ NHUNG

SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG PHÉP LIÊN KẾT NỘI DUNG

QUA HAI TÁC PHẨM VIẾT VỀ BÁC HỒ

(BÚP SEN XANH CỦA SƠN TÙNG - CHA VÀ CON CỦA HỒ PHƯƠNG)

Chuyên ngành : LÝ LUẬN NGÔN NGỮ

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn Khoa học:

PGS TS NGUYỄN HỮU ĐẠT

Hà Nội, năm 2010

Trang 2

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa của luận văn 1

3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Cấu trúc của luận văn 2

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

1.1 Văn bản 4

1.1.1 Khái niệm văn bản 4

1.1.2 Đặc trưng của văn bản 7

1.2 Đặc trưng của thể loại văn bản tiểu thuyết 7

1.2.1 Tiểu thuyết và đặc trưng thể loại của “Búp sen xanh”, “Cha và con” 7

1.2.2 Xu hướng cấu trúc của tiểu thuyết 8

1.2.3 Đặc trưng của tiểu thuyết 9

1.2.4 Đặc trưng của “Búp sen xanh”, “Cha và con” 11

1.3 Vấn đề liên kết nội dung 11

1.3.1 Liên kết 11

1.3.2 Liên kết nội dung 14

1.3.3 Mạch lạc 18

1.3.3.1 Định nghĩa mạch lạc 18

1.3.3.2 Biểu hiện của mạch lạc 19

Trang 3

1.3.3.3 Biểu hiện của mạch lạc trong truyện 23

1.4.Tiểu kết 26 CHƯƠNG 2

LIÊN KẾT NỘI DUNG THỂ HIỆN QUA QUAN HỆ THỜI GIAN TRONG TIỂU THUYẾT “BÚP SEN XANH” 18 2.1 Dẫn nhập 28

2 2 Quan hệ thời hạn trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” 28

2.2.1 Quan hệ thời hạn giữa các phần của tiểu thuyết “Búp sen xanh” 28 2.2.2 Quan hệ thời hạn giữa các chương ở từng phần của tiểu thuyết

“Búp sen xanh” 29 2.2.3 Quan hệ thời hạn giữa các bloc sự kiện ở từng chương của từng phần trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” 35

2.3 Quan hệ trật tự thời gian trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” 38

2.3.1 Quan hệ trật tự thời gian giữa các phần trong của tiểu thuyết “Búp sen xanh” 38 2.3.2 Quan hệ trật tự thời gian giữa các chương ở từng phần trong của tiểu thuyết “Búp sen xanh” 39

2.3.2.1 Quan hệ trật tự thời gian giữa các chương của phần I 40 2.3.2.2 Quan hệ trật tự thời gian giữa các chương ở phần II 42 2.3.2.3 Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng chương ở phần III tiểu thuyết "Búp sen xanh" 43

2.3.3 Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng chương ở từng phần trong tiểu thuyết "Búp sen xanh" 44

2.3.3.1 Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng chương ở phần I của tiểu thuyết "Búp sen xanh" 44 2.3.3.2 Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng chương ở phần II của tiểu thuyết "Búp sen xanh" 53 2.3.3.3 Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng chương ở phần III tiểu thuyết "Búp sen xanh" 61

2.3.4 Quan hệ trật tự thời gian giữa các sự kiện nhỏ trong từng bloc sự kiện ở từng chương của từng phần trong tiểu thuyết "Búp sen xanh" 67

Trang 4

2.4 Quan hệ tần số trong tiểu thuyết "Búp sen xanh" 67

2.5 Tiểu kết 69

CHƯƠNG 3 LIÊN KẾT NỘI DUNG THỂ HIỆN QUA QUAN HỆ THỜI GIAN TRONG TIỂU THUYẾT "CHA VÀ CON" SO SÁNH LIÊN KẾT NỘI DUNG QUA QUAN HỆ THỜI GIAN GIỮA TIỂU THUYẾT "BÚP SEN XANH" VỚI TIỂU THUYẾT "CHA VÀ CON" 70

3.1 Dẫn nhập 70

3.2 Quan hệ thời hạn trong tiểu thuyết "Cha và con" 71

3.2.1 Quan hệ thời hạn giữa các phần của tiểu thuyết 71

3.2.2 Quan hệ thời hạn giữa các đoạn trong từng phần của tiểu thuyết "Cha và con" 72

3.2.3 Quan hệ thời hạn giữa các bloc sự kiện trong từng đoạn của từng phần tiểu thuyết "Cha và con" 83

3.3 Quan hệ trật tự thời gian trong tiểu thuyết "Cha và con" 87

3.3.1 Quan hệ trật tự thời gian giữa các phần trong tiểu thuyết "Cha và con" 87

3.3.2 Quan hệ trật tự thời gian giữa các đoạn trong từng phần của tiểu thuyết “Cha và con” 89

3.3.2.1 Quan hệ trật tự thời gian giữa các đoạn của phần I 90

3.3.2.2 Quan hệ trật tự thời gian giữa các đoạn của phần II 91

3.3.2.3 Quan hệ trật tự thời gian giữa các đoạn của phần III 92

3.3.2.4 Quan hệ trật tự thời gian giữa các đoạn của phần IV 94

3.3.2.5 Quan hệ trật tự thời gian giữa các đoạn của phần V 94

3 3.2.6 Quan hệ trật tự thời gian giữa các đoạn ở phần VI 95

3.3.3 Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng đoạn ở từng phần trong tiểu thuyết "Cha và con" 96

3.3.3.1 Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của mỗi đoạn : 96

Trang 5

3.3.3.2 Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng

đoạn ở phần II của tiểu thuyết "Cha và con" 97

3.3.3.3 Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng đoạn ở phần III tiểu thuyết "Cha và con" 98

3.3.3.4 Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng đoạn ở phần IV tiểu thuyết "Cha và con" 100

3.3.3.5 Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng đoạn trong phần V tiểu thuyết "Cha và con" 101

3.3.3.6 Quan hệ trật tự thời gian giữa các bloc sự kiện của từng đoạn trong phần VI tiểu thuyết "Cha và con" 103

3.3.4 Quan hệ trật tự thời gian giữa các sự kiện nhỏ trong từng bloc sự kiện của tiểu thuyết "Cha và con" 105

3.4 Quan hệ tần số trong tiểu thuyết "Cha và con" 105

3.5 So sánh liên kết nội dung theo quan hệ thời gian giữa hai tiểu thuyết “Búp sen xanh” và “Cha và con” 106

3.5.1 Về quan hệ thời hạn 107

3.5.2 Về quan hệ trật tự thời gian 110

3.5.3 Về quan hệ tần số 111

3.6 Tiểu kết 113

KẾT LUẬN 114

Tài liệu tham khảo 117

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 - Lí do chọn đề tài

Liên kết nội dung là kiểu liên kết có tác dụng quyết định đối với sự tồn tại của tác phẩm văn học cũng như đối với việc hình thành phong cách tác giả Tuy nhiên, việc nghiên cứu liên kết nội dung trong các tác phẩm văn học nói chung hiện chưa được quan tâm nhiều Đặc biệt, việc nghiên cứu liên kết nội dung trong các tác phẩm viết về cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho đến nay vẫn chưa có ai thực hiện Trong khi đó, những tác phẩm viết về cuộc đời của Người ngày càng được giới nhà văn và xã hội quan tâm Làm thế nào để

có được những tác phẩm hay viết về vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc? Đó là một câu hỏi, đồng thời cũng là một đòi hỏi của các thế hệ hôm nay và mai sau Trong số những tác phẩm viết về quãng đời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai tác phẩm tiêu biểu của hai nhà văn được đông đảo bạn đọc

chú ý là Búp Sen Xanh của nhà văn Sơn Tùng và Cha và Con của nhà văn Hồ

Phương Để tìm hiểu vai trò của liên kết nội dung trong việc tạo nên sự thành công của tác phẩm, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu:

“So sánh đặc điểm sử dụng phép liên kết nội dung qua hai tác phẩm viết về Bác Hồ “(Búp Sen Xanh - Sơn Tùng và Cha và Con - Hồ Phương)

2- Ý nghĩa của luận văn

Luận văn được thực hiện sẽ có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn Về lí luận, luận văn sẽ bổ sung thêm về lí thuyết liên kết văn bản Về thực tiễn, luận văn có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần đánh giá giá trị của tác phẩm viết về thời niên thiếu của Hồ Chí Minh và quá trình hình thành tư tưởng yêu nước của Người Đây là một việc làm thiết thực hưởng ứng phong trào học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh từ góc độ chuyên môn của người làm công tác nghiên cứu ngôn ngữ học

Trang 7

Ngoài ra ở góc độ xuất bản sách, các kết quả nghiên cứu của đề tài còn giúp ích trực tiếp công tác biên tập và xử lý bản thảo

3- Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là 2 văn bản "Búp Sen Xanh" của nhà văn Sơn Tùng (NXB Kim Đồng, năm 2008) và "Cha và Con" của nhà

văn Hồ Phương (NXB Kim Đồng, năm 2008)

Mục đích của luận văn là tìm hiểu giá trị của các phép liên kết nội dung trong việc xây dựng 1 văn bản nghệ thuật và quá trình hình thành phong cách nhà văn; Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các phép liên kết nội dung được

sử dụng trong 2 bộ tiểu thuyết “Búp sen xanh”, “Cha và con”

4- Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ đạo được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài này là phương pháp miêu tả và so sánh Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp của phân tích diễn ngôn: đặt mọi hiện tượng ngôn ngữ trong đồng văn bản và ngữ cảnh tình huống, kể cả ngữ cảnh văn hoá

5- Cấu trúc của luận văn

Nội dung luận văn sẽ được cấu tạo như sau:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết

Chương này dành cho việc trình bày và phân tích những vấn đề lí luận ngôn ngữ làm cơ sở cho việc nghiên cứu ở những chương sau Nội dung cơ bản của chương 1 gồm:

- Vài vấn đề về tình hình nghiên cứu ngữ pháp văn bản

- Đặc trưng của thể loại tiểu thuyết

- Những cách hiểu về liên kết trong văn bản

Trang 8

Chương 2: Liên kết nội dung thể hiện qua quan hệ thời gian trong tiểu thuyết "Búp Sen Xanh"

1 Quan hệ thời hạn trong tiểu thuyết “Búp sen xanh”

- Quan hệ thời hạn giữa các phần trong “Búp sen xanh”

- Quan hệ thời hạn giữa các chương ở từng phần

- Quan hệ thời hạn giữa các bloc sự kiện ở từng chương của từng phần

2 Quan hệ trật tự thời gian

2.3.1 Quan hệ trật tự thời gian giữa các phần

2.3.2 Quan hệ trật tự thời gian giữa các chương ở từng phần

3 Quan hệ tần số

4 Tiểu kết

Chương 3: Liên kết nội dung thể hiện qua quan hệ thời gian trong tiểu thuyết "Cha và Con"

1 Quan hệ thời hạn trong tiểu thuyết “Cha và Con”

- Quan hệ thời hạn giữa các phần trong “Cha và Con”

- Quan hệ thời hạn giữa các chương ở từng phần

- Quan hệ thời hạn giữa các bloc sự kiện ở từng chương của từng phần

2 Quan hệ trật tự thời gian

2.3.1 Quan hệ trật tự thời gian giữa các thành phần

2.3.2 Quan hệ trật tự thời gian giữa các chương ở từng phần

3 Quan hệ tần số

4 So sánh hai tác phẩm Búp sen xanh và Cha và Con

5 Tiểu kết

KẾT LUẬN

Trang 9

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Văn bản

1.1.1 Khái niệm văn bản

Văn bản là một khái niệm đã được đề cập từ xa xưa Nhưng ngôn ngữ học văn bản với tư cách là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học thì mới ra đời giữa những năm 60 của thế kỉ XX Trước khi ngôn ngữ học văn bản ra đời thì câu được coi là đơn vị lớn nhất trong nghiên cứu ngôn ngữ học truyền thống

Cái tên ngôn ngữ học văn bản được khởi xướng từ E Coseriu năm 1955-1956

và qua nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, nó trở thành phổ biến trên thế giới Từ đó, văn bản nghiễm nhiên trở thành đối tượng của ngôn ngữ học và nó chính là đơn vị ngôn ngữ cao nhất trong nghiên cứu ngôn ngữ

Cũng giống như các thuật ngữ chỉ các đơn vị ngôn ngữ khác, thuật ngữ “văn bản” cho đến nay đã có khá nhiều định nghĩa và các cách hiểu khác nhau

Theo định nghĩa trong Bách khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học thì

văn bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời miệng hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường

Theo M.A.K Halliday trong cuốn Liên kết trong tiếng Anh - xuất bản

năm 1994: Từ văn bản được dùng trong ngôn ngữ học để chỉ một đoạn nào

đó, được nói ra hay được viết ra, có độ dài bất kì, tạo lập được một tổng thể hợp nhất

Hiện nay văn bản không được hiểu chỉ là một tập hợp những câu có phẩm chất như câu mà văn bản được hiểu như là một loại đơn vị khác hẳn

Trang 10

câu, trong đó mặt nghĩa là mặt quan trọng nhất [theo Diệp Quang Ban] Văn bản là đơn vị của nghĩa Một văn bản được làm thành từ một số yếu tố nghĩa nhất định Các yếu tố nghĩa này có quan hệ với nhau và có thể làm thành những tầng nghĩa khác nhau, đó là cấu trúc nội dung của văn bản

Một văn bản có thể được nhận biết qua những dấu hiệu đặc thù bên trong bản thân nó và cũng cần được nhận biết trong mối quan hệ với những cái khác có liên quan đến nó Văn bản phải có đề tài thống nhất và thường là xác định được Văn bản có cấu trúc về mặt hình thức và về mặt nội dung

Theo quan điểm của D.Q Ban : Mạch lạc là yếu tố quyết định việc tạo thành

văn bản, nó tạo nên mạng các mối quan hệ nghĩa, quan hệ lôgíc, quan hệ chức năng, làm cơ sở cho tính thống nhất đề tài của văn bản Văn bản là sản phẩm và văn bản là quá trình

Có thể khái quát một số khuynh hướng nghiên cứu chính đối với văn bản như sau: 1- Văn bản được xét như một lớp phân chia được thành các khúc đoạn (L Hjelmslev, 1953)

2- Văn bản được hiểu ở bậc điển thể là phát ngôn bất kì có kết thúc và

có liên kết, có tính chất độc lập và đúng về ngữ pháp (W Koch, 1966)

3- Văn bản là chuỗi nối tiếp của các đơn vị ngôn ngữ được làm thành bởi một dây chuyền của các phương tiện thế có hai trắc diện (trục dọc và ngang) (R Harweg, 1968)

4- Văn bản như là một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích gián tiếp thứ cấp và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hoá khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ (Barthes, 1970)

Trang 11

5- Một văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng Nó không phải là một đơn vị ngữ pháp loại như một mệnh đề hay một câu, mà nó cũng không được xác định bằng kích cỡ của nó Một văn bản không phải là một cái

gì loại như một câu, chỉ có điều là lớn hơn; mà nó là một cái khác với một câu về mặt chủng loại Tốt hơn nên xem xét một văn bản như là một đơn vị nghĩa: một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa (Halliday, 1976 - 1994)

6- Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo viết có đặc trưng là tính hoàn chỉnh về ý và cấu trúc và thái độ nhất định của các tác giả đơn vị điều được thông báo [ ] Về phương diện cú pháp, văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện từ vựng - ngữ pháp (L.M Loseva, 1980)

7- Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy (Trần Ngọc Thêm, 1985)

8 Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết trong biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng vì những mục đích phân tích Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích (D Crystal, 1992)

Hiện nay, trong giới nghiên cứu ngôn ngữ đang tồn tại hai thuật ngữ: Văn bản (text) và diễn ngôn (dicourse) Dưới đây, chúng tôi xin nêu một định

nghĩa của GS Diệp Quang Ban để làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài: “Văn

bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết,

Trang 12

hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường ” [6,tr 50]

1.1.2 Đặc trưng của văn bản

Từ định nghĩa trên, ta có thể tìm hiểu một số đặc trưng của văn bản khi xét văn bản với tư cách là một chỉnh thể độc lập và xét nó trong mối quan hệ với những cái khác có liên quan đến nó

- Về nội dung: Văn bản bao giờ cũng phải có đề tài (hoặc chủ đề xác định)

- Về cấu trúc: Văn bản có cách tổ chức hình thức và cách tổ chức nội

dung do các phong cách chức năng và thể loại mà văn bản lệ thuộc vào quy định

- Vấn đề Mạch lạc và liên kết: Văn bản có sự nối kết đúng về nghĩa, về

logic, về chức năng giữa các bộ phận bên trong nó và với ngữ cảnh bên ngoài văn bản- tức là có mạch lạc

- Yếu tố chỉ lượng: Văn bản gồm nhiều câu- phát ngôn nối tiếp nhau

thường xuất hiện nhiều hơn văn bản được làm thành từ một câu- phát ngôn

- Yếu tố định biên: Văn bản có biên giới phía trái (hay đầu vào) và biên

giới phía phải (hay đầu ra), tạo nên tính trọn vẹn với tư cách là một chỉnh thể thống nhất

Mỗi đặc trưng là một dấu hiệu có tác dụng nhất định góp phần làm cho một khúc đoạn lời nói là một văn bản, trong số các đặc trưng trên thì hiện nay đặc trưng mạch lạc và liên kết trong cách hiểu rộng được coi là đặc trưng

quyết định tính văn bản (textuality) hay chất văn bản (texture) [3, tr.51-54]

1.2 Đặc trưng của thể loại văn bản tiểu thuyết

1.2.1 Tiểu thuyết và đặc trưng thể loại của “Búp sen xanh”, “Cha và con”

Trong văn học phương Đông, tiểu thuyết vốn là những chuyện vụn vặt đời thường, nó khác biệt với đại thuyết và trung thuyết Và chính những chuyện vụn vặt, đời thường ấy là những mầm mống của tiểu thuyết phương

Trang 13

Đông Ở một số ngôn ngữ phương Tây, từ tiểu thuyết có nguồn gốc từ tiếng

La tinh, có nghĩa là chuyện mới

Lịch sử phát triển của tiểu thuyết đã để lại cho nhân loại những kiệt tác của văn học thế giới, từ những tiểu thuyết chương hồi của văn học Trung Hoa đến những tiểu thuyết đồ sộ của văn học phê phán phương Tây Cho đến ngày nay, tiểu thuyết đã có diện mạo vô cùng phong phú và nguyên lí của nó chi phối phần lớn các tác phẩm tự sự

Có thể hiểu tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định

Trong một cách hiểu khác, theo nhận định của Belinski: "tiểu thuyết là

sử thi của đời tư" chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách

Ở Việt Nam, tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, mãi khoảng thế kỉ 14-16 mới có những nền móng sơ khai cho tư duy thể loại Phải đến những năm 30 của thế kỉ 20, văn học Việt Nam mới xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại

1.2.2 Xu hướng cấu trúc của tiểu thuyết

Có người cho rằng, tiểu thuyết không có một hình thức thể loại nào hoàn kết Ở mỗi giai đoạn, tiểu thuyết lại được các nhà văn sáng tạo ra các kĩ thuật mới để hoàn thiện và làm giàu cho nghệ thuật tiểu thuyết Cấu trúc của tiểu thuyết phụ thuộc vào điều kiện lịch sử xã hội qua các giai đoạn Ở giai đoạn đầu, khi tiểu thuyết mới được định hình như là một thể loại lớn của văn bản tự sự thì vai trò điều phối của người kể chuyện được đưa lên hàng đầu,

Trang 14

cốt truyện được triển khai theo cấu trúc tuyến tính dưới con mắt khách quan của người kể chuyện

Đến chủ nghĩa lãng mạn, cái nhìn xã hội của nhà văn đã thay đổi, dẫn đến sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật, và từ đó là sự thay đổi của cấu trúc tiểu thuyết Các nhà văn lãng mạn không tố cáo xã hội mà quay lưng lại với xã hội Và họ đi tìm cái đẹp của nghệ thuật trong quá khứ, trong nội tâm con người, trong cái tôi cá nhân của nhà văn

Quá trình phát triển thể loại tiểu thuyết hiện đại, chủ yếu là ở văn học châu Âu, cho thấy có hai hướng cấu trúc tiểu thuyết

- Tiểu thuyết mở: Tiểu thuyết mở miêu tả xã hội một cách đa diện, tạo các lý do thật chi tiết cho sự tiến triển của nhân vật chính, cho nhân vật này can dự vào nhiều biến cố và những biến cố ấy lại là nơi cư ngụ cho vô số nhân vật phụ Kiểu tiểu thuyết này cũng đặc trưng ở sự miêu tả rộng rãi hoàn cảnh ngoại giới khách quan mà trước nhất là hoàn cảnh xã hội

-Tiểu thuyết đóng: Tiểu thuyết theo xu hướng cấu trúc "đóng" thể hiện sự tập trung vào cuộc đời của một con người, đôi khi vào chỉ một xung đột, một tình huống, do đó mang tính hướng tâm, đồng tâm, xét về kết cấu Xu hướng cấu trúc tiểu thuyết này đã trở thành ngọn nguồn của những sáng tác tiểu thuyết tâm lý giai đoạn sau

1.2.3 Đặc trưng của tiểu thuyết

- Tính chất văn xuôi

Là một thể loại cao cấp nhất thuộc phương thức tự sự, tính chất văn xuôi,

vì vậy, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của thể loại Tính chất đó

đã tạo nên trường lực mạnh mẽ để thể loại dung chứa toàn vẹn hiện thực, đồng hóa và tái hiện chúng trong một thể thống nhất với những sắc màu thẩm

mỹ mới vượt lên trên hiện thực, cho phép tác phẩm phơi bày đến tận cùng sự phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống

Trang 15

- Nghệ thuật kể truyện

Giống như các hình thái tự sự khác như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết lấy nghệ thuật kể chuyện làm giọng điệu chính của tác phẩm Thông thường ở tác phẩm xuất hiện người kể chuyện như một nhân vật trung gian có nhiệm vụ miêu tả và kể lại đầu đuôi diễn biến của chuyện Tuy sự tồn tại của yếu tố này là ước lệ nghệ thuật của nhiều thể loại thuộc tự sự, nghệ thuật kể chuyện của tiểu thuyết vẫn cho thấy sự đa dạng đặc biệt về phong cách: có thể thông qua nhân vật trung gian, có thể là nhân vật xưng "tôi", cũng có thể là một nhân vật khác trong tác phẩm, tạo nên các tác phẩm có một điểm nhìn trần thuật Hiện nay, một trong những xu hướng tìm tòi đổi mới tiểu thuyết là việc tăng thêm các điểm nhìn ở tác phẩm, khi vai trò của nhân vật trung gian hoặc nhân vật xưng "tôi" được

"san sẻ" cho nhiều nhân vật trong cùng một tác phẩm

- Khả năng phản ánh toàn vẹn hiện thực

Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn

và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực Là một thể loại tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn

về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà văn mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm của mình

Ở phương diện khác, tiểu thuyết là thể loại có cấu trúc linh hoạt, không chỉ cho phép

mở rộng về thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện mà còn ở khả năng dồn nhân vật và sự kiện vào một khoảng không gian và thời gian hẹp, đi sâu khai thác cảnh ngộ riêng và khám phá chiều sâu số phận cá nhân nhân vật

- Hư cấu nghệ thuật

Hư cấu nghệ thuật cũng được coi là một đặc trưng của thể loại, là một thao tác nghệ thuật không thể thiếu trong tư duy sáng tạo của tiểu thuyết Hư cấu cho phép tác phẩm tái hiện những thời đại lịch sử phát triển trong câu chuyện hư cấu, không hiện thực như sử học, và những nhân vật hoàn toàn

Trang 16

không bị lệ thuộc bởi nguyên mẫu ngoài đời như những tác phẩm thuộc thể

ký Trong vô vàn những gương mặt đời thường và giữa muôn ngàn biến cố của lịch sử, nhà văn khi trước tác một tác phẩm tiểu thuyết đã thực hiện những biện pháp nghệ thuật đồng hóa và tái hiện bức tranh đời sống bằng phương thức chọn lọc, tổng hợp và sáng tạo Khi đó, hư cấu nghệ thuật, đối với tiểu thuyết đã trở thành yếu tố bộc lộ rõ rệt phẩm chất sáng tạo dồi dào của nhà văn

- Tính đa dạng về sắc độ thẩm mỹ

Tính đa dạng về màu sắc thẩm mỹ cũng là một đặc trưng tiêu biểu của thể loại Các thể loại văn học khác thường chỉ tiếp nhận một sắc thái thẩm mỹ nào đó để tạo nên âm hưởng của toàn bộ tác phẩm, như bi kịch là cái cao cả, hài kịch là cái thấp hèn, thơ là cái đẹp và cái lý tưởng Ở tiểu thuyết không diễn ra quá trình chọn lựa màu sắc thẩm mỹ khi tiếp nhận hiện thực mà nội dung của nó thể hiện sự pha trộn, chuyển hóa lẫn nhau của các sắc độ thẩm

mỹ khác nhau: cái cao cả bên cái thấp hèn, cái đẹp bên cái xấu, cái thiện lẫn cái ác, cái bi bên cạnh cái hài v.v

1.2.4 Đặc trưng của “Búp sen xanh”, “Cha và con”

Búp sen xanh và Cha và con là hai tiểu thuyết lịch sử, vì thế đặc trưng

thể loại của hai tác phẩm này có nhiều nét tương đồng Hai tác phẩm cùng kể

về thời niên thiếu của Bác Hồ cho đến lúc Người ra đi tìm đường cứu nước Trong hai tiểu thuyết này, mốc thời gian, nhân vật và sự kiện chính là sự thật lịch sử vì thế hư cấu nghệ thuật sẽ bị hạn chế Tuy nhiên bằng ngòi bút tài tình, hai nhà văn đã làm nổi bật nhân cách và trí tuệ của vị lãnh tụ từ khi còn

là cậu bé Côn

1.3 Vấn đề liên kết nội dung

1.3.1 Liên kết

Trang 17

Nói đến văn bản là nói đến liên kết Liên kết góp phần cho việc một sản phẩm ngôn ngữ trở thành một văn bản Văn bản không phải là phép cộng đơn thuần giữa các câu, vì vậy giới nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản đã chú ý đến "những sợi dây liên hệ" giữa các câu K Boost viết năm 1949: "Những sợi dây này kéo dài từ câu nọ sang câu kia nhiều đến nỗi tạo nên một mạng lưới dày đặc ( ), trong đó mỗi câu riêng biệt gắn bó chặt chẽ với những câu còn lại” "[39,159]

Từ đấy "tính liên kết" được xem là một phát hiện mới, thuộc cấp độ trên câu Nikolaeva (1978) và R Harweg (1968) đã nghiên cứu hiện tượng

"lặp" và gọi chúng là "phép đại từ hoá"[ 39 ] Đây là hiện tượng liên kết được khảo sát sớm nhất

Tuy liên kết là một hiện tượng không khó nhận biết, nhưng cách hiểu

về nó lại rất đa dạng và không dễ đi đến thống nhất

Trong giai đoạn đầu, các nhà nghiên cứu chỉ tập trung phân tích liên kết

ở những biểu hiện hình thức Cụ thể là, từ những dấu hiệu liên kết hình thức, người ta đi tìm những phương thức và phương tiện liên kết Tuy nhiên khi xét đến tính liên kết trong một văn bản thì có một vấn đề đáng chú ý là, một sản phẩm ngôn ngữ có thể có liên kết giữa các câu nhưng nó vẫn không phải là một văn bản đích thực vì sản phẩm đó không có cùng nội dung Nó chỉ là các chuỗi câu được liên kết với nhau đơn thuần về mặt hình thức Người ta sẽ thấy ngay sự vô lí khi một sản phẩm "phi văn bản" cũng được xem là văn bản chỉ bởi trong nó có liên kết hình thức Khi tách khỏi liên kết nội dung thì ngoại diên của khái niệm "tính liên kết" trở nên rất rộng

Đến giai đoạn thứ hai, việc nghiên cứu văn bản được phát triển một cách sâu rộng hơn thì "tính liên kết" lại được hiểu theo hướng khác Ngoài liên kết hình thức, giới nghiên cứu bắt đầu chú ý đến tính liên kết được thể

Trang 18

hiện ở phương diện ngữ nghĩa Ở cấp độ văn bản , cú pháp được xây dựng trước hết dựa trên cơ sở sự phù hợp những đặc trưng ngữ nghĩa của các đơn vị thuộc cấp độ dưới Do đó, khi bàn về sự tương tác giữa cú pháp của câu với cú pháp của văn bản, V.V Bogdanov nhấn mạnh rằng "điều quan trọng là sự tương tác ấy hoàn toàn dựa trên cơ sở ngữ nghĩa" Như vậy, ở giai đoạn này người ta đòi hỏi văn bản phải có đầy đủ cả liên kết hình thức và liên kết ngữ nghĩa

Cho đến nay có hai hướng hiểu về liên kết là rõ ràng nhất:

- Quan niệm thứ nhất coi liên kết văn bản thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ Và liên kết ở đây xét về cả mặt liên kết hình thức và liên kết nội dung Và vì vậy người ta xét một sản phẩm ngôn ngữ có được xem là một văn bản hay không phụ thuộc vào việc nó có liên kết hay không có liên kết

- Quan niệm thứ hai cho rằng liên kết không thuộc về cấu trúc của ngôn ngữ, mặc dù bản thân các yếu tố cấu trúc trong ngôn ngữ có thuộc tính liên kết Như vậy liên kết ở đây thuộc về ý nghĩa chứ không thuộc cấu trúc Và chỉ các phương tiện hình thức của ngôn ngữ thực hiện chức năng đó mới thuộc liên kết Với cách hiểu này thì liên kết không giữ vai trò là yếu tố quyết định

để xem xet một sản phẩm ngôn ngữ có được coi là văn bản hay không

Hai quan niệm này bắt nguồn từ cách hiểu hai thuật ngữ hệ thống và cấu trúc trong ngôn ngữ học Ở Việt Nam, quan niệm ngôn ngữ là một hệ thống vẫn phổ biến Hệ thống này gồm các yếu tố có quan hệ qua lại và quyết định lẫn nhau, trong đó các kiểu quan hệ làm thành mặt cấu trúc của hệ thống

Hệ thống liên kết của Halliday và Hassan được công bố lần đầu năm

1976 cho rằng liên kết là do các yếu tố ngôn ngữ làm thành các hệ thống con, các đối hệ không tính sự liên kết do các quan hệ cấu trúc của các yếu tố ngôn ngữ tạo ra và cho rằng cấu trúc tự thân đã là liên kết Với cách hiểu này thì

Trang 19

liên kết chỉ đề cập đến các yếu tố hình thức, vì thế không có sự phân biệt liên kết hình thức với liên kết nội dung

Theo D.Q Ban: "Liên kết là thứ quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu theo kiểu giải thích nghĩa cho nhau Nói chi tiết hơn, liên kết là thứ quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu chứa chúng liên kết được với nhau"

Trong luận văn này, chúng tôi đi theo hướng khái niệm liên kết hình thức và liên kết nội dung trong "Hệ thống liên kết văn bản TV" của Trần Ngọc Thêm với sự bổ sung những yếu tố cần thiết

1.3.2 Liên kết nội dung

Nhìn một cách khái quát, tính liên kết của văn bản có hai mặt: liên kết hình thức và liên kết nội dung Giữa hai mặt liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ "Liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung" (Trần Ngọc Thêm)

Liên kết nội dung là khái niệm thuộc loại khó định nghĩa Đây là một khái niệm không những trừu tượng mà còn rất phức tạp Khái niệm này được Trần Ngọc Thêm giải thuyết thông qua việc khảo sát ví dụ Và ông đã rút ra kết luận "Tất cả các câu trong đó đều phối hợp với nhau một cách hài hoà, bổ sung cho nhau để cùng thể hiện một nội dung"

Liên kết nội dung sẽ được nhận biết rõ hơn thông qua việc xem xét hai bình diện của nó là liên kết chủ đề và liên kết lôgic

a- Liên kết chủ đề

Trang 20

Khái niệm liên kết chủ đề chưa được đặt ra một cách hoàn chỉnh, song trong những công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc là F Danes và B Palek đã phác hoạ được một số nét cơ bản

Liên kết chủ đề là một yếu tố quyết định xem một chuỗi câu có phải là một văn bản hay không Hiểu một cách chung nhất thì liên kết chủ đề yêu cầu

cả văn bản phải xoay quanh chủ đề lớn Chủ đề lớn của văn bản được chia ra thành những chủ đề nhỏ hơn Và liên kết chủ đề của văn bản chính là sự tổ chức những chủ đề con ấy trong văn bản để đảm bảo nó thuộc chủ đề lớn

Đơn vị cơ sở tham gia liên kết chủ dề là các đối tượng của hiện thực, chủ yếu là các sự vật, khái niệm Liên kết chủ đề bao gồm: duy trì chủ đề và triển khai chủ đề

- Duy trì chủ đề là nhắc lại cùng một vật, một việc nào đó trong các câu

có liên kết với nhau

- Triển khai chủ đề là đưa thêm những chủ đề khác có liên quan đến chủ đề ban đàu, đảm bảo tính lôgíc để các câu chứa chúng liên kết với nhau

Để thực hiện phép liên kết duy trì chủ đề, người ta dùng các phép liên kết: lặp từ vựng thế đồng nghĩa, thế đại từ, tỉnh lược yếu, tỉnh lược mạnh Việc sử dụng những phép liên kết này sẽ tạo ra một chuỗi chủ đề đồng nhất,

có nghĩa là văn bản sẽ được duy trì chủ đề

Theo Trần Ngọc Thêm, "nguyên tắc chung nhất của việc sử dụng các phương thức liên kết duy trì chủ đề khác nhau có tác dụng làm tăng độ liên kết và tính đa dạng của văn bản, nhưng không được vì thế mà làm ảnh hưởng đến tính chính xác trong việc xác định chủ tố, cũng như không được gây khó khăn cho việc tiếp thu"

Trần Ngọc Thêm đã hệ thống các quy tắc liên kiết duy trì chủ đề như sau:

Trang 21

+ Được sử dụng lặp lại liên tục trong cả khoảng bắc cầu

+ Có những phương thức liên kết khác đi kèm để hỗ trợ cho việc xác định chủ tố được chính xác

- Quy tắc sử dụng các phương thức duy trì chủ đề khi có nhiều "ứng cử viên" chủ tố trong chủ ngôn: Nếu trong chủ ngôn có từ hai đối tượng đồng loại có khả năng làm chủ tố thì các phép thể và tỉnh lược chỉ có thể dùng được khi

+ Có những phương thức liên kết khác đi kèm hỗ trợ cho việc xác định chủ tố được đơn nhất

+ Chủ tố chính là đối tượng đứng sau cùng trong chủ ngôn

- Quy tắc liên kết phương thức: Nếu trong cùng một cặp phát ngôn, một trong các phép thế hoặc tỉnh lược được sử dụng trên một lần thì những cặp liên kết này phải ít nhất thoả mãn một trong ba điều kiện:

+ Giữa chủ tố và kết tố của từng cặp phải có những nét nghĩa chung cho phép khu biệt nó với các cặp liên kết còn lại Điều kiện này chỉ áp dụng cho các phép thế

+ Giữa 2 phát ngôn phải có các phương thức khác đi kèm hỗ trợ cho việc giới định từng cặp liên kết được chính xác

Trang 22

+ Có sự tương ứng về vị trí của từng cặp liên kết

Để liên kết triển khai chủ để trong văn bản có thể dùng phép liên tưởng hoặc phép đổi Hai phép liên kết này có thể tạo ra chuỗi chủ đề khu biệt Mục đích của những chuỗi chủ đề này cũng là phục vụ cho chủ đề chung của những phần được liên kết Và tất nhiên, những chủ đề được triển khai phải phù hợp lôgic với chủ đề chung

b- Liên kết lôgic

Nếu ở liên kết chủ đề sự chú ý tập trung vào vật, việc được nói đến thì

ở liên kết lôgic, cái được chú ý đầu tiên là phần nêu đặc trưng của vật, việc được nói đến Người ta xét liên kết lôgic ở hai phạm vi rộng hẹp: đó là phạm

vi bên trong một câu và giữa câu với câu

Có thể hiểu liên kết lôgic là sợi dây nối kết hợp lí giữa vật, việc với đặc trưng của chúng trong một câu và giữa đặc trưng này với đặc trưng kia trong những câu liên kết với nhau

Các sự vật, khái niệm cũng có thể là đơn vị liên kết lôgic nhưng chỉ ở những cấp độ thấp Về mặt ngôn ngữ, các đơn vị liên kết lôgic thể hiện bằng các từ, cụm từ phát ngôn, chuỗi phát ngôn

Sự kết hợp của hai đơn vị ngôn ngữ sẽ được coi là có liên kết lôgic khi chúng phù hợp với nhau theo những quan hệ ngữ nghĩa nhất định Quan hệ ngữ nghĩa có nhiều loại Quan hệ ngữ nghĩa mang tính khái quát cao, được nhiều khoa học quan tâm như: quan hệ thứ tự, quan hệ bao hàm, quan hệ tương tự, quan hệ đồng nhất, quan hệ mâu thuẫn Quan hệ làm nhiệm vụ cụ thể hoá cho các quan hệ trên là quan hệ bậc 2 Rồi những quan hệ bậc 2 này được tiếp tục cụ thể hoá, quá trình này mỗi lúc một phụ thuộc nhiều hơn và gắn bó chặt hơn với những nhân tố ngoài ngôn ngữ

Trang 23

Liên kết nội dung chỉ là một biểu hiện của mạch lạc Mạch lạc là nhân

tố bao trùm lên liên kết nội dung giữa các phát ngôn

1.3.3 Mạch lạc

1.3.3.1 Định nghĩa mạch lạc

Mạch lạc là vấn đề mới mẻ và phức tạp của ngôn ngữ học Cho đến nay, những giải thuyết về mạch lạc vẫn còn chưa thống nhất

- Theo M.A.K Halliday và Hasan: “Mạch lạc được coi như phần còn

lại (sau khi trừ liên kết) thuộc về ngữ cảnh của tình huống (context of situation) với những dấu nghĩa tiềm ẩn (redisters) Mạch lạc được coi là phần

bổ sung cần thiết cho liên kết, là một trong những điều kiện tạo thành chất văn bản (texture)” (Dẫn theo [28])

- Theo David Nunan: “Mạch lạc là ‘tầm rộng’ mà ở đó diễn ngôn được

tiếp nhận như là ‘có mắc vào nhau’ chứ không phải là một tập hợp câu và phát ngôn không có liên quan với nhau” [49,tr.135]

- Theo Diệp Quang Ban: “Cách nhìn chung nhất hiện nay là những từ

ngữ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối giữa các câu- phát ngôn làm thành các tiểu hệ thống (các phương tiện liên kết) thì được xếp vào liên kết, còn những mối quan hệ kết nối nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các câu thì thuộc về mạch lạc” [4,tr.71]

- Theo Đỗ Hữu Châu: “Một văn bản, một diễn ngôn là một lập luận

đơn hay phức bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào Tính lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc (coherence) về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức (cohesion) của văn bản, của diễn ngôn” [6, tr.174]

Nhìn chung có thể quy về ba cách hiểu mạch lạc trong quan hệ với liên kết văn bản như sau:

Trang 24

Cách hiểu thứ ba:

Mạch lạc là nhân tố bao trùm lên liên kết nội dung giữa các phát ngôn, liên kết nội dung chỉ là một biểu hiện của mạch lạc Cách nhìn nhận này đi từ chỉnh thể đến bộ phận, các đơn vị tế bào của văn bản

Khái niệm mạch lạc văn bản tuy chưa thống nhất nhưng các nhà nghiên

cứu đều coi mạch lạc là điều kiện và đặc trưng cơ bản nhất của một văn bản

đích thực Tuy nhiên mạch lạc vẫn là một cái gì đó khó nắm bắt, bởi vì nó

thuộc về tầm rộng và chiều sâu cấu trúc nội dung của toàn văn bản Trong

khuôn khổ luận văn này, chúng tôi thiên về cách hiểu thứ 3 Xem liên kết nội dung chỉ là một phần của mạch lạc Phân tích liên kết nội dung để thấy được mạch lạc của văn bản

1.3.3.2 Biểu hiện của mạch lạc

Với cách hiểu chung của văn học, tâm lí học và ngôn ngữ học, mạch lạc tồn tại trong ba phạm vi khái quát nhất là: Trong quan hệ nghĩa- logic giữa các từ ngữ trong văn bản với ngữ cảnh tình huống và trong quan hệ giữa các hành động nói (mạch lạc diễn ngôn) Ở mỗi phạm vi, mạch lạc lại có những biểu hiện cụ thể của nó

Mạch lạc trong quan hệ nghĩa- logic giữa các từ ngữ trong văn bản

Trang 25

Giữa các từ ngữ nằm trong một câu cũng như các từ ngữ nằm trong các câu khác nhau mà có quan hệ nghĩa- logic với nhau (nhưng không phải bao giờ cũng có) thường góp phần tạo nên mạch lạc trong cách hiểu rộng về từ mạch lạc

Mạch lạc trong quan hệ nghĩa- logic giữa các từ ngữ trong văn bản được thể hện ở bốn trường hợp sau:

*Mạch lạc trong quan hệ nghĩa- logic giữa vật nêu ở chủ ngữ với đặc trưng nêu ở vị ngữ

Một câu (mệnh đề) không chỉ đúng về mặt ngữ pháp mà còn phải có quan hệ nghĩa- logic với nhau Và một câu chỉ được coi là mạch lạc khi đặc trưng nêu ở vị ngữ phải phù hợp với vật nêu ở chủ ngữ Ngược lại, nếu chúng không dung hợp được với nhau thì câu đó không được chấp nhận

*Mạch lạc trong quan hệ nghĩa giữa các đề tài (chủ đề) của các câu

Trong các câu, quan hệ giữa các đề tài (chủ đề) được thực hiện theo hai cách là duy trì đề tài và triển khai đề tài

*Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ nghĩa giữa các thành phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau

Quan hệ nghĩa giữa các câu (mệnh đề) phải phù hợp với nhau, tạo thành một mạch chung văn bản Ngược lại, nó sẽ gây cười đối với người tiếp nhận văn bản

*Mạch lạc biểu hiện trong trình tự hợp lí giữa các câu (mệnh đề)

Trong mối quan hệ nghĩa- logic giữa các câu (mệnh đề) thường được thể hiện theo trình tự hợp lí bao gồm:

-Trình tự theo quan hệ nguyên nhân

-Trình tự theo quan hệ thời gian

-Trình tự theo quan hệ không gian

Trang 26

Trong các trình tự trên thì trình tự theo quan hệ nguyên nhân và trình tự theo quan hệ thời gian có phần đặc biệt là nếu ta thay đổi trật tự các câu (mệnh đề) thì sẽ dẫn đến việc làm cho tổ hợp câu trở nên vô nghĩa hoặc dẫn đến sự thay đổi vai trò của các yếu tố trong quan hệ

Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ ngoại chiếu

Quan hệ ngoại chiếu (exophara) là mối quan hệ giữa các từ ngữ trong

văn bản với vật, việc, hiện tượng bên ngoài văn bản, tức quy chiếu vào tình huống mà từ đó văn bản tạo ra Tình huống trong cách hiểu như thế gọi là ngữ cảnh huống Sự quy chiếu vào ngữ cảnh huống giúp cho từ ngữ trong văn bản trở nên rõ nghĩa hoặc xác định [theo (3, tr.134]

Ví dụ:

Nó đây rồi

Từ nó trong câu trên là một từ có nghĩa chưa xác định, muốn xác định được nó là ai thì phải quy chiếu nó vào ngữ cảnh tình huống đang sử dụng Chẳng hạn nó là tình huống hai người bạn đang tìm xe đạp của mình trong nhà gửi xe Một người nhìn thấy và nói nó đây rồi Từ đó xác định được nó

trong tình huống này là để chỉ chiếc xe đạp

Sự quy chiếu như vậy được thực hiện bằng cách gọi là chỉ xuất Sự chỉ xuất bao gồm trong ba trường hợp sau:

- Chỉ xuất nhân xưng là sự ngoại chiếu bằng các từ chỉ ngôi nhân xưng, tức là sử dụng từ chỉ ngôi nhân xưng (tôi, mày, nó) để quy chiếu Yếu tố được dùng làm điểm mốc (tọa độ gốc) trong quy chiếu nhân xưng là tôi

- Chỉ xuất không gian là sử dụng những tổ hợp từ chỉ không gian kèm với các từ chỉ định này, kia, ấy, nọ hoặc những đại từ thay thế như đây, đó trực tiếp chỉ không gian Điểm mốc của của sự chỉ xuất không gian là ở đây

Trang 27

- Chỉ xuất thời gian thường sử dụng các từ chỉ thời gian như bây giờ,

hôm qua, mai hoặc các tiếng chỉ thời gian kèm với các từ chỉ định như: hồi

ấy, sau này Điểm mốc của sự chỉ xuất thời gian là bây giờ

Sự mạch lạc với ngữ cảnh tình huống như vậy là giúp cho lời nói trở thành có nghĩa, trở thành xác định Dựa vào nó, chúng ta có thể hiểu ra được tên các biển hiệu, biểu đề các công sở, từ sở, trường học, biển chỉ đường, tên các loại sách, báo, tạp chí Chúng trở thành có nghĩa khi chúng được đặt đúng nơi, đúng lúc

Như vậy, mạch lạc với ngữ cảnh tình huống có liên quan đến toàn bộ môi trường vật chất và môi trường xã hội mà lời nói xuất hiện và những môi trường này cũng được ghi dấu ấn lại trong lời nói làm nên văn bản

Mạch lạc diễn ngôn

Trong diễn ngôn, mạch lạc biểu hiện ở khả năng dung hợp giữa các hành động nói Hành động nói là hành động được thể hiện trong khi nói năng như: hành động hỏi, ra lệnh, hứa, chào, cảm ơn, xin lỗi Có những hành động nói phải đi đôi với nhau và có những hành động nói không thể ăn nhập với nhau Khi các hành động nói đi đôi với nhau thì bản thân chúng cũng tạo ra mạch lạc cho những lời trao đổi hoặc cho chuỗi những câu nối tiếp nhau Chẳng hạn hành động hỏi thường kéo theo hành động trả lời, hành động xin lỗi thường kéo theo hành động thứ lỗi (chấp nhận hành động xin lỗi) hoặc là hành động không thứ lỗi (không chấp nhận hành động xin lỗi) v.v Để dễ hiểu, người ta gọi khả năng cùng đi được với nhau của các hành động nói là

khả năng dung hợp nhau giữa các hành động nói

Những phân tích trên đây cho thấy biểu hiện của mạch lạc trong văn bản nói chung rất phong phú, đa dạng Những biểu hiện của mạch lạc nói chung cũng chính là những biểu hiện của mạch lạc trong truyện Dưới đây, chúng tôi xin trình bày một số biểu hiện cơ bản của mạch lạc trong truyện

Trang 28

1.3.3.3 Biểu hiện của mạch lạc trong truyện

Truyện là một loại văn bản khá tiêu biểu Những biểu hiện của mạch lạc nói chung cũng chính là những biểu hiện của mạch lạc trong truyện Tuy nhiên, điển hình cho những biểu hiện của mạch lạc trong truyện là những trường hợp sau đây:

+ Biểu hiện của mạch lạc trong truyện theo quan hệ nguyên nhân: Qua việc nghiên cứu truyện, các nhà tâm lí học quan niệm: một hồi của truyện là một chuỗi sự kiện có quan hệ nguyên nhân, trong đó điều kiện ban đầu kích hoạt của những hành động hồi đáp bên trong, và cả bên ngoài, từ phía nhân vật

+ Biểu hiện của mạch lạc trong truyện theo quan hệ thời gian: Gerard Genette, nhà lí luận về thời gian, cho rằng quan hệ thời gian mà cụ thể là thời gian vật lí được xác định từ ba trắc diện chủ yếu là trình tự (order), thời hạn (duratio) và tần số (frequency)

+ Biểu hiện của mạch lạc trong truyện theo ngữ pháp truyện: Nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Rumelhart cho rằng một cấu trúc hợp lí thể hiện sự mạch lạc của truyện là một cấu trúc có dạng:

Truyện kể  môi trường + đề + cốt truyện

[story  setting + theme + plot + resolution]

Tức là, một truyện phải được làm thành bởi môi trường, sau đó là một

đề, một cốt truyện và cuối cùng là một giải pháp Trong đó, môi trường của truyện được làm thành bởi nhân vật, vị trí, thời gian

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi nghiên cứu liên kết nội dung qua quan hệ thời gian, từ đấy thấy được mạch lạc của văn bản Qua đó có thể nhận thấy đặc điểm sử dụng phép liên kết nội dung của mỗi tác phẩm

Trang 29

Gerard Genette, nhà lý luận về thời gian trong văn bản được đánh giá

là có thẩm quyền lớn nhất gần đây, cho rằng quan hệ thời gian mà cụ thể là thời gian vật lý được xác định từ 3 chiều đo chủ yếu là:

- Về kiểu trình tự thời gian nối tiếp trực tiếp

Ví dụ: Lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng

giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo

(Nguyễn Tuân, Chữ người tử tù)

Nguyễn Tuân đã miêu tả rất tinh tế ngọn đuốc cháy trong phòng giam nơi diễn ra cảnh Huấn Cao cho chữ Sự kiện ở đây được diễn ra theo một trình

tự thời gian trước sau Cụ thể: sự kiện Lửa đóm cháy rực diễn ra trước, tiếp đến là sự kiện Lửa rơi xuống đất và cuối cùng là sự kiện Tàn lửa tắt nghe xèo

xèo Như vậy, ba sự kiện này nối tiếp với nhau theo kiểu trình tự thời gian cái

trước, cái sau trực tiếp với nhau

- Về kiểu trình tự thời gian nối tiếp gián cách

- Về kiểu trình tự thời gian đồng thời

Trang 30

Ví dụ:

Chí Phèo vừa chém túi bụi vừa kêu làng thật to

(Nam Cao, Chí Phèo)

Hành động vừa chém vừa la làng của Chí Phèo là diễn cùng một lúc theo kiểu trình tự thời gian đồng thời

* Quan hệ thời hạn

Quan hệ thời hạn là quãng thời gian kéo dài diễn ra sự kiện, chẳng hạn như: 2 ngày, 2 giờ, 2 phút Thời hạn này trên văn bản có thể được tính bằng dòng, bằng trang, bằng chương, hồi, màn, cảnh Ví dụ, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, khoảng thời gian từ lúc Kiều gặp Thúc Sinh đến lúc Kiều chia tay

với Thúc Sinh là một thời hạn Do vậy giữa các sự kiện trong khoảng thời gian

đó là có quan hệ thời hạn với nhau

*Quan hệ tần số

Quan hệ tần số được các nhà nghiên cứu phân tích thành ba trường hợp: đơn ứng, trùng ứng và hội ứng

- Đơn ứng (singulative): là trường hợp sự kiện xảy ra một lần và được

kể lại một lần trong truyện (một lần sự kiện ứng với một lần kể)

Ví dụ:

Nó sụt sịt khóc đi bên cạnh mẹ chồng Chú rể dắt đứa em lớn của Dần Còn thằng bé thì ông bố cõng Cả bọn lủi thỉu đi trong đêm lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ

(Nam Cao, Một đám cưới)

Trong truyện “Một đám cưới”, cảnh đưa Dần về nhà chồng được diễn

ra một lần và cũng được nhà văn kể lại một lần trong truyện

- Trùng ứng (reptilive): là trường hợp sự kiện xảy ra một lần và được

kể lại trong truyện hơn một lần (một lần sự kiện ứng hơn một lần nói đến trong truyện)

Trang 31

Ví dụ:

Sự kiện Kim Trọng nhận được tin chú ruột mất, cha chàng nhắn chàng

về ngay Sự kiện này xảy ra một lần nhưng được kể lại hai lần trong truyện Lần thứ nhất là do chính tác giả kể

Gia đồng vào gửi thư nhà mới sang

Đem tin thúc phụ từ đường,

Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề

Liêu Dương cách trở sơn khê, Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Lần thứ hai là do chính Kim Trọng kể lại cho Thúy Kiều nghe:

Gót đầu mọi nỗi đinh ninh, Nỗi nhà tang tóc nỗi mình xa xôi

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

- Hội ứng (interative): là trường hợp những sự kiện tương tự nhau xảy

ra nhiều lần và được kể lại trong truyện chỉ một lần

Ví dụ:

Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá Những tiếng quen thuộc

ấy hôm nào chả có Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy Chao ôi là buồn

(Nam Cao, Chí Phèo)

Âm thanh của tiếng chim, tiếng người nói, tiếng gõ mái chèo diễn ra hằng ngày nhưng chỉ có duy nhất một lần Chí Phèo cảm nhận được và được tác giả kể lại một lần trong truyện

1.4.Tiểu kết

Phần lí thuyết trên đây đã giúp chúng thôi thêm khẳng định liên kết nội dung là khái niệm rộng và khó nắm bắt Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể hình

Trang 32

dung liên kết nội dung thông qua những biểu hiện của nó Ở mỗi lĩnh vực, liên kết nội dung có biểu hiện nhỏ hơn nữa Những mạng lưới chằng chịt này tạo nên mối quan hệ chặt chẽ trong một tác phẩm

Nhìn chung, liên kết nội dung là một khái niệm rộng Và để tìm hiểu về liên kết nội dung một cách đầy đủ trong một tác phẩm, đặc biệt là tiểu thuyết, đòi hỏi phải xét ở nhiều khía cạnh, yếu tố Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ xét vấn đề liên kết nội dung qua quan hệ thời gian, để thấy được

sự mạch lạc trong tác phẩm Qua đó có thể nhận thấy được phong cách nghệ thuật của mỗi tác giả trong hai tác phẩm cùng viết về Bác Hồ

Trang 33

CHƯƠNG 2 LIÊN KẾT NỘI DUNG THỂ HIỆN QUA QUAN HỆ THỜI GIAN TRONG

TIỂU THUYẾT “BÚP SEN XANH”

2.1 Dẫn nhập

Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực Là một thể loại lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát rộng lớn cả về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà văn mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm của mình

Trong chương hai này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu tiểu thuyết “Búp sen xanh” theo một phương diện thể hiện rõ nhất đặc trưng của nó, đó là quan hệ thời gian Quan hệ thời gian tạo nên sự liên kết về mặt nội dung của tiểu thuyết “Búp sen xanh”

"Búp sen xanh" là một tiểu thuyết gồm ba phần: Phần I - Thời thơ ấu; Phần II - Thời niên thiếu; Phần III - Tuổi hai mươi Trong mỗi phần có các chương: Phần I gồm 12 chương (từ chương 1 đến chương 12); Phần II gồm 11 chương (từ chương 13 đến chương 23); Phần III gồm 7 chương (từ chương 24 đến chương 30) Và ở mỗi chương, có số lượng các bloc sự kiện trong mỗi bloc sự kiện có sự kiện nhỏ tạo nên nó

Trên cơ sở lý thuyết về các kiểu quan hệ thời gian trong văn bản sự tự, chúng tôi nhận thấy, quan hệ thời gian trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng được thể hiện qua cả ba kiểu quan hệ đó là:

- quan hệ thời hạn;

- quan hệ trật tự;

- quan hệ tần suất

Dưới đây là trình bày cụ thể về ba kiểu quan hệ này

2 2 Quan hệ thời hạn trong tiểu thuyết “Búp sen xanh”

Quan hệ thời gian theo kiểu thời hạn trong tiểu thuyết “Búp sen xanh” thể hiện rõ qua 3 cấp bậc sau:

- Cấp bậc cao nhất (bậc 1): giữa các phần của tiểu thuyết

- Cấp bậc thấp hơn (bậc 2): giữa các chương của từng phần trong tiểu thuyết

- Cấp bậc thấp hơn nữa (bậc 3): giữa các bloc sự kiện ở từng chương của tiểu thuyết

Trang 34

2.2.1 Quan hệ thời hạn giữa các phần của tiểu thuyết “Búp sen xanh”

Ở cấp bậc cao nhất (bậc 1), giữa các phần trong tiểu thuyết: Tiểu thuyết “Búp sen xanh” gồm 3 phần, và mỗi phần đóng vai trò là một thời hạn, như sơ đồ sau:

Phần I Phần II Phần 3 Thời hạn I Thời hạn II Thời hạn III

Theo sơ đồ này, các thời hạn được xác định cụ thể như sau:

- Thời hạn I: Khoảng thời gian từ lúc ông cụ thân sinh ra ông Sắc gặp bà Hà Thị Hy đến lúc hai cha con bé Côn đi tiễn Phan Bội Châu

- Thời hạn II: Khoảng thời gian từ lúc hai anh em Côn, Khiêm sửa soạn theo cha vào kinh đô Huế đến lúc thầy giáo Nguyễn Tất Thành (tên tự sửa của Côn) rời trường Dục Thanh ra đi

- Thời hạn III: Khoảng thời gian từ lúc Nguyễn Tất Thành về Sài Gòn đến lúc Út Huệ và mọi người ra tiễn anh ra cảng lên tàu ra đi tìm đường cứu nước

Dựa vào quan hệ thời hạn này có thể thấy ba phần của tiểu thuyết "Búp sen xanh" được bố trí theo trật tự tuyến tính, không chồng chéo, đan cài Chỉ nhìn vào cấu trúc cơ bản ở cấp độ cao nhất này, chúng ta có thể hình dung được những chặng thời gian có ý nghĩa dấu mốc quan trọng cho cuộc đời nhân vật Côn (hình ảnh thời niên thiếu của Bác Hồ vị Chủ tịch kính yêu của dân tộc Việt Nam ta) từ thuở mới lọt lòng đến tuổi hai mươi Chặng thứ nhất là tuổi ấu thơ bên cha mẹ, bên bà, bên anh chị ở quê ngoại làng Chùa; chặng thứ hai là tuổi thiếu niên bôn ba cùng cha và anh vào Huế, ra Nghệ…; chặng thứ ba là tuổi hai mươi hăng hái với quyết tâm ra đi

vì lí tưởng cao đẹp, bước chân sẵn sàng bôn ba, không quản gian nan Trật tự tuyến tính theo bước đi của nhân vật Côn, và cũng là bước đi cùng lịch sử nước nhà - đây chính là ý tưởng tác giả xây dựng tiểu thuyết về lãnh tụ kính yêu Bác Hồ Chí Minh

2.2.2 Quan hệ thời hạn giữa các chương ở từng phần của tiểu thuyết “Búp sen xanh”

Ở cấp độ thấp hơn (bậc 2), mỗi thời hạn bậc 1 nêu ở mục II 1 1 lại được tạo thành từ các thời hạn nhỏ hơn (thời hạn bậc 2) và mỗi thời hạn bậc 2 này tương ứng với một chương trong cấu trúc nội dung của tiểu thuyết “Búp sen xanh”

Dưới đây là sơ đồ quan hệ thời hạn giữa các chương ở từng phần của tiểu thuyết “Búp sen xanh”

BÚP SEN XANH

Trang 35

Thời hạn I

Trang 36

Các thời hạn bậc 2 thuộc phần I nêu ở sơ đồ trên cụ thể như sau:

- Thời hạn I 1: Khoảng thời gian từ lúc chị nho Sắc sinh con trai là Côn đến lúc anh nho Sắc đi lấy thuốc bắc cho vợ về đến nhà

- Thời hạn I 2: Khoảng thời gian từ lúc bé Côn 3 tuổi đến khi ông đồ Đường mất

- Thời hạn I 3: Khoảng thời gian từ khi ông đồ Nhậm (đời thứ 10 của dòng

họ Nguyễn Sinh ở làng Sen) lấy bà Hà Thị Hy đến lúc cậu bé Sắc (con của ông bà Nhậm – Hy về làm con nuôi nhà ông đồ Đường

- Thời hạn I 4: Khoảng thời gian từ sau khi ông đồ Đường mất được 1 năm đến khi anh cử Sắc quyết định vào kinh đô cùng cả vợ con

- Thời hạn I 5: Khoảng thời gian từ khi cả nhà anh Sắc chuẩn bị đồ đạc để vào kinh đô đến khi cả nhà anh Sắc vượt đoạn đường đồi núi xa xôi để tiến vào Huế

- Thời hạn I 6: Khoảng thời gian từ khi vào đến kinh đô Huế đến khi ông Đào Tấn đến thăm nhà trọ của ông Sắc

- Thời hạn I 7: Khoảng thời gian từ khi anh Sắc rớt khoa thi Hội (1898) đến khi anh Sắc về làm thầy dạy học ở nhà ông Nguyễn Độ

- Thời hạn I 8: Khoảng thời gian từ khi bà Loan ở lại một mình trong thành nội đến khi bà Loan mất

- Thời hạn I 9: Khoảng thời gian từ khi ông Sắc đi coi thi ở Thanh Hóa trở

về Huế, đứa con út chết đến khi ông Sắc đỗ phó bảng

- Thời hạn I 10: Khoảng thời gian từ khi ông phó bảng Sắc đưa các con về làng Sen ở đến khi ba cha con ông Sắc đến thăm làng Đông Thái

- Thời hạn I 11: Khoảng thời gian từ khi ông Sắc về làng chùa chăm bà đồ

Trang 37

bắt đầu kể chuyện) khá xa Nó cho người đọc hình dung được cội nguồn dòng họ, tổ tiên của cậu bé Côn - nhân vật chính của tiểu thuyết và các chương tiếp theo cho ta hình dung về tuổi thơ ấu với nhiều biến cố đau buồn của Côn

Thời hạn II

Trang 38

Các thời hạn bậc 2 thuộc phần II ở sơ đồ trên cụ thể như sau:

- Thời hạn II 1: Khoảng thời gian ba cha con ông phó bảng Sắc sửa soạn vào kinh đô Huế lần thứ hai đến khi cậu thiếu niên Côn lưu luyến rời làng Sen theo cha cùng vào kinh

- Thời hạn II 2: Khoảng thời gian từ khi ba cha con đến kinh đô Huế (lần 2) đến khi cậu bé Thành trở thành một học trò giỏi của trường Đông Ba ở Huế

- Thời giạn II 3: Khoảng thời gian từ khi Thành kết thúc bậc tiểu học ở trường Đông Ba đến khi Thành vào học trường trung học Pháp – Việt

- Thời hạn II 4: Khoảng thời gian từ khi ba cha con ăn cơm tối xong đến khi ông Đặng Thái Thân (sau cuộc nói chuyện với ông Sắc) trở về trong đêm

- Thời hạn II 5: Khoảng thời gian từ khi Thành đi thăm lăng tẩm các vị vua

về đến khi Thành trở về và được cha trả lời câu hỏi: Vì sao vua Thành Thái bị đày

đi biệt xứ?

- Thời hạn II 6: Khoảng thời gian từ lúc ông Huy thôi giữ chức Thừa biện

Bộ Lễ đến khi ông rời Huế đi vào Bình Khê

- Thời hạn II 7: Khoảng thời gian từ khi hai anh em Đạt, Thành sống ở Huế vắng cha đến khi Thành tham gia ủng hộ phong trào Duy Tân và bị bọn Pháp để ý

- Thời hạn II 8: Khoảng thời gian từ khi Thành bị cảnh sát săn đuổi đến khi Thành nói với anh trai về ý định muốn đi xa của mình

- Thời hạn II 9: Khoảng thời gian từ khi Thành bắt đầu rời Huế đến khi Thành gặp cha ở Bình Khê (lúc này ông Huy là quan huyện)

- Thời hạn II 10: Khoảng thời gian từ khi Thành rời Bình Khê đến khi Thành trở thành thầy giáo ở trường Dục Thanh (Phan Thiết)

- Thời hạn II 11: Khoảng thời gian từ khi Thành gặp một người phu thuyền (khi xưa là người bị Pháp khủng bố đánh đập ở Huế được Thành cứu) từ Sài Gòn ra

ở bến cảng Phan Thiết đến khi Thành rời trường Dục Thanh ra đi

- Các thời hạn của các chương phần II cũng có trật tự tuyến tính nối nhau và xuyên suốt Trật tự này cho người đọc hình dung rõ bước chân của cậu bé Côn (cùng cha và anh) trên nẻo đường vào kinh đô lần thứ hai Trở về Nghệ, lại vào kinh

Trang 39

đi học, chia tay cha vào Phan Thiết… Đó là chặng đường dài, mang các dấu mốc rõ ràng theo dấu chân của nhân vật Côn từ tuổi thiếu niên (12,13 tuổi) đến khi Côn thành thầy giáo thực thụ - một thanh niên đôi mươi

Các thời hạn bậc 2 (thuộc phần III) ở sơ đồ trên cụ thể như sau:

- Thời hạn III 1: Khoảng thời gian từ khi anh Ba (tên mới của Thành) theo

Tư Lê (người phu thuyền anh gặp ở Phan Thiết) đặt chân đến Sài Gòn đến khi anh

Ba theo anh Tư Lê trở về khu nhà của xóm thợ

- Thời hạn III 2: Khoảng thời gian từ khi anh Ba tìm gặp Diệp Văn Kỳ (một người bạn cũ từ thời ở Huế) đến khi anh Ba tìm gặp lại cha ở ngay Sài Gòn, khi cha anh là một thầy thuốc mở hàng chữa bệnh cho mọi người

Thời hạn III

Trang 40

- Thời hạn III 3: Khoảng thời gian từ khi cha con Út Huệ đưa anh Ba đi xem chợ Tết đến khi Út Huệ cảm mến anh Ba thực sự

- Thời hạn III 4: Khoảng thời gian từ khi anh Ba mở lớp dạy chữ cho các anh em thợ đến khi lớp học đã đông, và mọi người phục cái “chữ anh Ba”

- Thời hạn III 5: Khoảng thời gian từ khi anh Ba nghĩ lại lời hẹn với chủ tàu La-tut-sơ Tơ-rê-vin đến khi anh Ba từ biệt cha lần cuối để đi xa

- Thời hạn III 6: Khoảng thời gian từ khi anh Ba nói chuyện với anh Tư Lê ở cảng Nhà Rồng về dự định ra đi của mình đến khi anh Ba gặp chủ tàu La-tut-sơ Tơ- rê-vin nhận nhiệm vụ để chuẩn bị ra đi

- Thời hạn III 7: Khoảng thời gian từ khi Út Huệ thấy anh Ba từ cảng trở về đến khi Út Huệ tiễn anh Ba ra đi trên con tàu viễn dương La-tut-sơ Tơ-rê-vin

Thời hạn của phần III là khoảng thời gian ngắn hơn rất nhiều so với thời hạn

ở hai phần trên Mà các thời hạn có trong các chương cũng được bố trí theo trật tự tuyến tính Trong khoảng gần một năm, nhưng nhân vật chính Côn cũng bôn ba không nghỉ trên những nẻo đường khác nhau ở Sài Gòn, để tìm ra con đường đi cho riêng mình, con đường đến với chân lí, để cứu dân tộc thoát khỏi lầm than Và thời điểm kết thúc của phần II nằm ở chương cuối (chương 30) là khi nhân vật Côn bước xuống tàu viễn dương La-tut-sơ Tơ-rê-vin Thời hạn này làm cho tiểu thuyết có lối kết thúc mở Người đọc sẽ tự hỏi, hoặc sẽ tự hình dung con đường phía trước Côn

sẽ ra sao? và kết thúc việc thực hiện lí tưởng cao đẹp của người thanh niên này như thế nào?

2.2.3 Quan hệ thời hạn giữa các bloc sự kiện ở từng chương của từng phần trong tiểu thuyết “Búp sen xanh”

Ở cấp độ thấp hơn nữa (cấp độ 3), mỗi thời hạn bậc 2 nêu ở mục 2.1 2 lại được tạo thành từ các thời hạn nhỏ hơn nữa (thời hạn bậc 3), và mỗi thời hạn bậc 3 này tương ứng với một bloc sự kiện

Trong mục 2.2.3 này, vì đặc điểm của tiểu thuyết là có rất nhiều những bloc

sự kiện, chúng tôi không thể trình bày cụ thể tất cả quan hệ thời hạn giữa các bloc

Ngày đăng: 19/12/2015, 10:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình giản lược): - So sánh đặc điểm sử dụng phép liên kết nội dung qua hai tác phẩm viết về bác hồ (búp sen xanh của sơn tùng   cha và con của hồ phương)   luận văn ths  ngôn ngữ học  60 22 01 pdf
Hình gi ản lược): (Trang 79)
Sơ đồ sau: - So sánh đặc điểm sử dụng phép liên kết nội dung qua hai tác phẩm viết về bác hồ (búp sen xanh của sơn tùng   cha và con của hồ phương)   luận văn ths  ngôn ngữ học  60 22 01 pdf
Sơ đồ sau (Trang 81)
SƠ ĐỒ 3 CẤP ĐỘ QUAN HỆ THỜI HẠN TRONG - So sánh đặc điểm sử dụng phép liên kết nội dung qua hai tác phẩm viết về bác hồ (búp sen xanh của sơn tùng   cha và con của hồ phương)   luận văn ths  ngôn ngữ học  60 22 01 pdf
SƠ ĐỒ 3 CẤP ĐỘ QUAN HỆ THỜI HẠN TRONG (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w