1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp dạy trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua bộ môn văn học

13 247 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm mầm non có đầy đủ các SKKN về cấp học mầm non: SKKN lớp cháo, SKKN lớp bột, SKKN lớp chồi, SKKN lớp mầm, SKKN lớp cơm nát, SKKN trẻ 618 tháng tuổi, SKKN trẻ 23 tuổi, SKKN trẻ 34 tuổi, SKKN trẻ 5 tuổi phân chia nhiều thể loại như: SKKN trò chơi, SKKN âm nhạc mầm non, SKKN làm quen chữ,Các SKKN mầm non được áp dụng trong các trường mầm non và đều được xếp loại A hoặc B. Điều này cho thấy, những SKKN mầm non này có thể tham khảo để nuôi dạy trẻ.

Trang 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MẪU GIÁO 5 TUỔI HỌC TỐT

MÔN VĂN HỌC I.PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong những năm gần đây Đảng và nhà nước ta quan tâm chú trọng đến công tác giáo dục, coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn đảng, toàn dân” Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh cần có những con người tài năng, để được như vậy chúng ta phải bồi dưỡng nhân tài ngay từ bước đầu tiên, bắt đầu từ bậc học mầm non Mục đích của giáo dục mầm non là hình thành cơ sở ban đầu về nhân cách con người góp phần cho con người phát triển toàn diện Đây là bước đầu tiên, là nền tảng cho việc xây dựng nhân cách con người, giúp con người phát triển về mọi mặt: đạo đức, trí tuệ, thể lực, thẩm mỹ, lao động Đối với trẻ 5 tuổi chúng ta cần chăm sóc, giáo dục trẻ có các kỹ năng cơ bản để trẻ

có thể nhận biết các mặt của xã hội như: tốt – xấu, ngoan – hư, … Biết nhường nhịn và yêu thương những người xung quanh, thật thà, lễ phép, mạnh dạn, yêu thích cái đẹp, ham hiểu biết, có khả năng phân tích, suy luận… Trẻ có được các kỹ năng này ở trường mầm non thông qua các hoạt động vui chơi, học tập qua các môn học hàng ngày, điển hình như môn Làm quen văn học có vai trò quan trọng giúp trẻ phát triển toàn diện các kỹ năng đó Thường ngày trẻ thường xuyên tiếp xúc với ông, bà, cha, mẹ, cô giáo và bạn bè trẻ đã có được những kinh nghiệm đơn giản nhất về đối nhân xử thế giữa người với người nhưng chưa nhận biết được rõ ràng về tốt – xấu, hay – dở Vì vậy chúng ta cần có các biện pháp

để giảng dạy cụ thể, phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ, biến những điều quen thuộc thành những ấn tượng sâu sắc, hình thành những kiến thức ban đầu về xã hội cho trẻ Chính vì vậy nên tôi chọn đề tài: một số biện pháp giúp trẻ học tốt môn văn học

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:

a/ Mục tiêu:

Nhằm xây dựng một số biện pháp giúp trẻ học tốt môn văn học để năng cao mức độ nhận thức của trẻ

b/ Nhiệm vụ của đề tài:

* Cơ sở lý luận: Trẻ 5 – 6 tuổi nhận biết mỗi quan hệ trong giao tiếp bằng kinh nghiệm

sống, những kinh nghiệm sống của trẻ ngày càng nhiều nhờ các mỗi quan hệ giao tiếp trong gia đình, ở lớp và ngoài xã hội, sự hướng dẫn, chỉ bảo của ông bà, cha, mẹ, cô giáo

và tiếp xúc với bạn bè Qua các mỗi quan hệ đó trẻ dần dần nhận thức được các biểu hiện tích cực và tiêu cực của xã hội Tuy nhiên trẻ không phân biệt được rõ ràng để bản thân biết học tập, noi gương, vì vậy học môn làm quen văn học ở nhà trường là chìa khoá giúp trẻ mở cánh cửa lớn để nhận thức rõ về xã hội, sẽ học tập và noi gương những người tốt,

Trang 2

làm điều thiện, điều nhân nghĩa cao cả mà chúng ta vẫn thường thấy trong xã hội hiện nay

Sự phát triển về nhân cách của trẻ là một quá trình phức tạp, trẻ nắm được các chuẩn mực của xã hội cho thấy mức độ phát triển trí tuệ của trẻ của trẻ mầm non rất rõ rệt Việc phát triển ở trẻ khả năng nhận biết, phân tích, so sánh, suy luận về các sự vật, hiện tượng xung quanh, về các mỗi quan hệ trong xã hội và khả năng vận dụng các chuẩn mực đạo dức xã hội để phân biệt cái tốt – xấu, thiện – ác, hình thành ở trẻ tình yêu thương giữa người với người,

tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương – đất nước Góp phần tích cực cho việc hình thành nhân

cách, chuẩn bị cho trẻ bước vào môi trường xã hội mới, trường tiểu học

Việc cho trẻ làm quen với môn văn học giúp trẻ thấy được sự phong phú, đa dạng của các mối quan hệ trong thế giới quanh trẻ Hơn nữa các kiến thức về văn học là phương tiện giúp trẻ định hướng rõ ràng hơn về các chuẩn mực đạo đức xã hội như: là con, cháu thì không được cãi lời ông, bà, cha, mẹ, phải chăm sóc, yêu thương người già, …

* Cơ sở thực tiến: Qua các tác phẩm văn học của bộ môn làm quen văn học hình thành ở

trẻ khả năng phân biệt cái tốt, cái xấu, có tấm lòng hướng thiện, làm điều thiện, yêu cái đẹp Trong quá trình tìm hiểu về tác phẩm văn học trẻ đã tích cực phân tích, suy luận và

đã biết kết luận về vẫn đề đã phân tích, vì vậy trẻ đã thấm nhuần một số chuẩn mực đạo đức quen thuộc như con cái hiếu thảo với cha mẹ, vâng lời cha, mẹ, cô giáo mới là con ngoan…

* Một số biện pháp: Từ cơ sở lý luận và thực tiến trên tôi đã xây dựng một số biện pháp

tác động vào việc cảm thụ tác phẩm văn học của bộ môn “Làm quen văn học” giúp trẻ dễ dàng cảm nhận, nắm được nội dung, nhớ từng đoạn và có thể thuộc cả tác phẩm, ghi nhớ sâu sắc, ấn tượng, từ đó trẻ noi gương những nhân vật chính diện trong văn học để hoàn thiện bản than Đó là:

- Truyền thụ tác phẩm lôi cuốn trẻ bằng tranh, mô hình, …

- Sử dụng các câu hỏi sáng tạo

- Giúp trẻ ghi nhớ câu chuyện bằng thực hành (kểlại truyện, đóng kịch)

- Cho trẻ tự sáng tác truyện bằng tranh vẽ của chính trẻ

3 Đối tượng nghiên cứu:

Trẻ 5-6 tuổi, số lượng 37 trẻ

4 Giới hạn nghiên cứu:

- Một số biện pháp giúp trẻ học tốt môn văn học

- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 1/9/2013 đến ngày 15/ 1/ 2014

- Địa điểm: trường mẫu giáo

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Sách tìm hiểu tổ chức hoạt động nhận thức của trẻ theo hướng tích hợp, phân phối

Trang 3

chương trình giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi, tạp trí giáo dục mầm non, sách, báo, ….để xây dựng

cơ sở cho đề tài

- Dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp về các phương pháp giảng dạy có hiệu quả, tập huấn tăng cường tiếng việt cho trẻ, thực nghiệm sư phạm các biện pháp đã xây dựng, sử dựng phương pháp thống kê để kiểm chứng kết quả

II NỘI DUNG

1 Cơ cở lý luận:

Để góp phần giải quyết những khó khăn trong đời sống tiếp xúc hàng ngày của trẻ thông qua môn làm quen văn học trong trường mầm non sẽ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ nói, giúp trẻ phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức và óc thẩm mỹ cho trẻ Nổi bật ở đặc điểm nhận thức về cảm thụ văn học, trong trường mầm non đã xây dựng một chương trình dạy phù hợp và đề ra hệ thống phương pháp giảng dạy, các nguyên tắc dạy phù hợp với trẻ

Để chuyển tải được nội dung của môn văn học trong chương trình theo phương pháp và các nguyên các đó đòi hỏi người giáo viên phải dựa vào vốn kinh nghiệm để từ đó khai thác sự hứng thú hoạt động ở trẻ, tạo cơ hội cho trẻ mọi lúc, mọi nơi để từ đó trẻ phát triển các khả năng tìm tòi, khám phá, thực hành và trải nghiệm Song song với điều này giáo viên cũng cần phải đồng cảm, tôn trọng nhu cầu, lợi ích cá nhân trẻ, luôn tạo ra cho trẻ những cơ hội để trẻ phát triển, thích ứng, hòa nhập với thế giới xung quanh Tìm hiểu

về đặc điểm nhận thức của trẻ theo lứa tuổi để từ đó lựa chọn biện pháp giáo dục phù hợp, trẻ ở lứa tuổi này tìm hiểu và nhận thức về xã hội rất đơn giản, trẻ chỉ cảm nhận và phân biệt sự vật, hiện tượng theo dấu hiệu bên ngoài nhưng đã rất chính xác và đầy đủ Biết phân biệt tốt – xấu, yêu – ghét rõ ràng qua cảm thụ tác phẩm văn học và trong cuộc sống hàng ngày

Ở giai đoạn này tư duy trực quan hành động, tư duy hình tượng và tư duy trìu tượng đều phát triển nhưng ở mức độ khác nhau

Tư duy trực quan hành động vẫn tiếp tục phát triển trẻ ngày càng biết suy nghĩ, xem xét phương pháp và lựa chọn phương tiện để giải quyết nhiệm vụ nhận thức, tư duy Tuy vẫn còn nhiều tình huống thực hiện theo phương thức phán đoán

Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh mẽ và chiếm ưu thế nhờ có sự tích lũy được nhiều kinh nghiệm về mỗi quan hệ trong giao tiếp hàng ngày, nhận thức rõ hơn về

sự vật, hiện tượng, tuy nhiên mức độ khái quát của trẻ vẫn chưa cao, chỉ dừng lại ở các hiện tượng bề ngoài mà chưa đi sâu được vào bản chất dẫn đến một số kết luận còn ngây ngô, ngộ nghĩnh

Tư duy trìu tượng ở trẻ lứa tuổi này đã xuất hiện các khái niệm quen thuộc qua giao tiếp hàng ngày được biểu hiện rõ nét ở khả năng phán đoán và suy luận

Nhờ có sự phát triển hoạt động tạo hình mà khả năng tưởng tượng của trẻ được nâng lên, trí tưởng tượng phong phú, vừa gắn liền với tình huống hiện thực vừa mang tính chủ quan nên hình ảnh của tưởng tượng vừa ngây thơ vừa có chút sáng tạo phù hợp với thực

tế Trong trò chơi trẻ đã biết liên tưởng, tưởng tượng dựa vào những nhân vật trong văn học không giống, thậm chí khác hẳn nhau để làm vật thay thế và tưởng tượng nhập vai

Trang 4

khá tốt.

2 Thực trạng:

a/ Những thuận lợi và khó khăn:

* Thuận lợi: Giao thông đi lại thuận tiện, độ tuổi trẻ đồng đều, đa số trẻ ngoan, chăm học,

đi học đều, nhà trường và cha mẹ học sinh cũng quan tâm mua sắm đồ dùng phục vụ học tập cho trẻ

- Tận dụng được nhiều nguyên vật liệu phế thải để làm đồ dùng ngộ nghĩnh

- Số lượng đồ dùng đồ chơi do các công ty sản xuất để phục vụ cho môn làm quen văn học phong phú, đa dạng, đẹp mắt

* Khó khăn: 94,6% trẻ đều là con em nông dân nên ít được sự quan tâm, chăm sóc, bồi dưỡng của bố mẹ, trẻ còn nhút nhát, khả năng nhận thức còn kém Cơ sở vật chất không đảm bảo, chưa đáp ứng được 50% yêu cầu của ngành, lớp học mượn tiểu học không đúng quy cách của lớp mẫu giáo, không có nhà vệ sinh, chỗ cất đồ dùng đồ chơi không đảm bảo vệ sinh, đồ dùng phục vụ môn văn học còn hạn chế nên việc học tập của các cháu chưa đảm bảo

- Khi làm đồ dùng đồ chơi, giáo viên hạn chế về năng khiếu thẩm mỹ

- Trong lớp còn một số trẻ học yếu nên việc nhận thức còn hạn chế

b/ Những thành công và hạn chế:

* Thành công: Tận dụng được các phụ liệu sẵn có tại địa phương phục vụ cho hoạt động

học, trẻ tiếp thu bài nhanh, gây được sự chú ý từ những đồ dùng dạy học vốn là những cái quen thuộc mà nay lại trở nên sinh động, đẹp mắt

Ví dụ: Lọ sữa trẻ hay uống thường dùng xốp cắt làm tai, mắt, mũi gắn vào đã thành một con vật ngộ nghĩnh để sử dụng trong các câu chuyện kể về loài vật (ảnh 1) Hoặc là làm thành bộ ấm chén trong chủ đề gia đình, hộp thạch rau câu làm nồi, lọ nước ngọt, hộp sữa chưa làm máy xay sinh tố (ảnh 2), …Những thứ này vừa là đồ dùng vừa là đồ chơi mà lại giúp trẻ hứng thú với môn học, nắm được bài học nhanh, kỹ càng

Trang 5

Ảnh 1

Ảnh 2

* Hạn chế: Những đồ dùng, đồ chơi làm từ phế thải khó giữ gìn và khó vệ sinh chúng.

Trang 6

c/ Mặt mạnh, mặt yếu:

* Mặt mạnh: Đa số trẻ đã nhìn thấy và có thể còn được tiếp xúc với các con vật, mọi

người xung quanh nên trí tưởng tượng rất phong phú, từ bài học dễ liên tưởng đến thế giới xung quanh và từ thế giới xung quanh dễ liên tưởng đến bài học

* Mặt yếu: Ở gia đình trẻ hay nói tiếng địa phương nên trẻ chậm phản ứng với những đồ

dùng tuy quen thuộc nhưng khi cô nói bằng tiếng phổ thông đầu tiên trẻ vẫn tỏ ra ngỡ ngàng

d/ Nguyên nhân và yếu tố tác động:

- Do ảnh hưởng của môi trường xung quanh với điều kiện là vùng nông thôn nên trẻ được tiếp xúc với môi trường xung quanh sớm và phạm vi rộng nên mức độ nhận thức về thế giới xung quanh phong phú, đa dạng

- Đa số trẻ là con em nông dân cha mẹ ít quan tâm chăm sóc, đặc biệt là những ngày mùa bận rộn nên trẻ ít được giúp đỡ về mặt học tập từ phía gia đình và sức khỏe cũng không đảm bảo để trẻ đi học đều đặn

- Đa số là con em người dân tộc và ở nhà trẻ cũng nói tiếng địa phương nên ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ nhận thức do khó khăn về vốn từ phổ thông Trẻ tỏ ra ngỡ ngàng trước những tình huống cô đưa ra mặc dù nó rất hấp dẫn

- Điều kiện học tập của trẻ không đảm bảo cả về phương tiện học tập lẫn cơ sở vật chất, các

đồ dùng phục vụ học tập rất hạn chế đa số là do cô giáo tự làm nên chưa đảm bảo về mặt thẩm mỹ

e/ Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:

Với những thuận lợi về giao thông đi lại dễ dàng, toàn bộ trẻ trong lớp cùng một lứa tuổi, trẻ mạnh dạn, lanh lợi nên việc chuyển tải kiến thức đến trẻ đã đạt được những thành công nhất định Phần vì là trẻ em nông thôn được tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên với các đồ vật, con vật, đồ dùng sinh hoạt và dụng cụ lao động của cha mẹ tạo cho trí tưởng của trẻ rất phong phú nên giáo viên dễ tận dụng các phụ liệu sẵn có để làm đồ dùng, đồ chơi Trẻ cũng có thể biết sử dụng các phụ liệu đó sáng tạo ra đồ chơi mới theo

ý thích của trẻ Tuy nhiên những đồ chơi này khó vệ sinh hơn, khó bảo quản hơn, vì thế không thể sử dụng được chúng lâu dài mà phải thường xuyên thay chúng như thế sẽ mất nhiều thời gian trong việc làm đồ dùng, đồ chơi, việc soạn giảng sẽ không được kỹ càng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc truyền thụ kiến thức cho trẻ Phần vì con em đa số ở gia đình sử dụng tiếng địa phương tiếp xúc với từ mới bằng tiếng phổ thông cũng mất nhiều thời gian để trẻ nhớ chính xác, điều này cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuyển tải kiến thức của giáo viên tới trẻ

3 Giải pháp, biện pháp:

a/ Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:

- Nhằm giúp trẻ nhận thức được các chuẩn mực, đạo lý, đạo đức xã hội

Trang 7

- Thông qua các các nhân vật trong văn học giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, trí tuệ, tình cảm

xã hội và tích lũy thành kinh nghiệm sống

- Biết sử dụng các từ ngữ chuẩn xác về sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ xung quanh trẻ

- Nắm được quy luật của thế giới tự nhiên, cách giao tiếp, xử sự với mọi người xung quanh

b/ Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:

* Nội dung: Như chúng ta đã biết nội dung dạy trẻ nhận thức về tình cảm xã hội, phát

triển ngôn ngữ, trí tuệ, …qua môn văn học được phân bố đồng đều trong chương trình giảng dạy trẻ ở 3 độ tuổi và phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc dạy học phát triển.

- Nguyên tắc học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với cuộc sống

- Nguyên tắc trực quan

- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính trình tự

- Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức

- Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học

- Nguyên tắc đảm bảo tính ý thức và tính tích cực của trẻ

Đối với trực quan để dạy trẻ cảm thụ văn học yêu cầu giáo viên cần tổ chức ở không gian rộng rãi, trẻ dễ quan sát đồ dùng trực quan, cô kể diễn cảm, tuy nhiên trong qua trình

tổ chức, hướng dẫn giáo viên thường mắc phải những hạn chế sau: Đồ dùng trực quan cô không thể sử dụng cho chuyển động liên hoàn được do có nhiều nhân vật trong chuyện nên đã giảm bớt phần hấp dẫn, lôi cuốn trẻ dẫn đến kết quả giờ học không đạt như mong muốn, chưa phát huy được tính tích cực của trẻ Một trong những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của trẻ là đặc điểm riêng của lớp mẫu giáo còn hạn chế về tiếng phổ thông, trẻ ở vùng sâu, vùng xa đều kiện kinh tế của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, trẻ em chưa được quan tâm đúng theo yêu cầu chăm sóc của trẻ nhỏ, sự phát triển

về thể chất của trẻ chênh lệch nhiều

Là một giáo viên được học tập và nắm vững chuyên môn với tấm lòng yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình, tích cực trong công việc nghiên cứu các biện pháp tôi luôn học hỏi đồng nghiệp những cô giáo đã có nhiều thành tích công tác giảng dạy Tôi đã hiểu được mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng, tính cấp thiết để hình thành một nhân cách con người mới qua môn văn học đối với trẻ Mầm non, nên tôi đã cố gắng tìm ra những biên pháp tốt nhất phù hợp nhất với đặc điểm của địa phương và của lớp để đạt được kết quả cao trong việc dạy trẻ Tôi thường xuyên tham gia dự giờ, thao giảng về môn văn học ở trong nhà trường Để đạt được những phương pháp, hình thức đổi mới chúng tôi đã lên kế hoạch cụ thể cho từng tiết học và có tài liệu để cho cô dạy tốt, giúp trẻ học tốt

* Cách thức thực hiện: Sử dụng đồ dùng, đồ chơi trực quan hấp dẫn.

- Tôi sử dụng mô hình kể về câu chuyện “Những giọt mồ hôi đáng khen” trong chủ đề

Trang 8

bản thân, dẫn dắt trẻ hướng vào nội dung câu chuyện bằng lời giới thiệu: Trong thế giới động vật có một con vật hiền lành, đáng yêu và thường được các nhà văn cho trở thành nhân vật chính trong chuyện, đó là con thỏ Con thỏ là động vật sống ở đâu các cháu ? Thỏ có ích lợi gì đối với đời sống con người ? Bây giờ cô sẽ kể cho các cháu chuyện nói

về chú thỏ út trong chuyện “Những giọt mồ hôi đáng khen”, các cháu cùng lắng nghe xem chuyện diễn biến như thế nào nhé !

Cô kể kể chuyện 2 lần, lần 1 kể bằng mô hình, lần 2 kể bằng hình ảnh trên máy tính, kể xong giảng giải từ khó, trích dẫn xong bắt đầu đàm thoại Khi đàm thoại hướng trẻ chú ý vào từng đoạn chuyện qua mô hình trẻ không phân tán sự chú ý, các câu hỏi có thể trả lời

cả lớp hoặc cá nhân, các câu trả lời bằng lời thoại của nhân vật trong chuyện nên cho cả lớp trả lời đồng thanh và nhắc lại nhiều lần trẻ sẽ dễ nhớ lời thoại và dễ thuộc đoạn chuyện Đặc biệt chú ý đến câu hỏi sáng tạo bởi câu hỏi sáng tạo giúp trẻ suy luận, liên tưởng có chủ đích Ví dụ câu hỏi:

+ Theo cháu những giọt mồ như thế nào là đáng khen ?

+ Chúng ta cần làm gì để có được những giọt mồ hôi đáng khen ?

Khi gợi mở cho trẻ trả lời câu hỏi theo trình tự câu chuyện có xen lẫn các câu hỏi sáng tạo cũng sẽ giúp cả lớp chú ý hơn đến bài học và tích cực suy nghĩ hơn khi giả sử tình huống đó là bản thân trẻ Như vậy kết quả đạt được của tiết học sẽ cao hơn

Việc gây hứng thú ngay từ đầu tiết học bằng đồ dùng trực quan không những tạo được

sự chú ý cho trẻ ngay từ đầu mà còn tạo cho trẻ một tâm lý thoái mái để trẻ dễ dàng tiếp thu nội dung trọng tâm của tiết học

- Lựa chọn và sử dụng trực quan đúng lúc, đúng chỗ

Xuất phát từ đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo là tư duy trực quan hình tượng nhưng

do nhiều trẻ tiếp thu chậm, nên trong quá trình dạy trẻ tôi thường kết hợp giữa vật thật, tranh ảnh và mô hình với nhau

Đồ dùng trực quan phải đủ, đẹp, hấp dẫn, phù hợp với từng tiết học, đúng chủ điểm Thao tác cô đưa ra trực quan phải rõ ràng, liên hoàn, dứt khoát để thu hút sự chú ý, lôi cuốn trẻ vào nội dung bài học

Đối với trực quan có nhược điểm riêng biệt, đặc biệt tôi sử dụng câu đố để đưa trực quan ra

Ví dụ: Vào tiết kể chuyện “Gà trống và vịt” cô sẽ đưa ra câu đố về gà trống và vịt, cho trẻ giải câu đố rồi trò chuyện dẫn dắt vào tiết học

Câu đố: Con gì mào đỏ Trên bờ lạch bạch chậm ghê

Gáy ò ó o Ao hồ nhẹ lướt hả hê quên ngày

Từ sáng tinh mơ (Là con gì ?)

Gọi người thức dậy

(Là con gì ?)

Trang 9

Cô hỏi: Gà trống và vịt là những con vật sống ở đâu ?

Chúng có ích lợi gì đối với đời sống con người ?

Có một câu chuyện nói về đôi bạn thân là vịt và chú gà trống khoác lác, các cháu cùng lắng nghe xem diễn biến câu chuyện như thế nào nhé !,

Để liên kết các nội dung trong một tiết học được liên hoàn, chuyển sang nội dung mới một cách linh hoạt và hướng trẻ vào đồ dùng đưa trực quan ra một cách hợp lý không có động tác thừa, ngắt quãng giữa các câu thoại quá lâu hay các câu hỏi lặp đi lặp lại nhàm chán, ngoài sử dụng câu đố ra tôi thường sử dụng các câu chuyện ngắn, tạo các tình huống nhỏ, các bài hát,

Ví dụ: Cô bắt nhịp cả lớp hát bài “Đố biết con gì” và hỏi trẻ đó là bài hát gì ? Trong bài hát nói đến những con vật nào ? Những con vật đó là động vật sống ở đâu ? Con vật nào hung giữ, con vật nào hiền lành ?

Có một câu chuyện nói về bạn hươu hiền lành, dễ thương, biết nhận lỗi khi có lỗi, đó là chuyện “Hươu con biết nhận lỗi” các con cùng chú ý lắng nghe cô kể chuyện nhé ! Khi giới thiệu bài là nội dung tích hợp của các môn học khác vào hoạt động truyền thụ tác phẩm bằng câu hỏi nhẹ nhàng, hợp lý điều đó đã phát huy được tính tích ở trẻ

Ví dụ: Để khắc sâu kiến thức về chủ đề thì gợi nhớ và cho trẻ nhắc lại, ra câu đố liên quan đến chủ đề và bài học cho trẻ suy nghĩ, cuối tiết học cho hoạt động tạo hình nặn hoặc vẽ các nhân vật trẻ yêu thích hay đóng kịch để khắc sâu cột chuyện,

Khi trẻ thực hiện hoạt động tạo hình cuối tiết học như nặn hoặc vẽ các nhân vật trẻ yêu thích trẻ sẽ biết liên tưởng, tưởng tượng đến hình tượng đẹp của nhân vật, biết thổi hồn cho tác phẩm của mình, biết nhận xét và nói lên cảm xúc, suy nghĩ của mình về nhân vật và nên học tập gì ở nhân vật đó

Khi thực hiện đóng kịch trẻ nhập vai các nhân vật trẻ sẽ biết được đặc điểm, tính cách nổi bật của các nhân vật trong các câu chuyện, phản diện và chính diện là 2 nhân vật đối lập nhau về tính cách, trẻ luôn yêu thích và nhận mình là nhân vật chính diện Qua đây trẻ biết được rằng sống tốt sẽ được mọi người yêu mến, để được mọi người yêu mến thì phải biết yêu thương, giúp đỡ mọi người, phải hiền lành, siêng năng, chăm chỉ, hiếu thảo,

kẻ ác luôn bị mọi người ghét bỏ, không được mọi người yêu quý, giúp đỡ Trẻ được giáo dục về đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, phát triển ngôn ngữ, làm giàu vốn từ, rèn luyện khả năng phát âm, cách diễn đạt mạch lạc Các bài thơ, câu chuyện mà trẻ nắm được nội dung

là cô biết chuyển tải nội dung tác phẩm và cảm xúc nghệ thuật của tác giả qua các hình thức nghệ thuật hấp dẫn, phong phú, đa dạng Giúp trẻ phát huy được tính tích cực cá nhân, tự tin, độc lập, sáng tạo

Với việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan hợp lý, hấp dẫn trẻ tôi đã tạo ra các tình huống liên tục trong suốt quá trình trẻ tham gia các hoạt động “Làm quen với văn học” giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách nhanh, sâu sắc và bền vững

- Sưu tầm một số đồ chơi mới:

Trò chơi là một trong những trực quan vô cùng quan trọng trong hoạt động học của trẻ

Trang 10

mẫu giáo, trẻ được “Học mà chơi – chơi mà học” là một đặc điểm nổi bật của trẻ mẫu giáo thông qua các hình thức chơi, trẻ sẽ nhận thức bài học một cách tự nhiên, nhẹ nhàng không căng thẳng, không gò ép, trẻ hào hứng chơi khi trong trò chơi xuất hiện những trực quan hấp dẫn, bất ngờ

Ví dụ:: Trò chơi “Hoạ sỹ tài ba”

Củng cố lại bài vào cuối tiết học trẻ vẽ nhân vật trẻ yêu thích trong chuyện “Qủa bầu tiên” Khi nghe kể chuyện trẻ đã được thấy tranh ảnh các nhân vật trong chuyện, khi thực hiện nhiệm vụ của trò chơi có trẻ chỉ vẽ nhân vật trẻ yêu thích nhưng cũng có trẻ vẽ tất cả các nhân vật và vẽ sáng tạo thêm các chi tiết theo tưởng tượng của cá nhân trẻ cho nhân vật đấy là người tốt, nhân vật đáng yêu hay đáng ghét,

Tuy nhiên các trò chơi của các tiết học không nên lặp đi lặp lại một trò chơi sẽ dẫn đến trẻ bị nhàm chán, không hứng thú tham gia hoạt động Các trò chơi phải phát huy tính sáng tạo tính tích cực, sáng tạo, khơi dậy hứng thú của trẻ, chính vì vậy tôi đã nghiên cứu, xác định nội dung bài dạy để chọn trò chơi cho phù hợp, tuỳ từng trò chơi mà tôi tổ chức cho trẻ chơi theo nhóm, tổ, cá nhân và tập thể

Qua việc sử dụng đồ chơi để tạo nên các hình ngộ nghĩnh vui mắt trong các giờ làm quen với với văn học, tiết học trở nên sôi nổi, trẻ tập trung chú ý theo dõi, lắng nghe tình tiết nội dung thơ – truyện, tinh thần thoải mái nên trẻ rất hào hứng khi vào tiết học Điều này

đã tạo cho trẻ hứng thú hăng say trong quá trình tham gia hoạt động học tập

- Xây dựng môi trường học tập trong và ngoài lớp: Môi trường học tập cũng là một yếu

tố trực quan trực tiếp tác động đến trẻ, chính vì vậy việc xây dựng cảnh quan môi trường xung quanh cũng cần được đặc biệt quan tâm

+ Trang trí, sắp xếp lớp học phòng học hài hoà hợp lý sẽ tạo được sự chú ý, sẽ hấp dẫn lôi cuốn trẻ vào giờ học theo giai đoạn, theo chủ điểm và theo nội dung từng bài

+ Tuỳ vào nội dung của từng bài để bố trí trực quan xung quanh lớp như giá đồ chơi, tranh treo tường hợp lý để trẻ quan sát, trẻ sẽ có những trao đổi, bình luận với bạn cũng như liên tưởng đến thế giới xung quanh

Ví dụ: Chủ điểm trường Mầm non

+ Treo tranh về ngôi trường mới với những đu quay, cầu trượt, nhà banh xinh sắn các bé

ăn mặc đẹp đứng ở cổng trường chào ba mẹ, chào cô giáo, giáo dục lễ giáo cho trẻ + Đồ dùng trong lớp sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng đập vào mắt trẻ để trẻ thường thấy và cô thường xuyên gợi hỏi để trẻ nhớ cũng là một cách học, học mọi lúc, mọi nơi

c/ Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp:

- Xây dựng các biện pháp, các giải pháp mới

- Nắm rõ tình hình lớp học và mức độ nhận thức, cảm thụ văn học

- Khảo sát kết quả trước khi áp dụng các thủ thuật trực quan mới xây dựng

- Áp dụng biện pháp trực quan mới đủ đồ dùng phục vụ học tập, đẹp mắt, lôi cuốn trẻ

- Tạo điều kiện cho trẻ được thực hành tư duy, liên tưởng đến các câu chuyện đã học

Ngày đăng: 12/01/2019, 06:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w