1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYÊN ĐỀ GIÁO DỤC BẢO VỆ SỨC KHỎE

113 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2005, trong số 17,5 triệu người tử vong do các bệnh tim mạch thì tăng huyết áp là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong của 7,1 triệu người.. Tăng huyết áp nếu không được điều trị đúng v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VỤ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VỤ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

TÀI LIỆU

THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NGƯỜI HỌC, CẬP NHẬT KIẾN THỨC,

KỸ NĂNG, CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC BẢO VỆ SỨC KHỎE

Trang 3

2 Thế nào là tăng huyết áp … Trang 8

3 Các biểu hiện của bệnh tăng huyết áp ……… ……… Trang 9

4 Nguyên nhân bệnh tăng huyết áp ……… .……… Trang 10

5 Các biến chứng thường gặp của tăng huyết áp……… ….Trang 14

6 Nhận biết các dấu hiệu của bệnh tăng huyết áp như thế nào .… Trang 17

7 Phòng tránh bệnh tăng huyết áp ……… ….Trang 20

8 Các xét nghiệm cần làm khi bạn bị tăng huyết áp: ……… ….Trang 28

9 Điều trị tăng huyết áp ……… … Trang 29

II TAI BIẾN MẠCH NÃO ……… .………… Trang 33

1 Tai biến mạch máu não là gì? ……… .………… Trang 33

2 Nguyên nhân gây bệnh tai biến mạch máu não ……… Trang 35

3 Hậu quả của tai biến mạch não: ……… ……… ….Trang 37

4 Những dấu hiệu của tai biến mạch não……… Trang 37

5 Xử trí tai biến mạch não ……… …… Trang 43

Trang 4

CHUYÊN ĐỀ 2 : CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI Trang 65

PHẦN I: NỘI DUNG Trang 65

1 Người cao tuổi là gì ……… … ……… ……… Trang 65 1.1 Khái niệm: ……… ……… ……… Trang 65 1.2 Đặc điểm người cao tuổi ……… ……… Trang 65

2 Vai trò dinh dưỡng đối với người cao tuổi ……… …Trang 69

3 Chế độ ăn của người cao tuổi như thế nào? ……… …Trang 81

4 Các bệnh liên quan đến sức khỏe người cao tuổi

và cách phòng bệnh……… ……… ……… Trang 88

5 Cách vận động phù hợp với sức khỏe người cao tuổi …… Trang 96

6 Các biện pháp phòng tránh tình trạng suy giảm trí nhớ.… Trang 98

7 Cách chăm sóc người cao tuổi ……… ……… Trang 102

8 Cách tổ chức hoạt động văn hóa thể thao

ở cộng đồng cho người cao tuổi ……… ……… … …Trang 106

9 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… …………Trang 107

PHẦN II: HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ ………… Trang 109

I MỤC TIÊU: ……… ……… Trang 109

II CHUẨN BỊ ……… ……… …Trang 109 III GỢI Ý TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG… ……… …Trang 109

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Học tập là một trong những nhu cầu cốt yếu, đồng thời cũng là quyền lợi chính đáng của mỗi con người Xây dựng xã hội học tập để tạo điều kiện cho mỗi người dân có thể học tập suốt đời, học tập bất kỳ ở đâu là điều mà mọi quốc gia tiên tiến trên thế giới đều đang hướng tới

Ở Việt Nam bên cạnh việc phát triển việc giáo dục ở các cấp học phổ thông, các trường chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học, việc học tập tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên và Trung tâm học tập cộng đồng cũng được hết sức chú trọng

Thực hiện Thông tư số 26/2010/TT.BGDĐT ngày 27 tháng 10 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục thường xuyên đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thực, kỹ năng, chuyển giao công nghệ bao gồm 5 chương trình: chương trình giáo dục pháp luật, chương trình giáo dục văn hóa - xã hội, chương trình giáo dục bảo vệ môi trường, chương trình giáo dục bảo vệ sức khỏe và chương trình giáo dục phát triển kinh tế Vụ Giáo dục thường xuyên được giao nhiệm vụ chủ trì biên soạn các tài liệu dưới dạng các chuyên đề phục vụ cho việc triển khai thực hiện chương trình trên tại các Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Trung tâm Học tập cộng đồng

Căn cứ vào mục tiêu, nội dung của các chương trình trên, các chuyên đề được biên soạn theo tinh thần đáp ứng yêu cầu của người học: cần gì học nấy, cần trước học trước những vấn đề thiết thực, sát sườn, phù hợp với thực tiễn của đất nước và của địa phương

Căn cứ vào danh mục các chuyên đề được biên soạn đáp ứng nhu cầu người học đã được phê duyệt kèm theo Quyết định số 3455/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục thường xuyên tổ chức biên soạn hai chuyên đề thuộc lĩnh vực giáo dục bảo vệ sức khỏe:

Chuyên đề 1: Bệnh huyết áp và tai biến mạch máu não

Chuyên đề 2: Hướng dẫn chăm sóc sức khỏe người cao tuổi

Trang 6

Các chuyên đề trên được biên soạn nhằm thực hiện các mục tiêu của các chương trình giáo dục thường xuyên đáp ứng yêu cầu người học cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ là những vấn đề còn mới mẻ, chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệm, trong khi yêu cầu của người học rất phong phú, đa dạng

vì thế chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong muốn được tiếp nhận những ý kiến nhận xét, góp ý của người học, người đọc để tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống các chuyên đề đáp ứng yêu cầu người học ngày càng hữu ích

và đạt được hiệu quả cao hơn

VỤ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

Trang 7

CHUYÊN ĐỀ I BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

PHẦN I: CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHUYÊN ĐỀ

I BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh có tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong đứng hàng đầu Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, tăng huyết áp ảnh hưởng đến sức khỏe của hơn 1 tỷ người trên toàn thế giới và là yếu

tố nguy cơ tim mạch quan trọng nhất liên quan đến bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não và bệnh thận mạn tính Năm 2005, trong số 17,5 triệu người

tử vong do các bệnh tim mạch thì tăng huyết áp là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong của 7,1 triệu người

Tỷ lệ người bị bệnh tăng huyết áp trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện đang ở mức rất cao, đặc biệt ở các nước phát triển Tỷ lệ mắc bệnh ở một số nước như: Hoa Kỳ (28,7%, 2000); Canada (22%, 1992); Anh (38,8%, 1998); Thụy Điển (38,4%, 1999); Ai Cập (26,3%, 1991); Cameroon (15,4%, 1995); Trung Quốc (27,2%, 2001); Thái Lan (20,5%, 2001); Singapore (26,6%, 1998) Tần suất tăng huyết áp nói chung trên thế giới hiện naylà khoảng 41% ở các nước phát triển và 32% ở các nước đang phát triển

Tại Việt Nam, tần suất tăng huyết áp ở người lớn ngày càng gia tăng Trong những năm 1960 tỷ lệ tăng huyết áp là khoảng 1%, năm 1992 là 11,2%, năm 2001 là 16,3% và năm 2005 là 18,3% Theo một điều tra gần đây nhất (2008) của Viện tim mạch Việt Nam tiến hành ở người lớn (≥ 25 tuổi) tại 8 tỉnh

và thành phố của nước ta thì thấy tỷ lệ tăng huyết áp đã tăng lên đến 25,1% nghĩa

là cứ 4 người lớn ở nước ta thì có 1 người bị tăng huyết áp

Trong số những người bị tăng huyết áp có tới 52% không biết mình bị tăng huyết áp; 30% của những người đã biết bị tăng huyết áp nhưng vẫn không có một biện pháp điều trị nào; và 64% những người đó tăng huyết áp đã được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp về số huyết áp mục tiêu Như vậy hiện nay Việt Nam có khoảng 9,7 triệu người dân hoặc là không biết bị tăng huyết áp, hoặc là tăng huyết áp nhưng không được điều trị hoặc có điều trị nhưng chưa đưa được số huyết áp về mức bình thường

Trang 8

Tăng huyết áp nếu không được điều trị đúng và đầy đủ sẽ có rất nhiều biến chứng nặng nề, thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình

và xã hội

1 Huyết áp là gì ?

Huyết áp hay còn gọi là huyết áp động mạch là áp lực của dòng máu tác động lên thành động mạch Huyết áp được tạo ra do lực co bóp của tim và sức cản của động mạch

Khi co bóp, máu sẽ được bơm ra ngoài và ép vào thành động mạch làm mạch máu căng lên Số đo huyết áp ở thời điểm này gọi là huyết áp tâm thu hay huyết áp tối đa Sau khi co bóp tim sẽ giãn ra và thành động mạch sẽ trở về trạng thái ban đầu Số đo huyết áp tại thời điểm này gọi là huyết áp tâm trương hay huyết áp tối thiểu

Theo tổ chức y tế thế giới, huyết áp bình thường đo ở cánh tay là = 120/80 mmHg Đây là huyết áp trung bình, bình thường đối với người lớn Huyết áp có đặc điểm là thay đổi theo thời gian, trạng thái tâm sinh lý và nhiều yếu tố khác

2 Thế nào là tăng huyết áp

Tăng huyết áp là

khi huyết áp tâm thu

và/hoặc huyết áp tâm trương cao hơn mức bình thường Người ta thường dùng khái niệm huyết áp tâm thu (hoặc huyết áp tối đa) cho trị số huyết áp trên và huyết áp tâm trương (hoặc huyết áp tối thiểu) cho trị số huyết áp dưới Ví dụ khi

Trang 9

bác sĩ ghi huyết áp của bạn : 180/95mmHg tức là huyết áp tâm thu của bạn là 180mmHg và huyết áp tâm trương là 95mmHg

Theo tổ chức y tế thế giới, tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu từ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên

Phân loại Huyết áp ở người lớn 18 tuổi theo hội tăng huyết áp quốc tế, JNC VII và WHO (1999)

Bình thường cao 130 – 139 Và/hoặc 85 – 89

Tăng huyết áp độ 1 140 – 159 Và/hoặc 90 – 99

Tăng huyết áp độ 2 160 – 179 Và/hoặc 100 – 109

Tăng huyết áp tâm thu

đơn độc

≥ 140 Và < 90

3 Các biểu hiện của bệnh tăng huyết áp

Đại đa số các bệnh nhân tăng huyết áp thường không thấy triệu chứng gì Ngay cả khi tăng huyết áp gây ra một triệu chứng nào đó thì các triệu chứng này cũng thường là nhẹ và không đặc hiệu (mơ hồ và có thể có trong nhiều loại bệnh khác nhau), do đó tăng huyết áp thường được gọi là "kẻ sát thủ im lặng" Bệnh nhân thường không biết mình bị tăng huyết áp cho đến khi họ đo huyết áp

Các triệu chứng của tăng huyết áp:

- Nhức đầu

- Chóng mặt

- Nhìn mờ

- Buồn nôn

Trang 10

Thường thì bệnh nhân sẽ không đến bác sĩ cho đến khi những triệu chứng

do các nội tạng bị tổn thương gây ra xuất hiện do tăng huyết áp kéo dài Những loại tổn thương nội tạng thường gặp do tăng huyết áp kéo dài gây ra là:

- Nhồi máu cơ tim

4 Nguyên nhân bệnh tăng huyết áp

Khoảng 90- 95% bệnh nhân tăng huyết áp không rõ nguyên nhân (tăng huyết áp tiên phát) Bên cạnh các yếu tố nguy cơ làm tăng huyết áp tiên phát như

độ tuổi, di truyền, chủng tộc, điều kiện kinh tế xã hội, giới (nam thường bị tăng huyết áp nhiều hơn nữ) thì các yếu tố nguy cơ của lối sống như căng thẳng, lười vận động, ăn uống không hợp lý với chế độ ăn quá nhiều chất béo, ăn mặn, hút thuốc lá, béo phì là những nguyên nhân gây gia tăng tỉ lệ bệnh tăng huyết áp

4.1 Yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp

Hiện nay Y học mới chứng minh có khoảng 5% bệnh nhân bị THA là có nguyên nhân để điều trị triệt để, còn khoảng 95% bệnh nhân bị THA còn lại là không có nguyên nhân nên được gọi là bệnh THA (hay THA tiên phát) nhưng đồng thời y học cũng chứng minh có một số yếu tố nguy cơ gây nên bệnh THA

Vì vậy để phòng bệnh THA, mỗi người nên cố gắng hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ gây bệnh THA sẽ được đề cập dưới đây:

* Hút thuốc lá, thuốc lào: Trong thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất kích

thích đặc biệt có chất nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây tăng huyết áp, nhiều nghiên cứu cho thấy hút một điếu thuốc lá có thể làm tăng huyết áp tâm thu lên tới 11mmHg và huyết áp tâm trương lên 9mmHg và kéo dài trong 20-30 phút Vì vậy nếu không hút thuốc lá cũng là biện pháp phòng bệnh THA

Trang 11

* Tiểu đường: Ở người bị tiểu đường, tỷ lệ bệnh nhân bị THA cao gấp đôi

so với người không bị tiểu đường Khi có cả THA và tiểu đường sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng mạch máu lớn và nhỏ, làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong so với bệnh nhân THA đơn thuần Vì vậy, nếu bị bệnh tiểu đường cần điều trị tốt bệnh này sẽ góp phần khống chế được bệnh THA kèm theo

* Rối loạn lipid máu: Cholesterol và triglycerid máu là các thành phần

chất béo ở trong máu Chúng thường được gọi là các thành phần mỡ của máu hay chính xác hơn là lipid máu Nồng độ cholesterol máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa động mạch và dần dần làm hẹp lòng các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác trong cơ thể Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi và cũng chính là yếu tố gây tăng huyết áp Cholesterol toàn phần bao gồm nhiều dạng cholesterol trong đó được nghiên cứu nhiều nhất là cholesterol trọng lượng phân tử cao (HDL-C) và cholesterol trọng lượng phân tử thấp (LDL-C) Nồng độ LDL-C trên 3,0mmol/dl là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch Ngược lại, HDL-C được xem là có vai trò bảo vệ Hàm lượng HDL-C trong máu cao thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp (tối thiểu cũng phải cao hơn 1,0mmol/dl) Vì vậy cần ăn chế độ giảm lipid máu sẽ giúp phòng bệnh tim mạch nói chung và bệnh tăng huyết áp nói riêng Chú ý trong khẩu phần ăn hàng ngày, không nên ăn: mỡ và phủ tạng động vật Nên ăn nhiều rau và hoa quả tươi Chú ý

ăn cá tươi (ít nhất 2 lần/tuần) vì có nhiều tác dụng tốt đối với bệnh tim mạch

* Tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp: Theo thống kê của nhiều

tác giả cho thấy bệnh tăng huyết áp có thể có yếu tố di truyền Trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh tăng huyết áp thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn Vì vậy, những người mà tiền sử gia đình có người thân bị tăng huyết áp càng cần phải cố gắng loại bỏ các yếu tố nguy cơ mà chúng tôi đã trình bày trong bài này Như vậy mới có thể phòng tránh được bệnh THA

* Tuổi cao: Tuổi càng cao thì tỷ lệ tăng huyết áp càng nhiều, do thành

động mạch bị lão hóa và xơ vữa làm giảm tính đàn hồi và trở nên cứng hơn vì thế làm cho huyết áp tâm thu tăng cao hơn còn gọi là tăng huyết áp tâm thu đơn thuần Để phòng bệnh tăng huyết áp thì mỗi người cần có một lối sống lành mạnh: Làm việc khoa học; nghỉ ngơi hợp lý; ăn uống điều độ, hạn chế dùng nhiều chất béo, hạn chế dùng nhiều chất kích thích như rượu - bia - cà phê - thuốc lá; tập thể dục thường xuyên có như vậy mới làm chậm quá trình lão hóa và gián tiếp phòng bệnh THA

Trang 12

* Thừa cân, béo phì: Cân nặng có quan hệ khá tương đồng với bệnh tăng

huyết áp, người béo phì hay người tăng cân theo tuổi cũng làm tăng nhanh huyết

áp vì vậy chế độ làm việc, ăn uống hợp lý và luyện tập thể dục thể thao thường xuyên sẽ tránh dư thừa trọng lượng cơ thể, đồng thời cũng cũng là biện pháp rất quan trọng để giảm nguy cơ gây tăng huyết áp, nhất là ở những người cao tuổi

*Ăn mặn: Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy chế độ ăn nhiều muối

(natri chlorua) thì tần suất mắc bệnh tăng huyết áp tăng cao rõ rệt Người dân ở vùng biển có tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp cao hơn nhiều so với những người ở đồng bằng và miền núi Nhiều bệnh nhân tăng huyết áp ở mức độ nhẹ chỉ cần ăn chế độ giảm muối là có thể điều trị được bệnh Chế độ ăn giảm muối là một biện pháp quan trọng để điều trị cũng như phòng bệnh THA

* Uống nhiều bia, rượu: Uống rượu, bia quá mức cũng là yếu tố nguy cơ

gây bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng Đối với những người phải dùng thuốc để điều trị tăng huyết áp thì uống rượu, bia quá mức hoặc nghiện rượu sẽ làm mất tác dụng của thuốc hạ áp như vậy làm cho bệnh càng nặng hơn Ngoài ra, uống rượu, bia quá mức còn gây bệnh xơ gan và các tổn thương thần kinh nặng nề khác từ đó gián tiếp gây tăng huyết áp.Vì vậy, không nên uống quá nhiều rượu, bia để phòng bệnh tăng huyết áp Hàng ngày, mỗi người có thể uống khoảng 30ml rượu mạnh hoặc 50ml rượu vang hoặc 300ml bia Nếu uống nhiều hơn sẽ là yếu tố nguy cơ mắc nhiều bệnh nói chung và bệnh THA nói riêng

* Ít vận động thể lực (lối sống tĩnh tại): Lối sống tĩnh tại cũng được coi

là một nguy cơ của bệnh tăng huyết áp Việc vận động hằng ngày đều đặn từ 30 đến 45 phút mang lại lợi ích rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung

và bệnh tăng huyết áp nói riêng

* Có nhiều stress (căng thẳng, lo âu quá mức): Nhiều nghiên cứu đã

chứng minh rằng căng thẳng thần kinh, stress làm tăng nhịp tim Dưới tác dụng của các chất trung gian hóa học là Adrenalin, noradrenalin làm động mạch bị co thắt dẫn đến tăng huyết áp Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình tính tự lập, kiên nhẫn và luôn biết làm chủ bản thân trước mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống

Có như vậy mới có thể hạn chế tối đa mọi stress đồng thời cũng chính là phòng bệnh tăng huyết áp

Trên đây là một số yếu tố nguy cơ gây bệnh tăng huyết áp đã được y học chứng minh và các biện pháp phòng tránh đã cho thấy hiệu quả rất tốt trên lâm

Trang 13

4.2 Nguyên nhân tăng huyết áp: Trong khoảng 5- 10% trường hợp thì

bệnh tăng huyết áp được gây ra bởi một bệnh khác (tăng huyết áp thứ phát) Ở những trường hợp này, khi bệnh chính được chữa khỏi thì huyết áp thường trở về bình thường Nguyên nhân gây ra tăng huyết áp thứ phát bao gồm:

- Hở van động mạch chủ (gây tăng huyết áp tâm thu đơn độc)

- Hẹp eo động mạch chủ (gây tăng huyết áp chi trên)

Trang 14

5 Các biến chứng thường gặp của tăng huyết áp

Tăng huyết áp cũng đã và đang trở thành nguy cơ hàng đầu của các biến chứng tim mạch Đối với người bị tăng huyết áp, nguy cơ đột quỵ (tai biến mạch máu não) tăng gấp 4 lần, nguy cơ bị nhồi máu cơ tim tăng gấp 2 lần so với người bình thường Nguy cơ tử vong sẽ tăng gấp đôi khi chỉ số huyết áp tăng mỗi 20mmHg đối với huyết áp tâm thu và tăng 10mmHg đối với huyết áp tâm trương Năm 2008, trên toàn thế giới có khoảng 16,5 triệu người chết vì tăng huyết áp

Các biến chứng của tăng huyết áp rất nặng nề như tai biến mạch máu não (TBMMN), nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận, mù lòa Những biến chứng này

có thể gây tử vong, gây tàn phế cho người bệnh và trở thành gánh nặng về tinh thần và vật chất cho gia đình bệnh nhân và xã hội

5.1 Các biến chứng tim mạch

* Cơn đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim: Tăng huyết áp lâu ngày làm hư lớp nội mạc (lớp áo trong cùng) của mạch vành, làm các phân tử cholesterol tỉ trọng thấp (LDL) dễ dàng đi từ lòng mạch máu vào lớp áo trong động mạch vành, sau đó làm hình thành mảng xơ vữa động mạch và làm hẹp mạch vành Khi động mạch vành bị hẹp nhiều, bệnh nhân thấy đau ngực, nghẹn trước ngực khi gắng sức, khi vận động nhiều, leo cầu thang, cơn đau giảm khi bệnh nhân ngừng gắng sức (triệu chứng bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ) Đau trước ngực có thể lan lên

cổ, lan ra tay trái và ra sau lưng Nếu mảng xơ vữa động mạch bị nứt, vỡ thì trong động mạch vành hình thành huyết khối, làm tắc động mạch vành và làm bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim Khi bị nhồi máu cơ tim, bệnh nhân thấy đau dữ dội trước ngực, khó thở, toát mồ hôi, có thể đau lan lên cổ, lan ra sau tay trái, ra sau lưng

* Suy tim: Tăng huyết áp cũng làm cơ tim phì đại (cơ tim dày lên)

Trang 15

Bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim do tăng huyết áp sẽ có một vùng cơ tim bị chết, không thể co bóp được, dẫn đến suy tim Tăng huyết áp lâu ngày làm cơ tim phì đại, nếu không được điều trị cũng sẽ dẫn đến suy tim

(Nhồi máu cơ tim)

5.2 Các biến chứng về não

* Xuất huyết não: Khi huyết áp lên quá cao, mạch máu não không chịu

nổi áp lực cao có thể bị vỡ, lúc đó bệnh nhân bị xuất huyết não, gây liệt nửa người, liệt hoàn toàn, nặng thì có thể tử vong (triệu chứng của bệnh nhân tùy

Trang 16

vùng xuất huyết lớn hay nhỏ và tùy vị trí vùng xuất huyết).

(Xuất huyết não) (Tắc mạch não)

(Bệnh thận do tăng huyết áp) (Xuất huyết võng mạc do tăng huyết áp)

5.4 Biến chứng về mắt

Tăng huyết áp làm hư mạch máu võng mạc, thành động mạch dày và cứng làm hẹp lòng mạch lại Khi có quá trình xơ cứng thành mạch thì động mạch sẽ đè bẹp tĩnh mạch và cản trở tuần hoàn làm bệnh nhân hỏng mắt tiến triển theo các giai đoạn

Trang 17

Tăng huyết áp còn làm xuất huyết võng mạc, phù đĩa thị giác làm giảm thị lực, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa.

5.5 Các biến chứng về mạch ngoại vi

Tăng huyết áp làm động mạch chủ phình to, có thể bóc tách và vỡ thành động mạch chủ dẫn đến chết người

Tăng huyết áp làm hẹp động mạch chậu, động mạch đùi, động mạch chân Khi động mạch chi dưới bị hẹp nhiều, bệnh nhân đi một đoạn đường thì đau chân, phải đứng lại nghỉ (đau cách hồi).

(Xơ vữa động mạch) (Tắc mạch chi)

6 Nhận biết các dấu hiệu của bệnh tăng huyết áp như thế nào

6.1 Đo huyết áp

Đo huyết áp là phương pháp duy nhất để biết mình có bị tăng huyết áp hay

không Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, gọi là tăng huyết áp khi huyết

áp tối đa bằng hoặc trên 140mmHg và huyết áp tối thiểu bằng hoặc trên 90 mmHg

Huyết áp phải được đo khi người bệnh trong trạng thái hoàn toàn nghỉ ngơi (không gắng sức ít nhất 5 phút trước khi đo), không dùng các chất kích thích có ảnh hưởng đến huyết áp (thuốc lào – thuốc lá, trà, cà phê) Huyết áp phải được đo

ít nhất 2 lần cách nhau 2-5 phút, giá trị huyết áp là con số trung bình cộng của 2 lần đo

Biểu hiện của bệnh tăng huyết áp rất nghèo nàn, không đặc hiệu Chính vì

Trang 18

chứng Bệnh có thể biểu hiện bằng các triệu chứng như đau đầu, đỏ bừng hay nóng bừng mặt, tức nặng ngực Chính vì sự nghèo nàn của các triệu chứng nên cách phát hiện bệnh sớm duy nhất là kiểm tra huyết áp thường xuyên, nhất là khi

có các dấu hiệu nghi ngờ, hoặc khi con số huyết áp gần tới mức tối đa cho phép (gần đến giá trị 140/90 mmHg)

6.2 Biểu hiện của một số biến chứng do tăng huyết áp

* Biểu hiện của bệnh động mạch vành mạn tính

Biểu hiện thường gặp nhất của bệnh động mạch vành là đau ngực, đôi khi

có cảm giác khó chịu, đè ép, nóng rát, thắt vặn…đôi khi dễ lầm tưởng là triệu chứng khó tiêu hay ợ nóng ở đường tiêu hóa Ngòai ra, còn có thể đau ở vai trái, cánh tay, cổ, lưng hay ở hàm

Hiện tượng thiếu máu xảy ra khi cơ tim cần tưới máu nhiều hơn bình thường, chẳng hạn khi họat động thể lực mạnh, ăn uống quá độ, căng thẳng hay kích động quá mức

Thời gian đau thường chỉ kéo dài từ 3 – 5 phút Khi nằm nghĩ hay uống thuốc dãn mạch vành thì cơn đau giảm hoặc mất

Ở phụ nữ những biểu hiện của hội chứng động mạch vành xảy ra kín đáo

và khó nhận biết hơn so với nam Các triệu chứng thường gặp là: đau hay đè ép trên ngực lan sang cánh tay hay hàm, cảm giác nóng bỏng vùng ngực hay vùng bụng trên, thở hụt hơi, tim đập không đều, chóng mặt, ra mồ hôi, lã người và buồn nôn

Cơn đau với những tính chất trên được gọi là đau thắt ngực ổn định của bệnh động mạch vành mãn tính – tức là mạch vành đã bị hẹp nhiều bởi các mãng

xơ vữa Khi đó, bạn nên đến bác sĩ chuyên khoa để khám và tư vấn Nếu quá trình điều trị không tốt bệnh động mạch vành mãn tính có thể diễn tiến thành hội chứng động mạch vành cấp

* Biểu hiện của hội chứng động mạch vành cấp

Hội chứng động mạch vành cấp được xem như là biến chứng của bệnh động mạch vành mạn tính khi có sự tắc nghẽn cấp tính động mạch vành Đây là cấp cứu khẩn cấp tim mạch, cần phải được điều trị tại bệnh viện Có 2 dạng lâm sàng là đau thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim cấp

Trang 19

Đau ngực có tính chất giống như bệnh động mạch vành mạn tính nhưng xảy ra thường xuyên hơn, dễ xảy ra hơn ngay cả khi nghỉ ngơi, cảm giác nặng nề hơn và kéo dài lâu hơn 30 phút, không hết khi nằm nghỉ hay dùng thuốc dãn mạch

Các triệu chứng khác kèm theo như khó thở hay hụt hơi, ngất, đổ mồ hôi lạnh, buồn nôn, nôn, nhức đầu nhẹ, chóng mặt, yếu nhược tay chân, hồi hộp, trống ngực Trường hợp nặng là đột ngột ngã, ngưng tim ngưng thở – đòi hỏi phải ép tim ngoài lồng ngực – hô hấp nhân tạo

* Biểu hiện của suy tim

Các triệu chứng cơ năng do tình trạng sung huyết phổi (thay đổi từ nhẹ đến nặng) bao gồm: khó thở khi gắng sức, khó thở khi mằm, khó thở kịch phát về đêm, cơn hen tim và phù phổi cấp

Các triệu chứng cơ năng do tình trạng cung lượng tim thấp bao gồm: mệt, yếu, không thể gắng sức, các triệu chứng về não như: giảm trí nhớ, lú lẫn, nhức đầu, thường gặp ở người lớn tuổi

Các triệu chứng cơ năng khác của suy tim gồm có: chóng mặt, hồi hộp, ngất, chán ăn và đau bụng vùng hạ sườn phải (thường gặp trong suy tim phải)

Ở bệnh nhân lớn tuổi, biểu hiện của suy tim thường không điển hình, có dấu hiệu suy tim kín đáo, khó phát hiện Những bệnh nhân này cũng có biểu hiện đầu tiên của suy tim như: mất ngủ, cảm giác mệt mỏi , hoặc rối loạn tri giác hoặc mất định hướng Hoặc có biểu hiện của rối loạn tiêu hóa như: chán ăn, ăn không ngon, cảm giác đầy bụng, buồn nôn, căng tức ở vùng hạ sườn phải (gặp trong suy tim phải)

Ở giai đoạn toàn phát, suy tim trên người lớn tuổi cũng biểu hiện điển hình của suy tim như ở người trẻ

* Dấu hiệu báo động của cơn tai biến mạch máu não:

Nhức đầu dữ dội, đột ngột Triệu chứng này có ở trên 50% số bệnh nhân Đột nhiên thấy chóng mặt, ù tai, choáng váng Một bên chân bị yếu hẳn, không vững

Đột nhiên một bên tay không cầm nắm chắc được đồ vật, dễ rơi thìa, đũa, bát Nhặt lại vật dụng để rơi một cách khó khăn

Trang 20

Đột nhiên rối loạn ngôn ngữ: nói khó, nói ngọng, mọi người không hiểu được bệnh nhân nói gì Triệu chứng này có thể chỉ diễn ra trong ít phút, nhưng cũng có thể kéo dài cả ngày trước khi tai biến nghiêm trọng xảy ra: bệnh nhân không còn khả năng phát ngôn

Đột nhiên bệnh nhân có cảm giác như kim châm, kiến đốt ở đầu chi tay, chân, một nửa bên trên người

Xuất hiện những “khoảng vắng”: thỉnh thoảng bệnh nhân như mất hẳn sự kiểm soát của chính mình Đang nói bỗng mất ngang trong giây lát mới lại tiếp tục được câu chuyện Để rơi vật dụng trong tay mà không biết để rồi vài giây sau mới sực nhớ ra và nhặt lên

Những rối loạn trí thức: bệnh nhân đột nhiên mất định hướng trong vài phút, vài giờ Thoáng quên, thoáng điếc, mất định hướng về không gian và thời gian

Đột nhiên xuất hiện cảm giác như có ruồi bay trước mắt, mất thị lực hoàn toàn hoặc một phần, hoặc một hai bên trong giây lát

Các triệu chứng thường gặp của đột quỵ gồm: méo miệng, yếu, liệt tay chân một bên, tê hoặc mất cảm giác ở một nửa bên thân thể, nói đớ hoặc không nói được, ù một mắt hoặc không nhìn được một bên, lú lẫn, hôn mê Ngoài ra có thể có nhức đầu, nôn ói hoặc co giật Phải nghĩ đến đột quỵ nếu một hoặc nhiều triệu chứng kể trên xuất hiện đột ngột, bất ngờ ở một người đang có vẻ rất khỏe mạnh, khi họ đang nghỉ ngơi, đang ngủ hoặc đang làm việc bình thường

7 Phòng tránh bệnh tăng huyết áp

Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh THA trong cộng đồng như: tuổi cao, hút thuốc lá, uống nhiều rượu/bia, khẩu phần ăn không hợp lý (ăn mặn, ăn nhiều chất béo), ít hoạt động thể lực, béo phì, căng thẳng trong cuộc sống, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, tiền sử gia đình có người bị THA Phần lớn những yếu tố nguy cơ này có thể kiểm soát được khi người dân có hiểu biết đúng

và biết được cách phòng tránh Thực hiện lối sống lành mạnh, phù hợp là một biện pháp chính để phòng ngừa THA cũng như góp phần điều trị bệnh THA

Những biện pháp cụ thể sau đây luôn là những lời khuyên có ích cho mỗi chúng ta trong việc phòng chống bệnh THA Đó là giảm cân nặng (nếu thừa cân), không hút thuốc lá, thuốc lào, không ăn nhiều chất béo bão hòa, không ăn mặn,

Trang 21

cho mình một cuộc sống hài hòa, vui vẻ và kiểm tra số đo huyết áp, các yếu tố nguy cơ khác (rối loạn đường máu, lipid máu…) để có thể kiểm soát kịp thời

7.1 Giảm cân ở người thừa cân hoặc béo phì: Tăng cân trong thời gian

dài là yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh Nguy cơ này tăng dần ở phụ

nữ cao tuổi, sau mãn kinh

Hiện nay tình trạng béo phì, thừa cân ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đang gia tăng ở mức độ báo động

Theo Tổ chức Y Tế thế Giới (WHO) định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe Chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass Index) là một trong những cơ sở để đánh giá và nhận định tình trạng béo phì thừa cân, Để có chỉ số khối cơ thể (BMI), người ta dùng công thức sau đây:

Theo tiêu chuẩn của WHO thì chỉ số BMI bình thường nên có ở giới hạn

từ 18,5 - <25, từ 25 - <30 là thừa cân và từ trở lên 30 là béo phì Dựa vào chỉ số BMI để chẩn đoán béo phì là chưa đủ và chưa thật chính xác, vì chỉ số BMI không phân chia được tỷ lệ lượng nạc (lean mass) và lượng mỡ (fat mass) Vì thế muốn chẩn đoán xác định béo phì phải sử dụng máy DXA (Dual energy X-ray Absorptiometry), trong điều kiện không có máy DXA thì có thể áp dụng phương trình Gallagher, ( áp dụng cho người Châu Á) để ước tính tỷ lệ mỡ trong cơ thể Theo đó, trước tiên chúng ta cần tính chỉ số BMI và xác định độ tuổi, sau đó có thể tính được tỷ lệ này thông qua phương trình sau:

- Đối với phụ nữ: TLCB = 63,7 – 735/BMI + 0,029*tuổi

- Đối với đàn ông: TLCB = 51,6 – 735/BMI + 0,029*tuổi

Khi sử dụng máy DXA hay dùng phương trình Gallagher, nếu tỷ lệ chất béo của Nữ giới mà trên >35% và tỷ lệ chất béo ở Nam giới mà trên 25% thì được chẩn đoán là béo phì Người béo phì, đặc biệt là đối với phụ nữ, thường có

Trang 22

tâm lý mặc cảm tự ti với ngoại hình Ngoài ra, người bị béo phì thừa cân còn có nguy cơ mắc nhiều nhóm bệnh nguy hiểm

Hiện nay đã có nhiều phương pháp giảm béo được áp dụng, như thể dục,

ăn kiêng, uống thuốc giảm béo, giảm béo bằng bấm huyệt, phẫu thuật thắt đai dạ dày Mỗi một phương pháp có những ưu điểm và hạn chế và khác nhau, tùy thuộc vào mức độ, tình trạng béo phì, lứa tuổi, sức khỏe…của bệnh nhân béo phì, để từ

đó bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp giảm béo có hiệu quả và an toàn nhất Nguyên tắc chung của các phương pháp là, hoặc giảm lượng chất béo đưa vào, hoặc tăng tiêu hao lượng mỡ, hoặc điều hòa lại chuyển hóa

7.2 Chế độ ăn uống cho người bị tăng huyết áp

Tuân thủ chế độ ăn nhiều trái cây, rau, các thực phẩm ít chất béo, giảm ăn các loại mỡ bão hòa và mỡ toàn phần giảm các loại thịt đỏ như: thịt heo, thịt bò

và các loại sữa và trứng

Nên ăn 3 bữa một ngày Ăn nhiều rau xanh và trái cây vì chất xơ trong rau quả và những loại ngũ cốc thô như: gạo lứt, các loại đậu có tác dụng chuyển hóa các chất béo và làm hạ huyết áp Không dùng nhiều mỡ và chất ngọt, ăn các thức

ăn có nhiều chất xơ hòa tan như: đậu xanh quả, các loại đậu hạt, măng… Hàng ngày nên ăn khoảng 55-85g các chế phẩm từ sữa như phomát, sữa chua… Nên ăn chất béo có nguồn gốc thực vật, các loại dầu thực vật, dầu cá và một số hạt có chất béo như: hạt mè, hạt hướng dương, hạt hạnh nhân

Đối với dầu mỡ: Hầu hết các loại mỡ động vật đều có chứa cholesterol, cholesterol tăng nhiều trong máu sẽ bị lắng đọng và tích luỹ quá mức ở tế bào nội mạc để dần hình thành mảng đông lipít và phát triển thành nhũng mảng xơ tạo nên xơ vữa động mạch, làm cho thành mạch kém đàn hồi dẫn đến bệnh tăng huyết áp.(hạn chế sử dụng mỡ động vật, nên thay vào dầu thực vật)

Trang 23

Mỡ bão hòa có nhiều trong mỡ động vật, bơ, phomát, dầu dừa, dầu cọ Người ta khuyên rằng, khẩu phần ăn hàng ngày (tính theo mức cung cấp năng lượng) không quá 1/10 lượng mỡ bão hòa Nên ăn chất béo có nguồn gốc thực vật, các loại dầu thực vật, dầu cá và một số hạt có chất béo như: hạt mè, hạt hướng dương, hạt hạnh nhân Acid béo omega-3 trong cá và các loại hạt có tác dụng làm

hạ cholesterol xấu, tăng lượng cholesterol tốt và giảm nguy cơ máu đông Những loại hạt này còn có nhiều loại khoáng chất cần thiết để điều hòa huyết áp như magie Thịt và trứng có nhiều chất mỡ bão hòa làm gia tăng lượng cholesterol xấu (LDL), đồng thời làm giảm lượng cholesterol tốt (HDL) có khả năng làm sạch lòng mạch Tuân thủ chế độ ăn như trên có thể sẽ giúp giảm huyết áp tâm thu từ 8 -14mmHg

Nhiều nghiên cứu khoa học khác nhau đều cho thấy, chất xơ trong rau quả

và những loại ngũ cốc thô như: gạo lứt, các loại đậu có tác dụng chuyển hóa các chất béo và làm hạ huyết áp Các chất xơ, nhất là chất xơ tan trong nước, có khả năng hút nước và trương nở lên đến 8 - 10 lần trọng lượng ban đầu, qua đó có thể kết dính và đào thải nhiều cặn bã và chất độc hại ra khỏi cơ thể Đặc biệt, chất xơ cũng thu hút những acid mật do cơ thể sản sinh ra để tiêu hóa các chất béo và đào thải chúng ra ngoài theo đường ruột Điều này buộc cơ thể huy động đến kho dự trữ cholesterol ở gan để tạo ra những acid mật mới dẫn đến hạ độ cholesterol Ngoài chất xơ và những vi chất khác, ăn nhiều rau quả giúp bảo đảm chế độ nhiều kali và ít natri là yếu tố vô cùng quan trọng việc ổn định huyết áp Nhiều loại rau quả như: khoai tây, bơ, dưa hấu, đậu nành có lượng kali rất cao Đặc biệt, chuối có tỷ lệ kali/natri rất cao (396/1) Do đó, chuối có tác dụng rất tốt trong việc hạ huyết áp và chống đột quỵ Lượng kali cao còn giúp bù trừ lại phần nào khuynh hướng ăn vào lượng muối nhiều hơn khuyến cáo

Các loại đậu, nhất là đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành với nhiều chất

xơ, chất khoáng và những chất chống oxy hóa là một nguồn chất đạm và chất béo

lý tưởng cho phòng chống tăng huyết áp

Ăn nhiều cá, hải sản, giảm các loại thịt đỏ: Thịt và mỡ động vật, nhất là các

loại thịt đỏ như: thịt lợn, thịt bò và các loại sữa và trứng có hàm lượng mỡ bão hòa cao là nguồn gốc phát sinh ra các chứng xơ vữa Do đó, các nhà khoa học khuyên nên chuyển dần chế độ ăn nhiều thịt sang ăn nhiều cá và đạm thực vật

Chế độ ăn giảm muối, giàu kali và canxi:

Trang 24

Nhu cầu muối ăn trung bình của một người khoảng 15g/ngày, trong đó có tới 10g sẵn có trong thực phẩm tự nhiên, vì vậy chỉ nên bổ sung thêm một thìa cà phê muối ăn/ngày là đủ

Một nghiên cứu của Viện Tim, Phổi và Huyết học Quốc gia ở Mỹ, liên quan đến những chế độ ăn uống ngăn chặn bệnh THA đã cho thấy, chỉ cần ăn giới hạn muối trong khoảng 1,5g/ngày sẽ làm giảm đáng kể huyết áp ở cả 2 nhóm người, nhóm ăn theo chế độ thông thường cũng như nhóm ăn theo chế độ kiểm soát huyết áp Càng ăn ít muối, huyết áp càng thấp Trong khi đó, một khảo sát gần đây đã cho biết, người Việt chúng ta đang có khuynh hướng ăn khá nhiều muối Lượng muối trung bình mỗi người tiêu thụ từ 18 - 22g mỗi ngày, trong khi lượng khuyến cáo không quá 5g Như vậy, lượng muối ăn đã nhiều gấp 3 - 4 lần Ngoài việc giảm lượng muối trong khi nấu nướng, hạn chế dùng thêm muối hoặc nước chấm ở bàn ăn, cần cẩn thận với những loại thức ăn nhanh, những món ăn công nghiệp luôn có lượng muối khá cao Muối thường được đề cập trong chế độ

ăn hàng ngày là muối ăn sodium chloride (NaCl) Tuy nhiên, có nhiều loại muối khác có cùng gốc sodium (natri) tồn tại trong các loại thức ăn, thức uống công nghiệp như: monosodium glutamate (bột ngọt), sodium citrate, sodium bicarbonate cũng có tác hại tương tự NaCl khi dùng nhiều Theo Drug Bulletin, FDA, cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ cho biết, những loại nước ngọt có ga, các loại bia có hàm lượng natri còn cao hơn so với nhiều loại thực phẩm công nghiệp khác Đừng quên bột nở, bột nổi, loại bột làm sủi bọt cũng

thuộc nhóm muối gốc natri

Như vậy, đối với những người bị bệnh cao huyết áp cần phải có một chế độ

ăn uống thích hợp, ăn nhiều những chất giàu vitamin như: rau xanh, hoa quả… tránh những hoạt động căng thẳng thần kinh kéo dài, không nên tắm nước quá nóng hoặc quá lạnh, không sử dụng quá mức các chất kích thích: thuốc lá, cà phê, rượu

Trang 25

7.3 Bỏ thói quen xấu:

- Ngưng hút thuốc lá biện pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh THA và các

bệnh tim mạch.: hút thuốc quá nhiều có khả năng làm huyết áp gia tăng Do

lượng NICOTIN trong thuốc lá có tác động xấu đối với tim và mạch máu, nó làm cho hệ thần kinh giao cảm bị hưng phấn kết quả mạch máu co lại và tim đập nhanh, nên huyết áp gia tăng

- Bớt uống rượu: Một số nghiên cứu cho thấy, nếu dùng thường xuyên một lượng rượu nhỏ sẽ có tác dụng làm giảm các nguyên nhân gây tử vong nói chung

và do tim mạch nói riêng Uống rượu với mức độ vừa phải có thể làm giảm huyết

áp từ 2 - 4mmHg Nam giới mỗi ngày không uống quá 2 ly nhỏ, tương đương 30ml ethanol (tức khoảng 720ml bia hay 30ml rượu hay 90ml whisky) Đối với phụ nữ và người nhẹ cân, lượng rượu nên uống chỉ bằng một nửa nam giới Có nhiều bằng chứng cho thấy có mối tương quan chặt chẽ giữa uống rượu, huyết áp

và tỷ lệ bệnh THA trong cộng đồng Uống nhiều rượu dễ làm THA - (vớinữ)

7.4 Tăng cường hoạt động thể lực:

Giảm bớt béo phì, người sống tĩnh tại cần tập thể dục đếu đặn ở mức vừa phải như đi bộ nhanh hoặc bơi lội trong vòng 30–45 phút, 3-4 lần/tuần Các hoạt động thể dục này hiệu quả hơn chạy hoặc nhảy và có thể làm giảm HA tâm thu từ 4-8mmHg Các tập luyện nặng như cử tạ có tác dụng làm tăng HA, vì vậy nên tránh

Tóm lại, điều chỉnh lối sống để điều trị bệnh THA là việc hoàn toàn có thể thực hiện ở gia đình, là phương pháp không tốn kém và khả thi, giúp giảm được dân số bị THA, qua đó giảm được bệnh tật, tử vong và các nguy cơ cho người

mới bị THA, là cơ hội tốt để ngăn chặn bệnh THA và các biến chứng của nó

Trang 26

7.5 Kiểm tra huyết áp thường xuyên và tuân thủ việc điều trị của bác sỹ

Kiểm tra huyết áp thường xuyên, nhất là những người có những yếu tố nguy cơ về tim mạch là hết sức cần thiết và quan trọng để phòng bệnh tăng huyết

áp và các tai biến do bệnh này gây nên, giảm đáng kể tử vong do tai biến của bệnh tăng huyết áp là cơ hội tốt để ngăn chặn bệnh tăng huyết áp và các biến chứng của nó

* Cách đo huyết áp tại nhà

Để có trị số huyết áp đúng, việc đo huyết áp là bước chẩn đoán quan trọng nhất vì tránh được việc điều trị quá mức hoặc không đầy đủ Cần đo nhiều lần và nhiều vị trí khác nhau (2 tay, 2 chân) để so sánh đôi khi phát hiện bệnh lý

Trang 27

mạch máu ví dụ như trong teo hẹp eo động mạch chủ huyết áp chi trên cao hơn chi dưới

Đo huyết áp cần thực hiện trong phòng yên tỉnh, trạng thái tinh thần thoải mái Tư thế đo huyết áp thông thường là tư thế nằm và ngồi để làm sao băng quấn cánh tay ngang mức với tim Băng quấn cánh tay (cuff) phải phù hợp kích thứơc cánh tay Trẻ em cần có băng quấn cánh tay kích thước nhỏ hơn

Máy đo huyết áp thủy ngân được xem là tiêu chuẩn Ngày nay người ta giảm dần việc sử dụng máy đo huyết áp thủy ngân vì độc tính với môi trường Các loại máy dạng đồng hồ thường phổ biến sử dụng trong giới thầy thuốc,trong khi đó các máy đo huyết áp điện tử thường sử dụng rộng rãi trong dân chúng vì

dễ đo Theo Uỷ Ban phối hợp quốc gia về cao huyết áp Hoa Kỳ(JNC) và Tổ chức

Y tế Thế Giới (WHO), đối với máy đo huyết áp điện tử, chỉ nên sử dụng loại băng quấn cánh tay,không nên sử dụng cổ tay và ngón tay vì không chính xác

Bạn có thể chọn máy đo huyết áp đồng hồ hoặc có thể máy đo điện tử để tự

đo huyết áp ở nhà Máy đo huyết áp đồng hồ thường kèm theo ống nghe thường giá rẽ hơn máy đo huyết áp điện tử nhưng đòi hỏi bạn phải được nhân viên y tế huấn luyện cách đo Đối với máy đo huyết áp điện tử ưu điểm là dễ sử dụng , nhưng nhược điểm là các máy tại thị trường Việt nam chỉ có số ít Hãng như Omron là được kiểm định theo tiêu chuẩn Anh Mỹ.Khi chọn máy đo huyết áp điện tử các bạn nên chọn các loại máy đo huyết áp đã được các tổ chức uy tín kiểm định chất lượng Hiện nay 2 tổ chức có uy tín trong kiểm tra chất lượng máy đo huyết áp là Hiệp hội cao huyết áp Anh quốc (British Hypertension Society) và Hiệp hội Phát triển Dụng cụ y tế Hoa kỳ (Association for Advancement of Medical Instrumentation)

* Sau đây là một số máy đo huyết áp điện tử được khuyên dùng:

- Loại tự động :

AND UA-767,và Sunbeam 7652

Omron HEM-711, Omron HEX -712

Omron HEM-705CP, Omron HEM-735C, Omron HEM-713C, Omron HEM -737 Intellisense,

- Loại bán tự động(bơm tay) giá thành rẻ hơn:

AND UA -702, Omron HEM- 412C, Lumiscope 1065, Sunmark 144

Trang 28

- Một số máy có thể chấp nhận sử dụng:

Omron HEM 703CP, Omron M4, Omron MX2, Omron HEM-722C

* Một số máy không chấp nhận sử dụng:

- Philips HP5332, Nissei DS-175

- Omron HEM 706, Omron HEM 403C

Bên cạnh đó một số máy ra đời sau này được cải tiến về chất lượng tốt hơn

đã được bày bán trên thị trường nhưng chưa được kiểm định bởi 2 tổ chức trên

Do đó bảng trên đây chỉ có giá trị tham khảo

8 Các xét nghiệm cần làm khi bạn bị tăng huyết áp:

* Xét nghiệm cơ bản đối với tất cả các bệnh nhân:

Tổng phân tích nước tiểu

Công thức máu toàn phần

Sinh hoá máu (kali, natri creatinin, glucose, cholesterol toàn phần, HDL cholesterol)

ECG

Độ thanh thải creatinine,vi đạm niệu, protein nước tiểu 24 giờ, calcium, axit uric, triglyceride lúc đói, LDL cholesterol, glycosolated hemoglobin, TSH, siêu âm tim

* Xét nghiệm tìm nguyên nhân:

Huyết áp tăng xảy ra >90% không tìm thấy nguyên nhân hay còn gọi là vô căn Chỉ một số ít bệnh nhân tăng huyết áp có nguyên nhân gây ra Tăng huyết áp

có nguyên nhân cần nghi ngờ ở những bệnh nhân trẻ tuổi hoặc quá lớn tuổi, kém đáp ứng điều trị hoặc khởi phát cao huyết áp đột ngột Do đó bác sĩ của bạn sẽ cho thêm những xét nghiệm tầm soát tốn kém hơn để tìm nguyên nhân của tăng huyết áp và như vậy mới có thể giải quyết tận gốc nguyên nhân tăng huyết áp

Nếu huyết áp dao động nhiều có những cơn kịch phát kèm nhịp tim nhanh,vả mồ hôi, nhức đầu nhiều bác sĩ của bạn sẽ nghi ngờ khối u ở thượng thận tủy sẽ cho thêm các xét nghiệm: siêu âm thận tìm khối u vùng thượng thận và xét nghiệm catecholamine nước tiểu 24 giờ và chất chuyển hoá vanillyl madelic acid (VMA), chụp đồng vị phóng xạ MIBG

Trang 29

Nếu tăng huyết áp kèm chênh lệch huyết áp chi trên và chi dưới hoặc mạch đùi khó bắt cần xem xét hẹp eo động mạch chủ Có thể sử dụng siêu âm Doppler mạch máu ,chụp mạch máu chọn lọc DSA chụp mạch bằng cộng hưởng từ(Magnetic Resonance Angiography).Những kỹ thuật này có thể sử dụng khi nghi ngờ hẹp Động mạch thận

Các xét nghiệm Renin, Aldosterone và Cortisone cũng giúp ích nhiều trong xác định tăng huyết áp do bệnh lý nội tiết tố như hội chứng Conn và Cushing

9 Điều trị tăng huyết áp

Huyết áp tăng thường gây tai biến nghiêm trọng như tử vong và hôn mê do tai biến mạch máu não, di chứng liệt nữa người, suy tim, thiếu máu cơ tim, suy thận, phinh bóc tách động mạch chủ Do đó mục đích chính của điều trị tăng huyết áp là để phòng ngừa những biến chứng này Thông thường khi đo trị số huyết áp của bạn tăng >140/90nnHg với nhiều lần đo trong nhiều ngày bạn có thể được xem là tăng huyết áp Nếu huyết áp của bạn không cao lắm tức khoảng 140/90-150/95nnHg và tình trạng chung tốt và không mắc các bệnh làm xấu thêm tình trạng tim mạch.Bạn có thể không dùng thuốc mà cần phải điều chỉnh cách sống Nếu huyết áp cao hơn hoặc không cải thiện thì có thể xem xét điều trị thuốc ngay sau khi cân nhắc cẩn thận

9.1 Việc điều chỉnh các lối sống bao gồm:

Điều chỉnh chế độ ăn uống như giảm ăn mặn (<6g natri chlorua), giảm mỡ,giảm đường (nếu có tiểu đường), không uống quá nhiều bia rượu mặc dù uống với số lượng hạn chế cũng giúp có lợi cho sức khoẻ của bạn (chừng 15ml rượu ethanol, 360ml bia/ngày)

Tập thể dục đều đặn là cách thức giảm cân, hoạt động thể lực aerobic hàng ngày 30-45 phút hầu hết các ngày trong tuần

Trang 30

Thông qua trị số huyết áp được hạ bằng thuốc hạ áp chúng ta có thể nhận biết huyết áp có thể kiểm soát tốt hay không Nên hạ huyết áp một cách tích cực,

cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương, về dưới 140/90 mmHg và hạ thấp hơn nữa nếu bệnh nhân dung nạp được Hạ huyết áp dưới 130/80 mmHg trên người tiểu đường Dưới 125.70 mmHg nếu bệnh nhân suy thận có lượng Protein niệu trên 1 gam trong 24 giờ; đối với người già trị số huyết áp ban đầu có thể đưa

về <160/90mmHg sau đó điều chỉnh tùy theo sự chịu đựng của bệnh nhân

Điều trị THA là điều trị suốt đời, do đó khi huyết áp đã trở về gần bình thường cũng không nên ngưng thuốc hạ áp mà phải điều trị tiếp tục vì huyết áp gia tăng trở lại khi ngưng thuốc Cần tham vấn thường xuyên bác sĩ của bạn khi huyết áp quá cao hoặc quá thấp trong quá trình điều trị

Điều trị thuốc hạ áp có thể phối hợp các nhóm thuốc khác nhau để tăng hiệu quả và giảm tác dụng phụ (do sử dụng liều thấp).Cần lưu ý đến tác dụng phụ của thuốc khi điều trị đặc biệt là tụt huyết áp ở người già Ở người già, bác sĩ điều trị thường cho thuốc hạ áp với liều khởi đầu chỉ bằng nữa liều người trẻ vì người già dễ tụt huyết áp do thuốc hơn

* Nhóm thuốc ức chế can xi:

- Nhóm Dihydropyridine : Nifedipine(Adalat,Procardia) chỉ nên sử dụng

chế phẩm tác dụng kéo dài không nên sử dụng các chế phẩm tác dụng ngắn đặc biệt là dạng ngậm dưới lưỡi vì không an toàn (gia tăng cơn đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim và tử vong)

Felodipine(Plendil), Amlodipine(Amlor.Amdepin, Amlopress)

- Nhóm Không Dihydropyridine :Tildiem(Tildiazem), Verapamil(Isoptin)

* Nhóm thuốc ức chế men chuyển:

Captopril (Lopril), Enalapril (Renitec), Lisinopril (Zestril), Peridopril (Coversyl)

Trang 31

* Nhóm thuốc ức chế bêta giao cảm:

Propranolol (Avlocardyl, Inderal), Atenolol (Tenormin), Metoprolol (Lopresor),Acebutolol (Sectral), Pindolol (Visken)

Việc lựa chọn thuốc hạ áp nào là phụ thuộc vào tình trạng huyết áp và tình trạng bệnh lý (tuổi, bệnh tim, bệnh phổi,bệnh thận.).Ví dụ người có bệnh phổi như hen suyễn hoặc nhịp tim chậm(<60 lần/phút) thì không nên sử dụng thuốc ức chế bêta Nhưng thuốc ức chế bêta có lợi hơn ở những bệnh nhân huyết áp cao kèm thiếu máu cơ tim mà nhịp tim nhanh Người có suy tim thì thuốc ức chế men chuyển có lợi hơn Thuốc ức chế can-xi Dihydropyridine thường được chỉ định rộng rãi vì ít tác dụng phụ, nhưng tốt nhất sử dụng dạng tác dụng kéo dài Nhóm không Dihydropyridine (verapamil, diltiazem) có tác dụng tốt cao huyết áp kèm bệnh mạch vành , nhưng làm chậm dẫn truyền và suy giảm sức bóp của tim do đó cần thận trọng với blốc A-V, và suy tim

* Theo dõi hiệu quả điều trị:

- Các cách thức theo dõi điều trị:

- Đo huyết áp tại phòng khám:

Đây là cách thức thường áp dụng cho bệnh nhân Nhược điểm là trị số huyết áp tại phòng khám thường cao hơn trị số thực sự 20-30mmHg, dù kỷ thuật

đo của bác sĩ là đúng Hiện tượng này còn gọi là hiệu ứng áo choàng trắng.Sự gia tăng huyết áp này là do tâm lý bệnh nhân khi đến môi trường y tế.Điều này làm bác sĩ thay đổi thuốc hoăïc tăng liều sẽ gây bất lợi là tụt huyết áp do điều trị quá mức

* Đo huyết áp tại nhà: Thật là lý tưởng nếu bệnh nhân tự đo huyết áp ở

nhà nhiều lần trong ngày để kết hợp với trị số đo tại phòng khám Với các máy đo huyết áp điện tử hiện nay( đặc biệt những máy có kiểm định chất lượng tốt) sẽ hổ trợ lớn cho bác sĩ và bệnh nhân theo dõi điều trị.Một khó khăn thường gặp là làm sao để bệnh nhân đo tại nhà đúng kỷ thuật và không phải tất cả bệnh nhân đều có maý đo huyết áp tại nhà dù giá máy hiện nay tương đối chấp nhận

* Đo huyết áp với kỷ thuật theo dõi huyết áp liên tục 24 giờ (ABPM) trong điều kiện ngoại trú:

Ngoài ra, khi bạn không có máy đo huyết áp tại nhà, bác sĩ của bạn có thể

đề nghị bạn mang 1 máy đo huyết áp theo dõi liên tục 24 giờ (ambulatory blood

Trang 32

pressure monitoring-ABPM), là máy đo huyết áp trong điều kiện ngoại trú Đây

là loại máy hoàn toàn tự động, ban ngày máy có thể đo mỗi 30 phút 1 lần và ban đêm mỗi 1 giờ 1 lần đo Sau đó 24 giờ sẽ nạp vào máy vi tính và bác sĩ chuyên trách sẽ in ra cho bạn 1 bảng kết quả đo và biểu đồ huyết áp dao động trong ngày Nhờ số lần đo >60 lần/ ngày mà bác sĩ của bạn sẽ biết được chính xác hơn huyết

áp của bạn đã trở về gần bình thường chưa và biết được thời điểm nào huyết áp bạn lên cao hoặc có tụt huyết áp không để điều chỉnh thuốc hạ áp cho bạn.Chi phí cho một lần đo 24 giờ chừng 200.000 đồng là tương đối cao nhưng hiệu quả đánh giá tình trạng huyết áp trong khi điều trị là khá lớn và cho đến nay đây là biện pháp tốt nhất để đánh giá hiệu quả điều trị so với đo huyết áp tại phòng khám hoặc tự đo tại nhà

Điều trị cao huyết áp chỉ thật sự ích lợi khi trị số huyết áp được đưa về gần như bình thường.Với trị số này mới có thể ngăn ngừa biến chứng do tăng huyết áp.Vấn đề quan trọng là việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân và sử dụng thuốc hợp lý của bác sĩ.Trong nhiều khảo sát gần đây cho thấy chỉ 40-50% bệnh nhân được điều trị cao huyết áp có trị số huyết áp trở về gần bình thường Người bị tăng huyết áp không tuân thủ đúng điều trị một phần do chưa hiểu hết tầm quan trọng của điều trị huyết áp, do công việc không tái khám và uống thuốc đúng giờ, chi phí thuốc và các xét nghiệm kèm theo trong mỗi lần khám khá đắt và tác dụng phụ của thuốc

Việc theo dõi điều trị có hiệu quả hay không là vấn đề quan trọng.Có thể bạn tự đo huyết áp ở nhà trung bình > 3lần /ngày sau đó ghi vào sổ theo dõi huyết

áp Khi tái khám bạn nên đem theo để bác sĩ của bạn tham khảo kết hợp với trị số

đo huyết áp tại phòng khám bệnh

Mặc dù huyết áp bạn có thể đã ổn định trong giới hạn cho phép nhưng điều

đó không có nghĩa là bạn tự ý ngưng thuốc Bạn cần khám định kỳ tại bác sĩ chuyên khoa tim mạch mà bạn tin tưởng và tái khám ngay khi bạn thấy có thay đổi bất thường như choáng váng, khó thở

Luôn luôn tìm nguyên nhân gây ra tăng huyết áp:

Hầu hết các trường hợp cao huyết áp đều là không rõ nguyên nhân, do đó ngoài việc điều trị bằng thuốc hạ áp phải lưu ý đến điều trị các yếu tố nguy cơ như tiểu đường ,tăng lipid máu, giảm ăn mặn,chế độ ăn kiêng hợp lý, tập thể dục đều đặn

Trang 33

Ở người trẻ hoặc người quá già có tăng huyết áp cần lưu ý một số nguyên nhân mà việc điều trị can thiệp phẩu thuật có thể chửa trị khỏi hoàn toàn như hẹp

eo động mạch chủ, hẹp động mạch thận,u tủy thượng thận

II TAI BIẾN MẠCH NÃO

Tai biến mạch máu não (TBMN) là bệnh của hệ thần kinh phổ biến nhất

hiện nay

Bệnh tai biến mạch máu não có tần suất 0,2% trong cộng đồng, phần lớn ở người trên 65 tuổi với tỉ lệ khoảng 1% Trên thế giới đến nay, tỉ lệ tử vong của nhóm bệnh này vẫn là một trong các nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước

âu Mỹ, đứng thứ 2 sau các bệnh tim mạch, trên cả ung thư Tỉ lệ tàn tật chiếm hàng đầu trong các bệnh thần kinh Tai biến mạch não có liên quan với nhiều chứng bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu Sau giai đoạn cấp tính, bệnh nhân có thể bị suy giảm nhận thức, nhất là sa sút trí tuệ

Hàng năm tại Hoa Kỳ có khoảng 730,000 trường hợp mới của bệnh tai biến mạch máu não Theo thống kê năm 2000 ở Úc, mỗi năm có 12,000 người chết vì bệnh TBMMN so với 24,000 người chết vì bệnh tim Càng lớn tuổi càng

dễ bị tai biến mạch máu não Trên thế giới từ thập niên 70s, số tử vong do tai biến mạch máu não giảm xuống còn 7% mỗi năm nhờ sự hữu hiệu của việc điều trị bệnh THA

Việt Nam mỗi năm có khoảng 200.000 người mắc bệnh này, trong đó có tới 50% tử vong Các di chứng sau tai biến rất nặng nề, đặc biệt là về vận động Bệnh nhân bị liệt nửa người do tai biến mạch máu não sẽ trở thành người đa tàn tật vì ngoài giảm hoặc mất khả năng vận động, họ còn có nhiều rối loạn chức năng khác kèm theo như rối loạn về ngôn ngữ, thị giác, cảm giác, nhận thức, …

Theo thống kê, trong số bệnh nhân mắc tai biến mạch máu não, chỉ 10% có thể phục hồi hoàn toàn, đó là các trường hợp nhẹ hoặc được cấp cứu kịp thời Những trường hợp còn lại phải chịu di chứng từ nhẹ đến nặng nề, cần sự chăm sóc đặc biệt hoặc tử vong

1 Tai biến mạch máu não là gì?

* Tai biến mạch máu não là một bệnh xảy ra khi việc cung cấp máu lên

một phần bộ não bị đột ngột ngừng trệ

Trang 34

Tai biến mạch máu não có hai loại: nhồi máu não (do tắc mạch) hoặc chảy máu não (do vỡ mạch) Các triệu chứng thần kinh trung ương khu trú biểu hiện nhanh, ngay tức thì khi tổn thương mạch máu não xảy ra, nên tai biến mạch máu não còn được gọi là đột quỵ

* Nhồi máu não (còn gọi là đột quỵ thiếu máu hay nhũn não) chiếm 80%

bệnh nhân bị đột quỵ, xảy ra do tắc động mạch não

Bản chất của nhồi máu não do tắc động mạch não xuất phát từ việc giảm đột ngột lượng máu đến não, có thể tắc nghẽn hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn mạch máu do cục máu đông, làm cho tế bào não không được nuôi dưỡng, làm giảm ôxy Quá trình này nếu kéo dài sẽ làm tổn thương tế bào não, thậm chí làm chết tế bào và gây ra các hậu quả như đột ngột liệt một bên tay, chân, nói ngọng, nói khó, không nói được, không thể nhận biết được bản thân và người xung quanh

Bệnh tăng huyết áp vừa là nguyên nhân vừa là yếu tố thuận lợi trong việc thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch, làm tăng nguy cơ nhồi máu não Con số thống kế gần đây cho thấy tỷ lệ nhồi máu não gặp nhiều hơn chảy máu não do sự gia tăng của bệnh vữa xơ động mạch Lứa tuổi bị tai biến mạch máu não do tăng

HA thường gặp vào khoảng 55-70 tuổi, chảy máu não có thể gặp ở những lứa tuổi trẻ hơn

(Hình ảnh nhồi máu não)

* Chảy máu não thường do vỡ một đông mạch hay vỡ một túi phồng động

mạch từ trước.Chảy máu não thường xảy ra đột ngột khi người bệnh vẫn đang sinh hoạt bình thường bỗng dưng thấy hoa mắt chóng mặt, đứng không vững, làm rơi những đồ vật đang cầm, rối loạn ngôn ngữ, nói ngọng, méo miệng hoặc bại liệt nửa người; kiểm tra HA thấy tăng cao hơn mọi ngày Tuy nhiên gần đây một

số tác giả nhận thấy dù nhồi máu hay chảy máu não thì HA thường tăng cao hơn

Trang 35

trước do phản ứng của cơ thể nhằm đảm bảo lượng máu cung cấp cho não Chảy máu não gây nên ổ tụ máu làm phù nề và chèn ép các tổ chức não xung quanh Tùy thuộc vào vùng não bị tổn thương mà tạo ra các triệu chứng lâm sàng khác nhau có thể từ bại nhẹ sau dẫn đấn liệt hoàn toàn, giảm trương lực cơ, giảm phản

xạ gân xương, hạn chế hoặc liệt hẳn nửa người bên đối diện với bên não bị tổn thương, ăn uống dễ bị sặc, đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ vòng, khó nói, khó nuốt và có thể đi vào hôn mê Trong trường hợp chảy máu não nặng, máu tràn vào các não thất thì rất nặng nề người bệnh thường đi vào hôn mê sâu ngay, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn nhịp thở đe dọa suy hô hấp, có thể có những cơn co giật, sốt

Tiên lượng của chảy máu não do bệnh THA thường nặng, phụ thuộc vào lượng máu chảy, vị trí não bị tổn thương Nếu máu chảy tràn ngập não thất thì thường hôn mê, trụy tim mạch, suy hô hấp và rất dễ tử vong Nếu khối lượng máu chảy ít, các tổn thương có thể hồi phục dần nhưng vẫn để lại di chứng nặng

nề như nhiễm khuẩn đường hô hấp, viêm phổi, viêm đường tiết niệu, loét các điểm tỳ…

2 Nguyên nhân gây bệnh tai biến mạch máu não

2.1 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của nhồi máu não

* Vai trò của huyết áp

Tăng huyết áp mạn tính: làm tăng sinh tế bào cơ trơn, dày lớp áo giữa động mạch, làm hẹp lòng động mạch, giảm khả năng tạo tuần hoàn bên tạo tiền đề cho

sự thiếu máu ở đoạn động mạch ngoại vi ổ tắc Ngoài ra, tăng huyết áp còn có tác dụng thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch

Huyết áp giảm: khi đó vùng giáp ranh giữa các vùng phân bố máu của các động mạch lớn không được tưới máu đầy đủ và gây nên nhồi máu giao thuỷ (watershed infarction)

*Vữa xơ động mạch do có mảng xơ mỡ đóng ở thành mạch máu, ngày

càng dày lên làm lòng mạch hẹp dần lại, máu ứ lại và đóng thành cục máu đông gây tắc mạch tại chỗ hoặc chạy lên cao làm tắc các mạch máu phía sau

Biểu hiện sớm nhất của vữa xơ động mạch là vết mỡ (fatty streaks) Những mảng vữa xơ (atherosclerotic plaque) thường xuất hiện vào thập kỷ thứ ba hoặc thứ tư của cuộc đời

Trang 36

Các mảng vữa xơ làm tiền đề cho quá trình kết tập tiểu cầu, hồng cầu tạo

tơ huyết và tạo huyết khối Mảng vữa xơ có thể bền vững cũng có thể bị sùi loét

*Bệnh lý tim Tim đập không đều (loạn nhịp, rung nhĩ) hoặc van tim bị

hẹp làm máu không lưu thông tốt, phần máu ứ đọng đóng lại thành cục máu đông trong tim Một mảnh của cục máu này có thể vỡ ra trôi theo dòng máu lên não sẽ mắc kẹt lại tại đó làm tắc nghẽn mạch máu não Một số nguyên nhân gây nhồi máu não do cục máu đông hình thành từ tim:

- Rung nhĩ

- Tổn thương thất trái: Nhồi máu cơ tim, dị dạng mạch và đờ thành thất (sau nhồi máu cơ tim), bệnh cơ tim thể giãn, huyết khối

- Tổn thương nhĩ trái: u nhầy, huyết khối, dòng chảy xoáy…

- Tổn thương van tim: bệnh van tim bẩm sinh, hẹp lá do thấp, sa van 2 lá, viêm nội tâm mạc…

- Các quá trình can thiệp: thông tim, phẫu thuật bắc cầu vành, ghép tim…

* Bệnh lý mạch máu: Ở người tăng huyết áp, đái tháo đường lâu năm

không chữa trị tốt, các động mạch nhỏ trên não bị hư hỏng và tắc nghẽn không cấp máu cho não

- Co thắt mạch não

- Các quá trình viêm mạch

*Các nguyên nhân khác

Bệnh hồng cầu lưỡi liềm, đông máu rải rác lòng mạch, bệnh bạch cầu, tăng

độ nhớt của máu, khối phát triển nội sọ, ngộ độc CO, nhiễm độc chì mạn tính, bệnh Moyamoya, sinh đẻ, vết thương giập được nữa cũng gây thiếu máu não

2.2 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây xuất huyết não

Mạch máu trong não bị vỡ, máu không đến nuôi não được mà chảy tràn ra chèn ép vào não làm não bị hư hại

* Tăng huyết áp vữa xơ động mạch là nguyên nhân chính gây vỡ mạch máu não ở người cao tuổi Xảy ra khi tăng huyết áp lâu ngày không chữa trị tốt Huyết áp, tức là áp lực máu chảy trong mạch máu, tăng cao lâu ngày làm mạch máu thường xuyên bị căng, dẫn tới rạn nứt, tổn thương thành mạch máu, tạo ra các chỗ phình nhỏ, đến một lúc nào đó sẽ vỡ ra

Trang 37

* Các nguyên nhân khác:

- Do vỡ các dị dạng động - tĩnh mạch não Do vỡ các phình mạch bẩm sinh hay mắc phải (nhóm trẻ tuổi hơn), thoái hóa mạch máu não, u não,

- Do viêm động mạch, do các bệnh máu ác tính bệnh máu khó đông

- Các yếu tố nguy cơ như rối loạn lipid máu, gắng sức, thay đổi thời tiết đột ngột

3 Hậu quả của tai biến mạch não:

Tai biến mạch máu não là bệnh lý tổn thương một phần não xảy ra đột ngột

do mạch máu nuôi não bị tắc nghẽn hoặc bị vỡ Khi thiếu máu lên não, các tế bào

não sẽ ngưng hoạt động và sẽ chết đi trong vài phút

Hậu quả là các vùng cơ thể do phần não đó điều khiển sẽ ngưng hoạt động, dẫn tới yếu liệt, tê, mất cảm giác nửa người, không nói được hoặc hôn mê, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời Nhiều trường hợp được cứu sống nhưng có thể bị tàn phế suốt đời, giảm tuổi thọ và không còn khả năng lao động, khó hoà nhập cuộc sống bình thường

Bệnh nhân có thể tử vong hoặc bị những di chứng nặng nề như: liệt nửa người, liệt toàn thân, nói ngọng, méo miệng, sống thực vật…, trở thành gánh nặng cho gia đình và toàn xã hội

4 Những dấu hiệu của tai biến mạch não

4.1 Những dấu hiệu báo động của cơn tai biến mạch máu não:

- Nhức đầu dữ dội, đột ngột Triệu chứng này có ở trên 50% số bệnh nhân

- Đột nhiên thấy chóng mặt, ù tai, choáng váng Một bên chân bị yếu hẳn, không vững

- Đột nhiên một bên tay không cầm nắm chắc được đồ vật, dễ rơi thìa, đũa, bát Nhặt lại vật dụng để rơi một cách khó khăn

- Đột nhiên rối loạn ngôn ngữ: nói khó, nói ngọng, mọi người không hiểu được bệnh nhân nói gì Triệu chứng này có thể chỉ diễn ra trong ít phút, nhưng cũng có thể kéo dài cả ngày trước khi tai biến nghiêm trọng xảy ra: bệnh nhân không còn khả năng phát ngôn

- Đột nhiên bệnh nhân có cảm giác như kim châm, kiến đốt ở đầu chi tay, chân, một nửa bên trên người

Trang 38

- Xuất hiện những “khoảng vắng”: thỉnh thoảng bệnh nhân như mất hẳn sự kiểm soát của chính mình Đang nói bỗng mất ngang trong giây lát mới lại tiếp tục được câu chuyện Để rơi vật dụng trong tay mà không biết để rồi vài giây sau mới sực nhớ ra và nhặt lên

- Những rối loạn trí thức: bệnh nhân đột nhiên mất định hướng trong vài phút, vài giờ Thoáng quên, thoáng điếc, mất định hướng về không gian và thời gian

- Đột nhiên xuất hiện cảm giác như có ruồi bay trước mắt, mất thị lực hoàn toàn hoặc một phần, hoặc một hai bên trong giây lát

Thời gian xuất hiện các dấu hiệu báo động này tới khi tai biến thực sự xảy

ra với các biểu hiện hôn mê hoặc bán thân bất toại, có thể từ 1-2 giờ hoặc 1-2 ngày tùy mỗi người

Các dấu hiệu sớm của tai biến mạch máu não mô tả trên đây có tính chất rất quyết định trong việc cứu sống bệnh nhân hoặc ngăn ngừa những di chứng tai hại có thể xảy ra Tiên lượng bệnh được tính từng phút Các biện phát xử trí cấp cứu cần được tiến hành thật sớm, nhanh và chính xác Do đó, gia đình và bản thân người bệnh cần nắm được các dấu hiệu báo trước này

4.2 Các thể nhồi máu não Nhồi máu não bao gồm các thể chính sau:

- Huyết khối động mạch não

- Tắc mạch

- Hội chứng lỗ khuyết

* Dấu hiệu của huyết khối động mạch não

- Giai đoạn tiền triệu: Thường là các triệu chứng thoáng báo, các triệu chứng này rất có ý nghĩa trong chẩn đoán định khu, tuỳ theo vị trí của tổ chức bị thiếu máu mà triệu chứng lâm sàng có khác nhau

+ Ở vùng phân bố của động mạch cảnh: Các cơn thoáng báo thường là mù một mắt, liệt nửa người rối loạn cảm giác nửa người, rối loạn ngôn ngữ

+ Ở hệ sống - nền: Thấy chóng mặt, song thị, tê, nhìn mờ, nói khó

- Hoàn cảnh khởi phát: Thường xảy ra vào ban đêm hoặc sáng sớm

Trang 39

- Cách khởi phát: Bệnh nhân thường mô tả các triệu chứng xuất hiện đột ngột, sau đó tiến triển tăng nặng dần theo kiểu tuyến tính hoặc theo kiểu từng nấc

- Các triệu chứng não chung: Đau đầu, co giật, nôn ít gặp, rối loạn ý thức nhẹ (hôn mê chỉ khi có nhồi máu diện rộng ở bán cầu hoặc ở khu vực dưới lều tiểu não), bệnh nhân có thể có rối loạn cơ vòng, rối loạn thực vật gặp ở những bệnh nhân có bệnh cảnh lâm sàng nặng nề

- Các triệu chứng thần kinh khu trú sau thường gặp:

+ Liệt, rối loạn cảm giác nửa người và liệt dây VII trung ương đối diện với bán cầu tổn thương

+ Rối loạn ngôn ngữ kiểu vận động hoặc kiểu giác quan khi có tổn thương bán cầu trội

+ Nếu tổn thương một nửa thân não, lâm sàng sẽ thấy hội chứng giao bên + Rối loạn thị lực, chóng mặt, nhìn đôi

+ Rối loạn tâm thần: bệnh nhân rối loạn cảm xúc như dễ xúc động, dễ cười, dễ khóc và có biểu hiện trầm cảm

* Dấu hiệu của nhồi máu lỗ khuyết

- Đặc điểm lâm sàng của nhồi máu lỗ khuyết là các triệu chứng thường nhẹ, rất khu trú, các triệu chứng nghèo nàn

- Các thể lâm sàng chính của nhồi máu lỗ khuyết:

+ Thể vận động đơn thuần (pure motor stroke)

+ Hội chứng liệt thất điều nửa người và rối loạn ngôn ngữ - bàn tay vụng

về (ataxic hemiparesis and dysarthria - clumsy hand syndrome)

+ Thể cảm giác đơn thuần

+ Thể vận động - cảm giác

* Dấu hiệu của tắc mạch não

- Đặc điểm: các triệu chứng lâm sàng có đặc điểm nổi bật là xuất hiện đột ngột, bệnh khởi phát thường liên quan tới gắng sức hoặc căng thẳng tâm lý

- Triệu chứng lâm sàng:

Trang 40

+ Các triệu chứng não chung: Rối loạn ý thức, rối loạn cơ vòng, co giật toàn thân

+ Các triệu chứng thần kinh khu trú: Giống như trong huyết khối động

mạch não

4.3 Dấu hiệu của xuất huyết não

Tuỳ theo vị trí chảy máu trong não mà có các triệu chứng lâm sàng đặc trưng (như ở thùy não, nhân xám, tiểu não hay thân não) Sau đây là bảng lâm sàng chảy máu não điển hình:

- Khởi phát đột ngột, các triệu chứng nặng lên ngay từ đầu

- Rối loạn ý thức hay gặp, bệnh nhân quay mắt và quay đầu về một bên

- Co giật khi chảy máu ổ nhỏ ở vùng vỏ não

- Đau đầu, nôn, buồn nôn hay gặp

- Các triệu chứng thần kinh khu trú: Liệt một số dây thần kinh sọ, liệt nửa người, rối loạn cảm giác xuất hiện ngay và đạt tối đa trong vòng vài giờ

- Hội chứng màng não dương tính khi có máu tràn vào não thất

- Rối loạn cơ vòng hay gặp

- Tim mạch: huyết áp tăng cao trên 180/110mmHg nếu bệnh nhân có tiền

sử tăng huyết áp Huyết áp dưới mức 170/90mmHg thường là tăng huyết áp phản ứng trong đột qụy và trở về mức bình thường sau vài ngày đột qụy mà không cần can thiệp điều trị

- Hô hấp: nếu bệnh nhân hôn mê dễ gây ứ đọng đờm dãi, rối loạn hô hấp

- Khi tràn máu vào não thất nhiều có thể thấy triệu chứng co cứng mất vỏ hay duỗi cứng mất não

Ngày đăng: 24/08/2016, 02:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Dương Huy Lương, Trần Thị Mai Oanh, Đàm Viết Cương, Dương Anh Tuấn (2005). “Một số kết quả nghiên cứu về triển khai chính sách chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở Việt Nam”. Tạp chí chính sách Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu về triển khai chính sách chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở Việt Nam
Tác giả: Dương Huy Lương, Trần Thị Mai Oanh, Đàm Viết Cương, Dương Anh Tuấn
Năm: 2005
3. Dương Ngọc (2009). “Dân số Việt Namqua các thời kỳ”. Tạp chí kinh tế Việt Nam. Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số Việt Namqua các thời kỳ
Tác giả: Dương Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2009
4. Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Anh và cộng sự (2006). “Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở Việt Nam”. Viện chiến lược và chính sách Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở Việt Nam
Tác giả: Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Anh và cộng sự
Năm: 2006
8. Nguyễn Thế Huệ (2008). “Chất lượng dân số cao tuổi của dân số nước ta hiện nay”. Tạp chí Nghiên cứu- Trao đổi. Nhà xuất bản Hà Nội. Hà Nội. Số 19 (163) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng dân số cao tuổi của dân số nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thế Huệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội. Hà Nội. Số 19 (163)
Năm: 2008
14. Foody JM, Rathae SS, Galusha D et al. Hydroxymethylglutanyl CoA reductase inhibitor in older persons with acute myocardial infarction: evidence for an age-statin interaction. J Am Geriatr Soc 2006; 54 (3): 421-430 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Am Geriatr Soc
15. Ko DT, Mamdani, Alter D. Lipid-lowering therapy with statins in high risk elderly patients: the treatment-risk paradox. JAMA 2004; 291 (15): 1864-1870 Sách, tạp chí
Tiêu đề: JAMA
1. Anderson G., Kerluke K. Distribution of prescription drug exposures in the elderly: description and implications. J. Clin. Epidemiol. (1996) 49 929-935 Khác
5. Đoàn Anh Luân (2007). Khảo sát mô hình bệnh tật và thực trạng chăm sóc sức khỏe người có tuổi tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Luận án tốt nghiệp chuyên khoa cấp II, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh Khác
6. Hazzard’s Geriatric Medicine and Gerontology. 6 th ed. New York, NY: McGraw-Hill Companies, Inc.; 2009 Khác
7. Kennerfalk A., Ruigomez A., Wallander M.A. Geriatric drug therapy and healthcare utilization in the United Kingdom. Ann. Pharmacother. (2002) 36 797-803 Khác
9. Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Hải Hằng (2008). Mô hình bệnh tật của người cao tuổi điều trị tại Viện lão khoa quốc gia năm 2008. Luận án tốt nghiệp Đại học, Đại học Y Dược Hà Nội Khác
10. Nicola Cooper, Kirsty Forrest. ABC of Geriatric medicine, Wiley- Blackwell, 2009 Khác
11. Rosuvastatin in Patients with Elevated C-Reactive Protein (The JUPITER trial).New England Journal of Medicine, 2009. 360(10): p. 1038-1042 Khác
12. Tổng cục thống kê (2009). Kết quả cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 Khác
13. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2000). Người cao tuổi. Pháp lệnh số 23/2000/PL-UBTVQH 10 ngày 28/4/2000 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w