b Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người Để tồn tại và phát triển, con người đã tác động vào các hệ thống tự nhiên để tạo ra củ
Trang 1Dự án thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua
thúc đẩy đa dạng sinh học tỉnh Bạc Liêu
The project adaptation to climate change through
the promotion of biodiversity in Bac Lieu province
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TỈNH BẠC LIÊU TRONG MÔN
SINH HỌC TRUNG HỌC CƠ SỞ
PHAN MINH TIẾN - LÂM VĂN KHANH - PHÙNG THỊ HÀ
(Tài liệu dùng cho giáo viên sinh họcTHCS trong tỉnh)
Trang 2Môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với
đời sống con người và sự phát triển của xã hội
loài người Việc bảo vệ môi trường hiện đang là
một trong những vấn đề quan tâm mang tính toàn
cầu của nhân loại
Ở nước ta, môi trường và bảo vệ môi trường
được Đảng và Nhà nước quan tâm Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số
1363/QĐ-TTg ngày 17 thánh 10 năm 2001 phê duyệt Đề án
“Đưa các nội dung môi trường vào hệ thống giáo
dục quốc dân” Bởi lẽ, nhà trường không chỉ là nơi
triển khai nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
cho một lượng học sinh và cán bộ, giáo viên rất
đông đảo mà còn là một khâu có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc truyền tải những thông tin về giáo
dục bảo vệ môi trường cho các thành viên khác
trong xã hội
Việc giáo dục bảo vệ môi trường qua các môn học
ở các trường phổ thông là quá trình hình thành,
phát triển cho học sinh nhận thức và có thói quen
quan tâm đến môi trường, nhất là môi trường nơi
các em đang sinh sống Thông qua đó, hình thành
cho các em thái độ, ý thức đúng đắn và các kĩ
năng cần thiết để có những hành động hài hòa với
môi trường trong đời sống hằng ngày giúp các em
có đủ năng lực hoạt động một cách độc lập hoặc
phối hợp với các cá nhân khác hay tập thể để tìm
ra giải pháp cho các vấn đề môi trường hiện tại và
ngăn chặn những vấn đề môi trường có thể xảy ra
trong tương lai, tạo điều kiện cho sự phát triển bền
vững của đất nước
Giáo dục bảo vệ môi trường là một hợp phần trong
nội dung hoạt động của Dự án GIZ – “Thích ứng
với biến đổi khí hậu thông qua thúc đẩy đa dạng
sinh học tỉnh Bạc Liêu” Được sự hỗ trợ của Dự
án, nhóm tác giả – các điều phối viên của Dự án
đã tiến hành biên soạn bộ tài liệu tham khảo “Giáo
dục bảo vệ môi trường trong các môn học Địa lí,
Sinh học, Giáo dục công dân - tỉnh Bạc Liêu” theo
hướng tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi
trường gắn liền với thực tiễn ở địa phương, dùng
cho các trường phổ thông trong tỉnh
Nội dung của bộ tài liệu đề cập tới những kiến
thức và kĩ năng cơ bản về môi trường, tình hình
môi trường Việt Nam và môi trường tỉnh Bạc Liêu,
các địa chỉ và nội dung tích hợp sát với nội dung
của Dự án, có tính chất định hướng phương thức
thực hiện với các hình thức và phương pháp tích
hợp hiệu quả
Cấu trúc của tài liệu bao gồm các phần nội dung chính sau:
Phần thứ nhất: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
• Một số kiến thức cơ bản về môi trường
• Tình hình môi trường Việt Nam hiện nay
• Vài nét nổi bật về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Bạc Liêu
• Diễn biến môi trường tỉnh Bạc Liêu
• Một số biện pháp khai thác hợp lí tài nguyên
và BVMT ở Bạc Liêu
• Một số vấn đề về giáo dục bảo vệ môi trường tỉnh Bạc Liêu
Phần thứ hai: GIÁO DỤC BVMT TRONG DẠY
HỌC CÁC MÔN SINH HỌC, ĐỊA LÍ, GDCD Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG - TỈNH BẠC LIÊU
• Một số bài soạn minh họa
Bộ tài liệu này được biên soạn với sự tham vấn
và góp ý của các chuyên viên sở ngành liên quan, các nhà sư phạm và nhiều giáo viên có kinh nghiệm của tỉnh Bạc Liêu Hy vọng, nó sẽ là tài liệu hữu ích đối với các giáo viên hiện đang giảng dạy bộ môn Địa lí, Sinh học, GDCD ở các trường phổ thông trong tỉnh
Mặc dù đã rất cẩn trọng và có nhiều cố gắng trong quá trình biện soạn tài liệu, song cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được những nhận xét và ý kiến đóng góp quí báu của các bạn đồng nghiệp để nội dung của bộ tài liệu này được hoàn thiện hơn
vệ môi trường năm 2005)
Môi trường sống của con người theo nghĩa rộng
là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội Theo nghĩa hẹp thì môi trường sống của con người chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội trực tiếp liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người như diện tích nhà ở, nước sạch, điều kiện vui chơi, giải trí, chất lượng bữa ăn
Môi trường sống của con người được phân thành:
Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
• Môi trường tự nhiên bao gồm các thành phần của tự nhiên như địa hình, địa chất, đất trồng, khí hậu, nước, sinh vật,…
• Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan
hệ giữa con người với con người, định hướng hoạt động của con người theo khuôn khổ nhất định, tạo thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác Môi trường xã hội được thể hiện cụ thể bằng các luật lệ, thể chế, quy định
• Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các yếu tố do con người tạo ra như: nhà ở, các phương tiện đi lại, công viên,…
Môi trường nhà trường bao gồm không gian trường, cơ sở vật chất trong trường như: lớp học, phòng thí nghiệm, sân chơi, vườn trường, thầy giáo, cô giáo, HS, nội quy của trường, các tổ chức
xã hội như Đoàn, Đội
2 Các chức năng cơ bản của môi trường a) Môi trường là không gian sinh sống của con người và thế giới sinh vật
Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người cần một khoảng không gian nhất định để phục vụ cho các nhu cầu sống như: không khí để thở, nước
để uống, nhà để ở, đất để sản xuất, lương thực
và thực phẩm, vui chơi, giải trí,… Theo tính toán, trung bình mỗi người mỗi ngày cần 4m3 không khí sạch để hít thở; 2,5 lít nước để uống; một lượng lương thực, thực phẩm đủ để sản sinh ra khoảng 2.000 – 2.400 calo năng lượng nuôi sống bản thân
Chức năng này đòi hỏi phải có khoảng không gian thích hợp cho mỗi người, được tính bằng m2 hay
ha đất đai để ở, sinh hoạt và sản xuất
b) Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người
Để tồn tại và phát triển, con người đã tác động vào các hệ thống tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, năng lượng cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản xuất Thiên nhiên là nơi cung cấp nguồn tài nguyên, các nguồn vật chất cần thiết phục vụ cho đời sống con người
Các nguồn tài nguyên này bao gồm:
• Rừng tự nhiên: Tạo độ phì nhiêu cho đất, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp gỗ củi, dược liệu và duy trì sự cân bằng sinh thái,…
• Nguồn nước: Cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất, thủy hải sản, năng lượng, giao thông đường thủy và là cảnh quan cho du lịch,…
• Động vật và thực vật: Cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm,…
• Khí hậu: Gồm không khí, nhiệt độ, ánh sáng mặt trời, gó, mưa,… không thể thiếu được trong sự sống của con người và động, thực vật
• Các loại khoáng sản: Than, dầu mỏ, khí tự nhiên, thiếc, đồng,… cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt ,…
c) Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải của đời sống và sản xuất
Trong hoạt động sản xuất và sinh hoạt, con người
đã thải các chất thải vào môi trường Chất thải dưới tác động của các vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác như nhiệt độ, độ ẩm, không khí,… sẽ bị phân hủy, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản, từ những thứ bỏ đi thành các chất dinh dưỡng nuôi sống cây trồng và nhiều sinh vật khác, làm cho các chất thải trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên Tuy nhiên, do sự gia tăng dân số, do
đô thị hóa, công nghiệp hóa, lượng chất thải vào môi trường ngày càng nhiều và phần lớn không
Lời nói đầu
PHẦN THỨ NHẤT NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trang 3qua xử lý, dẫn đến ở nhiều nơi, nhiều chỗ trở nên
quá tải, gây ô nhiễm môi trường
Vai trò của môi trường trong quá trình này được
thực hiện qua:
• Biến đổi lý - hóa: Pha loãng, phân hủy hóa
học nhờ ánh sáng; hấp thụ; tách chiết các vật
thải và độc tố
• Biến đổi sinh - hóa: Khử các chất độc bằng
con đường sinh hóa thông qua các chu trình
vật chất của Nitơ, Cacbon, hấp thụ các chất
dư thừa,…
• Biến đổi sinh học: Vai trò của vi sinh vật trong
quá trình này là rất quan trọng, chúng phân
giải, tổng hợp và làm biến đổi chất của các
thành phần tự nhiên
d) Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông
tin cho con người
• Cung cấp thông tin về lịch sử địa chất, lịch sử
tiến hóa của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất
hiện và phát triển của loài người: các hiện
vật, di chỉ được con người phát hiện, giúp giải
thích được nhiều bí ẩn diễn ra triong quá khứ
Khi kết nối giữa những sự kiện của hiện tại với
quá khứ, con người sẽ dự đoán được những
sự kiện xảy ra trước đây và trong tương lai
• Cung cấp các chỉ thị mang tính chất tín hiệu
để báo động sớm các hiểm họa đối với con
người và các sinh vật sống trên Trái Đất
Nhiều sinh vật do phản ứng sinh lý của cơ
thể với những biến đổi của điều kiện tự nhiên
đã thông báo sớm cho chúng ta những sự cố
như bão, động đất, núi lửa,…
• Môi trường còn lưu trữ và cung cấp cho con
người sự đa dạng nguồn vốn gen sinh vật;
các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, cảnh
quan thiên nhiên …
3 Thành phần của môi trường
a) Thạch quyển
Thạch quyển là toàn bộ lớp vỏ của Trái Đất và
phần trên cùng của lớp Mauti (đến độ sâu khoảng
100 km) dưới đáy Đại Dương được cấu tạo bởi
vật chất ở trạng thái cứng
Lớp trên cùng của thạch quyển là tầng đá trầm
tích do các vật liệu vụn, nhỏ bị nén chặt tạo thành
Khi lớp trên cùng của tầng này tiếp xúc với khí
quyển và sinh quyển tạo thành lớp vật chất mềm,
xốp được gọi là thổ nhưỡng (đất) Các thành phần
chính của đất gồm: các khoáng chất: 40%, nước:
35%, không khí: 20%, mùn và các loại sinh vật
(chất hữu cơ): 5% Đất là tư liệu sản xuất độc đáo,
là nguồn tài nhiên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng
cho con người Đất mang trên mình nó các hệ
sinh thái và là giá đỡ để con người tác động vào
các hệ sinh thái tạo nên các nền văn minh, đảm
bảo cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại
Trong vỏ Trái Đất chứa đựng nhiều tài nguyên
khoáng sản Khoáng sản được sử dụng trực tiếp trong công nghiệp hoặc có thể lấy ra từ đó kim loại
và khoáng vật dùng cho các ngành công nghiệp
b) Thủy quyển
Khoảng 71% diện tích bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi nước, tương đương với 361 triệu km2 Nước rất cần cho tất cả các sinh vật sống trên Trái Đất và là môi trường sống của nhiều loài sinh vật Nước tồn tại ở 3 thể: rắn (băng, tuyết), lỏng
và hơi nước
Theo tính toán, tổng lượng nước là 1386.106km3 Nhưng nước ngọt rất ít, chỉ chiếm 2,5%, mà hầu hết lại tồn tại ở thể rắn (băng, tuyết chiếm 2,24%); lượng nước ngọt mà con người có thể sử dụng được lại còn
ít ỏi, chỉ chiếm 0,26% tổng lượng nước
Dân số tăng nhanh cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, thâm canh nông nghiệp và các thói quen tiêu thụ nước quá mức đang gây ra sự khủng hoảng nước trên phạm vi toàn cầu Gần 20% dân số thế giới không được dùng nước sạch
và 50% thiếu các hệ thống vệ sinh an toàn Sự suy giảm nước ngọt ngày càng lan rộng hơn và gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng, đó là nạn thiếu nước sinh hoạt xảy ra ở khắp mọi nơi trên thế giới
c) Khí quyển
Khí quyển là lớp vỏ không khí bao bọc xung quanh Trái Đất Khí quyển được phân chia thành các tầng: tầng đối lưu, tầng bình lưu, tầng giữa, tầng ion (tầng nhiệt) và tầng ngoài (tầng khuếch tán)
Phần lớn khối lượng của khí quyển tập trung ở các tầng thấp: tầng đối lưu và tầng bình lưu (khoảng 5.105 tấn)
Tầng đối lưu là tầng thấp nhất của khí quyển, chiếm khoảng 80% khối lượng không khí của khí quyển, có nhiệt độ giảm dần từ +40oC ở lớp sát mặt đất tới tới - 50oC ở trên cao Ranh giới trên của tầng đối lưu trong khoảng 7 - 8km ở hai cực
và 16 - 18 km ở vùng xích đạo Ở tầng này, không khí chuyển động theo chiều thẳng đứng, tập trung nhiều nhất hơi nước, bụi và xảy ra các hiện tượng thời tiết chính như mây, mưa, bão,…
Tầng bình lưu nằm trên tầng đối lưu Ranh giới trên của tầng bình lưu dao động trong khoảng
độ cao 50km Nhiệt độ không khí từ -56oC ở phía dưới lên -2oC ở trên cao Trong tầng bình lưu, ở
độ cao khoảng 25km, có một lớp không khí giàu khí Ôzôn (O3) thường được gọi là tầng Ôzôn
Tầng Ôzôn có chức năng như một lá chắn của khí quyển, bảo vệ cho Trái Đất khỏi những ảnh hưởng độc hại của tia tử ngoại từ Mặt Trời chiếu xuống Trong tầng bình lưu luôn tồn tại quá trình hình thành và phân hủy khí Ôzôn Hoạt động công nghiệp và sinh hoạt của con người thải ra nhiều loại khí có khả năng phân hủy Ôzôn làm cho có chỗ lớp Ôzôn bị mỏng đến mức chiều dày chỉ còn vài cm, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và các loài sinh vật khác
Không khí đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người và thế giới sinh vật Các thành phần chính của không khí bao gồm nitơ, ôxy, hơi nước
và một số loại khí trơ cũng tham gia vào mọi quá trình xảy ra trên Trái Đất Hiện nay, tình trạng ô nhiễm không khí đang thật sự gây hại cho sự sống trên bề mặt Trái Đất
d) Sinh quyển
Sinh quyển là một hệ thống tự nhiên động, rất phức tạp Nó bao gồm động, thực vật, các hệ sinh thái Sự sống trên bề mặt Trái Đất được phát triển chính là nhờ vào tổng hợp các mối quan hệ tương
hỗ giữa các sinh vật với môi trường, tạo thành dòng liên tục trong quá trình trao đổi vật chất và năng lượng mà chúng ta thường gọi là các chu trình sinh địa hóa như chu trình nước, chu trình cacbon, chu trình nitơ, chu trình phospho, Nhờ hoạt động của các chu trình này mà vật chất được chu chuyển, sinh vật sống được và tồn tại trong một trạng thái cân bằng động, giúp cho chúng ổn định và phát triển
II TÌNH HÌNH MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN NAY
Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội trong những năm qua đã làm thay đổi xã hội Việt Nam
Chỉ số tăng trưởng kinh tế không ngừng được
nâng cao Tuy vậy, sự phát triển kinh tế chưa đảm bảo cân bằng với việc bảo vệ môi trường
Vì vậy, môi trường Việt Nam đã xuống cấp, nhiều nơi môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Hoạt động bảo vệ môi trường được các cấp, các ngành
và đông đảo các tầng lớp nhân dân quan tâm và bước đầu đã thu được một số kết quả đáng khích
lệ Tuy vậy, việc bảo vệ môi trường ở nước ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới Nhìn chung, môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có lúc, có nơi đã đến mức báo động
1 Về đất đai
Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên 331.314
km2 (theo Wikipedia org, 2008) Phần đất liền là 31,2 triệu ha (chiếm 94,5% diện tích tự nhiên), xếp hàng thứ 58 trong tổng số 200 nước trên thế giới
Nhưng vì số dân đông (năm 2006 là 84.156.000 người) nên diện tích đất bình quân đầu người thuộc loại rất thấp, xếp thứ 159/200 quốc gia và bằng 1/6 mức bình quân của thế giới Mặc dù diện tích trên đầu người thấp nhưng diện tích đất chưa sử dụng vẫn còn lớn, tính đến năm 2006 là khoảng 5,28 triệu ha, trong đó 5 triệu ha là đất đồi núi bị thoái hóa nặng
Bảng 1 Diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam qua các năm
Diện tích đất canh tác trên đầu người có xu hướng giảm Chất lượng đất không ngừng bị giảm do xói mòn, rửa trôi Đất nghèo kiệt dinh dưỡng do các quá trình, thoái hóa hóa học đất, khô hạn, sa mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa, lầy hóa, ngập úng,
ô nhiễm do chất thải, do sử dụng phân hóa học
và do chất độc hóa học Hậu quả nghiêm trọng của thoái hóa đất là mất khả năng sản xuất của đất, dẫn đến cạn kiệt tài nguyên động, thực vật và giảm đất nông nghiệp trên đầu người, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội
2 Môi trường rừng
Sự đa dạng về địa hình, sự phân hóa khí hậu tạo cho nước ta có nhiều loại rừng: rừng lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng tràm, rừng ngập mặn,…
Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của nước ta
Rừng có vai trò điều hòa khí hậu, bảo vệ đất, giữ nước ngầm và là nơi lưu giữ các nguồn gen quý giá Tuy nhiên, độ che phủ rừng của Việt Nam trong thời gian dài có xu hướng giảm Những năm gần đây, các hoạt động trồng rừng được coi trọng, diện tích rừng có được tăng lên nhưng chất lượng rừng vẫn tiếp tục giảm sút
Trang 4(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tính đến tháng 12 năm 2005)
Hình 1 Rừng Cúc Phương ở tỉnh Ninh Bình (nguồn: Internet)
3 Về nước
Việt Nam có lượng mưa lớn, hệ thống sông hồ
dày đặc nên tài nguyên nước mặt khá phong phú
Tổng lượng nước trung bình hàng năm là 880 tỉ
m3 Tuy vậy, do nằm ở cuối hạ lưu các con sông
Mê Kông, sông Mã, sông Cả và sông Hồng nên
lượng nước được hình thành trong lãnh thổ Việt
Nam chỉ khoảng 325 tỉ m3 trên năm Điều đó dẫn
tới khả năng thiếu nước, đặc biệt là trong mùa
khô khi các quốc gia thượng nguồn sử dụng nước
nhiều, nằm ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam
Hơn nữa, lượng mưa phân bố không đều theo
thời gian trong năm và giữa các vùng, nên ở các
tỉnh trung du Bắc Bộ, các tỉnh Trung Bộ và Tây
Nguyên thường xảy ra hạn hán Dân số tăng, các
hoạt động kinh tế gia tăng và công tác quản lý chưa tốt khiến tài nguyên nước ở Việt Nam đang
bị sử dụng quá mức và ô nhiễm Chỉ số lượng nước trên đầu người năm 1943 là 16.64 m3/người, nếu số dân tăng lên 150 triệu người thì
chỉ số chỉ còn 2.467m3/người/năm, xấp xỉ các quốc gia hiếm nước Theo Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2001: Trong thời gian gần đây, ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng khan hiếm nước Nhiều nơi thuộc Trung Bộ đã có biểu hiện tình trạng hoang mạc hóa, vùng ven biển có quá trình mặn hóa và muối hóa Ở các tỉnh Nam Trung
Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và một số vùng khác đã xảy ra tình trạng căng thẳng về nước
Các thành phố như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Việt Trì, Biên Hòa,… nước đã bị ô nhiễm
tới mức nghiêm trọng Môi trường nước ở một số dòng sông như sông Cầu (ở Bắc Bộ), sông Thị Vải, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông (ở Nam Bộ) đã bị ô nhiễm nặng
Nguyên nhân chính dẫn tới ô nhiễm môi trường nước là do nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt chưa được xử lý đã xả trực tiếp vào nguồn nước mặt Việc sử dụng hóa chất trong sản xuất công, nông nghiệp cũng đang làm cho nguồn nước ngầm bị ô nhiễm
các khu dân cư bên cạnh các nhà máy, xí nghiệp hoặc gần các đường giao thông lớn đều vượt trị
số tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 3 lần Trường hợp cá biệt, gần nhà máy gạch và bia ở Thị xã Lào Cai vượt 5 lần Nơi bị ô nhiễm lớn nhất là khu dân cư gần các Nhà máy Xi măng Hải Phòng; Nhà máy VICASA (TP Biên Hòa); Khu công nghiệp Tân Bình (TP Hồ Chí Minh); Nhà máy tuyển than Hòn Gai (TP Hạ Long)
5 Về đa dạng sinh học
Việt Nam được coi là một trong 15 Trung tâm đa dạng sinh vật học trên thế giới Sự đa dạng sinh học thể hiện ở thành phần loài sinh vật, thành phần gen, đồng thời còn thể hiện ở sự đa dạng các kiểu cảnh quan, các hệ sinh thái
Khu hệ thực vật Việt Nam có 13.766 loài thực vật, trong đó có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1999)
Về khu hệ động vật, cho đến nay đã thống kê được 5.155 loài côn trùng, 258 loài bò sát, 82 loài ếch nhái, 275 loài và phân loài thú, khoảng 100 loài chim đặc hữu, 782 loài động vật không xương sống, 544 loài cá nước ngọt,… Đặc biệt, gần đây
đã phát hiện được 06 loài thú mới: Sao la, Mang lớn, Bò sừng xoắn, Mang Trường Sơn, Mang Pù Hoạt, Cầy Tây Nguyên (Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam, năm 2001)
Điều đáng nói là trong các năm gần đây, độ đa dạng sinh học đã bị suy giảm nhiều: số lượng cá thể của các loài giảm mạnh, nhiều loài đã bị diệt chủng và nhiều loài đang có nguy cơ bị tiêu diệt
Sự suy giảm số lượng loài trong những năm gần đây dược thể hiện rõ nét qua bảng số liệu sau:
Bảng 3 Sự suy giảm số lượng loài
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam, năm 2001).
Trang 5Trong cuốn Sách đỏ Việt Nam phần động vật
(1992), phần thực vật (1996) đã nêu 365 loài
động vật và 356 loài thực vật quý hiếm có nguy cơ
bị tiêu diệt Nguyên nhân chủ yếu là do khi thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh tế, khai thác tài
nguyên,… của mình con người đã có những hành
động sai trái làm suy giảm hoặc mất nơi sinh cư
của sinh vật, dẫn đến nhiều sinh vật bị tiêu diệt,
môi trường bị ô nhiễm
6 Về chất thải
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và đời sống
ngày càng đi lên, lượng chất thải cũng ngày càng
nhiều hơn Sự gia tăng dân số, tình hình đô thị
hóa nhanh chóng đã làm tăng lượng chất thải
Lượng phát sinh chất thải rắn ở Việt Nam lên đến
hơn 15 triệu tấn mỗi năm, tăng trung bình hàng
năm là 15%, trong đó chất thải sinh hoạt từ các
hộ gia đình, nhà hàng, các khu chợ và nơi kinh
doanh chiếm khoảng 75 - 80% tổng lượng chất
thải phát sinh trong cả nước Lượng chất thải còn
lại phát sinh từ các cơ sở công nghiệp,… Chất
thải công nghiệp và chất thải y tế tuy phát sinh với
khối lượng ít hơn nhiều nhưng lại có nguy cơ gây
hại cho sức khỏe và môi trường cao
- Chất thải sinh hoạt: Các khu đô thị ở Việt Nam
tuy có số dân chỉ chiếm khoảng hơn 26% số dân
của cả nước nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu
tấn chất thải mỗi năm (tương ứng với 50% tổng
lượng chất thải rắn sinh hoạt của cả nước)
- Chất thải công nghiệp: Lượng chất thải công
nghiệp phát sinh chiếm khoảng 20% tổng lượng chất thải Gần một nửa lượng chất thải công nghiệp của cả nước phát sinh ở khu vực Đông Nam Bộ, trong đó TP Hồ Chí Minh chiếm tới 31%
Chất thải công nghiệp phát sinh từ các làng nghề
ở vùng nông thôn chủ yếu tập trung ở miền Bắc
Khoảng 1.450 làng nghề phân bố ở các vùng nông thôn trên toàn quốc, mỗi năm thải ra khoảng 774.000 tấn chất thải công nghiệp
- Chất thải nguy hại: Năm 2003, tổng lượng chất
thải nguy hại là khoảng 160.000 tấn, trong đó khoảng 130.000 tấn phát sinh từ công nghiệp
Chất thải y tế nguy hại từ các bệnh viện, cơ sở
y tế và điều dưỡng chiếm khoảng 21.000 tấn
Nguồn phát sinh chất thải nguy hại từ hoạt động nông nghiệp là khoảng 8.600 tấn Phần lớn chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh ở miền Nam, chiếm khoảng 64% tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh của cả nước (Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, năm 2004, Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Theo ước tính, lượng chất thải sẽ tăng lên đáng
kể Theo dự báo, đến năm 2010 lượng chất thải sinh hoạt sẽ tăng 60%, chất thải công nghiệp tăng 50%, chất thải nguy hại tăng 3 lần (Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, năm 2004 Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Hiệu quả thu gom chất thải còn thấp, ở các thành phố, thu gom đạt khoảng từ 70 - 75% nhưng ở
Hình 3 Chất thải phát sinh từ hoạt động nông nghiệp (Ảnh: Lâm Văn Khanh, 2009).
nông thôn thu gom chỉ đạt 20% Việc xử lý chất thải chưa đảm bảo kỹ thuật gây nên hiện tượng
ô nhiễm, ảnh hưởng đến môi trường sống của cư dân, đặc biệt là chất thải độc hại ở các bệnh viện, các khu công nghiệp
7 Về vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, cung cấp nước sạch ở đô thị và nông thôn
Hiện nay mới có 60 - 70% dân cư đô thị, dưới 40% dân ở nông thôn được cấp nước sạch và chỉ
có 28 - 30% hộ gia đình ở nông thôn có hố xí hợp
vệ sinh Nhiều vụ ngộ độc thực phẩm đã xảy ra, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang cần được quan tâm của toàn xã hội
III VÀI NÉT NỔI BẬT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN TỈNH BẠC LIÊU
1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lí
Bạc Liêu là tỉnh nằm ở phía Đông Bán đảo Cà Mau, trải rộng từ 9o00’,00” đến 9o38’,9” vĩ độ Bắc
và từ 105o14’15” đến 105o51’54” kinh độ Đông, tỉnh có các mặt tiếp giáp như sau:
• Phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang và Kiên Giang;
• Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng;
• Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông;
• Phía Tây và Tây Nam giáp Kiên Giang và Cà Mau (hình 4).
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 259.409,50 ha, toàn tỉnh có 7 đơn vị hành chính huyện - thành phố, bao gồm thành phố Bạc Liêu và các huyện: huyện Vĩnh Lợi, Hòa Bình, Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai, Đông Hải; với tổng cộng 64 xã, phường và thị trấn Trung tâm hành chính tỉnh là thành phố Bạc Liêu cách thành phố Cần Thơ 110 km và cách thành phố Hồ Chí Minh 280 km Diện tích tự nhiên
ở Bạc Liêu có tăng nhẹ qua các năm (tỷ lệ tăng khoảng 0,2 - 0,35%) chủ yếu là do quá trình bối đắp phù sa diễn ra mạnh hơn quá trình sạt lở
Khu vực Gò Cát - Đông Hải đến giáp ranh huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng được bồi đắp nhiều nhất Bờ biển Bạc Liêu trải dài 56 km, nhờ phù
sa của sông Cửu Long nên hàng năm vùng bãi bồi ven biển tỉnh Bạc Liêu lấn ra biển khoảng 75 - 80m, diện tích bãi bồi tính trong phạm vi từ bờ trở
ra 2km lên đến 12.337ha (Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006 - 2010)
b Địa hình
Tỉnh Bạc Liêu nằm trong vùng đất mới của Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), đó là vùng đồng bằng rìa châu thổ Địa hình tương đối bằng phẳng
và thuần nhất, độ cao trung bình từ 0,3 - 0,5 m
Địa hình có xu hướng dốc từ bờ biển vào nội
đồng, từ Đông Bắc xuống Tây Nam Độ dốc trung bình toàn tỉnh từ 1 - 1,5 cm/km, chia thành hai khu vực rõ rệt:
- Khu vực phía Nam quốc lộ 1A có địa hình với những giồng cát biển không liên tục, cao trung bình từ 0,4 - 0,8 m, hướng nghiêng, thấp dần vào nội địa
- Khu vực phía Bắc quốc lộ 1A là vùng trũng của tỉnh, cao trung bình từ 0,2 - 0,3 m so với mực nước biển.
Kiểu địa hình này thuận lợi cho việc đưa nước biển vào nội đồng phục vụ nuôi trồng thủy sản, làm muối,… song cũng tạo thành các vùng trũng chua phèn cục bộ, đặc biệt là ở các huyện Phước Long, Hồng Dân và Giá Rai
Ngoài ra, tỉnh còn có bờ biển có chiều dài 56 km, với hệ sinh thái rừng ngập mặn ven bờ phong phú
cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt, với các của sông lớn như Gành Hào, Cái Cùng, Nhà Mát, Chùa Phật là điều kiện thuận lợi để giao thương, trung chuyển hàng hoá ra vào tỉnh Quốc lộ 1A chạy qua địa bàn tỉnh từ Đông sang Tây, nối TP
Bạc Liêu với thành phố Cà Mau Tuyến đường Cao Văn Lầu dài 8 km nối quốc lộ 1A với bờ biển, cùng nhiều tuyến đường xương cá nối Quốc lộ 1A với các nơi khác trong tỉnh, thuận tiện cho giao thông vận tải
Năm 2010, lượng mưa trung bình cả năm là 2.409,5 mm, tăng hơn so với năm 2009 là 2.150,8
mm và năm 2006 là 1.971,6 mm Lượng mưa trung bình các tháng trong năm dao động từ 11,4
- 1.331,1 mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7 và tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 12
Trang 7Nhìn chung, khí hậu Bạc Liêu khá thuận lợi cho
sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa và nuôi
trồng thủy sản
*Nhiệt độ
Trong năm 2010, nhiệt độ trung bình cả năm là
27,60oC, tăng hơn so với năm 2009 là 0,50oC và
so với năm 2000 là 0,90oC Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm dao động từ 25,8 - 30,3 0oC, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 5 và tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 (hình 6)
Từ kết quả cho thấy nhiệt độ không khí có xu hướng gia tăng và đây cũng là một trong những nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu
Bảng 5 Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong các năm (Đơn vị: 0C)
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bạc Liêu các năm 2000 - 2010.
Bảng 6 Độ ẩm không khí trung bình các tháng trong các năm (Đơn vị: %) Năm
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bạc Liêu các năm 2000 – 2010
Hình 6 Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong các năm 2000 - 2010
Trang 8Bạc Liêu có hệ thống kênh rạch chằng chịt với 2
trục kênh chính là Bạc Liêu - Cà Mau và Quản Lộ
- Phụng Hiệp Chế độ thủy văn của hệ thống kênh
rạch trên địa bàn chịu ảnh hưởng giao thoa của
thủy triều biển Đông và biển Tây
- Thủy triều biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến
vùng Nam Quốc lộ 1A là chế độ bán nhật triều
không đều, biên độ triều lớn, chênh lệch đỉnh triều
lớn 30 - 40 cm Trong một tháng có 2 lần triều
cường, tốc độ truyền triều 15 km/giờ
- Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của chế độ thủy
văn sông Hậu nên khá phức tạp Khu vực Bắc
quốc lộ 1A chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều
biển Tây qua sông Cái Lớn tỉnh Kiên Giang Tuy
nhiên, mức độ ảnh hưởng không rõ, biên độ triều
biển Tây nhỏ so với biển Đông nên khả năng tiêu
thoát nước kém
Do khí hậu cận xích đạo gió mùa nên lượng mưa
phân hoá theo mùa đã gây ra hạn hán và ngập
úng cục bộ ở một số thời điểm trong năm; các đợt
tiểu hạn vào thời kỳ đầu và giữa mùa mưa; trong
mùa mưa hạn chế rõ nét nhất cần lưu ý từ tháng 5
đến tháng 10 do lượng mưa tại chỗ lớn, cùng với
triều cường dân cao và nước từ thượng nguồn
sông Quản Lộ - Phụng Hiệp đổ về gây ngập úng,
xói lở một số khu vực làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân Việc tăng cường hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi là biện pháp quan trọng để khắc phục khó khăn này
2 Tài nguyên thiên nhiên
a Tài nguyên đất
*Tài nguyên đất và thổ nhưỡng
Quỹ đất tỉnh Bạc Liêu luôn biến động với hai quá trình trái ngược nhau: quá trình bồi tụ và quá trình sạt lở Quá trình bồi tụ có vận tốc nhanh hơn quá trình sạt lở nên hằng năm quỹ đất tỉnh được tăng thêm một diện tích khá lớn
- Vùng bồi tụ kéo dài từ Gò Cát (Đông Hải) đến giáp với tỉnh Sóc Trăng Tốc độ bồi ra biển có năm lên tới 60 - 80 m và hiện nay đã hình thành một bãi bồi ven biển rộng từ 1 - 2 km, dài 40 km từ TP Bạc Liêu đến Gò Cát huyện Đông Hải
- Vùng sạt lở gần khu vực kè Gành Hào thuộc thị trấn Gành Hào, kè Nhà Mát thuộc TP Bạc Liêu , khu vực này đã được xây dựng kè và đê biển nên tốc độ sạt lở không đáng kể Bên cạnh đó một
số vùng cạnh các sông trong vùng do dòng chảy xoáy xiết tạo hàm ếch nên gây ra hiện tượng sạt
lở, có thể kể đến là Gành Hào thuộc thị trấn Gành Hào, với tốc độ sạt lở không lớn
Đất đai của tỉnh Bạc Liêu phần lớn được hình thành trên các trầm tích biển, sông biển hỗn hợp trong thời kỳ biển lùi gồm các nhánh chính:
- Nhóm đất cát: có diện tích 8.367,77 ha (chiếm
3,24% diện tích tự nhiên), phân bố dọc theo bờ biển thị xã Bạc Liêu và huyện Hòa Bình, khu vực Giồng Nhãn và Giồng Giữa thuộc xã Hiệp Thạnh, Thuận Hòa của thị xã Bạc Liêu và xã Vĩnh Hậu thuộc huyện Hoà Bình
- Nhóm đất mặn: Có diện tích 99.276,92 ha chiếm
38,44% diện tích tự nhiên toàn tỉnh gồm: đất mặn thường xuyên dưới rừng ngập mặn, đất mặn trung bình, đất mặn ít Phân bố chủ yếu ở phía Nam quốc lộ 1A và một phần đất mặn ít mùa khô dọc theo phía Bắc Quốc lộ 1A
- Nhóm đất phèn: có diện tích lớn nhất 133.626,11
ha, chiếm 51,74% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh gồm: đất phèn tiềm tàng, đất phèn hoạt động, đất phèn hoạt động bị thủy phân Nhóm đất phèn phân bố chủ yếu ở phía Bắc quốc lộ 1A, thuộc các huyện Hồng Dân, Vĩnh Lợi và huyện Giá Rai
- Nhóm đất phù sa: có diện tích 5.242,77 ha
(chiếm tỷ lệ 2,03%), phân bố chủ yếu ở phía Đông Bắc huyện Hồng Dân
- Nhóm đất nhân tác: có diện tích 11.751,04 ha
(chiếm 4,55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh), phân
bố tập trung dọc theo các kênh rạch, các trục lộ giao thông lớn và các khu dân cư tập trung Đất nhân tác bao gồm các đất thổ cư, đất lập líp, đất xây dựng cơ bản., không dùng cho canh tác và sản xuất nông nghiệp
Xét về khả năng thích nghi, đất đai Bạc Liêu chia thành 2 khu vực:
- Khu vực phía Bắc quốc lộ 1A có 11 vùng thích nghi Phía Đông Bắc thích hợp cho trồng lúa, hoa màu và các cây nông nghiệp khác Phía Tây thích hợp cho nuôi trồng thủy sản
- Khu vực phía Nam quốc lộ 1A có 10 vùng thích nghi, phù hợp cho nuôi trồng thủy sản, làm muối
*Hiện trạng sử dụng đất
Đến cuối năm 2010, Bạc Liêu có diện tích 257.094
ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản là 225.568,66 ha chiếm 87.74 % diện tích đất tự nhiên Điều này cho thấy tỉnh Bạc Liêu hiện nay vẫn phát triển ngành nông nghiệp, thủy sản là ngành chính trong đó thế mạnh là phát triển nuôi trồng thủy hải sản
Cơ cấu sử dụng đất chung của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng hợp lý hơn phù hợp với điều kiện
tự nhiên của tỉnh và dần đáp ứng yêu cầu phát
Hình 8 Sạt lở ven biển Bạc Liêu (Ảnh Lâm Văn Khanh, 2011).
Bảng 7 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bạc Liêu (Đơn: Nghìn ha)
Năm Tổng diện
tích
Đất nông nghiệp Đất lâm nghiệp có rừng Nuôi trồng thủy sản chuyên dùng Đất Đất ở Diện
Trang 9triển kinh tế xã hội Phần lớn diện tích đất đã được
khai thác đưa vào sử dụng cho các mục đích dân
sinh, kinh tế
Với đường bờ biển dài 56 km, vùng biển rộng
40.000 km² cùng hệ thống ao hồ, kênh rạch chằng
chịt, và diện tích bãi bồi hàng năm lên đến 12.337
ha, Bạc Liêu có diện tích nuôi trồng thủy sản
chiếm ưu thế Trên cơ sở phát huy hiệu quả tiềm
năng lợi thế địa phương vào phát triển kinh tế,
nuôi trồng thuỷ sản được xác định là ngành kinh
tế quan trọng của tỉnh Bạc Liêu
Cơ cấu trong nội bộ đất nông nghiệp đang dần
được chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ lệ sử
dụng đất có hiệu quả kinh tế cao như nuôi trồng
thủy sản, giảm tỷ lệ đất sản xuất nông nghiệp,
diêm nghiệp kém hiệu quả Diện tích đất có ý
nghĩa đối với chiến lược phát triển kinh tế xã hội
của vùng như đất ở, đất quốc phòng – an ninh, đất
trụ sở các cơ quan, đất sản xuất kinh doanh và đất
các công trình công cộng chiếm gần 70% diện tích
đất phi chuyên dùng
Qua phân tích số liệu thống kê về tình hình sử
dụng đất trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu cho thấy việc
chuyển dịch cơ cấu đất sản xuất nông lâm ngư
nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cho tỉnh Bạc
Liêu Tuy nhiên, cũng có những tác động không
nhỏ đến môi trường sinh thái nói chung và môi
trường đất nói riêng, tiềm ẩn các nguy cơ càng
làm mất đi cân bằng sự đa dạng sinh học vốn có
ở khu vực ven biển giàu tiềm năng của tỉnh
b Tài nguyên nước
*Nguồn nước trên mặt
Nguồn nước ngọt của tỉnh là do nguồn nước mưa
và nước ngọt từ sông Hậu cung cấp và chảy
qua hệ thống kênh, rạch cùng với các công trình
ngọt cống, đập, đê bao ngăn mặn giữ ngọt; đây
là những nguồn nước ngọt quan trọng trong sản
xuất và sinh hoạt của nhân dân, đặc biệt là trong
mùa khô Tuy nhiên, hệ thống các công trình trong
vùng ngọt hóa chưa khép kín, nên gây khó khăn
cho việc giữ ngọt ổn định Chất lượng nước mặt
(sông, rạch, ao, hồ) cũng diễn biến theo mùa Đặc
biệt vào mùa khô, xâm nhập mặn từ biển Đông
gây nhiễm mặn khá lớn cho khu vực Vùng phía
Nam Quốc lộ 1A do chịu ảnh hưởng trực tiếp của
thủy triều biển Đông nên dẫn đến hiện tượng
xâm nhập mặn gây nhiễm mặn nguồn nước mặt
khu vực ven biển, đặc biệt vào mùa khô Ngoài
ra, lượng mưa hàng năm là nguồn nước ngọt bổ
sung vô cùng quan trọng để ngọt hóa diện tích đất
nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt của nhân dân
Là một tỉnh đồng bằng ven biển, Bạc Liêu có một
hệ thống kênh rạch chằng chịt Tổng diện tích các
sông, kênh rạch trong tỉnh chiếm 6.763,7 ha, bằng
2,6% diện tích đất toàn tỉnh, mật độ bình quân >
1,5 km kênh/km2 Nhìn chung, các sông và kênh
lớn được coi là phát nguồn từ hai điểm chính: từ
thành phố Cà Mau và từ sông Hậu - Cần Thơ Các sông hoặc kênh lớn này sau khi từ nơi phát nguồn chảy qua địa phận Bạc Liêu rồi đổ ra các cửa ở biển Đông và vịnh Thái Lan Có thể phân thành 2 nhóm: nhóm sông chính và kênh trục; nhóm các kênh rạch chính
- Các nhánh sông chính gồm có: sông Gành Hào, sông ngã ba Cái Tàu
- Các kênh trục gồm: kênh Cà Mau - Bạc Liêu, kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp
sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt Về mùa khô, nước được chuyển lên mặt đất bằng các mao dẫn mang theo muối và các chất gây độc không có lợi cho cây trồng
Nguồn nước ngầm ở tầng sâu khá phong phú với trữ lượng lớn, chất lượng khá tốt Có 4 tầng nước ngầm có thể khai thác nằm ở độ sâu khoảng 80 – 500 m trong địa bàn tỉnh Hiện tại tầng nước được khai thác và sử dụng nhiều có độ sâu trung bình 80 - 100 m Trữ lượng khai thác có thể đạt từ 3,68 triệu m3/ngày Tuy nhiên, việc khai thác nước ngầm được quản lý một cách đúng mức, cần phải
có những biện pháp quản lý sát để bảo vệ nguồn nước ngầm
Nhìn chung, nguồn nước ngọt phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của tỉnh chủ yếu là nước mưa, nước từ sông Hậu và nguồn nước ngầm Trữ lượng nước có khả năng đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dân sinh
c Tài nguyên rừng
Diện tích rừng và đất rừng chiếm 1,87% diện tích đất tự nhiên – vào khoảng 4.832 ha, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ (4.657 ha) Cây trồng chủ yếu là mắm trắng, cây đước, cây tràm Rừng ở Bạc Liêu có 2 loại sinh thái rừng đặc trưng của đồng bằng sông Cửu Long là rừng ngập mặn ven biển và rừng ngập nước nội địa, trong đó rừng ngập mặn có năng suất sinh học cao, có giá trị về phòng hộ và môi trường
Hệ sinh thái rừng ngập mặn Bạc Liêu có hệ động, thực vật khá đa dạng về mặt sinh học Theo thống kê có: 64 loài thực vật thuộc 27 họ, chủ yếu là cây Đước, Vẹt, Mắm, Giá Động vật trong rừng ngập mặn có 12 loài thú, 12 loài bò sát, 8 loài ếch nhái, 67 loài chim đầm lầy,
25 loài tôm và 250 loài cá nước mặn
Hình 9 Rừng ngập mặn ven biển Bạc Liêu (Ảnh Lâm Văn Khanh, 2010).
d Tài nguyên biển
Vùng biển Bạc Liêu rộng trên 40.000 km2, trữ lượng hải sản lớn, phong phú về chủng loại (như cá có tới
661 loài) Nhiều loại có trữ lượng và giá trị kinh tế cao như tôm biển các loại, cá Hồng, cá Gộc, cá Sao,
cá Thu, cá Chim, cá Đường Trữ lượng cá đáy và
cá nổi lên đến trên 800 nghìn tấn, hàng năm có thể khai thác từ 240 nghìn đến 300 nghìn tấn Tôm biển
có trên 30 loài, có thể đánh bắt khoảng 10 nghìn tấn mỗi năm Ngoài ra, ở vùng biển Bạc Liêu còn nhiều loài hải sản khác có thể khai thác hàng hóa như mực, nghêu, sò huyết…
Với các cửa biển Gành Hào, Nhà Mát, Cái Cùng Bạc Liêu có thể phát triển mạnh các ngành vận tải, cảng biển và du lịch biển Gành Hào có khả năng phát triển thành trung tâm kinh tế biển lớn của tỉnh cũng như của ven biển phía Đông Nam Bộ (khu vực từ Mũi Dinh đến Cà Mau), cung cấp các dịch
vụ cho đánh bắt và chế biến thủy hải sản Các cửa biển nối với mạng lưới đường bộ, trong đó Quốc
lộ 1A và 2 tuyến Quốc lộ khác sẽ được xây dựng trong những năm tới
e Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản chủ yếu là các mỏ đất sét nằm rải rác trên địa bàn tỉnh, ngoài ra còn có cát biển tích tụ ven bờ vùng biển Bạc Liêu … Đây là tài nguyên không tái tạo và với trữ lượng thấp nên chưa được cơ quan chuyên môn điều tra, thăm dò đánh giá tiềm năng từ đó hoạt động khai thác tài nguyên còn rất hạn chế
g Tài nguyên du lịch
Bạc Liêu là một vùng đất xuất xứ của bài vọng cổ “Dạ
cổ hoài lang” của Cao Văn Lầu làm say đắm lòng người Việt Nam nói chung và người Nam Bộ nói riêng
Một trong những cái nôi của phong trào “Đờn ca tài tử”, một loại hình diễn xướng dân gian trong các lễ hội, tiệc cưới hay chỉ đơn giản tụ tập nhau cùng đờn ca trong những đêm trăng sáng ở các xóm làng
Trang 10Hình 10 Khu hệ thực vật tại sân chim Bạc Liêu (Ảnh Lâm Văn Khanh, 2009).
Người dân Bạc Liêu chủ yếu sử dụng phương tiện
giao thông đường thủy Du khách có thể ngồi đò,
xuồng, ca nô để vừa thưởng thức cái không khí
mát mẻ của kênh rạch, vừa ngắm nhìn cảnh sắc
trời nước bao la, vừa trò chuyện với những người
dân quê mộc mạc, chân chất càng làm tăng thêm
sự hấp dẫn cuo khách tham quan du lịch
Bạc Liêu nổi tiếng với những công trình kiến trúc đặc sắc có niên đại hàng trăm năm như dinh thự “công
tử Bạc Liêu”, chùa Xiêm Cán, Tháp cổ Vĩnh Hưng
- Kênh Xáng Cà Mau - Bạc Liêu chạy dọc theo chiều dài của tỉnh theo hướng Đông Bắc – Tây Nam với chiều dài khoảng 70 km
- Kênh Phụng Hiệp bắt nguồn Hậu Giang chảy qua Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau với chiều dài khoảng 120km, trong đó đoạn chảy qua địa phận tỉnh Bạc Liêu có chiều dài khoảng 50km
- Hệ thống kênh ngang: tạo thành hệ thống đường thủy xương cá nối các đô thị và điểm dân cư dọc Quốc lộ 1A với các vùng sâu vùng xa trong tỉnh,
đó là các kênh Xáng Cống, kênh Xáng Hộ Phòng
- Gành Hào, Kênh Cống Cái Cùng, Kênh Chùa Phật, Kênh Xáng, Kênh La Thăng, Kênh Xiêm Cán, Kênh Ngan Dừa – Cầu Sập, Kênh Phước Long – Vĩnh Mỹ, Kênh Phó Sinh – Giá Rai, Kênh Chủ Chí, Kênh Hoà Bình, Kênh Cộng Hoà, Kênh Cạnh Đền,
Tỉnh có các con kênh dẫn nước ngọt từ sông Hậu
về, cung cấp chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất ở khu vực phía Bắc quốc lộ 1A Đặc biệt là vào mùa mưa lũ, nước đổ từ vùng ngập lũ đổ về từ sông Hậu mang một lượng lớn nước ngọt cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của người dân, đặc biệt là đẩy lùi xâm nhập mặn - một yếu tố thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh
Chế độ thủy văn của tỉnh chịu ảnh hưởng của chế
độ bán nhật triều biển Đông và một phần nhật triều biển Tây Do đó, phần phía Bắc quốc lộ 1A
có điều kiện nuôi trồng thủy sản, làm muối, phá triển rừng ngập mặn
Hiện nay, nguồn nước mặt của Bạc Liêu đang có nguy cơ bị ô nhiễm do nuôi trồng thủy sản quá mức và sử dụng hoá chất trong sản xuất nông nghiệp, cùng với sự biến đổi của khí hậu, hạn hán ngày càng gay gắt dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng hơn Tỉnh cần có quy hoạch sử dụng hợp lý các nguồn nước, hình thành các hệ thống dự trữ, cấp thoát nước, tránh
để nước thải chưa xử lý lan ra gây ô nhiễm môi trường
*Các nguồn gây ô nhiễm nước trên mặt lục địa
Môi trường nước mặt lục địa bao gồm nước hồ
ao, đồng ruộng, nước sông, kênh rạch Nguồn nước các sông và kênh tải nước thải, các hồ, khu vực đô thị, khu công nghiệp và đồng ruộng lúa nước của tỉnh là những nơi thường có mức độ ô nhiễm cao vì nhưng lý do sau đây:
- Là nơi cuối cùng tiếp nhận toàn bộ các chất thải trong địa bàn tỉnh trước khi thải ra biển;
- Dễ bị tích tụ ô nhiễm, tập trung ô nhiễm từ các nguồn như chất thải rắn, đất, nước và kể cả không khí;
Nguồn gây ra ô nhiễm nước mặt lục địa của tỉnh Bạc Liêu phát sinh từ những nguồn sau:
- Khu đô thị, khu dân cư, hộ dân sống nông thôn bao gồm: nước bẩn và rác thải sinh hoạt
- Khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung, các nhà máy: nước thải công nghiệp phát sinh, nước thải sinh hoạt của công nhân lao động trong nhà máy
- Khu TTCN, làng nghề bao gồm: nước và rác thải phát sinh
- Hoạt động xây dựng công trình, cơ sở hạ tầng các công trình kinh tế - văn hoá - xã hội trên địa bàn tỉnh bao gồm: nước và rác thải xây dựng phát sinh do hoạt động xây dựng và nước thải sinh hoạt của công nhân
- Hoạt động giao thông đường thuỷ bao gồm:
nước và rác thải giao thông - vận tải phát sinh, chất thải nguy hại như nước dằn tàu, cặn dầu, sự
cố tràn dầu
- Chất thải trong nông nghiệp - trồng trọt bao gồm:
mùi hôi, rác thải, dư lượng phân bón, thuốc BVTV phát sinh trong hoạt động canh tác
- Chất thải trong chăn nuôi bao gồm: phân, nước thải
- Chất thải trong nuôi trồng thủy sản bao gồm:
phân, nước thải, thức ăn dư thừa phát sinh trong nuôi trồng thủy sản
- Chất thải trong hoạt động khai khoáng bao gồm:
chất thải rắn và nước thải;
- Chất thải trong các hoạt động dịch vụ bao gồm:
nước, rác thải;
- Chất thải trong hoạt động y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân bao gồm: rác và nước thải y tế
- Hoạt động môi trường – cộng đồng bao gồm:
bùn thải phát sinh trong hoạt động xử lý rác, nước thải; hoạt động vận hành của các công trình như cấp nước, thoát nước, vệ sinh môi trường phát sinh nước thải và chất thải rắn;
*Diễn biến ô nhiễm
Với đặc trưng về điều kiện tự nhiên và điều kiện địa
lý của tỉnh Bạc Liêu đã phân chia địa bàn tỉnh thành
2 vùng sinh thái rõ rệt: vùng Bắc Quốc lộ 1A - vùng sinh thái nước ngọt - vùng sinh thái trồng lúa, nuôi thủy sản nước ngọt; vùng Nam Quốc lộ 1A - vùng sinh thái ngập mặn - vùng sinh thái rừng ngập mặn ven bờ phục vụ ngành nuôi trồng thủy sản nước mặn, làm muối và trồng rừng ngập mặn,…
Theo kết quả quan trắc cho thấy, chất lượng nước mặt của tỉnh Bạc Liêu trong 5 năm 2006 - 2010 đều có dấu hiệu ô nhiễm được thể hiện qua các thông số phân tích hóa lý và sinh học
Nhìn chung môi trường nước mặt của tỉnh Bạc Liêu trong những năm 2006 - 2010 đã có dấu hiệu
ô nhiễm hữu cơ nhẹ biểu hiện qua nồng độ BOD5, COD, SS và Coliform đều vượt tiêu chuẩn vài lần
Đây là hậu quả của việc xả thải nước thải trực tiếp chưa qua xử lý, hoặc có xử lý nhưng không đạt tiêu chuẩn xả thải vào các nguồn nước mặt cũng như từ các nguồn khác
- Ô nhiễm các hợp chất hữu cơ là tình trạng phổ biến trên tất cả các vực nước mặt trên địa bàn tỉnh Trên các trục sông chính, cũng như trên các kênh rạch chỉ tiêu COD và BOD5 đều vượt tiêu chuẩn từ 1,5-2 lần, COD dao động trong khoảng 10-62 mg/L, BOD5 dao động khoảng 5-25 mg/L
- Ô nhiễm các chất dinh dưỡng cũng đang diễn
ra trên các nguồn nước mặt do nhiều nguyên nhân: nước thải sinh hoạt, nước thải các ngành công nghiệp (các ngành chế biến thủy sản và các
Bạc Liêu còn nổi tiếng với nghề làm muối, một
địa danh được mọi người biết đến - “Kênh tư
ruộng muối” Những cánh đồng muối được chia
thành từng ô, từng hàng chạy dài Nghề muối ở
Bạc Liêu đã có từ lâu đời, đây là nơi cung cấp
một lượng muối khá lớn cho khu vực đồng bằng
sông Cửu Long
Bạc Liêu còn có nhiều làng nghề đan lát, đan
lưới, làm nước mắm, nước tương Ở các làng ven
biển, nghề đan lưới cũng rất phổ biến bởi nghề
này phục vụ cho nhu cầu đánh bắt hải sản của
ngư dân
Bên cạnh đó du lịch sinh thái còn mang chúng ta
đến với sân chim Bạc Liêu, một khu dữ trữ sinh
quyển với hàng trăm loài chim, thú.Ở đây còn có
khu vườn nhãn cổ nổi tiếng nhất đồng bằng sông
Cửu Long, và là điểm thu hút du khách đến tham
quan Vườn nhãn rộng khoảng 230 ha, chạy dài
trên 11 km đi qua 2 xã Hiệp Thành và Vĩnh Trạch Đông, thuộc thị xã Bạc Liêu
Nhìn chung, với vị trí địa lý, các hệ sinh thái, các công trình văn hóa, di tích lịch sử, phong tục tập quán các dân tộc sống trên địa bàn … đã tạo cho Bạc Liêu nguồn tài nguyên du lịch phong phú, trên
cơ sở đó có thể tổ chức các loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch hành hương
IV DIỄN BIẾN MÔI TRƯỜNG TỈNH BẠC LIÊU
1 Diễn biến môi trường nước
a Tài nguyên nước mặt lục địa
Tỉnh Bạc Liêu có nhiều kênh rạch chằng chịt như:
kênh Quản Lộ Phụng Hiệp, kênh Canh Đền, kênh Xáng Cà Mau – Bạc Liêu Nguồn nước cung cấp chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt của tỉnh
Trang 11sản phẩm từ nông nghiệp), các làng nghề đều là
những loại nước thải có nồng độ các chất hữu cơ
cao Ở các vùng nông thôn, điều này cũng do việc
chăn nuôi gia súc, gia cầm, sử dụng phân hóa học
phục vụ thâm canh tăng vụ
- Coliform tại các vị trí quan trắc dao động từ
210 - 24 x 104 MPN/100ml, vượt đến 48 lần so
với QCVN 08:2008/BTNMT Sử dụng các nguồn
nước nhiễm bẩn vi sinh vật gây ra nhiều bệnh có
thể chuyển thành dịch trong cộng đồng, đặc biệt là
các vùng nông thôn
b Tài nguyên nước dưới đất
Theo khảo sát thực tế và các tài liệu tham khảo,
Bạc Liêu có trữ lượng nước ngầm khá lớn Hiện
tại, tỉnh đang khai thác sử dụng ở độ sâu từ 80 -
100 m Nước ở đây dễ bị nhiễm phèn, do đó cần
phải được quan tâm bảo vệ
Hiện nay, nguồn nước mặt và nước ngầm của Bạc
Liêu đang có nguy cơ bị ô nhiễm do nuôi trồng
thủy sản quá mức và sử dụng hoá chất trong sản
xuất nông nghiệp Tỉnh cần có quy hoạch sử dụng
hợp lý các nguồn nước, hình thành các hệ thống
cấp thoát nước, tránh để nước thải chưa xử lý lan
ra gây ô nhiễm môi trường
Các nguồn gây ô nhiễm nước dưới đất: Nguồn
gây ra ô nhiễm nước ngầm trên địa bàn tỉnh Bạc
Liêu phát sinh từ những nguồn sau:
- Quá trình biến đổi khí hậu gây ra mặn hóa chất
lượng nước ngầm
- Chất thải trong nông nghiệp - trồng trọt bao gồm:
rác thải, dư lượng phân bón, thuốc BVTV phát
sinh trong hoạt động canh tác
- Nước bẩn và rác thải sinh hoạt phát sinh hằng
ngày từ khu đô thị, khu dân cư, hộ dân nông thôn
- Nước thải, rác thải từ các khu công công nghiệp,
cụm công nghiệp tập trung, các nhà máy nằm
ngoài KCN, CCN, TTCN, làng nghề
- Chất thải trong chăn nuôi bao gồm: phân, nước thải
- Hoạt động khai khoáng, khai thác nước ngầm
Nhìn chung nguồn nước ngầm hiện đang có dấu
hiệu ô nhiễm vi sinh cục bộ và tình trạng xâm nhập
mặn vào nguồn nước ngầm tầng nông tại một số
khu vực vùng Nam Quốc lộ 1A Bên cạnh đó, do
việc khai thác, sử dụng nước ngầm không hợp lý,
tuỳ tiện và không theo quy định của người dân đã
và đang tác động làm suy giảm trữ lượng nguồn
nước ngầm của tỉnh và gián tiếp làm gia tăng các
yếu tố tác động làm ảnh hưởng đến chất lượng
nguồn nước ngầm của tỉnh
c Nước biển ven bờ
Các nguồn gây ô nhiễm nước biển: Hiện nay môi
trường nước biển đã có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ
ở một số vùng ven bờ bởi một số nguồn như sau:
- Xây dựng mới và mở rộng các cảng biển và gia
tăng hoạt động của tàu thuyền trên biển đã làm
tăng nguy cơ ô nhiễm ở vùng biển ven bờ, đặc
biệt ô nhiễm dầu và sự cố tràn dầu
- Ô nhiễm biển từ nguồn đất liền chiếm đến 60%
các nguồn gây ô nhiễm biển Các chất ô nhiễm được sông vận chuyển và đổ vào biển, các chất ô nhiễm này thuộc các nguồn sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt của con người
- Bên cạnh các nguyên nhân do con người, còn có nguyên nhân tự nhiên đó là: sự xói lở đưa lượng phù sa lớn vào biển gây một lượng lớn chất rắn lơ lửng trong nước biển
- Ngoài ra, các thảm họa thiên nhiên như bão, mưa lũ, ngập lụt ven biển có thể phá hủy cơ học
do làm gẫy, nát các hệ thực vật ven biển
- Dự báo hậu quả của biến đổi khí hậu sẽ tác động mạnh lên vùng ven biển của đồng bằng sông Cửu Long Mực nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến vùng đất ngập nước ven biển Việt Nam, nghiêm trọng nhất là khu vực RNM sẽ dễ bị tổ thương, cũng như ảnh hưởng đến hệ động thực vật ở các bãi bồi của tỉnh
d Dự báo phát triển liên quan đến môi trường nước
*Dự báo phát triển liên quan đến môi trường nước mặt
Với tốc độ tăng dân số nhanh và việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, áp lực gây ra cho nguồn nước mặt càng lớn, đặc biệt là ở các vùng đô thị, các cụm công nghiệp trọng điểm trong xu thế quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra rất nhanh
- Nước thải đô thị
Chỉ tính riêng nước thải sinh hoạt đô thị, đến năm
2008 tại các đô thị lên 21.695 m3/ngày đêm và đến năm 2020, lượng nước thải sinh hoạt thải vào môi trường khoảng 26.112 m3/ngày đêm, cao gấp 1,2 lần so với năm 2008 Trong đó, TP Bạc Liêu là khu vực thải ra môi trường nhiều nhất Với lượng nước thải lớn như vậy nếu không có biện pháp thu gom xử lý, đây sẽ là nguyên nhân làm suy giảm chất lượng nước mặt, nước ngầm và tác động đến các hệ sinh thái xung quanh
Qua kết quả dự báo, khối lượng các chất ô nhiễm trong nước thải đô thị của TP Bạc Liêu và các thị trấn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu thải ra môi trường là khá lớn Nếu không được thu gom và xử lý trước khi thải ra môi trường sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng tới môi trường, làm ô nhiễm và suy thoái tài nguyên nước mặt, nước ngầm và tác động trực tiếp đến các hệ sinh thái
Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân
cư, khu đô thị không còn đủ diện tích cho đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải Ngoài ra, các
cơ sở này chỉ có các trang thiết bị, máy móc cũ kỹ, công nghệ sản xuất lạc hậu không đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong quá trình sản
Bảng 8 Lượng nước thải phát sinh tại các đô thị tỉnh Bạc Liêu
vào năm 2008, 2009, dự báo vào năm 2020
(Nguồn: Sở Tài nguyện và Môi trường Bạc Liêu, 2010)
xuất làm phát sinh chất thải với nồng độ, tải lượng
ô nhiễm lớn hơn gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép khi thải ra môi trường Đây là một trong những nhân tố góp phần gây ô nhiễm môi trường nước nói chung và tại các khu đô thị nói riêng, vì
thế cần có các biện pháp xử lý triệt để các nguồn
ô nhiễm này
- Nước thải công nghiệp
Theo quy hoạch phát triển ngành công nghiệp của tỉnh đến năm 2010 sẽ tập trung đầu tư xây dựng khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 66 ha
Đến năm 2020, các khu, cụm công nghiệp sẽ được mở rộng quy mô sản xuất, các nhà máy, xí nghiệp ngày càng nhiều Do vậy, nếu không có biện pháp quản lý, xử lý hợp lý thì đây sẽ là một trong những nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng làm suy giảm chất lượng nước mặt của các sông rạch trên địa bàn
Tuy trong tương lai, tất cả các KCN, CCN đều phải
có hệ thống xử lý nước thải trước khi xả ra môi trường, nhưng thông thường phần lớn các doanh nghiệp chỉ nghĩ đến lợi nhuận, nếu các cơ quan chức năng không giám sát nghiêm ngặt thì tình hình xả nước thải không qua xử lý ra môi trường
có thể sẽ xảy ra Khi đó, môi trường tỉnh Bạc Liêu phải tiếp nhận toàn bộ lượng chất ô nhiễm
Trong định hướng phát triển của tỉnh, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi gia súc gia cầm và các làng nghề cũng là lĩnh vực được chú trọng phát triển
Tuy có chiến lược phát triển nhưng tình trạng đào
ao nuôi tôm, cá, hoặc nuôi cá một cách tự phát, tình trạng các làng nghề nhỏ lẻ vẫn chưa có các biện pháp xử lý nước thải, chất thải là không tránh khỏi góp phần làm gia tăng nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước mặt
*Dự báo nước thải y tế
Theo số liệu thống kê (trong nước và các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á), lượng nước thải bình quân tại các bệnh viện, trạm y tế là 425 lít/giường.ngày Trong khi đó, theo quy hoạch phát triển đến năm 2010 thì số lượng giường bệnh của tỉnh Bạc Liêu sẽ tăng lên khoảng 3.250 giường và
đến năm 2020 là 4.000 giường bệnh Như vậy, khối lượng nước thải y tế bình quân thải ra môi trường sẽ đạt khoảng 1.381,25 m3/ngày đêm vào năm 2010 và 1.700 m3/ngày đêm vào năm 2020
Nước thải y tế thường chứa các loại hóa chất có trong thuốc, các dung dịch y tế dư thừa và đặc biệt là chứa lượng vi sinh rất lớn Sau một thời gian, các chất này nhất là thuốc kháng sinh đi vào
cơ thể con người làm tích tụ các chất kháng sinh trong cơ thể con người, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người
Như đã nhận định ở trên, nước thải tại các bệnh viện lớn của tỉnh tuy đã qua hệ thống xử lý nhưng vẫn chưa đạt tiêu chuẩn cho phép khi thải ra môi trường
Do đó, trong tương lai nếu như tình hình này vẫn tiếp diễn và nước thải từ các bệnh viện khác không được xử lý triệt để sẽ làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường do nước và rác thải y tế
*Dự báo tải lượng nước thải từ các hoạt động
du lịch, dịch vụ
Trong năm 2009, tổng lượng khách du lịch của tỉnh Bạc Liêu đạt 350.000 lượt du khách và có tổng lượng nước thải ước tính sinh ra mỗi ngày
là 63.000 m3 Số liệu này có được dựa vào tính toán với giả thiết lưu lượng nước thải ra bình quân đối với khách du lịch là 180 lít/ngày.người (Nguồn:
Tính toán thiết kế các công trình xử lý nước thải, Trịnh Xuân Lai)
Theo dự đoán lượng khách sẽ tới tham quan, du lịch trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu vào năm 2010 là 406.000 lượt người, tăng lên 730.000 lượt người vào năm 2015 và 1.055.000 lượt người vào năm
2020 Như vậy theo tính toán sơ bộ, lượng nước thải do hoạt động du lịch thải ra môi trường sẽ là:
*Dự báo diễn biến môi trường nước mặt
Như đã tính toán ở trên, trong tương lai, các nhánh kênh rạch trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu sẽ phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải phát sinh
từ quá trình phát triển kinh tế xã hội Đây là một trong những nguyên nhân chính gây nên vấn đề ô nhiễm nguồn nước của các kênh đào, sông rạch trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu trong khi khả năng tự
Trang 12làm sạch của nguồn nước lại có giới hạn.
Trong hiện tại, ngành nuôi trồng thủy hải sản là loại
hình sản xuất đang phát triển mạnh mẽ trong tỉnh,
thế nhưng các giải pháp về xử lý nguồn nước thải, bùn thải chưa phù hợp Theo quy hoạch đến năm
2010 thì ngành nuôi trồng thủy sản là một trong
được quản lý chặt chẽ, dẫn đến mực nước ngầm
dễ bị suy giảm Trong tương lai, số lượng giếng khoan phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất tại các vùng nông thôn sẽ càng tăng do nhu cầu của người dân tăng và vấn đề tụt áp suất nước là vấn
đề chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai Như thế
sẽ rất nguy hiểm vì điều này sẽ dẫn đến tình hình lớp đất ngầm sẽ trở nên rỗng và dễ sụt lún Khi đó nguồn nước mặt từ các cửa biển sẽ xâm nhập vào các mạch nước ngầm
Bên cạnh đó, việc nuôi thủy sản tại các ao, đầm
dễ dẫn đến tình trạng đất bị phèn hóa, nhất là tại các ao đầm nuôi tôm Nếu việc vệ sinh cải tạo môi trường không thực hiện tốt sẽ làm môi trường đất bị nhiễm phèn dẫn đến tình trạng nguồn nước ngầm tại khu vực đó cũng bị ảnh hưởng Tuy nhiên, theo quy hoạch đến năm 2010, việc nuôi thủy sản sẽ được kết hợp với nhiều hình thức sản xuất nông nghiệp khác theo hướng có lợi cho môi trường nên dự đoán môi trường nước ngầm sẽ không bị ảnh hưởng nhiều do hoạt động nuôi thủy sản
Hiện nay, nguồn nước ngầm tầng nông trên địa bàn tỉnh đang có dấu hiệu bị ô nhiễm vi sinh tại một số khu vực Các giá trị đo được cho thấy tổng Coliform trong môi trường nước ngầm tại một số nới cao gấp 1.533 lần nồng độ cho phép và một số nơi khác có giá trị vượt tiêu chuẩn cho phép Điều này cho thấy nguồn nước ngầm tỉnh đã bị ảnh hưởng bởi nước thải, đặc biệt là chất thải chăn nuôi, chất thải từ sinh hoạt của con người
Dự kiến số lượng vật nuôi sẽ tăng mạnh trong những năm tới, điều này đồng nghĩa với lượng chất thải chăn nuôi sẽ gia tăng Nếu việc quản
lý lượng chất thải này không thì trong tương lai, nguồn nước ngầm của tỉnh sẽ tiếp tục bị ô nhiễm
vi sinh và có thể mức độ ô nhiễm sẽ càng nghiêm trọng hơn so với hiện nay
Bên cạnh đó, việc ô nhiễm Arsen trong nước ngầm cũng rất quan trọng gây ảnh hưởng đến môi trường và đặc biệt là ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người dân nếu sử dụng mà không xử lý Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, lượng nước thải vào môi trường ngày càng nhiều, lượng nước thải nếu không được thu gom triệt để
sẽ chảy tràn ra môi trường đất, thấm xuống mạch nước ngầm, từ đó làm gia tăng hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước, nhất là có thể làm gia tăng nồng độ Arsen có trong môi trường nước
2 Diễn biến môi trường không khí
Môi trường không khí mang tính chất toàn cầu chứ
không riêng của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nào, mức độ tác động của ô nhiễm không khí ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn Cho nên, mọi quốc gia trên thế giới đã và đang tìm cách giảm thiểu nguồn phát thải gây ô nhiễm không khí
để vấn đề ô nhiễm không khí không còn là gánh nặng cho đời sống nhân sinh
Mặc dù vậy thực tế hiện nay, ô nhiễm không khí đang là vấn đề nóng bỏng của cả thế giới, chất lượng không khí đang có nhiều biến đổi rõ rệt và
có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật
Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt Đồng thời cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau như: chất thải sinh hoạt, chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng
Chất lượng không khí xung quanh trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu hiện chưa có dấu hiệu ô nhiễm các chất độc hại như SO2, NO2, CO Tuy nhiên, chất lượng không khí tại các cơ sở sản xuất cũng như các làng nghề thủ công nằm bên ngoài KCN một vài nơi đã có dấu hiệu ô nhiễm từ nhiều năm nay
và đến nay vẫn chưa được cải thiện
a Các nguồn gây ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí là một vấn đề bức xúc đối với
đô thị, khu công nghiệp và một số làng nghề trong tỉnh Hiện tại Bạc Liêu có hai nguồn gây ô nhiễm không khí là nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo
Nguồn tự nhiên do các hiện tượng thiên nhiên như cháy rừng, gió xoáy, gió bão Nguồn nhân tạo chủ yếu là do các hoạt động sản xuất công nghiệp, các phương tiện giao thông vận tải, các hoạt động xây dựng và sinh hoạt của con người
*Ô nhiễm không khí do các hoạt động sản xuất công nghiệp
- Các khu, cụm công nghiệp
Khu công nghiệp Trà Kha đang trong quá trình xây dựng với đặc trưng ngành nghề sản xuất như: chế biến thủy hải sản, thức ăn thủy sản, chế biến nông sản, sản xuất bia, sản xuất vật liêu ngành viễn thông Nên một số chất ô nhiễm không khí từ một
số loại hình sản xuất trong khu công nghiệp là:
Bụi, CO, SO2, NOx, H2S, NH3, mùi
Tuy một số nhà máy lớn của tỉnh đã được quy hoạch vào các khu công nghiệp và có đầu tư hệ thống xử lý khí thải nhưng hiện nay vẫn chưa xử lý triệt để các khí thải độc hại nên vẫn gây ra ô nhiễm môi trường không khí xung quanh
Theo quy hoạch, Bạc Liêu có khoảng 13 cụm công nghiệp - tiểu thu công nghiệp và một số làng nghề như: đan đát, đan mê bồ, cần xé, rổ, đan lưới, làm nước mắm, nước tương, dệt vải, đóng ghe xuồng,… Các cụm công nghiệp và làng nghề cũng là các nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí cục bộ
- Các bãi rác
Bạc Liêu có 02 bãi rác lớn là bãi rác TX Bạc Liêu, bãi rác huyện Vĩnh Lợi, và một số bãi rác nhỏ khác Một số bãi rác này đang xây dựng chưa hoàn chỉnh mà phải tiếp nhận lượng rác thải quá
Bảng 9 Ước đoán lưu lượng nước thải
do hoạt động du lịch phát sinh trong giai đoạn 2009 - 2020
(Nguồn: Sở Tài nguyện và Môi trường Bạc Liêu, 2010).
những ngành mũi nhọn của tỉnh Vì thế, các vấn
đề sử dụng không gian nuôi, xử lý chất thải cần
phải được chính quyền địa phương quan tâm xem
xét vì đây chính là nguồn ô nhiễm trực tiếp đến
môi trường nước mặt của tỉnh Tuy nhiên, cũng
theo quy hoạch phát triển trong tương lai thì hình
thức nuôi thủy sản sẽ phát triển theo hướng hiệu
quả, bền vững, đảm bảo kiểm soát dịch bệnh, ô
nhiễm nguồn nước Do đó có thể nghĩ rằng sự tác
động của các chất bẩn trong ao nuôi sẽ không làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nước mặt
Ngành chăn nuôi cũng đang phát triển vượt bậc,
điều này cũng đồng nghĩa với sự gia tăng lượng
chất thải vào môi trường, làm tốc độ ô nhiễm môi
trường nước mặt sẽ diễn ra nhanh hơn Theo
ước tính năm 2010 lượng chất thải phát sinh hàng
ngày khoảng 2.188.250 kg/ngày, và vào năm 2020
là 3.431.675 kg/ngày
Ngoài những nguồn ô nhiễm do phân, rác, nước
thải sinh hoạt, sản xuất, chất thải chăn nuôi thì
nguồn nước mặt tại Bạc Liêu đã, đang và sẽ bị tác
động bởi chất thải từ các chợ, chất thải từ các cơ
sở công nghiệp nông thôn, phân bón, thuốc BVTV
dùng trong nông nghiệp Đáng chú ý là tình trạng
người dân vứt chai, lọ chứa thuốc BVTV xuống
dòng kênh rạch, hóa chất này sẽ xâm nhập vào
dòng nước làm nguồn nước bị ô nhiễm
Với những quy hoạch phát triển và các dự báo
trên, tỉnh cần xây dựng báo cáo môi trường chiến
lược, xây dựng các chương trình hành động để
tạo sự phát triển bền vững Cần tăng cường công
tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật trong công tác bảo vệ môi trường như: sản
xuất sạch hơn, các công nghệ xử lý nước thải,
chất thải rắn, an toàn sinh học …góp phần giảm
ô nhiễm nguồn nước mặt nói riêng và các thành
phần môi trường nói chung
*Dự báo phát triển liên quan đến môi trường nước dưới đất
Theo dự báo đến năm 2015 thì nhu cầu dùng nước trong sản xuất nông nghiệp cũng như trong sinh hoạt tại các vùng nông thôn sẽ gia tăng Một phần là do ảnh hưởng của thời tiết khí hậu trong khu vực, theo dự đoán của các chuyên gia trên thế giới cho biết nhiệt độ môi trường sẽ ngày càng tăng Một phần là do sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế kéo theo các cơ sở sản xuất trong các vùng nông thôn cũng gia tăng theo
Dựa vào Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội tỉnh Bạc Liêu thời kỳ đến năm 2010 định hướng đến 2020, nhu cầu cấp nước sạch của tỉnh được xác định từ chỉ tiêu cấp nước trung bình của
1 người dân Với định mức sử dụng nước thì theo tính toán, nhu cầu sử dụng nước phục vụ mục đích sinh hoạt của người dân nông thôn vào năm 2010
sẽ là 50.882 m3/ngày (với tiêu chuẩn dùng nước là
80 lít/người.ngày) Ngoài ra, nhu cầu dùng nước cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi thủy sản… cũng rất cần thiết Với nhu cầu dùng nước lớn như vậy, nhưng nguồn nước sông của tỉnh lại đang bị đe dọa do ảnh hưởng từ hoạt động của người dân nên gây hạn chế cho việc khai thác để cấp cho sinh hoạt của người dân Do
đó, trong hiện tại và tương lai gần, người dân vẫn phải sử dụng nguồn nước ngầm làm nguồn nước cấp chính
Các khu công nghiệp trọng điểm cũng có các dự
án khai thác nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất, các ban ngành cần chú trọng đến công tác giám sát hoạt động khai thác
Hiện nay, tại khu vực nông thôn, hầu như người dân đều tự khai thác nguồn nước ngầm để sử dụng Tuy nhiên, việc khai thác này vẫn chưa
Trang 13tải từ khu công nghiệp, cụm công nghiệp và thị
trấn hoặc đã xây dựng hoàn chỉnh nhưng chưa
thực hiện đúng quy trình và kỹ thuật chôn lấp
rác nên phát sinh ra mùi hôi thối do rác phân hủy
tạo ra các khí như H2S, CH4, NH3… gây ô nhiễm
môi trường Nếu không có biện pháp bảo vệ môi
trường hợp lý thì đây cũng là nguồn ô nhiễm
không khí đáng kể
*Ô nhiễm không khí do các hoạt động giao
thông vận tải
Trong thời gian qua, số lượng và mật độ các
loại phương tiện giao thông vận tải tăng nhanh
Khí thải, bụi từ phương tiện giao thông vận tải là
một nguồn ô nhiễm không khí, đặc biệt đối với
môi trường không khí đô thị, nhất là ở các nút
giao thông lớn trong tỉnh Theo đánh giá của các
chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô
thị do giao thông vận tải gây ra chiếm tỷ lệ khoảng
70% Hoạt động giao thông vận tải là nguồn thải
chủ yếu gây ra ô nhiễm các chất độc hại: bụi, SO2,
NOx, CO, hơi xăng,
*Ô nhiễm không khí do các hoạt động
xây dựng
Quá trình đô thị hoá đang diễn ra rất nhanh và
mạnh ở hầu hết các huyện, thị xã, thành phố trong
tỉnh với các hoạt động xây dựng nhà cửa, đường
xá, cầu cống Các hoạt động xây dựng đô thị gây
ô nhiễm bụi trầm trọng đối với môi trường không
khí xung quanh: công tác đào đất, san lấp mặt
bằng, vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng sẽ
làm phát sinh bụi đất đá, bụi do vật liệu xây dựng
rơi vãi Việc xây dựng đô thị, hạ tầng còn phát
sinh khí thải do hoạt động của các máy móc thiết
bị hoạt động trên công trường: SO2, NOx, CO, …
làm ảnh hưởng đến chất lượng không khí khu vực
xung quanh
*Ô nhiễm không khí do hoạt động sinh hoạt và
sản xuất nông nghiệp của con người
Hoạt động của các hộ gia đình như đun nấu bằng
than, dầu, củi cũng góp phần gây ô nhiễm không
khí mặc dù không lớn so với các nguồn khác Các
chất ô nhiễm chính: mụi than, CO Hiện nay, đời
sống của người dân ngày càng cải thiện, mức thu
nhập tăng, nhiều gia đình đã sử dụng điện hoặc
gas cho việc nấu ăn hơn là dung than dầu như
trước đây Tuy nhiên, nếu không có biện pháp
tốt thì lượng chất ô nhiễm do hoạt động đun nấu
từ các khu vực dân cư cũng thải vào môi trường
không khí đáng kể đặc biệt là khu dân cư nghèo
có mật độ nguồn phát thải khí ô nhiễm cao hơn
hẳn những khu khác, ước tính có thể cao gấp 10
lần so với các khu dân cư có mức sống cao hơn
Ngoài ra, Bạc Liêu là vùng đất nông nghiệp, người
dân chủ yếu là làm nông nên các hoạt động phun
xịt thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu trong nông
nghiệp cũng làm phát sinh các khí ô nhiễm: các chất hữu cơ bay hơi Việc đốt đồng sau khi thu hoạch cũng làm một lượng lớn các khí CO, CO2,
NOx, bụi, mụi than vào không khí xung quanh, gây
ô nhiễm cục bộ trong khu vực
b Diễn biến ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm không khí trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu mang tính cục bộ, xảy ra tại một số vị trí đặc trưng ảnh hưởng bởi hoạt động giao thông và hoạt động xây dựng, sản xuất
*Chất lượng không khí đô thị
Nhìn chung chất lượng môi trường không khí trong các đô thị tại tỉnh Bạc Liêu khá tốt, chỉ có một
số nơi chỉ số chất lượng không khí vượt ngưỡng
01 trong năm 2007, còn ở các năm khác thì chất lượng không khí khá tốt
Mặc dù chỉ số vượt ngưỡng 01 nhưng vượt rất thấp, cùng với môi trường bị ô nhiễm bụi và tiếng
ồn nhẹ ở các trục đường giao thông nên môi trường không khí trong những năm 2006 - 2010 tác động không đáng kể đến đời sống, sinh hoạt của người dân trong tỉnh
*Chất lượng không khí tại các huyện
Chất lượng không khí ở các khu vực xung quanh các thị trấn ở các huyện đều có chất lượng tốt, tất
cả các vị trị quan trắc đều cho thấy kết quả là chỉ
số chất lượng không khí nhỏ hơn 01
*Chất lượng không khí tại cơ sở sản xuất
Tại hầu hết các cơ sở sản xuất, chất lượng không khí khá tốt Bên cạnh đó, theo thống kê vào năm
2006 tại một số nơi còn ô nhiễm H2S nhưng với nồng độ không quá lớn, nguyên nhân của hiện tượng này là do năm 2006 lượng vỏ đầu tôm bán
đi không nhiều gây một lượng lớn vỏ đầu tôm của các cơ sở chế biến để tồn đọng và phân hủy gây
ra nồng độ H2S tăng lên vượt mức tiêu chuẩn và đến các năm về sau thì lượng chất thải này đã được thu mua toàn bộ, nên hiện tượng này không còn xảy ra nữa
*Chất lượng không khí tại các cơ sở y tế
Chất lượng không khí tại các cơ sở y tế trên địa bàn đều tốt, tất cả các chỉ tiêu quan trắc theo các năm đều đạt quy chuẩn cho phép
c Dự báo phát triển liên quan đến môi trường không khí
Hiện tại, hoạt động của các KCN, CCN của tỉnh Bạc Liêu chưa gây ảnh hưởng ô nhiễm nhiều đến chất lượng môi trường toàn vùng Sự ô nhiễm chỉ xảy ra cục bộ tại một số khu vực về các chỉ tiêu bụi và tiếng ồn
Các khu vực ô nhiễm chủ yếu là tại các tuyến giao thông chính của tỉnh và tại khu vực xung quanh các cơ sở vật liệu xây dựng, pha trộn nhựa đường
*Dự báo diễn biến ô nhiễm không khí do khí thải giao thông vận tải
Tỉnh Bạc Liêu có 04 tuyến lộ đi qua đã và đang được xây dựng với chiều dài trên 133 km và cùng với các tuyến tỉnh lộ, huyện lộ đang ngày càng được hoàn thiện, điều này sẽ giúp cho giao thông đường độ ở trong tỉnh sẽ ngày càng thuận lợi hơn
mà đặc biệt là giao thông nông thôn sẽ ngày càng
dễ dàng và thuận tiện hơn Như các tuyến đường Hồng Dân, Phước Long, Gành Hào,…
Doanh thu dịch vụ vận tải trung bình trong các năm qua (từ năm 2000 - 2008) vào khoảng 37% và dự kiến đến năm 2020 là 38%/năm Do đó, tổng áp lực khí thải giao thông vận tải trong các vùng nông thôn của tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 dự báo sẽ tăng khoảng 5 lần so với năm 2005
Do vậy, tương tự như vùng đô thị thì các vùng nông thôn của tỉnh cũng sẽ chịu ảnh hưởng phổ
biến ô nhiễm trên diện rộng do khí thải giao thông vận tải của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Vì vậy, tỉnh Bạc Liêu sẽ định hướng áp dụng chương trình bảo vệ môi trường trọng điểm đến năm 2020 cho khu vực nông thôn của tỉnh
*Dự báo diễn biến ô nhiễm do khí thải sinh hoạt
Tổng dân số tại tỉnh Bạc Liêu vào năm 2009 là 856.250 người và năm 2020 là 941.019 người (tỉ
lệ tăng trung bình hằng năm vào khoảng 0,9%)
Dựa trên các hệ số ô nhiễm đánh giá nhanh, có thể ước tính tổng tải lượng ô nhiễm do khí thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu vào những năm 2010 và 2020 như sau:
Kết quả dự báo tổng tải lượng ô nhiễm do khí thải sinh hoạt của tỉnh Bạc Liêu năm 2010 như sau:khoảng 10,0 tấn bụi; 27,4 tấn SO2; 16,3 tấn
NOx; 38,5 tấn CO; 19,1 tấn THC, nếu như không xảy ra thay đổi lớn về cơ cấu sử dụng năng lượng trong dân cư nông thôn thì đến năm 2020 sẽ là:
khoảng 10,9 tấn bụi; 29,8 tấn SO2; 17,8 tấn NOx; 41,9 tấn CO; 20,8 tấn THC
3 Môi trường đất Bảng 10 Kết quả tính toán hệ số ô nhiễm không khí do khí thải sinh hoạt.
Loại nhiên liệu sử dụng
Hệ số ô nhiễm (kg/người/ngày)
(Nguồn: Sở Tài nguyện và Môi trường Bạc Liêu, 2010).
Bảng 11 Dự báo tổng tải lượng ô nhiễm do khí thải sinh hoạt tỉnh Bạc Liêu vào năm 2010 và 2020