Đặc biệt, việc tìm hiểu sự thâm nhập của các yếu tố văn xuôi tự sự vào Thơ mới có thể giúp chúng ta nhìn rõ hơn, sinh động hơn đặc tr-ng về tính năng động nghệ thuật của văn học hiện đại
Trang 1Khoa ngữ văn
=== ===
đậu thị bình b
yếu tố văn xuôi tự sự trong Thơ mới 1932 - 1945
khóa luận tốt nghiệp đại học
Vinh 2006
Trang 2Khoa ngữ văn
=== ===
yếu tố văn xuôi tự sự trong Thơ mới 1932 - 1945
khóa Luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: văn học Việt Nam hiện đại
Trang 3Lời cảm ơn
Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo Lê Văn Tùng đã trực tiếp h-ớng dẫn tôi rất tận tình chu đáo kể
từ khi nhận đề tài cho đến khi hoàn thành
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, tổ Văn học Việt Nam đã tạo điều kiện và thời gian giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn t- liệu và khả năng nghiên cứu của bản thân nên khóa luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự chỉ dẫn và góp ý xây dựng của quý thầy cô, bạn bè để khóa luận
đ-ợc hoàn chỉnh hơn
Vinh, tháng 5 năm 2006
Sinh viên
Đậu Thị Bình B
Trang 4Trang
Mở đầu 1
I Lý do chọn đề tài 1
II Lịch sử vấn đề 2
III Ph-ơng pháp nghiên cứu 5
IV Phạm vi nghiên cứu đề tài 6
V Cấu trúc luận văn 7
Ch-ơng 1 Sự thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại văn học hiện đại 8
1.1 Hiện t-ợng cộng sinh thể loại 8
1.2 Phong trào Thơ mới 1932 - 1945 và sự thâm nhập của văn xuôi tự sự vào thơ 16
Ch-ơng 2 Đối thoại trong Thơ mới 1932 - 1945 27
2.1 Đối thoại và đối thoại trong tác phẩm văn học 27
2.2 Đối thoại trong Thơ mới (1932 - 1945) 32
2.3 Hình thức thể hiện đối thoại trong thơ và hiệu quả của việc sử dụng đối thoại trong Thơ mới (1932 - 1945) 45
Ch-ơng 3 Yếu tố chuyện kể trong Thơ mới (1932 - 1945) 49
3.1 Chi tiết 50
3.2 Câu chuyện 54
3.3 ý nghĩa cách tân thi pháp của việc gia tăng yếu tố chuyện kể trong Thơ mới (1932 - 1945) 66
Kết luận 71
Tài liệu tham khảo 73
Trang 5Mở đầu
I Lý do chọn đề tài
1 Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) là một cuộc cách mạng trong thơ
Việt Nam, là một trong những sự kiện lớn nhất về thơ ca thế kỷ XX Sự ra đời của Thơ mới đã tạo ra một b-ớc ngoặt lớn trong lịch sử thơ ca dân tộc, nó đã phá vỡ những khuôn khổ chật hẹp của thơ cũ, chuyển thơ ca Việt Nam từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại Những thành tựu của phong trào Thơ mới vẫn tiếp tục sinh sôi nảy nở và in dấu ấn trong thơ ca hiện đại nh- một nhân tố tích cực
Trải qua biết bao biến cố thăng trầm cùng lịch sử, thời đại ngày nay, Thơ mới đã đ-ợc trả lại những giá trị vốn có của nó trong nền văn học dân tộc Trên cơ sở kế thừa thơ ca truyền thống và tiếp thu một cách có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại với tinh thần "hòa nhập nh-ng không hòa tan", Thơ mới thực sự v-ơn lên đạt tới những đỉnh cao nghệ thuật của thơ ca hiện đại Bằng việc đ-a yếu tố văn xuôi tự sự vào trong thơ, Thơ mới đã đem đến cho thơ ca "ở chốn n-ớc non lặng lẽ này" không chỉ một nguồn cảm xúc mới mà còn mang tới cách thể hiện thế giới tâm hồn sáng tạo, độc đáo Những cung bậc của tình cảm, cảm xúc đ-ợc bộc lộ thông qua những chi tiết, những câu chuyện, những sự kiện - một cách thể hiện hoàn toàn mới lạ và hấp dẫn mà ta chỉ có thể bắt gặp và cảm thụ nó, nắm bắt nó ở Thơ mới mà thôi
Đến với Thơ mới, ta nh- lạc vào một xứ sở với đầy đủ mọi cung bậc của cảm xúc nh- Hoài Thanh - Hoài Chân trong cuốn "Thi nhân Việt Nam" nhận
định: "Ch-a bao giờ ng-ời ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng
mở nh- Thế Lữ, mơ màng nh- L-u Trọng L-, hoành tráng nh- Huy Thông, trong sáng nh- Nguyễn Nh-ợc Pháp, ảo não nh- Huy Cận, quê mùa nh- Nguyễn Bính, kỳ dị nh- Chế Lan Viên và tha thiết, rạo rực, băn khoăn nh- Xuân Diệu" [9; 29] Tất cả những hồn thơ ấy đã làm nên một cuộc cách mạng trong thi ca, một thời đại trong thi ca mà hai ông "quyết rằng trong lịch sử thi
ca Việt Nam ch-a bao giờ có một thời đại phong phú nh- thời đại này" Sự phức tạp, đa dạng, phong phú và vai trò hết sức to lớn của Thơ mới nh- vậy đã
có sự đóng góp của những sáng tạo nghệ thuật độc đáo mới mẻ Những đóng góp này là sản phẩm của một thời đại khi nền thơ ca dân tộc vừa b-ớc qua
Trang 6ngàn năm trung đại t-ởng nh- đã yên tĩnh Sự thâm nhập của các yếu tố văn xuôi tự sự vào thơ nói nh- Hoài Thanh là cuộc "xâm lăng" làm đảo lộn sự yên tĩnh ngàn năm đó Muốn hiểu Thơ mới không thể không khám phá cuộc "xâm lăng" này
2 Thơ mới (1932 - 1945), một trong vài hiện t-ợng tiêu biểu đầu tiên
của nền văn học hiện đại Có thể nói tất cả các đặc tr-ng loại hình của văn học hiện đại đã có mặt trong phong trào thi ca này nh- tính dân chủ, tính hội nhập nhân loại, tính chuyên nghiệp, tính khoa học và tinh thần lý tính, tính năng
động nghệ thuật Việc khảo sát những sáng tạo nghệ thuật của Thơ mới có thể góp phần làm sáng tỏ những đặc tr-ng mang tính quy luật của loại hình văn học hiện đại Đặc biệt, việc tìm hiểu sự thâm nhập của các yếu tố văn xuôi tự
sự vào Thơ mới có thể giúp chúng ta nhìn rõ hơn, sinh động hơn đặc tr-ng về tính năng động nghệ thuật của văn học hiện đại xét từ góc độ thể loại Từ đó
có thể rút ra một số biểu hiện của quy luật vận động phát triển của thể loại trên những chặng đ-ờng tiếp sau của văn học hiện đại
3 Với đề tài này, ng-ời viết có đ-ợc một vài kinh nghiệm, bài học cho
việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách sâu rộng hơn, thấu đáo hơn về phong trào Thơ mới cũng nh- ảnh h-ởng của nó đối với nền thơ dân tộc trong cuối thế kỷ
XX và đầu thế kỷ này Mặt khác, Thơ mới đã đ-ợc đ-a vào giảng dạy trong nhà tr-ờng từ bậc trung học cơ sở đến bậc đại học, trong đó có nhiều bài thơ
đậm đặc yếu tố văn xuôi tự sự Vì vậy, nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn đem đến một h-ớng tiếp cận mới về những giá trị của Thơ mới, trên cơ
sở đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học các tác phẩm Thơ mới nói riêng và thơ hiện đại nói chung
Trang 7Nhìn chung trên báo chí, sách vở và giảng đ-ờng đại học vẫn còn tồn tại những khuynh h-ớng đánh giá rất khác nhau Một khuynh h-ớng hầu nh- muốn phủ nhận hoàn toàn những "nhân tố yêu n-ớc và tiến bộ", giá trị nhân bản cũng nh- những đổi mới hết sức quan trọng về thi pháp và t- duy thơ của phong trào Thơ mới Một số ng-ời xem Thơ mới là bạc nh-ợc, suy đồi phản
động tiêu cực Khuynh h-ớng thứ hai không thừa nhận "Thơ mới" có khuynh h-ớng tiêu cực và thoát ly và bằng cách này hay cách khác cố tình đề cao quá mức mặt tiến bộ và tích cực của thơ ca lãng mạn hoặc thổi phồng ảnh h-ởng của các nhà Thơ mới đối với thơ ca thế kỷ XX Đặc biệt là ở các đô thị miền Nam tr-ớc ngày đất n-ớc giải phóng, trong các công trình nghiên cứu và giáo trình đại học lại đề cao một chiều thơ ca lãng mạn và thơ ca t-ợng tr-ng Nói chung, phong trào Thơ mới đã thu hút sự chú ý của đông đảo bạn đọc yêu thơ
và đ-ợc nghiên cứu khá sâu sắc với nhiều cách kiến giải khác nhau Điều đó chứng tỏ sự quan tâm của giới nghiên cứu về một phong trào thơ ca có nhiều thành tựu nh-ng cũng không ít thăng trầm Tuy nhiên không phải mọi giá trị của Thơ mới đã đ-ợc làm sáng tỏ Chẳng hạn vấn đề sự thâm nhập của yếu tố văn xuôi tự sự trong Thơ mới, các công trình nghiên cứu về nó còn quá ít, ch-a t-ơng xứng với sự hiện diện và ý nghĩa của nó trong việc chuyển tải nội dung t- t-ởng của tác phẩm Nói nh- vậy không có nghĩa chúng ta phủ nhận hoàn toàn sự đóng góp của các tác giả đã viết, đã bàn về vấn đề này nh-:
Hoài Thanh - Hoài Chân trong cuốn "Thi nhân Việt Nam" (1942) có viết: "Phong trào Thơ mới lúc bột phát có thể xem là một cuộc xâm lăng của văn xuôi Văn xuôi tràn vào địa hạt thơ, phá phách tan tành Một đặc tính của văn xuôi là nói nhiều Cho nên trong thời bấy giờ, thi tứ hình nh- giãn ra" [9; 36] Đây là sự khám phá và đánh giá đầu tiên về sự tác động và sự có mặt của yếu tố văn xuôi trong Thơ mới Nó là tiền đề, cơ sở để sau này một số nhà nghiên cứu đi sâu hơn
"Tinh hoa Thơ mới - Thẩm bình và suy ngẫm" do Lê Bá Hán chủ biên (Nxb Giáo dục, 2001) nói nhiều đến sự ảnh h-ởng của yếu tố văn xuôi tự sự vào trong thơ Do sự thâm nhập của văn xuôi tự sự vào thơ tạo cho nhiều bài thơ mang dáng dấp của một câu chuyện với những diễn biến sự kiện, tăng yếu
tố tự sự cho thơ, sản sinh ra những câu thơ "suy lí" ngắt dòng, vắt dòng và đặc biệt xuất hiện cả lời đối thoại - một đặc tr-ng của văn xuôi tự sự Chẳng hạn,
Lê Quang H-ng khi nhận xét về thơ của Nguyễn Nh-ợc Pháp: "Với tâm hồn
Trang 8đôn hậu, trong sáng với ngòi bút hóm hỉnh, Nguyễn Nh-ợc Pháp đã đem về cho những câu chuyện ngày x-a của tổ tiên, của ông bà ta vẻ sắc sảo linh hoạt t-ơi vui, lắm lúc thật ngộ nghĩnh ngay cả khi miêu tả cuộc chiến ác liệt để giành giật công chúa Mị N-ơng giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh" [12; 110] Cũng trong tác phẩm này, Lê Quang H-ng khi bàn về tập "Mấy vần thơ" của Thế Lữ
đã viết: "không ít bài ở tập Mấy vần thơ đ-ợc viết theo thể tự do, không cách khổ, cách đoạn đều đặn chạy dài theo giọng kể (tỉ lệ 18/47 bài) không ít đoạn
trong tập thơ này bị văn xuôi hóa dòng thơ có lúc trên m-ời âm tiết" [12; 23] Những tìm tòi phát hiện của Lê Quang H-ng về yếu tố văn xuôi tự sự trong thơ Nguyễn Nh-ợc Pháp, Thế Lữ là rất đáng ghi nhận tạo niềm tin, chỗ dựa vững chắc cho những ng-ời đi sau khám phá ra các biểu hiện của yếu tố văn xuôi tự sự trong Thơ mới
Trần Đình Sử trong một công trình nghiên cứu của thơ Tố Hữu có nhận xét rằng Thơ mới đã căn bản cải tạo, từ câu thơ "điệu ngâm" sang câu thơ
"điệu nói" Có khi ông không đề cập đến vấn đề này trực tiếp mà thông qua việc nói về sự học tập của thơ ca cách mạng đối với Thơ mới cũng cho chúng
ta thấy đ-ợc một đặc tr-ng thi pháp của phong trào thơ ca này Trong cuốn
"Những thế giới nghệ thuật thơ" ông viết: "Về nghệ thuật, thơ cách mạng đã
kế thừa những thành tựu của Thơ mới nh- bút pháp tả thực, giọng điệu giãi bày" [11; 105] Mặc dù chỉ gián tiếp nói về Thơ mới, song đó là một gợi ý quan trọng để những ng-ời quan tâm nghiên cứu về phong trào Thơ mới dựa vào đó đi sâu hơn và có những tìm tòi khám phá lý thú, mới mẻ hơn về vấn đề yếu tố văn xuôi tự sự trong Thơ mới
Hà Minh Đức trong cuốn "Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện
đại" (1974) khi bàn về vấn đề phản ánh hiện thực trong thơ, "đặc tr-ng cơ bản của thơ trữ tình là biểu hiện, là hình t-ợng cảm nghĩ, là chất liệu tâm hồn"…
"Những hình ảnh và chi tiết sống trực tiếp giữ một vị trí quan trọng trong thành phần miêu tả của câu thơ trữ tình Cũng ở thành phần miêu tả này, sự kiện sự việc là những nhân tố dễ tạo cho thơ nội dung hiện thực"… "khi thơ ca ngày càng đi sâu vào đời sống hiện thực phản ánh sinh hoạt tâm tình, cũng nh- lao động cụ thể của một con ng-ời, một ngành nghề, một phong trào thì thành phần tự sự càng chiếm một phân l-ợng đáng kể" [4; 256]
Trang 9Nh- vậy, yếu tố văn xuôi tự sự trong Thơ mới không phải là vấn đề nghiên cứu mới, nó đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lí luận, phê bình văn học Tuy không gọi đích danh thuật ngữ nh-ng các khía cạnh của yếu tố văn xuôi tự sự đã đ-ợc các nhà nghiên cứu văn học quan tâm từ lâu qua việc dẫn chứng và miêu tả, biểu d-ơng và phê phán khi viết điểm sách, giới thiệu thơ qua các công trình nghiên cứu về tác giả thơ, về lịch sử văn học
Từ những phân tích trên có thể nhận thấy hai điểm:
Thứ nhất: Sự thâm nhập của yếu tố văn xuôi tự sự vào Thơ mới là hiện t-ợng có thật và đã góp phần tạo ra chất l-ợng nghệ thuật mới mẻ của Thơ mới trong việc phản ánh hiện thực
Thứ hai: Các hiện t-ợng văn xuôi tự sự thâm nhập vào Thơ mới đ-ợc giới nghiên cứu quan tâm hoặc để khát quát một vấn đề lớn hoặc để chứng minh cho một vấn đề khác Bản thân nó ch-a từng là một đề tài chuyên biệt để nghiên cứu sâu vào quy luật thể loại gắn liền với đặc tr-ng loại hình văn học hiện đại xét ở tính năng động thể loại của nó
Tóm lại có thể nói rằng sự phức tạp, đa dạng phong phú của Thơ mới là một nguồn dữ liệu hết sức lôi cuốn và hấp dẫn để các nhà nghiên cứu, phê bình và bạn đọc khám phá, tìm hiểu Rất nhiều vấn đề về nội dung và nghệ thuật của Thơ mới đã đ-ợc đ-a ra tranh luận và làm tốn khá nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu lí luận và phê bình văn học nổi tiếng cũng nh- tất cả những ai quan tâm đến phong trào Thơ mới và thơ ca n-ớc nhà Trong đó vấn
đề yếu tố văn xuôi tự sự trong Thơ mới cũng đ-ợc một số ng-ời bàn qua Nh-ng ng-ời đọc vẫn ch-a đ-ợc tiếp nhận một công trình chuyên sâu mang tính hệ thống về vấn đề này bởi vì ch-a có một tác giả nào nghiên cứu nó nh- một đặc tr-ng thi pháp của Thơ mới Do đó, đây đang còn là một khoảng trống lí thú để chúng tôi làm luận văn này
III Ph-ơng pháp nghiên cứu
Yếu tố văn xuôi tự sự trong Thơ mới 1932 - 1945 là một đề tài hấp dẫn nh-ng cũng đầy phức tạp
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, ph-ơng pháp đầu tiên mà chúng tôi
sử dụng là ph-ơng pháp so sánh trong quá trình khảo sát ở đây chúng tôi tiếp
Trang 10cận vấn đề qua giáo trình, tài liệu, tạp chí, những tác giả, những tác phẩm giai
đoạn này, qua đó so sánh với văn học trung đại để thấy đ-ợc yếu tố văn xuôi
tự sự trong thơ là một thành tựu mới của văn học Việt Nam hiện đại
Trong khóa luận này, chúng tôi dùng ph-ơng pháp phân tích từng khía cạnh một cách cụ thể, chi tiết của yếu tố văn xuôi tự sự trong Thơ mới 1932 -
1945 Chẳng hạn nh- đi vào tìm hiểu yếu tố đối thoại trong thơ nh- thế nào, yếu tố chuyện kể trong thơ ra sao Trong quá trình đó sẽ đi sâu vào một số tác giả tác phẩm cụ thể nhằm làm rõ hơn sự thâm nhập của yếu tố văn xuôi tự sự trong Thơ mới
Quá trình tiến hành khảo sát, đánh giá, chúng tôi tự xác định cho mình một nguyên tắc đó là phải có một cách nhìn biện chứng để thấy đ-ợc yếu tố văn xuôi tự sự trong Thơ mới là một thành tựu hiện đại hóa văn học dân tộc trong xu thế phát triển, xu thế khẳng định cái mới hiện đại
IV Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với đề tài này, đối t-ợng quan tâm của nó không phải là một tác giả, một tác phẩm nào cụ thể mà nó là việc nghiên cứu của một hiện t-ợng văn học khá phức tạp Hiện t-ợng này xuất hiện trong một thời kỳ văn học khá dài Cho nên đây là một đề tài có những thuận lợi riêng song cũng có cái khó riêng của nó Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu, các đề tài về sự thâm nhập giữa các thể loại, đặc biệt là sự thâm nhập lẫn nhau hai chiều giữa văn xuôi và thơ, nh-ng ở đề tài này chúng tôi chỉ tìm hiểu ảnh h-ởng của văn xuôi vào trong Thơ mới chứ không nghiên cứu ng-ợc lại (ảnh h-ởng một chiều) Do nhiều điều kiện nh- sự hạn chế về năng lực, thời gian nên trong đề tài này chúng tôi chỉ tìm hiểu nghiên cứu khảo sát ảnh h-ởng của yếu tố văn xuôi tự
sự trong thơ của một số nhà thơ tiêu biểu cũng nh- một số tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ mới 1932 - 1945
Mặt khác, sự thâm nhập của văn xuôi tự sự vào Thơ mới biểu hiện trên nhiều ph-ơng diện chẳng hạn: Đối thoại trong Thơ mới, yếu tố chuyện kể, giọng điệu Thơ mới, không gian và thời gian tự sự trong Thơ mới… ở cấp độ một khóa luận tốt nghiệp đại học và điều kiện trình độ hạn chế của mình, chúng tôi chỉ b-ớc đầu khảo sát hai yếu tố: Đối thoại trong Thơ mới và yếu tố
Trang 11chuyện kể, các ph-ơng diện khác sau này nếu có điều kiện, chúng tôi sẽ tiếp tục khảo sát
III Ph-ơng pháp nghiên cứu
IV Phạm vi nghiên cứu đề tài
Ch-ơng 2 Đối thoại trong Thơ mới 1932 - 1945
2.1 Đối thoại và đối thoại trong tác phẩm văn học
2.2 Đối thoại trong Thơ mới (1932 - 1945)
2.3 Hình thức thể hiện đối thoại trong thơ và hiệu quả của việc sử dụng
đối thoại trong Thơ mới (1932 - 1945)
Ch-ơng 3 Yếu tố chuyện kể trong Thơ mới (1932 - 1945)
Trang 12Trong văn học trung đại mỗi thể loại th-ờng khép kín đặc điểm của mình, các đặc điểm thể loại khác hầu nh- không có điều kiện để có mặt trong thể loại này Tính chất yên tĩnh này đến văn học hiện đại đã bị phá vỡ do tính năng động nghệ thuật của loại hình văn học này Tính năng động nghệ thuật của văn học hiện đại chi phối mọi ph-ơng diện của nền văn học, biến văn học hiện đại thành một hệ thống mở - và mỗi ph-ơng diện của nó cũng trở thành một hệ thống mở khác Thể loại văn học hiện đại là một hệ thống mở nh- vậy Tính năng động nghệ thuật của thể loại hiện đại cũng biểu hiện trên nhiều ph-ơng diện nh-ng rõ nhất, độc đáo nhất chính là hiện t-ợng thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại để tạo ra các thể trung gian, các vùng nối của thể loại
có những khả năng nghệ thuật mới Sự thâm nhập lẫn nhau của các thể loại
đ-ợc gọi là hiện t-ợng "cộng sinh thể loại" - vậy hiện t-ợng "cộng sinh thể loại" là gì?
1.1 Hiện t-ợng cộng sinh thể loại
1.1.1 Khái niệm cộng sinh
"Từ điển tiếng Việt" định nghĩa: "Cộng sinh là sự hợp lại hai hoặc nhiều cơ quan khác nhau để cùng sinh sống" [13; 250]
Nh- vậy, hiện t-ợng cộng sinh có thể là hiện t-ợng của các yếu tố khác nhau hợp lại tạo ra một yếu tố khác Yếu tố đ-ợc tạo ra bởi hiện t-ợng cộng
Trang 13sinh phong phú hơn, đa chức năng hơn so với các yếu tố tạo ra nó Trong quá trình xâm nhập đó cả hai yếu tố cùng có lợi
1.1.2 Khái niệm thể loại
Thể loại, một trong những quan niệm quen thuộc và ổn định của lý luận văn học cũng nh- trong thực tiễn sáng tạo, là các dạng tổ chức tác phẩm, quy
tụ những hình thức nhìn nhận và phản ánh đời sống
Chúng ta đều biết rằng tác phẩm văn học là sự thống nhất trọn vẹn các yếu tố đề tài, chủ đề, nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn Nh-ng sự thống nhất ấy đ-ợc thực hiện theo những quy luật nhất định Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể
Trong thể loại văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quy định lẫn nhau của các loại đề tài, chủ đề, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn Chẳng hạn nhân vật kịch, kết cấu kịch, hành động kịch, với lời văn kịch, nhân vật trữ tình, kết cấu thơ trữ tình và lời thơ, luật thơ… Sự thống nhất này lại do những ph-ơng thức chiếm lĩnh đời sống khác nhau đối với hiện thực, mang những khả năng khác nhau trong tái hiện đời sống tạo ra Bởi vì các ph-ơng thức ấy ứng với các hình thức hoạt động nhận thức của con ng-ời, hoặc trầm t-, hoặc chiêm nghiệm hoặc qua các biến cố liên tục hoặc qua xung đột, mâu thuẫn hoặc qua các sự thật sinh động… Đến l-ợt mình, các thể loại tạo cho nó một kênh giao tiếp với ng-ời đọc Giao tiếp thơ khác giao tiếp kịch, giao tiếp bằng tiểu thuyết khác với giao tiếp bằng thể loại kí Mỗi kiểu giao tiếp nh- vậy lại đòi hỏi những ngôn ngữ và ph-ơng tiện riêng, truyền thống và kinh ngiệm riêng Chính vì vậy mà thông tin về thể loại tác phẩm là rất cần thiết đối với sáng tác và tiếp nhận văn học Không phải ngẫu nhiên mà sau nhan đề tác phẩm ng-ời ta th-ờng thông báo ngay tên thể thể loại tác phẩm: "Epghêni Ônêghin" - tiểu thuyết bằng thơ, "V-ờn anh đào" - Hài kịch bốn hồi "Con trâu" - Tiểu thuyết, "Ng-ời đàn bà trên chuyến tàu tốc
Trang 14hành" - Truyện ngắn, "Ng-ời đàn bà ngồi đan" - Thơ Hoặc xa x-a hơn, tên thể loại trở thành một bộ phận không tách rời của tên tác phẩm: "Hoàng Lê Nhất Thống Chí", "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", "Bình Ngô đại cáo", "Chinh phụ ngâm"… ở đây nói tới thể loại là nói tới một cách tổ chức tác phẩm, một kiểu tái hiện đời sống và một kiểu giao tiếp nghệ thuật
Thể loại văn học là một hiện t-ợng loại hình của sáng tác và giao tiếp văn học hình thành trên cơ sở sự lặp lại có quy luật của các yếu tố tác phẩm
Đó cũng là cơ sở để ng-ời ta tiến hành phân loại tác phẩm Nh-ng thể loại tác phẩm không đơn giản là loại hình và lặp lại Bản chất sáng tạo nghệ thuật là tính độc đáo không lặp lại Sự vận động cuộc sống cũng luôn luôn sản sinh và biến động các giới hạn phản ánh, đổi mới các kênh giao tiếp và làm chúng tác
động vào nhau trong các tác phẩm nghệ thuật độc đáo Vì vậy, đối với từng tác phẩm văn học cụ thể có tầm cỡ, thể loại là toàn bộ ph-ơng thức tổ chức, phản ánh và giao tiếp độc đáo của nó nh- một hệ thống chỉnh thể Sự phân loại là một yêu cầu không thể thiếu để nhận thức các hiện t-ợng phức tạp, muôn vẻ của thế giới và của cả văn học Sự phân loại thể loại cũng nh- sự phân loại đề tài, chủ đề, cảm hứng, nhân vật, phân loại kết cấu, phân loại lời văn, dẫu quan trọng đến đâu thì cũng chỉ là vấn đề có tính thứ hai, có tính -ớc
lệ, nhằm hệ thống hóa các sự vật bề bộn
Vấn đề có tính thứ nhất ở đây là hình thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm Một hình thức nh- vậy trên thực tế đa dạng hơn bất cứ hệ thống phân loại nào Ng-ời sáng tác, khi xây dựng tác phẩm, không đơn giản là làm cho tác phẩm của mình giống với các mẫu mực có tr-ớc Rõ ràng, muốn nhận thức
đặc điểm thể loại của một tác phẩm có giá trị, ng-ời ta vừa phải có tri thức về các quy luật lặp lại của thể loại, lại vừa phải biết nhận ra tính độc đáo trong sự vận dụng, sáng tạo thể loại của tác giả
Thể loại văn học là "dạng thức của tác phẩm văn học, đ-ợc hình thành
và tồn tại t-ơng đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại
Trang 15hiện t-ợng đời sống đ-ợc miêu tả và tính chất của mối quan hệ của nhà văn
đối với các hiện t-ợng đời sống ấy" [5; 299]
Thể loại văn học trong bản chất, phản ánh những khuynh h-ớng phát
triển bến vững, vĩnh hằng của văn học và các thể loại văn học tồn tại là để gìn
giữ, đổi mới th-ờng xuyên các khuynh h-ớng ấy, do đó mà thể loại văn học luôn luôn vừa mới vừa cũ, vừa biến đổi vừa ổn định Vì vậy, khi tiếp cận cần
tính đến thời đại lịch sử của văn học và những biến đổi thay thế của chúng
1.1.3 Hiện t-ợng cộng sinh thể loại của văn học hiện đại
Mỗi thể loại có con đ-ờng phát triển riêng với yêu cầu định hình đặc tr-ng và mở rộng khả năng nghệ thuật của thể loại, nh-ng cũng thấy rõ sự cộng sinh giữa chúng: Các thể loại này th-ờng xuyên có sự thâm nhập lẫn nhau trong tiến trình văn học Mỗi thể loại có quy luật phát triển của riêng mình đồng thời lại có nhu cầu kiên kết với thể loại khác rồi thâm nhập lẫn nhau để tạo ra một thể loại thứ ba Trong quá trình đó mỗi thể loại tự làm phong phú mình thêm, phát triển thêm khả năng chiếm lĩnh nghệ thuật đối với hiện thực Quá trình đó gọi là quá trình cộng sinh thể loại Quá trình cộng sinh thể loại tạo ra những vùng nối - các khu trung gian thể loại từ đó tạo ra "thể ghép" làm phong phú rất nhiều cho mặt bằng thể loại Nói cách khác hoạt
động tích cực này tạo ra bội số công năng thể loại Mỗi thể loại không chỉ là
nó mà rộng hơn, giàu có hơn bản thân nó Chẳng hạn nh- sự ảnh h-ởng lẫn nhau giữa văn xuôi và thơ
Vào giai đoạn khởi phát Thơ mới, văn xuôi mở một cuộc xâm lăng "tràn vào thơ, phá phách tan tành" (chữ dùng của Hoài Thanh) Đây cũng là dấu tích của cuộc di chuyển của văn xuôi vào khu vực trung tâm của văn học và ảnh h-ởng mạnh mẽ đến các thể loại khác Nh-ng cuộc "xâm lăng" ấy là hợp quy luật và để lại nhiều hiệu quả tích cực cho việc kiến thiết mô hình câu "Thơ mới", và chính cuộc "xâm lăng" này góp phần tạo ra sự mạch lạc trong sáng của lối thơ điệu nói, tính lôgic của mạch thơ, tăng yếu tố tự sự cho thơ và sản
Trang 16sinh ra những câu thơ "suy lí", ngắt dòng, vắt dòng Xuân Diệu đã có những câu thơ bỏ lửng ý rồi bắt tiếp vào câu thứ hai Nó rất gần với lời nói thông th-ờng:
Cũng nh- xa quá nên ta chỉ thấy núi yên nh- một miếng bìa
(Xuân Diệu) Hay câu thơ của Thế Lữ lại ngắt dòng ngay giữa câu thơ:
"Trời cao xanh ngắt - Ô kìa!
Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai"
Sự thâm nhập của văn xuôi vào thơ tạo ra thể thơ văn xuôi, một loại hình kết hợp còn tiếp tục sự sống nh- một thể độc lập trong nhiều thập kỉ sau Các tác phẩm nh- "Giọt s-ơng hoa" của Phạm Văn Hạnh, "Kinh cầu tự" của Huy Cận, "Chơi giữa mùa trăng" của Hàn Mặc Tử… có lẽ là những áng thơ
đầu tiên bằng văn xuôi mang một dáng vẻ, một màu sắc thi vị, độc đáo và mới
mẻ, ở đây chất văn xuôi không làm mất đi chất thơ mà còn làm "lạ hóa" phong phú thêm thế giới thơ
ở một chiều ng-ợc lại, thơ cũng thâm nhập vào văn xuôi và tạo ra một hiện t-ợng mới văn xuôi có chất thơ Bản chất thuộc tính của văn xuôi là tìm kiếm một lối văn ngắn gọn, chính xác để diễn tả cho đúng, cho thật câu chuyện của hiện thực, dẫn tới hậu quả tình trạng "văn khô" "văn cộc" Do đó văn xuôi cũng có nhu cầu mở một lối cho chất thơ b-ớc vào tạo cho văn xuôi một cái cảm bên cạnh cái đúng cái thật Từ đó hình thành một thể loại mới mà
ta gọi là loại truyện trữ tình (tự sự có chất trữ tình) Tùy từng tác giả và tác phẩm, chất trữ tình có khi có màu sắc mờ nhạt chẳng hạn trong tác phẩm hiện thực phê phán Văn học lãng mạn mà nổi bật là tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn
có -u thế hơn về mặt này Nhiều trang tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn thực sự hấp dẫn ng-ời đọc bởi chất thơ trong đó - thứ chất thơ đằm thắm xao xuyến của "Thơ mới" mà cuốn tiểu thuyết lãng mạn nh- "Tố Tâm" của m-ời năm
Trang 17tr-ớc ch-a thể có Văn xuôi Thạch Lam ("Gió lạnh đầu mùa", "D-ới bóng hoàng lan", "Hai đứa trẻ"…), nhiều truyện ngắn của Thanh Tịnh, Hồ Dzếch man mát chất thơ, còn với "Phấn thông vàng", "Tỏa nhị kiều" của Xuân Diệu,
"Nhặt lá bàng" của Nhất Linh, ng-ời ta có thể nghĩ đến sự xuất hiện một dạng văn xuôi thơ
Sự pha trộn thơ và kịch tạo nên "kịch thơ" Kịch thơ là một thể loại có vận mệnh riêng của nó và phát triển cho đến tận ngày nay Đó là thành tựu tổng hợp của sự lai ghép "Thơ mới" và kịch nói Độ đậm nhạt trong sự phối hợp thơ - kịch này cũng khá biến hóa, nó tạo nên hai xu h-ớng trong kịch thơ: Yếu tố kịch đậm hơn yếu tố thơ Đó là những vở kịch thơ lấy kịch tính và xung đột làm trọng tâm nh-: "Lý Chiêu Hoàng" (Phan Khắc Khoan), "Quán Thăng Long" (L-u Quang Thuận) Xu h-ớng thứ hai đó là chất thơ đậm hơn xung đột kịch - đó là những vở kịch chỉ giữ một tuyến kịch mờ nhạt mà chú trọng đến không khí thơ chất thơ trong lời thoại, có những đoạn thơ có thể
đứng riêng nh- một bài thơ trữ tình - chẳng hạn vở "Bóng giai nhân" của Nguyễn Bính và Yến Lan hoặc những câu thơ quen thuộc của Vũ Hoàng Ch-ơng: "Ôi ta đã làm chi cho đời ta Ai đã làm chi cho lòng ta? Cho đời tàn tạ lòng băng giá S-ơng mong manh quanh chớm thu già" lại chính là lời tâm
sự của một nhân vật trong kịch thơ "Vân Muội"
Phóng sự là thể loại mở đ-ờng cho tiểu thuyết, ngay từ cuổi thế kỉ XIX ghi chép về những chuyện vụn vặt hàng ngày đăng trên Gia định báo để tập d-ợt cho nhà văn viết tiểu thuyết và sau đó để lại dấu ấn khá rõ trong tiểu thuyết Về sau tiểu thuyết lại tác động vào phóng sự tạo cho phóng sự chất tiểu thuyết tức là tiểu thuyết đã truyền cho phóng sự một phần linh hồn của mình: chất tổng hợp, chất h- cấu phân tích của tiểu thuyết Điều này thể hiện khá rõ trong một số phóng sự của Vũ Trọng Phụng nh- "Cơm thầy cơm cô",
"Cạm bẫy ng-ời"…
Khi tiểu thuyết phát triển chín muồi vẫn tồn tại loại tiểu thuyết đậm chất phóng sự nh- "Ngoại ô", "Ngõ hẻm" của Nguyễn Đình Lạp
Trang 18Trong các thể văn xuôi cũng có thể nhận ra sự thâm nhập lẫn nhau phong phú để hình thành những thể mới Tiểu thuyết tự truyện "Những ngày thơ ấu" (Nguyên Hồng), "Sống nhờ" (Mạnh Phú T-) là một dạng hóa thân của hồi ký, còn cuốn tiểu thuyết "Sống mòn", một cuốn tiểu thuyết theo đúng nghĩa tiểu thuyết, hơn thế còn đứng ở đỉnh cao thể loại đậm chất tự truyện
đến nỗi ng-ời ta vẫn th-ờng qua đó mà đọc ra tiểu sử Nam Cao Truyện ngắn ngay từ những tác phẩm đầu đã có t- thế xác định nh- một thể văn xuôi độc lập nh-ng quá trình phát triển của nó gắn bó chặt chẽ với tiểu thuyết, tiếp nhận rất nhiều ở thể này khả năng khái quát và ph-ơng thức t- duy tổng hợp Những truyện ngắn thuộc loại đặc sắc của Thạch Lam, Nguyên Hồng, Nam Cao nh- "Cô hàng xén", "Ng-ời đàn bà Tàu", "Một buổi chiều xám", "Chí Phèo", "Lão Hạc"… có khi khá nhiều chất tiểu thuyết đ-ợc dồn nén vào khuôn khổ truyện ngắn
Nh- vậy, các thể loại văn học nh- văn xuôi, thơ, kịch có sự ảnh h-ởng thâm nhập lẫn nhau khá mạnh mẽ Trong luận văn này chúng tôi chỉ đi sâu khảo sát hiện t-ợng cộng sinh thể loại một chiều văn xuôi vào thơ Cụ thể là
sự thâm nhập của yếu tố văn xuôi tự sự vào trong Thơ mới 1932 - 1945
1.1.4 Có hay không hiện t-ợng cộng sinh thể loại trong văn học trung đại?
Văn học trung đại Việt Nam sử dụng nhiều thể loại nh- hịch chiếu cáo, thơ, th-, văn tế… Ngay tên gọi của một số thể loại chúng ta biết đ-ợc chức năng mà nó đảm nhận Mỗi thể loại có chức năng riêng và cuộc sống
độc lập của nó
Văn học trung đại kéo dài suốt 10 thế kỉ d-ới thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập Sáng tác thơ văn thời kỳ này mang đặc tr-ng "thi dĩ ngôn chí", "văn dĩ tải đạo" Ng-ời sáng tác thông qua tác phẩm văn ch-ơng để nói lên cái chí và cái đạo của mình Thời kỳ trung đại Việt Nam, văn ch-ơng không đ-ợc l-u hành rộng rãi Nó chỉ bó hẹp trong phạm vi bộ phận vua chúa quan lại, những nhà nho trí thức… hay những bậc quân tử Họ th-ờng mang t- t-ởng lớn nh- tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Cho nên, cái "chí" ở đây
Trang 19là cái "chí" của những bậc quân tử, những ng-ời có địa vị cao trong xã hội Còn tầng lớp bình dân cũng có sáng tác nh-ng không đ-ợc coi trọng, không
đ-ợc xuất bản
Thời kỳ này, ng-ời ta quan tâm nhiều hơn đến thể văn hành chức Văn xuôi nghệ thuật ch-a đ-ợc chú ý, ở vào vị trí thứ yếu Thơ ca đ-ợc phát triển vì phù hợp với tâm lý của bộ phận ng-ời sáng tác lúc bấy giờ thích sáng tác thơ ca để th-ởng thức ngâm vịnh Nh-ng thơ ca sáng tác mang tính quy phạm nghiêm ngặt D-ờng nh- ng-ời sáng tác chỉ có việc lựa chọn những câu chữ phù hợp theo những cái khuôn đã định hình sẵn Thơ càng chuẩn càng đúng luật thì càng đ-ợc đánh giá cao là uyên bác, trang trọng Nếu thơ ca sáng tác không đúng luật bị đánh giá là "sái" là "thất", là làm loạn trong thơ ca Có thể nói sáng tác ít phát huy đ-ợc tính sáng tạo vốn có của nó Ng-ời sáng tác không có những đột phá trong nghệ thuật xét về mặt thể loại Mỗi thể loại là một hệ thống khép kín yên tĩnh Vì vậy, hiện t-ợng cộng sinh thể loại trong văn học trong văn học ch-a có điều kiện nảy nở và phát triển phổ biến Mặc
dù trong sáng tác văn xuôi chẳng hạn, tác giả trung đại nhiều lúc cũng bộc lộ cảm xúc của mình tr-ớc sự kiện đ-ợc kể bằng những câu văn mềm mại réo rắt
có chất thơ Hoặc khi diễn tả những cảm xúc và tâm trạng bất hạnh của mình, nhân vật trong tác phẩm thể ngâm cũng có nhắc đến thời gian và sự kiện làm nền cho tình cảm:
"Thuở trời đất nổi cơn gió bụi Khách má hồng lắm nỗi truân chuyên…"
Trang 20Còn bộ phận văn học chữ Nôm mặc dù ch-a có văn xuôi nghệ thuật mà chỉ có thơ, nh-ng thơ Nôm giai đoạn này không dừng lại ở những thể tài lớn,
có khả năng bao quát sâu rộng cuộc sống Thành tựu chủ yếu của bộ phận văn học chữ Nôm là "truyện thơ" Vậy đây có phải là hiện t-ợng cộng sinh thể loại giữa văn xuôi và thơ hay không? Thực ra đây chỉ là hiện t-ợng kí sinh trong văn ch-ơng Tâm lí của ng-ời x-a thích sáng tác thơ cho nên họ đã dùng thơ làm hình thức để truyền tải một cốt truyện Hay có thể nói đây là hiện t-ợng truyện kí sinh vào thơ Truyện ch-a tìm đ-ợc hình thức văn xuôi phù hợp để thể hiện, trong khi nhà thơ trung đại lại "thiên tính thơ" hơn là mê văn xuôi,
họ đành "trao thân gửi phận" câu chuyện của mình cho hình thức thơ Nh- vậy xét từ góc độ sinh thành đây là một hiện t-ợng kí sinh thể loại, nh-ng khi chuyện đã đ-ợc thể hiện qua thơ trong tác phẩm tính truyện và tính thơ có sự cộng h-ởng để cùng thực hiện một chức năng nghệ thuật
Vì vậy, có thể nói văn học trung đại ch-a có hiện t-ợng cộng sinh thể loại, nếu xét từ quan điểm quan ph-ơng chính thống về thể loại Còn xét trong thực tế sáng tạo, thực ra cũng có những dự báo về hiện t-ợng này qua những cách tân táo bạo về câu thơ của Hồ Xuân H-ơng Nhìn chung "cộng sinh thể loại" ch-a phải là hiện t-ợng mang tính quy luật phổ biến trong văn ch-ơng trung đại Hiện t-ợng này chỉ đến văn học hiện đại mới xuất hiện và đó là một trong những thành tựu rực rỡ mà trong quá trình phát triển không ngừng văn học hiện đại đã đạt đ-ợc về thể loại
1.2 Phong trào Thơ mới 1932 - 1945 và sự thâm nhập của văn xuôi
tự sự vào thơ
1.2.1 Hoàn cảnh xuất hiện phong trào Thơ mới
Hoài Thanh (Thi nhân Việt Nam) là ng-ời đầu tiên quan tâm hoàn cảnh lịch sử xuất hiện của Thơ mới Ông đã thấy đ-ợc cả hai nguyên nhân bên ngoài và bên trong Hoài Thanh đã nhấn mạnh nguyên nhân bên ngoài - ảnh h-ởng ph-ơng Tây, ý Hoài Thanh đúng nh-ng ch-a đầy đủ Theo quan điểm
Trang 21của những ng-ời duy vật trong hai nguyên nhân bên ngoài và bên trong thì nguyên nhân bên trong là nguyên nhân quyết định
Đến l-ợt mình, Phan Cự Đệ phân tích 3 nguyên nhân:
Thứ nhất: Sự xuất hiện ngày càng đông đảo của tiểu t- sản thành thị và nhu cầu khẳng định cái tôi của chính tầng lớp này Chúng ta biết tầng lớp tiểu t- sản vừa là tác giả lại vừa là độc giả của Thơ mới thì lúc bấy giờ do sự lớn lên của bộ máy cai trị cho nên tầng lớp tiểu t- sản ngày càng đông: 1932 - 1933 năm Thơ mới ra đời: 352.000 ng-ời tiểu t- sản, tầng lớp này sống theo lối sống mới ph-ơng Tây, những thay đổi trong sinh hoạt kéo theo sự thay đổi những suy nghĩ mới, cảm xúc mới dẫn đến quan niệm về cái đẹp (thẩm mĩ) thay đổi Tầng lớp này không còn nhiều ràng buộc đối với nho giáo và họ chủ yếu tr-ởng thành trong các nhà tr-ờng Pháp - Việt, do đó họ th-ờng h-ớng về văn hóa Pháp, văn học Pháp, xem đó nh- là chân trời mới của mình Vì thế xuất hiện ở tầng lớp này nhu cầu khẳng định cái "tôi" của mình, chúng ta thấy luôn hiện ra cái tôi ở bình diện thứ nhất:
"Ta là Một, là Riêng, là thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta"
(Xuân Diệu) Nhu cầu khẳng định cái tôi đã đem lại rất nhiều giá trị cho Thơ mới, đề cao cái riêng t-, đề cao lòng yêu đời, ham sống:"tôi là kẻ đ-a răng cắn bấu mặt trời" Thơ mới ra đời gắn liền với nhu cầu khẳng định cái tôi của tiểu t- sản và
họ đã thấy ở thơ ca nh- là nơi đắc địa
Thứ hai: Tâm lí thoát ly của chính tầng lớp tiểu t- sản trong bối cảnh thoái trào cách mạng Nhà n-ớc rất quan tâm đến thời điểm ra đời của Thơ mới, gần nh- ra đời của Tự Lực văn Đoàn 1932 là thời điểm thoái trào cách mạng, không khí xã hội ở thành thị là không khí rất ngột ngạt, u uất, do tr-ớc
đó thực dân Pháp đã tiến hành nhiều cuộc khủng bố trắng 30 - 31, khởi nghĩa Yên Bái Tầng lớp tiểu t- sản vốn dễ hoang mang dao động, họ thấy vô cùng
Trang 22bế tắc Trong không khí có tâm lí chạy trốn xã hội, chạy trốn cuộc đấu tranh giai cấp Chỉ có một con đ-ờng là tìm vào văn thơ lãng mạn, vào văn thơ lãng mạn họ vẫn tự có đ-ợc một sự an ủi, góp phần bảo vệ văn hóa dân tộc
Nhu cầu thoát ly và nhu cầu khẳng định gần nh- xuất hiện song song Tạo nên hai tâm trạng đối lập: Một bên là yêu đời háo hức, nhập cuộc và một bên là buồn cô đơn: Có trong Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu Trong Thơ mới có
đủ mọi nẻo đ-ờng chạy trốn: Trốn vào cõi tiên (Thế Lữ), chạy vào tình yêu, vào thiên nhiên, đồng quê và tôn giáo (Hàn Mặc Tử), vào vũ trụ nh- Huy Cận Hầu hết các nẻo đ-ờng thoát ly là trong sạch
Thứ ba: Nhu cầu đổi mới là hiện đại hóa thơ ca: Có thể nói công cuộc
đổi mới văn học xuất hiện những năm đầu thế kỷ XX, nhiều ng-ời đã nhận ra cái lỗi thời của thơ cũ và họ tìm cách thay đổi, ng-ời có công đầu cho đổi mới thơ ca là Tản Đà ngoài ra có Đông Hồ, Trần Tuấn Khải,… cũng có những đóng góp đáng kể Những đổi mới này chỉ mang tính chất lẻ tẻ, ch-a thay đổi đ-ợc phạm trù thơ Công cuộc hiện đại hóa thơ ca phải chờ đến những năm 30 với trách nhiệm của những nhà Thơ mới và cũng chính thế hệ này họ đã có đủ tài năng và quan tâm làm cuộc cách mạng trong thơ ca
1.2.2 Cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và thơ cũ
Ngày 10 - 3- 1932, Phan Khôi đã đăng trên tờ "Phụ nữ tân văn" một số bài viết: "Về một lối Thơ mới trình chánh giữa làng thơ" và để minh chứng cho lối Thơ mới này ông đ-a ra bài 'Tình già" Đây là một bài thơ không mấy giá trị về nghệ thuật nh-ng những ý kiến của Phan Khôi đáp ứng đòi hỏi của lịch
sử văn học lúc đó Sau bài viết của Phan Khôi hàng loạt nhà Thơ mới lên tiếng tán thành lập tr-ờng của Phan Khôi Ng-ời có nhiều đóng góp tích cực là L-u Trọng L-, L-u Trọng L- thực ra đã sáng tác tr-ớc năm 1932 sau khi "Tình già" ra đời, ông mới công bố tờ "Phụ nữ tân văn" thành cơ quan ngôn luận của Thơ mới, tờ báo này cho đăng nhiều Thơ mới của L-u Trọng L-, Nguyễn Thị Kiêm, Hồ Văn Hảo Sau đó, phong trào Thơ mới chuyển ra Bắc
Trang 23ở Miền Bắc, tờ "Phong hóa" cho đăng hàng loạt Thơ mới của L-u Trọng L-, Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông, đồng thời cho
đăng những bài viết để công kích thơ cũ, phê phán, mạt sát Tản Đà, họ gọi những ng-ời làm thơ cũ là sáo rỗng, là trổ rồng trổ ph-ợng trên gỗ mục, đồng thời họ tán d-ơng Thơ mới Ng-ợc lại, phía thơ cũ cũng phản ứng kịch liệt: Huỳnh Thúc Kháng, Tân Việt, Nguyễn Văn Hanh, Hoàng Duy Từ,… cho công
bố các bài báo bảo vệ thơ cũ, công kích Thơ mới trên hai tờ báo: "Công luận"
và "Văn học tạp chí", cho in một số tập thơ Đ-ờng, tổ chức diễn thuyết
Nh-ng cuối cùng, phe Thơ mới đã hoàn toàn thắng lợi, sự chiến thắng chủ yếu không phải vì lí lẽ mà nhờ thực tế sáng tác Trong khi thơ cũ gần nh- không có một sáng tác nào thực sự có giá trị thì hàng loạt Thơ mới ra đời tạo
đ-ợc tiếng vang trong d- luận: "Yêu đ-ơng", "Tiếng địch sông Ô" (Huy Thông), "Máy vần thơ" (Thế Lữ), "Ngày x-a" (Nguyễn Nh-ợc Pháp), "Gái quê" (Hàn Mặc Tử) Cuộc trah cãi giữa Thơ mới và thơ cũ đ-ợc khép lại 19/2/1936 khi L-u Trọng L- cho công bố một bài thơ Đ-ờng trong đó có hai
câu "thể hiện nụ c-ời khinh mạn của ng-ời chiến thắng" (Hàn Mạc Tử):
"Nắn nót miễn sao nên bốn vế Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ"
Từ đây, Thơ mới gần nh- chiếm địa vị -u thế trên mặt báo, thi đàn và sau đó đ-ợc đ-a vào ch-ơng trình nhà tr-ờng Thơ cũ thất bại nh-ng không chết, nó lui về các thôn xã
Và chúng ta đều biết rằng, để tồn tại cho đến ngày hôm nay và cả mai sau, Thơ mới thực sự trải qua những biến cố thăng trầm Đã có rất nhiều cuộc tranh luận nổ ra xung quanh vấn đề thơ cũ - mới, kéo theo nó hàng chục cây bút phê bình với rất nhiều bài báo, bài nghiên cứu Có những giai đoạn mà cuộc tranh luận không chỉ là một cuộc tranh luận đơn thuần mà lên tới đỉnh
điểm của nó, xuất hiện rất nhiều các cây bút, các ý kiến trái ng-ợc nhau khá gay gắt Thơ mới đã đ-ợc đ-a ra mổ xẻ, xem xét khá kỹ l-ỡng có nhiều khi là
Trang 24khắt khe và bất công, điều này lại xảy ra bởi chính những ng-ời từng gắn bó, xem Thơ mới là tâm huyết của đời họ Nh-ng cuối cùng Thơ mới cũng đã đ-ợc trả về đúng với vị trí đích thực của nó, đứng vững trên bục vinh quang góp phần to lớn trong việc làm giàu và hiện đại hóa thơ ca, cũng nh- ảnh h-ởng sâu rộng của nó đối với nền văn học n-ớc nhà, nh- ý kiến của V-ơng Trí Nhàn:
"ảnh h-ởng của Thơ mới diễn ra trên phạm vi toàn xã hội, phải nói Thơ mới đã
in dấu vào nó cả thế kỷ và bây giờ chúng ta vẫn sống d-ới ảnh h-ởng của nó"
1.2.3 Thử lý giải nguyên nhân sự thâm nhập yếu tố văn xuôi tự sự vào trong Thơ mới 1932 - 1945
Phong trào văn học nào cũng có những đặc tr-ng nhất định Đó là những đặc diểm riêng biệt, độc đáo để khu biệt nó với những phong trào văn học tr-ớc, cùng thời và sau nó Riêng phong trào Thơ mới có đặc tr-ng nổi bật
là sự thâm nhập của yếu tố văn xuôi tự sự Chúng ta dễ dàng tìm thấy những câu chuyện hoàn chỉnh, những chi tiết miêu tả tỉ mỉ những lời văn mang tính chất kể lể và cả ngôn ngữ đối thoại (vốn là đặc tr-ng của văn xuôi tự sự) Vậy những nguyên nhân nào đã đ-a tới cho phong trào thơ ca này đặc tr-ng đó? Đi sâu vào tìm hiểu những nguyên nhân của vấn đề trên, chúng tôi thiết nghĩ d-ờng nh- không thể không xuất phát từ những tiền đề xã hội và thẩm mĩ vì văn học tr-ớc hết là tiếng nói, là nhu cầu thẩm mĩ của một tầng lớp ng-ời, của một giai cấp trong xã hội Đồng thời thông qua việc làm này ta cũng thấy đ-ợc quy luật phát triển của văn học và mối quan hệ của nó đối với đời sống xã hội
a) Tiền đề xã hội:
Một chân lí đã đ-ợc các nhà lí luận văn học khẳng định từ lâu đời: Xã hội nào thì văn học ấy Quả vậy, hoàn cảnh xã hội quy định hay nói đúng hơn tác động chi phối rất nhiều lên nền văn học đ-ợc sản sinh trong lòng xã hội đó Không nằm ngoài quy luật ấy, muốn lí giải nguyên nhân dẫn đến sự thâm nhập yếu tố văn xuôi tự sự trong phong trào Thơ mới, chúng ta phải tìm hiểu những
đặc điểm của xã hội n-ớc ta từ đầu thế kỷ XX đến 1945, nó đã ảnh h-ởng nh-
Trang 25thế nào tới sự phát triển của Thơ mới, đó phải chăng là sự ảnh h-ởng theo chiều h-ớng tốt đẹp
B-ớc sang đầu thế kỷ XX, bộ mặt xã hội n-ớc ta có nhiều thay đổi Công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp về mặt khách quan đã làm nền kinh tế n-ớc ta phát triển Bên cạnh nền kinh tế nông nghiệp
đã bắt đầu xuất hiện mầm mống của kinh tế t- bản chủ nghĩa Nền kinh tế t- bản chủ nghĩa tuy mới chỉ manh nha nh-ng đã ảnh h-ởng không nhỏ đến xã hội Việt Nam Một số đô thị mới hình thành và phát triển: Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Huế, Sài Gòn… Những trung tâm công nghiệp với nếp sống đô thị thu hút dân nghèo ra kiếm việc làm Từ đó, thành phần giai cấp trong xã hội Việt Nam cũng thay đổi Bên cạnh giai cấp nông dân vẫn tiếp tục khai thác theo lối cổ x-a, giai cấp công nhân cũng đang hình thành và lớn mạnh song song với tầng lớp dân nghèo thành thị, tiểu t- sản trí thức và giai cấp t- sản dân tộc Trong đó tầng lớp tiểu t- sản trí thức và giai cấp t- sản dân tộc là những giai tầng có tác động rất lớn đến phong trào Thơ mới cũng nh- quy định những
đặc tr-ng của phong trào thơ ca này
Để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa đạt hiệu quả cao, thực dân Pháp đã ra sức tuyên truyền cho việc "khai thác văn minh" của quốc mẫu
đại Pháp, các tr-ờng Pháp - Việt đ-ợc xây dựng từ năm 1896 Các sách báo về khoa học kỹ thuật, văn học, triết học của Pháp và của cả các n-ớc ph-ơng Tây
đ-ợc dịch sang chữ quốc ngữ và đăng tải trên các báo: Đông D-ơng tạp chí, Nam Phong, Phụ nữ tân văn, Phong hóa… Cùng với việc tuyên truyền văn minh Pháp, năm 1915 thực dân Pháp và triều đình phong kiến đã bãi bỏ chế độ khoa
cử nặng nề và thối nát ở Bắc Kỳ, sau đó là ở Nam Kỳ, ở Trung Kỳ Khoa cử
mà bỏ thì thơ Đ-ờng thất ngôn bát cú cũng theo đó mà mất dần địa vị độc tôn
và thế vào vị trí đó là văn học Pháp Trong nhà tr-ờng thanh niên học sinh say s-a học văn học Pháp Do tiếp xúc với văn học Pháp đặc biệt là văn học lãng mạn Pháp nên tầm mắt của ng-ời Việt Nam đ-ợc mở rộng, sinh hoạt của một
số tầng lớp nhân dân có sự thay đổi "Ng-ời ta ở nhà lầu, đi ô tô, dùng đèn
Trang 26điện, quạt điện, đi nghe hòa nhạc Tây Muzic Hall hoặc đi xem chớp bóng [7; 25] Những kiểu sinh hoạt đua đòi trụy lạc đ-ợc thực dân khuyến khích nh- nhà săm, nhà thổ Sinh hoạt của t- sản và tiểu t- sản thành thị cũng thể hiện ngay cả trong cách ăn mặc của thanh niên nam nữ (quần lĩnh, áo the, khăn mỏ quạ, răng đen… đ-ợc thay bằng những âu phục váy đầm, dày mõm nhái…) Nói
về những thay đổi của n-ớc ta do tiếp xúc với làn gió ph-ơng Tây, Hoài Thanh
đã nhận xét: "Năm sáu m-ơi năm mà nh- năm sáu m-ơi thế kỷ" và theo ông:
"Ph-ơng Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta" Tất cả những thay
đổi trong cuộc sống sinh hoạt, văn hóa làm lung lay nếp nghĩ, nếp cảm của giới trí thức Họ yêu đ-ơng mơ mộng, vui buồn khác các cụ nhà nho ngày x-a nhiều lắm Trong buổi diễn thuyết ở nhà Học hội Quy Nhơn hồi tháng 6 năm
1993, L-u Trọng L- đã nói: "Các cụ ta -a những màu đỏ choét, ta lại -a màu xanh nhạt… các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng
gà lúc đứng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ các cụ coi nh- đã làm một điều tội lỗi thì ta cho là mát mẻ nh- đứng tr-ớc một cánh đồng xanh Cái
ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nh-ng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: "cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi… cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…"
Tóm lại, tình hình xã hội n-ớc ta ở đầu thế kỉ XX với những đặc điểm nh- trên đã tạo ra một lớp độc giả mới có những nhu cầu thẩm mỹ mới Vì vậy, cần phải mở ra một thời kỳ mới trong thơ ca với hình thức biểu hiện độc đáo, khác tr-ớc
b) Tiền đề thẩm mỹ:
Việc đ-a câu chuyện, sự kịên, chi tiết, lời kể vào trong thơ không phải
đến phong trào Thơ mới mới có, thực ra nó đã có tiền đề từ văn học dân gian, văn học cổ điển
Văn học dân gian là nền văn học tồn tại song song với văn học viết Nền văn học này cũng bao gồm nhiều thể loại trong đó có những bài ca dao dân ca
- một loại hình không chỉ bộc lộ tâm trạng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của con
Trang 27ng-ời, bên cạnh đó nó còn cho ta biết thêm nhiều thông tin về sự việc nhờ có
sự tham gia của yếu tố tự sự Trong kho tàng dân ca, ca dao có nhiều câu bắt
đầu cái "cảm" từ một "duyên cớ", một "chuyện" nào đó Chẳng hạn:
Đêm qua tát n-ớc đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em đ-ợc thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
áo anh sứt chỉ đ-ờng tà
Vợ anh ch-a có, mẹ già ch-a khâu
áo anh sứt chỉ đã lâu
Mai m-ợn cô ấy về khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ tính công…
Bên cạnh việc bộ lộ tâm trạng, bài ca dao còn có yếu tố kể, tả, tính chất
kể chuyện nổi lên khá rõ, tuy nhiên cốt truyện và nhân vật có thể không rõ bởi
kể th-ờng ngắn và ngay sau đó là lời tâm tình cảm thán Đa số ca dao có hình thức tự sự này
Nh- vậy yếu tố tự sự trong ca dao đ-ợc thể hiện khá phong phú và có những cung bậc khác nhau Lối tự sự đ-ợc bắt nguồn từ cảm hứng trữ tình, tức lời kể, lời tả, câu chuyện, sự kiện chi tiết đ-ợc xây dựng bởi cảm xúc và tâm trạng song điều đáng nói là lối tự sự nó không làm mờ đi cái tâm trạng, cảm xúc mà trái lại còn làm cho tâm trạng, cảm xúc đặc sắc và đậm đà hơn
Học tập văn học dân gian các nhà thơ cổ điển cũng đ-a chuyện vào trong thơ Đó là một trong những tiền đề dẫn đến sự xuất hiện của yếu văn xuôi tự sự trong Thơ mới
Thơ mới chịu ảnh h-ởng sâu sắc của thơ Đ-ờng (Trung Quốc) Một số
đông thi sĩ nh-: J.Leiba, Thái Can, L-u Trọng L-, Huy Cận, Thâm Tâm, Vũ
Trang 28Hoàng Ch-ơng,… ảnh h-ởng thơ Đ-ờng qua gia đình, qua các bản dịch của Tản Đà, Ngô Tất Tố,… qua Kiều, Chinh Phụ Ngâm, thơ chữ Hán…
Các nhà thơ cổ điển đã rất nhiều lần bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng của mình, đặc biệt là những bài bộc lộ cảm quan hiện thực sâu sắc nhằm vạch trần bản chất xã hội hay chỉ ra những bi kịch lớn của một dân tộc thông qua một câu chuyện kể Trong tr-ờng hợp này "con ng-ời xã hội" đã thế chân cho "con ng-ời vũ trụ" và có nhu cầu kể lại cụ thể những điều xảy ra trong cuộc sống
Hình thức thơ đ-ợc chọn th-ờng là cổ thể (phải chăng vì khuôn khổ không bó buộc của nó về một ph-ơng diện nào đó là thích hợp với việc kể chuyện?) Những bài thuộc loại này là: Chùm thơ Tam lại, Tam biệt của Đỗ Phủ, Mại Thán Ông, Thôn c- khổ hàn của Bạch C- Dị, Sở kiến hành, Long thành cầm giả ca, Thái Bình mại ca giả của Nguyễn Du, Đạo phùng ngã phu, Phúc Lâm lão của Cao Bá Quát… Điều dễ nhận thấy là các thi nhân x-a đều lấy một câu chuyện, một tình huống có thật trong cuộc sống làm cốt lõi cho bài thơ của mình Tính chất kí sự nổi lên rất đậm, các tình tiết, các sự kiện làm nên câu chuyện, tình huống đó đ-ợc kể một cách tuần tự
Các nhà Thơ mới đã kế thừa cách kể chuyện của các nhà thơ cổ điển trên tinh thần sáng tạo (nhờ học tập văn học Pháp)
Trong cuộc giao tiếp với Ph-ơng Tây ngay từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, ảnh h-ởng của văn học Pháp với các nhà văn Việt Nam, đáng kể là một tiền đề quan trọng cho cuộc cải cách thi ca Nói về ảnh h-ởng của văn học lãng mạn Pháp đối với văn học Việt Nam, Hoài Thanh và hoài Chân trong cuốn "Thi nhân Việt Nam" đã từng viết: "Mỗi nhà thơ Việt Nam hình nh- mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp" Cách nói ấy có vẻ c-ờng điệu nh-ng đúng là hầu hết các nhà Thơ mới đều học tập cách viết của các nhà thơ Pháp, trong đó có học cách đ-a yếu tố "chuyện" vào trong thơ
Trang 29Trong khoảng thời gian 1932 - 1945, Thơ mới chịu ảnh h-ởng của gần
100 năm thơ Pháp, ảnh h-ởng của tr-ờng phái lãng mạn đầu thế kỷ XIX (Chateaubriand, Lamartin, Musset, Vigny, Huygo) đến nhóm Thi Sơn qua Baudelaire, đến tr-ờng phái t-ợng tr-ng và đến các tr-ờng phái suy đồi khác
Ng-ời đầu tiên chịu ảnh h-ởng của thơ Pháp là Thế Lữ Trong thơ Thế Lữ có ảnh h-ởng tr-ờng phái lãng mạn Pháp, nhất là ảnh h-ởng của tản văn Pháp Trong thơ Huy Thông có hơi thở của Huygo, một ít màu sắc của Leeonte
de Liste Các nhà Thơ mới học tập đ-ợc ở Baudelaire, Verlaine một cách diễn tả tinh vi, đi sâu vào nội tâm, câu thơ giàu nhạc điệu, bài thơ giàu biểu t-ợng
Do ảnh h-ởng của văn học lãng mạn Pháp, Thơ mới đã khẳng định cái tôi cá nhân nh- một bản lĩnh tích cực trong sáng tác, nh- một chủ thể sáng tạo
độc đáo trong nghệ thuật Lần đầu tiên có một cái tôi cá thể hóa trong cách cảm thụ thế giới và thiên nhiên Sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân đem đến cho các nhà Thơ mới cách nhìn mới về thế giới Và bằng cặp mắt xanh non biếc rờn của mình, họ đã phát hiện ra nhiều vẻ đẹp của cuộc sống Bởi thế, sự bộn
bề của chi tiết trong Thơ mới là một điều dễ hiểu
Trong thơ Pháp, cụ thể là trong thơ của Lamartin, Vigny, Huygo nổi lên cái nhìn h-ớng ngoại ở đây, chúng tôi hiểu "h-ớng ngoại" không phải là miêu tả cái thế giới bên ngoài, còn h-ớng nội là vào nội tâm Theo chúng tôi h-ớng ngoại chỉ nh- một nguyên tắc xây dựng hình t-ợng thơ, một yếu tố của cái nhìn nghệ thuật trong thơ, một sự đối lập với cái tôi chủ thể để chỉnh đốn nội
bộ thế giới thơ tạo thành ngôn ngữ thơ Theo ý nghĩa này, cái nhìn h-ớng ngoại xác định quan hệ trực tiếp giữa nhân vật và thế giới xung quanh nó nh- một quan hệ cảm nhận trực tiếp, cho phép khám phá thế giới cảm tính của con ng-ời một cách cụ thể, sắc bén ch-a từng có Vận dụng cách hiểu về cái nhìn h-ớng ngoại đó vào Thơ mới, chúng ta thấy Thơ mới đã học tập thơ ca Pháp ở
điểm này Vì vậy, khi nhận xét lối tả cảnh của Anh Thơ, Hoài Thanh nói đó là
"lối thơ của ng-ời có học" có nghĩa là học Tây Nhờ có cái nhìn h-ớng ngoại Thơ mới có thể tả chân
Trang 30Đầu thế kỷ XX, thể loại tiểu thuyết phát triển mạnh ở trên thế giới, đặc biệt là ở Pháp Chúng ta đã từng biết đến các tiểu thuyết nổi tiếng của Xtăngđan, Banzắc,… Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản
ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, nhiều bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng Là những trí thức Tây học, các nhà Thơ mới hẳn có chịu nhiều ảnh h-ởng cách nhìn, cách mô tả thế giới của tiểu thuyết
Nh- vậy, Thơ mới đã không cắt lìa truyền thống Nh- một con ong biết hút nhụy, các thi sĩ Thơ mới đã hút ở truyền thống những sinh lực làm giàu cho nguồn sáng tạo dồi dào của mình Đồng thời, họ còn biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, mà trực tiếp là văn học Pháp để tạo nên "một thời
đại trong thi ca"
Trang 31Ch-ơng 2:
Đối thoại trong Thơ mới 1932 - 1945
2.1 Đối thoại và đối thoại trong văn học
Ngôn ngữ học hiện đại là khoa học đã mở đ-ờng kích thích sự hình thành của khoa thi pháp học hiện đại Theo đó, chất liệu duy nhất có tính đặc thù tạo ra hình t-ợng văn học là ngôn từ (do đó cách nói: "văn học phản ánh cuộc sống bằng hình t-ợng" tuy đúng nh-ng vẫn chung chung vì nhiều nghệ thuật khác cũng nh- vậy) Tính đặc thù của chất liệu ngôn từ quy định tính riêng của hình t-ợng văn học Nghiên cứu ngôn từ cụ thể của một văn bản tác phẩm văn học là yêu cầu quan trọng đầu tiên để tiến tới việc nghiên cứu các bình diện trừu t-ợng hơn của thi pháp tác phẩm văn học nh-: kiểu nhân vật, không gian, thời gian, nghệ thuật, kết cấu, cốt truyện Trong ngôn ngữ của tác phẩm văn học có thể có ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ của ng-ời kể chuyện, ngôn ngữ của các nhân vật… Trong tác phẩm văn học nhà văn có thể sử dụng ngôn ngữ đối thoại với t- cách là một yếu tố thi pháp Đối thoại trong tác phẩm văn học cũng bắt nguồn từ đối thoại trong ngôn ngữ tự nhiên thông th-ờng
2.1.1 Đối thoại theo cách nhìn chung của ngôn ngữ học
"Lời đối thoại (đối đáp) là lời trong cuộc giao tiếp song ph-ơng mà lời này xuất hiện nh- là phản ứng đáp lại lời nói tr-ớc" [5; 186] Đó là định nghĩa khái quát nhất về lời đối thoại - một dạng giao tiếp ngôn từ cơ bản - căn cứ vào cách thực hiện chức năng giao tiếp
Nói đến đối thoại là nói đến giao tiếp, trao đổi, trò chuyện, thậm chí tranh cãi, va chạm… Có thể nói đó là một ph-ơng diện không thể thiếu khi ta tiếp nhận một hình t-ợng nhân vật bởi trong đối thoại nhân vật có điều kiện bộc lộ tính cách, quan điểm, tình cảm cũng nh- thân phận, trình độ học vấn và
địa vị xã hội của nó
+) Các đặc tr-ng của đối thoại (xét theo ngôn ngữ học):
Trang 32- Tính chức năng: Đối thoại nó thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Thông th-ờng một cuộc chuyện trò, trao đổi, giao tiếp diễn ra thì các yếu
tố đối thoại nó đóng một vai trò hết sức quan trọng Hay nói cách khác, đã gọi
là giao tiếp thì không thể thiếu đối thoại diễn ra giữa các vai giao tiếp
- Tính mục đích: tùy vào ngữ huống, tình thái đối thoại để thấy mục
đích các cuộc đối thoại: Để giãi bày, để khảo vấn, để thông báo đơn thuần hoặc để biểu cảm Thông th-ờng khi một cuộc trò chuyện, giao tiếp diễn ra
đều nhằm một mục đích nhất định nào đó: Để tiếp nhận thông tin, để hiểu thêm về đối t-ợng giao tiếp, để giãi bày tâm t- tình cảm…
- Xét đến cùng đối thoại phải có hai chủ thể ngôn ngữ thực hiện, vai trò chủ thể phát và chủ thể nhận chuyển đổi cho nhau Tuy vậy, có tr-ờng hợp một chủ thể phân thân thành hai để đối thoại (th-ờng xảy ra trong văn học)
2.1.2 Đối thoại trong văn học qua một số thể loại
ở bình diện chung nhất mọi sáng tác văn học đều đ-ợc coi là một đối thoại - đối thoại của nhà văn với cuộc đời, với con ng-ời với nhân loại - kể cả những tác phẩm t-ởng chừng chỉ có nhà văn nói về mình, với mình nh- các dạng tự truyện, nhật kí, hồi kí, thơ độc cảm, tự thán, tự tình, tự cảm, tự vấn Tuy nói với mình nh-ng khi đã thành tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, tác phẩm trở thành lời đối thoại của tác giả với đồng loại Và bằng rất nhiều con đ-ờng khác nhau rất nhiều nhà văn, nhà thơ tìm cho mình những kênh giao tiếp khác nhau đi tìm đến với độc giả và cũng tùy từng đối t-ợng độc giả có cách tiếp nhận riêng với từng loại tác giả, tác phẩm… Tuy vậy, đối thoại nói ở đây không theo nghĩa rộng này mà chỉ theo nghĩa hẹp: Đối thoại giữa các nhân vật trong tác phẩm
Mỗi thể loại văn học đ-ợc sáng tạo từ những kiểu t- duy nghệ thuật khác nhau cho nên việc sử dụng ngôn ngữ nói chung và đối thoại nói riêng phải phụ thuộc vào kiểu t- duy đó
+) Có thể sơ l-ợc đặc tr-ng của đối thoại qua một số thể loại văn học
Trang 33- Đối thoại trong tiểu thuyết (hiện đại): Sự đổi mới của tiểu thuyết từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện kéo theo sự cách tân đổi mới của hàng loạt các yếu tố, chẳng hạn nh- không gian và thời gian nghệ thuật, kiểu nhân vật (hay quan niệm nghệ thuật về con ng-ời) nội dung, đề tài, kết cấu… Ngôn ngữ tiểu thuyết cũng nằm trong xu thế đổi mới Theo quan điểm thi pháp học, hình thức (xét cả về ngôn ngữ) không phải là cái vỏ máy móc vô hồn mà bản thân hình thức chính là biểu hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn Cho nên
nó chính là nội dung, mang tính nội dung, tính quan niệm rõ nét Ngôn ngữ tiểu thuyết hiện đại trở thành một nội dung quan trọng thứ hai, bên cạnh nội dung thuần túy đ-ợc diễn đạt Toàn bộ tiểu thuyết đ-ợc phân hóa thành những hình t-ợng ngôn ngữ đ-ợc gắn bó với nhau và với tác giả bằng những quan hệ
đối thoại đặc thù Tác giả tham dự vào tiểu thuyết (ông có mặt ở khắp nơi trong đó) mà hầu nh- không dùng đến ngôn ngữ trực tiếp của mình Ngôn ngữ tiểu thuyết là cả một hệ thống ngôn ngữ soi sáng lẫn nhau, đối thoại với nhau, không thể mô tả và phân tích nó nh- một ngôn ngữ thuần nhất
Lời đối thoại trong tiểu thuyết hiện đại không thể giống với lời đối thoại trong sinh hoạt hằng ngày và cũng rất khác với đối thoại trong tiểu thuyết truyền thống Bởi lời thoại trong tiểu thuyết hiện đại đ-ợc tác giả chọn lựa sao cho chúng có thể bộc lộ có hiệu quả nhất đối với việc khắc họa con ng-ời nhân vật và phục vụ đắc lực cho việc làm sáng rõ chủ đề tác phẩm Độ dài ngắn của lời nói, kiểu cú pháp, nội dung của mỗi cuộc nói chuyện, cách tổ chức đối thoại… Trong tiểu thuyết hiện đại ngôn ngữ đối thoại đ-ợc cá thể hóa triệt để thông qua lời đối thoại có thể phán đoán tính cách cá tính nhân vật (Chẳng hạn ở tiểu thuyết "Số đỏ" qua cuộc đối thoại giữa Xuân với chị hàng mía, chúng ta phần nào hiểu đ-ợc tính cách của nhân vật này)… Có thể nói, lời thoại là một thành tố chuyên biệt của lời văn nghệ thuật Nó là một bình diện của thi pháp lời văn, nh-ng lại đồng thời là một yếu tố góp phần tạo nên thi pháp nhân vật
- Đối thoại trong truyện ngắn:
Trang 34Cũng mang những đặc tr-ng chung của đối thoại và một số nét t-ơng
đồng với đối thoại của tiểu thuyết nh- là: Đối thoại thực hiện chức năng giao tiếp, đối thoại xuất hiện nhằm một mục đích cụ thể nhất định nào đó và đối thoại đ-ợc tác giả chọn lựa để bộc lộ có hiệu quả nhất đối với việc khắc họa con ng-ời nhân vật và phục vụ đắc lực cho việc làm sáng tỏ chủ đề tác phẩm Tuy nhiên, do đặc tr-ng riêng của thể loại, đối thoại trong truyện ngắn nó cũng mang những nét đặc thù
Do dung l-ợng của một truyện ngắn th-ờng ngắn gọn, cô đọng, hàm súc nên đối thoại cũng th-ờng là ngắn, súc tích và mang tính triết lí cao Mỗi lời đối thoại mà nhân vật khi giao tiếp với nhau chứa đựng cái ý nghĩa thế giới quan, nhân sinh quan sâu sắc (th-ờng ta hiểu đằng sau nó luôn là bóng dáng,
là suy nghĩ là quan niệm của chính tác giả về cuộc đời, về con ng-ời) Cũng giống với nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết thì nhân vật chính trong truyện ngắn tập trung xung quanh nó các mối quan hệ cơ bản và là ng-ời thực hiện những hoạt động giao tiếp quan trọng có khả năng thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện và bộc lộ chủ đề của tác phẩm Nhân vật chính này xuất hiện hầu hết trong các cuộc đối thoại và với t- cách là một trong hai nhân vật trực tiếp tạo ra cuộc đối thoại (chứ không xuất hiện với danh nghĩa là kẻ thứ ba gián tiếp đ-ợc nhắc đến trong cuộc nói chuyện tay đôi) Lời nói của nhân vật chính luôn luôn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đối thoại… Tất cả những điều đó
là việc bất cứ tác giả nào cũng cần thiết phải làm nếu muốn nhân vật bộc lộ hết đặc điểm tính cách, tâm lí trong các mối quan hệ gần cận của nó
- Đối thoại trong thơ:
Tiểu thuyết và dạng tự sự là văn bản ghi kí hiệu diễn xuất của nhiều nhân vật Lời nói của nhân vật với nhau trong tác phẩm (lời thoại) có ý nghĩa trực tiếp biểu hiện cá tính, tính cách nhân vật, góp phần xây dựng hình t-ợng Lời thoại trong tiểu thuyết là ngôn ngữ giao tiếp nh-ng không phải là ngôn ngữ giao tiếp bình th-ờng, tự nhiên Đó là một thành tố rất quan trọng của thi pháp ngôn ngữ Hay nói khác đi, đối thoại là đặc tr-ng của văn xuôi tự sự
Trang 35Còn trữ tình đặc tr-ng là độc thoại (thơ trữ tình là một văn bản độc diễn, độc tấu Nó chỉ có một tiếng nói - tiếng nói bộc lộ tình cảm của nhân vật trữ tình) Tuy nhiên, b-ớc sang thời kỳ hiện đại, văn xuôi đã mở một cuộc "xâm lăng" tràn vào địa hạt thơ kéo theo sự xuất hiện của hàng loạt những yếu tố mới mẻ
độc đáo, một trong những yếu tố đó là vấn đề đối thoại trong thơ
Chúng ta đều biết rằng, thơ là tiếng nói của cảm xúc, của điệu hồn, của những tâm t- sâu lắng Hay nói cách khác đặc tr-ng của thơ là độc thoại Nhà thơ th-ờng làm thơ để bày tỏ những tình cảm, suy t-, chiêm nghiệm của mình (thông qua hình t-ợng nhân vật trữ tình trong thơ) tr-ớc thiên nhiên, con ng-ời, cuộc đời Có thể nói đó là những vần thơ h-ớng nội, những vần thơ mang nặng tính u uất, những kìm nén, những khát khao Trong thơ, đặc biệt
là thơ trung đại yếu tố đối thoại xét theo nghĩa hẹp hầu nh- không có, nếu có cũng rất ít và lại xuất hiện d-ới dạng thức thứ hai của đối thoại đó là đối thoại gián tiếp (hiện t-ợng này đã xuất hiện trong thơ của Trần Tế X-ơng, Nguyễn Khuyến)
B-ớc sang thời kỳ hiện đại, thơ ca đã có những b-ớc tiến mới về nội dung và nghệ thuật Đặc biệt là về ph-ơng diện nghệ thuật Thơ trữ tình hịên
đại mặc dù vẫn là tiếng nói của một ng-ời, một nhân vật trữ tình chính tác giả trong một văn bản thơ, nh-ng nhà thơ đã đ-a vào tác phẩm nhiều lời đối thoại bởi một số vai giao tiếp đ-ợc nhà thơ thuật lại Đ-ơng nhiên lời thoại của các nhân vật (nếu có) trong thơ thực ra cũng chỉ là giọng của tác giả, kể cả trong tr-ờng hợp tác giả (qua nhân vật tôi) đối thoại với nhân vật khác thì lời thoại của nhân vật kia cũng đ-ợc thể hiện bằng giọng của nhà thơ (khác với tiểu thuyết hiện đại: giọng nhà văn khác với giọng nhân vật, cãi lộn với nhân vật, nhà văn không "uốn giọng" của nhân vật theo ý thức mình - đây là tính đa thanh của tiểu thuyết hiện đại) Trong thơ trữ tình nhà thơ phải "uốn" lời thoại của các nhân vật khác theo h-ớng thể hiện tình cảm của nhân vật trữ tình hiệu quả nhất
Trang 36Việc đ-a yếu tố đối thoại vào trong thơ tr-ớc hết nó mang tính quy luật của thời đại, của nền văn học hiện đại nói chung Tr-ớc sự đổi mới trên tất cả mọi lĩnh vực, văn học nói chung thơ ca nói riêng cũng nằm trong vòng quay đó, nó không thể dẫm chân tại chỗ mà chuyển mình cùng với cách thể nghiệm mới, t- duy mới, bên cạnh nội dung phong phú đa dạng, phức tạp là những hình thức thể hiện không kém phần độc đáo, mới mẻ Chính việc đ-a yếu tố đối thoại vào trong thơ đã làm cho giới hạn, biên độ của bài thơ đ-ợc
mở rộng ra, đ-ợc đào sâu thêm Bằng việc xuất hiện đối thoại đã tạo nên trong bài thơ các tình huống, các sự kiện để từ đó mở ra cho ng-ời đọc một h-ớng tiếp cận mới mẻ và độc đáo Đồng thời bài thơ cũng gắn với hiện thực đa dạng
và nhiều màu sắc hơn
Vậy yếu tố đối thoại có mặt trọng thơ nó có những biểu hiện cụ thể ra sao và có tác dụng nh- thế nào chúng ta sẽ trực tiếp tìm hiểu trong Thơ mới (1932 - 1945)
2.2 Đối thoại trong Thơ mới (1932 - 1945)
Thơ mới quả thật là rất "mới" đúng nh- cái tên của nó Ch-a bao giờ trong lịch sử thơ ca n-ớc nhà ta thấy xuất hiện những vần thơ "lạ" nh- thế,
"Tây" nh- thế:
Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong v-ờn sắc đỏ rũa màu xanh Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy x-ơng mỏng manh
(Đây mùa thu tới - Xuân Diệu) Hay:
Trăng rằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
(Bẽn lẽn - Hàn Mặc Tử)
Trang 37Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?
(Tiếng thu - L-u Trọng L-) Không chỉ mới lạ ở cách dùng từ, đặt câu, hình ảnh… Thơ mới còn mới mẻ ở một phạm trù riêng thuộc thi pháp học đó là việc xuất hiện yếu tố
mà còn mở rộng đ-ợc giới hạn, biên độ khiến bài thơ trở nên có chiều sâu hơn, lột tả đ-ợc cảm xúc của nhân vật trữ tình sâu lắng hơn và thể hiện đ-ợc những suy t- chiêm nghiệm của nhà thơ tr-ớc thiên nhiên, con ng-ời và cuộc
đời một cách khách quan hơn nh-ng không kém phần khái quát, sâu sắc Chính việc sử dụng yếu tố đối thoại, các nhà Thơ mới đã cấp thêm cho thơ ca một phong cách mới, một cách tiếp cận bài Thơ mới đối với độc giả Việc xuất hiện đối thoại trong thơ kéo theo sự xuất hiện các tình huống, các sự kiện Bài
Trang 38thơ nó không còn đơn thuần là những lời tâm sự, những lời giãi bày cảm xúc hay mô tả thiên nhiên, con ng-ời một cách chung chung nữa mà nó trở nên nh- một câu chuyện nhỏ xinh có diễn biến sự kiện, có tình tiết, có hình ảnh,
đặc biệt là sự xuất hiện của các vai giao tiếp, lời đối đáp giữa các nhân vật Bài thơ tuy vẫn là một văn bản độc diễn, độc tấu nh-ng đã có tiếng nói khác góp phần bộc lộ những tình cảm của nhân vật trữ tình
Trong Thơ mới, đối thoại xuất hiện d-ới hai dạng thức đó là đối thoại trực tiếp (xuất hiện trực tiếp lời đối đáp của hai ng-ời trong cuộc nói chuyện song ph-ơng) và đối thoại gián tiếp (đại từ ngôi thứ nhất diễn tả lại cuộc đối thoại, không xuất hiện lời của đại từ ngôi thứ hai) Và rất nhiều bài thơ đã
đ-ợc thể hiện một cách thành công d-ới hai dạng đối thoại này
"Xa cách" của Xuân Diệu là một cuộc đối thoại giữa hai ng-ời đang yêu, nh-ng cuộc đối thoại này lại diễn ra một cách gián tiếp, ta chỉ đ-ợc nghe lại cuộc đối thoại của họ qua lời kể của nhân vật trữ tình - chàng trai mà không trực tiếp đ-ợc nghe lời đối đáp từ cô gái - đại từ ngôi thứ hai:
"Có một bận em ngồi xa anh quá
Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn
Em xích gần hơn một chút: anh hờn
Em ngoan ngoãn xích gần thêm chút nữa Anh sắp giận Em mỉm c-ời vội vã
Đến kề anh, và mơn trớn: "em đây"
Anh vui liền, những bỗng lại buồn ngay
Và anh nghĩ: thế vẫn còn xa lắm…"
Hay trong bài "Hẹn hò" (Xuân Diệu), cũng bằng cách đối thoại gián tiếp, diễn tả lại cuộc nói chuyện giữa chàng trai và cô gái nh-ng nổi lên vẫn là lời của chàng trai còn lời đối đáp của cô gái đ-ợc diễn tả lại bởi chàng trai
Trang 39Qua đó ta thấy đ-ợc tình yêu chân thành, nồng nàn và sâu sắc của chàng trai dành cho cô gái:
"Anh đã nói từ khi vừa gặp gỡ Anh rất ngoan, anh không giám mong nhiều
Em bằng lòng cho anh đ-ợc phép yêu Anh sung s-ớng với chút tình vụn ấy"
Em đáp lại: "Nói gì đau đớn vậy!
Vừa gặp anh em cũng đã mến rồi
Em đâu phải là ngọn n-ớc trôi xuôi Ch-a hy vọng sao anh liền thất vọng?"
Thành công trong việc sử dụng hình thức đối thoại gián tiếp trong thơ của Xuân Diệu không thể không nhắc tới tác phẩm thơ tiêu biểu của ông "Lời
kỹ nữ" Chính sự thành công này đã góp phần không nhỏ làm nên tên tuổi cho Xuân Diệu, đúng nh- Vũ Ngọc Phan từng có lời nhận xét về ông: "Xuân Diệu
là ng-ời đã đem đến cho thi ca Việt Nam nhiều cái mới nhất… Thơ Xuân Diệu
đằm thắm, nồng nàn nhất trong tất cả các Thơ mới Cả ý lẫn lời đều thiết tha, làm cho nhiều ng-ời thanh niên ngây ngất…"
Toàn bộ bài thơ "Lời kỹ nữ" d-ờng nh- là một cuộc đối thoại giữa ng-ời kỹ nữ với một vị khác làng chơi nào đó Và phần chính của bài thơ là lời van vỉ tội nghiệp ng-ời kỹ nữ:
"Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa Vội vàng chi trăng sáng quá khách ơi!
Đêm nay rằm yến tiệc sáng trên trời Khách không ở lòng em cô độc quá!"
Sau "cuộc yêu đ-ơng gay gắt" kết thúc, lòng ng-ời kỹ nữ thấy trống trải cô đơn Một đêm rằm với yến tiệc sáng trên trời càng soi tỏ thêm nỗi cô