1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cảm hứng thế sự trong thơ nguyễn hành

98 1,4K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 570,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mỗi người đọc, rằng văn chương đích thực là gì, nếu không phải vị nhân sinh, gắn bó với đời, với con người; văn học có thể làm được gì nếu không phải là góp phần giúp cho con người hiểu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HUẤN

CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG THƠ NGUYỄN HÀNH

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: T S Nguyễn Thị Nương

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới

sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Nương

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Nương - người thầy tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ này

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng sau đại học, các thầy giáo, cô giáo của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình cùng bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Hà Nội, ngày 26 tháng 06 năm 2017

Học viên Huấn Nguyễn Thị Huấn

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài……… 3

2 Lịch sử vấn đề……… 4

3 Mục đích nghiên cứu……… 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 12

5 Phương pháp nghiên cứu……… 12

6 Đóng góp của luận văn……… 13

7 Cấu trúc của luận văn……… 13

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ TÁC GIẢ NGUYỄN HÀNH………… 14

1.1 Giới thuyết khái niệm 14

1.1.1 Khái niệm cảm hứng……….…… 14

1.1.2 Khái niệm cảm hứng thế sự……… … 15

1.2 Khái quát cảm hứng thế sự trong thơ trung đại Việt Nam……… 17

1.2.1 Cảm hứng thế sự trong thơ thế kỷ X – thế kỷ XIV………… ….… 18

1.2.2 Cảm hứng thế sự trong thơ thế kỷ XV – thế kỷ XVII……… ….… 20

1.2.3 Cảm hứng thế sự trong thơ thế kỷ XVIII – thế kỷ XIX…… …….… 22

1.3. Tác giả Nguyễn Hành và cơ sở hình thành cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Hành……… 24

1.3.1 Tác giả Nguyễn Hành……… 25

1.3.1.1 Cuộc đời và con người……… … 25

1.3.1.2 Sự nghiệp sáng tác……… … 28

1.3.2 Cơ sở hình thành cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Hành…… … 29

1.3.2.1 Cơ sở lịch sử - xã hội, tư tưởng – văn hóa……… … 29

Trang 4

1.3.2.2 Cơ sở văn học……….…… 32

Tiểu kết chương 1………

CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG THƠ NGUYỄN HÀNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG………

36 37 2.1 Số liệu khảo sát, thống kê……… 37

2.2 Nội dung cơ bản của cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Hành……… 37

2.2.1 Niềm trăn trở trước thời thế suy loạn……… … 38

2.2.2 Nỗi đau trước cuộc sống nghèo khổ, khốn cùng của nhân dân… … 44

2.2.3 Tâm sự về cuộc sống của bản thân……….……… 50

2.2.3.1 Sinh bất phùng thời và niềm tiếc nuối “thời xưa”….……… 50

2.2.3.2 Nỗi cô đơn, nghèo khổ nơi đất khách……….………….… 51

2.2.3.3 Phẩm cách cứng cỏi, thanh cao……… ……….… … 61

Tiểu kết chương 2………

CHƯƠNG 3: CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG THƠ NGUYỄN HÀNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT………

62 64 3.1 Nhan đề và tiểu dẫn……… 64

3.2 Thời gian và không gian nghệ thuật……… 72

3.3 Hình tượng con người 78

3.4 Thể loại, giọng điệu……… 82

3.4.1 Thể loại……… 82

3.4.2 Giọng điệu………

Tiểu kết chương 3……….

83 84 KẾT LUẬN………

TÀI LIỆU THAM KHẢO

86

90

Trang 6

mỗi người đọc, rằng văn chương đích thực là gì, nếu không phải vị nhân sinh, gắn bó với đời, với con người; văn học có thể làm được gì nếu không phải là góp phần giúp cho con người hiểu biết hơn về đời sống nhân sinh… Trong thơ Nguyễn Hành, cảm hứng thế sự là khuynh hướng cảm hứng nổi trội nhất Qua khuynh hướng này có thể mở ra những hiểu biết chân thực không chỉ về tâm sự, cuộc đời của Nguyễn Hành mà còn cả về thời đại ông sống

Ngoài ra, thực hiện đề tài này cũng giúp người viết luận văn có thêm những dữ kiện cho việc giảng dạy, nghiên cứu thơ trung đại Việt Nam một cách có cơ sở, khoa học

mới là lúc Minh quyên thi tậpcủa Nguyễn Hành được quan tâm lưu trữ Năm

1958, tác phẩm Minh quyên thi tậpđược ông Hồ Trai Phạm Khắc Khoan, quê Đức Thọ, Hà Tĩnh sao chép lại, đó chính là bản mang kí hiệu VHv.109 trong kho sách của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay

Năm 1959 nhóm các học giả Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh giới

thiệu và dịch tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du(Nxb Văn hóa, H) Tài liệu các tác giả này sử dụng là bộ sách của tủ sách họ Cao Xuân Do được tiếp xúc với văn bảnMinh quyên thi tập, nên trong lời giới thiệu tập Thơ chữ Hán Nguyễn

Dunày, lần đầu tiên các tác giả Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh đã trích ý bốn câu thơ đầu trong bàiVăn thúc phụ lễ bộ hữu tham tri phó âm cảm tác Nhóm các tác giả Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi khi

Trang 7

biên soạn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, quyển III (thế kỉ thứ XVIII)

(Nxb Văn Sử Địa, H, 1959) có đề cập tới ba tập thơQuan hải thi tập, Minh

Khi làmHợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập III) – văn học thế kỉ XVIII đến

Lâm, Nguyễn Văn Phú, Lê Thước, Hoàng Hữu Yên với sự cộng tác của Phạm Hữu Chính, Nguyễn Khắc Hanh, Lê Tư Thực, Phan Võ đã giới thiệu Nguyễn Hành thành một tác giả riêng, trích dịch 12 bài thơ kèm theo phần đầu giới thiệu ngắn gọn thân thế sự nghiệp Trong đó viết rõ: Ông có để lại hai tập thơ

sách nhan đề làThiên địa nhân vật(quyển này hiện chưa tìm thấy)

Năm 1978, khi in lại lần thứ 2 cuốnHợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập III) - văn học thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX (lúc này tham gia biên soạn có thêm

tác giả Đặng Thanh Lê), thơ Nguyễn Hành được giới thiệu thêm hai bài mới

và bỏ đi một bài cũ, nên tổng số văn bản được biết đến là 13 bài

Cuốn Từ trong di sản (những ý kiến về văn học từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ

XX ở nước ta) xuất bản năm 1981 do Nguyễn Minh Tấn chủ biên, quan tâm ghi nhận lời bàn về văn học của Nguyễn Hành, mà thực chất đây là nội dung

của bài Thất cảm tự tập

Năm 2000, đếnTổng tập văn học Việt Nam,tập 14, do nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu sưu tầm, biên soạn, ta thấy thơ Nguyễn Hành được phiên dịch nhiều hơn với 73 bài và dịch thêmMinh quyên phả dẫntrong bản VHv.109

Rõ ràng, như lời giới thiệu, Đặng Đức Siêu có tham khảo những bản củaHợp tuyển Đồng thời đọc các văn bản, ta thấy rõ là tài liệu chính được sử dụng là

bản VHv.109

Trang 8

Những văn bản về thơ Nguyễn Hành về sau chủ yếu trích từ cuốnHợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập III) - văn học thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX in

lần hai và cuốnTổng tậpnói trên

Bước tiến mới trong ngành văn học về thơ Nguyễn Hành là sự kiện năm

2015, Trung tâm Quốc học cho ấn hành tuyển Thơ Nguyễn Hành do Nguyễn

Thị Hằng biên khảo, nhân kỉ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du Đây là tuyển thơ Nguyễn Hành phong phú, công phu và quy mô nhất từ trước tới nay Tuyển thơ Nguyễn Hành do nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên chủ biên, ngoài các dịch giả Lê Quang Trường, Ngô Lập Chi, Nguyễn Ngọc Nhuận, Nguyễn Tiến Đoàn tham góp, thì nguồn tuyển dịch văn bản còn được rút từ

Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 14, tức là có sự kế thừa, gối tiếp Đến đây,

tổng số bài thơ của Nguyễn Hành được giới thiệu là 222 bài

2.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Hành

Các thành tựu nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả Nguyễn Hành đến nay còn khá mỏng, có điểm không thống nhất

Nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp Nguyễn Hành được bắt đầu từ thập

niên 50 của thế kỉ XX Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, quyển III (thế kỉ thứ

(Nxb Văn Sử Địa, H, 1959) là công trình đầu tiên giới thiệu tiểu sử và thơ Nguyễn Hành Theo đó, Nguyễn Hành hiện diện như là một trong những tác giả tiêu biểu của thơ thế kỉ XVIII, cùng với Trần Danh Án, Phạm Quý Thích, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án, tác giả Nguyễn Hành được miêu tả như là một tác giả thuộc về khuynh hướng bảo thủ bi quan Mô tả về khuynh hướng này,

Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam khẳng định: xuất hiện ở cuối thế kỉ XVIII

đầu thế kỉ XIX, “một mặt, đó là tiếng nói rầu rĩ của lực lượng suy tàn đang giãy chết, về một mặt khác, đó là tiếng nói của thái độ phản ứng trước lực

Trang 9

lượng mới đang lên Nói chung các tác giả này hầu hết là những nho sĩ quý tộc, hoặc thuộc dòng dõi quý tộc nhưng đều thất thế sa sút Họ là những người tôn thờ một lý tưởng mà lý tưởng ấy chỉ là sống chết vì một dòng họ

Họ bảo vệ một cách cố chấp đạo đức lễ giáo của Tống Nho; có người cố chấp

đến phản động” [53, 284] Đánh giá riêng về Nguyễn Hành, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam cho rằng, “thơ Nguyễn Hành có giọng ai oán của một

người long đong thất thế…” [53,291], “tiếng nói của ông là tiếng nói vì dòng

họ Lê… Chính cái phiêu lưu, đói rét tạo cho thơ ông có phong vị riêng của một con người vốn sẵn bất mãn Đó là cái bất mãn của những phần tử bị sự phân hóa giai cấp nó đẩy xuống thành người cố cùng nhưng vẫn tự phụ về lý tưởng, về phong cách” [53,292] Như vậy, nhóm Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi dù đã xem thơ Nguyễn Hành từ điểm nhìn giai cấp luận, song chưa tập trung đánh giá khách quan những đóng góp của Nguyễn Hành ở những vần thơ thế sự giàu cảm xúc, chân thực, sâu sắc

Tuy không dành riêng một mục bàn về thơ Nguyễn Hành, nhưng nhóm

tác giả công trình Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, tập III (Văn học viết,

Thời kỳ II - Giai đoạn giữa thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX, giai đoạn đầu thế kỉ XIX-1858, Nxb Giáo dục, 1962), cũng cho thấy họ cùng quan điểm với với

Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, khi xếp Nguyễn Hành vào khuynh hướng

bi quan, tiêu cực và bảo thủ phản động Thực vậy, Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh Lê, Phạm Văn Luận, Lê Hoài Nam viết: tiếng nói của những tác giả Trần Danh Án, Phạm Quý Thích, Nguyễn Hành “là tiếng nói của giai cấp suy tàn mang một tâm trạng đau buồn, hoang mang khi thấy vận mệnh giai cấp nghẽn vào chỗ đen tối và do đó sinh ra luyến tiếc quá khứ một cách sâu

xa Tiếng nói của họ là tiếng nói của giai cấp phong kiến nói chung, nhưng trước hết là phân số quan liêu quý tộc đời Lê Trịnh Tiếng thở than rên rỉ này làm cho văn học có lắm giọng bi ai, và nhiều chất tiêu cực” [73,26] Quan

Trang 10

điểm này không thay đổi, điều chỉnh ít nhất trong vòng 10 năm, bằng chứng

là khi in lại Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam dưới tên gọi Lịch sử văn học Việt Nam (tập 3, 1972) nhận định về Nguyễn Hành vẫn giữ nguyên vẹn

Cũng trong năm 1962, các nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp, Tạ Phong

Châu, Nguyễn Tường Phượng… trong Lược truyện các tác gia Việt Nam đã

sớm khẳng định: văn chương Nguyễn Hành “có tư tưởng ưu thời mẫn thế và nhớ nhà Lê” [10]

Gần với quan điểm của Đặng Thanh Lê là Nguyễn Lộc Trong công trình

Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX (tập1) xuất bản

năm 1976, Nguyễn Lộc cũng phân chia và xếp Nguyễn Hành (cùng các tác giả khác như Phạm Quý Thích, Nguyễn Huy Hổ, Bà huyện Thanh Quan) vào khuynh hướng văn học bất mãn với hiện thực, có tính chất hoài cổ, tiêu cực

Sở dĩ xếp Nguyễn Hành như vậy, bởi vì, theo Nguyễn Lộc, Nguyễn Hành là tôi trung của nhà Lê, trước sau dứt khoát không cộng tác với Tây Sơn, ông có thái độ thù địch với Tây Sơn và bất hợp tác dưới thời nhà Nguyễn Đáng chú

ý hơn là nhận định sau đây: “Nguyễn Hành là một nhà thơ suốt đời cùng khổ, phiêu bạt, cho nên thơ ông không những có nhiều bài nói về cảnh khổ của bản thân, mà còn có những bài tố cáo những cái bất công, xấu xa dưới triều đại nhà Nguyễn…” [33,187]

Sau công trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX, phải kể đến bộ Từ điển văn học (tập 2, 1984) Cần phải ghi nhận rằng bộ

Từ điển này đã đưa tác giả Nguyễn Hành vào thành một mục từ nhưng nội dung chính của mục từ vẫn do Nguyễn Lộc chấp bút, mà về cơ bản nội dung của mục từ về Nguyễn Hành, chỉ là “bản rút gọn” những đánh giá khái quát của Nguyễn Lộc trong công trình vừa kể trên Bởi vậy có thể nói tính đến thập niên 80, ngoài những định kiến và “đánh giá có tính chất khuôn mẫu” về

Trang 11

Nguyễn Hành lưu hành trước đó, gần như không có một bước tiến đáng kể nào cả về văn bản học lẫn các khám phá về giá trị thơ văn của Nguyễn Hành Sang thập niên 90, viết về thơ Nguyễn Hành, đáng kể nhất có tiểu luận

“Nguyễn Hành và tập Quan Đông hải” (Tạp chí Hán Nôm, số 4/1997) của

Nguyễn Ngọc Nhuận Đây là bài viết đầu tiên tập trung khám phá nội dung tư

tưởng của tập thơ Quan đông hải Tuy còn chưa sâu sắc trong bình giá, lý

giải, nhưng tác giả Nguyễn Ngọc Nhuận đã có những nhận xét điểm xuyết về cảm hứng thế sự của thơ Nguyễn Hành, chẳng hạn, người viết cho rằng: thơ văn Nguyễn Hành viết về con người mang ý nghĩa triết lý sâu sắc về cuộc đời, làm thơ là sự “đúc rút ra từ những kinh nghiệm sống” của tác giả

Ngoài bài viết của Nguyễn Ngọc Nhuận, còn phải kể đến Từ điển văn học Việt Nam (1994) do hai tác giả Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường soạn Ở Từ điển văn học Việt Nam, mục từ Nguyễn Hành nhìn chung không

có gì mới so với Từ điển văn học (tập 2), ngoài mấy dòng gợi dẫn về nội dung

thế sự trong thơ Nguyễn Hành: “Sáng tác chủ yếu dưới thời Nguyễn, nhưng nói nhiều về nhà Tây Sơn với thái độ thù địch Bên cạnh đó có khá nhiều bài thơ nói về cảnh khổ của bản thân và của cư dân đương thời” [1,380]

Đầu thế kỉ XXI có các nghiên cứu của Thái Kim Đỉnh, nhóm Đoàn Thị Thu Vân, nhóm Mai Quốc Liên…

Cuốn Văn học trung đại Việt Nam, thế kỉ X – cuối thế kỉ XIX do Đoàn Thị

Thu Vân chủ biên in năm 2008, dành một nhận xét ngắn gọn đối với Nguyễn Hành nhân nói về Tố Như: “Nguyễn Du có chán chường, có lúc gần như tuyệt vọng, song ông vẫn nhìn thẳng vào thực tế không quay lưng lại với cuộc đời như những người cùng thời” (Nguyễn Gia Thiều phải giả điên, Nguyễn Hành suốt đời ôm ấp tâm sự hoài Lê, Phạm Thái ngang tàng nhưng cuối đời cũng phải mượn cửa thiền để giải thoát…) [71,180] Bài viết “Nguyễn Hành với

Thăng Long” của Thái Kim Đỉnh (Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số tháng

Trang 12

10/2010) nhấn vào quãng đời ở Thăng Long và cảnh ngộ bi đát, khốn khổ của nhà thơ

Đặc biệt hơn cả, là hai công trình Thơ Nguyễn Hành (tuyển, 2015) và Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền (2016) do Mai Quốc Liên chủ biên Trong Lời nói

đầu của tuyển tập thơ Nguyễn Hành, Mai Quốc Liên đã có nhiều nhận xét sâu sắc, khắc phục được cái nhìn vốn còn hẹp hòi về thơ Nguyễn Hành Đánh giá

về nỗi niềm thế sự trong thơ Nguyễn Hành, tác giả chủ biên khẳng định: Nguyễn Hành sống trong dân, gần dân, thương dân; thơ ông là tiếng kêu ai oán về thế sự; “chuyện đời suy loạn, dân đen ly tán oán hận cũng là chuyện của chính cuộc đời Nguyễn Hành”, “thơ Nguyễn Hành quý ở cái chất hiện thực cuộc đời, ở sự thành thật” [32, 13]

Ngoài các công trình, bài viết nêu trên, còn có thể kể tới: Từ điển tác giả tác phẩm văn học Việt Nam (Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như Ý), Năm thế kỉ văn Nôm người Nghệ, tập 4 (Thái Kim Đỉnh), Bâng khuâng nhớ cụ thương thân nàng Kiều (Nhiều tác giả), Tinh tuyển văn học Việt Nam, Tập 5 (Văn học thế kỉ XVIII, Nguyễn Thạch Giang), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá Thế), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (Văn học thế kỉ XVIII - giữa thế kỉ XIX), tập 3 (Huỳnh Lý, Lê Phước,

Nguyễn Sỹ Lâm),… Nội dung của các công trình này, nhìn chung, vẫn chỉ dừng lại ở việc giới thiệu những nét từ sơ lược đến cơ bản về cuộc đời, sự

nghiệp của Nguyễn Hành; đồng thời có trích in một số bài thơ của ông

Bên cạnh những công trình, giáo trình văn học sử trên đây, một số luận văn, khóa luận nghiên cứu lịch sử văn học gần đây cũng lựa chọn và khẳng định cảm hứng thế sự như một nội dung trọng tâm khi định vị các sáng tác của Nguyễn Bính Khiêm, Phan Thúc Trực, Nguyễn Trãi… Ví như luận văn

Cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ Phan Thúc Trực của Nguyễn Thị Hương, Cảm hứng thế sự trong Bạch vân quốc ngữ thi tập của

Trang 13

Nguyễn Bỉnh Khiêm của Nguyễn Thị Chanh; khóa luận Cảm hứng thế sự trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm của Lê Thị Duyên, Cảm hứng thế sự trong thơ Phan Thúc Trực của Nguyễn Thị Đảm…

Qua khảo sát các công trình nghiên cứu, giới thiệu và gia phả về Nguyễn Hành, có thể ghi nhận mấy điểm sau: Nguyễn Hành là nhà thơ có tài; thơ Nguyễn Hành có giá trị hiện thực, không chỉ phản ánh thời thế mà còn ghi lại cuộc đời, thái độ của chính nhà thơ trước “những điều trông thấy” Trước những năm 2000, thành tựu chính là các nghiên cứu về văn bản thơ Nguyễn Hành, những đánh giá về thơ ông nói chung là hẹp hòi, có nhiều định kiến giai cấp, căn cứ thường được viện dẫn để định giá Nguyễn Hành là thái độ của ông đối với Tây Sơn và nhà Lê Từ năm 2015, bước tiến đáng kể nhất là việc xuất bản tuyển thơ Nguyễn Hành Còn vấn đề cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Hành, đến nay, vẫn chưa có bài viết, công trình nào lấy đó làm đối tượng của sự khám khá, lý giải chính và có hệ thống

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đính nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ vị trí văn học sử và những đóng góp của thơ Nguyễn Hành, một đại diện tiêu biểu của thơ thế kỉ XVIII, qua hai bình diện: nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu đạt cảm hứng thế sự Rộng hơn, trên cơ sở khảo sát khuynh hướng cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Hành, chúng tôi mong muốn dựng lại chân dung tinh thần và con đường đời của Nguyễn Hành, cùng những vấn đề nhân sinh trong thời đại ông, những vấn đề lịch sử về triều Tây Sơn, về đại thi hào dân tộc Nguyễn Du

Ngoài ra, thông qua việc nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp Nguyễn Hành, luận văn còn muốn tìm hiểu rõ hơn những chuyển biến của dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền (từ hưng thịnh đến sa sút) trong tương quan với một số dòng văn như dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu, Ngô Thì ở Tả Thanh Oai, Đồng

Trang 14

thời, nghiên cứu đề tài này còn tạo tiền đề thuận lợi cho những công trình nghiên cứu sau này của người viết ở bậc học cao hơn hoặc trong các dự định nghiên cứu sâu rộng hơn về thơ trữ tình thế sự thời trung đại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là thơ Nguyễn Hành Văn bản

thơ mà chúng tôi khảo sát là tuyển Thơ Nguyễn Hành gồm 222 bài thơ, do

Mai Quốc Liên chủ biên dịch, Nguyễn Thị Hằng biên khảo, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nxb Văn học ấn hành năm 2015 Đây là tuyển thơ phong phú nhất tính đến nay Văn bản này (in cả Hán văn, phiên âm, dịch nghĩa, và dịch thơ một số bài) giúp chúng ta có được một hình dung cơ bản nhất về diện mạo thơ Nguyễn Hành, mà các văn bản trước đây không thể đạt được

Luận văn đi sâu nghiên cứu một khía cạnh nổi bật nhất trong thơ Nguyễn Hành là cảm hứng thế sự, cụ thể là tập trung xem xét khuynh hướng cảm

hứng thế sự trong hai tập thơ: Minh quyên thi tập và Quan Đông hải

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở xác định đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: phương pháp lịch sử -

xã hội, phương pháp tiểu sử, phương pháp văn hóa học, các phương pháp/thao tác thống kê, so sánh đối chiếu…

- Phương pháp lịch sử - xã hội được sử dụng để khảo sát bổi cảnh lịch sử

xã hội đã ảnh hưởng tới tư tưởng, tình cảm, thái độ của Nguyễn Hành cũng như hình thành nên cảm hứng thế sự trong thơ ông

- Phương pháp tiểu sử học là phương pháp tìm hiểu, nghiên cứu tiểu sử

nhà văn để góp phần lý giải các văn bản văn học Ở đây, luận văn sử dụng miêu tả cuộc đời của tác giả Nguyễn Hành, để có thêm căn cứ lý

giải nội dung tâm sự, tự thuật của thơ Nguyễn Hành

Trang 15

- Phương pháp văn hóa học sẽ được luận văn sử dụng để quan sát và cắt

nghĩa một số hiện tượng sáng tác cụ thể trong hai tập thơ của Nguyễn

Hành

- Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, thực

chứng…

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu khuynh hướng thơ hiện thực, luận văn làm sáng tỏ những đặc điểm nổi bật của thơ Nguyễn Hành (nội dung cơ bản của cảm hứng thế sự, những phương tiện nghệ thuật mà tác giả sử dụng hiệu quả để thể hiện cảm hứng đó)

Qua so sánh đối chiếu với một số sáng tác cùng thời, luận văn góp phần dựng lại diện mạo độc đáo, riêng biệt của Nguyễn Hành và khẳng định vị trí văn học sử quan trọng của tác giả

Cuối cùng, luận văn góp thêm một góc nhìn để hiểu sâu hơn về thơ trung đại Việt Nam nói chung, khuynh hướng cảm hứng thế sự nói riêng trong thơ trung đại

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của

luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Khái quát về cảm hứng thế sự trong thơ trung đại Việt Nam

và tác giả Nguyễn Hành

Chương 2.Cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Hành nhìn từ phương

diện nội dung

Chương 3 Cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Hành nhìn từ phương

diện nghệ thuật

Trang 16

CHƯƠNG 1:

KHÁI QUÁT VỀ CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG THƠ TRUNG ĐẠI

VIỆT NAM VÀ TÁC GIẢ NGUYỄN HÀNH

1.1 Giới thuyết khái niệm

1.1.1 Khái niệm cảm hứng

Thuật ngữ cảm hứng không phải là thuật ngữ mới mẻ trong sáng tạo và

truyền thống nghiên cứu văn học; tuy nhiên lâu nay nội hàm khái niệm này được hiểu theo nhiều cách khác nhau

E.G.Rudneva, một tác giả của Dẫn luận nghiên cứu văn học (1998) định

nghĩa: Cảm hứng là sự lý giải, đánh giá sâu sắc và chân thực - lịch sử đối với

các tính cách được miêu tả [45,152] A.Xâytlin trong Lao động nhà văn (tập

1, 1968), lý giải, hoạt động tưởng tượng và cảm hứng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tưởng tượng làm nảy sinh cảm hứng, cảm hứng thúc đẩy trí tưởng tượng A.Xâytlin còn coi cảm hứng là sự thể hiện trọn vẹn tinh thần của người viết, thể hiện của cá tính sáng tác, bởi trạng thái điển hình của cảm hứng là tính chất định hướng, tập trung, nó được củng cố bằng sự trưởng thành về mặt

kĩ thuật, nghệ thuật của người nghệ sĩ lành nghề Nhà triết học Đức, Hegel quan niệm, cảm hứng có liên hệ khăng khít tư duy nghệ thuật, với ý thức, trí tuệ của người nghệ sĩ, cảm hứng “bùng cháy lên trước một nội dung được xác định” [74,180]

Nhà phê bình Nga, Bêlinxki coi: cảm hứng là trạng thái tính cảm mãnh liệt

của nhà văn do chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà học miêu tả:“Tư tưởng thơ, đó không phải là phép tam đoạn thức, không phải là giáo điều, không phải là quy tắc, mà là một ham mê sống động, đó là cảm hứng” Cảm

hứng được hiểu là một tình cảm mạnh mẽ, chứa đựng tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động Cảm hứng chính là một phần quan trọng

Trang 17

trong tư tưởng của mỗi tác phẩm văn học Cảm hứng trong tác phẩm văn học

có thể là niềm say mê khẳng định chân lí, lí tưởng; có thể là thái độ ngợi ca, đồng tình với những nhân vật chính diện; là sự phê phán, tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường, phủ định hiện tượng xấu xa, tiêu cực…, cảm hứng là trạng thái xuyên suốt, bao trùm trong các sáng tác văn học

Từ điển tiếng Việt định nghĩa “cảm hứng là trạng thái tâm lý có cảm xúc

và hết sức hứng thú, tạo điều kiện để óc sáng tạo, tưởng tượng hoạt động có hiệu quả” [44,106] Cảm hứng, theo tiếng Hi Lạp là pathos, thể hiện một tình

cảm sâu sắc, nồng nàn, một trạng thái hưng phấn cao độ về tư duy Cảm hứng sáng tạo của văn nghệ sĩ phải mãnh liệt, dồi dào với những giây phút thăng

hoa về cảm xúc để rồi cho ra những tác phẩm để đời Cảm hứng chính là yếu

tố chỉ dẫn về tư tưởng, thái độ, tình cảm của nhà văn, của tác phẩm văn học

Theo giáo trình Lí luận văn học (tập 1: Văn học - Nhà văn - Bạn đọc) thì cảm hứng chính là trạng thái tâm lí then chốt và bao trùm trong tác phẩm văn học

Nhu cầu bộc lộ, giải thoát tình cảm cộng với năng lực tưởng tượng dẫn đến trạng thái sẵn sàng sáng tạo của nhà văn được gọi là cảm hứng [36, 307]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (1992) do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, cảm hứng là cách gọi tắt của thuật ngữ cảm hứng chủ đạo Ở đây, cảm hứng chủ đạo được dùng để chỉ trạng thái tình cảm

mãnh liệt xuyên suốt tác phẩm, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định Hiểu như thế, thì cảm hứng là một yếu tố của nội dung, của thái độ tư tưởng của nhà văn đối với thế giới, là một nguyên tắc thế giới quan, gắn liền với đề tài và tư tưởng nghệ thuật, nó gắn kết và thống nhất tất

cả các yếu tố, các cấp độ của nội dung tác phẩm Để làm cơ sở cho việc diễn

giải các vấn đề liên quan, từ đây những chỗ dùng chữ cảm hứng trong luận văn này, được hiểu theo cách định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học

1.1.2.Khái niệm cảm hứng thế sự

Trang 18

Thế sự nghĩa là việc đời, chuyện đời (thế: đời, sự: việc) Khuynh hướng cảm hứng thế sự là khuynh hướng viết về/bàn về việc đời, chuyện đời, thiên

về thể hiện thái độ đối với thế thái nhân tình; phân tích, lý giải, đánh giá hiện thực cuộc sống, hiện thực xã hội, phê phán những mặt trái của tình người, thói đời,…

Trong văn học (/thơ ca), khuynh hướng cảm hứng thế sự có hàm nghĩa vừa gần vừa khác biệt với một số khuynh hướng khác Khuynh hướng cảm hứng đạo đức: cũng bàn về tình đời, chuyện đời nhưng thiên về ngợi ca Khuynh hướng cảm hứng yêu nước: cũng bàn về chuyện đời, chuyện thời thế nhưng thiên về bàn việc chính sự quốc gia, trách nhiệm, bổn phận với quê hương, đất nước Khuynh hướng cảm hứng nhân đạo: nói về chuyện đời, việc đời, thậm chí nói đến những cái đau đớn, khổ sở của con người nhưng thiên về xót thương, khẳng định, ca ngợi phẩm giá cao đẹp của con người

Việc đời, cuộc đời hiểu theo nghĩa rộng lớn, bao gồm từ xã hội đến cuộc đời cá nhân Cảm hứng thế sự là cảm hứng về việc đời, việc trên đời; là sự đánh giá, lý giải về các vấn đề của cuộc sống, của thời đại (danh phận, địa vị

xã hội, thói đời, số phận con người,…) Cảm hứng thế sự là sự khám phá, đánh giá, lý giải, miêu tả thời thế, thế thái nhân tình Đó còn là cảm hứng về cuộc sống đời thường (phú quý - bần tiện, sự sống - cái chết, cơm áo tiền tài, hạnh phúc - đau buồn ), về con người thực tại, thường nhật, về những gì đang diễn ra xung quanh con người, về những giá trị chuẩn mực của đời sống Những tác phẩm mang cảm hứng thế sự hướng đến miêu tả sinh hoạt hàng ngày của con người, thể hiện thái độ và sự suy ngẫm, chiêm nghiệm, trăn trở, day dứt, ám ảnh về những mối quan hệ xã hội giữa con người với con người trong những tình huống nhân sinh cụ thể Dòng văn chương lấy thế sự - sự đánh giá, lý giải về thế sự làm cảm hứng tư tưởng chủ đạo trong văn học cổ -

Trang 19

trung đại Việt Nam là một hiện tượng rất đáng chú ý Thành tựu nổi bật của dòng văn chương ấy kết tinh ở thể kỉ XVIII-XIX

Cảm hứng thế sự quy chiếu số phận con người về những quan hệ xung

quanh sự tồn tại của nó, phát hiện những vấn đề tự nó Với cái nhìn thế sự,

đời sống riêng của cá nhân, kinh nghiệm cá nhân, số phận cá nhân, những giá trị sống của cá nhân được coi là đối tượng khám phá chủ yếu của tác phẩm văn học Cảm hứng thế sự bởi thế thường gắn với cảm hứng về đời tư, cảm hứng về con người cá nhân Cuộc sống con người một khi được soi chiếu từ góc nhìn thế sự - đời tư sẽ trở nên rõ nét hơn, chân thực hơn, sống động hơn Qua đó, độc giả cũng được trải nghiệm những điều rất thật, gần gũi của cuộc đời

1.2 Khái quát cảm hứng thế sự trong thơ trung đại Việt Nam

Văn học trung đại Việt Nam rất phong phú về mặt khuynh hướng cảm hứng Mỗi khuynh hướng cảm hứng có một vị trí khác nhau trong tiến trình vận động của lịch sử văn học dân tộc

Khuynh hướng cảm hứng yêu nước thời trung đại được thể hiện đậm nét trong các sáng tác từ thời Lý, Trần, Lê cho đến khi đất nước bị thực dân Pháp

đô hộ Ở giai đoạn đầu, cảm hứng yêu nước thường gắn liền với tư tưởng trung quân Khuynh hướng cảm hứng yêu nước đóng vai trò chủ đạo trong văn học giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV (khẳng định, ngợi ca cương vực, nền văn hiến, độc lập tự chủ, lòng căm thù giặc, tự hào về các chiến công hiển hách ), giai đoạn từ thế kỉ XV đến kỉ XVII (nghiêng về phê phán hiện thực xã hội…), giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX (biểu dương những tấm gương hy sinh

vì đất nước…)

Cũng như khuynh hướng cảm hứng yêu nước, khuynh hướng cảm hứng nhân đạo được thể hiện xuyên suốt trong nền văn học trung đại Cảm hứng nhân đạo trong văn chương thời trung đại chịu ảnh hưởng của tư tưởng nhân

Trang 20

văn của Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo Cảm hứng nhân đạo là khuynh hướng chủ đạo của văn học giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX (đấu tranh giải phóng con người, đòi quyền sống, quyền hạnh phúc…)

Khuynh hướng cảm hứng thế sự là một trong ba nguồn cảm hứng lớn trong văn học trung đại Việt Nam Văn học có khuynh hướng thiên về đề tài thế sự gắn liền với những phen thay đổi sơn hà Nó ra đời muộn hơn cảm hứng yêu nước song càng ngày nó càng đạt được những thành tựu rực rỡ, tạo tiền đề để hình thành nên dòng văn học hiện thực chủ nghĩa sau này Nói như vậy, không có nghĩa là cảm hứng thế sự tách biệt với cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo Ngược lại, trong một số trường hợp chúng là hệ quả của nhau, cảm hứng này thúc đẩy và đan bện với cảm hứng kia, chẳng hạn khó có thể hình dung được một nền văn học có giá trị nhân đạo lại không có quan hệ

gì với văn học hiện thực, văn học viết thế sự, thời cuộc Khuynh hướng cảm hứng thế sự đã đem lại cho tư tưởng nhân đạo những triết lý sâu sắc; cái nhìn nhân văn cũng đã giúp cho văn chương thế sự có sức lay động, xúc động, ám ảnh

1.2.1 Cảm hứng thế sự trong thơ thế kỷ X - thế kỷ XIV

Khuynh hướng cảm hứng thế sự xuất hiện khi xã hội có dấu hiệu đi xuống, con người có ý thức cá nhân Cảm hứng thế sự manh nha trong “Lĩnh Nam chích quái”, ở tác phẩm “Hà Ô Lôi” nói về sắc dục, tính dục, khát vọng ái ân…, trong “Nhất Dạ trạch” là khát vọng tình yêu bình đẳng, tự do…

Cuối đời Trần, nhà nước phong kiến thịnh trị có dấu hiệu suy vi, quý tộc đi vào con đường trụy lạc, dân tình đói khổ, khởi nghĩa diễn ra trên nhiều nơi, giặc Minh xâm lược nước ta thì cảm hứng thế sự xuất hiện thực sự Một số tác giả hướng ngòi bút của mình vào việc đời, thói đời, cảnh trái mắt, đặc biệt là cuộc sống đau khổ, thường nhật của người dân, bày tỏ thái độ lo lắng cho sự

Trang 21

suy vong của giai cấp Có thể thấy điều này qua sáng tác của Trần Quang Triều, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Đặng Dung,…

Thơ của Trần Quang Triều còn lại không nhiều, nhưng thơ ông mang trong lòng nỗi thất vọng sâu sắc về sự suy thoái của vương triều Trần Trong

Chu trung độc chước ông than về thói đời đã đảo lộn, thay đổi lên xuống, về

tình người nhạt nhẽo, không còn nhiều: “Tình người thưa nhặt như mưa gõ mui thuyền/Thói đời lên xuống như nước triều vỗ bờ”… Cho nên, ông sợ những cuộc gặp gỡ giả dối, luôn trăn trở muốn được “về”: “Nghĩ đến những cuộc gặp gỡ giả dối lòng càng coi nhẹ/Cho nên giấc mộng về cứ vương vấn

mãi” (Quy chu tức sự).

Trần Nguyên Đán trong Băng hồ ngọc hác tập thể hiện tiếng kêu thương

trước thời cuộc đạo Nho suy vong, nhân dân lầm than khổ cực vì loạn lạc và hạn hán, muôn điều trái mắt khiến nhà thơ đau lòng: “Đài Ô một biệt xa vời/Muôn điều trái mắt ngó lui đau lòng… Đạo Nho suy, khó liệu bài/Biết đi

để nước ra rồi khôn mong/Soi gương kim cổ hưng vong/Các ông sao chẳng

dốc lòng can vua” Bài thơ làm tháng sáu năm Nhâm Dần của Trần Nguyên

Đán ghi lại chân thực cảnh thời thế: “Hạn rồi qua lụt đã bao phen/Đau nỗi ruộng đồng lúa chẳng lên/ Đống sách hóa ra chồng giấy nát/Bạc đầu luống những phụ dân đen”

Nhị Khê tập của Nguyễn Phi Khanh bộc lộ những suy tư đau đáu của nhà

thơ trước “việc đời rắc rối”, suy đốn; trước “thói đời bạc như chiếc quạt mỏng”, thể tiếng lòng thương xót “nhân sinh” của nhà thơ: “Việc đời rắc rối đang ôm trong lòng/Thân này ví được như cây sáo/Đem tấm lòng hòa với gió thổi khắp chín châu”, “Mặc kệ thói đời bạc như chiếc quạt mỏng/Buồn, vắng, trống trải, mượn chén rượu tự khuyên ta”, “Sau lúc can qua trở lại điêu tàn/Xa trông trời tạnh chỉ thương xót”

Trang 22

Cảm hứng thế sự trong thơ Đặng Dung có những nét riêng Bài thơ Cảm hoài mở đầu bằng câu thơ viết về bi kịch nhân sinh rất ám ảnh: “Thế sự du

nại lão hà/Vô cùng thiên địa nhập hòa ca/Thời lai đồ điếu thành công dị/Vận

khứ anh hùng ẩm hận đa…” Đặng Dung sáng tác Cảm hoài khi nhà Trần

đang trên đà sụp đổ không thể cứu vãn, câu thơ mở đầu bài thơ là một trải nghiệm sống chân thực, là tiếng lòng cay đắng, thậm chí uất hận của nhà thơ

về cảnh ngộ sinh không gặp thời, đời người hữu hạn, và thời vận đã hết Tác

phẩm Cảm hoài là một ví dụ điển hình cho sự gắn bó giữa cảm hứng yêu

nước và cảm hứng thế sự, giữa những suy tư về thời cuộc với cuộc đời riêng Khuynh hướng cảm hứng thế sự xuất hiện cuối thế kỉ XIV, ghi dấu ấn trong văn học bằng những nỗi niềm cảm thán thời thế, những vần thơ bày tỏ niềm riêng của các tác giả, qua đó phần nào phản ánh hiện thực xã hội Văn học giai đoạn này không chỉ mang tính quan phương với những điều răn, giảng đạo lí mà còn bước đầu đi vào phản ánh hiện thực, dù chỉ mới thấp thoáng những bóng nhà dân, có bông lúa vàng ngoài những sân vàng điện ngọc Đây là tiền đề nảy sinh văn học thế sự, tạo nền để văn học thế sự phát triển và đạt được đỉnh cao ở những giai đoạn về sau

1.2.2 Cảm hứng thế sự trong thơ thế kỷ XV – thế kỷ XVII

Chế độ phong kiến Việt Nam phát triển đạt đến đỉnh cao ở nửa đầu thế kỉ

XV nhưng bước sang thế kỉ XVI đã có biểu hiện khủng hoảng Cảm hứng thế

sự giai đoạn này đã có sự biến chuyển, từ văn học thế sự cảm khái thời thế

thành“mạch thơ trữ tình thế sự”

Các sáng tác của Nguyễn Trãi ca ngợi lý tưởng nhưng không mất đi tính hiện thực Trong những tác phẩm mang tính chính luận, Nguyễn Trãi cất lên tiếng nói của nhân dân, tiếng nói thời đại, còn ở những tác phẩm trữ tình, con người công dân và con người cá nhân hòa quyện vào nhau Ức Trai đau nỗi đau của tình đời, vận nước: “Nụy ốc, thê thân, kham độ lão/Thương sinh tại

Trang 23

niệm, độc tiên ưu” (dịch nghĩa: Nhà nhỏ, nương thân, có thể qua tuổi già/Lúc nào cũng nghĩ đến dân, riêng ôm mối tiên ưu); thơ ông lúc nào cũng nặng mối

ưu tư về cuộc đời, về cảnh lưu lạc, trôi nổi, thăng trầm của con người: “Niềm

cũ sinh linh đeo ắt nặng/Cật chưng hồ hải đặt chưa an”, “Thế sự người no ôi tiết bảy/Nhân tình ai ủ cúc mồng mười”; “Lòng người tựa mặt ai ai khác/Sự thế bằng cờ bước bước nghèo” Nguyễn Trãi cũng thường nhắc đến tấm lòng thường đời, thương dân của nhà thơ dân đen Đỗ Phủ, đồng thời ông cũng có những vần thơ trực tiếp bàn luận, khái quát về thế thái nhân tình đương thời:

“Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn”, “Bui một lòng người cực hiểm thay”,

“Hoa thường hay héo cỏ thường tươi”… Bên cạnh những vần thơ ưu thời mẫn thế, ta cũng bắt gặp ở ông những câu thơ thể hiện thái độ chán chường cuộc đời, không màng đến miệng thế thị phi, không muốn tham dự vào chuyện đời rắc rối: “Sự thế dữ lành ai hỏi đến/ Bảo rằng ông đã điếc hai tai”, “Được thua phú quý dầu thiên mệnh/Chen chúc làm chi cho nhọc nhằn”… Thơ thế sự Nguyễn Trãi kín đáo, thâm trầm, giàu chất triết lí

Nguyễn Bỉnh Khiêm, qua hai tập thơ Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi, đã phác họa bức tranh của xã hội phong kiến với những kẻ xiểm

nịnh, thời thế có lắm chuyện bạc đen, sự tha hóa đạo đức của con người Cảm hứng phê phán, tố cáo hiện thực bắt nguồn từ tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm và xuất phát từ những điều tai nghe mắt thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm phê phán những nhà nho cậy tài, bất tài, vô trách nhiệm, chỉ biết tranh giành lợi lộc: “Dân giai thức mục quan tân chính/Thùy vị quân vương trí thái bình” (Dân đều lau nước mắt xem chính sự mới/Ai vì quân vương đem lại thái bình) Ông thương người nghèo gặp cảnh loạn ly, người dân gặp cảnh đói rét: “Thâm mẫn tiểu dân lý đống nỗi/Thùy dương đại nghĩa thủ hung tàn” (Rất thương dân vương vào đói rét/Ai nêu chính nghĩa diệt lũ hung tàn) Chủ

đề nổi bật trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm là chủ đề giàu-nghèo, thơ

Trang 24

Nguyễn Bỉnh Khiêm khái quát được cuộc sống của tầng lớp trí thức thanh bần Việt Nam đương thời “Tiếp sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng thơ trữ tình tự thuật để phản ánh một phạm vi hiện thực lịch sử: cuộc sống hàng ngày sinh động, cụ thể của một bộ phận nho sĩ đã xa rời địa vị cao sang,

đi vào cuộc sống thanh bần” [28, 572]

Đánh giá về Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Khâm Lân viết: “tuy ở nhà bốn mươi tư lăm mà lòng không ngày nào quên đời, ưu thời đều bộc lộ trong thơ”:

“Ưu thời thốn niệm bằng thùy tả/Duy hữu hàn sơn bán dạ chung” (Tấc dạ lo đời nhờ ai miêu tả/Chỉ có tiếng chuông nửa đêm từ trên núi lạnh vẳng đến) Phan Huy Chú cũng khẳng định: Nguyễn Bỉnh Khiêm “rong chơi nhàn nhã bốn mươi năm mà không ngày nào quên đời, lòng lo thời, thương đời thể hiện

ra văn thơ” Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn gắn bó với đời, dù thơ ông xuất hiện nhiều chữ nhàn; cái nhàn trong thơ ông là một kiểu triết lý về thế sự; ông đã nâng thơ thế sự lên tầm triết lý, đã đưa triết lý vào cảm hứng thế sự

1.2.3 Cảm hứng thế sự trong thơ thế kỷ XVIII – thế kỷ XIX

Nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX chế độ phong kiến khủng hoàng trầm trọng, phong trào nông dân khởi nghĩa diễn ra khắp nơi Khởi nghĩa Tây Sơn đã lật đổ các tập đoàn phong kiến thống trị phản dân, hại nước, đánh tan cuộc xâm lược của quân Xiêm ở phía Nam và quân Thanh ở phía Bắc… Cảm hứng thế sự giai đoạn này do biến cố thời đại và sự thay đổi trong quan niệm sáng tác của các tác giả đã có màu sắc mới Nhiều tác giả hướng ngòi bút vào hiện thực cuộc sống, lên án chiến tranh phong kiến, sự thối nát của giai cấp phong kiến thống trị, quan tâm tả thuật chân thực cuộc sống khổ cực của nhân dân, đứng về phía người phụ nữ… Các tác giả như Nguyễn Cư Trinh, Phạm Nguyễn Du, Bùi Huy Bích, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Phan Thúc Trực, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thế Lân… đã ghi được nhiều bức tranh sinh động về cuộc sống đói khổ của quần chúng

Trang 25

Nguyễn Cư Trinh ngay từ nhỏ nổi tiếng hay chữ Thơ ông nhìn chung vẫn thuộc phong cách đài các Tuy thế, người ta vẫn tìm thấy ở ông có những vần thơ thế sự sâu sắc, thể hiện sự quan tâm thương xót cảnh ngàn gia đình bị bão lớn, hay phải “dời đến đất mọi rợ/sông lắm cá sấu, đất lắm rắn cọp”, ruộng đất không đủ cấy cày

Tiếng thơ thế sự của Phạm Nguyễn Du đi xa hơn thơ Nguyễn Cư Trinh, Phạm Nguyễn Du đứng hẳn về phía người dân lên án nhà Nguyễn Tác giả miêu tả trực tiếp nan đói của nhân dân xứ Đàng trong, thẳng thắn phê phán sự

ăn chơi xa hoa trên xương máu dân của nhà Nguyễn Trong bài Thấy Di cung

họ Nguyễn, ông viết: “Nhà Nguyễn sáng tạo lâu đài này” trên “mỡ dân, xương

dân rất đáng ai oán”

Cũng như Phạm Nguyễn Du, thơ Phan Thúc Trực thể hiện sự quan tâm đến cuộc sống đời thường của người dân.“Mở đầu con đường thơ của Phan Thúc Trực là những bài thơ buồn Buồn vì đời người chỉ trọng quan chức, buồn vì thi không đỗ, trong cuộc khen chê rối bời, mưa gió rét mướt” [56, 296] Khác với lối viết công thức khuôn sáo của nhiều nhà nho khác, Phan Thúc Trực mô tả chi tiết sự khốn khó, vất vả, chịu đói, chịu rét của người dân, nhất là lúc họ gặp cảnh thiên tai lũ lụt, gió bão: “Chịu đói, chịu rét nào kể xiết/Của cải dâng hiến vì quân vương/Bán ruộng hoa màu tiền nộp trước”…

Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã chuyển thơ thế sự trữ tình, thế sự tư

duy sang nấc mới với phong cách trữ tình trào phúng Bà đã “đi thẳng vào cuộc sống đời thường, góc cạnh, chua xót, kịch liệt” (Đặng Thanh Lê) Nếu

Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm nghiêng về khía cạnh triết luận về thế sự, đúc kết các bài học nhân sinh thì Hồ Xuân Hương đi sâu phơi bày bi kịch, thân phận người phụ nữ, đồng cảm và bênh vực họ Thế sự, ở thơ bà chúa thơ Nôm, được nhìn qua trường hợp người phụ nữ, kẻ bên lề Đây là một nét mới,

mà trước đó thơ thế sự trung đại gần như không có, hay rất mờ nhạt

Trang 26

Thơ Nguyễn Du cũng khá gần với thơ Nguyễn Hành Đó là tiếng thơ bất đắc chí, cảm thán về “việc bút gươm không thành, sinh kế quẫn”, và sự cô trung Một trong những đặc điểm đáng chú ý của thơ Nguyễn Du là tái hiện được chân thực mâu thuẫn của xã hội phong kiến - giữa một bên là cảnh nghèo đói, ăn xin không đủ sống của người dân với một bên là cuộc sống xa

hoa, ăn uống thừa mứa của tầng lớp quý tộc (Người hát dạo ở Thái Bình, Bài hành những điều trông thấy…) “Do có sẵn tấm lòng bực dọc vì sự ngang trái

của cuộc đời mình ông đã cảm thông với những éo le, đau khổ của thiên hạ

Từ những giọt nước mắt khóc cho nhân thế, ông đã chuyển nó thành tiếng khóc thảm thiết mà chân thành cho thân phận bi đát của những người bị dày

vò trong bày tay của xã hội khắc nghiệt” [53]

Nửa cuối thế kỉ XIX thực dân Pháp xâm lược nước ta, xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến Sự thay đổi về hình thái chính trị xã hội dẫn đến sự thay đổi trong văn học Sự thay đổi của văn học thiên về khuynh hướng thế sự được kể đến với các tên tuổi như Học Lạc, Nguyễn Thiện Kế, Kép Trà… và tiêu biểu là Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương với những tác phẩm đầy tính hiện thực đã đưa thơ thế sự sang một trang mới và đánh dấu bước hoàn thiện của nó trong văn học dân tộc bằng những vần thơ “cười ra nước mắt” Văn học thế sự không chỉ dừng ở mức “trữ tình thế sự”, “tư duy thế sự”, “trào phúng - trữ tình thế sự” mà vươn tới chỗ phản ánh xã hội với những chi tiết hiện thực sinh động, phong phú Với Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, văn học trung đại nói chung và văn học thế sự nói riêng đã tiến thêm một bước nữa trên con đường chiếm lĩnh hiện thực khách quan, góp một nét vẽ cho những bức tranh hiện thực trong văn học trung đại và bức tranh văn học hiện đại sau này

1.3 Tác giả Nguyễn Hành và cơ sở hình thành cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Hành

Trang 27

1.3.1.Tác giả Nguyễn Hành

1.3.1.1 Cuộc đời và con người

Nguyễn Hành sinh ngày 15 tháng 4 năm 1771 (tức 28/4/1771) cũng có tên

là Viêm, Đạm, tự Tử Kính, hiệu Nam Thúc, biệt hiệu Ngọ Nam, Nam Song

và Tâm Trai Quê gốc làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay

là tỉnh Hà Tĩnh

Nguyễn Hành thuộc dòng dõi quý tộc phong kiến Ông là con Điền Nhạc hầu Nguyễn Điều (1745-1824), cháu nội Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, gọi Nguyễn Du là chú ruột Nguyễn Nghiễm (1708-1776) thuộc đời thứ 6 trong dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền, đời thứ 15 của họ Nguyễn; là con thứ hai của Lãnh Nam công Nguyễn Quỳnh - đỗ Hoàng giáp, làm Thị lang bộ Hình, Tham tụng rồi Thượng thư bộ Công, Thượng thư bộ Hộ Các đời trước Nguyễn Nghiễm, trong họ Nguyễn đều có rất nhiều người giỏi thơ văn, đỗ đạt cao và làm quan to dưới triều Lê trung hưng và trong phủ chúa Trịnh Thân phụ Nguyễn Hành cũng đỗ tam trường, làm Thị nội văn chức rồi Trấn thủ Hưng Hóa, Trấn thủ Tuyên Quang, Trấn thủ Sơn Tây Mẹ của Nguyễn Hành

là vợ kế của Nguyễn Điều, họ Nguyễn, con thứ tư của Thiếu Bảo Đạt Vũ Hầu, quê ở xứ Kinh Bắc

Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền trong mục ghi về Nguyễn Nghiễm có viết,

Nguyễn Hành “được tập ấm chức Hiển cung đại phu, Phó Trung úy, tước Hành nhặc bá Ông là người thông minh, nhớ lâu, hiểu rộng, đọc nhiều sách Ông được xếp thứ hai cùng với chú là Thanh Hiên công trong An Nam ngũ

tuyệt…” [32,79] Cũng trong Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, khi nói về

Nguyễn Du, gia phả có đoạn viết: “Nguyễn Du là người học rộng, nhớ lâu, có tài làm thơ Trong năm nhà thơ giỏi nhất An Nam “An Nam ngũ tuyệt” thì ông và người cháu ruột là Nam Thúc (tức Nguyễn Hành) chiếm hai tên” [32,96]

Trang 28

Năm 1780, Nguyễn Khản, con trai trưởng của Nguyễn Nghiễm bị buộc tội

liên quan đến “vụ án Canh Tý” Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền còn ghi lại,

Tuyên phi Đặng Thị Huệ và A Bảo Huy quận công kết bè lập con của Đặng Thị Huệ là Trịnh Cán làm thế tử Năm 1780, Nguyễn Nghiễm bị vu tham gia lập mưu phế Trịnh Cán, giúp Trịnh Khải (Trịnh Tông) làm thế tử, Trịnh vương xuống chỉ cho gọi Nguyễn Khản về kinh đô, bắt giam Những người phạm vào âm mưu này bị xử tội chết, riêng Nguyễn Khản do niệm tình có công giảng dạy mình nên Trịnh Vương cho được miễn tội chết, ông chỉ bị cách chức

Nguyễn Điều (thân phụ của Nguyễn Hành), là con thứ hai của Nguyễn Nghiễm Trong “vụ án Canh Tý”, Nguyễn Điều bị giáng chức làm Thắng trung trong đội thuyền

Năm 1784, Nguyễn Điều làm Trấn Thủ Sơn Tây, gặp loạn kiêu binh đốt phá dinh thự quan lại Bộ Thượng thư Nguyễn Khản Nguyễn Khản trốn lên Sơn Tây toan cùng em hợp binh các trấn về giết kiêu binh, nhưng kiêu binh giữ chặt chúa Trịnh nên không làm gì được, kiêu binh làm áp lực bãi chức Thượng thư bộ Lại Nguyễn Khản, Nguyễn Điều bị giáng chức về huyện Thanh Chương, Hà Tĩnh Ông định cư cùng con cháu tại đây Khi nhà Trịnh sụp đổ năm 1786, Nguyễn Điều ôm chí uất ức mà mất, Nguyễn Hành lúc đó chỉ mới 15 tuổi

Thuở nhỏ, Nguyễn Hành học ở Thăng Long, hiểu biết rộng, thơ văn hay Ông có tham vọng nối dõi truyền thống thế gia nhưng đến đến tuổi trưởng thành, do nhiều biến thiên dữ dội của thời Lê mạt - Nguyễn sơ nên ông không

có dịp thi thố sở học và tài năng của mình Lại nữa, họ Nguyễn Tiên Điền đến thời thân phụ ông bắt đầu sa sút, thất thế, phân tán trước cơn lốc của lịch sử Nhà nho tài hoa Nam Thúc cũng từng bị dèm pha nguy hiểm đến tính mạng, phải rời vợ con nhà cửa, bỏ trốn, lưu lạc nơi đất khách, sống đời cực khổ

Trang 29

Viết lời dẫn cho bài Hỉ nhị nữ lai tự Vĩnh Lại Nguyễn Hành tâm sự: “tôi gặp

chuyện bóng gió, hoảng sợ phải bỏ trốn để tìm đường sống, từ nhà người em

ở đồn Ngãi Am dắt díu nhau vào thành, gửi lại hai con gái ở đó, tình cảnh thật không thể dung thân, sau nhờ ông bà ở am sau thương xót mà chăm sóc chúng”

Cuộc đời Nguyễn Hành phiêu bạt đó đây, không thi cử, không cộng tác với nhà Tây Sơn lẫn nhà Nguyễn Thời gian Nguyễn Du ở Tiên Điền 1794 đến 1796 để xây dựng lại từ đường, đình chùa cùng Nguyễn Ức, Nguyễn Hành có mặt ở Tiên Điền tả việc chú đi săn Việc xây dựng đền thờ Điền Nhạc Hầu Nguyễn Điều cũng có bàn tay Nguyễn Hành đề các câu đối Nguyễn Hành có mặt ở Tiên Điền năm 1804, khi vợ Nguyễn Du mất xin về nghỉ tại quê nhà, và sau đó khoảng năm 1805 được phong chức Đông Các Học Sĩ triệu vào kinh đô Phú Xuân Chức vụ Đông Các Học Sĩ bên cạnh vua Gia Long hàng ngày dâng sách cho vua đọc và giảng cho vua nghe Rồi

Nguyễn Hành còn ở Thăng Long tham gia viết Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh với Ngô Thời Nhiệm (trước 1802) Năm 1820, Nguyễn Hành còn làm

bài thơ khi nghe tin chú Nguyễn Du mất tại Phú Xuân Nguyễn Hành mất tại nơi cư ngụ ở Thăng Long trong nghèo khó năm 1824, bốn năm sau khi Nguyễn Du qua đời

Tuy chưa thành đạt nhưng Nguyễn Hành bị chi phối bởi quan điểm chính thống: “Trung hiếu chi gia ninh sự nhị?” (Dòng dõi trung hiếu sao lại thờ hai vua?).Nguyễn Hành gọi Nguyễn Hữu Chỉnh, quân Tây Sơn là giặc, gọi nhà

Lê là “quân ta” Ông không chịu ảnh hưởng của Nguyễn Nễ hay Nguyễn Du, hai ông chú ruột của mình Lúc Tây Sơn thống nhất Nam Bắc, lập triều đại, ông lẩn tránh, không ứng chiếu cầu hiền Khi Nguyễn Gia Long lên ngôi, xuống chiếu lục dụng, ông cũng không hưởng ứng Ông sống lưu lạc ở Bắc Thành (tức Thăng Long) cam chịu cảnh bần hàn Nguyễn Hành không an bần

Trang 30

lạc đạo mặc dù thơ ông thường nhắc đến mẫu hình Trang Tử Trải qua đói nghèo, tủi nhục, thiếu thốn đủ đường, lòng ông luôn hoài tưởng triều Lê…

1.3.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Tương truyền Nguyễn Hành được đương thời tôn vinh là một trong “An

Nam ngũ tuyệt” Sự nghiệp của ông gồm hai tập thơ chữ Hán là Quan Đông hải (Trông bể Đông), Minh quyên thi tập (Tiếng kêu của chim quyên); ngoài

ra còn có Thiên, địa, nhân, vật, sự ký thuộc thể loại văn, triết nhưng chưa tìm thấy Cuốn Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền có ghi sự nghiệp của Nguyễn Hành như sau: tác phẩm “có Quan hải tập, Minh quyên tập, Thiên địa nhân vật thư”

[32,79]

Minh quyên thi tập gồm có 177 bài thơ Nội dung của tập thơ Minh quyên

rất phong phú Trước hết là tư tưởng hoài Lê, buồn đau về thời thế suy vi Giới nghiên cứu văn học lâu nay đánh giá tư tưởng chính trị của Nguyễn Hành là bảo thủ Sở dĩ nói vậy, vì ông chọn chỗ đứng chống Tây Sơn Đây chính là hạn chế của Nguyễn Hành Nội dung bao trùm, lớn nhất của tập thơ

là những tâm sự về cuộc sống bần hàn nơi đất khách, những suy nghĩ về đời suy loạn, dân đen ly tán, chịu nhiều khổ cực (bệnh dịch lan tràn, đói rét…)

Hình ảnh nội bật trong Minh quyên thi tập là một nhà thơ sống trong dân, gần

dân, thương dân, được người dân thương quý, sẵn sàng giúp đỡ Ngôn ngữ tập thơ giản dị, mộc mạc; thi cảm chân tình, đôn hậu; giọng thơ chủ đạo là đau buồn, xót thương Trong Tựa, Nguyễn Hành viết: “tiếng kêu nghe đau thương thảm thiết không gì bằng tiếng kêu của chim đỗ quyên Đỗ quyên là loài chim phương Nam, kêu về mùa hạ, ngày đêm không ngừng… Tiếng thơ trong tập thơ này, ngẫu nhiên mà giống thế, nên nhân đó đặt tên”

Quan Đông hải “không chỉ là một tập thơ, xen kẽ thơ còn có những bài tựa

Trang 31

song ký hay những bài phú như: Loạn thế độc thư cao phú, Đạo ngộ Bái công phú ” [39] Nội dung chính của Quan Đông hải ca ngợi những tấm

gương trung hiếu nghĩa liệt, bộc lộ nỗi niềm nhớ quê và cảnh ngộ cô lẻ của người lữ khách, khẳng định giữ vững chí khí hoài bão trong mọi hoàn cảnh, chiêm nghiệm về quy luật của cuộc sống (mối quan hệ giữa dân và nước, sự vận động không ngừng của muôn vật), “thức tỉnh người đời, răn đe thói

tục”… Nhìn chung tư tưởng của Quan Đông hải khá nhất quán với Minh quyên thi tập

1.3.2 Cơ sở hình thành cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Hành

Khảo sát thể tài thế sự trong thơ trung đại Việt Nam, chúng tôi nhận thấy, thể tài thế sự, cảm hứng thế sự nảy sinh trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc thù Bên cạnh cơ sở lịch sử, xã hội và văn hóa tư tưởng thì sự phát triển

về ngôn ngữ, thể loại, quan điểm thẩm mỹ, thế giới quan, nhân sinh quan cũng lại là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự hình thành và phát triển của dòng thơ thế sự

1.3.2.1.Cơ sở lịch sử - xã hội, tư tưởng - văn hóa

Nguyễn Hành sinh ra và lớn lên trong thời đại có nhiều khủng hoảng, ông không chỉ là nhân chứng mà còn là nạn dân trong cuộc biến thiên lịch sử ấy Khi còn nhỏ ông đã mất song thân, từ một chàng công tử giàu sang ông đã sớm phải tự tìm kế sinh nhai cho bản thân và gia đình Nhà nghèo, con mất, lại thêm bị lời bóng gió khiến ông phải dắt díu gia đình ra Bắc, ở nơi vắng vẻ Cuộc sống của Nguyễn Hành nơi đất khách vô cùng cực khổ, đói rét túng quẫn, hàng ngày ông phải lo chuyện cơm áo, “sống trong hoảng hốt”, nợ nần… Chính cuộc sống như thế là điều kiện để Nguyễn Hành hiểu và thấm thía đời sống của những nạn dân khác mà bản thân ông cũng là một trong những người dân cùng đường ấy

Trang 32

Về nguồn gốc xuất thân, Nguyễn Hành thuộc dòng dõi thế gia vọng tộc, ông là một nhà nho có lý tưởng trung quân ái quốc Nhưng xét con đường đời thực tế của ông, ta thấy Nguyễn Hành là một “nhà thơ dân đen” Ở ông sự trải nghiệm về đời sống của giai cấp quý tộc dần được thay thế bằng đời sống dân thường với biết bao lo toan cũng rất đời thường Ông quan tâm đến chính sự, hiểu biết về chính sự nhưng dường như chuyện đời, chuyện con người xung quanh ông mới là mối bận tâm sâu sắc nhất, đến nỗi ngay cả khi bị bệnh ông cũng nghĩ đến “muôn người”, biến mình thành “phòng thí nghiệm” để tìm ra đúng thuốc chữa bệnh cho người dân đang bị bệnh dịch đe dọa tính mạng Nếu không trải qua cuộc sống gian nan khốn khổ, không tiếp xúc và trải nghiệm nhiều việc đời, chứng kiến nhiều cảnh đời, cảnh sống đời thường của nhân dân, sống đời phiêu bạt, chịu ơn giúp đỡ của nhiều người dân… chắc hẳn Nguyễn Hành không thể có được những bài thơ thế sự xúc động

Bên cạnh tiền đề đời sống cá nhân của nhà thơ thì cơ sở hình thành nên cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Hành còn là thời thế suy vi, loạn lạc bấy giờ

Nguyễn Hành sinh năm 1771, mất năm 1824 Khoảng thời gian ông sống

là những năm cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Đây là một giai đoạn đầy những sự biến kinh thiên động địa và bi thương nhất thời trung đại Thực vậy, trong hơn 50 năm cuộc đời mình, Nguyễn Hành lần lượt chứng kiến sự khủng hoảng, sụp đổ và thay thế nhau của ba triều đại: nhà Lê, Tây Sơn, Nguyễn cùng sự phân hóa, đấu tranh phức tạp của nhiều phe cánh, xu thế chính trị khác nhau Thời đại của Nguyễn Hành là thời đại chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, bế tắc, giai cấp thống trị tranh giành quyền lực gây

ra chiến tranh liên miên; kinh tế đình đốn, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ…

Trang 33

Thời đại của Nguyễn Hành là thời đại nở rộ các cuộc khởi nghĩa của nông dân Trước 1771, có các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất, Lê Duy Mật Xong đỉnh cao của phong trào nông dân khởi nghĩa là phong trào Tây Sơn Năm 1771, Nguyễn Nhạc khởi binh ở đất Quy Nhơn, Bình Định, sau đó mở rộng thế lực ra các tỉnh Quảng Ngãi Năm 1776, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đánh chiếm Gia Định, chúa Nguyễn phải bỏ chạy Năm 1786 Nguyễn Huệ kéo quân ra Thăng Long, phù Lê, diệt Trịnh Năm 1787, nhà Tây Sơn lại cho quân ra Bắc Hà, diệt Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền Năm 1788, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Quang Trung, thống lĩnh đại binh đánh tan quân Thanh Năm 1792, Nguyễn Huệ mất, phong trào Tây Sơn từ đấy tan rã…

Thời đại của Nguyễn Hành còn là thời đại người dân bị dồn vào đường cùng, gia đình ly tán, đời sống phiêu bạt, hạn hán mất mùa, nạn đói, bệnh dịch tràn lan, người chết khắp nơi

Những biến động vừa phức tạp vừa lớn lao trên đây là chất liệu quý giá cho những sáng tác đậm chất hiện thực của Nguyễn Hành sau này Nhưng rõ ràng về mặt tư tưởng, những biến cố thời đại đã gây cho ông sự khủng hoảng

và đổ vỡ lớn lao Nói chung, Nguyễn Hành đã tiếp cận với một hoàn cảnh lịch

sử xã hội có nhiều biến động bão táp, phơi bày tất cả hiện trạng phong phú và muôn mặt của nó.Đọc thơ Nguyễn Hành chúng ta sẽ thấy ông ghi lại chân thực cảnh đời loạn bấy giờ

Hơn nữa, ở thời bấy giờ, bên cạnh tình hình xã hội rối ren còn có sự đan xen nhiều luồng tư tưởng lớn, đã có ảnh hưởng không nhỏ tới thế giới quan và

tư tưởng của nhà thơ Đạo Nho lúc ấy đã khủng hoảng nghiêm trọng và bộc lộ những mặt hạn chế trước lịch sử Đạo Phật và đạo Lão hồi sinh, hòa đồng cùng đạo Nho trong một màu sắc mới phần nào tìm được tiếng nói xoa dịu

Trang 34

nỗi đau trong lòng con người, đây cũng là lý do nhiều bài thơ của Nguyễn Hành có nhắc đến các điển tích, hình ảnh đặc trưng của Đạo giáo, Phật giáo

Sự trỗi dậy của tư tưởng nhân văn nhân đạo chủ nghĩa mà gắn liền với nó là

sự quan tâm đến thân phận con người, nhất là người phụ nữ, gắn với yêu cầu khẳng định quyền sống, quyền hạnh phúc chính đáng của con người Bấy nhiêu luồng tư tưởng chuyển hóa lẫn nhau, ảnh hưởng và tạo nên những xáo trộn, cùng những biểu hiện vừa tích cực vừa tiêu cực đối với thế giới quan cũng như cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Nguyễn Hành

1.3.2.2 Cơ sở văn học

Cảm hứng thế sự cũng như những nội dung khác đều được biểu đạt thông qua những phương tiện nghệ thuật nhất định Sự kết hợp của ngôn ngữ, thể loại và quan điểm thẩm mỹ… là những yếu tố quan trọng để biểu đạt nội dung tư tưởng và phản ánh thế giới một cách trực tiếp nhất và tinh tế nhất

- Về bút pháp, tư duy nghệ thuật: Sáng tác của Nguyễn Hành thuộc phạm

trù trung đại Văn học trung đại nổi bật ở tính chất ước lệ, tượng trưng, cách điệu.Không khó để chỉ ra trong một số bài thơ của Nguyễn Hành những đặc trưng đó.Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, ở thời đại Nguyễn Hành trong văn học đã xuất hiện nhiều yếu tố hiện thực chủ nghĩa Các sáng tác của Nguyễn

Du, Hoàng Lê nhất thống chí, Vũ trung tùy bút, Thượng kinh ký sự, thơ Hồ

Xuân Hương… đều có giá trị hiện thực Mặc dù vẫn còn chịu ảnh hưởng của

mỹ học trung đại, của truyền thống văn học nhưng thơ Nguyễn Hành về cơ bản đã ngả sang khu vực hiện thực; bút pháp hiện thực được tác giả sử dụng đậm nét tạo nên giá trị cho nhiều thi phẩm

Bút pháp hiện thực cùng tư duy nghệ thuật hướng về đời thường, đời tư, thay thế bút pháp ước lệ, tư duy sử thi; không gian cung đình, sang trọng, khép kín của tầng lớp quý tộc được thay thế bằng không gian cụ thể sinh động của chính cuộc sống của người khách trọ; hình ảnh minh quân, thái bình được

Trang 35

thay thế bằng hình ảnh loạn ly, nghèo khổ, ăn xin; tư tưởng trung quân đã nhường bớt âm hưởng của nó cho mối quan tâm về vận mệnh con người, về cái thân trần tục của con người; hình ảnh những con người hào hiệp sẵn sàng giúp đỡ người khác trong hoàn cảnh gian khó nổi bật hơn hình ảnh những anh hùng… đã làm nên nét đặc sắc của thơ Nguyễn Hành

- Quan niệm văn học: Bên cạnh quan điểm sáng tác “văn dĩ tải đạo” , “thi

dĩ ngôn chí” đến giai đoạn này xuất hiện một khuynh hướng sáng tác thu hút đông đảo giới nho sĩ viết về “những điều trông thấy”, về những con người bình thường, về cuộc sống xã hội “Tính hiện thực và tính thực tiễn của văn chương trở thành những tiêu chí quan trọng mang tính thời đại của các tác phẩm văn học… chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ trở nên quan trọng hơn bên cạnh chức năng giáo huấn vốn đóng vai trò chủ đạo trong văn học nhà nho” [59, 25] Quan niệm sáng tác chan chứa tư tưởng nhân văn và giàu chất hiện thực như thế đã đưa đến bước phát triển đẹp đẽ, rực rỡ trong nội dung văn học giai đoạn đương thời, và góp phần làm nảy nở cảm hứng thế sự Ngô Thì Sĩ cho rằng “văn chương có quan hệ với vận đời”, Nhữ Bá Sĩ khẳng định “văn chương là cái hiện trạng của một thời làm nên nó”, Phan Huy Ích nhấn mạnh: “văn tức là lẽ phải của sự vật‟, người làm văn “ngoài việc đọc kinh sử, còn phải xét hỏi sâu rộng, tìm kiếm xa gần, khảo cứu để định lấy lẽ phải”, kẻ sĩ quân tử dùng thơ để “ghi lại hành trạng của mình truyền lại cho đời sau để làm tập niên phổ”… Cũng như vậy, ở Nguyễn Hành, thơ ngôn chí, nêu gương mặc dù vẫn còn nhưng không phải là mảng thơ chủ đạo, không phải là âm hưởng chính yếu; thay vào đó là thơ tả thực, thơ tự sự

về đời tư, ghi lại hành trạng của nhà thơ, viết về con người, cuộc sống hiện thực khách quan

- Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ tiếng Việt đến thời Nguyễn Hành đạt nhiều

thành tựu cao Rất nhiều tác phẩm truyện thơ Nôm như Truyện Kiều của

Trang 36

Nguyễn Du, Sơ kính tân trang của Phạm Thái; các khúc ngâm như Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Ai tư vãn của Ngọc Hân công chúa… là những bằng chứng cho thấy ngôn ngữ dân

tộc ở cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX đã phát triển rực rỡ, giàu sức biểu hiện nội tâm và hiện thực Nguyễn Hành đã tiếp thu được nhãn quan ngôn ngữ hiện thực, tinh thần của ngôn ngữ hiện thực chủ nghĩa của thời đại mình khi thể hiện cảm hứng thế sự Những câu thơ viết về đời tư, đời sống bệnh tật, cảnh đói rét túng quẫn của ông chân thực và gây xúc động, ám ảnh Những bài thơ mô tả cảnh thế sự “thái bình, giàu sang” giả tạo, che giấu đằng sau nó

là cảnh điêu linh bi đát của dân có chiều sâu phản tỉnh sâu sắc Nguyễn Hành cũng sử dụng ngôn ngữ trào phúng để tự trào nhiều tình cảnh sống của mình thể hiện một bản lĩnh cứng cỏi và lạc quan trước cuộc sống

- Loại hình tác giả: thế kỉ XVIII - XIX là thế kỉ chứng kiến nhiều người

thuộc tầng lớp thống trị phải thay đổi danh phận bị quăng ra giữa cuộc đời, nhiều gia đình quý tộc sa sút, thất thế Đó là thời kỳ hình thành kiểu tác giả mới - “nhà nho bình dân”, sinh không gặp thời, có chí khí hòa báo lớn lao nhưng không có đất dụng võ, thậm chí có nhà nho phải lưu lạc tìm chốn dung thân, sống đời sống của một nạn dân chịu cảnh đói rét, nợ nần vây bủa quanh năm như Nguyễn Hành “Nhà nho bình dân, nhà nho dân đen” là những nhà nho bị bứng gốc, bị đánh bật ra khỏi lầu son gác tía, trở thành một người dân bình thường, gần gũi với nhân dân và được chính những người dân quê cứu giúp Vì lẽ này, các sáng tác của các nhà nho bình dân đậm tính chất hiện thực, có tính nhân dân và giá trị nhân đạo, quan tâm đến vận mệnh, thân phận của con người

Ghi nhận về sự thay đổi lực lượng sáng tác trong văn học giữa thế kỉ

XVIII đến giữa thế kỉ XIX, cuốn Lịch sử văn học Việt Nam (tập 1,1980) viết:

“trong đội ngũ đông đảo của thời đại này, vẫn còn những ông hoàng bà chúa,

Trang 37

thậm chí có cả một ông vua thuộc vào loại những vua “hay chữ” của nước Việt Nam phong kiến Nhưng những tác gia mà tên tuổi sự nghiệp chói lọi nhất trên văn đàn thì hầu hết không phải là những bậc đại khoa, hay những vị đại thần, đắc ý hanh thông trên đường hoạn lộ, mà hầu hết đều là những người

đỗ đạt thấp, quan tước cũng thấp và đều mang trong mình nỗi niềm bất mãn đối với chính sự, với cuộc đời, với thế thái nhân tình của xã hội phong kiến

đương thời” [62,309]

- Về thể loại, đề tài: khác với văn học khoa cử nặng về tầm chương trích

cú, thơ ca phù phiếm thời Lê trung hưng, và khác với những đề tài công thức

“ngư tiều canh mục”, “cả thơ chữ Hãn lẫn văn xuôi chữ Hán giai đoạn này đều tăng cường nội dung hiện thực, chất liệu hiện thực, cố gắng bám sát cuộc sống, đồng thời cố gắng vươn lên mức độ hoàn thiện về phương diện nghệ thuật” [33,36]; “bên cạnh các chủ đề trung tâm truyền thống nặng về ngợi ca

là thứ văn chương vị đời” [59,25], bên cạnh cách tiếp cận quan phương, cái nhìn từ trên xuống là cách nhìn đời sống gần với suy nghĩ tình cảm của quần chúng

- Thơ thế sự Nguyễn Hành là sự tiếp nối truyền thống văn chương thiên về

đề tài thế sự Cảm hứng chủ đạo trong văn chương trước thế kỉ XV là cảm

hứng yêu nước: tinh thần chống ngoại xâm, khẳng định nền độc lập, ca ngợi nền chính trị vua sáng tôi hiền Bên cạnh cảm hứng yêu nước, đề tài thế sự

đã bắt đầu xuất hiện.Dòng thơ thế sự từ thời Trần đến đời Lê mạt, Nguyễn sơ

có sự phát triển phong phú, đi từ những vấn đề phổ quát đến những tình huống nhân sinh, thế sự cá biệt.Thơ Nguyên Hành đã kế thừa được mạch thơ thế sự (trữ tình thế sự) từ Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Lê Cảnh Tuân… vắt qua thơ triết luận thế sự của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đạt được bước tiến mới

Trang 38

Tiểu kết chương 1:

Cảm hứng thế sự là cảm hứng về việc đời, việc trên đời, cảm hứng về cuộc sống thực tại, thế thái nhân tình với tất cả tính chất đời thường, chân thực của nó.Cảm hứng thế sự là kết quả của qua niệm viết từ “những điều trông thấy” Khuynh hướng cảm hứng thế sự biểu hiện rõ nét trong các sáng tác từ thời Lý Trần, Lê và phát triển suốt thời kỳ trung đại Nguyễn Hành là một đại diện tiêu biểu của thơ trung đại cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX Trong thơ Nguyễn Hành, cảm hứng thế sự là khuynh hướng cảm hứng nổi trội nhất Cơ

sở hình thành cảm hứng thế sự ở Nguyễn Hành là những biến cố lớn về xã hội, văn hóa của thời đại; là cuộc đời lưu lạc khốn khó của nhà thơ, đặc biệt là

sự phát triển nội tại của văn học (từ tư duy nghệ thuật, bút pháp, ngôn ngữ đến kiểu tác giả, thể loại và truyền thống văn chương gắn bó với cái hàng ngày, cái đời thường…)

Trang 39

CHƯƠNG 2:

CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG THƠ NGUYỄN HÀNH

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Số liệu khảo sát, thống kê

Trong tuyển thơ Nguyễn Hành chúng tôi khảo sát gồm có hai tập thơ:

Minh quyên thi tập (2 quyển) và Quan Đông hải (trích), tổng số 222 bài Điều

đặc biệt là nội dung thơ Nguyễn Hành rất phong phú Có những bài thơ, câu thơ triết lý về nhân sinh, trải nghiệm nhân sinh rất sâu sắc bên cạnh những lời dẫn có giá trị tham khảo về mặt lịch sử khá hữu ích; có mảng thơ vịnh sử (các nhân vật lịch sử), thơ vịnh cảnh, tự trào; có trữ tình tỏ chí và tự thuật hành trạng, viết về cái đời thường, cái hằng ngày, có nhiều câu thơ bộc lộ quan niệm về sáng tác thơ của Nguyễn Hành

Dưới đây là thống kê sơ bộ về mảng thơ thể hiện cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Hành:

- Số bài khảo sát: 222 bài

- Số bài có nội dung thế sự trọn vẹn: 97 bài (bài có một nửa số câu trở lên)

- Số câu thơ mang nội dung thế sự: 29 bài (bài có từ hai câu biểu đạt cảm hứng thế sự trở lên; không kể các câu thơ trong bài thơ thể hiện trọn vẹn cảm hứng thế sự)

- Trong đó, số bài viết về cảnh giàu có, xa hoa của giới quý tộc: 6 bài Cuộc sống nghèo khổ của nhân dân: 7 bài Thời thế, nhân tình thay đổi: 17 bài Cảnh bần hàn của nhà thơ: 30 bài Cảnh đau ốm bệnh tật, cô đơn trên đất khách của nhà thơ: 18 bài Tâm sự day dứt sinh không gặp thời: 4 bài Tình người trong gian khó: 17 bài Bộc lộ hoài bão khí tiết trong hoàn cảnh khốn cùng: 19 bài

Trang 40

2.2 Nội dung cơ bản của cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Hành

Nguyễn Hành có quan niệm sáng tác tiến bộ Ông chủ trương thơ là tiếng kêu thương cất lên trong thời buổi suy loạn, dân đen ly tán và trong thời bình

là tiếng nói ngợi ca, êm đềm Trong Lời dẫn tập thơ Minh quyên, Nguyễn

Hành khẳng định: “Tiếng kêu nghe đau thương thảm thiết không gì bằng tiếng của chim đỗ quyên… tiếng thơ trong tập này, ngẫu nhiên mà giống thế, nên nhân đó mà đặt tên… Tiếng kêu của chim vốn cũng có nguyên do Triều chính hợp Đạo, các bậc hiền tài quy tụ hòa hợp, chim phượng hoàng cất tiếng hót êm đềm; thời buổi suy loạn, dân đen ly tán oán hận, chim hồng chim nhạn kêu thương, nghe bi thảm thiết tha” [31] Có thể hiểu, đối với Nguyễn Hành, thơ nảy sinh từ cuộc sống, phản ánh cuộc sống, thời thế; thời thế nào thì văn chương ấy, tiếng thơ cũng như tiếng của loài chim, phụ thuộc cảm nhận, nhận thức về thời thế; thơ chính là thái độ của nhà thơ, là sự suy ngẫm trữ tình của người viết trước thế sự, thời thế, cuộc sống

Cũng như Phan Huy Ích, Nguyễn Hành quan niệm thơ dùng để ghi lại cảnh ngộ, hành trạng của người viết, là một điểm tựa trong cuộc đời Quan

niệm này thể hiện trong rất nhiều bài thơ như Đông Kiều dạ tứ, Bắc Thành trừ tịch, Ngâm thi sự… Ở đó, Nguyễn Hành cho ta thấy, ông dùng thơ, viết thơ để

giải tỏa tâm sự, “an ủi nỗi cô liêu”, để quên đi cái đói Người sáng tác không đợi đến khi đủ đầy mới sáng tác, thơ được viết ra một cách tự nhiên ngay trong những hoàn cảnh bi đát, buồn thảm nhất của nhân sinh Không phải Nguyễn Hành trốn tránh thực tại, mà chính là ông ở giữa thực tại cuộc đời để làm thơ, thơ chính là hơi thở của cuộc sống, cái cuộc sống như nó vốn có

2.2.1 Niềm trăn trở trước thời thế suy loạn

Thế kỷ XVIII - XIX chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra liên miên, cương thường đảo lộn, vua chúa quan lại ăn chơi xa xỉ, nhân dân lầm than cực khổ, ruộng đất tập

Ngày đăng: 30/06/2017, 12:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường (1994), Từ điển văn học Việt Nam, từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam, từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1994
2. Nguyễn Thị Chanh (2016), Cảm hứng thế sự trong Bạch vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng thế sự trong Bạch vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Nguyễn Thị Chanh
Năm: 2016
3. Phạm Trọng Chánh (2013), “Nguyễn Hành - nhà thơ tài hoa trong An Nam ngũ tuyệt”, https://khoahocnet.com/2013/05/31/ts-pham-trong-chanh-nguyen-hanh-1771-1824-nha-tho-tai-hoa-trong-an-nam-ngu-tuyet/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hành - nhà thơ tài hoa trong An Nam ngũ tuyệt
Tác giả: Phạm Trọng Chánh
Năm: 2013
4. Phan Huy Chú (1997), Hoàng Việt địa dư chí, Nxb. Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt địa dư chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1997
5. Đỗ Đức Dục (1989), Về chủ nghĩa hiện thực thời đại Nguyễn Du, Nxb. Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chủ nghĩa hiện thực thời đại Nguyễn Du
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Nhà XB: Nxb. Văn học Hà Nội
Năm: 1989
6. Lê Thị Duyên (2010), Cảm hứng thế sự trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Nụm Nguyễn Bỉnh KhiờmáKhúa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng thế sự trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và thơ Nụm Nguyễn Bỉnh Khiờm
Tác giả: Lê Thị Duyên
Năm: 2010
7. Nguyễn Thị Đảm (2014),Cảm hứng thế sự trong thơ Phan Thúc Trực, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng thế sự trong thơ Phan Thúc Trực
Tác giả: Nguyễn Thị Đảm
Năm: 2014
8. Thái Kim Đỉnh (2016), Năm thế kỉ văn nôm người Nghệ, tập 4, Nxb. Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm thế kỉ văn nôm người Nghệ
Tác giả: Thái Kim Đỉnh
Nhà XB: Nxb. Đại học Vinh
Năm: 2016
9. Nguyễn Thạch Giang (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 5 (Văn học thế kỉ XVIII), Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh tuyển văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2004
10. Trần Văn Giáp chủ biên (1962), Lược truyện các tác gia Việt Nam,tập 1, Nxb. Sử học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược truyện các tác gia Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giáp chủ biên
Nhà XB: Nxb. Sử học
Năm: 1962
11. Gurevich.A.Ja (1996), Các phạm trù văn hóa trung cổ, Hoàng Ngọc Hiến dịch, Nxb. Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phạm trù văn hóa trung cổ
Tác giả: Gurevich.A.Ja
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1996
12. Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu, Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Năm: 1968
13. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên (1992), Từ điển thuật ngữ văn học,Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1992
14. Nguyễn Văn Hạnh (2012), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2012
15. Đỗ Đức Hiểu chủ biên (1984), Từ điển văn học, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu chủ biên
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1984
16. Võ Hồng Huy (2012), “Nguyễn Du trong tâm tưởng Nguyễn Hành”, http://vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/nguoi-xu-nghe43/nguyen-du-trong-tam-tuong-nguyen-hanh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du trong tâm tưởng Nguyễn Hành
Tác giả: Võ Hồng Huy
Năm: 2012
17. Lê Thị Hương (2009), Bạch Vân quốc ngữ thi tập: Đặc điểm nội dung và nghệ thuật, Luận án Tiến sỹ, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạch Vân quốc ngữ thi tập: Đặc điểm nội dung và nghệ thuật
Tác giả: Lê Thị Hương
Năm: 2009
18. Nguyễn Thị Hương (2015), Cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ Phan Thúc Trực, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng thế sự trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ Phan Thúc Trực
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Năm: 2015
19. Trần Đình Hượu (1999), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại,Nxb. Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
20. Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương (1978), Văn học Việt Nam (Từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII), tập 1,Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (Từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII)
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương
Nhà XB: Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w