Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học theo quan niệm của lí luận văn học Các nhà lí luận luôn xem ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học là một phương diện của thi pháp học.. Khi lí luận
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hữu Thỉnh là một gương mặt tiêu biểu của thi ca Việt Nam Thơ của ông phản ánh khá chân thực và đầy đủ diện mạo đời sống của đất nước cả trước và sau năm 1975 Đồng thời, thơ Hữu Thỉnh cũng ghi lại những dấu ấn quan trọng trong sự “lột xác” về cả nội dung lẫn nghệ thuật của thơ Việt Nam hiện đại Chính vì thế, nghiên cứu về thơ Hữu Thỉnh là trực tiếp nghiên cứu về sự vận động của cả một thời đại thơ ca ở nước ta
Thực tế cho thấy, thơ Hữu Thỉnh luôn là một đề tài khá nóng, nhận được rất nhiều sự quan tâm của giới phê bình và độc giả Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh Có lẽ đây là một thiếu sót lớn bởi nói như Macxim Gorki : “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”
Hiện nay, thơ Hữu Thỉnh đã được đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông, nên việc tiếp cận các tác phẩm của ông luôn là một việc làm thiết thực, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giảng dạy của chúng tôi sau này
Vì những lí do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh” với mong muốn góp một phần nhỏ nhoi vào việc nghiên cứu thơ Hữu Thỉnh nói riêng và sự vận động ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại nói chung
Trang 3Trên cơ sở khảo sát và tiếp nhận nhiều tập thơ và trường ca của Hữu Thỉnh, một số nhà nghiên cứu như Lý Hoài Thu, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Việt Chiến đã khái quát hóa một số đặc điểm nổi bật về phong cách thơ Hữu Thỉnh nói chung
Sau khi khảo sát các tập thơ “Tiếng hát trong rừng”, “Thư mùa đông”,
“Đường tới thành phố”, “Trường ca Biển”, Lý Hoài Thu đã “nhận ra ở Hữu Thỉnh một hồn thơ khỏe khoắn và rất giàu nội tâm” Trong bài viết“Thơ Hữu thỉnh – một hướng tìm tòi và sáng tạo từ dân tộc đến hiện đại”, bà đã mạnh dạn khẳng định “thơ anh có sự kết hợp giữa phẩm chất dân tộc và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lý và độ xúc cảm tràn trào, giữa sự hiền hòa lắng đọng và mãnh liệt sục sôi”[46, tr 56 ]
Cũng tiếp cận thơ Hữu Thỉnh ở góc độ đó, nhưng Nguyễn Việt Chiến đã
có những phát hiện khác : “thơ Hữu Thỉnh có những đổi mới về thi pháp một cách có hệ thống (…) các tìm tòi này thường được biểu đạt dưới dạng chuyển
Trang 4hóa rất nhuyễn các nhịp điệu của thi ca truyền thống để hướng tới một cách nói mới, giầu nội hàm tư tưởng hơn cách nói cũ” [36]
Tính đến nay, Hữu Thỉnh đã ra mắt bạn đọc 6 tập thơ và trường ca:
“Tiếng hát trong rừng”, “Từ chiến hào tới thành phố”, “Đường tới thành phố”,“Thư mùa đông”, “Trường ca biển” và “Thương lượng với thời gian” Ngay từ khi ra đời, những tác phẩm này đều nhận được rất nhiều sự quan tâm
từ giới nghiên cứu, phê bình và độc giả
Là một trong những người nghiên cứu sớm về thơ Hữu Thỉnh, ngay từ
năm 1980, khi đọc “Đường tới thành phố”, Mai Hương đã nhận định: “Hữu Thỉnh có khả năng vận dụng thông minh, sáng tạo vốn văn học dân gian Cách nghĩ và cách nói bằng hình ảnh của quần chúng được anh tiếp nhận tự nhiên và thành công” 39,tr 112 Đồng tình với quan điểm trên, Thiếu Mai
cũng đã nhấn mạnh tính dân tộc đậm đà trong trường ca Hữu Thỉnh “Thuộc nhiều ca dao nghiên cứu cách ví von liên tưởng tài tình của ca dao, đồng thời cùng suy ngẫm cách nhìn, cách hiểu cuộc đời và con người của ông cha ta qua ca dao, là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công của tác giả Người đọc thấy thấp thoáng đằng sau câu thơ của Hữu Thỉnh dáng dấp của
ca dao, nhưng rõ ràng thơ anh không rập khuôn theo ca dao, không bị ca dao lấn át” 43, tr125
Trần Mạnh Hảo khi đọc “Thư mùa đông” đã viết: “Sự thành công của Hữu Thỉnh là nói ít, cảm nhiều, theo truyền thống thi pháp phương đông “thi tại ngôn ngoại” Hồn thơ Hữu Thỉnh hồn nhiên mà đôi khi thấm đẫm chất Lão Trang, khả năng dồn nén tư tưởng, cảm xúc, dồn nén chữ nghĩa hàm súc của Hữu Thỉnh quả là đáng nể” 37, tr 103
Tiếp nhận “Thương lượng với thời gian”, Đặng Hiển cũng có lời bình khá xác đáng: “nghệ thuật thơ dân tộc hiện đại với ngôn từ và hình ảnh kết hợp nhuần nhuyễn tính trữ tình và triết lý, sử dụng rộng rãi một cách sáng tạo
Trang 5các biện pháp tu từ, nhân hoá, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác…nó khẳng định thêm một lần nữa phong cách thơ Hữu Thỉnh trong nền thơ Việt Nam đương đại” 40, tr 16
Hầu hết những bài viết theo xu hướng này đều mang tính nhỏ lẻ, chưa đạt được độ khái quát cao Do chỉ khảo sát trong phạm vi một tập thơ nên các tác giả trên chưa thể chỉ ra được nét độc đáo của thơ Hữu Thỉnh nói chung trên từng phương diện, trong đó có phương diện ngôn ngữ Đa số các nhà phê bình đều đồng quan điểm khi cho rằng ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh là sự kết hợp nhuần nhuyền giữa truyền thống và hiện đại Trên tinh thần kế thừa và phát huy vốn ngôn ngữ dân tộc, đặc biệt là ngôn ngữ văn học dân gian, ngôn ngữ Hữu Thỉnh đã thể hiện tính hiện đại và sáng tạo thông qua việc vận dụng linh hoạt các phương tiện và biện pháp tu từ Tuy nhiên, việc phân tích và chỉ ra
sự sáng tạo và nét đẹp ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh một cách chi tiết và sâu sắc trên các bình diện của ngôn ngữ: từ ngữ, cú pháp, ngữ âm thì chưa có bài viết nào đáp ứng được
Như vậy, nhìn chung, thơ Hữu thỉnh là một đề tài được quan tâm nghiên cứu và bàn luận khá nhiều trong suốt thời gian qua Tuy nhiên, các hướng tiếp cận thơ Hữu Thỉnh vẫn chưa thực sự phong phú Hầu hết các bài viết thường xoay quanh đề tài, tư tưởng, nghệ thuật tạo hình mà chưa đi sâu khai thác về mặt ngôn ngữ Trước tình hình trên, chúng tôi nhận thấy, việc thực hiện một công trình nghiên cứu có tính toàn diện và sâu sắc về ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh là một việc làm cần thiết và ý nghĩa
3 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh trên các bình diện : từ ngữ, ngữ âm và cú pháp
Trang 6Phạm vi nghiên cứu của đề tài là 58 bài thơ thuộc 2 tập “Tiếng hát trong rừng” và “Thư mùa đông” in trong “Thơ Hữu Thỉnh” (1998), NXB Hội nhà văn, Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích – chứng minh
- Phương pháp tổng hợp, khái quát
5 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được triển khai thành bốn chương sau:
Chương Một : Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương Hai : Từ ngữ trong thơ Hữu Thỉnh
Chương Ba : Cấu trúc ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh
Chương Bốn : Đặc điểm ngữ âm trong thơ Hữu Thỉnh
Trang 7Chương Một NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Đặc điểm ngôn ngữ trong tác phẩm văn học
1.1.1 Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học theo quan niệm của lí luận văn học
Các nhà lí luận luôn xem ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học
là một phương diện của thi pháp học Khi lí luận văn học hiện đại nhận thức rằng tác phẩm văn học không chỉ mang tính hiện thực mà còn mang tính kí hiệu thì vấn đề ngôn ngữ trong tác phẩm văn học đã trở thành một vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình sáng tạo của nhà văn cũng như quá trình tiếp nhận của người đọc Có thể nói đây là một phương diện quan trọng của việc nghiên cứu tác phẩm văn học nói chung và nghiên cứu thơ ca hiện đại nói riêng
Trong cuốn “Dẫn luận nghiên cứu văn học”, Pospelop đã nhấn mạnh:
“Phương diện hình thức mà chúng ta tiếp nhận được trực tiếp ở các tác phẩm văn học – là hệ thống ngôn từ của chúng, hoặc những đặc điểm của lời văn nghệ thuật của chúng.” [27, tr 102] Như vậy, theo Pospelop, trong tác phẩm
Trang 8văn học, ngôn ngữ thuộc về “phương diện hình thức” Lời văn nghệ thuật thuộc phương diện hình thức của tác phẩm nên nó gắn bó và phục tùng nội dung của tác phẩm Các phương tiện, phương thức nói trên chỉ thực sự trở thành lời văn nghệ thuật khi nó gắn liền với một nội dung cụ thể của tác phẩm biểu hiện đắc lực cho nó Tóm lại, để hiểu lời văn nghệ thuật như là hình thức của tác phẩm chẳng những phải hiểu các phương tiện ngôn từ được tác giả sử dụng, nhận ra chính xác hình thức và nội dung của chúng mà còn phải lí giải
sự tổ chức của chúng phù hợp với nguyên tắc tư tưởng thẩm mĩ của tác giả Chỉ có như vậy mới xâm nhập được vào cái hồn thâm thuý của văn chương, thưởng thức cái hay, cái đẹp của nó
Cũng trong giáo trình này, Pospelop đã phân biệt “lời văn nghệ thuật” (khudozhestvenn aia rech) với “ngôn ngữ văn học” (literaturnaia jazưk) Theo ông, “ngôn ngữ văn học” có nội hàm rộng hơn, dùng để chỉ ngôn ngữ viết nói chung; còn “lời văn nghệ thuật” mới được dùng để chỉ ngôn ngữ trong tác
phẩm văn học Pospelop khẳng định :“lời văn nghệ thuật không phải bao giờ cũng tương ứng với các chuẩn mực của ngôn ngữ văn học dân tộc” [27, tr 102] dù chúng có “quan hệ mật thiết” với nhau
Ở Việt Nam, nhận thức về vai trò, ý nghĩa và đặc trưng của ngôn ngữ trong tác phẩm văn học cũng đã được hình thành từ rất sớm Phát triển dựa
trên quan điểm của Pospelop, Đoàn Đức Phương cho rằng : “Ngôn ngữ, đó chính là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học Không có ngôn ngữ thì không thể có tác phẩm văn học, bởi vì chính ngôn ngữ chứ không phải cái gì khá đã cụ thể hóa và vật chất hóa sự biểu hiện của chủ
đề và tư tưởng, tính cách và cốt truyện…”[dẫn theo [16,tr 148]) Ông cho
rằng: ngôn ngữ trong tác phẩm văn học chính là tinh hoa, là thứ “chữ quý” còn lại khi nhà văn đã hoàn thành một quá trình lao động “mài giũa” ngôn từ nghiêm túc và khổ hạnh Về điểm này, Đoàn Đức Phương có sự gặp gỡ với
Trang 9quan điểm của Maiacốpxki: “ Phải phí tốn ngàn cân quặng chữ/ Mới thu về một chữ mà thôi/ Những chữ ấy làm cho rung động/ Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài.”
1.1.2 Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học theo quan niệm của phong cách học
Cùng với ba bộ môn thuộc về ngôn ngữ học, phong cách học có vị trí chủ chốt trong việc nâng cao, hoàn chỉnh những kiến thức về ngôn ngữ đã thu được từ các lĩnh vực nghiên cứu ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Phong cách học đem lại sự hiểu biết toàn diện, sâu sắc về ngôn ngữ vì nó không chỉ quan tâm đến mặt cấu tạo của ngôn ngữ mà còn coi trọng mặt sử dụng ngôn ngữ, rút ra những cách sử dụng mẫu mực nhất
Trong giáo trình các Phong cách học Tiếng Việt, các tác giả Võ Bình
(1982), Cù Đình Tú (1983) và Hữu Đạt (1999) đều coi ngôn ngữ nghệ thuật (tức ngôn ngữ trong tác phẩm văn học) là một phong cách chức năng với những kiểu dạng, đặc trưng và đặc điểm ngôn ngữ riêng biệt Theo đó, các nhà phong cách học quan niệm : phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong các loại hình văn chương, được xây dựng trên cơ sở tư duy hình tượng Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học mang những đặc trưng phong cách: tính hình tượng, tính thẩm mĩ và tính tổng hợp Ngoài
ra, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật còn mang những đặc điểm riêng biệt về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và thường tồn tại lối diễn đạt đặc biệt, lệch chuẩn so với ngôn ngữ trong các phong cách khác
Ngược lại, Đinh Trọng Lạc (1993) lại không xếp ngôn ngữ nghệ thuật vào nhóm phong cách chức năng mà chỉ phân tích sự đối lập giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ thuật Nói cách khác, có thể suy luận rằng : ông quan niệm “ ngôn ngữ nghệ thuật là sự tổng hòa của các phong cách ngôn ngữ khác và thuộc về một hệ thống khác.” (dẫn theo [25, tr 20]) Ông cho
Trang 10rằng giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ thuật có sự khác nhau trên các bình diện: về hệ thống tín hiệu, về chức năng xã hội, về tính hệ thống,
về bình diện nghĩa và về sự có mặt của các phương tiện tu từ Trên cơ sở phân tích những khác biệt giữa ngôn ngữ nghệ thuật và phi nghệ thuật, Đinh Trọng Lạc cho rằng ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống tín hiệu thứ hai được cấu tạo từ
hệ thống tín hiệu thứ nhất Chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở chỗ: tín hiệu ngôn ngữ (đặc trưng ngữ nghĩa và đặc trưng âm thanh) trở thành yếu tố tạo thành của hình tượng Muốn thể hiện được chức năng thẩm
mĩ, ngôn ngữ nghệ thuật cần phải có 4 đặc trưng, đó là: tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hóa và tính cụ thể hóa
* Tiểu kết
Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, như màu sắc đối với hội họa,
âm thanh đối với âm nhạc, hình khối đối với kiến trúc Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học không phải là một vấn đề mới mẻ Bản thân các nhà văn đều có thức rất cao và rất sâu về vai trò của ngôn ngữ trong tác phẩm văn học Trong một bài giảng bồi dưỡng người viết trẻ, Nguyễn Tuân cũng đã bộc bạch quan niệm về nghề: “Nghề văn là nghề của chữ … Nó là cái nghề dùng chữ nghĩa
mà “sinh sự” [34, tr 715,716] Theo ông, đánh giá một nhà văn, đúng về mặt chuyên môn nghề nghiệp mà bàn, thì giá trị của người đó “là những công đức lập ngôn”, là ở chỗ ông ta “đã mở mang thêm vốn liếng dân tộc về tiếng nói được tới mức nào, và đã góp phần sáng tạo của mình vào ngôn ngữ Việt Nam như thế nào” [34, tr.239]
Nghiên cứu về ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, không chỉ bản thân các nhà văn mà ngay cả các nhà ngôn ngữ học, tu từ học, phong cách học đều tập trung phân tích, nhận diện đặc trưng của ngôn ngữ trong văn học và đề xuất hàng loạt tính chất: tính hình tượng, tính cấu trúc, tính biểu cảm, tính thẩm mĩ, tính cụ thể, tính cá thể… Tuy nhiên, có một thực tế như GS Đỗ Hữu
Trang 11Châu nhận thấy, đó là sự “chủng chẳng giữa các nhà nghiên cứu văn học và các nhà ngôn ngữ học trong sự hợp tác giải quyết các vấn đề của văn học, [9, tr.786], mà nguyên nhân sâu xa là do “tính hạn hẹp của cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học” [9, tr.786] Sự “chủng chẳng” này đã khiến cho vấn đề ngôn ngữ trong tác phẩm văn học – một vấn đề không hề lạ và mới – nhưng lại trở thành một đề tài tốn nhiều giấy mực, thậm chí là gây tranh cãi giữa các nhà lí luận, phong cách học và ngôn ngữ học
Trên cơ sở tiếp nhận, phân tích các quan niệm về ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, chúng tôi cho rằng: ngôn ngữ, trước hết là công cụ giao tiếp của con người, sau đó là chất liệu và phương tiện mang tính đặc thù của văn học Nhờ ngôn ngữ, bạn đọc có thể tiếp nhận các hình tượng văn học Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ của toàn dân đã được nhà văn dày công sàng lọc, chọn lựa và nâng cao Vì lẽ đó, khác với ngôn ngữ giao tiếp thông thường,
ngôn ngữ trong tác phẩm văn học phải đảm bảo tính chính xác, tính hàm súc, tính biểu cảm và tình hình tượng Khi đã trở thành ngôn ngữ văn học, nó lại
tác động tích cực trở lại ngôn ngữ toàn dân, làm cho ngôn ngữ toàn dân trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn Cứ như vậy, mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ toàn dân diễn ra liên tục, thúc đẩy nhau không
ngừng phát triển
1.2 Ngôn ngữ thơ
Thơ là hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài người Chính vì vậy
mà có một thời gian rất, dài thuật ngữ “thơ” được dùng để chỉ chung cho văn học Khái niệm “thơ” cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến với nhiều quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau Dưới cái nhìn cấu trúc, nhà
nghiên cứu Phan Ngọc định nghĩa: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ do chính hình thức ngôn ngữ này”[45, tr18] Định nghĩa này của GS Phan Ngọc đã gợi
Trang 12ra một trường nghiên cứu thơ hết sức rộng rãi: thơ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ học thuần tuý mà chủ yếu là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy đủ của từ này
Lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã ghi nhận rất nhiều định nghĩa
về thơ Trong khoảng hơn 200 định nghĩa về thơ, trong luận văn này, chúng tôi đồng quan điểm với nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi : “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ, bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh
và nhất là có nhịp điệu” [18, tr 210] Bởi theo chúng tôi, định nghĩa này đã
định danh một cách đầy đủ về thơ ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật Đặc biệt, đã khu biệt được đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong những thể loại văn học khác
Từ sự nhận diện về thơ như trên, chúng tôi có điều kiện để đi vào tìm hiểu: khái niệm ngôn ngữ thơ và đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ xét trên các bình diện: từ ngữ, ngữ pháp, ngữ âm
1.2.1 Khái niệm ngôn ngữ thơ
Trong phạm vi hẹp của thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưng về ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp nhằm biểu trưng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan theo cách tổ chức riêng của thơ ca Về cách tổ chức của
ngôn ngữ thơ, Hữu Đạt đã diễn đạt một cách cụ thể là: “được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ” [12, tr 25]
Nhà thơ thường vận dụng các hình thức chuyển nghĩa để ngôn ngữ có khả năng truyền cảm mạnh mẽ, khơi gợi được những rung động sâu xa, những cảm xúc mãnh liệt của tâm hồn Quy luật tiết kiệm ngôn ngữ, lời ít ý nhiều vốn là đòi hỏi chung của ngôn ngữ văn học, yêu cầu ấy được thực hiện một cách nghiêm ngặt và thường xuyên nhất trong thơ ca Tất nhiên, trong thực tế
Trang 13chúng ta đã từng gặp có những câu thơ như văn xuôi, không vần, thậm chí có
vẻ lủng củng, có vẻ vi phạm quy tắc của ngôn ngữ thơ ca nhưng thực ra không phải thế Đó là những câu thơ phá vỡ quy tắc thông thường để đưa đến một hiệu quả nghệ thuật mới, chẳng hạn như đoạn thơ sau của Hữu Thỉnh:
Một mình một mâm cơm Ngồi bên nào cũng lệch Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền Chị vẫn nhớ anh và mong anh như thế
Và chị buồn như bông điệp xé đôi Bằng tuổi trẻ không bao giờ trở lại
(Tờ lịch cuối cùng – trường ca Đường tới thành phố)
Nguồn cảm xúc mãnh liệt đã tạo cho nhà thơ sự lựa chọn ngôn ngữ, hình ảnh và cấu trúc thơ theo cách riêng của mình Đoạn thơ đọc lên nghe trúc trắc, không êm, khó thuộc nhưng cũng rất khó quên
Từ tính chất đặc biệt về hình thức như trên, ngôn ngữ thơ rất dễ gây cảm xúc cho người đọc người tiếp nhận Điều đó làm nên tính đa tầng của thơ, giúp nhà thơ chuyển tải tối đa sự phức tạp, tinh thế vô cùng của sự vật, tâm trạng trong sự hữu hạn của câu thơ, thể loại Vì vậy mà thơ luôn hấp dẫn người đọc
Ngôn ngữ thơ ca còn là ngôn ngữ được tổ chức trên cơ sở nhịp điệu Nhịp điệu là nhân tố quan trọng nhất quy định tính loại biệt của ngôn ngữ thơ
ca (không có nhịp điệu thì không thành thơ ca) Nghệ thuật phối âm, láy thanh, sự phân bố âm thanh, cách gieo vần… đều chịu sự chi phối của nhịp điệu, tạo cho ngôn ngữ thơ ca một diện mạo riêng dễ dàng phân biệt với các ngôn ngữ của các thể loại khác Nhịp trong thơ còn là nhịp của hơi thở gắn liền với cảm xúc Nó được tổ chức trên cơ sở kết cấu trọn vẹn của từng ý thơ,
nó có tác dụng gợi cảm đặc biệt, phù hợp với việc thể hiện các tâm trạng riêng
Trang 14tư, tạo cho người đọc sự cảm thông với tâm trạng tác giả, với nội dung phản ánh trong thơ
1.2.2 Đặc điểm của ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong thơ ca Đó là thứ ngôn ngữ được mài giữa công phu vì “bài thơ là tổ chức ở trình độ cao của ngôn ngữ, một tổ chức chặt chẽ tinh tế của ngôn ngữ” Ngôn ngữ thơ là một phương tiện hình thức luôn được coi trọng, là thứ ngôn ngữ biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc phong phú của ngôn ngữ, vừa giàu hình ảnh, sắc màu (tính họa) vừa giàu nhạc điệu (tính nhạc) Các đặc điểm trên hòa quyện với nhau tạo nên hình tượng thơ lung linh, đa nghĩa Để làm nổi rõ đặc điểm của ngôn ngữ thơ ca chúng tôi phân tích ở ba bình diện: từ ngữ, ngữ pháp, ngữ âm qua đó làm nổi bật cách tổ chức ngôn ngữ riêng của thơ ca
1.2.2.1 Về mặt từ ngữ
Ngữ nghĩa trong thơ ca không đồng nhất với ngữ nghĩa của ngôn ngữ giao tiếp thông thường Tùy vào đặc trưng thể loại mà các nhà thơ lựa chọn từ ngữ sao cho phát huy tối đa hiệu quả nghệ thuật của bài thơ và phù hợp với cấu trúc ngôn ngữ thơ Mỗi từ, ngữ được đưa vào thơ đều được nhà thơ chọc lọc, mài giũa kỹ càng và thường được sử dụng với những lớp nghĩa rất linh hoạt, mở ra những ý nghĩa mới, tinh tế hơn, giàu sức biểu cảm Ý nghĩa biểu trưng tạo cho ngôn ngữ thơ một hấp dẫn đặc biệt đối với độc giả Bởi qua ngôn ngữ thơ, độc giả không chỉ tiếp nhận suy tư của tác giả bằng mắt, tai mà còn bằng cả sự rung động trước một “thế giới” khác hơn mà ngôn ngữ thơ
“vẽ” ra trong tâm trí họ Điều đó làm cho ngôn ngữ thơ không chỉ còn là
phương tiện giao tiếp mà đã trở thành “một thứ gì đó chưa từng được nói hoặc được nghe Đó là ngôn ngữ đồng thời là sự phủ nhận ngôn ng ữ Đó là cái vượt ra ngoài giới hạn” (ÔcxtaViotPat, dẫn theo [16])
Trang 15Ngôn ngữ thơ ca có mối quan hệ mật thiết với vốn ngôn ngữ của từng dân tộc Tiếng Việt là một kho tàng từ vựng phong phú, với nhiều lớp từ: từ địa phương, từ vay mượn, từ cổ, từ lịch sử, từ lóng, từ nghề nghiệp.v.v Sự đa dạng về “chất liệu” giúp nhà thơ có thể thỏa sức sáng tạo và xây dựng thế giới nghệ thuật trong các thi phẩm Thực tiễn sáng tác thi ca cho thấy, các nhà thơ hiện đại Việt Nam đã và đang vận dụng khá linh hoạt và uyển chuyển ngôn ngữ mẹ đẻ Thậm chí, qua những tác phẩm thơ ca, các nhà thơ đã góp phần làm cho Tiếng Việt ta ngày càng giàu và đẹp hơn
Ngoài việc vận dụng kho tàng từ vựng phong phú của Tiếng Việt, các nhà thơ còn có thể sử dụng một số biện pháp chuyển nghĩa (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng, chơi chữ ) và các phương thức tổ hợp từ (điệp, đối, song hành ) để đa dạng hóa phương thức biểu đạt và góp phần vào quá trình vận tạo nghĩa của ngôn ngữ Trong quá trình này, cái biểu hiện và cái được biểu hiện đã xâm nhập, chuyển hoá cho nhau tạo nên những khoảng không ngữ nghĩa, những lớp trầm tích cho ngôn ngữ thơ ca
1.2.2.2 Về mặt ngữ pháp
Nếu như Phan Ngọc đã từng cho rằng : “Thơ là một tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản” [45, tr 18], thì sự “quái đản” đó thể hiện rõ trong bình diện
ngữ pháp của ngôn ngữ thơ ca
Trước tiên, đó là sự phân chia các dòng thơ Có người quan niệm mỗi dòng thơ tương ứng với một câu thơ nhưng trong thực tế ranh giới giữa câu thơ và dòng thơ không hoàn toàn trùng khít nhau Bởi bên cạnh những câu thơ nằm trọn trong một dòng duy nhất thì cũng có những câu thơ trải ra nhiều dòng, thậm chí kéo dài cả đoạn dài văn bản Khác với văn xuôi, các thành tố ngữ pháp trong câu hay dòng thơ thương không tuân theo những quy tắc thông thường Nhà thơ có quyền sử dụng đảo ngữ, câu vắt dòng, câu trùng điệp.v.v mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa
Trang 16văn bản của độc giả Sự tự do về mặt ngữ pháp cho phép nhà thơ thỏa sức sáng tạo, biến hóa, “điên” theo cách của riêng mình, nhờ đó mở ra những giá
trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca Chính sự “quái đản” về cú pháp
của ngôn ngữ thơ giúp nhà diễn đạt được những lớp nghĩa phức tạp, tinh tế vô cùng của sự vật trong sự hạn hữu của câu chữ, thể loại, mà cũng nhờ đó tạo nên phong cách của từng nhà thơ
1.2.2.3 Về mặt ngữ âm
Thơ phản ảnh cuộc sống qua những rung động tế vi trong cảm xúc, tình cảm của con người Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa từ ngữ mà còn cả âm thanh, nhịp điệu Vì thế, có thể nói, tính nhạc là một trong những đặc trưng ngữ âm cơ bản của ngôn ngữ thơ ca Tiếng Việt là một ngôn ngữ rất “giàu” về nguyên âm, phụ âm và thanh điệu Đây chính là
cơ sở của sự hòa âm độc đáo trong ngôn ngữ thơ Việt Nam
Khi khai thác tính nhạc trong thơ, chúng ta cần chú ý đến những mặt đối
lập về tính “trầm - bổng”, “khép - mở” của nguyên âm; đối lập về “vang - tắc” giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh trong các phụ âm cuối; đối lập về tính“cao- thấp”, “bằng- trắc” của các thanh điệu Đối với ngôn
ngữ thơ, nếu biết vận dụng phối hợp các yếu tố trên, sẽ tạo được những hiệu quả nhất định trong việc thể hiện các cung bậc của cảm xúc
Bên cạnh những sự đối lập đó, vần và nhịp cũng là những yếu tố quan trọng góp phần tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca Tính nhạc trong ngôn ngữ đưa thơ ca xích lại gần với âm nhạc Thực tế đã cho thấy rất nhiều bài thơ được phổ nhạc thành công, trong số đó, có những sáng tác nổi tiếng của Hữu Thỉnh
Có thể kể tên một số ca khúc phổ thơ Hữu Thỉnh và được đông đảo nhân dân
đón nhận như: “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”(Doãn Nho phổ nhạc),
Trang 17Biển nỗi nhớ và em” (Phú Quang phổ nhạc), “Chiều sông Thương” ( Đỗ Bảo
phổ nhạc)
Trong một tác phẩm thơ ca, vai trò của các yếu tố vần, thanh, nhịp không giống nhau Tùy vào ý đồ nghệ thuật của tác giả mà các yếu tố này nhận được mức độ quan tâm, trau chuốt khác nhau Tuy nhiên, trong bất kỳ một bài thơ nào, khi vai trò của của các yếu tố này càng được chú trọng thì nhạc tính trong thơ càng cao
Từ việc phân tích vai trò của từ ngữ, ngữ âm và ngữ pháp, ta thấy ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ nghệ thuật rất đặc thù Đây không chỉ là sản phẩm thể hiện tài năng và sức sáng tạo của tác giả mà còn là đối tượng để người đồng sáng tạo Với đặc trưng nghệ thuật ấy, ngôn ngữ thơ ca có khả năng vô tận trọng việc khám phá, miêu tả những trạng thái tinh tế, bí ẩn của thế giới tâm hồn con người
1.3 Hữu Thỉnh – cuộc đời và thơ ca
1.3.1 Cuộc đời Hữu Thỉnh
Nhà thơ Hữu Thỉnh tên khai sinh Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh ngày 15/02/1942 tại làng Phú Vinh, xã Duy Phiên, huyện Tam Dương (nay là huyện Tam Đảo), tỉnh Vĩnh Phúc, trong một gia đình nông dân có truyền thống nho học Ông từng trải qua một tuổi thơ nhiều vất vả: không được đi học,10 tuổi phải đi phu, làm đủ mọi thứ lao dịch cho các đồn binh Pháp và bị đánh đập tàn nhẫn
Năm 1954, khi hòa bình lập lại trên miền Bắc, ông mới chính thức được
đi học Sau khi tốt nghiệp phổ thông năm 1963, Hữu Thỉnh nhập ngũ và trở thành bộ đội tăng thiết giáp và hoạt động tại trung đoàn 202 Tại đây, ông thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau: lái xe tăng, dạy bổ túc văn hoá, viết báo, làm cán bộ tuyên huấn
Trang 18Nhiều năm liền, Hữu Thỉnh tham gia chiến đấu tại chiến trường 9 - Nam Lào (1970-1971), Quảng Trị (1972), Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh với tư cách là phóng viên mặt trận, đội trưởng đội chiếu bóng
Sau 1975, ông học Đại học văn hoá (trường viết văn Nguyễn Du khoá I) Thời gian này ông cũng đi các tuyến đảo Đông Bắc, đã sống lâu ngày ở Bạch Long Vĩ, rồi tham gia mặt trận biên giới 1979
Năm 1982, nhà thơ về làm việc tại tạp chí Văn nghệ Quân đội, làm cán
bộ biên tập, Trưởng ban thơ, rồi giữ chức vụ phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội Tháng 12-1988, ông được cử làm quyền Tổng biên tập báo Văn nghệ Đến tháng 11-1989, được cử làm Tổng biên tập báo Văn nghệ Hữu Thỉnh đã từng tham gia vào Ban chấp hành Hội Nhà văn các khoá 3,4,5 Uỷ viên Ban Thư kí khoá 3 Đại biểu Quốc hội khoá X Tổng Thư kí Hội Nhà văn Việt Nam khoá VI Hiện nay, Hữu Thỉnh là Bí thư Đảng uỷ bộ
cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam, Uỷ viên Đảng Đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam
1.3.2 Đôi nét về thơ Hữu Thỉnh
Hữu Thỉnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ chống Mĩ Tài năng của ông đã được khẳng định từ trước năm 1975 và tiếp tục tỏa sáng sau ngày đất nước hòa bình Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học do các tổ chức uy tín trao tặng Có được thành công đó, một mặt do
tài năng “tiên thiên”, mặt khác đây là kết quả của một quá trình “nhập cuộc, dấn thân”(chữ dùng của Hữu Thỉnh) vào đời sống, không ngừng học hỏi , lao động và sáng tạo Với các tập thơ: “Tiếng hát trong rừng”, “Đường tới thành
phố”, “Trường ca Biển”, “Thư mùa đông”, có thể chia thơ Hữu Thỉnh làm
hai chặng đường chính qua nội dung, cảm hứng và giọng điệu trữ tình
1.3.2.1 Thơ Hữu Thỉnh thời kỳ kháng Mĩ
a Tập thơ “Tiếng hát trong rừng”
Trang 19Đây là tập thơ được viết trong khoảng thời gian từ 1968-1982 Tập thơ
đã tái hiện cuộc sống, chiến đấu đầy gian khổ của những người lính Trường
Sơn Qua tập thơ “Tiếng hát trong rừng”, Hữu Thỉnh đã tái hiện cuộc sống
chiến đấu của nhân dân ta trong kháng chiến qua lăng kính của một tâm hồn trẻ trung, nồng nhiệt, tin yêu cuộc sống Trong số 22 bài thơ trong tập này, bài
“Mùa xuân đi đón” đoạt giải Ba, “Chuyến đò đêm giáp ranh” đoạt giải A
trong cuộc thi thơ trên báo Văn nghệ
b Tập “Đường tới thành phố”
Trường ca này được viết từ tháng 8/1977 và hoàn thành vào tháng 4/1978 Đây là cột mốc đánh dấu sự chín muồi trong tư duy thơ Hữu Thỉnh, tập trung đầy đủ, hoàn thiện nhất những đòi hỏi mà thể loại trường ca cần phải có Đây là trường ca dài nhất của Hữu Thỉnh, tổng kết chiến tranh bằng thơ ca
Đối tượng mà Hữu Thỉnh muốn hướng tới trong trường ca này vẫn là người mẹ, người lính, người chị-người vợ, hậu phương và tiền tuyến, nhân dân và Tổ quốc…Nhưng điều đáng chú ý là nhà thơ thường đi vào khai thác những vấn đề cốt lõi của tình cảm, xoáy sâu vào đời sống tâm trạng, những hoàn cảnh điển hình, làm nổi bật bức tranh chung của cả dân tộc trên đường
đi tới chiến thắng “Phần lớn những câu thơ trong trường ca mang nét lắng trầm, suy ngẫm bình thản, trong và mạnh” [39, tr 110] Vì thế thơ Hữu Thỉnh
giờ đây vừa có sự kết hợp giữa giọng thơ sôi nổi, thiết tha, cảm xúc lắng sâu
và âm hưởng anh hùng ca
“Đường tới thành phố” là kết quả của một hồn thơ giàu cảm xúc kết
hợp với vốn tri thức văn hoá phong phú, ngòi bút Hữu Thỉnh tỏ ra tỉnh táo, không một chút dễ dãi, cường điệu khi viết về cuộc hành trình của cả dân tộc trên đường đi tới chiến thắng cuối cùng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
Trang 20Năm 1980 với trường ca “Đường tới thành phố”, ông đã được nhận giải
thưởng Hội Nhà văn Việt Nam
1.3.2.1 Thơ Hữu Thỉnh sau 1975
Sự thay đổi của điều kiện lịch sử- xã hội kéo theo sự đổi thay trong quan niệm, cách nghĩ, cách cảm, đặc biệt ta không thể không nói đến sự thay đổi của văn học Trong điều kiện lịch sử- xã hội ấy, mảng thơ viết trong thời bình của Hữu Thỉnh mang những nội dung và giọng điệu mới
Bằng tài năng nghệ thuật và sự sáng tạo không ngừng Hữu Thỉnh đã
làm nên một “Trường ca Biển “đặc sắc Tác phẩm này xứng đáng đạt giải
xuất sắc do Bộ Quốc phòng trao tặng 1994
b Tập thơ “Thư mùa đông”
Tập thơ mang tính hướng nội rất sâu, đó là một cuộc hành trình đi tìm
“mùa nhân nghĩa”, những giá trị nhân bản của hạnh phúc và tình yêu thương con người trước cuộc sống xô bồ, đổi thay
Cảm hứng chủ đạo trong “Thư mùa đông” là cảm hứng thế sự - đời tư
Có thể thấy, buồn và cô đơn, day dứt, trăn trở là những cảm xúc thường thấy trong thể tài này Những suy tư đó không phải là những suy tư tưởng tượng, những triết lí đại ngôn mà những suy tư đó xuất phát từ trái tim nghệ sĩ đa cảm Với Hữu Thỉnh, trong nỗi buồn, cô đơn ông vẫn tìm thấy vẻ đẹp của tâm
Trang 21“Thư mùa đông” đánh dấu quá trình tự đổi mới thi ca của Hữu Thỉnh Năm 1995, tập thơ “Thư mùa đông” đã vinh dự được trao giải A- Giải thưởng
Hội Nhà văn, và cũng chính tập thơ này tác giả đã nhận được giải thưởng văn học ASEAN
Mặc dầu, con đường thơ của Hữu Thỉnh không phải lúc nào cũng bằng phẳng nhưng với ý thức đổi mới không ngừng, gần 30 năm cầm bút, Hữu Thỉnh
là tác giả của nhiều tập thơ đạt giải, nhiều bài thơ hay Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ chống Mĩ và thơ ca đương đại Việt Nam
Chương Hai
TỪ NGỮ TRONG THƠ HỮU THỈNH
2.1 Khảo sát và miêu tả các lớp từ giàu giá trị tu từ
2.1.1 Từ Hán Việt
2.1.1.1 Phân loại, khảo sát, thống kê
Từ Hán Việt là lớp từ vựng có số lượng lớn nhất trong Tiếng Việt, chiếm
tỉ lệ 60% Trong cuốn “Từ vựng học Tiếng Việt”, Nguyễn Thiện Giáp đã phân chia lớp từ này thành hai nhóm:
- Từ thuộc gốc Hán đọc theo âm Hán Việt gọi tắt là từ Hán Việt
- Từ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt
Trong khóa luận này, chúng tôi chỉ quan tâm khảo sát và nghiên cứu nhóm thứ nhất: các từ thuộc gốc Hán đọc theo âm Hán Việt, nhóm còn lại không thuộc phạm vi khảo sát của chúng tôi
Chúng tôi đã thống kê các từ Hán Việt xuất hiện trong thơ Hữu Thỉnh Kết quả cho thấy lớp từ này xuất hiện khá nhiều, khoảng 104 từ và lặp lại trong 193 lượt
2.1.1.2 Ý nghĩa tu từ của từ Hán Việt trong thơ Hữu Thỉnh
Trang 22Từ Hán Việt là một lớp từ vay mượn giàu sắc thái tu từ Khi xâm nhập vào tiếng Việt, lớp từ này đã trở thành phương tiện diễn đạt mới, đồng thời góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ dân tộc Tuy nhiên, vì bản chất lớp
từ này là từ vay mượn nên việc sử dụng sao cho hiệu quả và phù hợp với ngôn ngữ giao tiếp của người Việt là không hề dễ dàng Trong nhiều tác phẩm thơ, việc sử dụng phong phú, đa dạng ngôn ngữ đã tạo nên sự gợi cảm, và tính liên tưởng rất cao Có thể nói, các nhà thơ ở những mức độ khác nhau đều có sự
cố gắng lựa chọn, sử dụng một cách sáng tạo ngôn ngữ thơ để góp phần tăng hiệu quả nghệ thuật, tạo nên vẻ đẹp riêng và sức hấp dẫn sâu bền đối với người đọc Hữu Thỉnh không những đã khai thác lớp từ Hán Việt một cách khéo léo mà còn dùng nó để diễn đạt rất tinh tế đời sống tâm hồn của người Việt trong thơ ca
Cũng giống như lớp từ cổ, từ Hán Việt mang đến cho ngôn ngữ thơ một không khí trang nghiêm Ví dụ:
Khi bản Đông thành một nấm mồ Những hãng phương Tây đưa tin nhớn nhác:
- Chưa bao giờ những binh đoàn thiết giáp Của đối phương lại áp đảo như đây
(Sau trận đánh)
hay Anh chưa biết đã tan cơn báo động
Chưa biết tin nhà không nhận ra em
Không nằm trong nghĩa trang
Anh ở với đồi anh xanh cỏ
Cỏ ở đây thành nhang khói của nhà mình
(Phan Thiết có anh tôi)
Trang 23Từ Hán Việt thường biểu thị nghĩa trừu tượng, giàu hình ảnh Vì thế, lớp
từ này được Hữu Thỉnh sử dụng để diễn đạt những tứ thơ mang tính hàm súc
và có tính khái quát cao Ví dụ:
Càng viết càng thấy mình yếu đuối
Đường nhân nghĩa chừng nào còn lắm bụi
(Chạm cốc với Xa-in)
Hay Một đời người mà chiến chinh nhiều quá
(Nghe tiếng cuốc kêu)
Vận dụng lớp từ Hán Việt, Hữu Thỉnh đã xây dựng trong thơ mình những bức tranh thâm trầm, cổ kính, gợi lên một bầu không khí vừa trang nhã vừa trầm mặc Ông đã tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo ngôn ngữ vay mượn, góp phần hòa quyện thứ ngôn ngữ này trong sự phong phú và giàu đẹp của tiếng Việt ta
2.1.2 Từ láy
2.1.2.1 Phân loại, khảo sát, thống kê
Trong thơ Hữu Thỉnh, từ láy xuất hiện với mức độ dày đặc Căn cứ vào tác dụng tu từ của từ láy, chúng tôi phân chia hệ thống từ láy đã khảo sát thành các tiểu loại sau:
Bảng 2.1: Bảng thống kê và phân loại từ láy trong thơ Hữu Thỉnh Đối tượng
khảo sát
Từ láy tượng thanh
Từ láy tượng hình
Trang 24Kết quả khảo sát cho thấy trong số 272 lượt xuất hiện của từ láy trong thơ Hữu Thỉnh, thì có đến 127 lượt từ láy có sự sắc thái hóa về nghĩa, chiếm 46.7% Căn cứ vào tính chất và mức độ sắc thái hóa về nghĩa của từ láy, chúng tôi lại phân chia tiểu loại này thành các kiểu sau:
+ Các từ láy khái quát về trạng thái, đặc điểm, tính chất của đối tượng
như: ram ráp, côi cút, thật thà, lấm láp,vò võ,bồn chồn,vu vơ, bơ vơ, thắc thỏm, hồi hộp, khát khao,thao thức …chiếm tỉ lệ 32.3% (41/ 127 từ)
+ Các từ láy chỉ mức độ thấp của một trạng thái, đặc điểm như: bộp chộp, vụng về, êm ả, ngượng ngập, dập dờn, thưa thớt, dò dẫm, …chiếm tỉ lệ
25.2% (32/127 từ)
+ Các từ láy chỉ mức độ cao của một trạng thái đặc điểm như: trong trẻo, hồn hậu, thiêng liêng, nồng nàn, miên man, tham lam, vất vả, tha thiết, trơ trẽn, day dứt, liên miên, khe khắt, vội vã… chiếm tỉ lệ 42.5% (54/127 từ)
- Từ láy có tính tượng hình
Theo khảo sát của chúng tôi, từ láy có tính tượng hình xuất hiện khá phổ biến trong thơ Hữu Thỉnh với 89 lượt, tỉ lệ 32.7% Căn cứ vào nội dung gợi tả của từ láy tượng hình mà chúng tôi chia tiểu loại này thành các kiểu sau: + Từ láy gợi tả hình dáng, dáng vẻ của con người chiếm tỉ lệ rất thấp 1.1% (1/89 từ)
+ Từ láy gợi tả hình dáng, dáng vẻ của động vật chiếm tỉ lệ rất thấp 1.1% (1/89 từ)
+ Các từ láy miêu tả hình dáng, dáng vẻ của sự vật, hiện tượng chiếm tỉ
lệ cao nhất 71% ( 83/117 từ)
Trong số các từ láy tượng hình được sử dụng trong thơ Hữu Thỉnh, có khá nhiều từ đã được tác giả thay đổi phạm vi biểu vật Hiện tượng này mang lại cho thơ Hữu Thỉnh những hình ảnh thú vị, độc đáo, đem đến cho người đọc nhiều cảm xúc
Trang 25Bảng 2.2: Bảng ví dụ về từ láy tượng hình trong thơ Hữu Thỉnh Đối tượng
khảo sát
Không đổi phạm vi biểu vật
Thay đổi phạm vi biểu vật Gợi tả về
- Khu vườn than: có những con
sên ngấp nghé lên trời
sợi dây mỏng mảnh -Lăn tăn nước chảy chùng -Đường Trường Sơn khúc khuỷu
-Mênh mông lãnh hải cao chân
song -Mùa xuân hẳn bắt đầu/ Trên
quê mình lất phất -Vương trên mi hạt mưa tròn óng ánh
-Gập gềnh đường tôi đi
- lúc hoa vàng thu mới chập chờn thu
-Trăng thân mật lại mập mờ xa
lạ
-dùng dằng hoa quan họ/ nở
tím bên sông Thương
-Sương chùng chình qua ngõ -Sông được lúc dềnh dàng -Tiếng bìm bịp bập bềnh trong
đêm nước lên
Trang 26Theo khảo sát của chúng tôi, từ láy tượng thanh là dạng từ láy xuất hiện
ít nhất trong thơ Hữu Thỉnh với 56 lượt, tỉ lệ 20.6% Căn cứ vào nội dung mô phỏng âm thanh của từ láy, chúng tôi chia tiểu loại này thành các kiểu sau: + Mô phỏng âm thanh của con người chiếm tỉ lệ rất thấp 5.4 % (3/56 từ) + Mô phỏng âm thanh của sự vật, hiện tượng chiếm tỉ lệ rất cao 92.7% ( 52/56 từ)
+ Mô phỏng âm thanh của động vật chiếm tỉ lệ thấp nhất 1.9% ( 1/56 từ) Trong số 56 từ láy tượng thanh được dùng trong 2 tập “Tiếng hát trong rừng” và “Thư mùa đông”, có 2 trường hợp từ thay đổi phạm vi biểu vật là “tí tách” và “ríu rít” Từ “tí tách” vốn là từ láy dành để mô phỏng tiếng nước nhưng thơ mình, Hữu thỉnh lại dùng để mô phỏng tiếng những người lính tâm
sự với nhau Ngược lại, từ “ríu rít” vốn là từ láy mô phỏng tiếng chim hót nhưng lại được nhà thơ dùng để mô phỏng tiếng trò chuyện của mầm cây Như vậy, việc thay đổi phạm vi biểu vật của từ láy tượng thanh trong thơ Hữu Thỉnh đã mang đến cho người đọc những ý thơ ý vị, khơi gợi sự đồng sáng tạo trong bạn đọc
Bảng 2.3: Bảng ví dụ về từ láy tượng thanh trong thơ Hữu Thỉnh Đối tượng
khảo sát
Không đổi phạm vi biểu vật
Thay đổi phạm vi biểu vật
Mô phỏng âm thanh
của con người
Đi trong mây tí tách
Trang 27- Gió từng hồi se sẽ đưa
trong đêm nước lên
2.1.2.2 Ý nghĩa tu từ của từ láy trong thơ Hữu Thỉnh
Trong tiếng Việt, từ láy là lớp từ vựng đặc sắc, giàu giá trị tu từ Thông qua lớp từ này, nhà thơ có thể bộc lộ đến tận cùng cảm xúc trước thiên nhiên, con người và xã hội Trong thơ Hữu Thỉnh, lớp từ này xuất hiện dày đặc với những sắc thái biểu cảm độc đáo, tinh tế Ví dụ:
Gọi tên năm bảy nẻo đường
Bóng mây tha thiết sương buông thật thà
Gọi xa bạc phếch đường xa
Gọi gần khăng khít đôi ta đang gần
(Vu vơ) Hay Sương chùng chình qua ngõ
Dường như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã
(Sang thu)
Lớp từ láy cũng là một phương tiện diễn đạt nỗi ưu tư, trầm mặc của nhà thơ trước cuộc đời với biết bao nỗi niềm chất chứa Ví dụ:
Chúng tôi đi còn tần ngần ngoái lại
Chỉ thấy vầng trăng cuối tháng mới quăng lên
(Chuyến đò đêm giáp ranh)
Trang 28Hay người bỗng bồn chồn tốt tươi náo động
tay vẫn tay mình mà tưởng nắm tay ai
(Tiếng hát trong rừng)
Với vốn từ láy phong phú và khả năng sử dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo, Hữu Thỉnh đã tạo nên những câu thơ giàu âm thanh, hình ảnh và đầy hấp dẫn Điều này góp phần quan trọng trong việc truyền tải những giá trị nghệ thuật của bài thơ, đồng thời khơi gợi trong bạn đọc khả năng đồng sáng tạo
2.2 Khảo sát và miêu tả các phương tiện tu từ ngữ nghĩa
Trong tổng số 58 bài thơ được khảo sát, tỉ lệ sử dụng các phương tiện tu
từ ngữ nghĩa rất cao Hầu như bài nào cũng có sự xuất hiện của nhiều phương tiện tu từ ngữ nghĩa với lượt dùng đáng kể Kết quả cụ thể thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.4: Bảng thống kê các phương tiện tu từ ngữ nghĩa
Ẩn dụ
bổ sung
Ẩn dụ tượng trưng Nhân hóa
Tổng
Số lượt
Trang 29Bảng thống kê cho thấy ẩn dụ tu từ trong thơ Hữu Thỉnh xuất hiện tương đối nhiều Trong đó, nhân hóa - một biến thể của ẩn dụ tu từ chiếm tỉ lệ cao nhất 69 % Xếp thứ 2 là ẩn dụ tượng trưng với 16 % Ẩn dụ chân thực và ẩn
dụ tượng trưng chênh nhau không nhiều với 8 % và 6 %
2.2.1.1 Ẩn dụ chân thực
Khảo sát hai tập thơ “Tiếng hát trong rừng” vầ “Thư mùa đông” của Hữu Thỉnh, chúng tôi nhận thấy sự xuất hiện của phương thức ẩn dụ chân thực đã mang lại cho câu thơ những sắc thái biểu cảm đặc biệt và tinh tế
Ví dụ:
Mẹ tôi hát nghĩ câu có một câu chưa hát Cha tôi gặp trăm điều có một điều chưa gặp Hạnh phúc
Cây rơm vẫn mơ thành đám mây vàng…
(Hạnh phúc)
Ẩn dụ chân thực là cơ chế chuyển nghĩa dựa trên những nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng Chính vì thế, trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, ẩn dụ chân thực được hiểu theo những nghĩa khác nhau Trong trường hợp này, “cây rơm” là hình ảnh ẩn dụ cho những con người chân chất, nghèo khổ, còn “đám mây vàng” là hình ảnh ẩn dụ cho những con người viên mãn, thành đạt Thông qua hình ảnh ẩn dụ này, nhà thơ muốn gửi gắm một khao khát về hạnh phúc, về một sự đổi thay
Biển vẫn cậy mình dài rộng thế Vắng cánh buồm một chút
đã cô đơn
(Thơ viết ở biển)
Trong trường hợp này, “biển” và “cánh buồm” là hình ảnh ẩn dụ cho
“anh và “em” trong tình yêu Mối quan hệ giữa “biển” và “cánh buồm” là mối
Trang 30quan hệ sở thuộc, bao chứa, nâng đỡ lẫn nhau, cũng giống như mối gắn kết vô hình nhưng sâu sắc và bền chặt của lứa đôi
2.2.1.2 Ẩn dụ bổ sung
Ẩn dụ bổ sung xuất hiện khá nhiều trong thơ Hữu Thỉnh Vận dụng phương thức này, nhà thơ dường như muốn đánh thức mọi giác quan để khơi gợi trong trí tưởng tượng của bạn đọc những hình ảnh, cảm xúc độc đáo Trong thơ Hữu Thỉnh, ẩn dụ bổ sung tồn tại dưới nhiều hình thức chuyển đổi cảm giác mới lạ và thú vị:
- Chuyển đổi từ thính giác sang vị giác:
Ví dụ: Qua binh trạm nhiều thang dây bậc đất
Tiếng chim ngon như ngụm nước lưng đèo
(Giấc ngủ trên đường ra trận)
“Tiếng chim” là danh từ chỉ âm thanh phát ra từ hành động hót của con chim Nhưng trong câu thơ trên, Hữu Thỉnh lại đem đến cho người đọc một cảm giác thú vị khi cảm nhận được độ “ngon” của nó
- Chuyển đổi từ thị giác sang cảm giác trừu tượng
Ví dụ: Mùa đậu xuống mộ Ông với màu cây thành thực
Có ai ngờ lại thấy màu nhiều thêm
(Mười hai câu)
“Màu cây” vốn được nhìn thấy bằng thị giác được cảm nhận bằng cảm giác trừu tượng “thành thực”
- Chuyển đổi từ cảm giác trừu tượng sang cảm giác thực
Ví dụ: Đêm giáp ranh ngặt chuyện trò tâm sự
Chúng tôi bơi trong thương nhớ của riêng mình
(Chuyến đò đêm giáp ranh)
“Thương nhớ” là một cảm giác trừu tượng Trong bối cảnh không - thời gian là đêm giáp ranh yên tĩnh, người lính cảm nhận rõ ràng, chân thực cái
Trang 31cảm giác mênh mông và tràn trề của nỗi nhớ đến mức tưởng như mình đang
“bơi”, đang ngụp lặn giữa biển khơi
- Chuyển đổi từ thính giác sang vị giác
Ví dụ: Quân kia, voi ấy, võng này
Mặt người với giọng đắng cay thuở nào
(Trước tượng Bay-on)
“Giọng” là âm thanh vốn được tiếp nhận bằng thính giác được cảm nhận bằng vị giác “đắng cay”
- Chuyển đổi từ vị giác sang cảm giác trừu tượng
Ví dụ: Cây khế có thêm một vị buồn
(Hạnh phúc)
Vị đặc trưng của khế là vị chua – một thứ vị có thể cảm nhận được bằng đầu lưỡi – nhưng “vị buồn” lại là một thứ gia vị của cảm xúc, chỉ có thể cảm nhận bằng trái tim Bằng cách dùng ẩn dụ bổ sung, Hữu Thỉnh đã phả vào thực thể vô hồn như cây khế một luồng cảm xúc mạnh mẽ, mang lại một ý thơ giàu sức gợi
- Chuyển đổi từ xúc giác sang thị giác
Ví dụ: Tóc bay trắng trong buổi chiều gió bạc
(Chạm cốc với Xa-in)
Kết hợp cảm nhận (“gió”) của xúc giác với màu sắc (“bạc”) của thị giác, nhà thơ đã gợi lên cả một không gian chiều buồn man mác Chiều như tả tơi, giã cỗi trong những ý nghĩ về mẹ
2.2.1.3 Ẩn dụ tượng trưng
Trong thơ Hữu Thỉnh, rất ít khi bắt gặp phương thức ẩn dụ tượng trưng Tuy nhiên, mỗi lần xuất hiện, phương thức này đều đem đến cho người đọc một cảm giác thú vị, và những hình ảnh có sức khái quát cao
Ví dụ: Làm sao được, rượu và hoa thường ít
Trang 32So với chia ly, gian dối, dập vùi
(Chạm cốc với Xa-in)
“Rượu và hoa” là tượng trưng cho khoái lạc, niềm vui đoàn tụ và cho đỉnh cao danh vọng Chính vì vậy “rượu và hoa” đã được nhà thơ đặt trong thế đối lập với “chia ly, gian dối, dập vùi”
Anh vịn vào tiếng hát vượt gian lao
(Tiếng hát trong rừng)
Trong trường hợp trên, “tiếng hát” tượng trưng cho niềm tin, niềm lạc quan, yêu đời Chính niềm tin yêu ấy đã trở thành động lực, là nguốn sống để các anh “vịn vào” mà bước tiếp, vượt qua mọi “gian lao”
Ẩn dụ tượng trưng còn là một phương tiện nghệ thuật để Hữu Thỉnh xây dựng nên những hình ảnh thơ hay, đẹp, giàu giá trị tạo hình
Ví dụ: Ngày mai chúng ta về đòi lại phù sa
mà những thế hệ sau sẽ được tận hưởng nhờ máu và nước mắt của các anh
2.2.1.4 Nhân hóa
Nhân hóa thức chất là những ẩn dụ được xây dựng trên mối quan hệ giữa con người với thế giới sự vật chung quanh Chính vì thế, xét về cơ chế chuyển nghĩa, nhân hóa tu từ là một biến thể của ẩn dụ tu từ
Trang 33Trong thơ Hữu Thỉnh, phương tiện tu từ nhân hóa xuất hiện dày đặc, tham gia tích cực vào việc kiến tạo nên những tứ thơ ý vị, những hình ảnh linh hoạt, giàu màu sắc Chúng tôi tiến hành phân loại và khảo sát các dạng thức nhân hóa trong thơ Hữu Thỉnh và thu được kết quả sau:
Bảng 2.6: Bảng thống kê và phân loại pháp tu từ nhân hóa
Các biện pháp nhân hóa Số lượt
dùng Tỉ lệ Dùng từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của
người để biểu thị tính chất, đặc điểm của
đối tượng không phải là người
62 89.9 %
Coi sự vật, hiện tượng như con người và
trò chuyện, tâm tình với chúng 7 10.1 %
Trang 34Ví dụ:
Núi tốt bụng đang ngồi xanh phía trước Đợi đoàn anh vượt nốt đám mây này
(Đi trong mây)
Với tính từ “tốt bụng” và các động từ “ngồi”, “đợi”, ngọn núi bỗng hóa thân thành một sinh thể sống động Ngọn núi như một người bạn đường dễ mến của các anh Mây và núi mang trong mình nét đẹp vừa hùng trángvừa thơ mộng Chính vì thế, nhân hóa những sự vật này cũng đồng nghĩa với việc nâng hình ảnh con người lên một tầm cao với vẻ đẹp kỳ vĩ và giàu sức gợi hơn
b Coi sự vật, hiện tượng như con người và trò chuyện, tâm tình với
chúng
Tôi hỏi đất: Đất sống với đất như thế nào?
-Chúng tôi tôn cao nhau Tôi hỏi nước: Nước sống với nước như thế nào?
- Chúng tôi làm đầy nhau Tôi hỏi cỏ: Cỏ sống với cỏ như thế nào?
- Chúng tôi đan vào nhau Làm nên những chân trời
2.2.2 Hoán dụ tu từ
Trang 35Trong 4 phương tiện tu từ được khảo sát, hoán dụ tu từ là phương tiện ít được sử dụng nhất trong thơ Hữu Thỉnh, chỉ với 17 lần xuất hiện, tỉ lệ 11.0 % Tuy nhiên, phương tiện tu từ này lại mang đến những giá trị nghệ thuất rất cao cho thơ Hữu Thỉnh Căn cứ vào các mối quan hệ logic khách quan giữa các đối tượng, chúng tôi phân chia hoán dụ tu từ thành các tiểu loại sau:
Bảng 2.7: Bảng thống kê và phân loại pháp tu từ hoán dụ Các biện pháp hoán dụ tu từ Số lượt dùng Tỉ lệ
Hoán dụ giữa bộ phận và toàn thể 4 23.5%
2.2.2.1 Hoán dụ cải số
Trong các phương thức tu từ hóa dụ, hoán dụ cải số xuất hiện nhiều nhất trong thơ Hữu Thỉnh Hoán dụ cải số là hoán dụ theo quan hệ giữa số lượng với số lượng
“Nghìn” và “trăm” là những con số xác định được dùng để biểu thị cho
số lượng rất nhiều những “câu” mẹ hát và những “điều” cha đã gặp Trong
Trang 36trường hợp này, hoán dụ cải số lại được đặt trong mối quan hệ tương phản giữa số nhiều và số ít (“nghìn câu / một câu ; trăm điều / một điều) đã mang lại cho câu thơ một ý nghĩa sâu sắc: trong chiến tranh và nghèo khó “hạnh phúc” là một điều xa xỉ, là một ước muốn xa vời, rất khó chạm tới với những con người lam lũ, khổ đau và quê kệch như “cha, mẹ tôi”
2.2.2.2 Hoán dụ cải dung
Hoán dụ cải dung được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giưa vật chứa
và vật bị chứa Trong thơ Hữu Thỉnh, hoán dụ cải dung được sử dụng rất ít
2.2.2.3 Hoán dụ giữa bộ phận và toàn thể
Hoán dụ giữa cái bộ phận với cái toàn thể xuất hiện ít trong thơ Hữu Thỉnh, nhưng đều mang giá trị nghệ thuật cao với những hình ảnh thơ đẹp
Trang 37sánh A là cái chưa biết; cái dùng để so sánh B là cái đã biết, được dùng làm chuẩn Nguyên tắc của so sánh tu từ là dùng B để làm sáng tỏ cho A Chúng tôi phân loại so sánh tu từ thành các tiểu loại và thu được kết quả khảo sát như sau: Bảng 2.8: Bảng thống kê và phân loại phép tu từ so sánh
Ví dụ:
Cha tôi cầm chiếc chén lên
Như cầm một phần đời mình
Đã khô vào đất
(Nghe tiếng cuốc kêu)
Hình ảnh so sánh trong câu thơ trên rất sâu sắc và giàu sức gợi “Chiếc chén bằng đất” gắn liền với những kỉ niệm của cuộc đời “cha tôi” “Chiếc chén” gắn bó với cha từ thuở mới lập đất, lập làng, làm nhà, dựng cửa “Chiếc chén” dung dị như cuộc đời cha, sẫm màu như thời gian đã đi qua cuộc đời cha “Chiếc chén” trở thành kỉ vật thiêng liêng, gắn cha với mảnh đất cằn cỗi
Trang 38này Đó là biểu tượng của tình yêu quê hương, của văn hóa, của cội nguồn mà cha nâng niu, gìn giữ
2.2.3.2 Kiểu A là B
Kiểu so sánh này xuất hiện rất ít trong thơ Hữu Thỉnh nhưng lại mang đến những hình ảnh so sánh giàu ý vị
Ví dụ:
Cỏ ở đây thành nhang khói của nhà mình
Đồi ở đây cũng là con của mẹ
(Phan Thiết có anh tôi)
hay
Với hạnh phúc tôi đứng ngoài song cửa
Với chia tan tôi là khúc ca buồn
(Lời thưa)
Bằng cách so sánh này, chủ thể trữ tình đã thể hiện đến tột cùng một cái tôi cô đơn, lạc lõng và bất hạnh Hạnh phúc tồn tại ở một thế giới khác – thế giới ở ngay bên cạnh “tôi”, có thể nhìn thấy, có thể cảm nhận nhưng không thể nào chạm tới hay chen chân vào được Từ so sánh “là” càng có dụng ý nhấn mạnh “tôi” thuộc về thế giới của nỗi buồn và tan vỡ
2.2.3.3 Kiểu A // B
Tôi vẫn thường hay lẫn với mồ hôi Xin bạn cứ hình dung một mảnh đời lấm láp Những gì hay để quên, những gì hay bỏ sót Tôi ấy mà, xin bạn cứ hình dung
(Lời thưa)
Toàn bộ khổ thơ trên đều sử dụng kiểu so sánh tu từ A//B Đây là dạng
so sánh đặc biệt, không có từ so sánh nên rất gần với ẩn dụ tu từ Trong đoạn thơ trên, đối tượng được so sánh chỉ có một : A- “Tôi”, nhưng đối tượng được
Trang 39dùng để so sánh lại rất nhiều: B - “mồ hôi”/ “mảnh đời lấm láp” / “ những gì hay để quên”/ “những gì hay bỏ sót” Chính vì vậy kiểu so sánh này thường tạo cảm giác thú vị cho người đọc, bởi muốn hiểu được, người đọc buộc phải tham gia vào quá trình đồng sáng tạo với nhà thơ
2.3 Khảo sát và miêu tả biện pháp tu từ ngữ nghĩa lặp từ vựng
Lặp từ vựng là một dạng của phương thức lặp mà ở đó chủ tố và lặp tố đều là những yếu tố từ vựng Do đó, trong thơ ca, đây là một dạng thức liên kết tạo cho văn bản sự nhịp nhàng bởi các lớp từ trùng điệp
Phép lặp từ vựng có thể được xem xét, phân loại dưới nhiều góc độ Trong đề tài này chúng tôi tiến hành khảo sát theo tiêu chí phân loại của Trần Ngọc Thêm:
- Tiêu chí về cấu tạo ngữ pháp
- Tiêu chí về vị trí của yếu tố lặp
* Căn cứ vào cấu tạo ngữ pháp của yếu tố lặp, chúng tôi phân loại, thống kê hiện tượng lặp trong thơ Hữu Thỉnh thành 2 loại: lặp từ và lặp ngữ
Số liệu cụ thể được thống kê qua bảng dưới đây:
Bảng 2.9: Bảng khảo sát lặp từ vựng theo tiêu chí về cấu tạo ngữ pháp