Dưới góc nhìn của tôi múa bóng rỗi là những hoạt động văn hóa cộng đồng trong đời sống tâm linh của dân tộc, nó có khả năng kết nối mọi người lại với nhau.. Việc đi tìm hiểu quá trình hì
Trang 1KHOA MAY- THỜI TRANG
⸙⸙⸙
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
“NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ TRANG PHỤC TRÌNH DIỄN
ẤN TƯỢNG LẤY CẢM HỨNG TỪ NGHỆ THUẬT MÚA BÓNG RỖI TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CỦA NGƯỜI NAM BỘ”
GVHD: TH.S MAI CẨM TÚ
SVTH: NGUYỄN NHẬT DUY MSSV: 17100791
LỚP: ĐHTKTR13A
KHÓA: 2017-2021
TP Hồ Chí Minh, Tháng 2, Năm 2021
Trang 2Trải qua một thời gian dài học tập tại trường và đồ án tốt nghiệp là môn học cuối cùng của sinh viên, qua đồ án tốt nghiệp này giúp sinh viên tổng kết lại những kiến thức
đã học trong trường gần 4 năm qua, giúp sinh viên hiểu biết sâu sắc hơn về chuyên ngành
đã học.Được học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Công Nghiệp TP HCM là một điều
tự hào và hết sức vinh dự của tôi Vì trường và đặc biệt là khoa May – Thời trang đã tạo mọi điều kiện học tập và cơ sở vật chất để tôi có cơ hội theo đuổi ngành mà mình yêu thích
Trong suốt thời gian theo học tại trường Đại học Công Nghiệp TP HCM, tôi đã nhận được sự chỉ bảo nhiệt tình từ quý thầy cô, đặc biệt các thầy cô trong bộ môn thiết kế thời trang Thầy cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức từ tổng quát đến chuyên môn cần thiết để bước ra môi trường làm việc thực tế Nhân đây, tôi xin chân thành gửi lời cám
ơn đến quý thầy cô của trường Đại học Công Nghiệp TP HCM và đặc biệt là quý thầy trong bộ môn thiết kế thời trang đã hết lòng giúp đỡ cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp thu kiến thức trong thời gian qua
Tôi xin chân thành cám ơn, cô Th.s Mai Cẩm Tú đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình góp ý chỉnh sửa những khuyết điểm để tôi có thể hoàn thành đồ án tốt nghiệp đúng theo thời gian quy định
Cha mẹ và những người thân trong gia đình đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian qua và đặc biệt trong thời gian bốn năm trên giảng đường đại học Với lượng kiến thức còn hạn chế, do vậy không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình làm đồ án, tôi mong nhận được những nhận xét, góp ý quý báu của Thầy Cô và các bạn để kiến thức của tôi ngày càng hoàn thiện hơn
Cuối cùng, tôi xin chúc sức khoẻ quý thầy cô trong khoa, đặc biệt là cô Th.s Mai Cẩm Tú và toàn thể những người thân yêu
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3
Trang 4
Trang 5
1 Lý do chọn đề tài: 01
2 Mục tiêu nghiên cứu: 02
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 02
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 02
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 02
4 Phương pháp nghiên cứu: 03
5 Kết cấu đồ án: 03
PHẦN NỘI DUNG ………04
CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CHÚA XỨ CỦA NGƯỜI NAM BỘ ……… 04
1.1 Khái quát lịch sử: … ……… 04
1.2 Tượng Bà Chúa Xứ: ……… ……….05
1.3 Kiến trúc: ……….07
1.4 Nghi lễ thờ cúng: ……….11
1.5 Tiểu kết chương 1: ……… 15
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU VỀ NGHỆ THUẬT MÚA BÓNG RỖI……….16
2.1 Lịch sử ra đời: ……… 16
2.2 Bài múa: ……… 17
2.3 Trang Phục- Lễ Phục: ……… 24
2.4 Tiểu kế chương 2: ………32
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ BỘ SƯU TẬP “BÓNG” ……… 33
3.1 Ý tưởng: ……… 33
Trang 63.3.1 Đặc điểm: ……… 34
3.3.2 Nhu cầu: ……….34
3.4 Mẫu thiết kế: ………34
3.4.1 Mẫu phác thảo: ……… 34
3.4.2 Mẫu phẳng: ………43
3.4.3 Mẫu thực hiện: ……… 46
3.5 Giải pháp thiết kế BST: ……… 46
3.5.1 Phom dáng: ………46
3.5.2 Chất liệu: ……… 47
3.5.3 Màu sắc: ……….48
3.5.4 Trang trí: ………48
3.6 Quy trình thực hiện: ………49
3.7 Mẫu hoàn thiện: ……… 54
3.8 Tiểu kết chương 3: ……… 63
KẾT LUẬN ……… 64
PHỤ LỤC ……… 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ….66
Trang 7Dưới góc nhìn của tôi múa bóng rỗi là những hoạt động văn hóa cộng đồng trong đời sống tâm linh của dân tộc, nó có khả năng kết nối mọi người lại với nhau Đến với bóng rỗi mọi người được gặp gỡ, giao lưu trò chuyện, chia sẻ và cùng nhau cộng cảm trong một niềmmong ước chung, mong ước vể một cuộc sống tương lai tốt đẹp hơn Đó chính là sợi dây vô hình gắn kết cộng đồng trong một hoạt động chung, tiếng nói chung Bóng rỗi Nam
Bộ còn góp phần thể hiện đặc trưng của văn hóa Nam Bộ đó là sự phóng khoáng bao dung, tính bình dị, sự đa văn hóa
Ngoài ra, bóng rỗi Nam Bộ còn có chức năng mua vui, giải trí cho thần linh và cũng
là thỏa mãn nhu cầu giải trí cho những người tham dự Đến với bóng rỗi, mọi người tạm quên đi những lo toan, bộn bề của cuộc sống để thưởng thức những tiết mục múa tạp kỹ công phu, điêu luyện, được thăng hóa trong tiếng nhạc, lời hát Có thể nói bóng rỗi đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần và đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và thưởng thức văn hóa nghệ thuật của nhân dân ở thôn ấp xưa kia cũng như hiện nay
Bóng rỗi ở Nam Bộ cần được tiếp tục bảo tồn và phát huy trong cuộc sống hôm nay Bóng rỗi cũng như hầu bóng chứa đựng nhiều giá trị nhưng quá trình vận động trong
Trang 8cuộc sống có những “bụi bẩn”, “tạp chất” phản giá trị bám vào do ý thức của những người thực hiện nó Chính vì vậy, thái độ đối với bóng rỗi phải là một thái độ trân trọng , biết ngăn ngừa và hạn chế những phản giá trị có thể nảy sinh trong quá trình thực hiện để bóng rỗi Nam Bộ thực sự là hoạt động văn hóa tâm linh đầy ý nghĩa
Việc đi tìm hiểu quá trình hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ góp phần đánh giá nhận định về loại hình múa bóng rỗi trong các nghi lễ thờ Mẫu ở Nam Bộ, từ đó rút ra được những đặc điểm, vai trò, kỹ năng trình diễn của loại hình nghệ thuật này, để có thể đưa ra phương pháp bảo tồn các giá trị văn hóa tâm tinh trong nghệ thuật múa bóng rỗi đang ngày càng bị mai một
Trên tinh thần ấy, tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu và thiết kế trang phục trình diễn ấn tượng lấy cảm hứng từ nghệ thuật múa bóng rỗi trong tín ngưỡng thờ mẫu của người nam bộ” làm báo cáo tốt nghiệp, góp một phần hiểu biết của mình vào kho tang văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa khu vục Nam bộ nói riêng
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Thông qua những giá trị của nghệ thuật múa Bóng rỗi trong văn hóa thờ Mẫu ở Nam
bộ tôi cảm nhận đây là một ý tưởng vô cùng độc đáo và sâu sắc mang đậm tính nhân văn bảo tồn nền nghệ thuật của Việt Nam Từ đó tạo nên bộ sưu tập kết hợp sự độc đáo và phóng khoáng khoang thai, trang phục trình diễn ấn tượng và ứng dụng những kỹ thuật xử
lý chất liệu trên bề mặt vải như đính kết, in ấn, …
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về nghệ thuật múa bóng rỗi của người Nam Bộ
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về nghệ thuật múa bóng rỗi của người Nam Bộ
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp logic: phân tích, tổng hợp, so sánh, tham khảo thông tin từ các nguồn tài liệu ( sách, báo, internet, ) nhằm phân tích đánh giá BST trong phạm vi nghiên cứu
Phương pháp mỹ thuật học: nghiên cứu kết cấu cấu trúc văn hóa kiến trúc đặc điển tạo hình trang phục sắc độ chuyển màu giữa các màu có phù hợp với ý tưởng nghiên cứu đưa đến những sản phẩm tối ưu
Phương pháp văn hóa học: tìm hiểu văn hóa trong nghệ thuật múa bóng rỗi của người nam bộ , nguồn gốc ra đời của trang phục nhằm chắt lọc những nét văn hóa đặc sắc
Phương pháp khảo sát: tìm hiểu thị trường, xu hướng thời trang nhằm đánh giá các đối tượng nghiên cứu trên cơ sở chọn lọc nhằm rút ra kết luận mang tính chuyên môn về bộ sưu tập
Phương pháp thực tế: từ những kinh nghiệm đúc kết thực tế mang tính chủ quan trong việc thực hiện bộ sưu tập một cách hiệu quả và biểu cảm
5 Kết cấu đồ án:
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì trong phần nội dung có 3 chương:
Chương 1 Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ bà chúa xứ của người nam bộ
Chương 2 Nghiên cứu về nghệ thuật múa bóng rỗi
Chương 3 Thiết kế bộ sưu tập “Bóng”
Ngoài ra, còn có danh mục hình ảnh, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo
Trang 10PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CHÚA XỨ CỦA
NGƯỜI NAM BỘ
1.1 Khái quát lịch sử:
Đầu thế kỷ 19, ông Thoại Ngọc Hầu (1761 – 1829) tên thật là Nguyễn Văn Thoại, người Quảng Nam, thừa lệnh vua Gia Long, đã vào trấn vùng Tây Nam Bộ Ông đã tham mưu cho triều đình và được triều đình giao cho việc đào kênh Vĩnh Tế
Hình 1.1 ông Thoại Ngọc Hầu
Con kênh này dài 100km, rộng 50m, nối Châu Đốc với Hà Tiên Đây là công trình vĩ đại, nhằm thoát lũ, xả phèn cho đồng bằng sông Cửu Long và rút ngắn con đường giao thương đường thủy phía Tây vùng đồng bằng Mặc dù 8 vạn dân công được huy động, song khi bắt đầu vào cuộc, liên tiếp gặp trục trặc Nhiều người chết vì tai nạn, bệnh tật, thú dữ tấn công Trước tình thế có thế khó khăn đó, bà Châu Thị Tế, vợ ông Thoại đã nghe lời dân làng, lên núi Sam khấn vái pho tượng thiêng Quả nhiên, sau khi hành lễ, việc xây dựng công trình diễn ra suôn sẻ Chỉ trong vòng 5 năm, công trình vĩ đại nhất vùng đồng bằng
Trang 11sông Cửu Long đã hoàn thành Thời đó, có một nhóm cướp ngoại bang xâm nhập sang Châu Đốc Thấy pho tượng trên núi Sam đẹp, bọn chúng đã tiến hành ăn cắp Mấy chục tên xúm vào nhấc pho tượng khỏi bệ đá, khiêng xuống núi Tuy nhiên, chỉ khiêng được một đoạn, thì pho tượng bỗng nặng trịch, không thể khiêng nổi nữa Thấy chuyện lạ, chúng gọi thêm người, nhưng pho tượng vẫn không hề suy suyển Không lấy được tượng, bọn chúng đành bỏ đi Tuy nhiên, trước lúc đi, bọn cướp dùng gậy đập phá pho tượng, làm gãy một cách tay Hiện dấu vết phục chế vẫn còn Nghe tin ấy, bà Châu Thị Tế cùng các bô lão kéo lên núi Sam xem xét sự tình Sau khi bàn bạc, dân làng đã quyết định thỉnh bà xuống núi
Hàng chục thanh niên khỏe mạnh được huy động để thỉnh bà Tuy nhiên, dù bao nhiêu người, với đủ các loại phương tiện, pho tượng vẫn không hề suy suyển Đang lúc không biết làm thế nào, bỗng một cô gái xưng là Chúa Xứ thánh mẫu, nghĩa là Bà đã “nhập” vào cô gái này Bà Chúa Xứ yêu cầu dân làng cử 9 cô gái đồng trinh mang kiệu đến rước
bà xuống núi Quả nhiên, khi 9 cô gái đồng trinh đến khênh, thì tượng nhẹ tênh Đoàn rước tượng chạy một mạch xuống chân núi, đến chỗ miếu Chúa Xứ hiện nay thì kiệu bỗng chìm xuống, rồi không nhấc lên được nữa Nghĩ rằng Bà muốn ngự ở đây, nên bà Châu Thị Tế
đã cho dựng một ngôi miếu nhỏ, lợp lá và thờ đến mãi về sau Câu chuyện này, bất cứ người dân Châu Đốc nào cũng thuộc nằm lòng, bởi hàng năm, vào lễ hội Vía Bà Chúa Xứ, dân làng dựng lại cảnh rước bà từ núi Sam xuống miếu Lễ hội Vía Bà cũng là lễ hội kéo dài nhất nước ta, suốt từ tháng 1 đến hết tháng 4 âm lịch hàng năm
1.2 Tượng Bà Chúa Xứ:
Theo truyền thuyết, tượng Bà Chúa Xứ là sản phẩm của nền văn hóa Óc Eo, thuộc vương quốc Phù Nam (thế kỷ I đến thế kỷ VII sau Công nguyên) Tuy nhiên, tìm hiểu từ các tài liệu và một số nhà nghiên cứu, thì truyền thuyết pho tượng có từ thời Óc Eo có lẽ là đoán mò, là sự kết gắn mang tính cưỡng ép, bởi văn hóa Óc Eo được phát hiện ở vùng Thoại Sơn (An Giang), cách núi Sam không xa lắm
Trang 12Các nhà khoa học sau khi nghiên cứu pho tượng này, đã khẳng định chất liệu tượng
từ đá sa thạch, không có ở vùng Thất Sơn, cũng như khắp vùng Nam Bộ Như vậy, pho tượng được đưa từ xa tới, hoặc đá được chuyển từ nơi khác đến để chế tác Còn pho tượng
có từ khi nào, quả thực vẫn chỉ là giả thiết Có những giả thiết cho rằng, pho tượng có từ cách nay 5.000 năm, do một thái tử mang từ Ấn Độ đến Điều đáng chú ý là các nhà khoa học đã phát hiện ra một bệ đá sa thạch trên lưng chừng núi Sam vào năm 1980 Qua đo đạc, các nhà khoa học đã xác định bệ đá đó chính là chỗ tượng Bà Chúa Xứ “tọa”
Hình 1.2 Pho tượng Bà Chúa Xứ
Vào năm 1941, nhà khảo cổ Pháp, tên là Louis Malleret đã khảo sát tỉ mỉ miếu Bà Chúa Xứ và kết luận: Tượng Bà Chúa Xứ thuộc loại tượng thần Vishnu, tạc dáng ngồi nghĩ ngợi, quý phái, bằng chất liệu đá son, có giá trị nghệ thuật cao, ra đời vào khoảng cuối thế
kỷ thứ VI Trong công trình khảo cứu của nhà văn Sơn Nam, có tên “Đồng bằng sông Cửu Long - nét sinh hoạt xưa” (NXB Trẻ), ông đưa ra một nhận định giật mình Theo ông, tượng
Bà Chúa Xứ thực ra là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer Pho tượng này bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam Tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại (ảnh) Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m,
Trang 13chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không
có ở địa phương Người Việt từ Bắc di cư vào, đã đưa tượng vào miếu, dùng sơn điểm tô, mặc áo lụa, đeo dây chuyền, và biến pho tượng đàn ông thành đàn bà
Ông Trần Văn Dũng, tác giả cuốn “Lịch sử khai phá vùng đất Châu Đốc 1757 -1857 cũng khẳng định: Tượng Bà Chúa Xứ là tượng nam, ngồi ở tư thế vương giả Phần đầu của tượng không phải nguyên gốc, mà là được chế tác sau bằng loại đá không giống thân tượng Theo sách Kỷ lục AnGiang, 2009, thì tượng Bà là "Pho tượng bằng đá sa thạch xưa nhất Việt Nam", và "Có áo phụng cúng nhiều nhất"
1.3 Kiến trúc:
Không chỉ là một công trình kiến trúc đẹp và tôn nghiêm mà miếu Bà Chúa Xứ còn
là một di tích nổi tiếng ở khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 1.3 Miếu Bà Chúa Xứ
Trang 14Miếu Bà Chúa Xứ tọa lạc dưới chân núi Sam ở thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang Từ lâu, nơi đây đã trở thành điểm du lịch tâm linh nổi tiếng không chỉ ở miền Tây Nam Bộ,
mà ngay cả người Việt ở nước ngoài vẫn biết đến Ban đầu, khoảng năm 1824, miếu Bà Chúa Xứ được làm bằng vật liệu đơn giản, chủ yếu là gỗ Đến năm 1870, ngôi miếu được
xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước, mái lợp ngói âm dương
Hình 1.3 Kiến trúc của ngôi miếu
Gần 100 năm sau, ngôi miếu bị xuống cấp nặng, nên đến năm 1962, ngôi miếu được dân làng sửa chữa lại khang trang, bắt đầu thu hút nhiều người đến viếng Ba năm sau, nhờ
sự đóng góp của các mạnh thường quân, ngôi miếu được xây rộng ra, có nhà khách, xây hàng rào
Trang 15Hình 1.4 Ngôi miếu được xây dựng theo kiểu chữ Quốc
Đến năm 1972, ngôi miếu được làm lại phần lớn, công trình kéo dài đến năm 1976,
và giữ nguyên diện mạo cho tới ngày nay” Kiến trúc của miếu Bà Chúa Xứ có hình chữ
"Quốc", hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp 3 tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng
Các văn hoa ở cổ lầu chánh điện thể hiện đậm nét nghệ thuật Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giang tay đỡ những đầu kèo Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi lộng lẫy Đặc biệt, bức tượng phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ
Trang 16Hình 1.5 Kiến trúc miếu
Hình 1.6 Hình ảnh miếu được thấp đèn vào ban đêm
Trang 17Cũng kể từ năm 1972, pho tượng không còn ở dạng “thô” như đã từng, mà được
“trang điểm” màu sắc, trông như một người đàn bà uy nghiêm mà phúc hậu Trong suốt mấy chục năm chiến tranh, ngôi miếu luôn được dân làng bảo vệ an toàn, bom đạn như cũng “tránh” ngôi miếu và tượng Bà, không bị tàn phá như những vùng lân cận
Hình 1.7 Hình ảnh miếu lúc chưa được cải tạo
Ở thời điểm năm 2009, thì miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam là "ngôi miếu lớn nhất Việt Nam"
1.4 Nghi lễ thờ cúng
Hàng năm, lễ hội “Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” diễn ra từ ngày 23 đến 27-04 âm lịch Hàng vạn người đổ về dự lễ và tham gia các trò vui như: hát bội, múa võ, ca nhạc ngũ âm, múa lân, đánh cờ… Phần lễ có những nghi lễ chính như sau:
Lễ Tắm Bà: Được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24-04 âm lịch Mở đầu lễ, 2 ngọn nến to
được đốt sáng lên trong chánh điện Ông lễ chánh bái nghi cùng với 2 vị bô lão, ban quản
lý miếu niệm hương, dâng rượu và trà Bức màn vải có viền ren lộng lẫy kéo ngang bệ thờ,
Trang 18che khuất khu vực đặt tượng, 9 cô gái trẻ được phân công trước bắt đầu vén màn tắm cho tượng Bà Đầu tiên là cởi mũ, áo, khăn đai từ lớp ngoài vào trong để lộ toàn thân pho tượng Những cô gái được phân công việc tắm Bà lần lượt nhúng từng chiếc khăn mới vào chậu nước thơm, vắt ráo rồi lau tượng nhiều lần Sau đó, họ dùng nước hoa xịt khắp bức tượng rồi chọn bộ đồ mới đẹp nhất khoác lên bức tượng, thắt chặt đai, chít khăn, đội mão, gắn lại những ngọn đèn màu trang trí như cũ Lễ tắm Bà thường kéo dài khoảng một giờ, sau đó bức màn ngăn được kéo lên để cho khách tự do chiêm bái, dâng hương, hoặc xin lộc Bà Phần Lễ Tắm Bà kết thúc…Nước tắm cho Bà còn lại sẽ đem hoà trong 2 thùng nước lớn để phân phát cho du khách trẩy hội
Hình 1.8 Nghi lễ tắm Bà
Lễ Thỉnh sắc: cử hành vào khoảng 16h chiều ngày 25, một đoàn người gồm các bô lão
trong làng quần áo chỉnh tề, tiến từ miếu Bà sang lăng Thoại Ngọc Hầu để thỉnh sắc (thật
ra, đây là lễ rước bài vị, vì sắc đã không còn) Dẫn đầu có đội múa lân, các học trò lễ tay cầm cờ phướn đi hầu phía trước và sau chiếc kiệu sơn son thiếp vàng gọi là long đình Đến điện thờ, ông chánh bái làm lễ niệm hương, rồi thỉnh bài vị đưa lên kiệu trở về miếu Bà Ba chiếc bài vị mang tên Thoại Ngọc Hầu và tên bà vợ chánh Châu Thị Tế, bà vợ thứ Trương Thị Miệt được đặt trên bàn thờ ở chánh điện Bài vị thứ tư mang tên Hội đồng, ghi công lao các quan quân đã theo Thoại Ngọc Hầu xưa kia, được đặt riêng ở bàn thờ phía trước
Trang 19Hình 1.9 Nghi lễ Thỉnh Sắc
Lễ Túc yết: được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26-04 âm lịch, gồm có hai phần: nghi thức
cúng tế và phần xây chầu Lễ vật dâng cúng gồm có: một con heo trắng, một đĩa huyết heo
có kèm theo nhúm lông nhỏ Một mâm trái cây, trầu cau, gạo, muối Sau ba hồi chiêng, trống, nhạc lễ nổi lên, lễ dâng hương, dâng trà bắt đầu Nghi thức cúng tế kết thúc bằng động tác của ông chánh tế đốt bản văn tế cùng giấy vàng bạc
Hình 1.10 Nghi lễ Túc Yết
Trang 20Tiếp theo nghi thức cúng tế là phần xây chầu được tiến hành ở nhà võ ca Sau phần cầu nguyện của ông Chánh bái, xin cho mưa thuận gió hoà, đất đai phì nhiêu, mùa màng bội thu, dân chúng khỏe mạnh, yên vui, các loài quỷ dữ bị tiêu diệt, lễ Xây chầu bắt đầu bằng ba hồi trống lệnh Sau đó, chiêng trống rộ lên, chương trình hát bội bắt đầu
Lễ Chánh tế: Được tổ chức vào tờ mờ sáng ngày 27, gần giống như nghi thức cúng Túc
yết
Lễ Hồi Sắc: Cử hành vào khoảng 15h ngày 27-04, đoàn hành lễ sẽ rước bài vị Thoại
Ngọc Hầu và nhị vị phu nhân từ miếu trở về Sơn Lăng Kết thúc lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam
Hình 1.11 Nghi lễ Hồi Sắc
Từ năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia Ngoài phần Lễ được tổ chức trang trọng theo lối cổ truyền, phần Hội cũng được tổ chức trọng thể hàng năm
Trang 21Hình 1.12 Phần Hội
1.5 Tiểu kết chương 1:
Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam vang danh khắp vùng không chỉ bởi sự tâm linh mà còn
bởi ý nghĩa lịch sử to lớn Từ những di tích vật thể đến những giai thoại được truyền miệng
từ đời này sang đời khác đều gắn với những sự kiện lịch sử hào hùng của dân tộc Hãy đến với Châu Đốc An Giang và ghé thăm miếu Bà để cảm nhận được vẻ đẹp tâm linh và ý nghĩa lịch sử này Các câu chuyện xoay quanh pho tượng bà Chúa Xứ nổi tiếng khắp cả nước, thu hút cả triệu người đến chiêm bái mỗi năm Quả thực, còn nhiều bí ẩn, ly kỳ sự tích về bà Chúa Xứ Dù pho tượng là đàn ông hay đàn bà và nguồn gốc đến từ đâu đi chăng nữa thì trong tâm thức người dân miền tây Nam Bộ, bà Chúa xứ là điểm tựa tâm linh cho rất nhiều người Những giai thoại về bà Chúa Xứ vẫn tiếp tục lưu truyền cho thế hệ mai sau về một nét đẹp văn hóa của dân tộc
Trang 22CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU VỀ NGHỆ THUẬT MÚA BÓNG RỖI
2.1 Lịch sửa ra đời:
Hình 2.1 Múa Rỗi
Múa bóng rỗi được các nhà nghiên cứu cho rằng đây là một loại diễn xướng dân gian mang đậm yếu tố tín ngưỡng trong các lễ cúng Bà của người Việt ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ cùng với người Chăm Loại hình này có nguồn gốc từ múa Pajao Chăm trong lễ thờ nữ thần Mẹ xứ sở- Po Inư Nagar Với điểm xuất phát đó, cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu hay thờ Bà trong quá trình vào Nam và theo quy luật chung của giao lưu văn hóa đã hình thành nên sắc thái múa bóng rỗi của địa phương
Theo các đợt Nam tiến, hát múa Bóng rỗi cũng đã lưu truyền vào các tỉnh cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ Mỗi tọa độ địa lí, các tín lí của tập tục thờ nữ thần cũng như trình thức diễn xướng thực hành nghi lễ của nó đã có những thay đổi đáng kể, song cũng như
Trang 23các dạng thức văn hóa khác, tập tục này vẫn có độ chậm trong tiến trình thay đổi
Hiện nay ở các tỉnh- thành Nam Bộ đều có loại hình diễn xướng bóng rỗi và được xem như một nghề chuyên nghiệp và được thể hiện dưới các yếu tố như: chủ thể sáng tạo, truyền dạy, gìn giữ và diễn xướng được đào tạo cơ bản từ 10 tuổi trở lên; nghề có ông tổ; nghiệp mưu sinh
Xóm Bóng hình thành từ quá trình cộng cư và giao lưu văn hóa Chăm-Việt, cụ thể
là sự tiếp nhận tín ngưỡng và cơ sở thờ tự Pô Inư Nagar Một trong những kết quả của quá trình lịch sử này là đội ngũ Hát Bóng rỗi ở vùng đất này đã được định danh là Xóm Bóng
“Ai về xóm Bóng thăm nhà Hỏi xem điệu múa dâng Bà còn không?”
Trong diễn xướng thì yếu tố tạo nên đạo cụ hỗ trợ rất quan trọng, vì đòi hỏi người hành nghề phải có kinh nghiệm và kỹ năng để cắt dán mâm vàng, mâm bạc hay mâm ngũ sắc; mâm có hình tháp 3 tầng tượng trưng cho Thiên- Địa- Nhân Trong đó mâm ngũ sắc dâng lên Bà Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ); mâm vàng dâng lên Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Ngọc; mâm bạc dâng lên Quan Thánh Đế Quân
2.2 Bài múa:
Múa bóng: Đây là hệ thống các điệu múa được kết hợp với âm nhạc, bao gồm: Múa dâng bông hay còn gọi là dâng hoa cho thần linh Nghệ nhân mang bình hoa hay chén hoa trên tay hoặc đặt trên đầu vững chắc với lòng tôn kính, kết hợp với các động tác đứng, nằm, ngồi tiến dần vào vị trí thờ Bà và múa liên tục 3 lần nên được gọi là tam chập Tuy nhiên,
ở các nơi khác nhau về nội hàm của nghi lễ thì giống nhau nhưng cách thức múa của từng nghệ nhân có thể khác nhau Múa dâng mâm là điệu múa tiêu biểu mang yếu tố tạp kỹ Cho nên nghệ nhân phải vững tay nghề như là phải sử dụng tay, đầu và toàn thân cùng với động
Trang 24tác lật mâm, chuyền mâm, tung mâm, bêu mâm Ý nghĩa của điệu múa này là dâng tháp cho thần linh (Bà):
“Lạy linh Bà ngự chốn miếu trung Cho nữ xứ đáo lai hiến võ”
Hình 2.1 Nghệ nhân trong điệu múa dâng dĩa và hoa
Khi múa hoàn tất các động tác thì nghệ nhân quỳ trước bàn thờ cho người chủ lễ tại nơi diễn đốt tháp trên mâm đến khi cháy hết Bên cạnh 2 điệu múa chính thì còn các điệu múa tạp kỹ khác như: dâng lộc, múa hoa huệ, múa dù, múa lu, múa ghế đẩu, múa dao phay, múa rót rượu, …
Trang 25Hình 2.2 Nghệ nhân múa dao
Hình 2.3 Nghệ nhân trong điệu múa mâm vàng
Trang 26Hình 2.4 Lão niên dâng mâm ngũ sắc
Hình 2.5 Nghệ nhân múa tạp kỹ
Trang 27Đây là những điệu múa mà các nghệ nhân chủ yếu phục vụ cho công chúng nhằm làm phong phú thêm cho nghi lễ cúng Bà Các điệu múa này đòi hỏi người diễn phải đáp ứng các yếu tố về sức mạnh và sự khéo léo Có thể thấy rằng các điệu múa mang tính tạp kỹ xuất phát từ nghi lễ được dân gian hóa dần thành xiếc hóa để xâm nhập vào đời sống văn hóa công chúng
Hình 2.6 Nghệ nhân Lê Minh Hùng trong bài múa tạp kỹ
Hát rỗi: Đây là lối hát phục vụ nghi lễ trong tín ngưỡng thờ cúng Bà (Mẫu) Nội dung chính là ca ngợi các vị thần linh, mời gọi, thông báo cho các vị về chứng giám và cầu xin những điều tốt đẹp cho mọi người:
“Bà Kim sanh bạc, hóa vàng
Bà Thủy sanh nước dẫy đầy biển khơi
Bà Hỏa sanh ngọn lửa hồng
Bà Thổ sanh đất đầy đồng nơi đây
Bà Mộc sanh cội hóa cây Năm Bà năm phép tới đây hợp cùng”
Trang 28(Bài Chầu Năm Bà- người hát Bóng Ba- 76 tuổi, Quận 10- TP Hồ Chí Minh)
Bên cạnh đó, các bài rỗi còn ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên, hiện tượng của cuộc sống, sự giàu sang, …
Hình 2.7 Nghệ nhân Út Son hát rỗi
Tính ngẫu hứng, sự linh hoạt và uyển chuyển trong các bài hát rỗi của người dân Nam Bộ cho ta thấy sự phong phú và đa dạng trong tâm hồn, cũng như một niềm tin tất yếu vào tín ngưỡng thờ Mẫu Trong hát rỗi phải có sự kết hợp hài hòa với âm nhạc làm nền và trống tổ giữ nhịp, cùng các loại nhạc khác hỗ trợ như: trống chiến, đờn cò, đờn sến, đờn kìm, mõ, song loan, chập chõa, guitar, trong đó đờn cò là nhạc cụ chính của diễn xướng bóng rỗi
Âm nhạc trong diễn xướng bóng rỗi mang đậm dấu ấn nhạc lễ truyền thống của Nam
Bộ được sử dụng hơi như: Ai, Xuân, Đảo Đây là một lối tư duy mở của người Nam Bộ Tiết tấu của âm nhạc sẽ thay đổi từ chậm đến nhanh rồi chậm lại và luôn thay đổi, không bao giờ cố định, nhiều nhịp điệu, nhiều hơi nhạc
Trang 29Hình 2.8 Nhạc công
Đây cũng là quan niệm về sự dung hòa quy luật giữa trời và đất, giữa âm và dương Diễn chập: Ngày nay, trong nghi lễ cúng Bà ở một số nơi, múa bóng rỗi đã tạo nên hình thức sân khấu hóa dân gian và được gọi là diễn chập Đây cũng là một trong những kỹ năng ngoài hát rỗi và múa bóng truyền thống
Hình 2.9 Vở diễn chập Địa- Nàng
Trang 302.3 Trang phục- lễ phục:
Là sản phẩm văn hóa của dân tộc, trang phục truyền thống không chỉ là phương tiện
để bảo vệ cơ thể, thích nghi với tự nhiên (như chống rét hay chống nóng) mà với sự phát triển của nó, trang phục còn là biểu thị thái độ văn hóa của mỗi người trước cộng đồng Từ trang phục truyền thống, người ta có thể nhận biết xu hướng, khả năng sáng tạo thẩm mỹ của mỗi cộng đồng văn hóa Ðối với một số dân tộc, trang phục truyền thống còn chuyển tải cả quan niệm về vũ trụ, quan niệm về nhân sinh của cộng đồng văn hóa trong quá khứ
Trang 31thông qua các hoa văn, họa tiết được dệt hay thêu trên váy và áo Một số trang phục còn đi kèm với dấu hiệu phân biệt thứ bậc xã hội của từng người Chính vì tính phức hợp về giá trị, vì nét riêng độc đáo về văn hóa mà trang phục truyền thống đã trở thành loại sản phẩm luôn được coi là niềm tự hào của văn hóa mỗi dân tộc Khi mặc trên người bộ trang phục dân tộc cũng là khi mỗi người tự ý thức về bản sắc văn hóa của nền văn hóa đã làm nên tư cách và diện mạo văn hóa của mình
Trang phục không chỉ làm đẹp cho người mặc mà còn thể hiện sự tôn trọng người nhìn Đặc biệt là trong biểu diễn nghệ thuật thì trang phục còn đóng vai trò quan trọng hơn nữa Trang phục biểu diễn thì phải có những đặc điểm đặc biệt hơn là trang phục bình thường
Kiểu dáng, màu sắcCũng như những loại trang phục thông thường, trang phục biểu diễn cũng cần phải chú trọng đến kiểu dáng, đối với trang phục biểu diễn thì cần thu hút sự chú ý của người xem nên kiểu dáng cần phải được thiết kế cầu kỳ hơn, khác biệt hơn trang phục thường ngày, ngoài ra thì màu sắc cũng cần được chú ý, dưới ánh đèn sâu khấu khi chiếu vào sẽ dễ tạo được hiệu ứng lung linh nổi bật nên các màu sắc được chọn cho một
bộ trang phục biểu diễn đẹp thường là những màu nổi bật như đỏ, cam, hồng, vàng, và được
đính kim tuyến để thêm hiệu ứng lấp lánh Chất liệu và sự thuận tiện Khi biểu diễn trên sân
khấu đặc biệt là đối với những màn trình diễn có nhiều động tác múa hay vũ đạo phức tạp thì sự thuận tiện di chuyển là điều cần được ưu tiên Do đó chất liệu không quá dày, co dãn tốt, mang lại sự dễ dàng cho người biểu diễn trong những bước di chuyển mới là một
bộ trang phục biểu diễn đẹp
Trang 32Hình 2.11 Nghệ nhân Lê Minh Hùng chuẩn bị trang phục
Ở Nam Bộ, hình tượng thờ mẫu khá khác biệt so với miền Bắc và miền Trung Tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ có kế thừa, tiếp thu và sáng tạo Tín ngưỡng thờ mẫu Nam Bộ thể hiện mối quan hệ, giao lưu văn hóa giữa Việt-Khmer, hay giữa Việt-Hoa, Tạo ra một quần thể tín ngưỡng hay một điện thờ đa văn hóa Ta thấy “có hiện tượng tích hợp nhiều lớp văn hóa-tín ngưỡng khác nhau: lớp văn hóa Phù Nam, lớp văn hóa cổ truyền Khmer, lớp văn hóa Chăm và lớp văn hóa Việt
Hình 2.12 Trang điểm trước khi múa
Trang 33Điều này cho thấy rằng tín ngưỡng ở Nam Bộ chịu ảnh hưởng từ nhiều nguồn văn hóa khác nhau, Vì vậy cũng không có nhiều tư liệu về trang phục được sử dụng trong các buổi múa bóng rỗi này, và cũng không để lại được nét đặc trưng trong trang phục bởi sự giao thoa của các nên văn hóa tín ngưỡng khác nhau
Hình 2.13 Nghệ nhân múa bóng
Hình 2.14 Nghệ nhân dân gian Hoàng Tiến Hưng trong giá Hầu
Trang 34Còn ở Bắc Bộ, Là một loại hình tín ngưỡng gắn với đạo thờ Mẫu, thờ Tứ phủ Nghi
lễ hầu đồng đã có xuất xứ từ vùng đồng bằng Bắc Bộ Mặc dù chưa biết chính xác thời điểm xuất hiện nghi lễ hầu đồng những nghi lễ này phát triển mạnh mẽ nhất vào cuối thế
kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 Không chỉ là một tín ngưỡng dân gian, hầu đồng thực sự là một loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo và hấp dẫn Nghệ thuật này có sự tạo thành từ nhiều yếu tố như âm nhạc, cách trình diễn, lời ca và không thể thiếu đó là trang phục
Trong một lễ hầu đồng phải theo tứ tự từ cao đến thấp, từ Thánh Mẫu đến hàng Quan, Chầu, Ông Hoàng…Có tổng cộng 36 giá đồng vì theo quan niệm của người xưa có
36 vị Thánh thường che chở, bảo vệ cho người dân Và 36 giá đồng tương ứng 36 vị Thánh
đó có 36 bộ trang phục khác nhau được sử dụng theo quy định nghiêm ngặt cho từng giá Mặc dù các bộ trang phục này rất phong phú, mỗi địa phương tùy vào văn hóa vùng miền
có thể thay đổi đôi chút nhưng về cơ bản vẫn phải phải tuân theo quy định chặt chẽ về kiểu cách, màu sắc và phục sức đi kèm Có trang phục nữ của các Chầu Bà, Thánh Cô và cũng
có y phục nam của các Quan lớn, Thánh Cậu
Hình 2.15 Trang phục giá Hầu
Trang 35Trước khi hầu đồng, mọi việc phải được chuẩn bị kỹ càng, từ chọn ngày lành, tháng tốt; chọn nơi Đền, Phủ, Điện phù hợp; chọn bốn người hầu dâng; mời con nhang, đệ tử, quan khách, chuẩn bị lễ vật dâng cúng; trang phục, phụ kiện và không kém phần quan trọng
là mời cung văn
Hình 2.16 Nghệ nhân đang Hầu
Mỗi lần thay giá, người hầu dâng lại phủ lên thanh đồng một tấm khăn lụa đỏ, sau
đó bỏ ra và thay bộ trang phục xống áo, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng…
Hình 2.17 Hầu dâng lên khăn
Trang 36Hình 2.18 Trang điểm kỹ càng sau mỗi lần thay giá
Hình 2.19 Trang phục thanh đồng Cô