1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An

710 515 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 710
Dung lượng 5,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từng bước áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học…Phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn d

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Ngô Thanh Băng

TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC

CÓ SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO

SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ: GIÁO DỤC HỌC

Thái Nguyên - Năm 2010

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN THỊ TUYẾT OANH

Thái Nguyên – Năm 2010

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành được luận văn này, em đã nhận được sự dạy dỗ tận tình

của các thầy cô giáo trong khoa Tâm lý – Giáo dục, sự động viên khích lệ của

bạn bè, gia đình và đồng nghiệp Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình, chu đáo,

khoa học của cô giáo PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh

Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới cô giáo

PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh, các thầy cô giáo trong khoa Tâm lý – Giáo

dục, bạn bè, gia đình và các đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Sau đại học trường Đại

học sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian

học tập và nghiên cứu khoa học

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em sinh viên trường

Cao đẳng sư phạm Nghệ An đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2010

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.2.1 Khái niệm học 1.2.2 Tự học

9

13

1.3.2 Các hình thức tự học của SV 1.3.3 Tự học môn GDH của SV CĐSP

19

20 1.4 Sự phát triển của CNTT và các yêu cầu khi vận dụng CNTT vào tự

1.4.2 Một số hình thức ứng dụng CNTT vào tự học môn GDH 25

Trang 3

1.4.3 Khả năng ứng dụng CNTT vào tự học môn GDH 30

CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN GDH

CÓ SỰ HỖ TRỢ CỦA CNTT CHO SV Ở TRƯỜNG CĐSP NGHỆ

3.1.2 Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của thầy với vai

3.2 Các biện pháp tổ chức tự học môn GDH cho sinh viên có sự hỗ trợ

3.2.2 Hướng dẫn tiếp cận các nguồn thông tin phục vụ tự học môn GDH 61

3.3 Thực nghiệm sử dụng trang web GDH để tổ chức tự học môn GDH

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Trang 4

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.5: Ý kiến của SV về nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng tự

Tâm Lý Học đại cương theo tiêu chuẩn giỏi, khá, trung bình,

Tâm Lý Học đại cương theo tiêu chuẩn giỏi, khá, trung bình,

Trang 5

Trang

Bảng 3.10: Đánh giá của SV về hiệu quả của việc tự học bằng trang web GDH 94

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ những năm thuộc thập kỷ 60, giáo dục cũng như các lĩnh vực khác chịu ảnh hưởng lớn lao của sự phát triển máy vi tính Những thành tựu về công nghệ đòi hỏi trường học phải điều chỉnh lại mục tiêu giáo dục để người học có khả năng dấn thân vào môi trường công nghệ thông tin (CNTT) trong tương lai Một điều dễ nhận thấy rằng, CNTT góp phần thay đổi phương pháp

từ truyền thống xem người học là “một cái bình rỗng” được lấp đầy bằng những kiến thức của người dạy, sang hướng đổi mới: người học tự mình khám phá kiến thức dưới sự hướng dẫn của người dạy

Trong quá trình học theo hướng đổi mới này, máy vi tính và các thiết bị hiện đại khác góp phần to lớn trong việc hỗ trợ người học trao đổi ý tưởng, suy nghĩ có phê phán, đào sâu kiến thức để người học trở thành chủ thể của hoạt động học Khi đổi mới phương pháp dạy học, thầy giáo vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng dạy học và chuyển giao tri thức, kỹ năng cho người học Song, để có thể nâng cao trình độ học vấn cho mình, mỗi người học phải chủ động, tích cực, độc lập, tự chủ với sự hỗ trợ đắc lực và đa phương của các yếu tố tạo thành hoạt động dạy học Vì lẽ đó, nhiệm vụ cơ bản của dạy học trong nhà trường không thể chỉ giới hạn ở việc cung cấp một

hệ thống tri thức, kỹ năng tương ứng mà quan trọng hơn là hướng dẫn, tổ chức tự học, hình thành, phát triển khả năng tự học ở người học để họ học tập suốt đời

Trong xã hội hiện đại, các phương tiện dạy học đã có nhiều thay đổi so với trước Với sự phát triển của khoa học- kỹ thuật, các phương tiện kỹ thuật dạy học đã ra đời như: phim ảnh, vô tuyến truyền hình, máy vi tính, các máy dạy học và kiểm tra, thiết bị đa phương tiện…Các thiết bị hiện đại này đã cho phép đưa vào quá trình dạy học những nội dung diễn cảm, hứng thú, làm thay

Trang 6

đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, tạo ra trong quá trình dạy học

một nhịp độ, phong cách và trạng thái tâm lý mới, góp phần quan trọng vào

việc nâng cao năng suất lao động của người thầy và hiệu quả dạy- học

Tuy nhiên, cho đến nay, việc sử dụng phương tiện, đặc biệt là CNTT vào

quá trình dạy học là chưa nhiều CNTT cũng chưa được ứng dụng phổ biến

trong quá trình tự học của sinh viên (SV) Vì vậy chưa phát triển được khả

năng tự học của người học cũng như tiềm năng vốn có của CNTT

Môn giáo dục học (GDH) là môn học vừa có tính khoa học, vừa mang

tính giáo dục và tính nghề nghiệp cao, nội dung môn GDH phản ánh đường

lối, quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển

giáo dục, đào tạo ở nước ta Đồng thời, cùng với xu thế phát triển của xã hội,

môn GDH cũng có sự thay đổi và các yêu cầu đặc thù Vì vậy, việc học tập

môn GDH đòi hỏi SV không chỉ nắm vững hệ thống tri thức mà còn phải rèn

luyện hệ thống kỹ năng nghề nghiệp và tiếp cận thông tin Để đạt được điều

đó, hỏi sinh viên phải có khả năng tự học, tự rèn luyện và cập nhật thông tin

mọi lúc, mọi nơi

Thực tế, việc dạy và học môn GDH ở các trường cao đẳng sư phạm

(CĐSP) vẫn còn nhiều bất cập; phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là thuyết

trình; phương tiện chủ yếu vẫn là phấn, bảng, sách giáo khoa và tài liệu tham

khảo Các phương pháp, phương tiện dạy học đó chưa gây được hứng thú và

chưa phát huy được tính tích cực học tập cho SV Cho nên, việc tạo ra môi

trường dạy- học có sự hỗ trợ của CNTT đối với môn GDH sẽ góp phần khắc

phục được lối truyền thụ một chiều, phát triển được khả năng tự học, tự

nghiên cứu cho SV

Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến vấn đề đổi mới phương

pháp dạy học và sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại trong quá trình dạy

học Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung Ương Đảng

khoá VIII đã chỉ rõ: “…đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học…Phát triển mạnh mẽ phong trào tự học,

tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên…”

Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ “Về đổi mới cơ bản và toàn diện nền giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006- 2020” đã chỉ rõ:

“Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học; phát huy tính chủ động của người học; sử dụng CNTT và truyền thông trong hoạt động dạy và học Khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu trên mạng internet Lựa chọn, sử dụng các chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước”

Trong những năm qua, nhiều hội nghị khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã tìm hiểu vấn đề tự học Song, tổ chức tự học trong môi trường học tập hiện đại, có sự hỗ trợ của CNTT cho SV trường CĐSP Nghệ An thì chưa được nghiên cứu

Mặc dù trong những năm gần đây, đã có nhiều thay đổi về nội dung, về phương pháp và phương tiện kỹ thuật dạy học; Song, những thay đổi đó chưa kích thích được động cơ, hứng thú học tập môn GDH ở SV CĐSP; chưa phát huy được tính tích cực, độc lập, chủ động, trong việc khai thác các phương tiện hỗ trợ học tập, kết quả học tập không cao, kỹ năng tự học chưa thực sự hoàn thiện

Cần tạo ra một môi trường học tập có sự hỗ trợ của CNTT để phát triển khả năng tự học môn GDH, sao cho SV CĐSP được tham gia một cách tích cực, độc lập, sáng tạo vào quá trình lĩnh hội tri thức và kỹ năng, nâng cao chất lượng học tập môn GDH và phát triển được khả năng tự học môn GDH cho

SV CĐSP

Trang 7

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề

tài: “TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC CÓ SỰ HỖ TRỢ CỦA

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO SINH VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ

PHẠM NGHỆ AN.”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng tự học môn GDH của SV hiện

của CNTT nhằm phát huy tính tích cực học tập, góp phần nâng cao chất lượng

và hiệu quả học tập môn GDH ở trường CĐSP nói chung, trường CĐSP Nghệ

An nói riêng

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: quá trình tự học của SV trường CĐSP

- Đối tượng nghiên cứu: Tự học môn GDH và tổ chức tự học môn GDH

có sự hỗ trợ của CNTT cho SV ở trường CĐSP Nghệ An

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, xu hướng đổi mới phương pháp dạy- học đang diễn ra mạnh

mẽ Các phương tiện kỹ thuật hiện đại và CNTT đã và đang đóng góp giá trị

tích cực của nó trong quá trình dạy học và giáo dục Tuy nhiên, việc ứng dụng

CNTT vào quá trình tự học môn GDH của SV còn nhiều hạn chế Nếu xác

định được biện pháp tổ chức tự học môn GDH có sự hỗ trợ của CNTT thì sẽ

phát huy được tính tích cực, nâng cao hứng thú học tập môn GDH cho SV,

nâng cao chất lượng dạy và học môn GDH trong các trường CĐSP nói chung,

trường CĐSP Nghệ An nói riêng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức tự học môn GDH có sự hỗ trợ của CNTT

- Khảo sát thực trạng tự học môn GDH, thực trạng tổ chức tự học môn GDH

có sự hỗ trợ của CNTT cho SV ở trường CĐSP Nghệ An

- Đề xuất biện pháp tổ chức tự học môn GDH có sự hỗ trợ của CNTT cho

SV trường CĐSP Nghệ An và thực nghiệm

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá các tài liệu liên quan đến đề tài

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, quan sát, trò chuyện, nghiên cứu sản phẩm hoạt động, đàm thoại, thực nghiệm khoa học

- Phương pháp thống kê toán học

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Đề tài khảo sát trên SV khoa Xã hội, khoa Tự nhiên và GV tổ Tâm lý – Giáo dục trường CĐSP Nghệ An

- Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu biện pháp xây dựng trang web tự học

để tổ chức tự học môn GDH cho SV trường CĐSP Nghệ An

Trang 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học được quan tâm rất sớm Ý tưởng

dạy học coi trọng người học, chú ý đến người học đã có từ thời cổ đại Tuỳ

theo từng giai đoạn lịch sử và mức độ phát triển của xã hội mà ý tưởng này đã

phát triển và trở thành quan điểm dạy học tiến bộ ngày nay

Thời cổ đại, ở phương Tây, Xocrate (Hy Lạp, 469 - 399 TCN) đã đưa

ra quan niệm rất nổi tiếng: giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính

mình Vận dụng quan điểm đó vào dạy học, ông cho rằng cần phải để cho

người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người học tự phát hiện thấy sai lầm

của mình và tự khắc phục những sai lầm đó Còn Arixtot (384 - 322 TCN)

cho rằng phương pháp dạy học phải nhằm mục đích giúp người học phát hiện

ra “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để người học tự tìm ra kết luận

Khổng Tử (479 - 355 TCN) ở phương Đông dạy theo đối tượng và kích

thích suy nghĩ của học sinh “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở

cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật có 4 góc, bảo cho

biết 1 góc mà không suy ra 3 góc thì không dạy nữa” (Luận ngữ)

Đến thời kỳ Phục Hưng ở Châu Âu, dạy học lấy người học làm trung

tâm đã trở thành một tư tưởng, được nhiều nhà giáo dục vĩ đại coi trọng

Môngtenhơ (1533 - 1592) được coi là một trong những ông tổ sư phạm ở

Châu Âu cho rằng muốn dạy học có hiệu quả, không nên bắt buộc trẻ em phải

làm theo những ý muốn chủ quan của thầy J.A.Komenxki (1592 - 1670) kêu

gọi người thầy phải làm cho học sinh có hứng thú trong học tập, từ đó nỗ lực

bản thân nắm vững tri thức J.J Rousseau (1712 - 1778) yêu cầu người dạy

cần phải hiểu người học và quan tâm đến lợi ích người học Ông nói: “Đừng

cho trẻ em khoa học, mà để trẻ tự phát minh” A.Disterwerg (1780 - 1866): “ Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lý, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý” K.Đ.Usinxki (1824 - 1873) cho rằng muốn dạy học tốt cần hiểu biết

tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh Fourrier(1772) rất coi trọng việc dạy học với thực tế J.Dewey (1858 - 1952) chủ trương giáo dục phải dựa vào kinh nghiệm thực tế của trẻ Việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để trẻ độc lập tìm tòi, thầy giáo là người tổ chức, người thiết kế, ngưòi cố vấn

Ở Liên Xô (cũ) nhiều tài liệu về vấn đề tự học và tự đọc sách được xuất bản Chẳng hạn: N.A.Rubakin có nhiều tài liệu chuyên bàn về vấn đề tự học như: “Tự học như thế nào” (Nước Nga Xô Viết, M.1962, NXB Thanh niên,

Hà Nội, 1982), “Tâm lý người đọc sách” (Nhà nước, M.1992)… A.A Goroxepxky và M.I.Liubixnuna (Đại học tổng hợp Lêningrat) trong “Tổ chức công tác tự học của SV Đại học” đã tổng kết kinh nghiệm cá nhân trong công tác dạy học ở trường Đại học và đưa ra một số đề nghị về cách học có hiệu quả của sinh viên

Cuối thế kỷ XX, ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kỹ thuật, đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ, phần lớn các tác giả nghiên cứu tự học theo hai hướng chính: hướng thứ nhất, nghiên cứu áp dụng công nghệ dạy học nhằm thay đổi vị trí của thầy và trò trong quá trình dạy học, từ chuyên gia về việc dạy, GV phải trở thành chuyên gia về việc học cho học sinh Hướng thứ hai, theo hướng dạy học phân hoá Dạy học tiến hành theo nhịp độ cá nhân người học để đạt tới năng suất và hiệu quả cao nhất trong việc học

Từ năm 1994, khi công nghệ web được phát minh, các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiến cách dạy học bằng công nghệ này Người thầy thông thái đã dần dần lộ rõ ra qua các phương tiện: e-mail (thư điện tử), qua Internet với văn bản và hình ảnh đơn giản Đào tạo

Trang 9

bằng công nghệ web với các hình ảnh chuyển động tốc độ thấp đã được triển

khai trên diện rộng

Tại Mỹ, năm 2000 có gần 47% các trường Đại học, Cao đẳng đã đưa ra

các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên các khoá học trực

tuyến Cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường Đại hoc, Cao đẳng đưa ra

mô hình e-learning Số người tham gia học tăng 33% hằng năm trong khoảng

thời gian 1999 - 2004

Ở Châu Á, những nước nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc,

Singapore đều ứng dụng CNTT trong dạy - học ở mức độ cao Nhiều cuốn

sách viết về ứng dụng của CNTT được nhiều người quan tâm và áp dụng

Tóm lại, qua nghiên cứu các tư tưởng bàn về tự học và ứng dụng CNTT

trong tự học của các tác giả trên thế giới, chúng tôi có nhận xét: tự học là cần

thiết đối với tất cả mọi người, vấn đề tự học và ứng dụng CNTT trong dạy -

học được các tác giả trên thế giới quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau,

nhưng đều nhằm mục đích là tìm hướng đi để nâng cao hiệu quả dạy và học

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, vấn đề tự học đã có từ xa xưa.Thời phong kiến, thầy đồ

dạy học thường kèm cặp một nhóm học gồm nhiều đối tượng có trình độ khác

nhau Các thầy phải chú ý trình độ, đặc điểm tính cách từng đối tượng và có

biện pháp dạy thích hợp Người học tự học thông qua hình thức có thầy trực

tiếp hoặc gián tiếp

Trải qua các thời kỳ, vấn đề dạy tự học, tổ chức hoạt động tự học nhằm

phát huy tính tích cực, chủ động của người học rất được sự quan tâm của

nhiều tác giả như: tự học là một hoạt động độc lập diễn ra không hoặc ít có sự

điều khiển của thầy (Nguyễn Cảnh Toàn) Tự học là hoạt động tích cực, chủ

động, tự giác của người học dưới vai trò chủ đạo (tổ chức, hướng dẫn, điều

khiển) của thầy (các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn

Ngọc Bảo, Nguyễn Thị Tính…) Hướng thứ ba nghiên cứu tự học như là một hình thức tổ chức ngoài giờ lên lớp, phối hợp với các hình thức tổ chức dạy học khác (Phạm Hồng Quang và một số luận văn thạc sĩ khác)

Khi trình độ xã hội ngày càng phát triển, xã hội thông tin buộc mỗi cá nhân phải luôn thích ứng nhanh với cuộc sống đầy biến động Vì vậy, CNTT ngày càng được ứng dụng nhiều trong dạy và học Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng của CNTT trong tự học như:

Tác giả Lê Thị Thu Hiền với luận văn thạc sĩ “Xây dựng trang web hỗ trợ dạy học một số kiến thức trong chương “Từ trường”, Vật lý 11 thí điểm, ĐHSPHN 2004 Trong đề tài, tác giả đã sử dụng một số phần mềm thông dụng như Pront Page, Express, Winword 97, cùng một số công cụ xây dựng video clip để xây dựng trang web dạy học một số nội dung trong chương “Từ trường”, Vật lý 11 và cho kết quả tốt

Nguyễn Thị Thanh Trà với đề tài: “Sử dụng hình thức e-learning để hướng dẫn tự học môn GDH cho SV trường ĐHSP Hà Nội” Trong đề tài này tác giả đã sử dụng phần mềm Moodle để xây dựng trang web môn GDH và đã đem lại hiệu quả cao, giúp SV nâng cao chất lượng tư học môn GDH [27] Ngoài ra còn có một số tác giả khác cũng nghiên cứu ứng dụng của CNTT trong dạy học như Nguyễn Thị Thanh Hồng với đề tài: “ Xây dựng phần mềm hướng dẫn tự học môn GDH cho SV ĐHSP Hà Nội” [13]

Như vậy, vấn đề tự học và ứng dụng CNTT trong tự học được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở các hướng khác nhau Trong đề tài này, chúng tôi tập trung đi sâu khai thác biện pháp tổ chức tự học môn GDH có sự hỗ trợ của CNTT cho SV ở trường CĐSP

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.2.1 Khái niệm học

Theo quan điểm của các nhà giáo dục học, học là quá trình tự giác, tích

Trang 10

cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, dưới sự điều khiển sư phạm của

thầy Học là hoạt động có đối tượng, trong đó người học là chủ thể, khái niệm

khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh

Học về bản chất là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao

tác trí tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân, từ đó có được tri

thức, kỹ năng, thái độ mới [17, tr.65-66]

Trong “Giải thích thuật ngữ tâm lý- giáo dục học” có từ sự học, học tập:

- Theo nghĩa rộng thông thường, được hiểu: sự học nghề, sự học việc

Hoặc nghĩa: sự rèn luyện

- Trong giáo dục, đó là sự học (học tập): toàn bộ hoạt động làm cho

người học đạt được hay đi sâu vào kiến thức, hay phát triển tập tính

- Đối với Tâm lý học, sự học là một chức năng trong đời sống động vật

Tất cả các động vật đều có khả năng học, theo công thức chung: “Học là sự

biến đổi tập tính” [5, tr.36]

- Theo Nguyễn Kỳ, “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội

tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị

của mình bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri

thức bên trong con người mình” [25]

- Phan Trọng Ngọ cho rằng: “học là quá trình tương tác giữa cá thể với

môi trường, kết quả là dẫn đến sự biến đổi về mặt nhận thức, thái độ, hay

hành vi của cá thể đó” [20, tr.15] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm

rằng: “học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học

dưới sự điều khiển sư phạm của GV” [29, tr.57]

Nhìn chung, mỗi tác giả khi nghiên cứu về sự học (hoạt động học) đều

có những lập luận và cách lý giải khác nhau, điều đó phụ thuộc vào mục đích,

hướng nghiên cứu chuyên sâu của mỗi tác giả Nhưng tất cả đều đề cập đến

tính ý thức, tính chủ định của hoạt động học tập Dù học được tiến hành bằng

bất cứ hình thức nào: trực tiếp mặt đối mặt với thầy, học ở nhà, học với sách giáo khoa, học từ xa, trực tuyến…thì bản thân người học cũng phải tập trung chú ý, tích cực, chủ động, tự mình tìm kiếm xử lý thông tin nhằm đem đến sự thay đổi về mặt nhận thức, thái độ, hành vi, nhờ đó mà nhân cách ngày càng phát triển Như vậy, hoạt động học đã bao hàm nghĩa tự học

Từ những quan niệm trên, chúng tôi khái quát khái niệm về học tập như

sau: học là quá trình người học tích cực, chủ động, tác động qua lại với môi truờng xung quanh nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo

và thế giới quan khoa học cho bản thân

* Đặc điểm của hoạt động học

Bản chất của hoạt động học tập hay tự học được thể hiện qua những đặc điểm cơ bản sau:

- Đối tượng của hoạt động học là tri thức

Đó là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo được lựa chọn phù hợp với nội dung môn học Cái đích (mục đích) mà người học hướng tới là chiếm lĩnh tri thức thông qua sự tái tạo của cá nhân Vì vậy hoạt động học còn được gọi

là “hoạt động chiếm lĩnh” [10, tr.55]

- Học là một loại hình lao động đặc biệt mang tính độc đáo

Tính độc đáo thể hiện ở chỗ mục đích học là thay đổi chính mình, hình thành năng lực nghề nghiệp và hoàn thiện bản thân Những lao động khác làm thay đổi đối tượng lao động nhưng lao động học không làm biến đổi đối tượng là tri thức, mà ngược lại nó làm thay đổi chính chủ thể

- Học là quá trình chủ thể học một cách độc lập, tự giác, tích cực trong quá trình nhận thức

Trong mọi tình huống học tập, đòi hỏi người học phải tích cực trong quá trình nhận thức Người học càng tự lực tập trung cao về các chức năng tâm lý, về

cơ bắp, huy động toàn bộ kinh nghiệm cá nhân để học trong lĩnh vực nào càng

Trang 11

nắm vững kiến thức, kỹ năng, phương pháp học trong lĩnh vực đó

- Học tập không những tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn

hướng vào việc tiếp thu về cách thức tổ chức hoạt động học, hay nói cách

khác là học cách học

Học cách học có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình học tập, hình

thành năng lực nghề nghiệp đồng thời đó là một trong những con đường cơ

bản giúp người học không ngừng bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp

- Hoạt động học bao giờ cũng mang cái mới đến cho người học

Các kiến thức học sinh có được trong hoạt động học không là mới đối với

khoa học nhưng là mới đối với bản thân Các kỹ năng, phương pháp học sinh

tiếp thu được không là mới đối với các nhà sư phạm nhưng là mới đối với học

sinh Nhờ có cái mới đó mà học sinh luôn cảm thấy hứng thú trong học tập

- Nhu cầu, động cơ học tập được người học tiếp nhận trở thành động

lực thúc đẩy hoạt động học “Động cơ là động lực kích thích trực tiếp, là

nguyên nhân trực tiếp của hành vi” [33, tr.206] Trong hoạt động học tập

động cơ là yếu tố cơ bản thúc đẩy sự nỗ lực học tập của học sinh Trong quá

trình học tập, người học có thể chi phối bởi nhiều động cơ khác nhau Mức độ

tích cực của người học chịu sự chi phối bởi động cơ chủ đạo

- Nhiệm vụ học “là đơn vị (tế bào)” của hoạt động học tập

Nhiệm vụ học tập có thể hiểu là những việc làm mà người học đề ra

cho mình phải thực hiện để lĩnh hội hệ thống tri thức theo yêu cầu của từng

môn học để đạt được mục đích học tập

- Hành động học là bộ phận cấu thành của hoạt động học, được thúc

đẩy bởi động cơ của hoạt động và tương ứng với mục đích học tập Hành

động luôn hướng vào để giải quyết một mục tiêu cụ thể nào đó Nhờ hành

động học mà người học giải quyết được nhiệm vụ học

- Hoạt động học luôn mang tính sáng tạo

Trong quá trình học, người học luôn luôn có sự lựa chọn, nhận xét, phê phán, kết hợp tính mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo của tư duy từ đó có cách học, cách vận dụng theo suy nghĩ của mình Đó là mầm mống của sự phát triển tư duy sáng tạo của người học

Tóm lại, hoạt động học bao giờ cũng bao hàm nghĩa tự học và có mục đích, có đối tượng, có phương pháp học cụ thể Về bản chất, đây là hoạt động không chỉ giúp người học lĩnh hội hệ thống tri thức xã hội mà sâu xa hơn là giúp người học “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”

1.2.2 Tự học

Có nhiều quan niệm khác nhau về tự học:

Nghiên cứu tự học với tư cách là một hình thức tổ chức dạy học ở Đại học được Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức [11], Lưu Xuân Mới [17]… bàn đến

Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức định nghĩa: “Tự học là hình thức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thức hoạt động cơ bản của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thứcvà kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định”

Nghiên cứu tự học như là một hoạt động nhận thức của SV, T.Makiguchi đã chỉ rõ bản chất tự học của SV là hoạt động nhận thức bằng hành động tìm tòi, nghiên cứu, khám phá [23]

Nghiên cứu tự học như là hoạt động tự giác, tích cực của SV dưới vai

trò điều khiển của GV, tác giả Lê Khánh Bằng định nghĩa: “Tự học là học với

sự tự giác, tích cực, độc lập cao” [3] Đồng tình với quan niệm này có các tác

giả như: Trịnh Quang Từ, Nguyễn Ngọc Bảo, Võ Quang Phúc, Nguyễn Thị Tính,…

Dưới góc độ nghiên cứu hoạt động tự học như là hoạt động nghiên cứu,

với sự giúp đỡ gián tiếp của GV, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự

Trang 12

học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so

sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ),

cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan,

thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, ý chí tiến thủ, không ngại

khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học…) để chiếm lĩnh một

lĩnh vực nào đó” [26, tr.59-60] Theo tác giả PhạmViết Vượng: “Tự học là

hình thức học sinh học ngoài giờ lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch

học tập chung và không có mặt trực tiếp của giáo viên”[35, tr.133]

Dựa vào định nghĩa của các tác giả nêu trên, chúng tôi rút ra nhận xét

như sau: tự học là một bộ phận, một thành phần của học Học bao giờ cũng

bao gồm tự học, nhưng không phải bất cứ sự học nào cũng có tự học Chỉ khi

người học học với sự độc lập và tự lực cao khi đó tự học mới xảy ra Tính

chất cơ bản quan trọng không thể thiếu của tự học là sự tự giác, tích cực, độc

lập và sáng tạo của người học trong hoạt động học tập Tự học được diễn ra

trong lớp hoặc ngoài lớp, có hoặc không có sự can thiệp trực tiếp của GV

Từ những phân tích trên đây, theo chúng tôi, tự học là một bộ phận

của học, trong đó sinh viên huy động ở mức cao nhất tiềm năng trí tuệ, vốn

sống, tình cảm và ý chí của mình để lĩnh hội một cách tự lực tri thức, kỹ

năng, kỹ xảo và hoàn thiện nhân cách dưới sự hướng dẫn hoặc không có

sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên

Từ khái niệm về tự học, chúng ta có thể hiểu tự học môn GDH là quá

trình người học tích cực, chủ động, tự tổ chức hoạt động nhận thức của

mình nhằm chiếm lĩnh nội dung tri thức GDH, hình thành những kỹ năng,

kỹ xảo nghề nghiệp tương ứng, dưới sự hướng dẫn hoặc không có sự

hướng dẫn trực tiếp của giảng viên

Muốn học tốt môn GDH, sinh viên phải biết vận dụng mọi hình thức để

tự học, bản thân người học phải có sự nỗ lực, tích cực, độc lập, luôn so sánh,

đối chiếu giữa lí luận và thực tiễn để nắm vững, hiểu sâu tri thức môn học Bên cạch đó, người học cần lựa chọn phương pháp học tập khoa học, hợp lí

để đạt hiệu quả cao trong học tập

1.2.3 Tổ chức tự học

Để nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của SV, một yêu cầu tất yếu đặt

ra là hoạt động tự học cần phải được sắp xếp và tổ chức một cách khoa học Nói cách khác, người thầy giáo cần quan tâm đến việc tổ chức hoạt động tự

học cho SV

Tổ chức là một công việc bao gồm sự sắp xếp, thiết kế các biện pháp tiến hành hoạt động, là việc sử dụng các đối tượng và các phương tiện hỗ trợ nhằm đạt được mục tiêu đề ra Đây là công việc có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động

Trong dạy học, có nhiều quan niệm khác nhau: I.P.RaTrencô cho rằng:

“Tổ chức quá trình dạy học là quá trình thực hiện những biện pháp có cơ sở khoa học nhằm đảm bảo hiệu suất cao nhất của quá trình dạy học với điều kiện sử dụng hợp lý thời gian, sức lực, phương tiện của GV và học sinh.”

[16] Còn theo V.B.Bololêpov thì tổ chức là một sự sắp xếp tương hỗ và liên

hệ qua lại của các yếu tố trong một phức hợp nào đó, tổ chức không phải là nội dung của hoạt động mà là hình thức, phương pháp thực hiện và hành động của nó

Như vậy, tổ chức dạy học là sự sắp xếp các thao tác, các hành động dạy học Còn tổ chức hoạt động học tập cho học sinh là cách thiết kế, sắp xếp các biện pháp hoạt động phối hợp chung giữa GV và học sinh trong các hình thức học tập khác nhau nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập Vận dụng những quan điểm nêu trên vào việc tổ chức tự học cho SV

chúng tôi cho rằng: tổ chức tự học cho SV là quá trình thiết kế, sắp xếp quy trình tổ chức giảng dạy của GV nhằm tiến hành hướng dẫn, điều kiển, chỉ

Trang 13

đạo cách tự thiết kế, tự sắp xếp quy trình tự học, tự nghiên cứu của SV để

thực hiện các mục đích, nhiệm vụ học tập đề ra

Bản chất của việc tổ chức tự học cho SV là quá trình GV sắp xếp và

tiến hành các biện pháp dạy học sao cho phát huy được tính tích cực, tự giác

của người học mức độ cao nhất trong mọi hình thức học tập dưới sự hỗ trợ

của các phương tiện dạy học

Từ khái niệm về tổ chức tự học cho SV, chúng ta có thể hiểu: tổ chức

tự học môn GDH cho SV là quá trình thiết kế, sắp xếp quy trình tổ chức

giảng dạy môn GDH của GV nhằm tiến hành hướng dẫn, điều kiển, chỉ

đạo cách tự thiết kế, tự sắp xếp quy trình tự học, tự nghiên cứu môn GDH

của SV để thực hiện các mục đích, nhiệm vụ học tập đề ra

Tổ chức tự học môn GDH cho SV nhằm biến quá trình dạy học môn

GDH thành quá trình tự học môn GDH, nâng cao hiệu quả của việc dạy và

học môn GDH, thực hiện đầy đủ, có chất lượng, đạt tới mục đích, yêu cầu của

môn GDH trong các trường CĐSP Muốn làm được điều đó cần tiến hành tổ

chức tự học bằng các phương pháp, dưới nhiều hình thức khác nhau, kết hợp

sự hỗ trợ của các phương tiện và kỹ thuật dạy học hiện đại như máy tính,

mạng Internet,…

1.2.4 Công nghệ thông tin

CNTT, (tiếng Anh: Information Technology, viết tắt là IT) là ngành

ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt trong các cơ quan tổ

chức lớn

Cụ thể, CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để

chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin

Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị

quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của chính phủ Việt

Nam, như sau: "CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện

và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người

và xã hội"

Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác

Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng thông rộng tới tất cả các trường học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành hiện thực

Như vậy, theo chúng tôi, CNTT là hệ thống các phuơng tiện và công

cụ kỹ thuật hiện đại phục vụ cho việc tìm kiếm, khai thác và xử lý thông tin trong mọi lĩnh vực cuộc sống

Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu: tổ chức tự học môn GDH

có sự hỗ trợ của CNTT cho SV là quá trình thiết kế, sắp xếp quy trình tổ chức giảng dạy môn GDH của GV có sử dụng hệ thống các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại nhằm hướng dẫn, điều kiển, chỉ đạo quy trình tự học, tự nghiên cứu môn GDH của SV để thực hiện các mục đích, nhiệm vụ học tập đề ra

Trong thời đại CNTT phát triển như hiện nay, việc ứng dụng những thành tựu của CNTT vào giảng dạy và học tập môn GDH được coi là một hướng đi mới mẻ, hứa hẹn nhiều hiệu quả tích cực Người thầy có thể tự thiết

kế hoặc vận dụng những phần mềm có sẵn để xây dựng các trang web học tập nhằm giúp cho người học có thể tự học, tự ôn tập môn GDH một cách liên tục, thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi Với cách làm này, việc dạy – học môn GDH sẽ được cải tiến, đổi mới theo đúng xu thế phát triển của thời đại

1.3 Hoạt động tự học môn GDH của SV CĐSP

Trang 14

1.3.1 Đặc điểm hoạt động tự học của SV

Hoạt động học tập – tự học của SV có những đặc điểm của hoạt động

học tập nói chung và mang đặc trưng riêng, thể hiện sự độc đáo như sau:

- Có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động SV học tập để

tiếp thu tri thức khoa học, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp,

phát triển những phẩm chất nhân cách của người chuyên gia tương lai

- Hoạt động học tập diễn ra trong điều kiện có kế hoạch, vì nó phụ

thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn đào tạo

- Phương tiện hoạt động là thư viện với sách vở, phòng thực nghiệm

với thiết bị của bộ môn và các điều kiện cơ sở vật chất khác

- Tâm lý diễn ra trong hoạt động học tập của SV với nhịp độ căng thẳng

mạnh mẽ về trí tuệ Họ phải chịu một sự quá tải và điều đó thể hiện rất rõ

trong các kỳ kiểm tra, thi, bảo vệ khoá luận, luận văn

- Hoạt động học tập của SV mang tính độc lập, tính trí tuệ cao

Cốt lõi của hoạt động học tập của SV là sự tự ý thức về học tập của họ -

tự ý thức về động cơ, mục đích, biện pháp học tập, hiểu sâu sắc rằng chính

mình là chủ thể của hoạt động nên bản thân phải là người tổ chức, định

hướng, cụ thể hoá quá trình học tập

Trong số các hoạt động của SV thì hoạt động học tập giữ vai trò chủ

đạo, nghĩa là chính trong quá trình hoạt động đó mà các mục đích cơ bản của

việc đào tạo người chuyên gia được thực hiện Hoạt động này ảnh hưởng sâu

sắc nhất đến sự phát triển các quá trình và các thuộc tính tâm lý của SV, đến

sự lĩnh hội tri thức khoa học, các thông tin, các kỹ năng và kỹ xảo nghề

nghiệp rất quan trọng của họ

- Tự học có sự hướng dẫn của thầy nhưng không giáp mặt: Tự học có hướng dẫn, ngoài tính tự chủ của người học cần có những tác động khách quan mang tính định hướng, chỉ dẫn để việc học tập mang lại kết quả cao (các bài giảng trực tuyến, bài học trong các tài liệu hướng dẫn của thầy…) Trong hình thức tự học này, đòi hỏi người học phải có tính tự giác và tính tích cực cao Hiệu quả của hoạt động học tập ở hình thức này phụ thuộc vào vai trò của người hướng dẫn và vai trò tích cực chủ động hoàn thành các nhiệm

vụ học tập của người học Đây là hướng mà đề tài chúng tôi tập trung nghiên cứu thông qua việc trao đổi với sinh viên trên trang web học tập

- Tự học có sự hướng dẫn, chỉ đạo, điều khiển trực tiếp của thầy: với hình thức này, người học có nhiều thuận lợi hơn so với hai hình thức tự học trên Kết quả tự học của người học trong hình thức này phụ thuộc vào mối quan

hệ thống nhất biện chứng giữa người dạy và người học, trong đó sự hướng dẫn

tổ chức và chỉ đạo của thầy đóng vai trò quan trọng Yếu tố đóng vai trò quyết định là tính tích cực, tính tự giác, năng lực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động

tự học của người học.Vì vậy nhiệm vụ quan trọng của người thầy trong hình thức tự học này là phải phát huy được tính tích cực, tính tự giác, tính độc lập hoàn thành nhiệm vụ học tập của SV, hình thành phương pháp tự học cho họ để

họ có khả năng tự học và giải quyết các nhiệm vụ học tập

Như vậy, bản chất của tự học là quá trình người học cá nhân hoá việc học nhằm thoả mãn nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hành động học tập

Trang 15

để thực hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập đề ra Hay nói một

cách khác là tự học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao

1.3.3 Tự học môn GDH của SV CĐSP

1.3.3.1 Đặc điểm môn GDH ở trường CĐSP

Môn GDH là môn khoa học ứng dụng có tính nghề nghiệp cao Nhiệm

vụ của môn GDH là trang bị cho SV trường CĐSP hệ thống những tri thức

hiểu biết về nghề nghiệp, giúp SV nắm vững các nguyên lý cơ bản của GDH

Mác xít, đường lối quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước, đồng thời nắm

vững hệ thống lý luận giáo dục và dạy học trong nhà trường phổ thông Trên

cơ sở giúp người học tiếp thu hệ thống tri thức nêu trên, môn GDH còn hình

thành ở người học hệ thống kỹ năng sư phạm và hệ thống thái độ tích cực để

tổ chức có hiệu quả các hoạt động giáo dục và dạy học trong nhà trường phổ

thông

GDH có đặc trưng vừa là khoa học xã hội, vừa là khoa học nghiệp vụ

Vì thế GDH không chỉ trang bị cho người học tri thức về quá trình dạy học,

quá trình giáo dục trong nhà trường mà còn nghiên cứu quá trình giáo dục con

người, liên quan đến nhiều môn học khác

GDH là môn học vừa mang tính lý luận, lại vừa có tính thực tiễn cao

Môn học này có hệ thống khái niệm trừu tượng, nhưng biểu hiện trong thực tế

lại rất sinh động và gần gũi với SV Vì vậy, việc học môn GDH không chỉ

đơn thuần là việc nắm vững quan điểm, đường lối, khái niệm, quy luật, … mà

đòi hỏi người học phải có hiểu biết nhất định về xã hội, về tình hình giáo dục

của đất nước và trên thế giới và đặc biệt phải biết vận dụng tri thức vào thực

tế Có như vậy mới đảm bảo có kết quả học tập cao

Môn GDH có nội dung thường xuyên thay đổi theo quan điểm

chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, song nó lại có quan hệ chặt chẽ với phương

pháp giảng dạy bộ môn theo các chuyên ngành đào tạo Trong những năm qua

bộ môn GDH đã có nhiều đổi mới cả về nội dung và phương pháp đào tạo, luôn luôn đáp ứng được những yêu cầu có tính chất nghiệp vụ sư phạm của nghề nghiệp Khối lượng kiến thức của các học phần môn GDH rất lớn, mang tính lý luận cao, đòi hỏi SV phải có khả năng lựa chọn các phương pháp, phương tiện, hình thức học tập,…kết hợp với tự học, tự nghiên cứu thì mới lĩnh hội được nội dung môn GDH

1.3.3.2 Cấu trúc của hoạt động tự học môn GDH

Tự học môn GDH là một quá trình gồm nhiều thành tố cấu trúc, giữa các thành tố cấu trúc đó có mối quan hệ mật thiết với nhau:

- Mục đích, nhiệm vụ tự học môn GDH là nhằm giúp cho người học nắm vững hệ thống các quan điểm, đường lối giáo dục của chủ nghĩa Mác, của Đảng và Nhà nước, nắm vững hệ thống lý luận về giáo dục và dạy học, về công tác quản lý trường học Đồng thời hình thành ở họ một hệ thống kỹ năng

và thái độ nghề nghiệp tương ứng

- Nội dung tự học là thành tố cơ bản tạo nên nội dung hoạt động của chủ thể tự học, thông qua nội dung tự học mà chủ thể tự học cá nhân hoá việc học của mình Nội dung tự học môn GDH gồm các thành phần sau:

+ Hệ thống tri thức lý luận về nghề dạy học, về tổ chức và chỉ đạo các hoạt động giáo dục và quản lý trường học

+ Hệ thống những kỹ năng sư phạm, gồm kỹ năng dạy học, kỹ năng giáo dục, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức các hoạt động xã hội, kỹ năng nghiên cứu khoa học, vv…

+ Hệ thống những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghề nghiệp

+ Hệ thống những chuẩn mực về phẩn chất và thái độ cần thiết của người thầy giáo

Trang 16

- Phương pháp tự học môn GDH là cách thức tiến hành các thao tác,

các hành động nhằm chiếm lĩnh nội dung tự học môn GDH một cách có hiệu

quả Phương pháp tự học môn GDH bao gồm phương pháp nghe và ghi bài

trên lớp, phương pháp đọc sách và nghiên cứu tài liệu, phương pháp hợp tác

để chiếm lĩnh nội dung tự học từ nhiều kênh thông tin khác nhau, phương

pháp giải các bài tập tình huống, phương pháp rèn luyện kỹ năng sư phạm,

phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, phương pháp mô hình hoá,

phương pháp tự kiểm tra, tự đánh giá, vv… Phương pháp tự học có thể bao

gồm nhiều biện pháp tự học khác nhau: các biện pháp ghi chép, các biện pháp

so sánh, phân tích, tổng hợp, các biện pháp xử lý tình huống vv…

- Phương tiện tự học gồm tài liệu, giáo trình, máy tính, địa điểm tự học,

các hoạt động có thể để tiến hành tự học Phương pháp và phương tiện tự học

đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình tự học môn GDH của SV, nó

là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của quá trình tự học môn GDH

- Người học, tính tích cực tự học của người học là nhân tố quyết định

hiệu quả của quá trình tự học môn GDH Tính tích cực học tập môn GDH gồm

những thành tố cơ bản sau: hoạt động nhận thức để chiếm lĩnh nội dung tri

thức, kỹ năng, thái độ mà môn học đề ra; hoạt động giao tiếp trong môi trường

lớp học; hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; hoạt động giao lưu tình cảm;

hoạt động giao lưu trong học tập vv…và tiền đề của nó là tính tích cực sinh

học Tính tích cực tự học môn GDH được hợp bởi hai mặt luôn luôn gắn liền

với nhau trong bản thân chủ thể tự học, đó là: năng lực học tập, những tri thức,

kỹ năng để tiến hành hoạt động học tập, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư

phạm và động cơ học tập - đối tượng hoặc những đối tượng bên ngoài được

chủ thể hoá trong cấu trúc tình cảm, nhu cầu, ý chí, lý trí, hứng thú bên trong cá

nhân người học, tức là cá nhân người học nhận thấy mục tiêu của mình sau

những đối tượng này Như vậy, tính tích cực tự học có thể xuất hiện từ những

tác động bên ngoài (tác động của giáo viên, của bạn, của mục đích, nội dung môn học…) và cũng có thể xuất hiện từ bên trong chủ thể tự học

- Người thầy trong quá trình tự học của SV là nhân tố giữ vị trí, vai trò quan trọng, là điều kiện cần và đủ để hoạt động tự học đạt hiệu quả cao Thầy giáo đóng vai trò là người tổ chức, người điều khiển, người hướng dẫn các biện pháp tự tổ chức, tự điều khiển, tự thực hiện của SV Là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động tự học của SV

1.4 Sự phát triển của CNTT và các yêu cầu khi vận dụng CNTT vào

Một máy tính được gọi là tự hoạt (autonomous) nếu nó có thể khởi động, vận hành các phần mềm đã cài đặt và tắt máy mà không cần phải có sự điều khiển hay chi phối bởi một máy tính khác

Các thành phần của mạng có thể bao gồm:

• Các hệ thống đầu cuối (end system) kết nối với nhau tạo thành mạng,

có thể là các máy tính hoặc các thiết bị khác Nói chung hiện nay ngày càng nhiều các loại thiết bị có khả năng kết nối vào mạng máy tính như điện thoại

Trang 17

• Giao thức truyền thông (protocol) là các quy tắc quy định cách trao

đổi dữ liệu giữa các thực thể

* Lịch sử mạng máy tính:

Máy tính của thập niên 1940 là các thiết bị cơ - điện tử lớn và rất dễ

hỏng Sự phát minh ra transitor bán dẫn vào năm 1947 tạo ra cơ hội để làm ra

chiếc máy tính nhỏ và đáng tin cậy hơn

Năm 1950, các máy tính lớn mainframe chạy bởi các chương trình ghi

trên thẻ đục lỗ (punched card) bắt đầu được dùng trong các học viện lớn Điều

này tuy tạo nhiều thuận lợi với máy tính có khả năng được lập trình nhưng

cũng có rất nhiều khó khăn trong việc tạo ra các chương trình dựa trên thẻ đục

lỗ này

Vào cuối thập niên 1950, người ta phát minh ra mạch tích hợp (IC)

chứa nhiều transitor trên một mẫu bán dẫn nhỏ, tạo ra một bước nhảy vọt

trong việc chế tạo các máy tính mạnh hơn, nhanh hơn và nhỏ hơn Đến nay,

IC có thể chứa hàng triệu transistor trên một mạch

Vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, các máy tính nhỏ được

gọi là minicomputer bắt đầu xuất hiện

Năm 1977, công ty máy tính Apple Computer giới thiệu máy vi tính

cũng được gọi là máy tính cá nhân (personal computer - PC)

Năm 1981, IBM đưa ra máy tính cá nhân đầu tiên Sự thu nhỏ ngày

càng tinh vi hơn của các IC đưa đến việc sử dụng rộng rãi máy tính cá nhân

tại nhà và trong kinh doanh

Vào giữa thập niên 1980, người sử dụng dùng các máy tính độc lập bắt

đầu chia sẻ các tập tin bằng cách dùng modem kết nối với các máy tính khác

Cách thức này được gọi là điểm nối điểm, hay truyền theo kiểu quay số Khái

niệm này được mở rộng bằng cách dùng các máy tính là trung tâm truyền tin

trong một kết nối quay số Các máy tính này được gọi là sàn thông báo

(bulletin board) Các người dùng kết nối đến sàn thông báo này, để lại đó hay lấy đi các thông điệp, cũng như gửi lên hay tải về các tập tin Hạn chế của hệ thống là có rất ít hướng truyền tin, và chỉ với những ai biết về sàn thông báo

đó Ngoài ra, các máy tính tại sàn thông báo cần một modem cho mỗi kết nối, khi số lượng kết nối tăng lên, hệ thống không thề đáp ứng được nhu cầu Qua các thập niên 1950, 1960, 1970, 1980 và 1990, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã phát triển các mạng diện rộng WAN có độ tin cậy cao, nhằm phục

vụ các mục đích quân sự và khoa học Công nghệ này khác truyền tin điểm nối điểm Nó cho phép nhiều máy tính kết nối lại với nhau bằng các đường dẫn khác nhau Bản thân mạng sẽ xác định dữ liệu di chuyển từ máy tính này đến máy tính khác như thế nào Thay vì chỉ có thể thông tin với một máy tính tại một thời điểm, nó có thể thông tin với nhiều máy tính cùng lúc bằng cùng một kết nối Sau này, WAN của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã trở thành Internet

Năm 1997 Internet được chính thức đưa vào Việt Nam và được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực

1.4.2.1 Dạy và học bằng bài giảng điện tử

Dạy và học bằng bài giảng điện tử theo công nghệ e-Learning có ưu điểm là tạo hứng thú cho cả thầy và trò trong buổi học nhờ có sự truyền đạt và tiếp nhận bài giảng thông qua những hình thức phong phú, đa dạng như hình ảnh, âm thanh giúp cho SV tiếp nhận bài giảng dễ hiểu hơn GV được giảm nhẹ việc thuyết giảng, có điều kiện trao đổi, thảo luận với SV về những vấn

đề nảy sinh Qua đó, SV được kích thích khám phá tri thức qua thông tin thu nhận được, có thể nêu câu hỏi với GV, giúp cho giờ học thêm sinh động GV không phải soạn bài giảng nhiều lần mà chỉ cần đầu tư cho lần soạn đầu tiên

và cập nhật, chỉnh sửa cho bài giảng tốt hơn vào những lần sau

Trang 18

Tuy nhiên, việc dạy và học bằng bài giảng điện tử cũng có những hạn

chế nhất định Nếu tập trung vào thảo luận các vấn đề liên quan đến bài học,

SV sẽ không có nhiều thời gian cho việc thực hành, vì vậy đòi hỏi GV phải

phân bố thời gian hợp lý Trên thực tế, việc dạy - học bằng bài giảng điện tử

không thể áp dụng với tất cả các nội dung của từng bài học, có những tiết dạy

sẽ không thể đạt hiệu quả tối đa nếu thiếu phương pháp dạy truyền thống, có

những tiết học sẽ không giúp SV hiểu và nhớ lâu nếu không được hỗ trợ bằng

hình ảnh, âm thanh Vì vậy GV cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp

giảng dạy bằng bài giảng điện tử và cách dạy truyền thống để có thể phát huy

tối đa hiệu quả của việc dạy và học

1.4.2.2 Tìm kiếm tài liệu, tra cứu thông tin trên mạng Internet

Ngày nay, cán bộ giảng dạy và SV phải có thói quen và khả năng tự

học để bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tích luỹ kiến

thức Tuy nhiên, người dạy và người học thường gặp khó khăn trong việc tìm

kiếm tài liệu, tra cứu thông tin do các thư viên truyền thống chưa đáp ứng đủ

nhu cầu học hỏi, tìm hiểu và nghiên cứu của họ Vì vậy, Internet và máy vi

tính chính là một phương tiện giúp mỗi người tự học tốt nhất GV và SV có

thể tìm kiếm, tra cứu tri thức về mọi lĩnh vực

Hiện nay, có hai cách để tìm kiếm các thông tin trên mạng Internet: tìm

kiếm tĩnh và tìm kiếm động

Tìm kiếm tĩnh là sử dụng danh bạ website Chỉ cần gõ chính xác địa chỉ

website là người dùng có thể truy cập vào trang thông tin điện tử để khai thác

thông tin

Tìm kiếm động là tìm kiếm trực tuyến, cách này sử dụng những địa chỉ

website là công cụ tìm kiếm (Search Engine) Các website tìm kiếm hữu hiệu

nhất hiện nay là các trang: , , , , , Từ cửa sổ của các trang web đó, người

truy cập chỉ cần gõ trực tiếp những từ hoặc cụm từ cần tìm và gõ phím Enter,

các trang chủ sẽ kết nối (link) đến các địa chỉ chứa những từ hoặc cụm từ

người sử dụng cần tìm Khi đó GV và SV có thể in trực tiếp hoặc lưu trữ bằng cách down load các tài liệu liên quan

1.4.2.3 Tham khảo sách điện tử, giáo trình điện tử

Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tăng cường hoạt động tự học, tự nghiên cứu là vấn đề bức thiết đặt ra cho mỗi nhà giáo và SV Để tăng cường tính chất nghiên cứu, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của SV, người dạy, với tư cách là người hướng dẫn quá trình cần phải chỉ ra cho SV cách tìm kiếm, khai thác những nguồn học liệu mở trên mạng CNTT toàn cầu Hiện nay, phần lớn các thư viện, nhà xuất bản, viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng trong nước và nước ngoài đều có trang web riêng Trên các trang web đó có đăng tải các công trình nghiên cứu khoa học, các cuốn sách và giáo trình điện tử Có thể nói, với sách điện tử và giáo trình trên mạng Internet, mỗi GV và SV có thể tham khảo hàng trăm, hàng nghìn cuốn sách và bài giảng khác nhau ở bất cứ thời gian và không gian nào Mỗi người

có thể tìm cuốn sách và giáo trình mình cần một nhanh chóng, có thể tham gia diễn đàn và trao đổi những suy nghĩ của mình về một cuốn sách hay một vấn

đề quan tâm, có thể viết lại ghi nhớ, đánh dấu những thông tin quan trọng của cuốn sách, có thể chuyển từ trang sách này sang trang sách khác một cách đơn giản Một số địa chỉ thông dụng để GV và học sinh, SV có thể truy cập tìm sách và giáo trình phục vụ việc dạy - học là: (trang web của Thư viện Quốc gia); (mạng thư viện Việt Nam); (siêu thị sách trực tuyến lớn nhất Việt Nam); (thư viện trực tuyến để đọc và dowload hàng ngàn đầu sách miễn phí); (một trong những thư viện điện tử lớn nhất thế giới với trên 330.000 đầu sách,

100 ngôn ngữ); ; ; ; (Thư viện giáo trình điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo), ; ; (website của Trường Đại học Cần Thơ) (website Trường Đại học An Giang); (website của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; (website của Đại học Quốc gia Hà Nội)… Đây là những điểm truy cập tập trung các

Trang 19

thông tin về giáo trình, nội dung tham khảo, các nguồn học liệu Tại các

website này, GV và SV có thể tìm kiếm trực tuyến kho giáo trình ở các trình

độ Ở các trang web này có hầu hết các giáo trình quy định trong chương trình

đào tạo Trong mỗi giáo trình, các tác giả đã giới thiệu đề cương bài giảng của

mình, trình bày những ý tưởng và cách thức tổ chức bài học Cùng một nội

dung bài học quy định trong chương trình và giáo trình nhưng có rất nhiều

cách khai thác và tổ chức bài học khác nhau Mỗi giáo trình thường có hai

phần Phần đầu giới thiệu một số thông tin cần thiết và bắt buộc như: tên học

phần và trình độ; người soạn (bao gồm họ tên, chức danh và địa chỉ e mail);

địa chỉ nơi người soạn công tác; tài liệu học tập và giảng dạy (ghi những tài

liệu tham khảo, phương tiện dạy học, các trích đoạn băng hình và tiếng, các

phần mềm dùng cho việc học, làm bài tập, nghiên cứu); khối lượng và cấu

trúc học phần (nêu rõ số đơn vị học trình, số tiết lý thuyết, số tiết thực hành);

các khái niệm dạy học (nêu các khái niệm cơ bản sẽ đề cập và trình bày trong

bài giảng) Phần hai: nêu nội dung bài giảng Độ ngắn, dài, khái quát hay chi

tiết của phần này phụ thuộc vào sự trình bày của người soạn

1.4.2.4 Sử dụng các thiết bị điện tử vào quá trình dạy học

Quá trình dạy - học cho SV cần đẩy mạnh sử dụng các thiết bị nghe

nhìn để tăng hiệu quả tiếp thu, ghi nhớ bài giảng của SV, giảm bớt việc ghi,

đọc, chép của GV và SV Các nghiên cứu giáo dục cho thấy người học chỉ

nhớ được 10% những gì đã đọc, 20% những gì đã nghe và khoảng 50%

những gì họ nghe và thấy

Một số thiết bị nghe thường dùng trong nhà trường là máy ghi âm

(cassette) + băng từ, máy ghi âm kỹ thuật số; các thiết bị nhìn như máy đèn

chiếu (slide projector) + phim dương bản, máy phóng hình (overhead

projector) + phim (film) A4, máy chiếu vật thể (visual projector) + phim A4

hoặc vật thể, máy chiếu phim dương bản 35mm (hành động) + phim nhựa;

các phương tiện nghe nhìn như máy chiếu phim video, băng từ + Ti vi (television), đầu đĩa VCD, DVD + các loại CD room + Ti vi, máy chiếu đa chức năng (multimedia projector)… SV được học tập thường xuyên trong môi trường có các thiết bị điện tử sẽ luôn tăng hứng thú học tập, phát huy khả năng tư duy sáng tạo Phương pháp dạy và học có sự tham gia nhiều hơn của

SV bằng thảo luận nhóm, nêu ý kiến sẽ phát huy nhiều hơn tính chủ động trong tiếp nhận kiến thức Cùng một thời lượng như nhau, nhưng số lượng kiến thức và kỹ năng SV thu nhận lại nhiều hơn, cụ thể, sinh động, sâu sắc hơn Số lượng bài tập thực hành của SV cũng được rèn luyện nhiều hơn Từ

đó, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu sẽ phát huy có hiệu quả cao hơn

1.4.2.5 Gửi, nhận văn bản bằng thƣ điện tử

Thư điện tử hay e mail (electronic mail) là một hệ thống chuyển nhận thư từ qua các mạng máy tính Một e mail có thể được gửi đi ở dạng mã hoá hay dạng thông thường và được chuyển qua các mạng máy tính, đặc biệt là mạng Internet Nó có thể chuyển mẫu thông tin (bằng chữ, hình ảnh, âm thanh, phim) từ một máy chủ tới một hay rất nhiều máy nhận trong cùng một thời điểm Điều này rất cần thiết trong việc trao đổi, liên lạc giữa cán bộ giảng dạy và SV

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng hệ thống e mail có tên miền @moet.edu.vn trên nền gmail để cung cấp cho các đơn vị, cơ sở giáo dục trong cả nước sử dụng thống nhất Hệ thống e mail @moet.edu.vn được

sử dụng trên nền gmail có khá nhiều ưu điểm: có thể truy cập ở mọi nơi, mọi lúc bằng chương trình duyệt web (như Firefox, Internet Explore) với địa chỉ ;

có thể tải e mail về máy bàn để dùng trên Outlook với giao thức POP3, nghĩa

là có thể dùng ngay Outlook để xem e mail này; có thể gửi e mail cho một nhóm đối tượng người sử dụng, như gửi e mail cho toàn thể SV của lớp, của khoa… Với hệ thống e mail này, GV có thể cung cấp cho SV những tài liệu

Trang 20

mình có bằng cách gửi qua e mail Ngược lại, SV nếu tìm được những tài liệu

có giá trị thì cũng có thể chuyển cho thầy, cô giáo của mình Mỗi khi SV làm

tiểu luận, viết bài báo… thì có thể gửi qua e mail để GV góp ý, sửa chữa trực

tiếp trên máy tính Một ưu điểm nữa là SV có thể viết thư điện tử xin phép các

nhà khoa học, các nhà giáo để download các bài báo, các cuốn sách phục vụ

cho việc học tập của bản thân

Nói tóm lại, việc ứng dụng CNTT vào dạy - học cho SV chính là một

trong những hoạt động để đổi mới phương pháp dạy - học, đáp ứng yêu cầu

nâng cao chất lượng đào tạo trong thời kỳ hội nhập, tạo thuận lợi cho người

học có thể tích luỹ dần kiến thức theo khả năng và điều kiện của mình Dưới

tác động của CNTT, hoạt động tự học môn GDH nói riêng và các môn học

khác nói chung trong nhà trường đã diễn ra và có những kết quả đáng chú ý,

đòi hỏi mỗi cá nhân, các trường Đại học, Cao đẳng, các sở Giáo dục, Bộ Giáo

dục phải có sự quan tâm, đầu tư thích đáng cho việc ứng dụng CNTT trong

dạy - học

1.4.3 Khả năng ứng dụng CNTT vào tự học môn GDH

Từ những năm thuộc thập kỷ 60, sự phát triển của CNTT đã ảnh hưởng

tới giáo dục cũng như các lĩnh vực khác Những thành tựu về công nghệ có ý

nghĩa to lớn trong dạy- học Hiện nay, trong các trường Đại học, Cao đẳng,

các GV và SV đã và đang sử dụng CNTT để hỗ trợ cho việc dạy và học của mình

Trong tự học môn GDH nói riêng và các môn học khác nói chung, sự

hỗ trợ của CNTT đều mang lại hiệu quả bởi vì:

thông qua email, học trực tuyến

- Việc học tập không những có thể diễn ra trên lớp mà có thể diễn ra ở

bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu

bằng cách trao đổi trực tiếp với GV mà không ngại bị đánh giá

kỹ năng khác như tiếp cận và xử lý thông tin, giải quyết vấn đề, hợp tác, sáng tạo, các kỹ năng về công nghệ và ngoại ngữ nói chung

trong giảng dạy và học tập, giúp cho họ có thêm động cơ học tập

có thể mở rộng hoặc giới hạn mối quan tâm của mình

làm việc và nghiên cứu độc lập

- SV có thể làm việc theo nhóm, độc lập hay kết hợp với nhiều thành viên bên ngoài lớp học, thành phố thậm chí quốc gia để có thể thực hiện việc học tập của mình

- SV có thể lưu trữ thông tin lâu dài, dễ chỉnh sửa, trao đổi khi cần thiết

Như vậy, không thể phủ nhận được vai trò và tầm quan trọng của việc

tự học là một công việc lâu dài, khó khăn, đòi hỏi nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, năng lực của SV; để sử dụng có hiệu quả, cần tận dụng các thế mạnh và ưu điểm nổi bật của CNTT và tránh những hiệu ứng ngược của nó

1.4.4 Các yêu cầu khi tổ chức tự học môn GDH có sự hỗ trợ của CNTT cho SV ở trường CĐSP Nghệ An

1.4.4.1 Ứng dụng rộng rãi và sáng tạo CNTT khi thực hiện hoạt động dạy và học các môn học nói chung và môn GDH nói riêng

CNTT là một trong những động lực quan trọng của sự phát triển Cùng với một số ngành công nghệ cao khác, CNTT đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại

Trang 21

Trong dạy học, CNTT được ứng dụng ở các mức độ như: hỗ trợ bài

giảng của GV trên lớp, giúp người học tự hình thành kiến thức, tự luyện tập,

tự kiểm tra để hoàn thiện tri thức của mình, thông qua máy tính nối mạng,

người học có thể tự học tập và nghiên cứu…

Theo quan niệm của các nhà giáo dục học hiện đại, việc ứng dụng

CNTT vào quá trình dạy học sẽ giúp GV giải quyết một số vấn đề như:

- Cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về các hiện tượng, đối tượng,

quá trình được nghiên cứu, do đó sẽ nâng cao chất lượng dạy học

- Nâng cao tính trực quan trong dạy học: có những hiện tượng, đối

tượng nghiên cứu không thể cho học sinh quan sát trực tiếp được mà phải dựa

vào biểu tượng gián tiếp về các hiện tượng, đối tượng đó Lúc này CNTT sẽ là

sự hỗ trợ đắc lực nhất để giải quyết vấn đề trên

- Nâng cao cường độ dạy học: CNTT giúp GV tăng nhịp độ trình bày

tài liệu, tiết kiệm đuợc thời gian, đặc biệt là khi luyện tập, hình thành kỹ năng,

kỹ xảo ở học sinh, góp phần quan trọng trong việc cải tiến phương pháp kiểm

tra - đánh giá tri thức học sinh (nhờ phần mềm kiểm tra, tự kiểm tra)

- Thoả mãn nhu cầu hiểu biết và sự say mê học tập của học sinh, tạo

điều kiện thuận lợi nhất cho việc tự học một cách liên tục, thường xuyên, hiệu

quả ở người học (các phần mềm tự học, các trang web môn học)

- Giải phóng cho người dạy và người học khỏi một phần công việc

thuần tuý kỹ thuật, do đó dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động sáng tạo

Với những khả năng dạy học trên, việc ứng dụng CNTT vào quá trình

dạy - học đã mở rộng năng lực của người GV, giúp họ có thể tiến hành các

phương pháp dạy học sáng tạo, hiệu quả Đồng thời tạo cho người học hứng

thú, động cơ học tập đúng đắn, lòng ham học hỏi, ham tìm tòi, áp dụng cái

mới,…từ đó nâng cao chất lượng dạy - học

1.4.4.2 Đổi mới phương pháp học tập và nâng cao chất lượng, hiệu quả tự học các môn học nói chung và môn GDH nói riêng cho SV

Việc sử dụng CNTT, đặc biệt là sử dụng trang web học tập để tổ chức

tự học cho SV phải giúp SV nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tốt hơn, sâu sắc và phong phú hơn, góp phần đáng kể nâng cao chất lượng học tập bộ môn Người học cảm thấy hứng thú hơn so với cách học thông thường, từ đó kích thích lòng ham học hỏi, hình thành động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho SV

Sử dụng CNTT sẽ hỗ trợ SV trong quá trình tự học Người học được học tập thuận lợi hơn, khai thác được nguồn thông tin phong phú, tiết kiệm được thời gian mò mẫm trong quá trình tìm kiếm tri thức cho bản thân Đồng thời, CNTT còn giúp các em dễ dàng trao đổi thông tin, có thể học tập mọi lúc, mọi nơi, phù hợp với khả năng và điều kiện của cá nhân

Trang 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Bản chất của việc tổ chức tự học cho SV là quá trình GV sắp xếp và

tiến hành các biện pháp dạy học sao cho phát huy được tính tích cực, tự giác

của người học mức độ cao nhất trong mọi hình thức học tập dưới sự hỗ trợ

của các phương tiện dạy học

Một trong những điều kiện để tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học cho

SV là điều kiện về cơ sở vật chất, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của

các phương tiện và công cụ dạy học hiện đại

Sử dụng CNTT để hỗ trợ tự học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy

học nói chung và chất lượng học tập môn GDH nói riêng bởi hình thức này

phát huy cao độ sự tự giác, tích cực và độc lập của người học SV có thể truy

cập trang web học tập bộ môn để đọc các tài liệu, giải quyết các tình huống,

làm bài tập, thảo luận, … nhờ đó mà điều chỉnh được cách học và học có hiệu

quả Đây là cách làm phù hợp với xu thế chung của các trường Đại học, Cao

đẳng hiện nay cũng như sự phát triển của xã hội hiện đại

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN GDH CÓ SỰ HỖ TRỢ CỦA CNTT CHO SV Ở TRƯỜNG CĐSP NGHỆ AN

2.1 Một vài nét về trường CĐSP Nghệ An

dựng và phát triển Đến nay, nhà trường đã gây dựng được một cơ ngơi khang trang với hệ thống phòng học, trang thiết bị dạy và học hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho GV, SV nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập

Trường CĐSP Nghệ An hiện có 7 khoa đào tạo, gồm: Tự nhiên, Xã hội, Ngoại ngữ, Giáo dục Thể chất và Nhạc hoạ Đoàn đội, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non, CNTT Các phòng chức năng gồm: Phòng Đào tạo và Khoa học công nghệ; Phòng Công tác chính trị - Tổ chức và đối ngoại; Phòng Công tác Học sinh - SV; Phòng Hành chính - Quản trị; Phòng Kế hoạch - Tài chính; Phòng Thanh tra và Đảm bảo chất lượng giáo dục Ba tổ bộ môn gồm:

Bộ môn Lý luận chính trị, Bộ môn Tâm lý - Giáo dục, Tổ Thư viện - Thiết bị Ngoài ra, trường còn có Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ quản lý và GV, Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học Ban quản lý ký túc xá đảm bảo nơi ăn, chốn ở của

SV luôn sạch sẽ, thoáng mát

Để đảm bảo nhu cầu học tập của SV, trường đã mở 2 cơ sở đào tạo (cơ

sở 1 đóng tại xã Hưng Lộc, cơ sở 2 đóng tại phường Hưng Bình - Thành Phố Vinh) với tổng diện tích 10ha Toàn trường có 102 phòng học, 2 hội trường lớn, nhà thi đấu đa năng, thư viện và phòng học máy vi tính với đầy đủ trang thiết bị nghe nhìn

Đội ngũ cán bộ, GV luôn được chuẩn hóa về trình độ, đáp ứng được yêu cầu của công tác đổi mới phương pháp giáo dục Trong số 344 cán bộ - công nhân viên chức của nhà trường, có 250 GV với 8 tiến sĩ, 116 thạc sĩ, 3 nghiên cứu sinh, 40 người đang theo học thạc sĩ Bên cạnh việc cử cán bộ đi

Trang 23

đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, nhà trường còn hợp tác với các trường

đại học để liên kết đào tạo mở các lớp cử nhân CNTT, tin học văn phòng, các

lớp ngoại ngữ cho cán bộ, nhân viên

Ngoài chức năng, nhiệm vụ đào tạo GV có trình độ CĐSP từ mầm non,

tiểu học và trung học cơ sở; bồi dưỡng chuẩn hoá giáo viên THCS trình độ

10+3 lên CĐSP; chuẩn hoá trình độ trung học sư phạm cho GV mầm non,

giáo viên tiểu học; bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ; bồi dưỡng thay sách,

trường CĐSP Nghệ An còn đào tạo các ngành ngoài sư phạm như CNTT, thư

viện thiết bị, tiếng Anh, công tác xã hội, quản trị văn phòng Từ năm 2000,

trường được giao nhiệm vụ đào tạo tiếng Việt cho cán bộ, học sinh các tỉnh

Bôly Khămxay và Xiêng Khoảng (Lào)

Năm mươi năm kể từ ngày thành lập, thầy và trò trường CĐSP Nghệ

An đã nỗ lực vượt khó giành được nhiều thành tích xuất sắc trong lao động,

học tập Từ năm học 2004 - 2005 đến nay, trường đã làm tốt công tác tuyển

sinh đảm bảo 100% kế hoạch được giao; đào tạo được 4.256 GV các cấp học,

bồi dưỡng và chuẩn hoá 8.131 học viên, góp phần nâng cao tỉ lệ GV đạt

chuẩn cho tỉnh

Bên cạnh công tác giảng dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học luôn

được coi là nhiệm vụ quan trọng của nhà trường Trong 5 năm qua, trường đã

có 3 đề tài cấp bộ, 2 đề tài cấp tỉnh, 47 đề tài và công trình thuộc dự án, 36 đề

tài cấp trường, 414 đề tài cấp khoa tổ, 53 giáo trình và tài liệu tham khảo các

loại, 4 bài viết đăng tải trên các tạp chí quốc tế, 35 bài viết đăng trên các tạp

chí chuyên ngành trong nước, 199 bài viết đăng thông báo khoa học, 194 bài

viết đăng kỷ yếu hội thảo, có 14 lượt cán bộ, viên chức đoạt giải công trình

khoa học sáng tạo cấp tỉnh

Qua nửa thế kỷ phấn đấu và trưởng thành, với những đóng góp to lớn

trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, trường CĐSP Nghệ An đã vinh dự được

Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cùng nhiều danh hiệu cao quý khác

2.2 Khái quát về dạy học môn GDH ở trường CĐSP

Môn GDH là môn học thể hiện trực tiếp đặc trưng nghề nghiệp, đặt cơ

sở ban đầu quan trọng về mặt nghiệp vụ cho việc đào tạo GV Môn học trang

bị cho SV những lý luân cơ bản, hiện đại về GDH, hình thành cho SV những

kỹ năng sư phạm để sau khi ra trường họ có thể tiến hành tốt hoạt động dạy học và giáo dục Môn GDH có quan hệ chặt chẽ với phương pháp giảng dạy

bộ môn theo chuyên ngành đào tạo Trong những năm qua, bộ môn GDH đã

có nhiều đổi mới cả về nội dung lẫn phương pháp, luôn đáp ứng được những yêu cầu có tính nghiệp vụ sư phạm của nghề nghiệp Tuy nhiên, việc giảng dạy và học tập hiện nay ở các trường CĐSP chưa đạt hiệu quả như mong muốn Cụ thể là nó chưa gắn liền với phương pháp giảng dạy bộ môn, chưa thực sự gắn với thực tiễn giáo dục và dạy học ở phổ thông Việc đổi mới nội dung, phương pháp, chương trình diễn ra còn chậm, giảng dạy lý thuyết còn

xa với thực hành Đây là những bất cập cần phải khắc phục

Bộ môn GDH ở trường CĐSP được chia làm 3 đơn vị học phần: GDH đại cương, Lý luận dạy học, Lý luận giáo dục Mỗi đơn vị học phần gồm 45

tiết Theo phân phối chương trình, SV sẽ học môn GDH trong 2 năm, từ học

kỳ II của năm thứ nhất đến hết năm học thứ hai Khối lượng kiến thức của 3 đơn vị học trình này rất lớn, mang tính lý luận cao, đòi hỏi SV phải có khả năng lựa chọn các phương pháp, phương tiện, hình thức học tập,…kết hợp với

tự học, tự nghiên cứu thì mới lĩnh hội được nội dung môn GDH

Vì vậy, trong đề tài này, chúng tôi đã đề xuất một số biện pháp tổ chức tự học môn GDH có sự hỗ trợ của CNTT cho SV để khắc phục những khó khăn trên, góp phần nâng cao chất lượng học tập môn GDH ở các trường CĐSP

2.3 Thực trạng tự học môn GDH của SV

Trang 24

2.3.1 Khái quát tiến trình khảo sát thực trạng

Tự học và tổ chức tự học là những nhân tố quan trọng để nâng cao chất

lượng học tập Việc sử dụng CNTT để hỗ trợ hoạt động dạy – học có ý nghĩa

rất lớn, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, kích thích tính tích cực, tự

giác, chủ động của người học Để tìm hiểu việc tự học môn GDH của SV

cũng như việc tổ chức hoạt động tự học môn GDH có sự hỗ trợ của CNTT

cho SV ở trường CĐSP Nghệ An như thế nào, chúng tôi đã tiến hành điều

tra, khảo sát thực trạng để tìm hiểu những vấn đề trên

Đối tượng điều tra của chúng tôi trong đề tài này là 236 SV đang học

năm thứ hai, khoa tự nhiên và khoa xã hội, cùng 25 GV tổ Tâm lý - Giáo dục

Để tìm hiểu những nội dung trên, chúng tôi sử dụng phương pháp điều

tra viết Chúng tôi xây dựng hai phiếu hỏi, một dành cho GV và một dành cho

SV Những số liệu thu được qua phiếu điều tra được chúng tôi xử lý bằng

phương pháp thống kê toán học, trên cơ sở đó mà khái quát thực trạng Bên

cạnh đó chúng tôi trò chuyện với một số SV và GV xung quanh vấn đề cần

nghiên cứu để đưa ra những kết luận chính xác hơn

Qua tiến hành nghiên cứu chúng tôi thu được kết quả sau:

2.3.2 Thực trạng tự học môn GDH của SV trường CĐSP Nghệ An

2.3.2.1 Thực trạng nhận thức của GV và SV về tự học môn GDH

* Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc tự học môn GDH

Khảo sát vấn đề này, chúng tôi thu được kết quả như sau: 100% GV

đều khẳng định đây là một việc làm “rất quan trọng” Khi được hỏi “vì sao?”

thì các thầy, cô cho rằng: GDH là môn khoa học mang tính nghiệp vụ cao và luôn có sự đổi mới nên SV phải tích cực tự học để nắm vững kiến thức và vận dụng trong quá trình dạy học sau này Theo các thầy, cô thì để đáp ứng các nhu cầu của thực tiễn hiện nay, mỗi người phải tự mình tìm ra phương pháp học tập đúng đắn, phù hợp Chỉ có như vậy con người mới có thể học tập thường xuyên, học tập suốt đời được Đối với môn GDH cũng vậy, người thầy không thể nào cung cấp hết cho trò kho kiến thức đa dạng, phong phú, luôn biến đổi không ngừng theo từng giai đoạn lịch sử Muốn không bị lạc hậu với thời đại và chiếm lĩnh được kho kiến thức vô tận của nhân loại thì việc tự học là vô cùng quan trọng

Vì vậy, các GV cũng không ngừng học hỏi, tìm kiếm và sử dụng các phương pháp phù hợp để truyền đạt, tổ chức và hướng dẫn SV tiếp thu, chiếm lĩnh tri thức hiệu quả nhất

* Nhận thức của SV về tầm quan trọng của môn GDH

Để điều tra nhận thức của SV về tầm quan trọng của môn GDH chúng tôi đưa ra câu hỏi sau:

“Theo bạn, kiến thức môn GDH có mức độ cần thiết như thế nào đối với người giáo viên tương lai?” Kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.1:

Bảng 2.1: Mức độ nhận thức của SV về tầm quan trọng của môn GDH

STT Các mức độ

SV khoa Tổng hợp

(236 SV)

Tự nhiên(120 SV)

Nhóm ĐC

Trang 25

15 6,35

4

Ít cần thiết

2 1,67

2 1,72

4 1,69

5 Không cần thiết

0 0,00

0 0,00

0 0,00 Qua kết quả thống kê thu được, chúng tôi nhận thấy: có đến

Trang 26

217 SV (chiếm 91,94%) lựa chọn

mức độ “cần thiết” và “rất cần thiết”

Điều đó cho thấy: về nhận thức, hầu

như tất cả SV đều hiểu rõ tầm quan

trọng của môn học đối với nghề

nghiệp trong tương lai Lý giải cho sự

lựa chọn của mình, các em đưa ra lý

do: “vì môn GDH cung cấp cho SV

những hiểu biết chung về nhà trường

phổ thông, về nghề dạy học cùng

những kiến thức cơ bản về phương

pháp, kỹ năng dạy học, giáo dục học

sinh”

Tuy nhiên, vẫn còn số ít SV

nhận thức chưa đúng về tầm quan

trọng của môn GDH: 15 SV đánh giá

mức độ cần thiết của môn GDH là

“bình thường” và 4 SV cho rằng môn

GDH là “ít cần thiết” Những em này

đưa ra lý do: “Đây chỉ là môn học

chung trong chương trình giống như

các môn học cơ sở khác như triết học,

ngoại ngữ…”, “Đây là môn học

nghiệp vụ, môn phụ, học thì tốt,

không học cũng không sao” Đặc biệt,

không có SV nào lựa chọn mức độ

“không cần thiết” Điều này chứng tỏ

đa số SV đã nhận thức được tầm quan trọng của môn học

Như vậy, nhìn chung đa số SV đều đánh giá đúng vị trí, tầm quan trọng của môn GDH Nhưng thái độ của họ đối với môn học này như thế

nào, chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Bạn

có thích học môn GDH không?”

Kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.2:

Bảng 2.2: Thái độ của SV đối với môn GDH

STT

Thái độ

SV khoa Tổng hợp (236 SV)

Tự nhiên (120 SV)

Xã hội ( 116 SV)

SL

Trang 27

0 0,00 Kết quả ở bảng 2.2 cho thấy:

- Có 53,82% số SV thích học môn GDH

- Có 46,18% số SV không thích học môn GDH

- Không có SV nào không nhận

ra thái độ của mình đối với môn GDH

Tuy nhiên, SV khoa Tự nhiên

và khoa Xã hội lại có thái độ khác nhau đối với môn GDH Cụ thể là:

- Khoa Tự nhiên: Có 38,33%

SV thích học môn GDH vì lý do

“Môn học cần cho nghề nghiệp và cuộc sống sau này” Còn 61,67% SV không thích học môn GDH vì các lý

do sau: “Môn học khô khan, trừu tượng, nặng về lý thuyết”, “Giáo viên dạy khó hiểu”

- Khoa Xã hội: Có 69,83% SV thích học môn GDH vì các lý do sau:

“Môn học hấp dẫn, dễ hiểu”, “Môn học cần cho nghề nghiệp và cuộc

Trang 28

sống sau này”, “Giáo viên có phương

pháp dạy phù hợp” Còn 30,17% SV

không thích học môn GDH vì các lý

do sau: “Giáo viên dạy khó hiểu”,

“Thiếu phương tiện dạy học”,

“Không khí lớp học căng thẳng, tẻ

nhạt”

Như vậy, số SV thích học môn

GDH là không cao, đặc biệt là ở khoa

Tự nhiên Các em cho rằng, môn

GDH “khô khan, trừu tượng, nặng về

lý thuyết” Đây là một trong những

nguyên nhân khiến cho kết quả học

tập môn GDH không cao Vì vậy, các

GV giảng dạy cần quan tâm để thay

đổi phương pháp dạy học tăng sức

hấp dẫn của môn học

Tìm hiểu quan niệm về các

hình thức tự học, chúng tôi đưa ra câu

hỏi: “Theo bạn, trong các trường

hợp sau, khi nào sinh viên được coi

là tự học và khi nào không phải là

“Tự nghiên cứu, tự làm bài tập thực hành” là tự học.Với các hình thức còn lại, đa số SV đều xác định đó cũng là hình thức tự học

Bảng 2.3: Nhận thức của SV về các hình thức tự học môn GDH

STT

Các hình thức

Tự học Không phải tự học

SL

% SL

%

1 Nghe giáo viên giảng trên lớp

178 75,42

58 24,58

2

Trang 29

Nghe và thảo luận trong nhóm học tập

tự học Đây là những SV quan niệm

“học” khác với “tự học” “Học” khi

có tác động của người khác, “tự học”

là học một mình Dù là học một mình hay học với thầy, học với bạn thì mỗi người muốn nắm vững tri thức bắt buộc phải tập trung chú ý, tích cực, chủ động vào việc học chứ không ai nhận thức thay mình được Các nhà Tâm lý học hiện đại đã chứng minh

“Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan thông qua não người

và mang tính chủ thể” Vì vậy, để có

sự nhận thức, có tri thức, con người buộc phải tự mình phản ánh Như vậy, phần lớn SV có nhận thức đúng

về các hình thức tự học nhưng trong các trường hợp khác nhau vẫn còn số

ít SV chưa hiểu đúng về hoạt động học - tự học

2.3.2.2 Phương pháp tự học môn GDH của SV

Để tìm hiểu các phương pháp

Trang 30

tự học của SV, chúng tôi đưa ra câu

hỏi: “Bạn thường xuyên sử dụng

phương pháp nào để tiếp cận các

nguồn thông tin phục vụ tự học môn

GDH?” Kết quả thu được thể hiện ở

bảng 2.4

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy:

Phương pháp tự học môn GDH của

SV khoa TN và khoa XH có sự khác

biệt nhưng không đáng kể “Đọc lại

vở ghi trên lớp” là phương pháp được

SV sử dụng nhiều nhất khi tiến hành

tự học môn GDH (75,84%) Thứ hai

là phương pháp “Nghiên cứu sách,

báo, tài liệu tham khảo” (63,98%)

Các phương pháp còn lại SV ít sử

dụng hơn: “Trao đổi, thảo luận với

bạn hoặc giáo viên” (36,86%), “Truy

cập mạng Internet” (5,5%), “Dự

ngoại khoá” (5,08%), “Trao đổi, thảo

luận với bạn hoặc giáo viên” (2,96%)

89 74,16

1

90 77,58

Trang 31

4

12 5,08

6

2 1,72

6

7 2,96

6

Trang 32

SV sử dụng nhiều nhất có ưu điểm là

giúp SV nắm được một hệ thống kiến

thức cơ bản nhất định Tuy nhiên, nếu

chỉ học thuộc lòng một cách máy móc

mà không có sự suy nghĩ, liên hệ với

thực tiễn, không có sự liên kết với

những thông tin thu được qua các

nguồn tài liệu khác thì cái lợi thế do

các phương pháp này mang lại sẽ trở

thành hạn chế rất lớn Vì thế, khi tổ

chức, hướng dẫn SV tự học, GV cần

giúp cho SV biết sử dụng phối hợp các phương pháp tự học khác nhau thì mới nâng cao chất lượng học tập môn GDH cũng như các môn học khác

Trong thời đại hiện nay, khi khoa học công nghệ đang bùng nổ như vũ bão thì việc ứng dụng CNTT vào tự học sẽ đem lại hiệu quả rất lớn

Có thể nói, các tiềm năng trên mạng internet là vô tận, nếu biết cách khai thác thì sẽ thu được các thông tin quý giá Những thông tin giáo dục trong nước và quốc tế được truyền tải trên mạng hàng ngày rất bổ ích cho việc

mở rộng tầm nhìn, nâng cao tầm hiểu biết cho SV, và hơn thế, việc truy cập thông tin qua mạng internet thường xuyên sẽ hình thành cho người học có thói quen cập nhật tri thức, biết vận dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào trong học tập – nghiên cứu

để nâng cao hiệu quả Tuy nhiên, với

SV trường CĐSP Nghệ An thì cách học này vẫn còn mới mẻ và xa lạ

“Em có lên mạng nhưng chỉ để chat thôi, còn học thì trong vở và trong giáo trình là quá dài rồi cô ạ” (NTH –

Trang 33

giúp SV nâng cao chất lượng tự học

môn GDH, chúng tôi tìm hiểu các

nguyên nhân chủ quan và khách quan

ảnh hưởng đến chất lượng tự học môn

GDH của các em Căn cứ vào đó

chúng tôi xây dựng biện pháp tổ chức

tự học cho phù hợp

Điều tra trên SV, chúng tôi thu

được kết quả thể hiện ở bảng 2.5

Bảng 2.5: Ý kiến của SV về nguyên

Xã hội (116 SV)

30

25

7

65 54,1

4

Trang 34

81 67,5

2

75 62,5

2

156 66,1

2

5 Nội dung học dài, khô khan, không hấp dẫn

55 45,8

5

31 25,8

7

86 36,4

6

6

Trang 35

Xếp thứ 2 là “Phương pháp giảng dạy không kích thích được hứng thú học tập”, “SV chưa chủ động, tự giác, tích cực tự học” xếp thứ 3, “Thiếu thời gian và địa điểm tự học” xếp thứ 4

Các nguyên nhân ít ảnh hưởng xếp lần lượt là: “Thiếu môi trường tự học”, “Nội dung môn học dài, khô khan, không hấp dẫn”,

“Thiếu giáo trình và tài liệu tham khảo”

Chúng tôi đưa ra câu hỏi này đối với GV, kết quả thể hiện ở bảng sau:

Trang 36

Bảng 2.6: Ý kiến của GV về nguyên

15

60

3

5 Nội dung môn học dài, khô khan, không hấp dẫn

Trang 37

Các nguyên nhân khác

0

0

0

Qua kết quả trên chúng ta thấy

rằng GV khẳng định nguyên nhân cơ

chỉ là “ngoại lực” còn hiệu quả học

tập được quyết định bởi “nội lực” của

SV Xếp thứ 2 là nguyên nhân: “SV

chưa biết cách học” “Nhiều SV cũng

chịu khó học bài, song chỉ học vẹt,

không hiểu bản chất Các em chưa có

phương pháp tự học hợp lý nên hiệu

quả chưa cao” (Cô NTH, tổ Tâm lý –

Giáo dục)

So sánh kết quả ở bảng 2.5 và

2.6 ta thấy có sự khác biệt giữa ý kiến

của GV và SV khi xếp loại thứ bậc các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tự học môn GDH Theo các

GV thì hai nguyên nhân ảnh hưởng nhiều nhất đến kết quả tự học môn GDH của SV đều thuộc về chủ quan

Nhưng theo ý kiến của SV thì hai nguyên nhân ảnh hưởng nhiều nhất đến kết quả tự học môn GDH của SV

có cả yếu tố chủ quan (SV chưa biết cách học) và yếu tố khách quan (Phương pháp giảng dạy không kích thích được hứng thú học tập) Trong quá trình dạy học, GV đóng vai trò chủ đạo, nếu phương pháp giảng dạy của họ hấp dẫn, hình thành được mối quan hệ thầy trò tốt, sẽ tạo ra xúc cảm tích cực ở SV, khiến họ hứng thú

và tích cực học tập hơn Trong thực tế

do những điều kiện nhất định mà các phương pháp dạy học của GV còn đơn điệu, các hình thức tổ chức tự học chưa phong phú để lôi cuốn các em say mê, tìm tòi tri thức môn học nên các em chưa hăng say học tập môn này Ngoài ra có một số nguyên nhân khác cũng đáng quan tâm như: “Thiếu

Trang 38

thời gian và địa điểm tự học”, “Thiếu

giáo trình và tài liệu tham khảo”,

“Thiếu môi trường tự học”, “Nội dung

môn học dài, khô khan, không hấp

dẫn”

Việc hiểu rõ nguyên nhân ảnh

hưởng tới kết quả tự học môn GDH

sẽ giúp ích rất nhiều cho cán bộ giảng

dạy môn GDH trong việc tìm ra các

biện pháp nâng cao chất lượng tự học

bộ môn trong nhà trường sư phạm

Đối với SV, bên cạnh việc hình thành

cho họ phương pháp học tập bộ môn

một cách hợp lý, hiệu quả thì rất cần

có sự tổ chức, hướng dẫn tự học cụ

thể Việc làm này không chỉ giới hạn

trong giờ học trên lớp mà cấn tiến

hành trong quá trình SV tự học ở nhà

để giúp đỡ, tháo gỡ những khó khăn

gặp phải trong quá trình học Vì vậy

ứng dụng CNTT, sử dụng máy tính

nối mạng là một giải pháp để GV và

SV dễ dàng trao đổi thông tin, thảo

luận các vấn đề liên quan môn học,

giúp SV tự học một cách hiệu quả

2.3.3 Thực trạng tổ chức tự

học môn GDH có sự hỗ trợ của

CNTT 2.3.3.1 Nhận thức của GV

và SV về việc sử dụng CNTT trong dạy và học môn GDH

* Nhận thức của GV về mức

độ cần thiết của việc sử dụng CNTT

trong dạy và học môn GDH

Chúng tôi đưa ra câu hỏi:

“Theo thầy (cô), có cần thiết phải ứng dụng CNTT vào quá trình dạy - học môn GDH không?”, kết quả thu được

+ Không có GV nào cho là

“không cần thiết”

Như vậy, hầu hết GV đều đánh giá cao tầm quan trọng của CNTT trong dạy – học Tuy nhiên, vẫn có

GV cho rằng CNTT chỉ là phương tiện hỗ trợ, kết quả học tập phần lớn

là do nội lực của SV Vì thế có 12%

Trang 39

lớn nhất là: “Tạo cho SV niềm say mê,

hứng thú, tăng động cơ học tập và nâng

cao chất lượng học tập bộ môn” Điều

này hoàn toàn hợp lý bởi khi sử dụng

CNTT sẽ giúp SV dễ hiểu, dễ tiếp thu

thông tin lâu dài, dễ chỉnh sửa, trao

đổi khi cần thiết” Thứ 4 là: “Giúp

đối tượng” Thứ 5 là: “Trang bị cho sinh viên các kỹ năng về công nghệ

và ngoại ngữ, tiếp cận và xử lý thông tin, giải quyết vấn đề, hợp tác, sáng tạo” Thứ 6 là: “SV có thể học ở bất

Về phía đánh giá của SV, đa số các em đều đánh giá cao tác dụng:

Xếp thứ 2 và thứ 3 là tác dụng: “Giúp

tượng” và “SV có thể lưu trữ thông tin lâu dài, dễ chỉnh sửa, trao đổi khi cần thiết”

đánh giá cao vì khi sử dụng CNTT,

SV được tiếp nhận tri thức qua nhiều

Trang 40

giác quan như thính giác, thị giác, xúc

giác… giúp các em tập trung hơn, dễ

hiểu bài, từ đó dẫn đến: “Nâng cao

báo tài liệu mới và minh hoạ tri thức,

chứ chưa tổ chức, hướng dẫn SV khai

thác thông tin, sử dụng trang web, …

vì thế SV chưa phát huy được các khả

năng của bản thân, chưa khai thác

được tiềm năng vốn có của CNTT

Nhận xét chung: Đa số GV và

SV đều khẳng định và đánh giá cao vai trò, ý nghĩa của CNTT trong quá trình dạy - học môn GDH, coi đây là một thành tố không thể thiếu được trong việc nâng cao hiệu quả dạy - học, đặc biệt khi CNTT được ứng dụng rộng rãi

và hợp lý trong dạy – học ở các trường CĐSP

Bảng 2.7 quay

2.3.3.2 Thực trạng tổ chức tự học môn GDH

Để tìm hiểu trong thực tế GV trường CĐSP Nghệ An đã tiến hành những công việc nào để tổ chức cho

SV tự học môn GDH, chúng tôi đưa

ra câu hỏi: “Trong quá trình giảng dạy, thầy (cô) đã sử dụng những cách nào để giúp sinh viên tự học môn GDH?” Số liệu thể hiện ở bảng

Ngày đăng: 04/08/2016, 18:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Như An (1996), Phương pháp dạy học giáo dục học, NXB ĐH Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học giáo dục học
Tác giả: Nguyễn Như An
Nhà XB: NXB ĐH Quốc Gia
Năm: 1996
28. Trung tâm đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục (2005), Giáo dục Đại học chất lượng và đánh giá, NXB ĐH Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Đại học chất lượng và đánh giá
Tác giả: Trung tâm đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia
Năm: 2005
29. Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo (1998), Nguyễn Ngọc Quang - nhà sư phạm, người góp phần đổi mới lý luận dạy học, NXB ĐH Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Quang - nhà sư phạm, người góp phần đổi mới lý luận dạy học
Tác giả: Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia
Năm: 1998
30. Công Tuân, Công Bình (2008), Hướng dẫn sử dụng internet qua hình ảnh, NXB văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng internet qua hình ảnh
Tác giả: Công Tuân, Công Bình
Nhà XB: NXB văn hoá thông tin
Năm: 2008
31. Nguyễn Văn Tùng (2006), Sử dụng đa phương tiện trong dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên CĐSP khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, Luận văn thạc sĩ giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đa phương tiện trong dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên CĐSP khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Văn Tùng
Năm: 2006
32. Thái Duy Tuyên (1999), Những vấn đề cơ bản của Giáo Dục Học hiện đại, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của Giáo Dục Học hiện đại
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1999
33. Nguyễn Quang Uẩn (2004), Giáo trình Tâm lý học đại cương, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2004
34. Phạm Viết Vượng (2000), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2000
35. Phạm Viết Vượng (1996), Giáo Dục Học đại cương, NXB ĐH Quốc Gia, Hà Nội.PHỤ LỤC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo Dục Học đại cương
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: NXB ĐH Quốc Gia
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thức  học  là  những  cách - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
nh thức học là những cách (Trang 137)
Bảng 2.10:  Các khó khăn  của GV khi  ứng dụng CNTT vào  quá trình tổ chức tự học môn GDH - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Bảng 2.10 Các khó khăn của GV khi ứng dụng CNTT vào quá trình tổ chức tự học môn GDH (Trang 155)
Bảng 2.6: Ý kiến của GV về nguyên - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Bảng 2.6 Ý kiến của GV về nguyên (Trang 197)
Bảng 2.10:  Các khó khăn - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Bảng 2.10 Các khó khăn (Trang 208)
Bảng 3.6: Các tham số đặc trƣng - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Bảng 3.6 Các tham số đặc trƣng (Trang 241)
Bảng 2.7 quay - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Bảng 2.7 quay (Trang 301)
Bảng 3.6: Các tham số đặc trƣng  kết quả kiểm tra sau thực nghiệm  của khoa Xã hội - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Bảng 3.6 Các tham số đặc trƣng kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của khoa Xã hội (Trang 387)
Bảng 2.6: Ý kiến của GV về nguyên - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Bảng 2.6 Ý kiến của GV về nguyên (Trang 437)
Bảng 2.10:  Các khó khăn - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Bảng 2.10 Các khó khăn (Trang 448)
Bảng 2.6: Ý kiến của GV về nguyên - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Bảng 2.6 Ý kiến của GV về nguyên (Trang 484)
Bảng 2.9: Mức độ ứng dụng CNTT vào tự học môn GDH của SV - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Bảng 2.9 Mức độ ứng dụng CNTT vào tự học môn GDH của SV (Trang 536)
Bảng 3.6: Các tham số đặc trƣng  kết quả kiểm tra sau thực nghiệm  của khoa Xã hội - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Bảng 3.6 Các tham số đặc trƣng kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của khoa Xã hội (Trang 600)
Bảng 3.1: Phân phối tần số điểm thi học phần và phân loại học lực môn - Giáo dục học Tổ chức tự học môn giáo dục học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Bảng 3.1 Phân phối tần số điểm thi học phần và phân loại học lực môn (Trang 643)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w