1. Lí do chọn đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Có tài mà không có đức thì là người vô dụng”. Người coi trọng nội dung, mục tiêu giáo dục đạo đức trong các nhà trường như "Đoàn kết tốt” “Kỷ luật tốt” “Khiêm tốn thật thà dũng cảm”. Người thường dạy "Con người cần có bốn đức: cần- kiệm- liêm- chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”. Ngày 21 tháng 10 năm 1964 khi về thăm trường ĐHSP Hà Nội, Bác Hồ đã nói: "Công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường XHCN. Dạy cũng như học phải biết chú ý cả đức lẫn tài. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng". Những ý kiến người nêu ra đúng với lý thuyết của các nhà tâm lý học mác xít về vai trò của đạo đức đối với sự phát triển nhân cách. Vấn đề giáo dục đạo đức ngày nay tiếp tục được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần VIII đã chỉ ra nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện: có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Như vậy, đạo đức đã trở thành tiêu chí được đề cập đầu tiên trong các nhiệm vụ của giáo dục. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần 2 khóa VIII, khi đánh giá về công tác giáo dục đào tạo trong thời gian qua đã nêu “Đặc biệt đáng lo ngại trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hòai bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”. Đại hội X của Đảng (2006) tiếp tục chỉ rõ nhiệm vụ: “Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh con người Việt Nam. Trong thời gian gần đây các kênh thông tin đã đưa những báo động đỏ về sự lệch lạc trong nhận thức và hành vi đạo đức của thanh thiếu niên. Đó là: Trong gia đình, con cái không nghe lời cha mẹ, sống theo ý thích của bản thân, không quan tâm đến những người xung quanh. Trong nhà trường, nhiều vụ việc đau lòng xảy ra như học sinh - sinh viên vô lễ với giáo viên, đánh chém bạn cùng học, học sinh - sinh viên sử dụng ma túy, vi phạm pháp luật. Trong xã hội, tình trạng sống gấp, sống vội, sống theo trào lưu và không có mục đích, không thiết tha đến việc học tập và tu dưỡng đạo đức ngày càng nhiều ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Lứa tuổi thanh thiếu niên là lứa tuổi đang có sự thay đổi lớn về tâm sinh lý đặc biệt sự phát triển về “con người sinh lý” lại nhanh hơn con người xã hội. Nếu các em không được giáo dục hoặc giáo dục không đúng phương pháp sẽ dẫn đến có những hành vi tự phát, thiếu văn hóa. Những chuẩn mực đạo đức về tình bạn, tình yêu, tình dục…không được hiểu một cách đúng đắn dễ dẫn đến ngộ nhận. Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, sự thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, việc hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp và khu chế xuất, dẫn đến sự thay đổi cơ cấu này cùng với sự ứng dụng các thành tựu ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng nhiều đang và sẽ đòi hỏi đội ngũ nhân lực phải được đào tạo ngày càng tăng về số lượng, hợp lý về cơ cấu loại hình và cơ cấu trình độ nhất là có chất lượng đáp ứng được yêu cầu sử dụng lao động có trình độ cao. Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng trong cấu thành hệ thống đào tạo nguồn nhân lực cho sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Điều đó đòi hỏi cấp bách phải đổi mới và phát triển công tác dạy nghề hiện nay lên tầm cao mới.Tuy nhiên muốn nâng cao được chất lượng đào tạo thì các trường nghề cần chú trọng hơn nữa đến việc giáo dục đạo đức cho sinh viên. Trường Dạy nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam được thành lập từ ngày 15 tháng 8 năm 2004. Đến ngày 02 tháng10 năm 2008 được nâng cấp thành Trường Cao đẳng nghề Kỹ Thuật Mỹ Nghệ Việt Nam. Hiện nay nhà trường đào tạo 7 nghề, quy mô năm 2011 là 1563 HSSV trình độ cao đẳng và trung cấp) cung cấp đội ngũ lao động kỹ thuật cho các công ty, xí nghiệp trong khu vực và cho cả nước. Với mục đích đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, có ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, việc giáo dục đạo đức sinh viên trong nhà trường mới bước đầu được thực hiện nhưng còn nhiều lúng túng về phương pháp cũng như nội dung giáo dục. Vì muốn thu hút nhiều học sinh, sinh viên hơn nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, tất cả học sinh tốt nghiệp THPT (học cao đẳng), THCS (học trung cấp) nộp hồ sơ hầu như đều được vào học, thông qua hình thức xét tuyển nhưng đấy chỉ là hình thức. Trong số đó có một số học sinh có học lực yếu và đạo đức kém vẫn được nhận vào học. Thêm vào đó, các em bắt đầu cuộc sống tự lập nếu em nào ý thức không cao thì rất dễ bị lôi kéo theo các thành phần xấu trong trường hoặc ngoài trường. Do đó công tác nghiên cứu và đề xuất những biện pháp quản lý đạo đức của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề và đạo đức của sinh viên để khi ra trường các em có thể trở thành những người thợ có tay nghề cao, có đạo đức nghề nghiệp và là những người công dân tốt góp sức mình vào công cuộc xây dựng đất nướclà rất cần thiết. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý đạo đức nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đạo đức của sinh viên ở tại các trường nghề vẫn còn ít người quan tâm, chú trọng thực hiện, trong đó có hệ thống các trường cao đẳng nghề ởViệt Nam. Vì thế, đề tài cần được nghiên cứu để đề xuất những biện pháp phù hợp với đặc điểm, tình hình của các trường nghề và Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam nói riêng. Là người công tác và gắn bó với Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam, với mong muốn được góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục tạo ra nguồn nhân lực lao động có tay nghề cao đáp ứng nhu cầu xã hội, tác giả chọn hướng đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam”.
Trang 1-@&? -LÊ THU HƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
KỸ THUẬT - MỸ NGHỆ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60140101
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG ĐÌNH MẬU
HÀ NỘI - 2012
Trang 2Trong hơn hai năm học tập, nghiên cứu chương trình cao học tại Họcviện Quản lý giáo dục, chúng tôi đã tiếp thu được nhiều kiến thức mới,những kinh nghiệm quý báu, là hành trang cho chúng tôi tiếp tục thực hiện tốthơn nhiệm vụ của mình
Luận văn này là một phần kết quả quan trọng trong quá trình đào tạo cao học.Với tất cả tình cảm của mình, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám đốc
và Học viện quản lý giáo dục, các thầy, cô giáo trong và ngoài Học viện quản
lý giáo dục đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôitrong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn thầy giáo, TS Trương Đình Mậu - người đã hướng dẫntôi trong suốt quá trình làm luận văn Thầy đã cho tôi thêm nhiều kiến thức vềkhoa học quản lý giáo dục cũng như giúp tôi rèn luyện kỹ năng nghiên cứukhoa học
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình
và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốtnhiệm vụ học tập trong suốt thời gian qua
Mặc dù tôi đã cố gắng rất nhiều trong quá trình làm luận văn, song khôngthể tránh khỏi những hạn chế nhất định, rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý
và giúp đỡ quý báu của các quý thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thu Hương
Trang 3STT NỘI DUNG CHỮ VIẾT TẮT
4 Công nghiệp hóa- hiện đại hóa CNH_HĐH
5 Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh ĐTNCSHCM
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Giả thuyết khoa học 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các tác giả nước ngoài 8
1.1.2 Các tác giả trong nước 10
1.2 Các khái niệm cơ bản về đạo đức và giáo dục đạo đức sinh viên .16
1.2.1 Khái niệm đạo đức 16
1.2.2 Khái niệm về nhận thức 17
1.2.3 Khái niệm hành vi đạo đức 18
1.2.4 Vai trò của đạo đức trong sự phát triển của cá nhân, gia đình và XH 19
1.2.5 Mối quan hệ biện chứng giữa nhân cách và đạo đức 20
1.2.6 Giáo dục đạo đức sinh viên 21
1.2.7 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi HSSV CĐN 23
1.2.8 Giáo dục đạo đức SV trong nhà Trường Cao đẳng nghề 24
1.3 Một số vấn đề chung về quản lý và hoạt động quản lý GDĐĐ, sinh viên 28
1.3.1 Khái niệm QLGD 28
1.3.2 Quản lý giáo dục đạo đức sinh viên 34
Tiểu kết chương 1 39
Trang 5NGHỆ VIỆT NAM 40
2.1 Khái quát đặc điểm, tình hình Trường Cao đẳng Nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam 40
2.1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển của Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật- Mỹ nghệ Việt Nam 40
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam 42
2.1.3 Tình hình hoạt động đào tạo Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật -Mỹ nghệ Việt Nam 44
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn 45
2.2 Thực trạnh về đạo đức, hoạt động giáo dục đạo đức, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức sinh viên ở Trường Cao đẳng Nghề kỹ thuật - Mỹ thuật Việt Nam 46
2.2.1 Thực trạng đạo đức sinh viên Trường Cao Đẳng Nghề Kỹ Thuật- Mỹ Nghệ Việt Nam 46
2.2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Mỹ nghệ Việt Nam trong những năm gần đây 53
2.2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường cao đẳng nghề Kỹ thuật Mỹ nghệ Việt Nam 58
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3: ĐỀ XUẤT VÀ KHẢO NGHIỆM TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ GDĐĐ SINH VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT- MỸ NGHỆ VIỆT NAM 70
3.1 Nguyên tắc đề ra biện pháp 70
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích xã hội 70
3.1.2 Nguyên tắc pháp lý 70
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 71
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 72
Trang 63.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất nhưng linh hoạt 72
3.2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý GDĐĐ sinh viên ở Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Mỹ nghệ Việt Nam 72
3.2.1 Nâng cao chất lượng về xây dựng kế hoạch GDĐĐ sinh viên .73
3.2.2 Tổ chức bộ máy, sắp xếp nhân sự hiện kế hoạch GDĐĐ sinh viên chặt chẽ, khoa học 74
3.2.3 Tăng cường việc chỉ đạo sâu sát của CBQL đến các lực lượng giáo dục GDĐĐ sinh viên 76
3.2.4 Kiểm tra đánh giá, tổng kết và khen thưởng kịp thời bộ phận cá nhân thực hiện tốt hoạt động GDĐĐ sinh viên 78
3.2.5 Nâng cao nhận thức, vai trò trách nhiệm của các thành viên, tổ chức nhà trường trong hoạt động GDĐĐ sinh viên 78
3.2.6 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động GDĐĐ sinh viên 79
3.3 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 80
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 80
3.3.2 Nội dung khảo nghiệm 80
3.3.3 Đối tượng khảo nghiệm 80
3.3.4 Phương pháp khảo nghiệm 80
3.3.5 Kết quả khảo nghiệm 80
Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Khuyến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7Bảng 2.1 Những biểu biện vi phạm đạo đức của sinh viên Trường Caođẳng nghề Kỹ thuật Mỹ nghệ Việt Nam qua các năm học 48Bảng 2.2 Các biểu hiện về hành vi đạo đức của sinh viên Trường Caođẳng nghề Kỹ thuật Mỹ nghệ Việt Nam 49Bảng 2.3 Một số nguyên nhân hạn chế kết quả giáo dục đạo đức của sinhviên Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Mỹ nghệ Việt Nam 51Bảng 2.4 Ảnh hưởng của một số lực lượng giáo dục đến GDĐĐ cho sinhviên (qua điều tra 200 sinh viên Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Mỹnghệ Việt Nam) 57Bảng 2.5 Trình độ của CBQL và GVNV của Trường Cao đẳng nghề Kỹthuật Mỹ nghệ Việt Nam 58Bảng 2.6 Kế hoạch giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Trường Cao đẳngnghề Kỹ thuật Mỹ nghệ Việt Nam 59Bảng 2.7 Nội dung các phẩm chất được trường quan tâm trong hoạtđộng giáo dục đạo đức cho sinh viên 60Bảng 2.8 Các hình thức giáo dục đạo đức cho sinh viên 62Bảng 2.9 Các biện pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên 64Bảng 2.10 Nguyên nhân hạn chế hiệu quả quản lý GDĐĐ cho sinh viên 67Bảng 3.1 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 80
Trang 8Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý 30
Sơ đồ 1.2: Mô hình về QLGD 33
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức 43
Biểu đồ 2.1: Số lượng sinh viên của các khoa theo các năm học 45
Biểu đồ 2.2: Kết quả xếp loại đạo đức của sinh viên Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Mỹ nghệ Viêt Nam theo các năm học 47
Sơ đồ 2.2: Mô hình quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho SV tại Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Mỹ nghệ Việt Nam 55
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Có tài mà không có đức thì là người vôdụng” Người coi trọng nội dung, mục tiêu giáo dục đạo đức trong các nhàtrường như "Đoàn kết tốt” “Kỷ luật tốt” “Khiêm tốn thật thà dũng cảm”.Người thường dạy "Con người cần có bốn đức: cần- kiệm- liêm- chính, mànếu thiếu một đức thì không thành người”
Ngày 21 tháng 10 năm 1964 khi về thăm trường ĐHSP Hà Nội, Bác
Hồ đã nói: "Công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận quantrọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường XHCN Dạy cũngnhư học phải biết chú ý cả đức lẫn tài Đức là đạo đức cách mạng, đó là cáigốc rất quan trọng"
Những ý kiến người nêu ra đúng với lý thuyết của các nhà tâm lý họcmác xít về vai trò của đạo đức đối với sự phát triển nhân cách
Vấn đề giáo dục đạo đức ngày nay tiếp tục được Đảng và Nhà nước tađặc biệt quan tâm Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần VIII đã chỉ ranhiệm vụ của giáo dục và đào tạo là “Đào tạo con người Việt Nam phát triểntoàn diện: có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêucầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Như vậy, đạo đức đã trởthành tiêu chí được đề cập đầu tiên trong các nhiệm vụ của giáo dục
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần 2khóa VIII, khi đánh giá về công tác giáo dục đào tạo trong thời gian qua đãnêu “Đặc biệt đáng lo ngại trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạngsuy thoái đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hòai bãolập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”
Đại hội X của Đảng (2006) tiếp tục chỉ rõ nhiệm vụ: “Bồi dưỡng các
Trang 10giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống,lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh con người Việt Nam.
Trong thời gian gần đây các kênh thông tin đã đưa những báo động đỏ
về sự lệch lạc trong nhận thức và hành vi đạo đức của thanh thiếu niên Đó là:Trong gia đình, con cái không nghe lời cha mẹ, sống theo ý thích của bảnthân, không quan tâm đến những người xung quanh
Trong nhà trường, nhiều vụ việc đau lòng xảy ra như học sinh - sinhviên vô lễ với giáo viên, đánh chém bạn cùng học, học sinh - sinh viên sửdụng ma túy, vi phạm pháp luật
Trong xã hội, tình trạng sống gấp, sống vội, sống theo trào lưu vàkhông có mục đích, không thiết tha đến việc học tập và tu dưỡng đạo đứcngày càng nhiều ở lứa tuổi thanh thiếu niên
Lứa tuổi thanh thiếu niên là lứa tuổi đang có sự thay đổi lớn về tâmsinh lý đặc biệt sự phát triển về “con người sinh lý” lại nhanh hơn con người
xã hội Nếu các em không được giáo dục hoặc giáo dục không đúng phươngpháp sẽ dẫn đến có những hành vi tự phát, thiếu văn hóa Những chuẩn mựcđạo đức về tình bạn, tình yêu, tình dục…không được hiểu một cách đúng đắn
dễ dẫn đến ngộ nhận
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, sự thay đổi mạnh
mẽ cơ cấu kinh tế, việc hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, các khu côngnghiệp và khu chế xuất, dẫn đến sự thay đổi cơ cấu này cùng với sự ứng dụngcác thành tựu ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ ngày càng nhiều đang và sẽ đòi hỏi đội ngũ nhân lực phải được đào tạongày càng tăng về số lượng, hợp lý về cơ cấu loại hình và cơ cấu trình độ nhất
là có chất lượng đáp ứng được yêu cầu sử dụng lao động có trình độ cao Đàotạo nghề là một bộ phận quan trọng trong cấu thành hệ thống đào tạo nguồnnhân lực cho sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá Điều đó đòi hỏi cấp bách phải
Trang 11đổi mới và phát triển công tác dạy nghề hiện nay lên tầm cao mới.Tuy nhiênmuốn nâng cao được chất lượng đào tạo thì các trường nghề cần chú trọnghơn nữa đến việc giáo dục đạo đức cho sinh viên.
Trường Dạy nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam được thành lập từngày 15 tháng 8 năm 2004 Đến ngày 02 tháng10 năm 2008 được nâng cấpthành Trường Cao đẳng nghề Kỹ Thuật Mỹ Nghệ Việt Nam Hiện nay nhàtrường đào tạo 7 nghề, quy mô năm 2011 là 1563 HSSV trình độ cao đẳng vàtrung cấp) cung cấp đội ngũ lao động kỹ thuật cho các công ty, xí nghiệptrong khu vực và cho cả nước Với mục đích đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuậttrực tiếp trong sản xuất, có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, có ý thức kỷ luật,tác phong công nghiệp, việc giáo dục đạo đức sinh viên trong nhà trường mớibước đầu được thực hiện nhưng còn nhiều lúng túng về phương pháp cũngnhư nội dung giáo dục Vì muốn thu hút nhiều học sinh, sinh viên hơn nhằmđáp ứng nhu cầu học tập của người dân, tất cả học sinh tốt nghiệp THPT (họccao đẳng), THCS (học trung cấp) nộp hồ sơ hầu như đều được vào học, thôngqua hình thức xét tuyển nhưng đấy chỉ là hình thức Trong số đó có một sốhọc sinh có học lực yếu và đạo đức kém vẫn được nhận vào học Thêm vào
đó, các em bắt đầu cuộc sống tự lập nếu em nào ý thức không cao thì rất dễ bịlôi kéo theo các thành phần xấu trong trường hoặc ngoài trường Do đó côngtác nghiên cứu và đề xuất những biện pháp quản lý đạo đức của sinh viênnhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề và đạo đức của sinh viên để khi ratrường các em có thể trở thành những người thợ có tay nghề cao, có đạo đứcnghề nghiệp và là những người công dân tốt góp sức mình vào công cuộc xâydựng đất nướclà rất cần thiết Tuy nhiên, việc nghiên cứu và đề xuất các biệnpháp quản lý đạo đức nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đạo đức củasinh viên ở tại các trường nghề vẫn còn ít người quan tâm, chú trọng thựchiện, trong đó có hệ thống các trường cao đẳng nghề ởViệt Nam Vì thế, đềtài cần được nghiên cứu để đề xuất những biện pháp phù hợp với đặc điểm,
Trang 12tình hình của các trường nghề và Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệViệt Nam nói riêng.
Là người công tác và gắn bó với Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Mỹnghệ Việt Nam, với mong muốn được góp phần thiết thực vào việc nâng caochất lượng giáo dục tạo ra nguồn nhân lực lao động có tay nghề cao đáp ứng
nhu cầu xã hội, tác giả chọn hướng đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực trạng quản lý đạo đức củasinh viên Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam, đề tài cómục tiêu đề xuất các biện pháp đổi mới quản lý nhằm nâng cao hiệu quả củahoạt động này
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Về lí luận: Xây dựng hệ thống lý luận về quản lý giáo dục đạo đức sinhviên ở Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam
Về thực tiễn: Khảo sát thực trạng quản lý giáo dục đạo đức sinh viên ởTrường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam; tìm hiểu nguyên nhâncủa thực trạng
Từ đó, đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đạo đứcsinh viên ở Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức của sinh viên Trường Caođẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam
4.2 Khách thể nghiên cứu
Quản lý công tác giáo dục đạo đức sinh viên Trường Cao đẳng nghề
Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam
Trang 135 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động quản lý giáo dục đạo đức sinh viên ở Trường Cao đẳng nghề
Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam
Về thời gian: từ năm 2008 -2011
6 Giả thuyết khoa học
Trước thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Trường Caođẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam hiện nay, nếu có những biện phápquản lý phù hợp thì chất lượng giáo dục đạo đức cho người học sẽ đạt kết quảtốt hơn
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phân tích, tổng hợp, hệ
thống hóa các tài liệu khoa học, các văn kiện của Đảng và các văn bản quản lýcủa Nhà Nước nhằm tìm ra cơ sở lí luận để khảo sát và đề xuất các biện phápnâng cao chất lượng hoạt động này
7.2 Nhóm phương pháp thực tiễn: quan sát, phỏng vấn, chọn mẫu;
điều tra bằng bảng câu hỏi, phương pháp phân tích sản phẩm, phương phápchuyên gia
7.3 Nhóm phương pháp xử lý số bằng thống kê toán học: sử dụng
phần mềm SPSS for window 16.0 để xử lí số liệu khảo sát thực trạng
7.4 Nhóm phương pháp khảo nghiệm: khảo nghiệm tính khả thi của
một số biện pháp thực hiện các giải pháp đã đề xuất
8 Đóng góp của luận văn
8.1 Về mặt lý luận: Hệ thống các cơ sở lý luận và pháp lý về giáo dục
đạo đức, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên
8.2 Về mặt thực tiễn: Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Mỹ nghệViệt Nam
Trang 149 Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Nội dung: gồm 3 chương
+ Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
+ Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý giáo dục đạo đức cho
sinh viên ở Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Mỹ nghệ Việt Nam
` + Chương 3: Đề xuất và khảo nghiệm khả thi của các biện pháp
nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Trường Caođẳng nghề Kỹ thuật Mỹ nghệ Việt Nam
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 15ra từ xưa đến nay và thay đổi theo sự phát triển của xã hội.
Hoạt động giáo dục đạo đức ở Trung Quốc: Giáo dục lý tưởng xã hộichủ nghĩa; Lòng tự cường dân tộc; tính kỷ luật trong lao động, học tập và hoạtđộng xã hội Trung Quốc đặc biệt quan tâm tới giáo dục toàn diện gọi là “giáodục tố chất” Khi nói đến giáo dục tố chất, theo quan điểm của Trung Quốc,
đó là tạo ra điều kiện tiền để học sinh phát triển cả về thể chất và tâm hồn.Khiến cho tất cả học sinh đều được phát triển hết tiềm năng của mình từ đóthúc đẩy quá trình chuyển hóa ý thức xã hội bên trong phẩm chất tâm lý của
GD Nhật bản thành công
Ở Việt Nam, vấn đề GDĐĐ đã và đang trở thành mối quan tâm của các
nhà sư phạm nói chung và các nhà quản lý giáo dục nói nói riêng Trong mấychục năm xây dựng nhà nước XHCN và đặc biệt, trong khoảng gần 20 nămđổi mới, Đảng cộng sản Việt Nam qua các văn kiện đã thường xuyên thể hiện
Trang 16sự quan tâm đến đề tài xây dựng con người Việt Nam qua từng thời kỳ Cácnghiên cứu thường đi sâu vào việc xác định các nội dung đạo đức, các địnhhướng về giá trị đạo đức, các biện pháp giáo dục đạo đức sinh viên và quản lýhoạt động giáo dục đạo đức Thực tế, có rất nhiều học giả đã có những nghiêncứu cơ bản về vấn đề này.
GDĐĐ cho thanh thiếu niên nhất là đối tượng sinh viên đang ngồi trênghế nhà trường luôn là vấn đề quan trọng nhằm hình thành và phát triển nhâncách toàn diện của người công dân Vì thế, đây cũng là vấn đề được nhiều nhàgiáo dục nước ngoài và trong nước quan tâm
1.1.1 Các tác giả nước ngoài
Từ thời phong kiến Trung Hoa, Khổng Tử (551-479 Trước côngnguyên) đã rất coi trọng việc GDĐĐ trong nhân cách con người Đó là việcgiáo dục lòng nhân ái và biết sống có trên dưới, trung thực, thủy chung, có kỷcương từ gia đình đến xã hội, nhằm giữ trọn bổn phận làm tôi đối với vua,làm vợ đối với chồng, làm con cái đối với cha mẹ, làm em đối với anh, làmtrò đối với thầy, làm bạn bè đối với nhau, có được như vậy thì gia đình sẽđược yên ấm, xã hội sẽ được bình an [34]
J.A.Cômenxki (1592 - 1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, đã nói
“Một con người có hình thức đẹp đẽ mà không có văn hóa thì chỉ là con vẹt
có bộ lông hào nhóang, hoặc như người ta nói: một lưỡi kiếm bằng chì trong
vỏ kiếm bằng vàng” Ông đã đưa ra phương pháp GDĐĐ trong đó chú trọngđến hành vi là động cơ đạo đức [34]
Petxtalôdi (1746 - 1827), một trong ba nhà giáo dục tiêu biểu của thế
kỷ thứ XIX, đã đánh giá rất cao vai trò của GDĐĐ Ông cho rằng nhiệm vụtrung tâm của giáo dục là GDĐĐ (đức dục) cho trẻ em trên cơ sở chung nhất
là tình yêu về con người Tình yêu ấy bắt nguồn từ gia đình, trước hết là đốivới cha mẹ, anh chị em rồi đến bạn bè và mọi người trong xã hội Tình
Trang 17thương yêu con người của trẻ em sớm hình thành trong gia đình sẽ tiếp tụcđược củng cố và phát triển ở trường học [34]
C.Mác (1818-1883), người sáng lập ra Chủ nghĩa cộng sản khoa học,Triết học và Kinh tế học Mác xít của giai cấp vô sản, đã cho rằng: “Con ngườiphát triển tòan diện sẽ là mục đích của nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa, vàcon người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lựcsẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, nănglực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tựnhiên, xã hội xảy ra chung quanh…”
Lênin (1870 - 1924), nhà lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản, góp phầnsáng lập nên lí luận giáo dục của giai cấp vô sản, người coi GDĐĐ cộng sản
là nội dung quan trọng nhất trong nhà trường Xô Viết Phát triển tư tưởng củaMác và Ăngghen về GDĐĐ trong hòan cảnh mới, Lênin cũng phân tích thựcsâu sắc tính giai cấp, tính lịch sử của đạo đức với tư cách nó là một hình thái ýthức xã hội Người kiên quyết bác bỏ quan điểm cho là đạo đức là vĩnh hằng,bất biến [34]
Anton Makarenko (1888-1939), với kinh nghiệm lãnh đạo Trại Goorki
- trường giáo dục lại những trẻ vị thành niên phạm pháp và Công xã PheelixGiecginxki - một kiểu trường cải tạo vừa học vừa lao động ở Liên Xô (cũ),ông đã xây dựng hệ thống lí luận giáo dục cho đối tượng trên Những kinhnghiệm giáo dục của ông đã được đúc kết trong những tác phẩm sư phạm bất
hủ mang đậm tính nhân văn như “Bài ca sư phạm”, “Những ngọn cờ trên đỉnhtháp”, “Quyển sách của những người làm cha mẹ” Ông đã đề cao nhữngnguyên tắc như: “Giáo dục trong tập thể và bằng tập thể”, “tôn trọng và yêucầu cao đối với HS”; bằng sự sáng tạo của mình, ông đã để lại cho đời saunhững kinh nghiệm hết sức qúi báu về giáo dục và giáo dục lại HS chưangoan, giáo dục để phát huy tối ưu những điểm tốt và khắc phục triệt để các
Trang 18thói hư tật xấu trong mỗi con người Ông đã kết luận “Nhiệm vụ giáo dục củachúng ta nói tóm lại là giáo dục tập thể" Điều đó có nghĩa là hình thành nhậnthức, tình cảm, hành vi, thói quen tập thể; là góp phần tạo ra nhân sinh quanXHCN, bộ mặt đạo đức chủ yếu của con người XHCN để phân biệt với conngười của giai cấp bóc lột - con người ích kỷ, cá nhân [34].
1.1.2 Các tác giả trong nước
Từ ngàn xưa, dân tộc Việt Nam đã luôn coi trọng việc GDĐĐ, giáo dục
lễ nghĩa, đối nhân xử thế cho con em mình Thể hiện nhiều trong các câu cadao, tục ngữ: "Đói cho sạch, rách cho thơm", "Giấy rách phải giữ lấy lề",
"Anh em như thể tay chân, anh em hòa thuận hai thân vui vầy"…
Năm 938, dân tộc Việt Nam khôi phục nền độc lập, thống nhất quốcgia, xây dựng nhà nước phong kiến Nền giáo dục do nhà nước phong kiếnđiều hành được hình thành và phát triển qua 10 thế kỷ, cơ bản là giống nhau
về cơ cấu, nội dung, cách tổ chức việc dạy và học, thi hành chế độ khoa cử.Trải qua nghìn năm lịch sử, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạonhiều thế hệ tri thức tinh hoa của dân tộc, đồng thời cung cấp lực lượng chủyếu cho hệ thống quan chức quản lý nhà nước và xã hội Nền giáo dục ấy đãđào tạo nên nhiều nhà bác học, nhà văn, nhà sử học, nhà giáo, thầy thuốc códanh tiếng cùng những thế hệ trí thức giữ vai trò quan trọng trong việc xâydựng, vun đắp nền văn hiến Việt Nam Tuy còn nhiều khiếm khuyết nhưngnền giáo dục phong kiến coi trọng luân lý, lễ nghĩa đã góp phần cơ bản xâydựng nền tảng đạo đức xã hội ở nước ta
Từ khi khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch HồChí Minh đã xác định tầm quan trọng của công tác giáo dục, coi việc giáodục, đào tạo cho thế hệ trẻ là sự nghiệp “trồng người” và nêu tư tưởng chiếnlược “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích 100 năm trồng người” Hiểu rõtính chất phức tạp, tinh vi và tế nhị của các quan hệ đạo đức ở nước ta, Người
Trang 19đặc biệt quan tâm đến việc GDĐĐ cách mạng cho thanh niên Trong mốiquan hệ giữa “đức - tài”, Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc của người cáchmạng, là vấn đề có ý nghĩa quyết định của việc xây dựng con người mới.Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thìsông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải
có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo đượcnhân dân” [23]
Năm 1950, Trung ương Ðảng và Chính phủ quyết định tiến hành cảicách giáo dục: Nền giáo dục của dân, do dân, vì dân được thiết kế trên banguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng Phương châm giáo dục là học điđôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai ở miền Bắc là bước đi quan trọngtrong quá trình xây dựng nền giáo dục XHCN Hệ thống giáo dục mới nàyđược tiến hành không chỉ ở giáo dục phổ thông, mà còn ở giáo dục đại học,cao đẳng Nội dung giáo dục mới mang tính chất toàn diện trên bốn mặt:đức, trí, thể, mỹ Phương châm giáo dục là "liên hệ lý luận với thực tiễn, gắnnhà trường với đời sống xã hội"
Năm 1979, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ranghị quyết về cải cách giáo dục và Ủy ban cải cách giáo dục Trung ương đã raquyết định số 01 về cuộc vận động tăng cường GDĐĐ cách mạng trongtrường học, đã ghi rõ:
"Nội dung đạo đức cần được giáo dục cho HS từ mẫu giáo đến đạihọc", nội dung chủ yếu dựa vào 5 điều Bác Hồ dạy
Trước yêu cầu tăng cường công tác tư tưởng trong tình hình mới, ngày7-11-2006, Bộ Chính trị đã ban hành chỉ thị 06-CT/TW về tổ chức Cuộc vậnđộng "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Mục đích củacuộc vận động là làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những
Trang 20nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện vàlàm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặcbiệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên,HSSV nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xãhội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng
Nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước cũng đề cập đến vấn đề GDĐĐcho HSSV như:
- Luật giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam năm 2005 quy định về hệ thống giáo dục quốc dân; nhà trường, cơ sởgiáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quan nhà nước, tổ chứcchính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân; tổ chức và cánhân tham gia hoạt động giáo dục Điều 2 qui định: “Mục tiêu giáo dục là đàotạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ,thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực củacông dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
- Luật Dạy nghề được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam thông qua năm 2006 đã quy định về tổ chức, hoạt động của cơ sở dạynghề; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động dạy nghề
Điều 3 của Luật qui định “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹthuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứngvới trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tácphong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề saukhi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làmhoặc học lên trình độcao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
Trang 21nước”[39]
- Qui chế đánh giá kết quả rèn luyện của HSSV hệ chính qui trong các
cơ sở dạy nghề của Bộ Lao động Thương binh & Xã hội năm 2008 quy địnhquyền và nghĩa vụ của HSSV; nội dung công tác HSSV; hệ thống tổ chức, QLcông tác HSSV; khen thưởng và kỷ luật đối với HSSV áp dụng trong cáctrường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề công lập, tưthục và cơ sở đào tạo nghề có vốn đầu tư nước ngoài Điều 2 của Luật quiđịnh “Công tác HSSV là một trong những công tác trọng tâm của cơ sở dạynghề, nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu đào tạo con người Việt Nam pháttriển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp; hìnhthành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng
- Luật bảo vệ, chăm sóc & giáo dục trẻ em, số 25/2004/QH11 đượcQuốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2005, điều 28 khoản 2qui định "Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm thực hiệngiáo dục toàn diện về đạo đức, tri thức, thẩm mỹ, thể chất, giáo dục lao độnghướng nghiệp cho trẻ em; chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hộitrong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em"
Vấn đề GDĐĐ cho SV hầu như được đặt ra trong các văn bản qui phạmpháp luật và có tính định hướng trong giáo dục của toàn bộ hệ thống giáo dụcquốc dân cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội GDĐĐ cho SVtrong giai đoạn hiện nay là vấn đề được quan tâm hơn bao giờ hết Trướcnhững thực trạng về giáo dục đạo đức trong nhà trường và nhiều biểu hiệnlệch chuẩn của SV trong suy nghĩ, lối sống, một số nhà QLGD trên các kênhthông tin đã phân tích nguyên nhân và đề xuất những giải pháp như sau:
* Về nguyên nhân:
- Trên Báo Giáo dục số ra ngày 30/11/2009, Ông Phùng Khắc Bình, Vụ
Trang 22trưởng Vụ Công tác HSSV Bộ GD-ĐT cũng thừa nhận rằng: “Nhận thức củamột số lãnh đạo nhà trường về tầm quan trọng của công tác GDĐĐ HS chưađầy đủ, sâu sắc dẫn đến tình trạng nặng về dạy “chữ”, nhẹ về dạy “người”chưa quan tâm đầy đủ, huy động các nguồn lực cần thiết cho công tác GDĐĐ
HS Trong nhà trường vẫn còn có thầy, cô giáo vi phạm chuẩn mực đạo đức,chưa thực sự làm gương để HS noi theo Công tác phối hợp giữa nhà trườngvới gia đình và các cơ quan chức năng ở địa phương có nơi còn hình thức,lỏng lẻo, chưa chủ động, chưa phân công trách nhiệm cụ thể trong công tác”
Trước những ý kiến trên, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiểnkhẳng định: “Bộ GD-ĐT và Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chịutrách nhiệm lớn nhất trước xã hội về đạo đức lối sống của HS Bộ sẽ lấy ýkiến đánh giá về nội dung chương trình môn Giáo dục công dân và xây dựng
bộ tài liệu hướng dẫn tích hợp giáo dục kỹ năng sống trong chương trình giáodục phổ thông hiện hành Sau khi lấy ý kiến xây dựng chương trình sách giáokhoa mới, Bộ sẽ chú trọng tới việc làm thế nào để GDĐĐ, lối sống cho HShiệu quả hơn, từ mầm non đến phổ thông”
* Về giải pháp:
- Tiến sĩ Nguyễn Lộc, Phó viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục ViệtNam, tại “Hội nghị tập huấn giáo viên về GDĐĐ” tổ chức ngày 28/08/2009tại TP HCM đã nói "Việc dạy đạo đức cho HS, sinh viên cần đổi mới nộidung chương trình và cách thức truyền đạt của giáo viên Đã đến lúc các nhàgiáo dục cần nghiêm túc nhìn nhận lại vấn đề này Ở các nước, giờ đạo đức đivào các vấn đề hết sức cụ thể như: gia đình, tình yêu, mối quan hệ giữa nhàtrường, gia đình và xã hội… HS tiếp nhận giờ học một cách tự nguyện vàhứng thú”
Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục Việt Nam (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo Dục) phát biểu tại Hội thảo
Trang 23-“GDĐĐ cho HSSV ở nước ta hiện nay- Thực trạng và Giải pháp do Hội Khoahọc Tâm lý - Giáo dục VN tổ chức tại Đồng Nai ngày 4/12/2009 như sau: “Yếu
tố quyết định là ý thức tự giáo dục thật sự nghiêm khắc - sự phấn đấu hướngthiện của từng cá nhân, nhất là HS các lớp cuối cấp THCS; THPT và SV Kếthợp chặt chẽ GDĐĐ trong nhà trường với từng gia đình và ngoài xã hội,GDĐĐ cho tuổi trẻ, đặc biệt là HSSV đã và đang trở thành nhiệm vụ hết sứccấp bách, nhiệm vụ hàng đầu của các gia đình, nhà trường và toàn xã hội”
Các luận văn Thạc sỹ trong các năm từ 2003 đến nay đã nghiên cứu về
QL hoạt động giáo dục SV trong nhà trường thời gian gần đây, cụ thể:
- Luận văn: "Thực trạng về QL GDĐĐ cho HS THPT huyện LongThành và một số giải pháp" của Nguyễn Thị Đáp - 2008
- Luận văn: “Tổ chức hoạt động giáo dục, giáo dục đạo đức cho sinh viêntrường ĐHSP Huế trong tình hình hiện nay” của Nguyễn Văn Phước - 2003
- Luận văn: "QL công tác GDĐĐ cho HS - sinh viên trường Cao đẳngGiao thông vận tải 3" của Đặng Thị Ngọc Yến- 2006
Các đề tài trên đã nghiên cứu lĩnh vực QL hoạt động GDĐĐ cho HSSVtrên cơ sở "Luật Giáo dục" và "Luật Dạy nghề” những chỉ đạo ngành từ Bộ
GD - ĐT, Bộ Lao động Thương binh - Xã hội với đối tượng HS THPT vàsinh viên của trường Đại học, Cao Đẳng và các trường nghề
Để đạt được mục đích nghiên cứu, các tác giả tiến hành khảo sát cácđối tượng là GV, CBQL, SV và gia đình sinh viên về việc thực hiện các chứcnăng và hiệu quả của hoạt động QL GDĐĐ SV trong nhà trường qua đó đề racác biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động này Ví dụ:
- Tăng cường cung cấp kiến thức về các giá trị đạo đức cho HSSV;
- Tăng cường bộ máy nhân sự thực hiện công tác GDĐĐ HSSV về cả
số lượng và chất lượng và tổ chức tốt hoạt động GDĐĐ HSSV;
- Đẩy mạnh hoạt động thực tiễn rèn luyện hành vi đạo đức cho HSSV
Trang 24Như vậy, có thể thấy rằng chưa có nghiên cứu nào về QL hoạt độngGDĐĐ cho SV ở các trường CĐN trực thuộc Bộ LĐTB&XH Kế thừa nghiêncứu của các tác giả trong và ngoài nước về các lĩnh vực liên quan đến GDĐĐđồng thời có nghiên cứu sâu và mở rộng hơn về tổ chức hoạt động GDĐĐcho SV ở các trường CĐN; Chúng tôi mong rằng: "Hoạt động quản lý giáodục đạo đức sinh viên ở Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Mỹ nghệ Việt Nam
"sẽ góp phần giúp cho các nhà quản lý ở Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật
-Mỹ nghệ Việt Nam và các trường nghề khác có thể tham khảo để nâng caohiệu quả hoạt động QL GDĐĐ SV trong nhà trường
1.2 Các khái niệm cơ bản về đạo đức và giáo dục đạo đức sinh viên
1.2.1 Khái niệm đạo đức
Một số tác giả đã đưa ra những khái niệm về đạo đức:
- Theo Từ điển Triết học Liên Xô "Đạo đức là qui tắc sinh hoạt chungtrong xã hội và của hành vi của con người, qui định những nghĩa vụ của ngườinày với người khác và đối với xã hội, đạo đức là một trong những hình tháicủa ý thức xã hội"
- “Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc,qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệvới nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tươnglai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnhcủa dư luận xã hội”
- Tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan Và Nguyễn Văn Thàng trong tàiliệu“Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm” đã viết "Đạo đức là hệ thốngnhững chuẩn mực biểu hiện thái độ đánh giá quan hệ giữa lợi ích của bản thânvới lợi ích của người khác và của cả xã hội"
- Theo TS.Trần Hậu Kiểm trong giáo trình "Đạo đức học", Nhà xuấtbản Giáo dục, năm 1997 thì "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt,
Trang 25bao gồm một hệ thống, quan niệm, những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực đạođức ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội Nhờ đó, con người tựgiác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của conngười và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với conngười, giữa cá nhân và xã hội"
Từ những khái niệm của các tác giả trên ta có thể khái quát những điểmchung nhất cho khái niệm về đạo đức như sau:
- Dưới góc độ triết học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một bộphận của kiến trúc thượng tầng; Là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồntại xã hội và khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội thay đổi theo
- Dưới góc độ tâm lí học, đạo đức là tổng hợp các nguyên tắc, qui tắc,chuẩn mực xã hội, nó chi phối và quyết định hành vi, cử chỉ của cá nhân mộtcách tự giác, dường như nó gợi ý, chỉ bảo con người, việc gì nên làm, việc gìnên tránh, trước một hiện tượng của cá nhân hay xã hội nên tỏ thái độ này haythái độ khác
1.2.2 Khái niệm về nhận thức
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quátrình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của conngười, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn
Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biệnchứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đócon người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể
Trong đời sống xã hội loài người có những mối quan hệ rất phức tạp,
đa dạng, nó tồn tại đan xen nhau bởi các huyết tộc, nhân chủng, các giới, cácthế hệ Mặt khác, do trình độ nhận thức của mỗi người cũng khác nhau, họsống trên lãnh thổ khác nhau nên về tập tục, lợi ích, văn hóa, trình độ pháttriển cũng khác nhau Để duy trì sự tồn tại và phát triển, mỗi xã hội đòi hỏi
Trang 26phải xây dựng những nguyên tắc, chuẩn mực sống, trên cơ sở đó tự ý thức, tựhành động Nói cách khác, những nguyên tắc đó được xây dựng trên cơ sởtính tự nguyện, tự giác của mỗi người, biến thành ý thức của xã hội để conngười tự giác tuân theo Và cũng qua đó con người được đánh giá là có đạođức hay là không có đạo đức.
Về bản chất, đạo đức phản ánh những giá trị, những quan hệ tốt đẹpgiữa người với người; mặt khác đạo đức còn phản ánh ý thức và hành vi tựnguyện, tự giác của con người trong mối tương quan giữa cá nhân và xã hội,giữa con người với nhau, đạo đức xuất hiện từ khi có loài người và nó khôngbao giờ biến mất, nó tồn tại vĩnh viễn cùng với sự tồn tại và phát triển của xãhội loài người Vì vậy con người càng vươn tới và sáng tạo ra những giá trịđạo đức mới
Có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về đạo đức, nhưng đạođức được định nghĩa như sau:
Dưới góc độ triết học: Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhấtcủa ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiếthành vi của con người trong quan hệ với người khác với cộng đồng Căn cứvào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi ngườibằng các quan hệ thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự
Dưới góc độ đạo đức học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặcbiệt bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyêntắc, chuẩn mực xã hội
1.2.3 Khái niệm hành vi đạo đức
"Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi mộtđộng
cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức Chúng thường được biểu hiện trong cách đốinhân xử thế, trong lối sống, trong phong cách, trong lời ăn, tiếng nói"
Hệ thống chuẩn mực đạo đức chỉ có thể tồn tại dưới hình thức hành vi
Trang 27đạo đức sinh động của mỗi con người Hành vi đạo đức là cái được biểu hiện
ra trong cuộc sống hàng ngày của mỗi con người, là cái mà người khác có thểnhìn thấy, cảm nhận được và có thể đánh giá được theo một số tiêu chuẩnnhất định Hành vi có đạo đức là hành vi có những đặc trưng sau: được thựchiện một cách tự giác, hành vi có ích và không vụ lợi cá nhân
1.2.4 Vai trò của đạo đức trong sự phát triển của cá nhân, gia đình và XH
Trong những hoạt động xã hội, đạo đức là vấn đề luôn được đặt ra vớitất cả các cá nhân để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Tùy theotrình độ phát triển kinh tế - xã hội và quan điểm của giai cấp cầm quyền mà
sự tác động của đạo đức đến cá nhân, gia đình và xã hội có khác nhau Vai tròcủa đạo đức được thể hiện như sau:
a Đối với cá nhân
Đạo đức chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của con người, nóđiều chỉnh các quan hệ của con người với thế giới xung quanh bằng cách ngăncấm hoặc cho phép một cái gì đó, tán thành hoặc chỉ trích một cái gì đó Đạođức cần cho con người để điều khiển cuộc sống riêng, để tự đánh giá, để tựđiều chỉnh hành vi của mình
b Đối với gia đình
Đạo đức là nền tảng của hạnh phúc gia đình, từng cá nhân trong giađình phải sống theo các nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nó chi phối vàquyết định hành vi, cử chỉ của cá nhân một cách tự giác, dường như nó gợi ý,chỉ bảo con người, việc gì nên làm, việc gì nên tránh, tạo ra sự ổn định vàphát triển vững chắc của gia đình Đạo đức là nhân tố không thể thiếu của mộtgia đình hạnh phúc
c Đối với xã hội
Nếu ví xã hội là một cơ thể sống, thì đạo đức được coi là sức khỏe của
cơ thể sống ấy Một xã hội trong đó các qui tắc, chuẩn mực đạo đức được tôn
Trang 28trọng và luôn được củng cố, phát triển thì xã hội đó có thể phát triển bềnvững Ngược lại, trong một môi trường xã hội mà các chuẩn mực đạo đức bịxem nhẹ, không được tôn trọng thì nơi ấy dễ xảy ra sự mất ổn định, thậm chícòn có thể dẫn đến sự đổ vỡ nhiều mặt trong đời sống xã hội.
1.2.5 Mối quan hệ biện chứng giữa nhân cách và đạo đức
- Đạo đức và nhân cách có mối quan hệ khăng khít với nhau trong đóđạo đức là cơ sở để hình thành nhân cách của mỗi con người
- Nhân cách là cơ sở để đánh giá phẩm chất đạo đức của mỗi conngười Nói tới đạo đức là nói tới những quy định cụ thể, đôi khi là những ràngbuộc ngặt nghèo mà xã hội muốn cá nhân phải tuân theo để tạo ra một đòisống ổn định Trong khi đó, việc xây dựng nhân cách như trên đã nói, liênquan đến những nguyên tắc bao quát chi phối đời sống tinh thần một conngười, do đó thoáng đãng, cởi mở, không đi vào xét nét mà vẫn giữ được sựchặt chẽ Ví dụ, một trong những mối quan hệ ai cũng phải xử lý cho thíchđáng là quan hệ nam nữ Nếu dừng lại ở góc độ đạo đức, người ta chỉ cần đốichiếu hành động của đương sự với những quy định đạo đức đang được cộngđồng chấp nhận để "cho điểm" Trong khi đó, có thể có một cách khảo sátkhác, ấy là tìm ra trong cách ứng xử của đương sự những ý tưởng rộng lớnhơn như quan niệm về tự do, quyền quyết định của mỗi người với số phận củachính mình, lòng tin ở sự thay đổi Với cách khảo sát này, người ta có khảnăng đi vào thực chất của các hành động, và trong một số trường hợp, mởđường cho việc xây dựng những tiêu chuẩn đạo đức mới Và đấy chính là xétcon người theo nhân cách Sản phẩm phụ thước đo chính Nếu không định đi
tu, người ta không mấy khi chỉ chăm chăm hướng đời mình vào việc bồidưỡng nhân cách Mà nó chỉ là sản phẩm phụ, sản phẩm đi kèm, cùng thuđược sau quá trình sống và làm việc của một con người Nhưng không phải vìthế nó không quan trọng Giả sử trước mắt tôi là một nhà khoa học Nếu xétông ta như một chuyên gia, một người lao động trí óc thì quá đơn giản, chỉ
Trang 29cần xem xét các công trình do ông ta soạn thảo hay phát minh sáng chế là đủ.Nhưng nếu muốn đánh giá ông ta như một trí thức, thì phải tìm hiểu rộng ra
cả cách sống cách nghĩ cũng như quan niệm của ông ta về nhiều vấn đề thiếtyếu của xã hội, tức phải xét thêm về nhân cách Có thể nói nhân cách là mộtthứ sản phẩm đặc trưng cho người trí thức, một thứ chỉ số cần đo đạc tinhtoán khi xét đóng góp của người đó cho xã hội (ở chỗ này, khái niệm trí thức
có phần gần với những khái niệm cũ trong Nho giáo như nhà nho, kẻ sĩ, ngườiquân tử)
Một đặc tính cần lưu ý của nhân cách: nó không phải ‘thứ nhất thànhbất biến’, hoặc “khi một lần lấy bằng rồi sử dụng suốt đời" Mà nó có bồi có
lở, có đến có đi, có thể hoàn thiện dần dần song cũng có thể xói mòn rồi bịđánh mất Lại có không ít trường hợp sách vở bảo người ta nên đi theo hướngnày mà đời sống lại thầm thì khuyên là nên làm như thế kia mới có lợi, và rồi
cả hai yếu tố trái ngược ấy sẽ cùng có mặt trong cách sống cách nghĩ của conngười cụ thể làm nên một nhân cách mâu thuẫn Nhìn chung cả chiều dài lịch
sử, có thể thấy hầu như chỉ các xã hội cổ điển mới có nhân cách thuần nhất,còn hiện trạng nhân cách mâu thuẫn, rạn vỡ rất tiêu biểu cho xã hội hiện đại,
nó gắn liền với quá trình tha hóa phân thân thường được nhắc nhở trong cáccông trình nghiên cứu xã hội học cũng như tâm lý học
1.2.6 Giáo dục đạo đức sinh viên
1.2.6.1 Giáo dục đạo đức
Dưới góc độ giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặcbiệt bao gồm các hệ thống quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệcủa con người với con người
Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lí, những quy định, những chuẩn mựcứng xử trong quan hệ của con người Nhưng trong điều kiện hiện nay, chínhquan hệ con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định
Trang 30những chuẩn mực ứng xử của con người với bản thân, với con người, vớicông việc, với thiên nhiên, với môi trường sống.
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trùchính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách,phản ánh bộ mặt của nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hóa Đạo đứcđược biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng; ở hành động gópphần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa nhận đạo đức
là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng,mỗi tầng lớp, giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ vớicác vấn đề đang tồn tại”
Tóm lại, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một
hệ thống những quan điểm, quan niệm những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực
xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người
tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc củacon người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với conngười, giữa cá nhân và xã hội”
Việc GDĐĐ cho SV chỉ đạt hiệu quả khi sử dụng và kết hợp linh hoạt,sáng tạo cả hai con đường dạy học trên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp;
Trang 31bằng nhiều biện pháp phù hợp với hoàn cảnh và đặc điểm tâm sinh lý của SV.
1.2.7 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi HSSV CĐN
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, hầu hết SV CĐN trong khoảng từ 18đến 20 tuổi, các em vừa tốt nghiệp THPT, theo tâm lí học được xếp vào lứatuổi thanh thiếu niên Đây là lứa tuổi quá độ, chuyển từ trẻ con sang người lớn
và ở độ tuổi này các em có những đặc điểm về nhận thức, tình cảm và ý chínhư sau:
1.2.7.1 Đặc điểm hoạt động nhận thức
Tri giác có mục đích của các em đã đạt tới mức rất cao; Ghi nhớ có chủđịnh giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớlogic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt; các em có khả năng tưduy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, chặt chẽ có căn cứ và mangtính nhất quán; khả năng tưởng tượng khá phong phú nhưng còn bay bổng,thiếu thực tiễn
Những nghiên cứu tâm lí học cho thấy trình độ nhận thức đạo đức củathiếu niên là cao Thiếu niên hiểu rõ những khái niệm đạo đức vừa sức đối vớichúng…Nhưng cũng có cả những kinh nghiệm và khái niệm đạo đức hìnhthành một cách tự phát ngoài sự hướng dẫn của giáo dục, do ảnh hưởng củanhững sự kiện trong sách, phim, bạn bè xấu…Do vậy, các em có thể có nhữngngộ nhận hoặc hiểu phiến diện, không chính xác một số khái niệm đạo đức…
1.2.7.2 Đặc điểm tình cảm và ý chí của thanh thiếu niên
Đặc điểm đặc trưng là tính cảm xúc cao, tính ấn tượng mạnh, tính bồngbột, tính hăng say và tính ít nhiều không ổn định của tâm trạng Tính cách củathiếu niên vẫn còn chưa định hình Tính tích cực thái quá thường được thểhiện trong các hành động bột phát, xung động Nguyện vọng trở thành ngườilớn đôi khi làm cho thiếu niên hiểu sai về tính độc lập, đồng nhất nó với tínhbướng bỉnh, tính phủ định đối với những lời khuyên của người lớn
Trang 32Nghiên cứu hành vi của thiếu niên, người ta thấy rằng nhiều em mongmuốn tự giáo dục nhưng trong khi rèn luyện ý chí của mình, thiếu niênthường sử dụng các biện pháp không sư phạm và thực hiện chúng không phảitrong các công việc thường, mà trong các hành động “yêng hùng”, giả tạo
Với những đặc điểm tâm sinh lí trên trong GDĐĐ SV, cần phải chú ýnhững vấn đề sau:
- Tăng cường các hình thức giáo dục bằng cổ động trực quan: tranhảnh, mô hình, các diễn đàn dành cho sinh viên, các buổi sinh hoạt tập thể,người thực việc thực Cung cấp các tri thức đạo đức bằng nhiều hình thứcphong phú, sinh động, liên hệ thực tiễn… giúp các em hiểu được khái niệmđạo đức một cách chính xác và tổ chức hành động để thiếu niên có được kinhnghiệm đạo đức đúng đắn
- Đây là lứa tuổi các em không còn là trẻ con nữa, nhưng chưa hẳn làngười lớn Ở lứa tuổi này các em cần được tôn trọng nhân cách, cần đượcphát huy tính độc lập, biết lắng nghe ý kiến của các em, đồng thời có biệnpháp khéo léo để các em hình thành được một biểu tượng khách quan về nhâncách của mình
1.2.8 Giáo dục đạo đức SV trong nhà trường Cao đẳng nghề
1.2.8.1 Đặc điểm của SV trường Cao đẳng nghề
Cùng với sự phát triển của xã hội, và hội nhập quốc tế con người cũng
có nhiều thay đổi Có những thay đổi tốt nhưng có nhiều mặt cũng không tốt,đáng báo động hơn cả là vấn đề đạo đức của thanh thiếu niên hiện nay trong
đó có sinh viên đặc biệt là sinh viên các trường nghề Trong tài liệu giáo dụchọc đại cương của Đặng Vũ Hoạt và Nguyễn Hữu Dũng đã nêu: Các nhànghiên cứu cho rằng giữa giáo dục và phát triển nhân cách tác động qua lạivới nhau rất mật thiết Vì vậy để có thể tác động có hiệu quả đến sự phát triển
Trang 33nhân cách, giáo dục phải dựa vào những đặc điểm nhân cách của từng lứatuổi, thậm chí của từng cá nhân.
Người ta xác định ứng với một lứa tuổi là một giai đoạn phát triển nhâncách Như vậy, đối với thế hệ trẻ, chúng ta nhận thấy còn nhiều giai đoạn pháttriển nối tiếp nhau theo thời gian, mang tính quy luật, mang tính chu kỳ nhấtđịnh, phản ánh sự luân phiên của các dạng hoạt động chủ đạo
Giai đoạn trước tạo tiền đề và điều kiện cho giai đoạn sau và giai đoạnsau không những tạo tiền đề và điều kiện cho giai đoạn tiếp theo mà còn tạo
ra những chất mới về tâm lý, về trí tuệ, về thẩm mỹ và về đạo đức,…
Các nhà tâm lý học trên thế giới đều chung một quan niệm cho rằng
tuổi thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em đến người lớn và bao gồmmột khoảng đời từ 11,12 tuổi đến 23, 24 hoặc 25 tuổi Giai đoạn này có thểchia làm hai thời kỳ: thời kỳ chuyển tiếp trước, bắt đầu từ 11, 12 tuổi và kếtthúc vào tuổi 16,17 và thời kỳ chuyển tiếp sau, bắt đầu từ 17, 18 tuổi và kếtthúc vào lúc thành người lớn thực sự (khoảng 25 tuổi) Như vậy, sinh viên đạihọc là những thanh niên ở thời kỳ chuyển tiếp sau
Theo xã hội học thì sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệtđang chuẩn bị cho hoạt động lao động trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhấtđịnh Ở cấp độ xã hội, sinh viên là người đang chuẩn bị gia nhập đội ngũ trithức xã hội Ở cấp độ cá nhân, sinh viên là người đang trưởng thành về mặt xãhội, chín muồi về thể lực, định hình về nhân cách, đang học tập tiếp thunhững tri thức, kỹ năng của một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định
Về mặt tâm lý: Trong thời kỳ này sự phát triển trí tuệ được đặc trưng
bởi sự nâng cao năng lực trí tuệ, đặc biệt trong việc tư duy sâu sắc và mởrộng, có năng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn hơn,cũng như có tiến bộ rõ rệt trong lập luận lôgic, trong việc lĩnh hội tri thức, trítưởng tượng, sự chú ý và ghi nhớ Cũng chính trong thời kỳ này khả năng
Trang 34hình thành ý tưởng trìu tượng, khả năng phán đoán, nhu cầu hiểu biết và họctập được phát triển Tự ý thức là một trong những đặc điểm tâm lý quan trọngcủa lứa tuổi thanh niên sinh viên Tự ý thức là một cấp độ của ý thức trongđời sống cá nhân có chức năng tự điều chỉnh, tự nhận thức và tỏ thái độ đốivới bản thân Tự ý thức chính là điều kiện để phát triển và hoàn thiện nhâncách, hướng nhân cách theo các yêu cầu của xã hội.
Về mặt xã hội: Trong lứa tuổi này, con người đang hình thành những
hứng thú và thái độ mới, quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển những kỹnăng mới, cách ứng xử mới, tác phong đĩnh đạc để đối diện với môi trường xãhội ngày càng mở rộng; là giai đoạn chuyển từ độ chín muồi về thể lực sangtrưởng thành về phương diện xã hội Cũng chính trong thời kỳ này sinh viên
có kế hoạch riêng cho hoạt động của mình và độc lập cho phán đoán và hành
vi, có sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về thang giá trị xã hội có liên quanđến nghề nghiệp; xác định cho mình con đường sống, tích cực nắm vững nghềnghiệp và bắt đầu thể hiện mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, có khátvọng được cống hiến, mong muốn được xã hội đánh giá và có khả năng tựđánh giá mình, mong muốn tự hoàn thiện
Hoạt động chính trị xã hội của sinh viên: Hoạt động chính trị xã hội
của sinh viên được tiến hành qua nhiều hình thức đa dạng và phong phú, từ tổchức phong trào thi đua của sinh viên và tổ chức đoàn thanh niên đến các hoạtđộng thực tiễn tham gia sản xuất, lao động công ích đóng góp xây dựng côngtrình văn hóa, các công trình công cộng thông qua hoạt động chính trị xã hội,
SV hiểu sâu hơn vốn tri thức lý luận đã tiếp thu ở giảng đường, vận dụng kiếnthức đó vào thực tiễn và từ thực tiễn sinh động kiểm nghiệm, minh họa chonhững tri thức lý luận, những nguyên lý đã tiếp thu được từ ở sách vở; giúpsinh viên nâng cao tính tập thể, tinh thần trách nhiệm, tạo không khí đoàn kếtthân ái, nếp sống lành mạnh, uốn nắn các lệch lạc của cá nhân sinh viên, giúp
Trang 35họ hiểu và chấp hành đúng nghĩa vụ, trách nhiệm của bản thân, biết giới hạn
và thỏa mãn nhu cầu chính đáng của bản thân
Như vậy, lứa tuổi sinh viên là lứa tuổi đang hình thành và phát triểnmạnh mẽ những phẩm chất nhân cách có ý nghĩa rất lớn đối với việc tự giáodục, tự hoàn thiện bản thân theo hướng tích cực như khả năng tự đánh giá,lòng tự trọng, tự tin, tự ý thức,…Đồng thời họ cũng muốn tự khẳng định vaitrò của mình trong xã hội và trong các mối quan hệ Có thể khẳng định, kếtquả giáo dục nói chung và GDĐĐ nói riêng phụ thuộc vào việc tiếp nhận củađối tượng giáo dục Dù chủ thể giáo dục có tích cực đến đâu mà đối tượnggiáo dục không tiếp nhận thì quá trình giáo dục đó sẽ không có kết quả
Sinh viên trường CĐN là tất cả học sinh tốt nghiệp THPT không thi đỗđại học có nguyện vọng học nghề thì nộp hồ sơ đều được vào học, mặc dù cóqua hình thức xét tuyển nhưng đấy chỉ là hình thức Học sinh nào có đủ hồ sơ
là được vào học vì vậy dẫn đến tình trạng có một số học sinh có học lực yếu
và đạo đức của các em cũng rất kém nhưng vẫn được nhận vào học Thêmvào đó cuộc sống xa nhà, các em bắt đầu cuộc sống tự lập nếu em nào ý thứckhông cao thì rất dễ bị lôi kéo theo các thành phần xấu trong trường hoặcngoài trường Công tác nghiên cứu và đề xuất những biện pháp quản lý đạođức của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề và đạo đức của sinhviên để khi ra trường các em có thể trở thành những người thợ có tay nghềcao, có đạo đức nghề nghiệp và là những người công dân tốt góp sức mìnhvào công cuộc xây dựng đất nước
1.2.8.2 Giáo dục đạo đức SV trong trường cao đẳng nghề
Mục tiêu
Dạy nghề là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân Nghiêncứu Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam đã thông qua, nhận thấy rằng: mục tiêu của giáo dục phổ
Trang 36thông cũng như dạy nghề đều có một điểm chung là đào tạo con người ViệtNam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghềnghiệp trong đó đạo đức là then chốt Như Bác Hồ đã dạy “Dạy cũng như họcphải chú trọng cả tài lẫn đức” Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc quantrọng của con người phát triển toàn diện mà nhà trường phổ thông có tráchnhiệm đào tạo
Nội dung
GDĐĐ SV có ý nghĩa hàng đầu trong toàn bộ công tác giáo dục ở nhàtrường xã hội chủ nghĩa Các nội dung GDĐĐ bao gồm:
- Giáo dục lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính
- Giáo dục thái độ đối với lao động
- Giáo dục thái độ tích cực đối với cộng đồng
- Giáo dục thái độ đúng đắn đối với mọi người và bản thân
- Giáo dục thái độ đúng đắn đối với môi trường xung quanh
Năm nội dung GDĐĐ cách mạng trên đây là thống nhất và gắn bó chặtchẽ với nhau, cần phải tiến hành giáo dục đầy đủ cho SV trong nhà trường
1.3 Một số vấn đề chung về quản lý và hoạt động quản
Trang 37Khái niệm quản lý được sử dụng một cách rộng rãi trong lĩnh vực khoahọc xã hội Xét về chức năng, quản lý là hệ tổ chức, có nhiều cách định nghĩa
về hoạt động quản lý
- Theo Mary Parker Fowt - nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ(1868 -1933): “quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thôngqua người khác”
- Theo W.Taylor, người Mỹ cho rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng,chính xác cái gì cần làm và làm như nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất
- Một số nhà nghiên cứu cho rằng: Quản lý là một quá trình kỹ thuật và
xã hội, nhằm sử dụng các nguồn lực tác động tới hoạt động của con ngườinhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
* Ngoài ra, còn có một số định nghĩa sau:
- Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội;nghĩa là hoạt động quản lý chỉ cần thiết và tồn tại với một nhóm người; cònđối với cá nhân là sự điều khiển hoạt động của chính mình
- Quản lý gồm công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho người khác thựchiện công việc và đạt được mục đích của nhóm
- Hệ thống quản lý được hiểu như sự phối hợp có tổ chức và thống nhất
hệ thống quản lý có những đặc điểm sau:
+ Các mục đích hoạt động quản lý và các chức năng của các thành viêntham gia vào hoạt động này
+ Sự lựa chọn các thành phần cụ thể để tạo ra hoạt động quản lý nhưmột tổng thể
+ Những qui định về mối quan hệ với bên ngoài
+ Xây dựng những cấu trúc của tổ chức để điều khiển các mối liên hệ,các chuẩn mực, các quyền hạn, các bộ phận cũng như các hoạt động của hệthống quản lý
Trang 38+ Đảm bảo thông tin theo các tuyến quan hệ trên, dưới, ngang trong nội
bộ nhóm và với bên ngoài nhóm
+ Các bước để thông qua quyết định và thực hiện quyết định
Có thể nói hệ thống quản lý là sự tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể quản
lý và khách thể quản lý Quản lý vừa là một khoa hoc vừa là một nghệ thuật
Quản lý là một khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức, được hệ thống hóa
và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt Quản lý là khoa học phânloại kiến thức, giải thích các mối quan hệ - đặc biệt là mối quan hệ giữa chủthể và khách thể quản lý dự báo kết quả
Quản lý là một nghệ thuật, bởi lẽ nó là hoạt động đặc biệt đòi hỏi sựkhéo léo, tinh tế và linh hoạt với những kinh nghiệm đã quan sát được, nhữngtri thức đã đúc kết được Người quản lý để qua đó để áp dụng những kỹ năng
tổ chức con người và công việc Xôcrat nhà triết học cổ đại Hy Lạp đã nói:những người biết cách sử dụng con người sẽ điều khiển con người hoặc cánhân một cách sáng suốt Trong khi những người không biết làm như vậy sẽmắc sai lầm trong việc điều hành cả hai công việc này
Như vậy, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý (những người bị quản lý) bằng việc sử dụng các phương tiện quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý
Sự tác động này được mô hình hóa như sau:
Công cụ
Phương pháp
Khách thể quản lý
Chủ thể
quản lý
Mục tiêu
Trang 39Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý
QL tạo nên nội dung của quá trình QL, nội dung lao động của đội ngũ CBQL
và là cơ sở để phân công lao động QL giữa những người CBQL; là nền tảng
để hình thành và hòan thiện cấu trúc tổ chức của sự QL
Tất cả các nhà QL đều thực hiện 4 chức năng cơ bản, đó là: lập kếhoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
- Lập kế hoạch là một quá trình gồm các bước: dự báo, xác định mụctiêu, lập kế hoạch chương trình, nghiên cứu xác định tiến độ, xác định ngânsách, xây dựng các nguyên tắc tiêu chuẩn và các thể thức thực hiện
- Tổ chức là một khâu trong chu trình QL bao gồm các hoạt động: xácđịnh các bộ phận cần có, thiết lập mối quan hệ ngang và dọc của các bộ phận;xác định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của từng bộ phận; xây dựng qui chếhoạt động; bồi dưỡng nâng cao năng lực cho nhân sự thực hiện công việc
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch là theo dõi, giám sát công việc để chỉ huy,
ra lệnh cho các bộ phận và các hoạt động của nhà trường diễn ra đúng hướng,đúng kế hoạch, tập hợp được các lực lượng giáo dục trong một tổ chức vàphối hợp tối ưu với nhau
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch là thực hiện ba chức năng:phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích Nhờ có kiểm tra mà người QL có được
Trang 40thông tin để đánh giá được thành tựu công việc và uốn nắn, điều chỉnh hoạtđộng một cách đúng hướng nhằm đạt mục tiêu
Như vậy: Khi có sự phân công hợp tác trong lao động nghĩa là có sựhiện hữu của một tổ chức thì tất yếu phải có hoạt động QL Trong hoạt động
QL nhất thiết người QL phải thực hiện đầy đủ bốn chức năng cơ bản: lập kếhoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch Buônglỏng QL hoặc thực hiện thiếu một trong các chức năng thì sẽ không đạt mụctiêu của tổ chức hoặc hiệu quả hoạt động sẽ không cao
1.3.1.3 Khái niệm QLGD
Cũng như QL xã hội, QLGD là hoạt động có ý thức của con ngườinhằm theo đuổi những mục đích của mình
QLGD cũng có nhiều khái niệm khác nhau:
Trong tài liệu “Tổng quan về lý luận QLGD” của Học viện QLGD đàotạo có nêu: “QLGD là một loại hình QL được hiểu là sự tác động có ý thứccủa chủ thể QL tới khách thể QL nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thốnggiáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”
“QLGD là việc đảm bảo sự hoạt động của tổ chức trong điều kiện có sựbiến đổi liên tục của hệ thống giáo dục và môi trường, là chuyển hệ thống đếntrạng thái mới thích ứng với hòan cảnh mới”
“QLGD thực chất là những tác động của chủ thể QL vào quá trình giáodục được tiến hành bởi tập thể giáo viên và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của cáclực lượng xã hội nhằm hình thành và phát triển tòan diện nhân cách HS theomục tiêu đào tạo của nhà trường”
Từ các khái niệm trên ta có thể thấy rõ bốn yếu tố cơ bản của QLGD,
đó là: chủ thể QL tác động đến đối tượng QL và khách thể QL (thông qua