1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ

106 1,4K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 910 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nguyên nhân cơ bản là sinh viên chưa nhậnthức đúng đắn về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc tự học môn Giáo dụchọc GDH, chưa nắm được quy trình hành động của các kỹ năng

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với sự đổi mới kinh tế – xã hội, Đảng và nhà nước ta xác định

“Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Giáo dục luôn là động lực quan trọng thúcđẩy sự phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội Ở nước ta từ sau khi đổi mới,giáo dục đạt được những thành tựu cơ bản cả về quy mô và chất lượng Đạihội Đảng Cộng sản Việt Nam lần IX khẳng định: “Tiếp tục nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo củahọc sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề,đẩy mạnh phong trào tự học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáodục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cảnước trở thành một xã hội học tập”[44, 109] Trong những năm qua, ngànhgiáo dục đã có những sự thay đổi về chương trình, nội dung, sách giáo khoa ởcác cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học Sù đổi mới vềchương trình, nội dung, sách giáo khoa ở giáo dục phổ thông đòi hái phải đổimới cách dạy, cách học ở cao đẳng, đại học đồng thời cũng đặt ra vấn đề phảiđổi mới trong cách dạy, cách học đối với sinh viên sư phạm

Mục tiêu giáo dục của nước ta là phát triển nhân cách con người toàndiện về đức, trí, thể, mỹ, lao động Từ luận điểm trên, chúng tôi cho rằng đểnâng cao chất lượng giáo dục trước tiên phải nâng cao hiệu quả học tập màcách học là một trong những yếu tố cơ bản quyết định chất lượng học tập.Học cách học để học suốt đời “học nữa, học mãi”, học tất cả những gì cầnthiết cho cuộc sống trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong dạyhọc nói chung và ở trường phổ thông nói riêng

Chóng ta đang sống trong thời đại mà lượng thông tin tăng theo cấp sốnhân, chất lượng thông tin được đặt lên hàng đầu Nhà trường không thể đưatất cả những kiến thức cần thiết cho cuộc sống vào dạy cho học sinh trong

Trang 2

thời gian ngồi trên ghế nhà trường và cũng không có nhà trường nào có thểdạy cho học sinh tất cả những kiến thức đó Kiến thức trong sách giáo khoaluôn lạc hậu so với thực tiễn Mặt khác, nhu cầu học tập của các cá nhân làkhác nhau vì các lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội là vô cùng phongphó, đa dạng và luôn thay đổi Quan niệm “một lần học để dạy học suốt đời”

đã lỗi thời Khả năng tự học trở thành tài nguyên vô cùng quí giá của mỗi cánhân và của cả dân téc Ở nước ta, khả năng tự học được phát huy qua từngthời kỳ lịch sử và trở thành truyền thống dân téc Dạy học ngày nay là thôngqua dạy những nội dung cơ bản, tối thiểu, cần thiết để dạy cách học, học cáchhọc nhằm phát huy ở người học tính tích cực, chủ động, sáng tạo “Biến quátrình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” đã trở thành mét trong các mục tiêuquan trọng của nhà trường “Người được giáo dục ngày nay là người đã họcđược cách học, học được cách thích ứng và thay đổi” [5, 67]

Sinh viên sư phạm là những giáo viên tương lai Biết cách học vừa làphương tiện để họ tự học, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp

vụ cho mình, vừa là phương tiện để dạy cách học, dạy kỹ năng học cho họcsinh Chỉ khi giáo viên biết cách học mới có khả năng dạy cho các thế hệ họcsinh biết cách học Trong thời đại mới “người thầy không phải là người bán lẻthông tin, người thầy là người cung cấp những cái chìa khóa cho phép họcsinh mở cửa vào kho tàng tri thức của chính họ” [28, 236] Đó cũng là conđường trực tiếp nâng cao chất lượng dạy học ở các trường phổ thông

Tự học là hình thức cá nhân tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhậnthức của bản thân Tự học không chỉ giúp người học mở rộng, đào sâu nhữngđiều đã học mà còn là con đường chủ yếu để rèn luyện các kỹ năng, vận dụng,hình thành phẩm chất năng lực cá nhân Bởi vậy, tự học là hoạt động khôngthể thiếu của sinh viên đại học nói chung và sinh viên sư phạm nói riêng.Thực tiễn giáo dục đã chứng minh rằng, chất lượng và hiệu quả giáo dục được

Trang 3

nâng cao khi và chỉ khi người học tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập.Muốn chủ động, tích cực người học phải biết các kỹ năng học cơ bản, biếtphương pháp học Có phương pháp học, người học có thể học tất cả những gìcần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần và nghề nghiệp Vì vậy,

có thể nói rằng kỹ năng tự học, năng lực “tự đào tạo” là mét trong những kỹnăng sống trong thế kỷ XXI

Trong những năm gần đây, có một số công trình nghiên cứu về vấn đề

tự học của Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Phan Trọng Luận, Phan TrọngNgọ, Vũ Quốc Chung, Thái Duy Tuyên và nhiều tác giả khác Các côngtrình đã đề cập đến các khái niệm cơ bản, lợi Ých, giá trị của hoạt động tựhọc; kỹ năng học tập; phân loại các kỹ năng; hình thành kỹ năng học tập Cãmột số luận văn nghiên cứu về hoạt động tự học của học sinh, sinh viên vàđều quan tâm đến vấn đề phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của ngườihọc, đưa ra các nhóm biện pháp rèn luyện cho người học những kỹ năng họctập Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu mà các tác giả đưa ra còn mangtính khái quát Các môn học đều có các phương pháp đặc trưng khi làm việcvới các nguồn tri thức khác nhau Vì thế cần phải có những nghiên cứu đểhình thành và rèn luyện những kỹ năng học cơ bản, hình thành phương pháphọc cho sinh viên

Theo kết quả khảo sát của chúng tôi tại trường Cao đẳng Cần Thơ(CĐCT) cho thấy, kỹ năng học những môn nghiệp vụ sư phạm, đặc biệt làmôn Giáo dục học của sinh viên ở mức thấp Có nhiều nguyên nhân dẫn đếntình trạng này Một trong những nguyên nhân cơ bản là sinh viên chưa nhậnthức đúng đắn về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc tự học môn Giáo dụchọc (GDH), chưa nắm được quy trình hành động của các kỹ năng học để cóthể tự học; nhà trường, giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc dạy kỹnăng học cơ bản môn GDH cho sinh viên Như vậy, muốn nâng cao chất

Trang 4

lượng học tập nói chung và nâng cao chất lượng học tập môn GDH nói riêngthì vấn đề quan trọng hiện nay là cần có những biện pháp cụ thể nâng cao chấtlượng tự học môn GDH cho sinh viên trường Sư phạm

Từ những lý do trên, chúng tôi đã lùa chọn nghiên cứu “BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TÙ HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẦN THƠ”

2 Mục đích nghiên cứu

Nâng cao chất lượng tự học môn Giáo dục học của sinh viên trườngCao đẳng Cần Thơ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề kỹ năng học môn GDH củasinh viên trường CĐCT

Nghiên cứu thực trạng vấn đề kỹ năng học môn GDH của sinhviên trường CĐCT

Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng học môn GDH chosinh viên trường CĐCT

Thăm dò ý kiến cán bộ giáo viên về các biện pháp đã đề xuất

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn GDH ở trườngCĐCT

Đối tượng nghiên cứu: Các mối quan hệ giữa hoạt động dạy, hoạtđộng học với nội dung môn GDH nhằm đề xuất các biện pháp dạy kỹnăng tự học cho sinh viên trường CĐCT

5 Phạm vi nghiên cứu

Trong điều kiện thời gian cho phép đối với mét luận văn thạc sĩ, chóngtôi giới hạn nghiên cứu về kỹ năng học cơ bản đối với môn GDH của sinhviên sư phạm và điều tra trên sinh viên năm thứ 2 tại trường CĐCT

Trang 5

6 Giả thuyết khoa học

Nếu nâng cao trình độ nhận thức về vai trò tự học môn GDH, trang bịcho sinh viên quy trình học đối với từng kỹ năng học cơ bản thì có thể hìnhthành được kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên CĐCT

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Chúng tôi tiến hành tổng hợp và phân tích một số kết quả nghiên cứu

về hoạt động tự học, kỹ năng học cơ bản môn GDH:

Các tài liệu liên quan đến dạy học môn GDH, đến kỹ năng học

cơ bản

Các công trình nghiên cứu khoa học giáo dục, các tạp chí, tài liệuliên quan

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Quan sát theo dõi thực tế và diễn biến về học tập, hoạt động tùhọc môn GDH của sinh viên

Sử dụng phiếu thăm dò thực trạng nhận thức, phương pháp họcmôn GDH của sinh viên trường CĐCT

Thăm dò ý kiến giáo viên về tính khả thi của các biện pháp rènluyện kỹ năng học môn GDH

Phân tích thực trạng nhận thức cũng nh thực trạng phương pháphọc môn GDH của sinh viên các líp sư phạm K31: Địa - Sử, Toán - Lý,Văn - sử, Thể dục

7.3 Phương pháp thống kê

Chúng tôi sử dông phương pháp thống kê bằng phần mềm SPSS để xử

lý kết quả đã điều tra

Trang 6

8 Cấu tróc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành bachương

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG HỌC1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu vấn đề dạy và học cách học

1.1.2 Nghiên cứu vấn đề kỹ năng và kỹ năng học tập

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.2.1 Môn GDH trong chương trình đào tạo giáo viên CĐSP

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẦN THƠ2.1 Khái quát về trường Cao đẳng Cần Thơ

2.1.1 Thực trạng về đội ngò

2.1.2 Thực trạng về công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên

2.1.3 Thực trạng về cơ sở vật chất

2.1.4 Thực trạng về công tác phối hợp với đoàn thể

2.2 Thực trạng vấn đề tự học môn Giáo dục học của sinh viên

2.2.1 Thực trạng nhận thức của sinh viên về tự học môn GDH

2.2.2 Thực trạng về cách học môn GDH của sinh viên

2.2.3 Thực trạng mức độ nắm vững quy trình học môn Giáo dục họccủa sinh viên

Trang 7

2.2.4 Kết quả học tập môn Giáo dục học của sinh viên năm 2007 - 2008Kết luận chương 2

Chương 3BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC CHO

SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẦN THƠ3.1 Một số yêu cầu cơ bản đối với các biệp pháp

3.2 Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng học môn Giáo dục học cho sinh viên

3.2.1 Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức về tự học cho sinh viên3.2.2 Nhóm biện pháp rèn luyện kỹ năng hoạt động nhận thức cho sinhviên

3.2.3 Nhóm biện pháp rèn luyện kỹ năng dạy học

3.2.4 Nhóm biện pháp rèn luyện kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục3.2.5 Nhóm biện pháp rèn luyện kỹ năng học qua bài tập nghiên cứu3.3 Thăm dò ý kiến cán bộ giáo viên về các biện pháp đã đề xuất

Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYÕN NGHỊ

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG HỌC1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Hiện nay, trong khoa học giáo dục có nhiều công trình đã nghiên cứu

về vấn đề tự học, kỹ năng học ở các cấp độ khác nhau tạo nên sự đa dạng vềthể loại và sự phong phú về nội dung tri thức trong lĩnh vực này

1.1.1 Nghiên cứu vấn đề dạy và học cách học

Khi trình độ xã hội phát triển ngày càng cao, tính tự chủ, năng động,sáng tạo ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển nhâncách cá nhân Để đáp ứng yêu cầu đó trong cải tiến dạy học cần phải chuyển

từ quan điểm hoạt động dạy truyền thô kiến thức là chủ yếu sang hoạt độnghọc tự chiếm lĩnh kiến thức kỹ năng của người học là chủ yếu

Dạy và học cách học có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử giáo dục củanhân loại Tự học không phải là vấn đề mới mẻ trong lý luận và thực tiễn dạyhọc Có nhiều tác giả nghiên cứu tự học từ nhiều góc độ khác nhau Nhiều tácgiả xem xét tự học nh mét hình thức tổ chức dạy học gắn với sự tổ chức địnhhướng chỉ đạo của giáo viên trong quá trình hoạt động nhận thức của ngườihọc Nghĩa là, khi người học tự giác, tích cực, chủ động trong hoạt độngchiếm lĩnh tri thức bằng các thao tác hành động bên ngoài và các thao tác tưduy được gọi là tự học Học theo quan niệm này đồng nghĩa với tự học

Một số tác giả quan niệm tự học chỉ xảy ra khi người học độc lập hoạtđộng không có sự hỗ trợ của người khác Nhưng các tác giả đều thống nhấtquan niệm các kỹ năng học tập (kỹ năng cơ bản) là điều kiện quan trọng đảmbảo tự học có kết quả

Ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại, trong quá trình truyền thụ kinh

nghiệm xã hội cho thế hệ sau, các nhà khoa học đã rất quan tâm đến tính tích

Trang 9

cực, chủ động, sáng tạo của người học Điều đó được thể hiện qua quan điểmcủa các nhà giáo dục Socrate đề ra phương pháp “đỡ đẻ” trong quá trình giáodục Đó là cách người dạy khơi gợi, dẫn dắt để người học tù khám phá rachân lý

J A Comenki (1592 – 1670) nhà giáo dục lỗi lạc thế kỷ XVII đòi hỏingười dạy phải phát huy được tính tích cực của học sinh, làm thế nào để họcsinh hứng thó học tập Ông còn đÒ ra một số nguyên tắc dạy học mà giá trịcủa nó vẫn còn ý nghĩa thực tiễn cho đến ngày nay: nguyên tắc đảm bảo tínhtrực quan trong dạy học, nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng, nguyên tắctôn trọng đặc điểm đối tượng

Sau J A Comenki, đến thế kỷ XVIII – XIX các nhà giáo dục nh J.JRútxô, J H Petxtalôxi, A Distecvec, J Dewey đều hướng đến tính tích cực,động lập sáng tạo trong quá trình phát triển trí tuệ của người học Tư tưởnggiáo dục vì cuộc sống sáng tạo của Makiguchi; mục tiêu giáo dục theo bốn trụcột mà UNESCO (học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình, học đểlàm người) còng đã khẳng định vai trò của việc phát huy tính tích cực chủđộng, khả năng tự học là rất cần thiết trong xã hội thông tin, xã hội học tập

Ở các nước xã hội chủ nghĩa, sau cách mạng tháng mười Nga thành

công, N.K Crupxcaia (1869 – 1939) đã chỉ rõ tầm quan trọng của học tậpthông qua tự giáo dục Bà coi mục tiêu chủ yếu của phương pháp giảng dạy làthôi thúc người học suy nghĩ độc lập và hoạt động tập thể theo cách có tổchức, nhận thức được hiệu quả hành động của mình và phát triển cao độ ócsáng kiến [42, 229]

Ở nước ta, vấn đề dạy tự học, tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy

tích tích cực, chủ động của người học nhằm đào tạo ra những người lao độngsáng tạo rất được sự quan tâm của các tác giả như Nguyễn Cảnh Toàn,Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Quốc Chung, Trần Bá Hoành, Thái Duy

Trang 10

Tuyên, Nguyễn Quang Huỳnh, Nguyễn Thị Tính v v Ngay từ những năm

60 của thế kỷ XX đã nêu cao khẩu hiệu trong nhà trường là “biến quá trìnhđào tạo thành quá trình tự đào tạo”

Tinh thần đó tiếp tục được phát huy và ngày một nâng cao hơn Khitrình độ xã hội ngày càng phát triển, xã hội thông tin buộc mỗi cá nhân phảiluôn thích ứng nhanh với cuộc sống đầy biến động Vì vậy, mỗi người phảitrang bị cho mình những kỹ năng sống cơ bản Một trong những kỹ năng đó là

kỹ năng tự học, tự đào tạo

Các nhà tâm lý học hoạt động đã chứng minh hoạt động giữ vai tròquyết định trực tiếp trong sự hình thành và phát triển nhân cách Mặt khác,mục đích cuối cùng của giáo dục, dạy học là phát triển trí tuệ và các phẩmchất nhân cách của người học Để có được tri thức thật sự, người học phải tíchcực, chủ động, nhập cuộc vào hoạt động để tạo nên sản phẩm giáo dục củachính mình Nhờ đó mà có thể tiếp thu được những kiến thức mới, những kỹnăng mới và phương pháp học mới Cái mới đó sẽ bồi dưỡng được cho ngườihọc có cách nhìn đúng đắn về tự nhiên, xã hội, con người, công việc và bảnthân

1.1.2 Nghiên cứu vấn đề kỹ năng và kỹ năng học tập

Từ lâu vấn đề kĩ năng đã được các nhà tâm lý học và Giáo dục họcquan tâm nghiên cứu theo nhiều cấp độ khác nhau: một là, nghiên cứu kĩ năng

ở mức độ lý thuyết mang tính khái quát; hai là, nghiên cứu kĩ năng cơ bản vớicác nguồn tri thức và ở mức độ cụ thể khi học với các bài của từng môn học

Hướng thứ nhất, nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát Đại diện cho

hướng nghiên cứu này có Ia Ganperin ,V A Crutexki, P V Petropxki,L.F.Kharlamov, P Ia Ganperin, Ilina

Hướng thứ hai, nghiên cứu kỹ năng cơ bản có các tác giả như D B.

Elkonin, V V Davưdốp, A K Markova, Vũ Trọng Rỹ, Đặng Thành Hưng,

Trang 11

Vũ Thị Tường Vi, Nguyễn Văn Đản, Nguyễn Thị Tươi, Nguyễn Văn Hoan,Bùi Thị Toan, Nguyễn Văn Hoan, Vò Quốc Chung các tác giả nghiên cứu

kỹ năng trong các dạng hoạt động cụ thể như: kỹ năng lao động, kỹ năng sưphạm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng học tập, kỹ năng đọc sách Các tác giả đãxây dùng các hệ thống kỹ năng cơ bản tương ứng với từng dạng hoạt động.Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất những biện pháp, quy trình rèn luyện kỹnăng tương ứng

Thái Duy Tuyên, Nguyễn Như An, Phan Thanh Long, Nguyễn TấtThắng, Vò Thị Liên, Nguyễn Minh Chính nghiên cứu về những kỹ năngliên quan đến nghiệp vụ sư phạm và vấn đề phát huy tính tích cực khi họcmôn GDH Các tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao trình độnghiệp vụ cho sinh viên sư phạm Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiêncứu kỹ năng trong quá trình học bộ môn, kỹ năng vận dụng lý thuyết vào bàitập thực hành

Nhìn chung, các tác giả đều lựa chọn lý luận làm cơ sở cho việc đề xuấtcác kỹ năng dạy học tương ứng, đề xuất các biện pháp để dạy kỹ năng học tậpcho học sinh Mục đích đều hướng đến dạy cho người học những phươngpháp học cơ bản, tối thiểu đủ khả năng để thích ứng trong cuộc sống đầy biếnđộng Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ năng tù học môn GDH nhằm nâng cao chấtlượng tự học cho sinh viên còn chưa được quan tâm nghiên cứu trong cáctrường Cao đẳng sư phạm nói chung và trường CĐCT nói riêng Đây là một

trong những lý do tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp rèn luyện kỹ năng tù học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ''

Trang 12

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.2.1 Môn Giáo dục học trong chương trình đào tạo giáo viên Cao đẳng

sư phạm

Giáo dục là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ khi có xã hội loài người

và sẽ còn tồn tại đến khi nào xã hội còn tồn tại Quan hệ trong giáo dục làquan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục Ở nơi này hay nơi khác,lúc này hay lúc khác, mỗi người có thể là người giáo dục hoặc người đượcgiáo dục Khoa học nghiên cứu về giáo dục gọi là khoa học giáo dục Xuấtphát từ mục tiêu đào tạo, các nhà sư phạm đã lùa chọn, sắp xếp các nội dunggiáo dục theo các nguyên tắc sư phạm và xây dựng thành môn GDH trongtrường sư phạm Dạy môn GDH nhằm trang bị cho sinh viên sư phạm các trithức về GDH đại cương, lý luận dạy học, lý luận giáo dục và phương phápnghiên cứu khoa học Mục đích cuối cùng của việc học môn GDH là nhằmtrang bị cho sinh viên một hệ thống các kiến thức, kỹ năng, phương pháp và

hệ thống các chuẩn mực thái độ, hành vi cần thiết để làm nghề dạy học

Trường sư phạm là loại trường đào tạo sinh viên làm nghề dạy học Vìvậy ngoài những mục tiêu kiến thức, kỹ năng thực hành bộ môn còn có mụctiêu hình thành cho sinh viên năng lực làm nghề dạy học, đặc biệt là năng lựcgiáo dục con người Một khóa đào tạo kém chất lượng, những sinh viên ratrường yếu kém sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của 30, 40 thế hệ họcsinh Đó là lý do vì sao nhiều nước đặc biệt quan tâm đến chất lượng đào tạođội ngò giáo viên

Đầu thế kỷ XXI tổ chức UNESCO đã đề xướng mục tiêu phát triển cánhân là: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình, học để làmngười Đó cũng là mục tiêu phấn đấu của các sinh viên sư phạm Theo cáchtiếp cận này học môn GDH nhằm đạt những mục tiêu như sau:

* Học để biết

Trang 13

Học để biết đối với sinh viên sư phạm là biết các kiến thức, kỹ năng vềchuyên môn nghiệp vụ bao gồm:

Biết lợi Ých, giá trị của việc học môn GDH đối với nghề dạy học;Biết mục tiêu chương trình, các kiến thức, kỹ năng cơ bản về giáo dụchọc đại cương, lý luận dạy học, lý luận giáo dục;

Biết các kiến thức cơ bản về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chứcdạy học, giáo dục, phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục;

Biết cách điều tra, phát hiện, chẩn đoán khả năng phát triển của cánhân, tập thể líp do mình phụ trách;

Biết các kiến thức về giao tiếp sư phạm phù hợp với đặc điểm lứa tuổihọc sinh, với đồng nghiệp và cha mẹ học sinh;

Biết các kiến thức cơ bản về tổ chức dạy học, tổ chức các hoạt độnggiáo dục, công tác chủ nhiệm;

Biết sử dụng các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập rèn luyệncủa học sinh;

Biết các chuẩn mực đạo đức, chính trị về thái độ, hành vi của một giáoviên trong ứng xử

Tóm lại, khi học môn GDH sinh viên sư phạm phải biết những kiếnthức liên quan đến nghề dạy học Đây là một trong những cơ sở ban đầu đểsinh viên học tốt môn GDH

Trang 14

Biết kỹ năng soạn giáo án;

Kỹ năng tổ chức hoạt động dạy học trên líp;

Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục;

Kỹ năng lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với nội dung bài học;

Kỹ năng tiến hành bài tập nghiên cứu khoa học ;

Kỹ năng phát hiện đặc điểm líp, trình độ học sinh, nhu cầu, hứng thócủa líp mình dạy ;

Kỹ năng đánh giá kết quả học tập của học sinh ;

Kỹ năng làm công tác chủ nhiệm líp ;

Kỹ năng tự học nâng cao trình độ

Sau khi học GDH nếu sinh viên nắm được kỹ năng thực hành, chứng tỏ

họ đã nắm được lý thuyết, nghĩa là sinh viên đã đạt được các mục tiêu học đểbiết, học để làm

* Học để tự khẳng định mình

Tự khẳng định được mình khi sinh viên đã thực hiện được tốt mục tiêuhọc để biết, học để làm Sinh viên chỉ có thể tự khẳng định mình khi hiểu sâusắc về giá trị của nghề dạy học Học để tự khẳng định mình thể hiện:

Học để làm người thông qua môn GDH thể hiện:

Làm một công dân tốt, thực hiện tốt các quyền lợi, nghĩa vụ tráchnhiệm của công dân, của một giáo viên;

Trang 15

Hình thành những phẩm chất nhân cách của người thầy giáo;

Luôn cố gắng học hỏi, nâng cao trình độ nghiệp vụ, làm tốt nghề dạyhọc để đem lại lợi Ých cho bản thân và xã hội;

Có lòng khoan dung, yêu nghề, yêu học sinh ;

Luôn có tinh thần trách nhiệm trong khi thực hành nghề dạy học… Tóm lại, làm sáng tỏ mục tiêu học để biết, học để làm, học để tự khẳngđịnh mình, học để làm người trong quá trình dạy và học môn GDH là cơ sởquan trọng để giáo viên, sinh viên hoàn thành mục tiêu và nâng cao chấtlượng học tập môn Giáo dục học

1.2.2 Hoạt động dạy học

1.2.2.1 Quan niệm về hoạt động dạy học

Dạy học là một hoạt động kép bao gồm hoạt động dạy và hoạt độnghọc Mỗi hoạt động đều có mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổchức và kết quả Các yếu tố trong từng hoạt động có mối quan hệ biện chứnglẫn nhau Giữa các yếu tố của hoạt động dạy với hoạt động học còng có cácmối quan hệ biện chứng với nhau (mục đích dạy với mục đích học ; nội dungdạy với nội dung học…) Các quan hệ này, được biểu hiện trong các khâu xâydựng kế hoạch bài học, tổ chức phối hợp hoạt động của giáo viên và học sinhtrên líp và trong tự học của học sinh

Trong dạy học, giáo viên là người giữ vai trò chủ đạo điều khiển hoạtđộng nhận thức Vì vậy, giáo viên là chủ thể, học sinh là đối tượng của hoạtđộng dạy Trong hoạt động học, học sinh là người tập trung chó ý, tích cực, tựgiác chiếm lĩnh tri thức khoa học theo yêu cầu của mục đích dạy học Vì thếhọc sinh là chủ thể của hoạt động học, tri thức là đối tượng Do đó, mục đích,nội dung, phương pháp, tổ chức, kết quả của hoạt động dạy và hoạt động học

có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng không đồng nhất với nhau Về thựcchất, hoạt động dạy học xét về mặt hình thức diễn ra qua ba khâu: hoạt động

Trang 16

độc lập của giáo viên (soạn giáo án) – hoạt động phối hợp của giáo viên vàhọc sinh (dạy học trên líp) – hoạt động độc lập của học sinh (tự học ở nhà).Cải tiến dạy học có thể bằng cách nâng cao chất lượng soạn giáo án ; lùa chọnphương pháp để nâng cao chất lượng phối hợp hoạt động dạy học trên líp vàtrang bị cho học sinh các kiến thức, kỹ năng cơ bản để nâng cao chất lượng tựhọc của học sinh Chúng tôi cho rằng, dạy học hướng vào người học (tăngcường hoạt động chiếm lĩnh tri thức của học sinh) cần tác động đồng thời vào

cả ba khâu soạn giáo án, phối hợp dạy học trên líp và hoạt động tự học củahọc sinh

1.2.2.2 Quan niệm về hoạt động dạy

Hoạt động dạy là quá trình điều khiển hoạt động nhận thức của ngườihọc nhằm thực hiện mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học Người học - đối tượngcủa hoạt động dạy là chủ thể tích cực, năng động trong quá trình học tập củachính mình Theo Trần Bá Hoành nÕu người học không chủ động học, không

có cách học tốt thì việc dạy học khã mà đạt được kết quả mong muốn [18]

Giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy và là người hướng dẫn, tổ chức,điều khiển hoạt động nhận thức của người học Với vị trí là người tổ chức,giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học Nghĩa là, trong mọi tìnhhuống dạy học, người dạy luôn là người chỉ đường, gợi mở, dẫn dắt ngườihọc khám phá, tìm kiếm, kiến thức, kỹ năng, phương pháp học cho chínhmình Người dạy là người hướng dẫn người học cách chiếm lĩnh và vận dụngtri thức Vì vậy giáo viên phải biết cách tổ chức hoạt động dạy của mình theomét quy trình hợp lý sao cho khi thực hiện đạt kết quả mong muốn Có thể nói

tổ chức hoạt động dạy thực chất là đưa người học vào quá trình thực hiện cáchành động học bằng hệ thống các thao tác theo mét quy trình cụ thể

Mét trong những mục tiêu cơ bản của dạy học ngày nay là dạy cáchhọc Vì thế người thầy trước hết phải là người biết cách học, biết cách nghiên

Trang 17

cứu khoa học, biết thu thập, xử lý và vận dụng thông tin Nếu như trước đâyvai trò chính của người thầy là truyền đạt tri thức (còn người học tiếp thu trithức chủ yếu từ thầy) thì ngày nay vai trò của dạy là sự hướng dẫn, là cố vấn,

là người “châm mồi” gợi mở cho sù học, còn người học tiếp thu tri thức chủyếu thông qua tự học, phát triển các năng lực sở trường của cá nhân Vì vậy,dạy học không đơn thuần cung cấp tri thức mà quan trọng hơn là dạy cho họcsinh con đường tìm kiếm tri thức Nói cách khác phương pháp dạy chủ yếu làthông qua dạy các kiến thức cơ bản để dạy cách chiếm lĩnh tri thức, tức là dạycách học, dạy phương pháp tự học Đây là chiếc “chìa khóa” hữu hiệu màngười học cần có để tự học tất cả những gì cần cho cuộc sống nghề nghiệp.Ngày nay có rất nhiều phương pháp dạy học khác nhau Mỗi phương phápđều có thể phát huy tính tích cực nhận thức của người học trong từng tìnhhuống cụ thể tùy thuộc vào nội dung, đặc điểm của người học, khả năng củagiáo viên và các điều kiện dạy học Do đó người dạy cần biết phát huy tối đanhững ưu điểm của các phương pháp dạy học để hình thành cho người họcphương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập,phương pháp giải quyết vấn đề

1.2.2.3 Lùa chọn phương án tối ưu cho từng bài học

Lùa chọn tối ưu được hiểu là sự lùa chọn tốt nhất nhằm đem lại hiệuquả cao nhất Lùa chọn phương án tối ưu cho từng bài học có thể hiểu là trongnhững điều kiện cụ thể về nội dung, phương tiện, trình độ người học, quỹ thờigian người giáo viên biết lùa chọn những phương pháp dạy học phù hợpnhằm đem lại hiệu quả dạy học cao nhất Đối với môn GDH, để dạy ngườihọc nắm vững kỹ năng học cơ bản, giáo viên căn cứ vào tính chất, đặc điểmcủa từng bài học, từng môn học để soạn giáo án theo hướng rèn kỹ năng học

cơ bản

Trang 18

Giáo viên lùa chọn phương án tối ưu cho từng bài học được tiến hànhtheo các bước sau:

Bước 1: Phân tích tính chất, nội dung của bài học

Phân tích mức độ phức tạp của nội dung, nội dung hoàn toàn mới haymới một phần, chủ yếu là hình thành lý thuyết hay hình thành kỹ năng hay thínghiệm chứng minh, cung cấp thông tin chủ yếu bằng văn bản, dùng lời haythông qua bài tập

Bước 2: Phân tích trình độ của học sinh

Đa số học sinh học bài này là dễ hay khó hay bình thường

Nhịp độ học tập của líp là nhanh hay chậm, tích cực hay thụ động Những khó khăn thắc mắc học sinh có thể gặp phải

Bước 3: Phân tích khả năng của bản thân giáo viên

Mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng của bài này

Những tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học có thể có được

Quỹ thời gian cho phép để sử dụng các phương pháp dạy học

Quan hệ thầy trò đã xây dựng được trong dạy học

Bước 4: Xác định mục đích yêu cầu của bài học

Chọn hình thức dạy học phù hợp: trên líp, ở phòng thực hành hay ở cơ

sở sản xuất

Hình thức dạy học theo nhóm nhỏ hoặc cá nhân hay cả líp

Có thể cho học sinh tự học từng phần, thảo luận

Nếu dạy cả líp thì kết hợp các hình thức dạy học như thế nào

Bước 5: Cô thể hóa nội dung bài học bằng các thao tác hành động.Căn cứ vào kết quả phân tích của các bước 1,2,3,4 để lùa chọn nhữngphương pháp dạy học cụ thể

Phương pháp dùng trực quan theo nhóm hoặc cả líp

Trang 19

Phương pháp học với các văn bản, tự đọc từng phần theo nhóm nhỏhoặc cá nhân để thảo luận trên líp.

Chọn phương pháp làm bài tập, giải quyết vấn đề

Chọn phương pháp dùng lời: diễn giảng, vấn đáp, thảo luận nhóm, nêuvấn đề, liên hệ thực tế

Bước 6: Biểu đạt kế hoạch bài học (giáo án) bằng văn bản

Xác định mục tiêu, các yêu cầu cơ bản của bài

Những đồ dùng dạy học, tài liệu tham khảo, các kiến thức kỹ năng đãhọc liên quan đến bài này

Cách đặt vấn đề kích thích hứng thó học tập

Hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh trên líp

Rèn luyện kỹ năng, củng cố hệ thống kiến thức, hướng dẫn tự học ởnhà

1.2.3 Hoạt động học

1.2.3.1 Quan niệm về hoạt động học và tự học

Theo Brown, Bull và Pendlebury, “Học là một sự thay đổi về kiến thức, cách hiểu, kỹ năng và thái độ thông qua quá trình nhận thức và suy nghĩ về quá trình nhận thức đó” [45]

Theo lý thuyết thông tin “học là quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách xử lý thông tin lấy từ môi trường sống xung quanh mình” [20, 230]

Lý thuyết sư phạm tương tác thì coi việc học nh là sự tương tác giữa bộ

ba người dạy – người học – môi trường Trong đó người học là “người thợ”của quá trình tìm kiếm tri thức; người dạy giúp đỡ, là người phục vụ ngườihọc; môi trường ảnh hưởng đến hoạt động của người dạy và hoạt động họccủa người học và chính họ cũng có thể làm thay đổi môi trường

Trang 20

Phan Trọng Ngọ cho rằng “học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, kết quả là dẫn đến sự biến đổi về mặt nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó” [29,15]

Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “học là quá trình tự giác, tích cực, tự

lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên” [43, 57]

Các quan niệm trên đây đều có điểm chung là khi nói học là nói đếnquá trình trong đó người học tích cực, chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức.Tích cực là trạng thái cá nhân luôn luôn chủ động, huy động cao nhất cácchức năng tâm lý, cơ bắp cũng như kinh nghiệm cá nhân trong quá trình lĩnhhội tri thức Người tích cực trong học tập là người khao khát hiểu biết do đóluôn chủ động sử dụng các thao tác trí tuệ cũng như cơ bắp để tham gia việchọc một cách hiệu quả Karptrerép đã chia tính tÝch cực thành tích cực bênngoài và tích cực bên trong Tích cực bên trong được thúc đẩy bởi nhu cầu,động cơ nhận thức và luôn có sự tham gia của các thao tác tư duy vào quátrình học tập Tích cực bên trong giữ vai trò quan trọng quyết định trực tiếpkết quả học tập cũng như kết quả của quá trình chiếm lĩnh tri thức Tích cựcbên ngoài thể hiện qua hành vi, cử chỉ, sự chăm chú… mà ta có thể quan sátđược Tích cực bên ngoài là một trong các điều kiện để thực hiện tích cực bêntrong Trong quá trình học, người học dùa vào các kết quả nhận thức cảm tínhbằng các giác quan để tiến hành phân tích, tổng hợp khái quát, tìm các mốiliên hệ bản chất của sự vật Đó là quá trình tư duy diễn ra trong óc người học.Nhờ kết quả tư duy đó mà người học tiếp nhận được các kiến thức, kỹ năng,phương pháp mới Cho nên người ta nói học là hoạt động không ai làm thaythế được Dù học được tiến hành bằng bất cứ hình thức nào: trực tiếp “mặt đốimặt” với thầy, học ở nhà, học với sách giáo khoa, học từ xa, trực tuyến thìbản thân người học còng phải tập trung chó ý, tích cực, chủ động tù mình tìm

Trang 21

kiếm, xử lý thông tin nhằm đem đến sự thay đổi về mặt nhận thức, thái độ,hành vi, nhờ đó mà nhân cách ngày càng phát triển Như vậy, hoạt động học

đã bao hàm nghĩa tự học

Tự học (self – learning) theo Nguyễn Cảnh Toàn “là tự mình động não,

sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất của mình để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực

đó thành sở hữu của mình” [35]

Nguyễn Quang Huỳnh thì cho rằng: “tự học là một hình thức hoạt động nhận thức nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên líp hoặc ở ngoài líp” [20, 241]

Đối với sinh viên, tự học là hình thức người học tự tổ chức hoạt độnghọc tập, tự điều khiển hoạt động nhận thức của chính mình Tự học không chỉgiúp sinh viên mở rộng, đào sâu những điều đã học mà còn là con đường chủyếu để rèn luyện các kỹ năng, vận dụng, hình thành phẩm chất năng lực cánhân Nếu như người thầy, nội dung, chương trình… là ngoại lực của quátrình học tập thì người học, động cơ học tập, khả năng tự học chính là nội lựccủa quá trình tạo nên chất lượng học tập Nội lực là yếu tố chính quyết địnhtrực tiếp chất lượng của việc học Hai yếu tố nội lực và ngoại lực của quátrình học tập nếu được tổ chức hợp lí sẽ tạo nên chất lượng học tập Học và tựhọc được định nghĩa như thế nào thì đều có bản chất giống nhau là người họcphải luôn tập trung chó ý, tích cực, chủ động lĩnh hội các tri thức Giáo sinh

sư phạm là những giáo viên tương lai, có kỹ năng tự học là mục đích và cũng

là phương tiện để họ hình thành năng lực nghề nghiệp và cũng là cơ sở quantrọng để họ biết cách tổ chức dạy cho học sinh cách tự học

Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng: tự học là quá trình cá nhân tập trung chó ý, tự giác, tích cực, chủ động trong hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục đích học tập của mình

Trang 22

1.2.3.2 Đặc điểm của hoạt động học

Bản chất của hoạt động học hay tự học được thể hiện qua những đặcđiểm cơ bản như sau:

Đối tượng của hoạt động học là tri thức

Đó là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kĩ xảo được lùa chọn phù hợp vớinội dung môn học Cái đích (mục đích) mà người học hướng tới là chiếm lĩnhtri thức thông qua sự tái tạo của cá nhân Vì vậy hoạt động học còn được gọi

là "hoạt động chiếm lĩnh"[13, 55] Quá trình chiếm lĩnh tri thức đòi hỏi sự tíchcực năng động của chủ thể – người học Hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

là đối tượng của hoạt động học Chất lượng tiếp nhận và sử dụng thông tin nóilên chất lượng của quá trình học tập

Học là một loại hình lao động đặc biệt mang tính độc đáo

Tính độc đáo thể hiện ở chỗ mục đích học là thay đổi chính mình, hìnhthành năng lực nghề nghiệp và hoàn thiện bản thân Những lao động khác làmthay đổi đối tượng lao động nhưng lao động học không làm biến đổi đốitượng là tri thức, mà ngược lại nã làm thay đổi chính chủ thể Quá trình thayđổi chủ thể học tập là một quá trình kiến tạo những tri thức mới trên cơ sởtiếp thu, tích lũy, sử dông tri thức của nhân loại Chủ thể càng tập trung chó ý,tích cực học tập trong lĩnh vực nào thì tri thức trong lĩnh vực đó càng sâu sắchơn

Học là quá trình chủ thể học một cách độc lập, tự giác, tích cựctrong quá trình nhận thức

Trong mọi tình huống học tập, đòi hỏi người học phải tích cực trongquá trình nhận thức Người học càng tự lực tập trung cao các chức năng tâm

lý, về cơ bắp, huy động toàn bộ kinh nghiệm cá nhân để học trong lĩnh vựcnào càng nắm vững kiến thức, kỹ năng, phương pháp học trong lĩnh vực đóbấy nhiêu Tuy hoạt động học tập chịu sự ảnh hưởng của nhân tố khách quan

Trang 23

nhưng các nhân tố chủ quan mới là yếu tè quyết định tạo nên chất lượng họctập Học bằng bất cứ hình thức nào muốn thành công phải độc độc lập, tự điềukhiển từ bên ngoài đến bên trong (từ hành vi bên ngoài đến thao tác tư duybên trong)

Học tập không những tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà cònhướng vào việc tiếp thu về cách thức tổ chức hoạt động học, hay nóicách khác là học cách học

Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học(phương pháp học) nghĩa là phải có tri thức về bản thân hoạt động học Họccách học có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình học tập, hình thành nănglực nghề nghiệp đồng thời đó là một trong những con đường cơ bản giúpngười học không ngừng bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp

Hoạt động học bao giê cũng mang cái mới đến cho người học Các kiến thức học sinh có được trong hoạt động học không là mới đốivới khoa học nhưng là mới đối với bản thân Các kỹ năng, phương pháp họcsinh tiếp thu được không là mới với các nhà sư phạm nhưng là mới đối vớihọc sinh Nhờ có cái mới đó mà học sinh luôn cảm thấy hứng thó trong họctập

Nhu cầu động cơ học tập được người học tiếp nhận trở thànhđộng lực thúc đẩy hoạt động học

“Động cơ là động lực kích thích trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp củahành vi”[41, 206] Trong hoạt động học tập động cơ là những yếu tố cơ bảnthúc đẩy sự nỗ lực học tập của học sinh Có nhiều loại động cơ khác nhau vàcũng có nhiều cách chia động cơ khác nhau: động cơ gần và động cơ xa, động

cơ quá trình và động cơ kết quả, động cơ bên ngoài và động cơ bên trong Trong quá trình học tập, người học có thể chi phối bởi nhiều động cơ khácnhau Mức độ tích cực của người học chịu sư chi phối bởi động cơ chủ đạo

Trang 24

Ví dụ: học ngành sư phạm vì yêu thích chính nghề dạy học là chủ yếu ngườihọc sẽ vượt qua mọi khó khăn trở ngại để trở thành giáo viên Ngược lại, nếuhọc ngành sư phạm do sù Ðp buộc của gia đình (không yêu thích) thì khi gặpkhó khăn trong học tập thì mức độ nổ lực sẽ không cao và người học dễ nảnlòng Có thể tồn tại nhiều động cơ khác nhau trong cùng hoạt động nhưnghoạt động học tập phải được kích thích bởi những động cơ phù hợp Tức lànhững động cơ đó phải gắn liền với nội dung học tập (hệ thống tri thức).Những động cơ xuất phát từ chính bản thân hoạt động sẽ tăng cường hơn tínhtích cực và kết quả học tập sẽ cao hơn Có động cơ học tập đúng đắn sẽ giúpngười học đạt kết quả học tập mong muốn

Nhiệm vụ học “là đơn vị (tế bào) của hoạt động học tập

Sự khác nhau cơ bản của nhiệm vụ học tập với các nhiệm vụ khác là ởchỗ: mục đích và kết quả của nó là sự thay đổi của bản thân chủ thể hoạtđộng, chứ không phải sự thay đổi của các đối tượng mà chủ thể hành động vớichúng” [12, 231] Nhiệm vụ học tập có thể hiểu là những việc làm mà ngườihọc đề ra cho mình phải thực hiện để lĩnh hội hệ thống tri thức theo yêu cầutừng môn học để đạt được mục đích học tập

Hành động học là bộ phận cấu thành của hoạt động học, được

thúc đẩy bởi động cơ của hoạt động và tương ứng với mục đích học tập.Hành động luôn hướng vào để giải quyết một mục tiêu cụ thể nào đó.Nhờ hành động học mà người học giải quyết nhiệm vụ học Hành động họcbao gồm hành động bên ngoài và hành động bên trong: hành động học bênngoài có thể quan sát thông qua hành vi; hành động học bên trong là nhữngthao tác trí tuệ diễn ra trong đầu người học thông qua quá trình nhận thức Kếtquả hành động bên trong được thể hiện thông qua các hành động học tập bênngoài Nhờ vậy mà có thể đánh giá được kết quả tư duy

Hoạt động học luôn mang tính sáng tạo

Trang 25

Trong quá trình dạy, giáo viên mong muốn truyền đạt cho học sinhnhững kiến thức, kỹ năng theo mục tiêu dạy học Nhưng học sinh chỉ hứngthó, tích cực với các nội dung phù hợp với mục tiêu, nhu cầu và năng lực củamình Nghĩa là trong quá trình học, học sinh luôn có sự lùa chọn, nhận xét,phê phán Nhờ tính mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo của tư duy mà có thể họcsinh có cách học, cách vận dụng theo cách nghĩ của mình Đó là mầm mèngcủa sự phát triển của tư duy sáng tạo của người học

Tóm lại, hoạt động học bao giê cũng bao hàm nghĩa tự học và có mụcđích, có đối tượng, có phương pháp học cụ thể Về bản chất, đây là hoạt độngkhông chỉ giúp người học lĩnh hội hệ thống tri thức xã hội mà sâu xa hơn làgiúp người học “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Học đạihọc chủ yếu là học phương pháp, học cách tư duy Sinh viên sư phạm lànhững giáo viên tương lai (những kỹ sư tâm hồn) Muốn trở thành giáo viêngiỏi người giáo sinh phải biết cách học, cách tổ chức hoạt động nhận thức củabản thân để sau khi tham gia công tác giảng dạy, có thể tổ chức hoạt độngnhận thức cho học sinh

1.2.3.3 Hình thức tổ chức hoạt động học

Hoạt động học bao giê cũng được tiến hành thông qua những hình thức

cơ bản như sau:

Hoạt động học có sự điều khiển hướng dẫn của giáo viên

Hoạt động dạy và hoạt động học luôn có mối quan hệ thống nhất biệnchứng Giáo viên – chủ thể của hoạt động dạy luôn tổ chức, hướng dẫn, điÒukhiển hoạt động học; Học sinh – chủ thể thể của hoạt động học dưới sù hướngdẫn, điều khiển của giáo viên tự điều khiển hoạt động học của mình

Hình thức tự điều khiển hoạt động học tập

Đây là hoạt động mà người học độc lập, tự giác hoàn toàn trong quátrình tổ chức chiếm lĩnh tri thức Hình thức tổ chức này đòi hỏi tính tự giác

Trang 26

cao và sự nỗ lực ý chí rất lớn Người học phải biết sắp xếp thời gian, điều kiệnhọc tập hợp lí để tìm kiếm tri thức, ôn tập, tự đào sâu hoặc tự rèn luyện kỹnăng thích hợp theo yêu cầu, nhiệm vụ học tập Đây là khoảng thời gian sinhviên hoàn toàn độc lập trong quá trình nhận thức Tự học không có thầy đòihỏi người học hoàn toàn chủ động và sự nỗ lực cao để vượt qua những khókhăn trở ngại trong học tập Mặc dù tự học ở nhà gặp nhiều khó khăn trở ngại– không có thầy hướng dẫn trực tiếp nhưng người học có thể chủ động về mặtthời gian cũng như chủ động trong việc lập kế hoạch học tập từ đó có thể pháthuy hết tính chủ động của bản thân trong việc học

Hoạt động học tập diễn ra trong nhóm nhá

Sù phối hợp học tập theo nhóm là sự phối hợp giữa người học vớingười học Đây là hình thức tự học, tự điều khiển nhưng không diễn ra mộtmình mà là học thông qua cộng tác giữa người học với người học nhằm pháthuy tối đa trí tuệ của tập thể Trong quá trình cộng tác trong học tập mỗithành viên tự điều khiển, điều chỉnh nhưng có sự giúp đỡ lẫn nhau để cùngđạt mục đích chung trong học tập Trí tuệ tập thể bao giê cũng mạnh hơn vàphong phú hơn trí tuệ cá nhân Trong khi thảo luận, trao đổi, góp ý kiến lẫnnhau trong nhóm thì những vấn đề chưa hiểu sẽ được sáng tỏ, đồng thờinhững nhận thức sai lầm sẽ được điều chỉnh kịp thời

Tóm lại, dù học ở bất cứ hình thức nào, người học còng cần phải tíchcực, chủ động điều khiển hoạt động nhận thức của chính mình Tri thức đốivới người học không đơn thuần là sách giáo khoa hay lời giảng của thầy mà là

cả thực tế cuộc sống phong phú đã, đang và sẽ diễn ra trước mắt người học.Người học phải biết thực hành những đều đã học để giải quyết những vấn đềtrong thực tế cuộc sống Bác Hồ cũng đã khuyên người học phải biết phát huytính tích cực trong học tập, “không nên học thuộc lòng từng chữ” mà phải

Trang 27

“đào sâu suy nghĩ”, phải “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ chín chắn, kĩcàng, mạnh dạn đề xuất vấn đề và thảo luận cho thông suốt, vở lẽ”

1.2.3.4 Vai trò của tự học đối với việc nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học

Nói đến chất lượng giáo dục là nói đến toàn bộ hoạt động của quá trìnhgiáo dục như: chất lượng giáo dục, giảng dạy, chương trình, trình độ giáoviên, sinh viên, cơ sở vật chất… Tuy nhiên chúng tôi chỉ giới hạn bàn đếnchất lượng người Chất lượng của quá trình học tập được thể hiện thông quakhả năng đáp ứng nhiệm vụ học tập đối với từng nôn học, từng ngành nghề.KÕt quả này không đơn thuần là điểm số người học đạt được mà quan trọnghơn là những năng lực, phẩm chất mà sinh viên đạt được để thích ứng đối vớicác yêu cầu ngày càng cao trong giáo dục nhà trường

Thực tế giáo dục cho thấy, trong quá trình học tập thì các điều kiện chủquan giữ vai trò quyết định trực tiếp hiệu quả học tập Mặc dù nội dungchương trình, điều kiện học tập, phương pháp giảng dạy… có tốt đến đâunhưng nếu thiếu yếu tè chủ quan, thiếu động cơ học, không có phương pháphọc tập hợp lí, không chịu tự học, tự rèn luyện thì không thể đạt kết quả caotrong học tập được Do đó tự học giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việcnâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng học tập nói riêng Tựhọc có các vai trò đối với sự phát triển cá nhân là:

Tự học, tự đào tạo quyết định trực tiếp chất lượng và hiệu quả giáo dục

Tự học trước hết giúp người học chuyển hóa kinh nghiệm xã hội thànhcái của bản thân Quá trình chuyển hóa đó phải do chính người học thực hiện.Sinh viên sư phạm là những giáo viên tương lai, để đảm bảo chất lượng họctập, trước hết sinh viên phải có khả năng tự học để đáp ứng được nhiệm vụhọc tập Dạy học ngày nay chỉ có thể đảm bảo chất lượng khi dùa trên cơ sở

Trang 28

kích thích tính tích cực, chủ động còng nh khả tự học, tự đào tạo của ngườihọc

Tự học giúp người học tự lực nắm vững kiến thức, kĩ năng nghềnghiệp

Trong quá trình tự học, người học tự tìm kiếm, thu thập, xử lý và sửdông thông tin; người học có thể sàng lọc những tri thức phù hợp, có dịp sosánh, phân tích, đánh giá những tri thức đã tiếp thu Nhờ đó nắm vững nhữngđiều đã học sâu sắc hơn, vững chắc hơn tạo cơ sở cho việc vận dụng vào tìnhhuống thực tiễn thuận lợi Tâm lý học hoạt động đã chứng minh nhân cáchphát triển thông qua hoạt động và mỗi người làm nên nhân cách của chínhmình Vì vậy, muốn nắm vững tri thức người học phải tự vận động cả về hànhđộng bên trong lẫn hành động bên ngoài Muốn tìm vàng phải đi sâu vào lòngđất, trong quá trình học tập muốn tìm tri thức phải đi sâu vào lý thuyết, đi sâuvào thực hành Cã nh thế thì tri thức tiếp thu được mới vững chắc Cái gìmình tự khám phá sẽ nhớ lâu và vững chắc hơn

Tự học giúp người học mở rộng đào sâu tri thức

Tự học nhằm làm cho những tri thức tiếp thu được nhờ sự hướng dẫncủa giáo viên thêm sắc bén hơn, tạo cơ sở quan trọng cho quá trình thực hành

sử dụng thông tin Sống và làm việc trong xã hội thông tin nên tri thức nhânloại gồm nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau và tất nhiên mỗi cá nhân khôngthể am hiểu hết tất cả các tri thức đó và mỗi người chỉ có thể nắm vững kiếnthức chuyên môn Tuy nhiên để hiểu sâu về chuyên môn thì chúng ta cần cóvốn tri thức văn hoá chung về nhiều lĩnh vực ngoài chuyên môn Đó là điềukiện để mỗi người có thể hiểu sâu về chuyên môn, đáp ứng được những yêucầu đầy biến động của xã hội thông tin

Tự học giúp người học hình thành thãi quen tư duy khoa học và

phương pháp tù học

Trang 29

Trong quá trình tự học, người học thường xuyên sử dụng các thao táctrí tuệ như phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, trừu tượng hoá, khái quáthoá tạo nên thãi quen tư duy khoa học và hình thành khả năng tự học

Tự học để giúp người khác tù học

“Không biết đường mà dẫn sẽ đi sai hướng” Còng nh thế, giáo sinh sưphạm là những giáo viên tương lai, vì thế không thể dạy cho học sinh cách tựhọc nếu bản thân không biết về nã Giáo viên giữ vai trò chủ đạo, chỉ cáchhọc cho học sinh vì vậy trong quá trình hướng dẫn học sinh học tập, giáo viênphải biết cách tự học mới có thể hướng dẫn học sinh cách tự học Nghề dạyhọc là công việc của giáo viên - những kỹ sư tâm hồn đảm nhiệm sự nghiệptrồng người Bản thân người thầy giáo trước hết phải là những tấm gương tựhọc để mở rộng đào sâu tri thức, tù giác, tích cực, chủ động trong học tập làmột trong những con đường cơ bản để tạo ra năng lực nghề nghiệp Đó làphương tiện để khi trở thành giáo viên có thể hướng dẫn học sinh của mìnhcách học, cách đào sâu tri thức

Tự học giúp người học có khả năng học tập suốt đời

Học không dừng lại ở lứa tuổi thiếu niên, thanh niên mà học ngày nay

đã trở thành nhu cầu liên tục và suốt đời để đáp ứng được thực tiễn cuộc sốngđặt ra

Tóm lại, tự học giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập, laođộng, sáng tạo Phương tiện giáo dục của người giáo viên là nhân cách củachính mình Con đường hoàn thiện nhân cách là tự học Theo quy luật tựnhiên thì loài sinh vật nào có khả năng thích nghi được với môi trường tựnhiên sẽ có khả năng tồn tại Theo quy luật xã hội ai có khả năng thích ứngnhanh với xã hội thông tin người đó có cơ hội thành công Nghĩa là, phải biếtthu thập, xử lý thông tin và biết vận dụng chúng có hiệu quả

1.2.3.5 Các điều kiện để sinh viên học tốt môn GDH

Trang 30

Bất cứ hoạt động nào cũng cần có những điều kiện nhất định Hoạtđộng học muốn đạt kết quả phải có những điều kiện cụ thể Những điều kiệnkhách quan như: có sự hướng dẫn của thầy, sách, vở, giáo trình, cơ sở vậtchất, thiết bị dạy học… Và điều kiện chủ quan như: động cơ, trình độ nhậnthức, nắm vững kỹ năng học tập, tính tích cực cá nhân…

* Các điều kiện khách quan

Mục tiêu chương trình, nội dung môn học mang tính khoa học

Có các điều kiện, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cần thiết để dạy họcmôn GDH

Có đội ngò giảng viên giỏi chuyên môn nghiệp vụ hướng dẫn, điềukhiển quá trình dạy học

Giáo viên luôn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học Người dạygợi mở những vấn đề cần tự học và người học cần chú ý lắng nghe sự hướngdẫn đó sẽ giúp người học xác định được trọng tâm của bài học vì thế đỡ mấtthời gian và công sức trong quá học tập Thông thường những vấn đề cần tựhọc nằm ở trong sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo, những tình huốngtrực quan trong thực tế cuộc sống Những nội dung trình bày ở líp cũng lànội dung người học cần tự nghiên cứu, tìm hiểu, đào sâu kiến thức để nắmvững tri thức

Giảng viên nắm vững các phương pháp, sử dụng hợp lý các phươngpháp để dạy từng bài phù hợp đối tượng sinh viên

Có tài liệu tham khảo cho giảng viên, sinh viên

Học nhất là tự học nếu không có giáo trình, tài liệu tham khảo thì sinhviên không thể học được Giáo trình, tài liệu tham khảo là cơ sở, là điểm tựa

để người học đối chiếu, kiểm tra sự hiểu biết của mình

Tạo được môi trường kiến tập, thực tập thuận lợi cho giáo sinh rènluyện kỹ năng thực hành

Trang 31

Thực tế, thực tập là lúc người học có thể thể nghiệm, kiểm tra tươngđối chính xác về tri thức cũng như kỹ năng thực hành của bản thân Nói cáchkhác thực tế, thực tập giúp sinh viên thực hành nghề nghiệp tốt nhất Đây làmột trong những thời gian để giáo sinh có thể chuẩn bị tốt nhất cho việc trởthành giáo viên

Sắp xếp thời gian học trên líp, tự học hợp lý để sinh viên có thời gian tựhọc, tự nghiên cứu

Sắp xếp thời gian, lịch học cần thiết để việc học của sinh viên đượcđảm bảo Khi nào học những môn chuyên ngành, khi nào học những mônnghiệp vụ, khi nào giải trí Thời gian qua đi không thể nào trở lại vì thế nhàtrường cần biết sắp xếp thời gian một cách hợp lý để việc học được đảm bảo

Hướng dẫn cho sinh viên các quy trình thực hành và tiêu chuẩn cụ thể

để sinh viên tự kiểm tra, điều chỉnh

Đánh giá khách quan, công bằng kết quả học tập của sinh viên, kích lệsinh viên học tập

* Các điều kiện chủ quan

Sinh viên xác định mục đích, động cơ nghề nghiệp, tự giác tích cực họcmôn GDH để nắm vững nghiệp vụ sư phạm

Xác định đúng mục đích học sẽ giúp cho người học nắm được nội dungquan trọng môn học, nắm được những kiến thức cơ bản, có tâm thế ghi nhớlâu dài, tránh được tình trạng học lan man, học vẹt

Nắm được các kiến thức cơ bản trong quá trình học môn GDH

Nắm được các kỹ năng cơ bản, phương pháp học với các nguồn tri thức

là lời nói, phương tiện trực quan, tự đọc sách, giáo trình, giải quyết cácbài tập về các vấn đề nghiệp vụ sư phạm Kỹ năng học cơ bản cã thểxem như là phương tiện đắc lực nhất để người học học một cách cóhiệu quả nhất

Trang 32

Biết thu thập, xử lý thông tin học tập, lưu giữ và vận dụng linh hoạt vàocác tình huống học tập

Nắm được các quy trình hành động để tự rèn luyện, nắm vững các kỹnăng cơ bản: soạn giáo án, tổ chức dạy học trên líp, tổ chức hoạt độnggiáo dục, tự học

Mỗi hoạt động bao gồm nhiều hành động, mỗi hành động gồm nhiềuthao tác, nhiều bước Biết các quy trình hành động nghĩa là biết được trình tựcác bước hành động Khi người học nắm vững trình tự các bước hành động vàhành động đạt hiệu quả nghĩa là người học đã nắm được kỹ năng học Có thểnói, có bao nhiêu hành động học thì có từng Êy kỹ năng học Đối với mônGDH sinh viên cần phải nắm được quy trình hoạt động nhận thức để sau này

tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh phổ thông

Biết tự kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh, ghi nhớ, biểu đạt những kiếnthức, kỹ năng cơ bản

Đánh giá quá trình học tập diễn ra ngay khi bắt đầu việc học Tuynhiên, khâu đánh giá tổng thể thường diễn ra ở khâu cuối cùng của việc học.Việc đánh giá nhằm giúp người học có thể kiểm tra lại việc học của mình,đồng thời có cách điều chỉnh hợp lý Cơ sở để đánh giá việc học phải căn cứvào kết quả việc học so với mục đích học đã đặt ra trước đó

1.2.4 Kỹ năng học môn Giáo dục học

1.2.4.1 Một sè quan niệm khác nhau về kỹ năng

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng Có thể khái quát nhữngquan niệm về kỹ năng như sau:

A V Petrovxki, V A Cruchetxki, A G Covaliôv, Trần Trọng Thủy, A.Ruđích xem kỹ năng là kỹ thuật của hành động Quan niệm này cho rằng

“kỹ năng là phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điềukiện hành động nào đó, là người nắm vững tri thức về hoạt động đó và thực

Trang 33

hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không chú trọng kết quả củahành động” [34]

K K Platônôv, N Đ Lêvitôv, B Ph Lômôv, M A Đanhilôv xem kỹnăng không chỉ là kỹ thuật của hành động mà nó bao gồm cả năng lực giảiquyết vấn đề “Kỹ năng không chỉ bao gồm các hành động vận động, mà cảnhững hành động trí tuệ, độc lập lập kế hoạch quá trình làm việc, tìm thấytrong mỗi trường hợp cụ thể tìm thấy các phương pháp hợp lý” [25, 343]

Nếu xem kỹ năng đơn thuần chỉ nghiêng về mặt kỹ thuật của hành độngthì chúng ta có thể sẽ đồng nhất những kỹ năng với các thao tác của thiết bịmáy móc đã được lập sẵn thành chương trình nhằm đáp ứng chính xác kỹthuật Theo quan điểm của chúng tôi, kỹ năng không những là có kỹ thuật,thao tác hành động mà nó còn là khả năng thực hiện hành động có kết quảtrong những tình huống cụ thể Người có kỹ năng là người biết lùa chọn, sắpxếp các thao tác hành động hướng đích phù hợp và thực hiện đúng các thaotác nhằm đạt kết quả mong muốn Ví dô: Người học có kỹ năng học là biếtlùa chọn và sắp xếp các hành động học phù hợp với từng môn học và học đạtkết quả mong muốn

1.2.4.2 Kỹ năng học cơ bản

Theo lý thuyết hoạt động mỗi hoạt động bao giê cũng được cụ thể hóabằng nhiều hành động Mỗi hành động đều có mục đích được thực hiện bằngnhững thao tác tương ứng theo một trình tự nhất định Như vậy để thực hiệnhành động có kết quả cần:

Xác định rõ mục đích hành động

Nắm vững tri thức liên quan đến hành động, thao tác

Biết chọn các thao tác hướng tới mục đích hành động phù hợp Biết sắp xếp trình tù các thao tác thực hiện hành động theo quytrình hợp lý

Trang 34

Thực hiện thành công các thao tác hành động theo trình tự đã lùachọn

Những hành động khác nhau thì có các thao tác và quy trình thực hiệnkhác nhau Để thực hiện cùng một mục đích có thể lùa chọn thao tác và quytrình thực hiện hành động khác nhau Điều đó thể hiện tính mềm dẻo, linhhoạt, sáng tạo trong khi hành động Ví dô: Người ta có thể tìm ra nhiều cách

để giải một bài toán Trong khi tiến hành bài tập nghiên cứu khoa học, để xử

lý số liệu nghiên cứu người ta có thể tính bằng tay theo những công thức phùhợp; cũng có thể sử dụng phần mềm vi tính để hỗ trợ

Tóm lại, chóng tôi đồng tình với quan niệm người có kỹ năng là ngườibiết xác định mục đích, có kiến thức về hành động, biết lùa chọn, sắp xếp cácthao tác theo một trình tự nhất định phù hợp với điều kiện và mục đích đề ra

và thực hiện thành công theo quy trình đó để đạt kết quả mong muốn

Trong quá trình học, sinh viên làm việc với các nguồn tri thức chủ yếu

là lời nói, chữ viết, phương tiện trực quan, bài tập giải quyết các vấn đề họctập

Biểu đạt bằng lời nói gồm lời giảng của giáo viên, thảo luậnnhóm, nghe các phương tiện thông tin là nguồn tri thức phong phú luônmang tính thời sự và các thông tin mới mang theo chính kiến của ngườinói

Nguồn tri thức là phương tiện trực quan đó là những tri thức rót

ra từ thực tiễn, từ các thí nghiệm, mô hình, vật thật, bản đồ, tranh ảnh,phim học tập, các hoạt động giáo dục, các giê kiến tập, thực tập, thựchành giáo dục

Nguồn tri thức là các văn bản Toàn bộ các tri thức của xã hộiloài người được lưu giữ trong sách, giáo trình, tài liệu tham khảo, mạngInternet Đây là nguồn tri thức phong phú, đa dạng cho hoạt động học

Trang 35

Nguồn tri thức là các bài tập, các đề án, đề tài nghiên cứu Thôngqua giải quyết các vấn đề học tập , sinh viên luôn tìm được các kiếnthức, kỹ năng, phương pháp mới bằng lao động học tập, sáng tạo củamình

Giảng viên cần biết các phương pháp giảng dạy đối với các nguồn trithức và sinh viên cần có các kỹ năng, phương pháp học tương ứng với cácnguồn tri thức đó

Thực hiện thành công mỗi hành động học được biểu hiện là biết một kỹnăng Như vậy, có bao nhiêu hành động học cần có bấy nhiêu kỹ năng họctương ứng Trong thực tế, có những kỹ năng chung được sử dụng để học một

số môn học, có các kỹ năng được sử dụng nhiều trong khi học một môn

“Những kỹ năng chung, có khả năng di chuyển rộng được sử dụng để họcnhiều môn hoặc sử dụng nhiều trong khi học một môn được gọi là kỹ nănghọc cơ bản” [9,11]

Tóm lại, trong quá trình nhận thức người học cần có kỹ năng học cơbản Có bao nhiêu loại hành động học thì có Ýt nhất chõng Êy kỹ năng Khinắm được nhiều kỹ năng học cơ bản, người học có khả năng vận dông linhhoạt, sáng tạo các kỹ năng cũ vào hình thành kỹ năng mới để thực hiện hànhđộng học tập một sáng tạo Khi đó người học có phương pháp học

* Xây dựng các nhóm kỹ năng học cơ bản theo quy luật hoạt động nhận thức

Theo quy luật hoạt động nhận thức: quá trình nhận thức đi từ trực quansinh động đến tư duy trừu tượng rồi trở về thực tiễn Đứng trước đốitượng nhận thức người học cần có kinh nghiệm cá nhân (KNCN).KNCN càng phong phú thì quá trình sử dụng các giác quan tiến hànhnhận thức cảm tính (NTCT) càng đầy đủ chính xác

Trang 36

Khi KNCN phong phó, NTCT chính xác sẽ tiến hành phân tích, tổnghợp, so sánh, khái quát chính xác, thuận lợi để tìm ra mối liên hệ bêntrong, bản chất của sự vật hiện tượng Đó là quá trình nhận thức lý tính(NTLT)

Khi KNCN và NTLT chính xác sẽ vận dụng vào bài tập thực hành, vàothực tiễn hiệu quả

Trong học tập sinh viên phải ghi nhớ dài hạn các kiến thức, kỹ năng cơbản, tái hiện, biểu đạt lại cho người khác hiểu được, đó là quá trình kiểm tra,

tù kiểm tra các tri thức mới trước khi ghi vào bộ nhớ, hình thành KNCN ởtrình độ mới Học với bất kỳ nguồn tri thức nào (lời nói, trực quan, chữ viết )sinh viên điều phải tiến hành: tổ chức hoạt động học; thu thập thông tin họctập; xử lý thông tin; vận dụng vào bài tập thực tiễn; tù kiểm tra điều chỉnhkiến thức, kỹ năng mới Nghĩa là theo quy luật nhận thức, hoạt động học baogồm năm nhóm kỹ năng học cơ bản đó là:

Nhóm kỹ năng tổ chức hoạt động học bao gồm các kỹ năng xácđịnh mục tiêu, nội dung hoạt động, dự kiến kế hoạch phân công trongnhóm, chuẩn bị các điều kiện

Nhóm kỹ năng thu thập thông tin bao gồm: tiến hành quan sát,đọc, nghe giảng, thảo luận, thu thập thông tin trên sơ đồ, biểu bảng, đồthị, thí nghiệm

Nhóm kỹ năng xử lý thông tin bao gồm sự tổng hợp, phân tíchcác thông tin để tìm các mối liên hệ bản chất của sự vật hiện tượng

Nhóm kỹ năng vận dụng lý thuyết vào các bài tập thực hành,thực tiễn

Nhóm kỹ năng tự kiểm tra, điều chỉnh bao gồm các kỹ năng học,ghi nhớ dài hạn, kỹ năng tái hiện biểu đạt lại bằng lời nói, chữ viết,thực hành cho người khác hiểu được

Trang 37

Năm nhóm kỹ năng cơ bản bao quát các hành động học đối với mộthoạt động học khép kín Như vậy, xét về bản chất hoạt động nhận thức củahọc sinh khi có thầy hay không có thầy đều giống nhau Nghĩa là hoạt độnghọc và tự học có bản chất giống nhau

Mét sinh viên biết xác định mục đích học tập, có kiến thức về lĩnh vựchoạt động, biết lùa chọn các hành động học cùng hướng tới mục đích hoạtđộng, biết sắp xếp trình tự các hành động và thực hiện thành công các hànhđộng theo trình tự đó để đạt tới mục đích mong đợi ta nói người đó biếtphương pháp học Như vậy muốn biết phương pháp học, sinh viên phải nắmđược các nhóm kỹ năng học cơ bản Muốn nắm được kỹ năng học cơ bản phảithông qua nắm kỹ năng khi học từng bài của từng môn học Nghĩa là muốndạy phương pháp học phải thông qua dạy kiến thức, kỹ năng từng bài củatừng môn học

1.2.4.3 Kỹ năng học cơ bản đối với môn Giáo dục học

Nói đến kỹ năng học cơ bản là nói đến những kỹ năng chung có khảnăng di chuyển rộng, được sử dụng để học nhiều môn học hoặc được sử dụngnhiều trong khi học một môn gọi là kỹ năng học cơ bản

Lý thuyết tâm lý học hoạt động đã khẳng định mỗi hoạt động gồmnhiều hành động, mỗi hành động được thực hiện bằng nhiều thao tác Hoạtđộng học của sinh viên cũng bao gồm nhiều hành động học, mỗi hành độngcũng lại được thực hiện theo trình tự những thao tác cụ thể Do đó, hoạt độnghọc là quá trình thực hiện các hành động học liên tiếp để đạt tới mục đích họctập Có bao nhiêu hành động học thì có Ýt nhất chõng Êy kỹ năng học Chỉkhi nắm được các kỹ năng học cơ bản, nắm được quy trình và thực hiện cáchành động có kết quả thì người học mới nắm được phương pháp học Phươngpháp học môn GDH là những cách thức người học sử dụng để đạt tới mụcđích học môn GDH Khi có phương pháp học, sinh viên có khả năng tù tổ

Trang 38

chức hoạt động học mét cách độc lập Trên cơ sở lý thuyết hoạt động chúngtôi quan niệm rằng: phương pháp học là năng lực lùa chọn hành động họchướng đích và sắp xếp trình tự các hành động sao cho khi thực hiện các hànhđộng theo đúng trình tự đó sẽ đạt được kết quả học tập mong đợi

Do đặc điểm của ngành sư phạm, kết quả nắm vững kiến thức, kỹ năngcác môn học của sinh viên được đánh giá bằng điểm số, xếp loại Khi đi thựctập hoặc trở thành giáo viên tập sự, sinh viên phải vận dụng tổng hợp các kiếnthức, kỹ năng, phương pháp học được trong trường sư phạm để thực hiện cácnhiệm vụ cơ bản của một giáo viên là: xây dựng kế hoạch bài học (giáo án),

tổ chức dạy học trên líp, tổ chức kiểm tra đánh giá, tổ chức các hoạt động giáodục, công tác chủ nhiệm líp, tự học, tự nghiên cứu Ở khía cạnh này các kỹnăng học cơ bản, phương pháp học của giáo sinh được xem xét như là nhữngnăng lực chuyên biệt để thực hiện các hoạt động cơ bản của một giáo viên

Mỗi hoạt động cơ bản của giáo viên bao gồm một số các hành động.Mỗi hành động tương ứng với một kỹ năng cơ bản Nghĩa là, có các nhóm kỹnăng cơ bản tương ứng với các hoạt động giảng dạy, giáo dục, tự nghiên cứu.Như vậy, các nhóm kỹ năng cơ bản đối với các hoạt động cơ bản của giáoviên mà sinh viên phải học là:

Nhóm kỹ năng cơ bản trong hoạt động nhận thức

Nhóm kỹ năng cơ bản trong hoạt động dạy học

Nhóm kỹ năng cơ bản trong tổ chức hoạt động giáo dục

Nhóm kỹ năng cơ bản trong tổ chức làm bài tập nghiên cứu, tự học.Trong từng nhóm kỹ năng cơ bản, nếu sinh viên biết chọn lùa các hànhđộng cùng hướng tới mục đích hoạt động, biết sắp xếp trình tự các hành động,biết thực hiện thành công các hành động theo trình tự đó, nghĩa là sinh viên

đã nắm được phương pháp hoạt động

Trang 39

Học dưới bất kỳ hình thức nào người học cũng phải tự học Tự học làquá trình cá nhân tập trung chó ý, tự giác, tích cực, chủ động trong hoạt độngnhận thức để đạt được mục đích học tập của mình Để có thể tự tổ chức quátrình nhận thức người học phải có những kỹ năng học cơ bản Có bao nhiêuloại hành động học thì có Ýt nhất chõng Êy kỹ năng Khi nắm đợc nhiều kỹnăng học cơ bản, người học có khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kỹnăng cò vào hình thành kỹ năng mới để thực hiện hành động học tập một sángtạo Khi đó ngời học có phương pháp học

Căn cứ vào đặc điểm môn học chúng tôi đề xuất kỹ năng cơ bản để họcmôn Giáo dục học là: nhóm kỹ năng cơ bản trong hoạt động nhận thức; nhóm

kỹ năng cơ bản trong hoạt động dạy học; nhóm kỹ năng cơ bản trong tổ chứchoạt động giáo dục; nhóm kỹ năng cơ bản trong tổ chức làm bài tập nghiêncứu

Trong từng nhóm kỹ năng cơ bản, nếu sinh viên biết chọn lùa các hànhđộng cùng hướng tới mục đích hành động, biết sắp xếp trình tự các hành động

và thực hiện thành công các hành động theo trình tự đó, nghĩa là sinh viên đãnắm đợc phương pháp hoạt độngNếu trong quá trình học môn GDH sinh viên

Trang 40

nắm được các kiến thức, kỹ năng cơ bản, có phương pháp học sẽ tạo điều kiệncho họ học tốt môn GDH và nhanh chóng thích ứng được môi trường công táctrong điều kiện mới ở trường học

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC CỦA

SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẦN THƠ

2.1 Khái quát về trường cao đẳng Cần Thơ

Trường CĐCT được thành lập theo Quyết định số 1784/QĐ ngày08/09/1976 của Bộ Giáo dục, có tiền thân là trường Cao đẳng Sư phạm CầnThơ (09/1976) Trải qua 30 năm hình thành, xây dựng và phát triển nhàtrường đã đạt được nhiều thành tích trong việc đào tạo, chuẩn hóa cho giáoviên cho tỉnh Hậu Giang và Thành phố Cần Thơ

2.1.1 Thực trạng vÒ đội ngò

Năm 1976 nhà trường chỉ có 2 cán bộ quản lý và 7 giảng viên được chiviện từ miền Bắc vào Đến năm học 2005 – 2006 bé máy nhà trường gồm BanGiám Hiệu, ba phòng chức năng (phòng tổ chức – hành chánh tổng hợp,phòng đào tạo bồi dưỡng và quản lí nghiên cứu khoa học, phòng chính trịcông tác học sinh sinh viên) và bốn khoa chuyên môn (khoa Xã hội, khoa Tựnhiên, khoa Tiểu học mầm non, khoa Giáo dục thể chất nhạc họa) Tổng sốcán bộ, giảng viên và nhân viên là 180, trong đó trực tiếp giảng dạy: 102 Số

Ngày đăng: 18/04/2015, 10:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
38. Vũ Thị Tường Vi (2000), Rèn luyện kỹ năng tự học qua việc dạy chuyên đề “Phương pháp rèn luyện kỹ năng tự học” cho học viên trường trung học kỹ thuật hải quân, Luận văn Thạc sĩ giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp rèn luyện kỹ năng tự học
Tác giả: Vũ Thị Tường Vi
Năm: 2000
1. Hoàng Anh (chủ biên) - Đỗ Thị Châu – Nguyễn Thạc (2007), Hoạt động – Giao tiếp – Nhân cách, NXB Đại học sư phạm Khác
2. Nguyễn Ngọc Bảo (1980) - Tổ chức dạy học - mét vấn đề lý luận dạy học, Tủ sách trường cán bộ quản lý và nghiệp vụ giáo dục Khác
3. Đặng Ngọc Căn (2002), Mét số biện pháp tổ chức hoạt động tự học của sinh viên trường cao đẳng Hà Giang, Luận văn thạc sĩ. Hà Nội Khác
4. Vũ Quốc Chung, Lê Hải YÕn (2003) - Để tự học đạt được hiệu quả, NXB Đại học Sư phạm Khác
5. Carl Rogers (2001), Phương pháp dạy và học hiệu quả, NXB Trẻ Khác
6. Nguyễn Minh Chính (2005), Biện pháp phát huy tính tích cực học tập môn GDH của sinh viên trường CĐSP Kiên Giang, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, Hà Nội Khác
7. Crutexki (1981), Những cơ sở của tâm lý học sư phạm, Tập 1, 2. NXB Giáo dục Hà Nội Khác
8. Vò Cao Đàm (2006), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học kỹ thuật Khác
9. Nguyễn Văn Đản (2005), Kỹ năng học cơ bản và biện pháp rèn luyện cho học sinh trung học cơ sở, Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ, Hà Nội Khác
10. Nguyễn Văn Đản (2006), Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Văn Đản (1997), Mối quan hệ giữa hoạt động dạy với hoạt động học trong quá trình dạy học, Thông tin Khoa học giáo dục, số 63 Khác
12. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1988)– Lê Khanh – Trần Trọng Thủy, Tâm lý học (tập 1), NXB Giáo dục Khác
13. Nguyễn Kế Hào (Chủ biên) (2006) – Nguyễn Quang Uẩn, Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB ĐHSP Khác
14. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2000), Biện pháp hoàn thiện kỹ năng tự học môn giáo dục học cho sinh viên đại học sư phạm theo quan điểm sư phạm tương tác, Luận án tiến sĩ, Hà Nội Khác
17. Lê Văn Hồng (chủ biên) (2001) – Lê Ngọc Lan. Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm. NXB Giáo dục Khác
18. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa. NXB Đại học sư phạm Khác
19. Đặng Vũ Hoạt (1994), Hà Thị Đức. Lý luận dạy học đại học. Trường ĐHSP Hà Nội. 1994 Khác
20. Nguyễn Quang Huỳnh (2006), Mét số vấn đề lý luận giáo dục chuyên nghiệp và đổi mới phương pháp dạy học. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
21. Kharlamop (1997), Phát huy tính tích cực học sinh như thế nào, tập 2, NXB Giáo dục Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Kết quả quan niệm của sinh viờn về hoạt động tự học - luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ
Bảng 2.1 Kết quả quan niệm của sinh viờn về hoạt động tự học (Trang 42)
Bảng 2.2: Các yếu tố có ảnh hưởng đến kết quả học của cá nhân - luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ
Bảng 2.2 Các yếu tố có ảnh hưởng đến kết quả học của cá nhân (Trang 44)
Bảng 2.3: Nhận thức của SV về sự cần thiết của các điều kiện học cá nhân - luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ
Bảng 2.3 Nhận thức của SV về sự cần thiết của các điều kiện học cá nhân (Trang 45)
Sơ đồ 2.2. Mức độ nắm quy trình học khi kiến tập của sinh viên - luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ
Sơ đồ 2.2. Mức độ nắm quy trình học khi kiến tập của sinh viên (Trang 52)
Sơ đồ 2.3 Mức độ nắm vững quy trình lùa chọn phương pháp dạy học - luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ
Sơ đồ 2.3 Mức độ nắm vững quy trình lùa chọn phương pháp dạy học (Trang 54)
Sơ đồ 2.4 Mức độ nắm vững trình tự hành động giảng dạy thể hiện qua giáo án - luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ
Sơ đồ 2.4 Mức độ nắm vững trình tự hành động giảng dạy thể hiện qua giáo án (Trang 56)
Sơ đồ 2.6 Mức độ nắm vững quy trình tổ chức buổi sinh hoạt líp chủ nhiệm - luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ
Sơ đồ 2.6 Mức độ nắm vững quy trình tổ chức buổi sinh hoạt líp chủ nhiệm (Trang 60)
Sơ đồ 2.7 Mức độ nắm vững quy trình tổ chức HĐGDNGLL - luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ
Sơ đồ 2.7 Mức độ nắm vững quy trình tổ chức HĐGDNGLL (Trang 62)
Sơ đồ 2.8 Mức độ nắm vững quy trình tiến hành BT nghiên cứu của sinh viên - luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ
Sơ đồ 2.8 Mức độ nắm vững quy trình tiến hành BT nghiên cứu của sinh viên (Trang 64)
Bảng 2.13. Tổng hợp mức độ nắm vững quy trình học môn GDH của SV - luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ
Bảng 2.13. Tổng hợp mức độ nắm vững quy trình học môn GDH của SV (Trang 65)
Sơ đồ 2.9 Mức độ nắm vững kỹ năng học môn GDH của SV trường CĐCT - luận văn thạc sĩ Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Cần Thơ
Sơ đồ 2.9 Mức độ nắm vững kỹ năng học môn GDH của SV trường CĐCT (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w