TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA TÂM LÝ H ỌC NGUY ỄN ĐAN ANH THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐỐI VỚI MỘT SỐ TRÀO LƯU TRÊN MẠNG XÃ HỘI KHÓA LU ẬN TỐT NGHIỆP
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ H ỌC
NGUY ỄN ĐAN ANH
THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
ĐỐI VỚI MỘT SỐ TRÀO LƯU TRÊN MẠNG XÃ HỘI
KHÓA LU ẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Tâm lý h ọc
TP H Ồ CHÍ MINH, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ H ỌC
NGUY ỄN ĐAN ANH
THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
ĐỐI VỚI MỘT SỐ TRÀO LƯU TRÊN MẠNG XÃ HỘI
KHÓA LU ẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Tâm lý h ọc
Gi ảng viên hướng dẫn:
TS Nguy ễn Hoàng Khắc Hiếu
TP H Ồ CHÍ MINH, 2016
Trang 3Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến TS Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu, người hướng dẫn khoa học, đã luôn tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cám ơn quý thầy cô trong khoa Tâm lý học trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, cám ơn ThS Nguyễn Thị Trang Nhung, ThS Bùi Hồng Quân
đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin cảm ơn chân thành đến ban Giám hiệu các trường Trung học phổ thông Nam Hà, Trung học phổ thông Ngô Quyền, Trung học phổ thông Trấn Biên, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã tạo điều kiện và nhiệt tình hỗ trợ tôi giúp tôi có thể thực hiện tốt đề tài Xin cảm ơn quý thầy cô cùng toàn thể các bạn học sinh của ba trường đã tích cực cộng tác, tham gia cùng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2016
Tác giả Nguyễn Đan Anh
Trang 4VI ẾT TẮT VI ẾT ĐẦY ĐỦ
HS BH Học sinh Trung học phổ thông tại thành phố
Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
HS THPT Học sinh Trung học phổ thông
HS THCS Học sinh Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
Trang 5S ố hiệu
2.2 Bảng những thông tin khác về khách thể nghiên cứu 64 2.3 Kết quả tổng hợp về thái độ của HS BH đối với một số trào
cơ thể theo trường, giới tính và thích được mọi người chú ý 93 2.11 Nhận thức của HS BH đối với trào ưu khoe tài sản 94 2.12 Cảm xúc của HS BH đối với trào lưu khoe tài sản 96 2.13 Hành vi tham gia trào lưu khoe tài sản của HS BH 98 2.14 Kết quả so sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu khoe
2.15 Kết quả so sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu khoe
2.16 Kết quả so sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu khoe
tài sản theo sở thích được mọi người chú ý 102
2.17 Nhận thức của HS BH đối với trào lưu làm video clip chửi
Trang 6người chú ý
2.21 Kết quả so sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu làm
video clip chửi thề theo thời gian tham gia MXH 109
2.22 Kết quả so sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu làm
video clip chửi thề theo nhu cầu giao lưu, kết bạn 110 2.23 Nhận thức của HS BH đối với trào lưu Ngưng ngược đãi 110 2.24 Cảm xúc của HS BH đối với trào lưu Ngưng ngược đãi 112 2.25 Hành vi tham gia trào lưu Ngưng ngược đãi của HS BH 114 2.26 Kết quả so sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu Ngưng
2.27 Kết quả so sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu Ngưng
ngược đãi theo nhu cầu giao lưu, kết bạn 117
2.28 Kết quả so sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu Ngưng
ngược đãi theo sở thích được mọi người chú ý 118
2.29 Nhận thức của HS BH đối với trào lưu chụp ảnh Ngày ấy -
2.32 Kết quả so sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu chụp
ảnh Ngày ấy - bây giờ theo thời gian tham gia MXH 124
2.33 Kết quả so sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu chụp
ảnh Ngày ấy - bây giờ theo nhu cầu giao lưu, kết bạn 126
2.34 Kết quả so sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu chụp
ảnh Ngày ấy - bây giờ theo sở thích được mọi người chú ý 127
2.35 Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của HS BH đối với một
Trang 7S ố hiệu
2.1 Phương tiện tìm hiểu một số trào lưu trên MXH
2.2 Thời điểm tham gia trào lưu trên MXH của HS
Trang 8MỞ ĐẦU 1
1 Lý do ch ọn đề tài 1
2 M ục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Khách th ể nghiên cứu 2
4 Ph ạm vi nghiên cứu 2
5 Giả thuyết nghiên cứu 3
6 Nhi ệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 3
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
7.2.1 Điều tra bằng bảng hỏi 3
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn 4
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học 4
8 Đóng góp của đề tài 4
8.1 V ề lý luận 4
8.2 V ề thực tiễn 4
9 K ế hoạch nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới 6
1.1.2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam 8
1.2 Các v ấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu 10
1.2.1 Thái độ 10
1.2.1.1 Khái niệm thái độ 10
1.2.1.2 Đặc điểm của thái độ 16
1.2.1.3 Chức năng của thái độ 17
1.2.1.4 Biểu hiện của thái độ 18
1.2.1.5 Các mức độ của thái độ 20
Trang 91.2.2 Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông
24
1.2.2.1 Khái niệm học sinh THPT 24
1.2.2.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh Trung học phổ thông 24
1.2.3 M ạng xã hội 33
1.2.3.1 Khái niệm mạng xã hội 33
1.2.3.2 Một số mạng xã hội phổ biến ở Việt Nam 35
1.2.4 Trào lưu 36
1.2.4.1 Khái niệm trào lưu, trào lưu trên mạng xã hội 36
1.2.4.2 Cấu trúc của trào lưu 38
1.2.4.3 Phân loại trào lưu 39
1.2.4.4 Ảnh hưởng của trào lưu đến người tham gia trào lưu 43
1.2.4.5 Một số trào lưu trên mạng xã hội phổ biến hiện nay 48
1.2.5 Thái độ của HS THPT đối với một số trào lưu trên MXH 556
1.2.5.1 Định nghĩa thái độ của HS THPT đối với một số trào lưu trên MXH556 1.2.5.2 Biểu hiện của thái độ của HS THPT đối với một số trào lưu trên MXH57 1.2.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của HS THPT đối với một số trào lưu trên mạng xã hội 58
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 61
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG T ẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI ĐỐI VỚI MỘT SỐ TRÀO LƯU TRÊN MẠNG XÃ HỘI 63
2.1 Th ể thức nghiên cứu 63
2.1.1 Vài nét v ề khách thể nghiên cứu 63
2.1.2 Các phương pháp nghiên cứu thực trạng 65
2.2 Thái độ của HS BH đối với một số trào lưu trên MXH 75
2.2.1 K ết quả tổng hợp về thái độ của HS BH đối với một số trào lưu trên MXH 75
2.2.2 So sánh th ực trạng với kết quả tự đánh giá của HS BH về thái độ đối với m ột số trào lưu trên MXH 84
2.3 Thái độ của HS BH đối với từng trào lưu trên MXH 86
2.3.1 Thái độ của HS BH đối với trào lưu khoe cơ thể 86
Trang 102.3.1.2 Thực trạng cảm xúc của HS BH đối với trào lưu khoe cơ thể 88
2.3.1.3 Thực trạng hành vi tham gia trào lưu khoe cơ thể của HS BH 91
2.3.1.4 So sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu khoe cơ thể theo các nhóm đối tượng 93
2.3.2 Thái độ của HS BH đối với trào lưu khoe tài sản 94
2.3.2.1 Thực trạng nhận thức của HS BH đối với trào lưu khoe tài sản 94
2.3.2.2 Thực trạng cảm xúc của HS BH đối với trào lưu khoe tài sản 96
2.3.2.3 Thực trạng hành vi tham gia trào lưu khoe tài sản của HS BH 98
2.3.2.4 So sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu khoe tài sản theo các nhóm đối tượng 100
2.3.3 Thái độ của HS BH đối với trào lưu làm video clip chửi thề 102
2.3.3.1 Thực trạng nhận thức của HS BH đối với trào lưu làm video clip chửi thề 102
2.3.3.2 Thực trạng cảm xúc của HS BH đối với trào lưu làm video clip chửi thề 104
2.3.3.3 Thực trạng hành vi tham gia trào lưu làm video clip chửi thề của HS BH 106
2.3.3.4 So sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu làm video clip chửi thề theo các nhóm đối tượng 108
2.3.4 Thái độ của HS BH đối với trào lưu Ngưng ngược đãi 110
2.3.4.1 Thực trạng nhận thức của HS BH đối với trào lưu Ngưng ngược đãi 110 2.3.4.2 Thực trạng cảm xúc của HS BH đối với trào lưu Ngưng ngược đãi 112 2.3.4.3 Thực trạng hành vi tham gia trào lưu Ngưng ngược đãi của HS BH 114 2.3.4.4 So sánh thái độ của HS BH đối với trào lưu Ngưng ngược đãi theo các nhóm đối tượng 116
2.3.5 Thái độ của HS BH đối với trào lưu chụp ảnh Ngày ấy - bây giờ 118
2.3.5.1 Thực trạng nhận thức của HS BH đối với trào lưu chụp ảnh Ngày ấy - bây giờ 118
2.3.5.2 Thực trạng cảm xúc của HS BH đối với trào lưu chụp ảnh Ngày ấy - bây giờ 120
2.3.5.3 Thực trạng hành vi tham gia trào lưu chụp ảnh Ngày ấy - bây giờ của HS BH 122
Trang 11theo các nhóm đối tượng 124
2.4 Các y ếu tố ảnh hưởng đến thái độ của HS BH đối với một số trào lưu trên MXH 128
TI ỂU KẾT CHƯƠNG 2 131
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 132
1 K ết luận 132
2 Ki ến nghị 133
2.1 Đối với gia đình 133
2.2 Đối với nhà trường 133
2.3 Đối với chính quyền địa phương 134
2.4 Đối với bản thân học sinh 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
PH Ụ LỤC 141
Trang 12đỡ, chăm lo của các thế hệ đi trước và toàn xã hội”
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập, phát triển, giao lưu với thế giới và trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, mạng xã hội phổ biến, nhiều trào lưu trên mạng xã hội xuất hiện Những trào lưu trên mạng xã hội nhanh chóng được người dùng đón nhận và ngày càng phát triển mạnh mẽ Một số trào lưu như Ice Bucket Challenge, Chiếc vòng tử tế, Học ngoại ngữ với Kiến Memo, có ý nghĩa tích cực và mang đến sự hỗ trợ cho con người trong học tập, giải trí và cuộc sống Song một số trào lưu trên mạng xã hội cũng bộc lộ không ít mặt trái Những trào lưu độc, lạ, nguy hiểm đến sức khỏe và ảnh hưởng đến cuộc sống của bản thân các em học sinh luôn rất thịnh hành, trong đó có không ít người tham gia là lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông
Học sinh Trung học phổ thông là lực lượng đông đảo, là người chủ tương lai của đất nước, là nguồn nhân lực vô cùng quan trọng cho sự phát triển của xã hội Lứa tuổi này lại là lứa tuổi tiếp xúc nhiều với các trào lưu trên mạng xã hội Ngày nay, hầu như học sinh Trung học phổ thông nào cũng quen thuộc với các trào lưu như chụp ảnh
tự sướng, Ice Bucket Challenge, Follow me, nhảy flashmob, kiss cam,
Vấn đề đặt ra là học sinh Trung học phổ thông phải nhận thức đúng và có thái
độ phù hợp đối với các trào lưu trên mạng xã hội Thái độ có vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động của con người Thái độ là một trong những nhân tố quy định hiệu quả của tất cả các hoạt động của con người, trong đó học sinh Trung học phổ thông cũng không phải là ngoại lệ Thái độ của học sinh đối với các trào lưu trên mạng xã hội tác động đến hành vi của họ, đến chất lượng các hoạt động của họ trong học tập, trên mạng xã hội hay trong đời sống hàng ngày Nếu học sinh có thái độ sai lệch sẽ dẫn đến nguy cơ các em ngày càng chìm đắm trong thế giới ảo, có những hành vi sai
Trang 13lệch gây nguy hiểm đến sức khỏe, ảnh hưởng đến cuộc sống của bản thân các em cũng như gia đình và xã hội
Do ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của các trào lưu trên mạng xã hội, thiết nghĩ cần phải có các đề tài nghiên cứu cụ thể để có được câu trả lời khoa học và giải pháp
tối ưu cho việc hình thành, nâng cao thái độ đối với các trào lưu trên mạng xã hội của học sinh Trung học phổ thông nói chung và của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nói riêng
Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Thái độ của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đối với một số trào lưu trên mạng xã hội”
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng thái độ của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đối với một số trào lưu trên mạng xã hội Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao thái độ của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đối với một số trào lưu trên mạng xã hội
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thái độ của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đối với một số trào lưu trên mạng xã hội
3.2 Khách th ể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu gồm 450 học sinh Trung học phổ thông Ngô Quyền, Trung học phổ thông Nam Hà, Trung học phổ thông Trấn Biên tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
4 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Đề tài chỉ nghiên cứu thái độ của học sinh đối với một số trào lưu nổi bật từ năm 2010 đến năm 2015 trên mạng xã hội như chụp ảnh khoe cơ thể, chụp ảnh khoe tài sản, làm video clip chửi thề, Ngưng ngược đãi, chụp ảnh Ngày ấy - bây giờ, ; không nghiên cứu tất cả các trào lưu
- Khách thể: Chỉ nghiên cứu trên mẫu đại diện 450 học sinh được chọn từ các trường Trung học phổ thông Ngô Quyền, Trung học phổ thông Nam Hà, Trung học phổ thông Trấn Biên tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Trang 145 Gi ả thuyết nghiên cứu
Thái độ của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đối với các trào lưu trên mạng xã hội ở mức độ tích cực Tuy nhiên, một bộ phận học sinh vẫn ủng hộ các trào lưu tiêu cực
6 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài: thái độ, học sinh Trung học phổ thông, trào lưu, mạng xã hội,
- Khảo sát thực trạng thái độ của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đối với một số trào lưu trên mạng xã hội
- Rút ra những kết luận sau khi khảo sát thực trạng, đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao thái độ của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh
Đồng Nai đối với một số trào lưu trên mạng xã hội
7 Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho việc nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tiến hành tập hợp, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan
nhằm xây dựng cơ sở lý luận để xác định phương hướng nghiên cứu, làm cơ sở để thiết kế các công cụ nghiên cứu, để lý giải kết quả nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nâng cao thái độ của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đối với một số trào lưu trên mạng xã hội
7 2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Điều tra bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong đề tài Chúng tôi tiến hành xây dựng bảng hỏi dành cho 450 học sinh của ba lớp 10, 11, 12 các trường Trung học phổ thông Ngô Quyền, Trung học phổ thông Nam Hà và Trung học phổ thông Trấn Biên
Bảng hỏi bao gồm phần mở đầu lời chào cùng giới thiệu mục đích nghiên cứu
đề tài và những nội dung sau:
- Các câu hỏi về thông tin cá nhân của khách thể nghiên cứu
Trang 15- Các câu hỏi nhằm tìm hiểu thái độ của học sinh đối với một số trào lưu trên mạng xã hội
- Các câu hỏi nhằm tìm hiểu các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến thái độ của học sinh đối với một số trào lưu trên mạng xã hội
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn một số học sinh nhằm tìm hiểu thái độ đối với một số trào lưu trên mạng xã hội của học sinh, nguyên nhân ảnh hưởng đến thái độ của học sinh,
từ đó góp phần làm sáng tỏ kết quả nghiên cứu
Tiến hành liên hệ và phỏng vấn các chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý, xã hội để xin ý kiến cho các nội dung nghiên cứu nhằm bổ sung những kiến thức còn thiếu sót
về các vấn đề chuyên môn
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để xử lý số liệu thu được
Trang 169 K ế hoạch nghiên cứu
TH ỜI GIAN N ỘI DUNG CÔNG
Giai đoạn chu ẩn
b ị
Tháng 09/2015
Lập đề cương hoàn chỉnh
Định hướng thực hiện
đề tài
Đề cương nghiên cứu
bảng hỏi
Giai đoạn tri ển khai
Đầu tháng 12/2015
Hoàn thiện các công cụ nghiên cứu
Hoàn chỉnh
bảng hỏi Cuối tháng
12/2015
Tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu thực
Tháng 01/2016 Tiến hành nhập số liệu Số liệu thô
Tháng 02/2016 Phân tích kết quả nghiên
cứu thực trạng
tích
Giai đoạn hoàn
t ất
Từ tháng 03/2016 đến tháng 04/2016
Tổng hợp kết quả nghiên cứu và hoàn chỉnh đề tài
Toàn văn đề tài đã được đóng quyển
Tháng 05/2016 Bảo vệ khóa luận tốt
nghiệp
Trang 17Một số trào lưu nổi bật đang thịnh hành hiện nay có thể kể đến như chụp ảnh khoe cơ thể, chụp ảnh khoe tài sản, làm video clip chửi thề, trào lưu confession, trào lưu kiss cam, trào lưu son Louboutin, Sự phát triển nhanh chóng của các trào lưu trên mạng xã hội có những ảnh hưởng nhất định đến con người trên nhiều lĩnh vực cũng như trong đời sống của con người
1.1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới
Trên thế giới cũng đã có một số nghiên cứu về các trào lưu hay những vấn đề
có liên quan thông qua việc nghiên cứu về ảnh hưởng của mạng xã hội hay văn hóa giới trẻ, tuy rằng phần lớn là các nghiên cứu xã hội học
Nhà xã hội học người Anh Dick Hebdige với tác phẩm Subculture: The
Meaning of Style (Tiểu văn hóa trong ý nghĩa của phong cách) xuất bản lần đầu tiên
vào năm 1979, đã nghiên cứu về văn hóa thanh niên thông qua những khảo sát về phong trào “Punk” xuất hiện trong thanh niên Anh vào những năm 70 của thế kỷ trước [50]
Cũng viết về trào lưu Punk của giới trẻ là cuốn sách “Punk Rock: So What? The Cultural Legacy of Punk” do Roger Sabin biên tập, xuất bản lần đầu tiên năm 1999,
nhà xuất bản Routledge [53]
Giáo sư Manuel Castells, nhà xã hội học người Tây Ban Nha, đã có những nghiên cứu về trào lưu xã hội Một số ấn phẩm nghiên cứu của ông về vấn đề này có thể kể đến là: “Space of Flows and Space of Places in Networked Social Movements” (Không gian của những dòng chảy và không gian của những địa điểm trong các phong trào xã hội mạng lưới), cho đến ấn phẩm gần đây là Networks of Outrage and Hope,
Social Movements in the Internet Age (Những mạng của Outrage và Hope, Những trào
lưu xã hội trong thời đại Internet (2012)) [62] Trong cuộc phỏng vấn đăng trên Tạp
Trang 18chí Kế hoạch Berkeley, thuộc trường Đại học California với giáo sư Manuel Castells, ông đã nói đến một số trào lưu xã hội cũng như đặc điểm của chúng Những nghiên cứu của Manuel Castells đã có những đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu các phong trào, trào lưu xã hội Tuy nhiên, những nghiên cứu của ông chưa đề cập nhiều
tới các trào lưu trên mạng xã hội của giới trẻ mà chỉ tập trung tới những vấn đề về chính trị, xã hội, thời sự, nói chung
Trong cuốn sách 2011 trào lưu trong thập kỉ tới của tác giả Richard Laermer, ông đưa ra và phân tích cũng như dự báo những trào lưu trong những năm tới, ông gọi tên những xu thế mà ông nhìn thấy - từ những gì đã lỗi thời đến những vấn đề gây chấn động, từ những điều cũ kĩ đến những điều mới mẻ trong tương lai [31]
Về trào lưu chạm tay vào rốn rộ lên trong thời gian gần đây, nhà nghiên cứu xã
hội người Singapore - Jolene Tan đã chỉ những hệ lụy có thể xảy ra nếu thử thách này
bị lạm dụng Jolene cho rằng ban đầu thử thách này đem lại cho con người sự vui vẻ
và thoải mái Tuy nhiên, nó có thể gây ra một hiệu ứng tâm lý mới có hại khi trở thành một trào lưu khiến giới trẻ phát “cuồng” [63]
Ngoài ra, một số bài báo, tạp chí cũng bàn về những vấn đề liên quan, như:
Leisure activities and adolescent antisocial behavior: The role of structure and social context (Hoạt động giải trí và hành vi chống đối xã hội thanh thiếu niên: Vai trò của cấu trúc và bối cảnh xã hội), Josephl Mahoney - Hakan Stattin, Tạp chí tuổi vị
thành niên, tập 23, số 2, tháng 4 năm 2000, trang 113 - 127
Lighten up, America Don't kiss the 'kiss cam' goodbye, T.J McCormack ,
FoxNews.com, xuất bản tháng 9 năm 2015
"The Strange World Of High School Confession Pages" (Th ế giới kì lạ của
nh ững trang confession trường trung học), Justine Sharrock, BuzzFeed, ngày 11 tháng
bảy năm 2014
Tạp chí New York Times cũng có một số bài viết về trào lưu confession trong học sinh sinh viên như: “Owning up: Campus confessions pages are on the rise”
(tháng 8 năm 2013); "High school gossip page pulled off Internet", Georgett Roberts
and Natalie O'Neill (tháng 1 năm 2014)
Nhìn chung, ta có thể thấy rằng chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể, đi sâu vào vấn
đề trào lưu trên mạng xã hội hay thái độ đối với các trào lưu đó mà chỉ thấy được vấn
đề thông qua những nghiên cứu về văn hóa giới trẻ, về mạng xã hội, các hoạt động giải trí, qua các bài báo về thực trạng sự tham gia của giới trẻ vào các trào lưu
Trang 191.1.2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam
Đầu tiên, phải thừa nhận rằng có khá ít các đề tài nghiên cứu chuyên biệt về các trào lưu trên mạng xã hội hay thái độ đối với các trào lưu này dưới góc độ Tâm lý học
Đa phần là các đề tài nghiên cứu là về các trào lưu ở dạng khảo sát tổng quan, khảo sát
xã hội học, hoặc thông qua những vấn đề có liên quan để nói đến các trào lưu trong giới trẻ
Trong bài viết Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của PGS.TS Phạm Hồng Tung, Đại học Quốc gia Hà Nội, ông cho rằng các khởi xướng (initiative) xã hội, văn hóa, lối sống các trào lưu, , các dòng thời trang và âm nhạc… thường xuất hiện trong thanh niên, bắt nguồn từ thanh niên Tính trẻ và năng động là một trong những đặc trưng chung của thanh niên
ở tất cả các quốc gia - dân tộc và trong các thời đại lịch sử khác nhau Trong bài viết cũng đã đề cập đến lý thuyết “tiểu văn hóa”, coi văn hóa thanh niên là một cấu trúc
tiểu văn hóa Lý thuyết về tiểu văn hóa và cách tiếp cận này đã mang lại cho việc nghiên cứu và những khảo sát có tính thực chứng về thanh niên nói chung và văn hóa thanh niên nói riêng một cơ sở học thuật và công cụ phân tích khá sắc bén, đặc biệt là khi đề cập tới những trào lưu mới lạ xuất hiện trong giới trẻ phương Tây như phong trào hippies, punk, skinheads, kể cả phong trào hòa bình, phản chiến và những dòng nhạc pop, rock, techno…[50]
Cũng theo Phạm Hồng Tung trong cuốn Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, khi nói đến xu hướng biến đổi
trong lối sống của thanh niên Việt Nam, ông đã chỉ ra rằng lối sống theo kiểu a dua, hời hợt, cuốn theo những trào lưu thời thượng hiện nay đang rất thịnh hành trong một
số nhóm thanh niên ở nước ta, và ông gọi chung chúng là trào lưu “sống thời thượng”, thể hiện qua cách phục trang, trào lưu cosplay, ngôn ngữ tuổi teen, dòng nhạc thị trường,
Hay như trong công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ “Một số vấn đề văn hóa mạng hiện nay (Internet: Mạng xã hội và sự thể hiện bản sắc)” - ThS Vũ Hoàng Hiếu, ThS Nguyễn Thị Huệ, ThS Đinh Mỹ Linh, ThS Vũ Thành Long, Nguyễn Thị Phương Châm - 2012 đã bàn đến những vấn đề thời sự của sự phát triển Internet đặt ra cho xã hội hiện tại Trong đó, các tác giả đã nói đến cách thức bộc lộ bản sắc của giới trẻ hiện nay, phong cách sống của họ là sự đam mê công nghệ và khả năng nhập cuộc với những trào lưu thời thượng, sành điệu Tâm lý đám đông, sự sáng tạo ngôn ngữ, các trào lưu thịnh hành, cũng là những phương thức thể hiện phong cách hiện đại của giới trẻ
Trang 20Bên cạnh đó cũng có những bài viết trên báo và các tạp chí, hoặc trên một số trang web học thuật có nội dung đề cập tới các trào lưu trong giới trẻ
Có thể kể đến bài viết Trào lưu “phượt” trong giới trẻ Việt Nam hiện nay của tác giả Ma Quỳnh Hương đăng trên Tạp chí nghiên cứu văn hóa, trường Đại học Văn hóa Hà Nội [20] Bài báo cáo nói về trào lưu “phượt” trong giới trẻ Việt Nam, về những xu hướng, ý nghĩa và hệ quả của trào lưu này đối với giới trẻ Việt Nam
Tiến sĩ Nguyễn Văn Tịnh - Bộ môn Tâm lý và Giáo dục - Trường Đại học Hà
Tĩnh với bài viết Xu hướng lệch chuẩn văn hoá ngôn ngữ trong giới trẻ hiện nay, đã kể
ra một vài biểu hiện của trào lưu sử dụng tiếng lóng, lạm dụng tiếng nước ngoài hiện nay ở giới trẻ cũng như nêu được một số nguyên nhân của trào lưu này [73]
Theo thống kê của Buzzmetrics, trong Top 20 chủ đề được thảo luận nhiều nhất trên social media từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2014 nổi bật lên một số trào lưu trên mạng xã hội như làm video clip cover các bài hát Mình yêu nhau đi, Em của ngày hôm qua, Anh không đòi quà,…; trào lưu Ice Bucket Challenge [55]
Báo Công an thành phố Hồ Chí Minh cũng có bài viết Những trào lưu gây
tranh cãi của giới trẻ Việt - tác giả Hoàng Yến, đăng ngày 25/6/2015 về một số trào
lưu như Ice Bucket Challenge (đổ nước đá lên đầu), Belly Button Challenge, Kiss Cam (Hôn trộm người lạ) [60]
Ngoài một số bài viết đăng rải rác trên báo và tạp chí có nội dung đề cập đến các trào lưu trên mạng xã hội nhưng chỉ dừng lại ở mức độ ghi nhận hiện tượng, hành
vi, còn có một số công trình nghiên cứu đã xuất bản thành sách có liên quan ít nhiều đến vấn đề nghiên cứu này như [13, tr.125-127]:
Nhu c ầu giải trí của thanh niên, Đinh Thị Vân Chi, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội, 2002 Đây là công trình đề cập đến những nhu cầu vui chơi, giải trí của thanh niên Tuy chỉ tập trung vào khảo sát những thanh niên trên địa bàn Hà Nội, nhưng cuốn sách này đã có những gợi ý quan trọng về mặt lý luận cho những nghiên cứu về thái độ của thanh niên đối với các trào lưu trên mạng xã hội
Ph ương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hóa xã hội ở Việt Nam,
Bùi Hoài Sơn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008 Cuốn sách nhấn mạnh khía cạnh thay đổi trong tâm lý tiếp nhận các hiện tượng văn hóa xã hội, dựa trên cơ sở những phương tiện truyền thông mới như Internet hay điện thoại di động
Trong cuốn sách Thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị Hậu, tác giả cũng đề cập đến một số trào lưu đang du nhập vào giới trẻ
Trang 21như trào lưu cosplay, bắt chước thần tượng, trào lưu khoe thân thể qua việc làm rõ thị hiếu của giới trẻ hiện nay, những nguyên nhân, yếu tố tác động đến thị hiếu thẩm
mỹ của giới trẻ
Như vậy, đã có một số công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề trào lưu trên
mạng xã hội trong những năm gần đây, tuy nhiên những nghiên cứu này chưa đi sâu vào vấn đề mà chỉ xét ở những hiện trạng, nguyên nhân, ảnh hưởng của các trào lưu Vấn đề nghiên cứu thái độ đối với một số trào lưu trên mạng xã hội cũng còn rất mới
và chưa có nhiều công trình ở Việt Nam hay trên thế giới Chính vì vậy, với đề tài
“Thái độ của học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đối với một số trào lưu trên mạng xã hội” tôi mong muốn được đóng góp phần nhỏ
cơ sở lý luận cũng như thực trạng dưới góc độ tâm lý học trong nghiên cứu về các trào lưu trên mạng xã hội
1.2 Các v ấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.2.1 Thái độ
1.2.1.1 Khái ni ệm thái độ
Trong tâm lý học cũng như một số ngành khoa học có liên quan, thuật ngữ thái
độ được sử dụng khá nhiều Thực chất ý nghĩa khoa học của thuật ngữ phức tạp hơn rất nhiều và đã có rất nhiều trường phái nghiên cứu thái độ khác nhau nhưng vẫn chưa
tìm được sự thống nhất hoàn toàn
Đầu tiên, thái độ được hiểu là sự đáp ứng có tính cách đánh giá và đáp ứng thuộc lĩnh vực tình cảm được đặt trên cơ sở việc áp dụng một số khái niệm có tính cách đánh giá và chính thái độ làm nảy sinh động cơ hay các hành vi có chủ đích Nếu vậy, thái độ nảy sinh bên trong con người trước sau đó mới biểu lộ ra bên ngoài và thái
độ là sản phẩm của sự đánh giá tâm lý và nhận thức về đối tượng xuất phát từ nhu cầu của chủ thể [34]
Sự cố gắng của các nhà tâm lý học trong các nghiên cứu về thái độ nhằm hiểu
rõ, dự đoán, kiểm soát và thay đổi hành vi con người đã mang lại rất nhiều kết quả, tuy nhiên phải thừa nhận đây là một khái niệm tâm lý học khó xác định một cách chính xác Trước hết phải kể đến định nghĩa về thái độ trong từ điển
Trong từ điển tiếng Việt [28], thái độ được định nghĩa là: “Cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình” [28, tr.1164], là “Tổng thể nói chung những biểu hiện của ý nghĩ, tình cảm được thể hiện ra
Trang 22bên ngoài qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động trước một đối tượng, một sự việc nào đó” [28, tr.1164]
Trong từ điển Anh - Việt, “thái độ ” được viết là “Attitude” và được định nghĩa
là “cách suy nghĩ hoặc cư xử, quan điểm về một người hay vấn đề nào đó”[43, tr.88]
Từ điển xã hội học định nghĩa: “Thái độ là nền tảng ứng xử xã hội của các cá nhân, là một hoạt động tâm lý của cá nhân, bao hàm sự lý giải và biến đổi các khuôn mẫu xã hội qua kinh nghiệm của cá nhân [47, 278]
Theo từ điển tâm lý học (Nguyễn Khắc Viện chủ biên): “Trước một số đối tượng nhất định, như hàng hóa nào đó, hoặc một ý tưởng nào (chính trị, tôn giáo, triết lý ), nhiều người thường có những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối, như đã sẵn có những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho
việc ứng phó Từ những thái độ sẵn có, tri giác về các đối tượng, cũng như tri thức bị chi phối; về vận động thì thái độ gắn liền với tư thế” [46]
Trong từ điểm tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên, 2008) định nghĩa thái độ là
“trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có tác dụng điều chỉnh hoặc có ảnh hưởng một cách linh hoạt đến phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà nó (phản ứng) có mối liên hệ Nhìn chung người ta cho rằng thái độ có ba thành tố: nhận thức, cảm xúc và hành vi kết hợp lại để tuyền tải một phản ứng tích cực, tiêu cực hay trung lập Một thiên hướng tương đối ổn định để phản ứng theo một cách thức cụ thể đối với một khách thể có liên quan Thái độ là một sản phẩm phức tạp của các quá trình học tập, lĩnh hội, trải nghiệm, cảm xúc bao gồm cả những hứng thú, ác cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoa học và tôn giáo cũng như chính trị” [6]
Từ điển Bách khoa Tâm lý học - Giáo dục học Việt Nam định nghĩa: “Thái độ là: (1) Sự biểu lộ tình cảm, suy nghĩ ra bên ngoài bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động của một người đối với người khác và các sự việc, hiện tượng xung quanh Đó là biểu hiện bề ngoài về những tâm trạng của nhân cách mỗi khi vui, buồn, sung sướng, đau khổ (2) Cách nhìn, cách nghĩ, cách hành động trên cơ sở nhận thức chủ quan trước một vấn đề, một tình hình Đây là giai đoạn trung gian giữa một ý định nào đó với việc thực hiện cụ thể trong thực tế ý định ấy Thái độ xã hội là sự phản ứng tích cực hoặc tiêu cực, tán thành hay phản đối hay dửng dung của cá nhân trước các đối tượng xã hội” [7, tr 923]
Nhìn chung, các từ điển khi định nghĩa về thái độ đều cho rằng đó là “Cách ứng
xử của cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề của xã hội”
Trang 23Trong tâm lý học phương Tây, đầu tiên phải kể đến hai nhà tâm lý học người Mỹ là W.I.Thomas và F.Znaniecki (1918), những người đầu tiên đưa ra khái niệm thái độ Hai ông cho rằng: “thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân như một thành viên (cộng đồng) đối với giá trị này hay giá trị khác, làm cho cá nhân có phương pháp hành động này hay hành động khác được xã hội chấp nhận” [9, tr 279] Như vậy, W.I.Thomas và F.Znaniecki đã đồng nhất thái độ với định hướng giá trị của cá nhân
Nhà Xã hội học Mỹ G.W.Allport đã đưa ra định nghĩa về thái độ như sau: “Thái
độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh, được tổ chức thông qua kinh nghiệm, sử dụng sự điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động trong phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà nó có mối quan hệ”[14, tr 319] G.W Allport nhấn mạnh phương diện điều khiển ứng xử khi ông đưa ra định nghĩa trên và đưa ra măm đặc điểm của thái độ như sau [9, 279]:
• Thái độ là trạng thái của tinh thần và hệ thần kinh
• Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng
• Thái độ là trạng thái có tổ chức
• Thái độ được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ
• Thái độ gây ảnh hưởng và điều khiển hành vi
Có thể thấy là, Allport đã trả lời được câu hỏi thái độ là gì, và đã đề cập đến nguồn gốc, vai trò, chức năng của thái độ Định nghĩa của Allport về thái độ được rất nhiều các nhà tâm lý học khác thừa nhận Tuy nhiên, Allport chưa lưu ý tới ảnh hưởng của môi trường và nhu cầu của cá nhân đối với quá trình hình thành thái độ, ông cũng không đề cập tới vai trò của ý thức trong thái độ
T.M.Newcom cũng cho rằng thái độ của một cá nhân đối với một khách thể nào
đó là “thiên hướng hành động, nhận thức, tư duy, cảm nhận của anh ta với khách thể liên quan” Đó là sự sẵn sàng phản ứng Những gì mà chúng ta tin là đúng và có một thái độ nhất định về một khách thể nào đó hay một nhóm nào đó sẽ đóng một vai trò hiển nhiên trong việc quy định sự sẵn sàng phản ứng theo một cách thức nhất định của chúng ta [14, tr.319] Tuy nhiên định nghĩa này chưa bao hàm một thực tế rằng trong nhiều trường hợp quá trình này diễn ra phức tạp hơn nhiều
H.Fillmore định nghĩa: Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu cực đối với đối tượng hay các ký hiệu (biểu tượng) trong môi trường Ông còn khẳng định
“thái độ là sự định hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của môi trường và
là cấu trúc có tính động cơ” [9, tr.280]
Trang 24H.C.Triandis (1971) coi “thái độ là tư tưởng được hình thành từ những xúc cảm gây tác động đến hành vi nhất định ở một giai cấp nhất định trong những tình huống
xã hội nhất định Thái độ của con người bao gồm những điều người ta suy nghĩ và cảm thấy về đối tượng, cũng như cách sử sự của họ đối với nó” [9, tr.280]
R.Martens cho rằng “Thái độ là xu hướng thường xuyên đối với các tình huống
xã hội, nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ, tình cảm và hành động Thái độ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi, được xác định bằng tình huống thống nhất bên trong” [9, tr.280] Quan điểm này khẳng định thái độ là một cấu trúc có hệ thống, thái độ thể hiện ý nghĩ, xúc cảm bên trong con người mà được biểu hiện thông qua hành vi
Nhà tâm lý học John Traven và cộng sự cũng định nghĩa: “Thái độ là các cảm xúc, tư duy và hành động tương đối lâu dài đối với sự việc hay con người nào đó” [9, tr.280]
Nhìn qua một số định nghĩa về thái độ do các nhà tâm lý học đại cương và tâm
lý học xã hội Mỹ nêu ra, chúng ta cũng thấy sự không đồng nhất về khái niệm thái độ của họ Tuy nhiên, có một số nhận định chung giữa các khái niệm này, đó là đều nhận định thái độ có “tính sẵn sàng phản ứng”, “tính gây tác động” đến hành vi
Sẽ là một khiếm khuyết lớn nếu không đề cập đến nghiên cứu của các nhà tâm
lý học Xô viết về thái độ V.N Miaxisev đã đưa quan điểm mácxít vào nghiên cứu thái
độ, ông cho rằng, thái độ là khía cạnh chủ quan bên trong, có tính chọn lọc của các mối liên hệ đa dạng của con người với các khía cạnh khác nhau của hiện thực khách quan Hệ thống này diễn ra trong toàn bộ lịch sử phát triển của con người, biểu thị kinh nghiệm cá nhân và quy định nội hành động cũng như các trải nghiệm của họ Khái niệm thái độ là khía cạnh tiềm năng của quá trình tâm lý, liên quan đến tính tích cực chủ quan, có chọn lọc của nhân cách [9, tr.277] V.N.Miaxisev đã xem thái độ là hạt nhân, cốt lõi của nhân cách, tuy nhiên ông cũng cho rằng tất cả các dạng hoạt động tâm lý của con người như tính cách, tình cảm, ý chí, hứng thú, nhu cầu đều là thái
độ Quan niệm này của ông chưa làm bật ra nét đặc thù của thái độ cũng như các hiện tượng tâm lý khác, như vậy là hoàn toàn chưa có cơ sở khoa học
Các nhà tâm lý học Xô-viết ít dùng thuật ngữ “thái độ” trong các nghiên của mình vì tính đa nghĩa của nó trong tiếng Nga Khi nói đến thái độ, thuật ngữ “tâm thế
xã hội” (và sau này B.Ph Lomov gọi là thái độ chủ quan của nhân cách) được sử dụng nhiều hơn và được định nghĩa như sau: “Tâm thế xã hội là một dạng tâm thế được xem
Trang 25như một yếu tố hình thành hành vi xã hội của nhân cách, xuất hiện dưới dạng các quan h ệ của nhân cách với các điều kiện hoạt động của nó và của những người khác”
Khi nghiên cứu về tâm thế xã hội, P.N Sikhirev đã đưa ra cấu trúc ba thành phần gồm:
- Thành phần nhận thức (tri giác, thông tin) như là sự “tự ý thức khách thể của tâm thế”
- Thành phần cảm xúc (rung động, xúc cảm) là những rung động đồng cảm hay không đồng cảm với khách thể tâm thế
- Thành phần hành động (hành vi, động tác) là sự kế tục ổn định của hành
vi thực đối với khách thể của tâm thế [9, tr 268]
Theo D.N Uznatze cho rằng “thái độ không phải là một nội dung cục bộ của ý thức, không phải là nội dung tâm lý bị tách rời, đối lập lại với các trạng thái tâm lý khác của ý thức và ở trong mối quan hệ qua lại với nó, mà nó là một trạng thái toàn vẹn, xác định của chủ thể Yếu tố tính khuynh hướng năng động của nó là một khuynh hướng toàn vẹn theo một hướng nhất định nhằm một tính năng động nhất định
Đó là sự phản ánh cơ bản, đầu tiên đối với tác động của tình huống, mà trong đó chủ thể phải đặt ra và giải quyết nhiệm vụ” [15, tr.169] Có thể thấy rằng, Uznatze khẳng định khía cạnh tâm lý cá nhân trong thái độ, tuy nhiên ông đã không tính đến sự tác động phức tạp của các yếu tố xã hội trong việc quy định hành vi con người cũng như các mối liên hệ với các yếu tố khác
Còn các nhà tâm lý học của Leningrad thuộc Liên Xô trước đây thì coi thái độ
là “những cơ cấu tâm lý sẵn có, định hướng cho sự ứng phó của cá nhân”; trong khi
đó, dưới góc độ tâm lý học nhân cách A Kosacowski và J Lompscher (1975) khẳng định “Thái độ là thuộc tính tâm lý, bao gồm niềm tin, lý tưởng, hứng thú, thái độ xã
hội ” [9, tr 278]
Tác giả K.K.Platonov thì cho rằng thái độ là “một cấu thành tích cực của ý thức
cá nhân và là các mối liên hệ ngược của chủ thể với thế giới, được phản ánh và được khách thể hóa trong tâm vận động” [9, tr 278] Theo tư tưởng nêu trên, phản ánh được hiểu không chỉ là kết quả tác động của môi trường lên con người mà là biểu hiện của
sự tác động qua lại giữa chúng
Có thể nói, thái độ được định nghĩa khác nhau, xuất phát từ khía cạnh nghiên cứu của mình, những tác giả Xôviết đều có chung khẳng định thái độ là sự phản ánh có
Trang 26ý thức, là thuộc tính cốt lõi cũa nhân cách và là một yếu tố định hướng hành vi xã hội của con người
Hầu hết các định nghĩa đều giải thích “thái độ” dưới góc độ chức năng của nó Thái độ định hướng hành vi ứng xử của con người Nó thúc đẩy, tăng cường tinh thần
sẵn sàng của những hành vi, phản ứng của con người tới đối tượng có liên quan Chính Nâyzơ khi nghiên cứu thái độ đã đưa ra các đặc điểm chung này của các định nghĩa về thái độ, ý kiến của Nâyzơ đã được H Hipso và M Phorvec đồng tác giả của cuốn
“Nhập môn tâm lý học xã hội macxit” công nhận Hai ông đã chỉ ra “điểm chung” khi nghiên cứu khái niệm thái độ trong lý luận của tâm lý học nói chung và tâm lý học macxit nói riêng một cách cụ thể và chính xác cần phải chọn tiêu điểm chức năng làm điểm tựa, trong tâm lý học macxit đó là chức năng của thái độ trong hoạt động hợp tác Theo quan điểm này thì thái độ về mặt lý luận là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân để phản ứng với một tình huống hay một phức thể tình huống, thái độ vốn có xu hướng rõ rệt hình thành theo quy luật mà nhất quán cái phương thức xử thế của các cá nhân [15, tr.168]
Trong tâm lý học xã hội Mỹ hiện đại, một số tác giả thường nhấn mạnh đến khía cạnh nhận thức hơn là khía cạnh chức năng khi định nghĩa về thái độ Như Davis Myers đã coi “thái độ là phản ứng có thiện chí hay không thiện chí về một điều gì đó, hay một người nào đó, được thể hiện trong niềm tin, cảm xúc hay hành vi có chủ định”
W.I.Mc Guire (1969, 1985), T.M Ostrom (1969), M.P Zanna và I.R Rempell (1988) thì định nghĩa rằng: “thái độ là bất cứ sự thể hiện nào đó về mặt nhận thức, tổng kết sự đánh giá của chúng ta về đối tượng của thái độ, về bản thân, về những người khác, về đồ vật, về hành động, sự kiện hay tư tưởng”
Những quan niệm về thái độ cũng được phản ánh trong quan điểm của các nhà nghiên cứu tâm lý Việt Nam Đối với một số nhà tâm lý học Việt Nam, khái niệm thái
độ thường được quan niệm là sự biểu hiện của tính cách, mà tính cách là thuộc tính cơ bản của nhân cách Thái độ là phản ứng của con người với thực tiễn môi trường [21]
Theo PGS TS Võ Thị Minh Chí: “Thái độ là phản ứng (ứng xử) mang tính chủ thể với hiện thực khách quan, được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ xã hội mà chủ thể tham gia vào đó, thông qua hoạt động và giao tiếp của mình” [9, tr.281]
Theo tác giả Đào Thị Sâm: “Thái độ là một cấu tạo tâm lý có ý thức và có bản chất xã hội, là sự đánh giá của cá nhân, có tính chất lâu dài và ổn định thể hiện sự sẵn
Trang 27sàng phản ứng theo khuynh hướng nhất định đối với một đối tượng nào đó, được thể hiện thông qua nhận thức, xúc cảm và hành vi của họ trong tình huống cụ thể” [32]
Theo tác giả Nguyễn Thị Thúy Hường: “Thái độ là sự đánh giá bền vững - dương tính hoặc âm tính về con người, sự vật và hiện tượng” [21, tr 24]
Trong đề tài này, chúng tôi nhìn nhận thuật ngữ thái độ từ quan điểm chức
năng, từ đó định nghĩa thái độ như sau: “Thái độ là sự đánh giá của cá nhân thể hiện
sự sẵn sàng phản ứng của cá nhân đó với đối tượng theo một hướng nhất định; được biểu hiện thông qua nhận thức, cảm xúc và hành vi đối với đối tượng trong những tình
hu ống cụ thể”
1.2.1.2 Đặc điểm của thái độ
Đầu tiên thái độ là những rung cảm, xúc cảm với đối tượng mới hoặc là tình cảm với đối tượng quen thuộc Đó là mặt bên trong của thái độ Thái độ còn được biểu hiện ra bằng những ý định và hành vi, cử chỉ; đó chình là mặt bên ngoài của thái độ Mặt bên trong của thái độ không phải lúc nào cũng thể hiện một cách trọn vẹn, thẳng thắn và nguyên si mà có thể bị giấu kín nếu như cảm thấy cần che giấu, khi đó chủ thể
sẽ kìm nén và không biểu lộ thái độ của mình
Thái độ của con người có thể biểu lộ một cách minh thị song cũng có thể được che giấu Ngay khi thái độ được biểu hiện thì thái độ cũng có thể biểu hiện một cách chân thực, rõ ràng nhưng cũng có thể biểu hiện một cách không chân thực, giả dối
Thái độ mang tính chủ thể nhưng lại mang tính đối tượng khá rõ nét Đối với con người, bao giờ thái độ cũng là thái độ đối với một đối tượng cụ thể nhất định Thế nhưng thái độ lại thể hiện rất rõ nét tính chủ thể vì với cùng một đối tượng nhưng mỗi người lại có thái độ khác nhau, thậm chí ngay khi con người có thái độ tương đối giống nhau thì cách thức và mức độ biểu hiện cũng khác nhau
Thái độ mang tính cá nhân nhưng cũng bị chi phối bởi những yếu tố xã hội, dư luận xã hội, phong tục tập quán trước khi tỏ thái độ con người thường xem xét những yếu tố xã hội chung quanh mình xem có cho phép hay không
Mặt khác, thái độ chính là một phần trong biểu hiện tình cảm Thái độ có thể nói là giai đoạn nảy sinh trước động cơ song chính thái độ cũng góp phần không nhỏ trong việc hình thành động cơ và chính nó là giai đoạn định hướng cho động cơ đi đến hành động
Thái độ thường được phân chia theo hai hướng khác nhau: Thái độ tích cực hay thái độ tiêu cực, thái độ đúng đắn hay thái độ không đúng đắn (thái độ sai lệch) Khi
Trang 28đề cập đến thái độ ta thường đề cập đến những thuật ngữ như: thích hay không thích, tán thành hay không tán thành, e ngại hay tự tin tất cả đều được hiểu là thái độ của một chủ thể đối với một đối tượng nhất định, đó là một sự vật hiện tượng hoặc một vấn
đề hay một con người cụ thể nào đó
Thái độ còn có tính ổn định, thể hiện ở thời gian tồn tại của thái độ, mối quan
hệ giữa ba thành phần của thái độ: nhận thức – tình cảm – hành vi Hệ thống thái độ đã được hình thành ở người trưởng thành thì đó là thuộc tính tâm lý khá bền vững
1.2.1.3 Ch ức năng của thái độ
Con người có khả năng ứng xử linh hoạt theo từng tình huống khác nhau nhờ có các khuôn mẫu thái độ xã hội nhất định Điều này luôn giữ một vai trò to lớn trong đời sống tâm lý con người Theo các nhà tâm lý học, sở dĩ thái độ có khả năng như vậy là
vì các chức năng cơ bản của nó
Tổng kết ý kiến của các nhà nghiên cứu, có thể thấy thái độ có một số chức năng chủ yếu, cơ bản sau đây:
- Chức năng thích nghi: Tùy vào những trường hợp cụ thể mà con người thay đổi thái độ do tác động của môi trường xung quanh nhằm đạt được mục đích đề ra Chẳng hạn như thái độ a dua, lựa chiều do tác động của ý kiến số đông
- Chức năng biểu hiện giá trị: Thông qua sự đánh giá một cách có chọn lọc về đối tượng, qua biểu lộ cảm xúc, hành động cũng như sẵn sàng hành động, cá nhân
có thể biểu hiện giá trị nhân cách của mình
- Chức năng tiết kiệm trí lực: Cá nhân tiết kiệm trí lực, năng lựợng thần kinh, cơ bắp trong hành động nhờ các khuôn mẫu hành vi quen thuộc đã được hình thành
- Chức năng tự vệ: Khi một cá nhân có sự xung đột (giữa hứng thú và nhu cầu, thái độ và hành vi…), cá nhân thường biện minh, tự lý giải nhằm tạo ra một thái
độ mới, tương ứng, giảm bớt và loại bỏ những “ bất đồng” nội tâm, từ đó mỗi
cá nhân làm giảm căng thẳng, tạo cân bằng cho nội tâm
- Chức năng thoả mãn nhu cầu: Thái độ được hình thành như là kết quả của những thành công hay thất bại trong quá khứ mỗi con người; sau khi được hình thành, thái độ vẫn tiếp tục có ích trong việc giúp con người thoả mãn các nhu cầu hoặc đạt được các mục đích
Trang 29- Chức năng điều chỉnh hành vi và hành động: Đây là chức năng mà các nhà tâm
lý học chú ý, quan tâm hơn cả Họ tập trung làm rõ cơ chế thực hiện các chức năng của thái độ, tìm ra các điều kiện để các chức năng đó được thực hiện Như vậy, trong quá trình nghiên cứu thái độ cần nghiên cứu nó trong mối quan
hệ đa dạng với các thuộc tính tâm lý khác, trong hành động, trong giao tiếp của cá nhân
1.2.1.4 Bi ểu hiện của thái độ
Theo tác giả Vũ Dũng, nhìn chung người ta cho rằng thái độ bao gồm nhận thức, cảm xúc và hành vi kết hợp lại để tuyền tải một phản ứng tích cực, tiêu cực hay trung lập [6] Cũng theo Smith (1942), thái độ bao gồm nhận thức, tình cảm và hành
động của cá nhân với đối tượng [21]
Thái độ của một cá nhân được thể hiện ở sự sẵn sàng phản ứng của cá nhân đó đối với đối tượng theo một hướng nhất định, có thể là tích cực hoặc tiêu cực, biểu hiện qua nhận thức (đúng hay sai, tốt hay xấu), xúc cảm - tình cảm (thích hay không thích, ủng hộ hay phản đối, đồng ý hay không đồng ý) và hành vi dự định (tham gia hay không tham gia) Trong đó:
- Nhận thức: là kiến thức của cá nhân về đối tượng của thái độ, cho dù kiến
thức đó có tương ứng hay không tương ứng, tức là có đúng hay không đúng [14, tr 325] Nhận thức là yếu tố tiền đề của thái độ, khi đứng trước một đối tượng nào đó người ta sẽ không có thái độ nếu như không biết gì về đối tượng đó Biểu hiện nhận thức thể hiện chủ yếu ở những quan điểm, những đánh giá của chủ thể về đối tượng của thái độ (đúng hay sai, tốt hay xấu) Chẳng hạn, trước hành động hôn người lạ trên đường, phần lớn mọi người khi được hỏi có suy nghĩ gì về hành động này có thể có nhận định hành động này hoặc là đúng hoặc là sai, tốt hay xấu Sự khác nhau về thái
độ đối với một sự vật, hiện tượng giữa những người khác nhau là do cách nhìn nhận đánh giá ở mỗi người khác nhau
- Tình c ảm, cảm xúc: là rung cảm của cá nhân đối với sự vật, hiện tượng liên
quan đến nhu cầu, cuộc sống của con người Thể hiện ở sự hài lòng, dễ chịu, đồng cảm, vui sướng, mừng rỡ hoặc khó chịu, bất bình, tức giận… tức là có cảm tình hay không có cảm tình với đối tượng và ở sự rung động, quan tâm chú ý đến đối tượng Tình cảm, cảm xúc thúc đẩy con người trong hoạt động và tạo điều kiện cho cá nhân nhận thức về đối tượng Chính tình cảm, cảm xúc đã làm cho tư duy về đối tượng tốt hơn và ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi của họ Thái độ biểu hiện về mặt cảm xúc ở việc thích hay không thích, đồng ý hay không đồng ý, ủng hộ hay không ủng hộ một
Trang 30đối tượng cụ thể nào đó Với hành động hôn người lạ trên đường, có người tỏ thái độ không thích hành động này, có những người không ủng hộ việc hôn người lạ, cũng như không muốn bản thân bị người lạ hôn trên đường
- Hành vi: là sự thể hiện thái độ của cá nhân đối với đối tượng thông qua xu hướng hành động và hành động thực tế, và chia làm 2 loại: Hành vi tích cực và hành vi tiêu cực Theo B Ph Lomov: “Thái độ chủ quan của cá nhân được thể hiện trong hành động của họ” [9, tr 496] Một cá nhân khi có thái độ đối với một đối tượng nào đó, có thể có những hành động thực tế để thể hiện suy nghĩ, cảm xúc của mình Đó có thể là những cử chỉ, lời nói, cách ứng xử thể hiện lập trường của mình về đối tượng nào đó Hành vi có thể là sự đáp ứng, tham gia vào quá trình xã hội nào đó, cũng có thể là sự
từ chối tham gia Chẳng hạn, với hành động hôn người lạ trên đường, vẫn có những
bạn trẻ tham gia thực hiện hành động này, bên cạnh đó cũng có nhiều bạn không tham gia
Trong các mặt biểu hiện của thái độ, nhận thức là “điều kiện cần” cho việc hình thành thái độ Xúc cảm, tình cảm là động lực có thể kích thích hoặc kìm hãm tính tích cực hoạt động của chủ thể Hành vi là sự thể hiện ứng xử của chủ thể với đối tượng
Ba mặt trên tuy được trình bày riêng lẻ, song nó có mối quan hệ mật thiết với nhau Đứng trước một đối tượng nào đó, để có thái độ đối với đối tượng đó, trước hết con người phải nhận thức (có hiểu biết) về đối tượng; nhận thức đó sẽ là cơ sở định hướng làm xuất hiện những xúc cảm, tình cảm với đối tượng; cuối cùng, với nhận thức và tình cảm nhất định với đối tượng mà con người sẽ có những hành động, hành vi cụ thể với đối tượng
Ngoài ra, thái độ còn có thể được biểu hiện một cách công khai hoặc ngấm ngầm Theo từ điển Xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên, “trong mọi quan hệ xã hội, con người bao giờ cũng biểu hiện thái độ của mình, hữu thức hoặc vô thức, ngấm ngầm hoặc công khai” [47, tr 278] Thái độ công khai là những thái độ chúng ta ý thức được sự tồn tại của chúng, có thể báo cáo được cho người khác biết Thái độ công khai tạo ra các phản ứng nhanh chóng đối với đối tượng mà thái độ hướng tới Chẳng hạn với câu hỏi đặt ra là: “Bạn nghĩ gì khi bất ngờ bị người xa lạ hôn trên đường?” Phần lớn học các bạn nữ sẽ có thái độ công khai, rõ ràng về chủ đề này
Một số thái độ mang tính ngấm ngầm, ẩn dấu và chúng ta ít khi ý thức về chúng Chúng ta có thể tán thành những quan điểm tiến bộ về sự khoan dung đối với những người phụ nữ từng lầm lỡ, trong khi đó chúng ta vẫn có cảm nhận khó chịu, khắt khe với những người phụ nữ lỡ lầm Quan điểm tiến bộ thể hiện thái độ công khai, còn cảm nhận khó chịu, khắt khe là khuynh hướng ngấm ngầm của chúng ta Xét
Trang 31về mặt tâm lý, giữa sự khác nhau của thái độ công khai và ngấm ngầm, thái độ của con người cũng bị phân hóa [26]
Trong nghiên cứu của đề tài chúng tôi xem xét thái độ với ba mặt biểu hiện: Nhận thức, cảm xúc và hành vi Đây cũng là cơ sở để chúng tôi xây dựng thang đo thái
độ cho đề tài
1.2.1.5 Các m ức độ của thái độ
Theo V.N.Miaxisev, thái độ có các mức độ sau [9, tr 261 - 264]:
- Về tính chất (tính hình thái) của thái độ: Biểu thị xu hướng của thái độ là tích cực, tiêu cực hay trung tính Tính hình thái được thể hiện thông qua hoặc các phản ứng xúc cảm “thích - không thích”, hoặc sự ủng hộ đối với một người nào đó, hoặc quan điểm như “đồng ý hay không đồng ý”, hoặc có thể thông qua các hành động tích cực của cá nhân liên quan đến việc khắc phục khó khăn bên ngoài hay bên trong họ
- Xét về cường độ: Mỗi thái độ đều được biểu thị bởi một cường độ nào đó; ở trong một nhân cách, cường độ thái độ là một yếu tố mang tính ổn định tương đối Thái độ gồm các mức độ mạnh hay yếu Trong quá trình phát triển thái độ có sự thay đổi cường độ, có thể ở thời kì gia tăng (rất mạnh mẽ) hoặc ở thời kì suy yếu Khi thái
độ ở cường độ bão hòa có thể dẫn đến sự thay đổi tính chất thái độ từ tích cực sang tiêu cực (hoặc ngược lại)
- Xét về độ rộng (hay hạn hẹp) của thái độ: Sự phong phú hay hạn hẹp của thái
độ, thể hiện ở số lượng các đối tượng hay khía cạnh của hoạt động mà cá nhân tỏ thái
Trang 32Riêng về mặt nhận thức, theo quan điểm của Bloom chia nhận thức thành 6 mức độ hoạt động tri thức từ cơ bản đến phức tạp nhất, là: Biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá [2] Theo cách phân loại của Benjamin S Bloom, trong sáu mức độ của việc tiếp thu tri thức của người học, biết là mức độ thấp nhất và được định
nghĩa như sau: Biết (tri thức), như được định nghĩa ở đây, gồm việc nhớ lại những chi tiết và tổng quát, nhớ lại những phương pháp hay quá trình, hoặc nhớ lại một kiểu loại, cấu trúc hay tập hợp Để đo lường, tình huống nhớ lại gồm ít hơn việc nhớ lại trong đầu tài liệu phù hợp Mặc dù một số thay đổi của tài liệu có thể được yêu cầu, nhưng đây là một phần tương đối nhỏ của nhiệm vụ Mục tiêu tri thức nhấn mạnh nhi ều nhất trên quá trình nhớ lại Quá trình liên hệ cũng cũng có trong đó mà trong tình huống trắc nghiệm đòi hỏi việc cấu trúc hoặc cấu trúc lại một vấn đề như việc nó
sẽ cung cấp những dấu hiệu hoặc những gợi ý cho thông tin và tri thức mà cá nhân có
Cụ thể:
- Tri thức về những chi tiết (thuật ngữ, sự kiện riêng biệt)
- Tri thức về cách thức và phương tiện để giải quyết những thứ đặc biệt (quy ước, khuynh hướng và kết quả, việc phân loại và các phạm trù, các tiêu chí và phương pháp luận)
- Tri thức về cái tổng quát và trừu tượng trong một lĩnh vực (những nguyên tắc
và sự khái quát hóa, lý thuyết và các cấu trúc)
Căn cứ vào tính trọn vẹn và đầy đủ của bản chất sự vật, hiện tượng để chia thành các mức độ nhận thức [42]:
- Nhận thức đúng, đầy đủ về sự vật, hiện tượng
- Nhận thức đúng nhưng chưa đầy đủ về sự vật, hiện tượng
- Nhận thức được một phần về sự vật, hiện tượng nhưng chưa phản ánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng
- Nhận thức sai về sự vật, hiện tượng
Như vậy, nhìn chung thì nhận thức được chia thành đúng và sai
Theo Vũ Dũng, thái độ gồm nhận thức, cảm xúc, hành vi kết hợp lại để truyền tải một phản ứng tích cực, tiêu cực hay trung lập Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng mức độ tích cực để đánh giá chung ba mặt biểu hiện của thái độ, gồm 5 mức: Rất tích cực, tích cực, trung bình, tiêu cực, rất tiêu cực
Khi xây dựng bảng hỏi, chúng tôi sử dụng các thang mức độ sau:
Trang 33Về mặt nhận thức:
- Mức độ đúng, sai Trong đó, dưới góc độ là thái độ, nhận thức đúng là tích cực, nhận thức sai là tiêu cực
- Mức độ hiểu biết: Rất rõ, khá rõ, trung bình, không rõ, không biết Trong đó,
biết rất rõ là rất tích cực, biết khá rõ là tích cực, không biết rõ là tiêu cực, không biết là rất tiêu cực
Về biểu hiện cảm xúc, sử dụng mức độ đồng ý, gồm 5 mức: Hoàn toàn đồng ý, đồng ý, phân vân, không đồng ý, hoàn toàn không đồng ý Ở đây, đối với những cảm xúc đúng đắn thì thái độ đồng ý là tích cực, không đồng ý là tiêu cực Ngược lại, với những cảm xúc không đúng đắn, đồng ý lại là tiêu cực, không đồng ý là tích cực
Về biểu hiện hành vi, sử dụng mức độ thường xuyên, gồm: Rất thường xuyên, thường xuyên, thỉnh thoảng, hiếm khi, không bao giờ Đối với những trào lưu xấu, hành vi tham gia là tiêu cực, hành vi không tham gia là tích cực Đối với những trào lưu tốt, hành vi tham gia là tích cực, không tham gia là tiêu cực
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng mức độ nhiều ít để khảo sát nguyên nhân ảnh hưởng thái độ, gồm: Rất nhiều, nhiều, vừa, ít, rất ít
1.2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ
Đa số các nhà tâm lý học đều cho rằng phần lớn các thái độ đều hình thành trong quá trình phát triển của cá nhân, sự hình thành thái độ có sự ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan Trong đó, các yếu tố chủ quan là: hệ thống nhu cầu của cá nhân và nhận thức Các yếu tố khách quan là: Gia đình, nhà trường và
xã hội (nhóm bạn, cộng đồng)
* Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến thái độ
- Hệ thống nhu cầu: Con người hình thành và phát triển các thái độ nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình Người ta sẽ hình thành các thái độ tích cực với các khách thể có lợi, tiêu cực đối với các khách thể có hại cho họ trên con đường đạt tới mục đích nào đó để thỏa mãn các nhu cầu nhất định của họ [14, tr.334] Quá trình thỏa mãn nhu cầu là quá trình chủ thể nỗ lực bản thân, tìm kiếm các phương pháp phù hợp để thỏa mãn các nhu cầu, sau đó cảm xúc sẽ xuất hiện và chủ thể bày tỏ thái độ một cách cụ thể Thực tế cho thấy là một thái độ có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, và
do đó các nhu cầu khác nhau có thể hình thành nên một thái độ
- Nhận thức (thông tin): Nhận thức và thái độ đều phản ánh hiện thực khách quan cơ bản nhất của hiện thực xã hội và mang tính chủ thể sâu sắc Nhận thức và thái
Trang 34độ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Yếu tố nhận thức là cơ sở, tiền đề để hình thành nên thái độ Con người phải có thông tin về đối tượng để có thái độ nhất định đối với đối tượng đó Trước một sự vật, hiện tượng nào chúng ta luôn luôn phải suy nghĩ để hiểu biết về nó, biết đối tượng là gì và có ý nghĩa gì để từ đó có thái độ phù hợp Nhận
thức là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thái độ, cá nhân có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về đối tượng thì sẽ có thái độ đúng đắn với đối tượng đó, ngược lại, nếu cá nhân chưa hiểu biết đúng, đầy đủ về đối tượng thì có thể có thái độ không phù hợp Chẳng hạn như các khuôn mẫu, một số thành kiến, mê tín dị đoan, ảo tưởng, huyễn hoặc, là những kiểu thái độ không có tính hợp lý vì thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch, một chiều do vô tình hoặc cố ý
Ngoài ra, thái độ cũng tác động ngược lại nhận thức, khi chúng ta có thái độ tích cực đối với một đối tượng cụ thể thì nhu cầu hứng thú nhận thức của chủ thể được nâng lên, nhưng có nhiều khi nhận thức dù đúng lại không có thái độ tích cực và ngược lại, có thái độ đúng nhưng hạn chế về nhận thức
* Các y ếu tố khách quan ảnh hưởng đến thái độ
- Gia đình: Gia đình là môi trường đầu tiên mà cá nhân tiếp xúc từ khi được sinh ra, gia đình là cái nôi nuôi dưỡng cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành
và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Gia đình giúp thỏa mãn các nhu cầu tình cảm, và xuất phát từ tình cảm, thái độ, việc làm, hành vi ứng xử của người lớn mà thế
hệ con cái học tập cách sống, cách nghĩ và thái độ sống phù hợp Cha mẹ chính là người thầy đầu tiên của con cái, từng cử chỉ, lời ăn tiếng nói hàng ngày của cha mẹ sẽ
là tấm gương phản chiếu vào nhân cách của con cái Nếu cha mẹ có những suy nghĩ, cảm xúc hay hành động không tốt, chắc chắn sẽ kéo theo những ảnh hưởng không tốt với con cái Sự giáo dục của gia đình là yếu tố vô cùng quan trọng tác động đến thái độ của con cái Ngoài ra, sự quan tâm, chia sẻ của các thành viên trong gia đình cũng góp phần định hướng và hình thành thái độ đúng đắn đối với đối tượng nào đó
- Nhà trường: Nhà trường là môi trường rất quan trọng để rèn luyện nhân cách
và giáo dục thế hệ trẻ thành những con người sống có hoài bão Giáo dục nhà trường
có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành các phẩm chất đạo đức và thái độ đúng đắn Mỗi cá nhân đều có thời gian học tập trong nhà trường, ở nhà trường, cá nhân được học tập những tri thức khoa học và tri thức đạo đức hoàn chỉnh, giúp cá nhân có nhận thức đầy đủ hơn về các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống, từ đó hình thành thái
độ đúng đắn, phù hợp Sự giáo dục của nhà trường có thể thông qua nhiều hình thức như giáo dục trên lớp, các hoạt động ngoại khóa, hoạt động Đoàn đội, các buổi giao
Trang 35lưu tuyên truyền cho học sinh Đặc biệt, sự giáo dục, hướng dẫn của giáo viên là rất quan trọng, có ảnh hưởng không nhỏ đến thái độ của học sinh
- Xã hội: Con người sinh ra và lớn lên trong xã hội loài người Sự trưởng thành của con người không thể tách khỏi xã hội Chính vì thế mà những mặt tích cực hay tiêu cực trong xã hội cũng đều ảnh hưởng đến thái độ của con người, đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên Các yếu tố xã hội điều hòa cả hành vi xã hội trên cơ sở phán xét
và đánh giá các sự kiện chúng nêu ra các chuẩn mực xã hội, hướng dẫn những việc nên làm và nên tránh Ngoài ra, nó làm cho các truyền thống, phong tục đã hình thành phát huy ảnh hưởng của mình trong xã hội hiện nay Nó tác động vào ý thức con người, chi phối ý thức và thái độ của cá nhân Một số yếu tố xã hội có thể kể đến như: Thái độ của nhóm bạn bè, sự ủng hộ hay lên án từ các cộng đồng xã hội hoặc báo chí, truyền thông, dư luận xã hội,
1.2.2 M ột số đặc điểm tâm lý cơ bản của lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông
1.2.2.1 Khái niệm học sinh THPT
“Học sinh THPT” là thuật ngữ để chỉ nhóm học sinh đầu tuổi thanh niên (từ 15,
16 đến 17, 18 tuổi) Theo tâm lý học lứa tuổi, tuổi thanh niên được định nghĩa “bắt đầu
từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn” [18, tr.65 - 67]
Về tuổi đời và thể chất, tuổi thanh niên thường được xác định từ 15 đến 25 tuổi, với đặc trưng là sự trưởng thành và hoàn thiện cơ thể cả về giải phẫu và sinh lý, sau khi kết thúc giai đoạn dậy thì Trong đó chia làm hai thời kì:
- Từ 15, 16 đến 17, 18 tuổi được gọi là tuổi đầu thanh niên
- Từ 17, 18 đến 25 tuổi là gia đoạn thanh niên trưởng thành
Học sinh Trung học phổ thông là lứa tuổi giai đoạn đầu thanh niên, tương đương với học sinh lớp 10, lớp 11 và lớp 12 Ở giai đoạn này, hầu hết các em đều học tập tại các trường trung học phổ thông, các trung tâm giáo dục thường xuyên hay các
cơ sở giáo dục Học sinh Trung học phổ thông đã đạt được sự trưởng thành về cơ thể, đây là độ tuổi chuẩn bị quyết định cho sự tham gia vào cuộc sống tự lập, cuộc sống gia đình, là thời kì trưởng thành những phẩm chất tinh thần của một con người đúng nghĩa trong xã hội [34]
Trang 361.2.2.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh Trung học phổ thông
* Sự phát triển thể chất của học sinh THPT
Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các
em còn kém so với người lớn
Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng của học sinh THPT đã chậm lại Sự phát triển chiều cao ở nữ thường dừng lại sau tuổi 18, ở nam thường dừng lại sau tuổi 22, 23 Sự tăng trưởng của cơ bắp đang dần dần đạt đến mức hoàn thiện Cơ bắp, sức lực phát triển mạnh dễ đạt những thành tích trong thể thao
Sự phát triển và hoạt động của tim mạch bình thường làm cho sức chịu đựng của các em kéo dài hơn, sự tập trung của các em tốt hơn Hệ tuần hoàn hoạt động nhịp nhàng làm cho cảm xúc của học sinh mang tính ổn định, các em có thể làm chủ cảm xúc và tâm trạng của mình
Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng não phát triển Số lượng dây thần kinh liên hợp giữa các vùng chức năng của vỏ não tăng nhanh, liên kết các phần khác nhau của
vỏ não lại với nhau Điều này tạo nên điều kiện cần thiết cho hoạt động tiếp nhận, dẫn truyền, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các kích thích lý học, hóa học, cơ học bên trong và bên ngoài cơ thể Bên cạnh đó, nó còn giúp phối hợp, điều hòa các hoạt động của cơ thể
Đây cũng là thời kỳ trưởng thành về giới tính Đa số các em đã qua thời kỳ phát dục Các hormone của tuyến yên, tuyến giáp, tuyến tụy, tuyến thượng thận, tuyến sinh dục hoạt động bình thường và có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển tâm sinh
lý ở lứa tuổi này
Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức, nên người
ta hay nói: “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách sau này của các em
* Điều kiện xã hội của sự phát triển
- Vị trí trong gia đình
Hầu hết học sinh THPT đều sống chung với bố mẹ Số còn lại, vì điều kiện khác nhau, các em sống chung với cha hoặc mẹ ruột, ông bà, cô, dì, chú, bác, Tính
Trang 37chất của các mối quan hệ giao tiếp giữa các em và những người mình sống chung có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc tạo nên các đặc điểm tâm lý của các em
Ở lứa tuổi này, trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề quan trọng trong gia đình như: quan điểm sống và cách xử thế của các thành viên, các vấn đề chi tiêu, Các em cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình Các
em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế chính trị của gia đình Có thể nói rằng cuộc sống của các em trong độ tuổi này là vừa học tập vừa lao động
- V ị trí trong nhà trường
Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì
phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Đòi hỏi các em tự giác, tích cực độc lập hơn, phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo Nhà trường lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị tri thức và hoàn chỉnh tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho các
em Việc gia nhập Đoàn TNCS HCM trong nhà trường đòi hỏi các em phải tích cực độc lập, sáng tạo, phải có tính nguyên tắc, có tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình
- Vị trí ngoài xã hội
Xã hội đã giao cho lứa tuổi học sinh THPT quyền công dân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng như người lớn Tất cả các em đã có suy nghĩ về việc chọn nghề Khi tham gia vào hoạt động xã hội các em được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng,các em có dịp hòa nhập và cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp các em tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này
Tóm lại, ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có hình dáng người lớn, có những nét của người lớn nhưng chưa phải là người lớn, còn phụ thuộc vào người lớn Thái độ đối xử của người lớn với các em thường thể hiện tính chất hai mặt đó là: Một mặt người lớn luôn nhắc nhở rằng các em đã lớn và đòi hỏi các em phải có tính độc lập, phải có ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lý Nhưng mặt khác lại đòi hỏi các em phải thích ứng với những đòi hỏi của người lớn
Trang 38* Sự phát triển trí tuệ của học sinh THPT
Ở thanh niên mới lớn, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả quá trình nhận thức:
+ Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao Quan sát trở nên có mục đích, có
hệ thống và ngày càng toàn diện hơn Quá trình quan sát chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiện thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ Tuy vậy, quan sát của các em cũng khó có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo, định hướng của giáo viên
+ Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ có ý nghĩa cũng phát triển mạnh và tạo nên tính logic, tính hệ thống trong nhận thức của thanh niên học sinh Lứa tuổi này cũng đã tạo được tâm thế phân hóa trong quá trình ghi nhớ Các em có khả năng phân loại mức độ quan trọng của các tài liệu cần ghi nhớ
+ Khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng cũng phát triển mạnh ở lứa tuổi học sinh THPT Tư duy của các em trở nên chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán hơn, có thể sử dụng vật liệu là những khái niệm khoa học, tri thức dưới dạng thuật ngữ, tư duy thoát ly với vật chất Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ đến
tư duy sáng tạo Nhờ khả năng khái quát, thanh niên học sinh có thể tự mình phát hiện
ra những cái mới
+ Tính phê phán của tư duy cũng phát triển mạnh Các em có khả năng đánh giá
và tự đánh giá nhiều mối quan hệ, những sự vật, hiện tượng xung quanh theo những thang giá trị đã được xác lập
Nhìn chung, ở tuổi đầu thanh niên, những đặc điểm về mặt trí tuệ của con người thông thường đã được hình thành và chúng vẫn tiếp tục phát triển
* Giao tiếp và đời sống xúc cảm, tình cảm
- Giao tiếp
Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người thông qua đó con người trao đổi thông tin, cảm xúc, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, hoàn thiện năng lực bản thân Giao tiếp là phương thức tồn tại của con người,
là phương tiện cơ bản để hình thành nhân cách trẻ Ở tuổi thanh niên học sinh, đời sống giao tiếp, tình cảm của các em phát triển rất phong phú và đóng vai trò quan trọng Giao tiếp nhóm là loại giao tiếp rất phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành nhân cách và phát triển tâm lý các em
Trang 39Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh Trong tập thể, các em thấy được vị trí, trách nhiệm của mình và các em cũng cảm thấy mình cần cho tập thể Khi giao tiếp trong nhóm bạn sẽ xảy ra hiện tượng phân cực – có những người được nhiều người yêu mến và có những người ít được bạn bè yêu mến Điều đó làm cho các em phải suy nghĩ về nhân cách của mình và tìm cách điều chỉnh bản thân
Trong giao tiếp, học sinh THPT có khuynh hướng coi trọng quan hệ với những người cùng lứa tuổi hơn quan hệ với người lớn tuổi hoặc nhỏ tuổi hơn Điều cốt lõi để giải thích hiện tượng này là sự tương đồng về suy nghĩ, cảm xúc và hành động, các em khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống và có nhu cầu sống cuộc sống tự lập Do đó, người lớn nếu muốn đến gần các em hơn thì cần có được sự tương đồng này
Phạm vi giao tiếp của học sinh lứa tuổi này được mở rộng và tính người lớn của các em được thừa nhận ngày càng nhiều Tính độc lập trong giao tiếp với người lớn ngày càng tăng Các em tham gia nhiều nhóm xã hội và có nhiều vai trò khác nhau, từ
đó nảy sinh nhiều cơ hội để các em hình thành cho mình nhiều giá trị xã hội
Trong mối quan hệ gia đình, cùng với sự trưởng thành về nhiều mặt, quan hệ dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ dần được thay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập Thông thường, trong hoàn cảnh giao tiếp tự do, trong việc phát triển nhu cầu, sở thích, thanh niên hướng vào bạn bè nhiều hơn là cha mẹ; nhưng khi bàn đến những giá trị sâu sắc hơn như chọn nghề, thế giới quan, những giá trị đạo đức thì ảnh hưởng của cha mẹ lại mạnh hơn rõ rệt Một đặc điểm phổ biến của lứa tuổi này là tâm lý muốn mình làm người lớn, coi mình là người lớn Nhiều học sinh THPT không muốn cha mẹ xem mình như những đứa trẻ, không còn tâm sự nhiều với cha mẹ như khi còn
và cha mẹ
Trang 40Trong tình cảm với gia đình, thanh niên học sinh có tình cảm đặc biệt với cha
mẹ và những người thân trong gia đình của mình Các em có trách nhiệm hơn với gia đình, yêu quý gia đình hơn và mong muốn làm cho gia đình mình ngày càng hoàn thiện [39, tr.106]
Ở lứa tuổi này, nhu cầu về tình bạn, tâm tình cá nhân được tăng lên rõ rệt Tình bạn của lứa tuổi học sinh THPT sâu sắc hơn nhiều so với tình bạn tuổi thiếu niên Yêu cầu đối với tình bạn của các em cao hơn, chẳng hạn như bạn bè là phải có sự chân thật, lòng vị tha, sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng giúp đỡ, sẻ chia với nhau, có cùng chí hướng phấn đấu vì giá trị nào đó Tình bạn của thanh niên học sinh khá bền vững và có thể kéo dài rất lâu
Tình bạn đối với các em ở tuổi này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Tình
bạn thân thiết, chân thành sẽ cho phép các em đối chiếu được những thể nghiêm, ước
mơ, lí tưởng, cho phép các em học được cách nhận xét, đánh giá về mình Nhưng tình bạn ở các em còn mang tính xúc cảm cao nên thường có biểu hiện lý tưởng hóa tình bạn Có nghĩa là các em thường đòi hỏi ở bạn mình phải có những cái mình muốn chứ không chú ý đến khả năng thực tế của bạn
Thanh niên học sinh chủ động tìm hiểu và chọn bạn cho mình, các em có bạn cùng giới bạn khác giới và nhóm bạn Không chỉ kết bạn thân với một người, các em còn có những nhóm bạn của riêng mình Sự gặp nhau về xu hướng, tính cách hay năng lực của các em là cơ sở để hình thành những nhóm bạn, có thể cùng giới hay khác giới [39, tr.107] Và ở một số em đã xuất hiện những lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ, xuất hiện nhu cầu chân chính về tình yêu và tình cảm sâu sắc Tình yêu nam nữ bắt đầu xuất hiện ở độ tuổi này Tình yêu ở lứa tuổi này là tình cảm hồn nhiên, thầm kín,
nhưng cũng rất dễ vỡ [39, tr.107], nó còn được gọi là “tình yêu bạn bè”, bởi vì các em
thường che giấu tình cảm của mình trong tình bạn nên đôi khi cũng không phân biệt được đó là tình bạn hay tình yêu Tình yêu của nam nữ thanh niên tạo ra nhiều cảm xúc: căng thẳng, lúng túng vì thiếu kinh nghiệm, vì sợ bị từ chối, vì vui sướng khi được đáp lại bằng sự yêu thương
Bên cạnh đó, ở học sinh THPT cũng bắt đầu lộ rõ hơn nhiều tình cảm đạo đức như khâm phục, kính trọng những con người dung cảm, kiên cường, có nghị lực vươn lên, coi trọng những giá trị đạo đức cũng như lương tâm Các em có mong muốn làm một điều gì đó mang lại lợi ích cho người khác, thể hiện sức mạnh thanh xuân của mình Những tình cảm cao đẹp khác về trí tuệ, thẩm mĩ cũng được hình thành một cách khá sâu sắc Nhiều em say mê văn học nghệ thuật, hội họa, âm nhạc, và phấn đấu vì nó một cách không mệt mỏi