Nhiệm vụ của luận án Để đạt được các mục đích nghiên cứu đề ra và thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, luận án cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: Các yếu tố nào có ảnh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN KIM THẮNG
THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI TÁI SINH SẢN
CỦA NGƯỜI DÂN HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN KIM THẮNG
THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI TÁI SINH SẢN
CỦA NGƯỜI DÂN HÀ NỘI
Chuyên ngành Xã hội học
Mã số: 62 31 03 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hữu Minh
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong Luận án trung thực và chƣa ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các trích dẫn chỉ rõ nguồn tài liệu và tác giả
Tác giả Luận án
Đoàn Kim Thắng
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Tôi bày tỏ sự cám ơn chân thành tới Lãnh đạo Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Khoa Xã hội học, Cơ sở đào tạo Học viện Khoa học xã hội, Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi được học tập các Chương trình nghiên cứu sinh tại Học viện và hoàn thành Luận án này
Tôi cũng xin chân thành cám ơn các địa phương xã/phường của Hà Nội
đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình điền giã, khảo sát, thu thập tư liệu để viết Luận án trong giai đoạn 2010-2014; và chân thành cám ơn Viện nghiên cứu Gia đình và Giới đã cho phép tôi sử dụng một phần
số liệu của cuộc điều tra nghiên cứu Gia đình năm 2010 để làm đối chứng viết Luận án
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy hướng dẫn
GS.TS Nguyễn Hữu Minh, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong việc định
hướng nội dung nghiên cứu, phương pháp tiếp cận nghiên cứu, thu thập tư liệu và những ý tưởng khoa học để tôi có thể hoàn thành tốt Luận án nghiên cứu này
Cuối cùng và hết sức quan trọng, đó là sự động viên của gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã luôn tạo sức mạnh, nguồn cảm hứng cho tôi hoàn thành Luận án./
Hà Nội, ngày 09 tháng 12 năm 2015
Nghiên cứu sinh Đoàn Kim Thắng
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
4.2.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 7
1 Nghiên cứu có liên quan đến thái độ và hành vi tái sinh sản trên
thế giới và Việt Nam
16
1.3 Các yếu tố tác động đến thái độ và hành vi sinh đẻ 20
2 Nghiên cứu liên quan đến hành vi dân sô và kế hoạch hóa gia 29
Trang 6đình được tiến hành tại Hà Nội
1.3 Lý thuyết động lực kinh tế: so sánh chi phí và lợi ích 39
2 Một số lý thuyết xã hội học áp dụng trong luận án 41
2.5 Các phương pháp tiếp cận khác đối với sự quá độ dân số 53
1 Giới thiệu chung về dân số và phát triển Hà Nội 64
Trang 72 Đặc điểm nhân khẩu – xã hội đối tượng nghiên cứu tại Hà Nội 70
3.2 Mong muốn về sinh con và thiên vị giới tính 82
3.3 Phân tích hồi quy kiểm định sở thích sinh con trai 101
CHƯƠNG IV HÀNH VI TÁI SINH SẢN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC
vi tái sinh sản của người dân Hà Nội
127
4.3.2 Tác động của các yếu tố văn hóa - xã hội 130 4.3.3 Tác động của giá trị đứa con đến sinh đẻ 134
Trang 8IFG Viện nghiên cứu Gia đình và Giới :
MDGs Mục tiêu thiên niên kỷ :
VNDHS Điều tra Dân số và Sức khỏe :
VNICDS Điều tra Nhân khẩu học giữa kỳ :
DS-KHHGĐ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình :
Cách đọc trích dẫn tài liệu tham khảo
Tài liệu tham khảo, trích dẫn đƣợc đánh số thứ tự từ 1 đến n Trong luận án các công trình đƣợc tham khảo, trích dẫn đƣợc đánh số đặt trong ngoặc vuông [ ] Chẳng hạn, viết “[9]” nghĩa là tài liệu đƣợc trích dẫn đứng ở thứ tự 9 trong danh mục Tài liệu tham khảo ở cuối luận án Độc giả chỉ cần tìm đến số thứ
tự 9 trong danh mục Tài liệu tham khảo để có thông tin chi tiết về tài liệu này
Trang 9MỤC LỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HỘP
BẢNG
Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu - xã hội người được phỏng vấn 2010 – 2011 9
Bảng 2: Đặc điểm nhân khẩu - xã hội người được phỏng vấn 2013 – 2014 11
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu về dân số của Hà Nội giai đoạn 2008 – 2014 64
Bảng 3.2: Tỷ lệ phụ nữ Hà Nội sinh con thứ 3 trở lên theo đơn vị hành chính 67 Bảng 3.3: Tương quan các nhóm tuổi với tỷ lệ đánh giá “ Con cái là niềm vui hạnh phúc gia đình” 73
Bảng 3.4: Tương quan với địa bàn sinh sống với tỷ lệ đánh giá “Con cái là niềm vui hạnh phúc gia đình” 74
Bảng 3.5: Tương quan địa bàn sinh sống với “Con cái là yếu tố kéo dài cuộc sống của bố mẹ” 75
Bảng 3.6: Tương quan trình độ học vấn và “Con cái là yếu tố kéo dài cuộc sống của bố mẹ” 75
Bảng 3.7: Tương quan nhóm tuổi và “Con cái là nhân tố củng cố quan hệ giữa vợ chồng” 76
Bảng 3.8: Tương quan địa bàn sinh sống và “ Con cái người chăm sóc bố mẹ khi về già” 77
Bảng 3.9: Tương quan với nhóm tuổi người được hỏi và “ Có con để làm hài lòng bố mẹ hai bên” 79
Bảng 3.10: Tương quan với nhóm tuổi người được hỏi và “Có con để làm hài lòng bố mẹ hai bên” 79
Bảng 3.11 :Con cái là cầu nối giữa tổ tiên, thế hệ đang sống và tương lai tương quan với nhóm tuổi 80
Bảng 3.12 : Số con mong muốn tương quan với nghề nghiệp người được hỏi 83
Bảng 3.13 :Mong muốn về số con tương quan với số con hiện có 84
Bảng 3.14: Mong muốn về sinh con theo nhóm tuổi người được hỏi .85
Bảng 3.15: Tương quan giữa nhóm tuổi và số con mong muốn 89
Bảng 3.16: Tương quan giữa thành phần tôn giáo và số con mong muốn 90
Bảng 3.17:Tương quan giữa thành phần tôn giáo và số con trai/gái 91
Bảng 3.18:Tương quan giữa số con đã có và giới tính con cái .92
Bảng 3.19: Người chịu trách nhiệm chính chăm sóc cha mẹ lúc về già tương quan với địa bàn khảo sát 96
Trang 10Bảng 3.20: Người chịu trách nhiệm chính chăm sóc cha mẹ lúc về già, tương
quan với các thế hệ trong gia đình .97
Bảng 3.21: Mô hình hồi quy logistic sở thích về con rai .103
Bảng 4.1: Thực hành sử dụng các biện pháp tránh thai 111
Bảng 4.2: Sử dụng biện pháp tránh thai tương quan với số con hiện có 112
Bảng 4.3: Ý kiến người được hỏi về đẻ con trai, con gái 113
Bảng 4.1: Số con mong muốn của phụ nữ theo nhóm tuổi qua các cuộc điều tra gần đây 117
Bảng 4.2: Tương quan nghề nghiệp và số con mong muốn 125
Bảng 4.3: Tỷ lệ phụ nữ muốn thêm con theo số con hiện có 126
Bảng 4.4: Tương quan số thế hệ với người chịu trách nhiệm trong việc chăm sóc cha mẹ già 125
Bảng 4.5: Tương quan giữa số con hiện có với mong muốn đẻ thêm con 127
Bảng 4 6: Tương quan giữa độ tuổi và học vấn với số con đã từng sinh của phụ nữ Hà Nội… 133
BIỂU Biểu 3.1: Mong muốn về sinh con theo tình trạng hôn nhân người được hỏi 86
Biểu 3.2: Tương quan giữa số con hiện có và số con mong muốn 88
Biểu 3.3: Lý do sinh con 93
Biểu 3.4: Thái độ khi chưa đủ số con tương quan với số con hiện có 100
Biểu 4.1: Thời gian sử dụng biện pháp tránh thai .110
Biểu 4.2: Tương quan giữa giới tính người được hỏi về việc phải đẻ khi chưa có con trai 114
Biểu 4.3: Tương quan giữa giới tính người được hỏi về việc phải đẻ khi chưa có con gái .114
Biểu 4.4: Tương quan sống chung với bố mẹ hai bên và phải đẻ khi chưa có con trai .119
Biểu 4.5: Tương quan sống chung với bố mẹ hai bên và phải đẻ khi chưa có con gái 120
HỘP Hộp 4.1: Nữ 35 tuổi, người ngoại tỉnh lấy chồng Hà Nội 121
Hộp 4.2: Nam 35 tuổi, 3 con gái 123
Trang 111
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Việt Nam đang ở giai đoạn hạ thấp nhanh chóng mức sinh, với tổng tỷ suất sinh năm 1989 là 2,33 con đã giảm xuống 2,05 con mỗi phụ nữ trong vòng hơn 20 năm qua (1989 - 2012) Sự hạ thấp này chủ yếu là kết quả của việc chính phủ Việt Nam đã dành ưu tiên cao cho công cuộc giảm mức sinh
và hãm đà gia tăng dân số kể từ khi đất nước hoàn toàn thống nhất vào năm
1975 Tuy nhiên, năm 2013 tổng tỷ suất sinh lại tăng đôi chút với 2,10 con/ phụ nữ và chỉ giảm rất ít vào năm 2014 (2,09 con/phụ nữ) Tỷ suất sinh thô năm 2014 là 17,2‰ (tức 17,2 trẻ sinh ra sống trên 1000 người dân) Tỷ số giới tính của trẻ em là 112,2 bé trai/100 bé gái, tăng so với mức 111,9 bé trai/100 bé gái của năm 2011 Tỷ suất chết thô năm 2014 là 6,9‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là 11,8‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 22,4‰ Mặc dù có những tiến bộ trong việc hạ thấp mức sinh, nhưng mức độ gia tăng dân số vẫn còn nhanh Dân số trung bình cả nước năm 2014 ước tính 90,72 triệu người, tăng 1,06% so với năm 2013 [59]
Mặc dù có những tiến bộ trong việc hạ thấp mức sinh, nhưng mức độ gia tăng dân số vẫn còn nhanh, và người ta lo ngại về những hậu quả bất lợi
có thể xảy ra cho nền kinh tế Việt Nam Theo cuộc điều tra dân số năm 1989, Việt Nam có tỷ suất sinh thô là 30‰, tỷ suất tử là 8‰ và do đó tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên là 2,2% Năm 2014, tỷ suất sinh thô là 17,2 ‰ và tỷ suất tử là 6,9‰ Theo tỷ lệ này, số dân nước ta năm 2014 là hơn 90,72 triệu người
Kể từ khi công bố kết quả của tổng điều tra dân số tính đến ngày 1/4/2009 thì dân số Việt Nam là 85,8 triệu Đến nay dân số đã đạt hơn 90 triệu người Dự báo với mức sinh hiện nay thì dân số Việt Nam sẽ đạt 95,29 triệu vào năm 2019-102,7 triệu vào năm 2029 và 108,7 triệu vào năm 2049,
Trang 12Năm 2013 dân số Việt Nam đạt xấp xỉ 90 triệu người là mốc đánh giá nước ta đã thực hiện vượt mức chỉ tiêu về chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 - 2020 Qui mô dân số không vượt qua 93 triệu người vào năm 2015 và 98 triệu người vào năm 2020
Việt Nam đã bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” từ năm 2007 (2 người trong độ tuổi lao động “cõng” 1 người phụ thuộc chưa đến tuổi lao động hoặc hết tuổi lao động) Theo dự báo giai đoạn “dân số vàng” ở nước ta
sẽ kết thúc vào năm 2041 Với đặc điểm này, độ tuổi lao động ở Việt Nam tăng từ 61% đến 70%, cả nước có gần 50 triệu lao động chiếm khoảng trên 51% dân số Việt Nam cần nắm bắt thời cơ này, một trong những việc cần làm là đào tạo nghề có chất lượng cao để tạo sức cạnh tranh trên thị trường lao động trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sôi động Đây cũng chính là lợi thế rất lớn về lực lượng lao động hiện nay đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Theo dự báo thời cơ thuận lợi này có thể kéo dài từ 30 - 40 năm Nhưng bên cạnh của cơ hội tăng dân số thì cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức cần được quan tâm đúng mức Công tác
DS - KHHGĐ có những công việc lâu nay chúng ta vẫn triển khai có kết quả như: giảm tỉ suất sinh, giảm tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên, thực hiện các biện pháp tránh thai, bảo đảm sức khỏe sinh sản, sàng lọc thai nhi trước sinh và
Trang 133
sau sinh thì hiện nay công tác Dân số - KHHGĐ đang đứng trước những vấn
đề “nóng” phải đối mặt Đó là già hóa dân số, vấn đề giảm sinh, vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh Ở Việt Nam ngay từ Tổng điều tra Dân số và Nhà
ở năm 1999 đã cho thấy “tỷ số giới tính khi sinh của toàn quốc là 107, nhưng
ở nhiều nơi tỷ số này lại rất cao, như An Giang: 128; Kiên Giang: 125; Sóc Trăng: 124; Trà Vinh: 124; Hải Dương: 120; Thái Bình: 120 ” Đối với Hà Nội, ở cả hai cuộc TĐTDS 1999 và TĐTDS 2009 số liệu đều cho thấy tỷ số giới tính khi sinh nằm trong biên độ cao dao động từ 107-115 trẻ em trai/100 gái [9] Tỷ số giới tính là một chỉ số nhân khẩu học phản ánh cơ cấu giới tính của một quần thể dân số, trong đó tỷ số giới tính khi sinh (SRB) thường được các nhà nhân khẩu học quan tâm nhất Tỷ số giới tính khi sinh được xác định bằng số trẻ em trai được sinh ra trên 100 trẻ em gái Tỷ số này thông thường
là 103 đến 106/100 Duy trì chỉ số này trong giới hạn trên sẽ đảm bảo sự cân bằng trong phát triển tự nhiên và xã hội của một quốc gia
Hơn thế nữa, sự gia tăng như thế có thể làm tăng thêm sức ép dân số trên đất đai, đặc biệt đối với những khu vực sản xuất lương thực như đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam
Cuộc vận động tích cực cho chương trình kế hoạch hóa gia đình của chính phủ Việt Nam tiến hành hơn 30 năm kể từ khi Ủy ban Quốc gia Dân số
và sinh đẻ kế hoạch được thành lập ngày 11/4/1984 theo Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), mới đây được bổ sung thêm một chính sách rõ ràng với định mức cho mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con cho hầu hết mọi cặp vợ chồng Trong những năm qua, Việt Nam cũng đã có nhiều thay đổi quan trọng trong chính sách kinh tế của đất nước Chính sách
Đổi mới của chính phủ Việt Nam đã góp phần tăng nhanh sản xuất nông
nghiệp và thúc đẩy trao đổi kinh tế với các nước khác, hứa hẹn sẽ đưa đến nhiều thay đổi tiếp theo trong tương lai Tuy nhiên, một mối lo ngại đang
Trang 144
được đặt ra là liệu mức độ kiểm soát của chính phủ đối với hoạt động kinh tế gia đình có chiều hướng giảm sút, gắn liền với công cuộc đổi mới có thể vô tình góp phần làm yếu đi khả năng của nước ta trong việc duy trì và tiếp tục những thành tựu của mình trong lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình nhằm hạ thấp
tỷ lệ sinh đẻ
Mặt khác, những năm gần đây tại khu vực đồng bằng sông Hồng, Hà Nội đang chịu áp lực gia tăng dân số, nhất là trong khu vực nội thành nhưng chất lượng lại thấp và không đồng đều giữa nội thành và ngoại thành, đây là những thách thức đối với công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình của Thủ đô
Số liệu thống kê cho thấy sau khi mở rộng địa giới hành chính, dân số Thủ đô đạt trên 7,1 triệu người Đặc biệt trong vòng 4 năm (2008 - 2011) dân
số Hà Nội đã tăng khoảng 43 vạn người, trong đó tăng dân số cơ học lên tới 5 vạn người/năm, chủ yếu thuộc các đối tượng trong độ tuổi lao động
Hiện nay, trên địa bàn thành phố có trên 30 dân tộc cư trú; trình độ dân trí và mức sống của mỗi dân tộc, mỗi vùng khác nhau Nhận thức về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, mức thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình cũng có khoảng cách và khác biệt giữa các khu vực
Trên thực tế, tại các huyện ngoại thành, tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh và tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên thường rất cao Theo Niên giám Thống kê của Cục Thống kê thành phố Hà Nội, năm 2015 thì mặc dù tỷ lệ sinh con thứ ba của phụ nữ Hà Nội năm 2014 có giảm so với năm 2013, nhưng những trọng điểm sinh con thứ ba vẫn cao, chủ yếu ở các huyện ngoại thành mới như: Hoài Đức (15,59%); Thạch Thất (14,29%); Ứng Hòa (12,63%); Đan Phượng (12,38%); Phú Xuyên (11,70%); và Ba Vì (11,61%) Huyện ngoại thành cũ như Đông Anh (9,07%), Gia Lâm (7,18%) Các huyện ngoại thành khác tỷ lệ này dao động trong khoảng từ 5,84% đến
Trang 15Xuất phát từ ý nghĩa trên, việc nghiên cứu thái độ và hành vi tái sinh sản của cư dân Hà Nội là việc làm cần thiết Việc nghiên cứu này nhằm góp phần vào việc lập chính sách, phát triển các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cho các cộng đồng dân cư, thúc đẩy sự giảm mức sinh cao đang còn duy trì trong một số nhóm cư dân, nhằm ổn định mức sinh thay thế cũng như nâng cao chất lượng dân số thủ đô Đây cũng là một trong những mục tiêu đang được đặc biệt chú trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô và của cả nước trong giai đoạn phát triển mới
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích của luận án
Mục đích của luận án là tập trung phân tích về thái độ và hành vi tái sinh sản của người dân Hà Nội
2.2 Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được các mục đích nghiên cứu đề ra và thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, luận án cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
Các yếu tố nào có ảnh hưởng đến thái độ và hành vi tái sinh sản của người dân Hà Nội?
Mong muốn (sở thích) sinh con có quan hệ như thế nào với các yếu tố
về nhân khẩu của người dân (độ tuổi, quy mô gia đình, số con hiện có
và số con trai hiện có…)?
Trang 166
Liệu thiên vị giới tính con cái có phải là nhân tố ảnh hưởng dẫn tới duy trì mức sinh cao trong các gia đình cư dân Hà Nội, đặc biệt là áp lực đối với người phụ nữ?
Số con hiện có, ý định sinh thêm con có mối liên quan chặt chẽ như thế nào đến việc sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng trong
độ tuổi sinh đẻ?
Có sự khác biệt hay không giữa khu vực nông thôn và đô thị; giữa thành phần dân tộc trong thái độ và hành vi sinh đẻ của các nhóm dân cư?
2.3 Giả thuyết nghiên cứu
Một trong những những nhiệm vụ quan trọng của luận án là đưa ra được những bằng chứng khoa học để xem xét các giả thuyết nghiên cứu Trong phạm vi của luận án này, các giả thuyết được đưa ra dựa trên các câu hỏi nghiên cứu như sau:
Giả thuyết 1: Các yếu tố về kinh tế - xã hội và văn hóa, đặc biệt
là văn hóa truyền thống có ảnh hưởng đến thái độ và hành vi tái sinh sản của người dân Hà Nội
Giả thuyết 2: Mong muốn sinh con có quan hệ với các yếu tố về
nhân khẩu của người dân (độ tuổi, quy mô gia đình, số con hiện có và số con
trai hiện có…)
Giả thuyết 3: Thiên vị giới tính con cái là nhân tố tác động dẫn
tới duy trì mức sinh cao trong các gia đình cư dân Hà Nội, đặc biệt là áp lực đối với người phụ nữ
Giả thuyết 4: Số con hiện có, ý định sinh thêm con có mối liên quan đến việc sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ
Trang 177
Giả thuyết 5: Có sự khác biệt giữa khu vực nông thôn và đô thị;
giữa thành phần dân tộc trong thái độ và hành vi sinh đẻ của các nhóm dân
cư
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thái độ và hành vi tái sinh sản của người dân
Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu nam và nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại một số xã, phường của
Hà Nội trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2014
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai luận án, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu; phân tích thứ cấp các số liệu từ các nghiên cứu trước đó có liên quan đến chủ đề của luận án; phương pháp định lượng (phỏng vấn bằng bảng hỏi soạn sẵn); phương pháp định tính với kỹ thuật phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp (case study) tại một số xã/phường của Hà Nội
4.2.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
Trang 188
Phương pháp nghiên cứu tài liệu bao gồm các giai đoạn như: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa những lý thuyết cũng như những công trình nghiên cứu thực tiễn của các tác giả trong và ngoài nước và cá nhân tác giả đã nghiên cứu từ năm 1985 đến nay Các tài liệu phân tích sẽ được phân chia thành nhiều mảng khác nhau, để tiện cho việc tham khảo về biến đổi của kinh tế - xã hội; sự chuyển đổi của yếu tố văn hóa từ truyền thống sang hiện đại; các chính sách kinh tế - xã hội và dân số; sự thay đổi các chuẩn mực xã hội, trong đó có chuẩn mực về sinh sản tới hành vi tái sinh sản của người dân
4.2.2 Phương pháp định lượng (Phỏng vấn bằng bảng hỏi soạn sẵn)
Bên cạnh việc sử dụng nguồn số liệu thu thập được từ cuộc điều tra năm 2010 về: “Nhận thức và thái độ về gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội” do Viện nghiên cứu Gia đình và Giới tiến hành, năm 2013-2014 tác giả thực hiện một cuộc điều tra riêng với 300 mẫu tại Hà Nội bao gồm cả nông thôn và đô thị
Đối với cuộc điều tra do Viện nghiên cứu Gia đình và Giới tiến hành năm 2010-2011, phương pháp chọn mẫu cụm được áp dụng để đảm bảo rằng các cuộc khảo sát đại diện cho cuộc sống gia đình người Hà Nội Cụ thể, các cuộc khảo sát được tiến hành ở 24 xã/phường thuộc 12 quận,huyện của 3 khu vực khác nhau (8 phường, 8 xã ven nội thành và 8 xã ngoại thành xa trung tâm Hà Nội) Tại quận trung tâm: Ba Đình gồm các phường (Ngọc Hà, Vĩnh Phúc); quận Đống Đa (phường Láng Hạ, Khương Thượng); quận Hoàng Mai (phường Lĩnh Nam, Tân Mai); quận Cầu Giấy (phường Trung Hòa, Dịch vọng Hậu) Huyện giáp nội thành gồm: Từ Liêm (xã Thượng Cát, Tây Mỗ); huyện Đông Anh (xã Liên Hà, xã Võng La); huyện Mê Linh ( xã Văn Khê, xã
Mê Linh); huyện Hoài Đức (xã Song Phương, xã Yên Sở) Huyện xa nội thành gồm: Chương Mỹ (xã Phú Nghĩa, xã Hữu Văn); huyện Ứng Hòa (xã
Trang 19Bảng 1 Đặc điểm nhân khẩu học – xã hội của mẫu phỏng vấn
Ngoại vi (huyện xa nội thành) 33,5
Việc làm chính Làm việc làm đƣợc trả tiền 56,0
Làm việc không đƣợc trả tiền 20,6
Không có việc (thất nghiệp) 0,4
Trang 20Sống chung với bố mẹ Sống chung với bố mẹ hai bên 40,1
Không sống với bố mẹ hai bên 59,9
Nguồn: Viện nghiên cứu Gia đình và Giới Khảo sát tại Hà Nội, 2011
Đối với cuộc điều tra riêng năm 2013-2014, tác giả tiến hành với số mẫu phỏng vấn là 300 nam nữ có vợ/chồng trong độ tuổi sinh đẻ (15- 49 tuổi) tại 3 xã nông thôn và 3 phường đô thị Hà Nội Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên dựa trên danh sách các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại các xã, phường đã được lập trước đó Từ các danh sách đã được thống kê, chọn mỗi xã/phường 50 mẫu để phỏng vấn bảng hỏi Đối với các phỏng vấn sâu, danh sách được rút ra từ các phỏng vấn bảng hỏi đã phỏng vấn có vấn đề cần tìm hiểu sâu Tổng số có 30 phỏng vấn sâu, chiếm 10% so với tổng số mẫu khảo sát Các xã/phường tại Hà Nội được tiến hành khảo sát bao gồm: Quận Hoàn Kiếm, đại diện cho khu vực trung tâm Hà Nội (chọn phường Phúc Tân); quận Tây Hồ, đại diện cho khu vực gần trung tâm (chọn phường Xuân La); quận Thanh Xuân, đại diện cho khu xa trung tâm (chọn phường Nhân Chính); huyện Từ Liêm, đại diện cho khu vực ngoại thành cũ (chọn xã Cổ Nhuế); huyện Sóc Sơn (chọn xã Nam Sơn), và huyện Ứng Hòa (chọn xã Hòa Xá) đại diện cho khu vực ngoại thành mới được sáp nhập về Hà Nội năm 2008
Lợi thế của nghiên cứu riêng này là đưa ra một bức tranh đa dạng về những ứng xử của người dân tại điểm nghiên cứu về thái độ và hành vi tái
Trang 2111
sinh sản Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích, so sánh với các kết quả nghiên cứu, các dữ liệu sẵn có khác, đặc biệt các khảo sát quy mô quốc gia để bổ sung, làm rõ vấn đề mà luận án đề cập
Bảng 2 Đặc điểm nhân khẩu học – xã hội của mẫu phỏng vấn
năm 2013-2014 tại Hà Nội (%)
Đặc điểm nhân khẩu học – xã hội
Trang 22Các thông tin thập được xử lý trên phần mềm SPSS 15.0, các thông số
và phép toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích thống
kê mô tả và phân tích thống kê suy luận
4.2.3 Phương pháp định tính (Phỏng vấn sâu)
Luận án tiến hành 30 phỏng vấn sâu bao gồm 15 nam và 15 nữ trong độ tuổi sinh đẻ có vợ/chồng nhằm tìm hiểu sâu hơn và để lý giải, giải thích, đồng thời khẳng định các vấn đề được nêu lên qua điều tra bảng hỏi trên diện rộng Thông tin từ các phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp sẽ được xử lý bằng phần mềm phân tích định tính NVIVO 8.0
4.2.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study)
Thực hiện phương pháp này chủ yếu với các trường hợp điển hình được lựa chọn ra trong quá trình phỏng vấn bằng bảng hỏi tại các địa bàn nghiên cứu Thông qua phương pháp này, nhằm tìm hiểu sâu hơn những vấn đề luận
án cần làm sáng tỏ về thái độ và hành vi tái sinh sản của người dân đô thị cũng như nông thôn Bên cạnh phỏng vấn sâu trường hợp với phụ nữ, các phỏng vấn trường hợp cũng sẽ tiến hành với một số người chồng và người lớn tuổi có uy tín trong cộng đồng để làm sáng tỏ thêm những giả thuyết mà luận
án đã nêu về thái độ và hành vi tái sinh sản của người dân Hà Nội
5 Đóng góp mới của luận án
Nội dung của luận án được phân tích trên cơ sở thông tin được thu thập
từ bảng hỏi được thiết kế sẵn tìm hiểu về “Nhận thức và thái độ về gia đình” năm 2010 do Viện nghiên cứu Gia đình và Giới (IFG) tiến hành năm 2010; và
Trang 2313
cuộc điều tra riêng của nghiên cứu sinh tiến hành năm 2013-2014 trên địa bàn thành phố Hà Nội Những thông tin về thái độ và hành vi về tái sinh sản của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ là một trong nhiều nội dung mà một số cuộc điều tra trước đó đã quan tâm Tuy nhiên, những nghiên cứu trước đó chưa có được đầy đủ những thông tin về các diễn biến của thái độ và hành vi
về tái sinh sản, mà chỉ có những thông tin về nhận thức và thái độ chung về các vấn đề chung của gia đình, trong đó có sinh đẻ Với luận án này, nỗ lực của nghiên cứu sinh là đưa ra được những câu trả lời/thông tin có khả năng luận giải tốt nhất về đặc trưng của các biến số độc lập và mối quan hệ của nó đối với biến số phụ thuộc trong việc đo lường thái độ và hành vi tái sinh sản của người dân, qua đó có thể so sánh với số liệu của các cuộc điều tra trước
đó Mặt khác, trong lĩnh vực tái sinh sản có nhiều khía cạnh của lĩnh vực này được coi là vô hại hoặc không đáng để người được hỏi quá lo ngại khi được hỏi Tuy nhiên, đối với những khía cạnh này chúng ta có lý do để tin rằng các câu hỏi về thái độ có thể giúp các nhà nghiên cứu dự báo tương lai của hành
vi dân số Đặc biệt, đóng góp mới của luận án là đã tìm hiểu sâu hơn được các thông tin về mối quan hệ giữa thái độ và hành vi tái sinh sản của người dân
Hà Nội thể hiện trong luận án này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu: “Thái độ và hành vi tái sinh sản của người dân Hà Nội” của tác giả đóng góp vào tri thức luận chung của chuyên ngành Xã hội học trong việc nghiên cứu vấn đề dân số - kế hoạch hóa gia đình Thái độ và hành
vi tái sinh sản của con người được đặc trưng bởi một cơ cấu phức tạp Những yếu tố cơ bản là các tiêu chuẩn giá trị sinh đẻ, nhu cầu về con cái, các động cơ sinh đẻ, điều kiện sống và các biến số trung gian tác động đến hành vi sinh sản như hôn nhân, tình dục, tránh thai, nạo thai Yếu tố văn hóa tinh thần,
Trang 2414
chuẩn mực xã hội là phương tiện quan trọng để điều chỉnh các hành vi của cá nhân Các quan hệ gia đình thực sự là các quan hệ mềm dẻo, phản ánh trực tiếp tác động của các điều kiện xung quanh tới hành vi của các cá nhân
Có nhiều lý thuyết được áp dụng khi đề cập đến vấn đề dân số, sinh đẻ
và hành vi sinh sản như: Học thuyết ban đầu về dân số của Malthus 1834), Học thuyết quá độ về dân số (Caldwell 1976; Coale 1975; Teitelbaum 1975) Luận án này, về mặt lý luận góp phần hoàn thiện khái niệm “Hành vi tái sinh sản” trong trường hợp Việt Nam và kiểm tra tính đúng đắn của các quan điểm lý thuyết và khả năng vận dụng các quan điểm lý thuyết nghiên cứu về thái độ và hành vi tái sinh sản trong thực tiễn của Hà Nội, Việt Nam
(1766-6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án đã cung cấp những hiểu biết mới về thái độ và hành vi tái sinh sản của người dân Hà Nội Có nhiều yếu tố tác động đến mức sinh, tuy nhiên phân tích mối tương quan giữa thái độ và hành vi tái sinh sản của người dân
là vấn đề có ý nghĩa để góp phần lý giải về việc duy trì mức sinh cao hay ổn định của dân số Đóng góp này có ý nghĩa về mặt xã hội Mặt khác, nghiên cứu của luận án cũng cho thấy việc vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng tỏ ra thích hợp trong nghiên cứu xã hội học dân
số - gia đình Các bằng chứng từ thu thập bằng phương pháp định lượng (như
số con mong muốn, thái độ về số con, và giới tính con cái, thái độ về quy mô gia đình 1 hoặc 2 con ) được gắn kết với các bằng chứng thu thập từ phương pháp định tính góp phần giải mã cho thái độ và hành vi tái sinh sản của các vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại địa bàn nghiên cứu Và, đặc biệt với Hà Nội - địa bàn mà những năm gần đây đang duy trì tình trạng bất lợi về tỷ lệ giới tính khi sinh, có ảnh hưởng nhiều đến việc duy trì mức sinh cao trong các cặp vợ chồng Hơn nữa, về mặt hành chính, Hà Nội luôn được coi là cái nôi văn hóa
Trang 2515
của đồng bằng sông Hồng và cái nôi đó cho đến ngày hôm nay vẫn quy định
mô hình phát triển của đất nước Việt Nam
7 Cơ cấu của luận án
Cơ cấu của luận án gồm: Phần mở đầu; nội dung; kết luận; kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo
Phần nội dung của luận án gồm 4 chương: Chương I: Tổng quan các nghiên cứu về thái độ và hành vi tái sinh sản; Chương II: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu; Chương III: Thái độ tái sinh sản của người dân Hà Nội; Chương IV: Hành vi tái sinh sản và các yếu tố tác động đến hành vi tái sinh sản của người dân Hà Nội
Trang 26có ảnh hưởng gián tiếp Các biến trung gian hình thành nên 3 nhóm: biến thuộc về sinh hoạt tình dục, thụ thai và thai nghén Các tác giả cũng chỉ ra sự khác biệt về mức sinh giữa vùng phát triển và kém phát triển do những khác nhau trong cơ cấu xã hội Điều quan trọng là xác định mô hình mà các xã hội với phương thức tổ chức khác nhau, có thể đo được mức sinh mong muốn với các cơ chế, thiết chế hoàn toàn khác nhau John Bogaarts (1990) đã đưa ra mô hình thứ hai về các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh, ông phân tích một loạt các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức sinh, trong đó có bốn yếu tố quan trọng nhất đó là: hôn nhân, khả năng sinh đẻ; tránh thai và nạo thai [80]
Bên cạnh đó còn có hướng nghiên cứu sự quá độ từ cấp độ sinh đẻ tự nhiên cao, sang các cấp độ sinh đẻ thấp, có kiểm soát Ronald Freedman
Trang 2717
(1979, 1982) đã tiến hành xem xét sự tích hợp của hàng loạt lý thuyết vốn đã được sử dụng để giải thích sự suy giảm mức sinh ở các nước phát triển [71] Trong khi đó, John Knodel và Etienne Van de Walle phân tích các bài học suy giảm mức sinh ở châu Âu [72]
Khuôn mẫu sinh đẻ hiện đại được bàn luận chủ yếu trong phần tổng quan kinh điển của Kingsley Davis Ông đã tiến hành phần tích về các thể chế khuyến khích mức sinh cao Ngoài ra, còn có nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác về mức sinh được thực hiện ở Trung Quốc và Đông Nam Á [70]
Từ lâu, các nhà dân số học đã nhận thức rõ tầm quan trọng của các biến trung gian và tính tương đối trong lý giải thích việc giảm sinh Nghiên cứu tại Hàn Quốc, cho thấy: Mục tiêu chính sách của chính phủ là giảm mức sinh xuống đến mức thay thế và các giải pháp để đạt được mục tiêu này là cung cấp các dịch vụ KHHGĐ trên diện rộng và khuyến khích mô hình gia đình nhỏ đã không gặp sự phản kháng lớn từ công chúng
Mục tiêu đã đạt được trong một thời gian rất ngắn và Chương trình KHHGĐ được đánh giá là rất thành công Thành công của chương trình làm nhiều nhà quan sát ngạc nhiên bất chấp tác động của mức sinh cao sẵn có trong hệ thống gia đình truyền thống Hàn Quốc, đặc biệt là tư tưởng trọng con trai Quy mô gia đình trung bình, bao gồm cả quy mô gia đình mong muốn và gia đình đã hoàn thiện, giảm nhanh trong khi tư tưởng trọng nam vẫn còn rất mạnh
Theo nghiên cứu của giáo sư Xã hội học Tai-Hwan Kwon, Khoa Xã hội học, Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc) được thực hiện trong năm 1960, đã chỉ ra rằng với hầu hết phụ nữ Hàn Quốc trong độ tuổi sinh đẻ, gia đình lý tưởng hoặc mong muốn là gia đình có khoảng 5 con, bao gồm 3 trai và 2 gái Quy mô lý tưởng này được thu nhỏ dần trong suốt thời kỳ chuyển đổi mức sinh Quy mô hạ xuống còn 4 con vào giữa thập niên 60 và 3 con vào những
Trang 2818
năm đầu của thập niên 70 và 2 con vào giữa thập niên 80 Những thay đổi này chậm hơn quy mô gia đình lý tưởng do Chương trình KHHGĐ đề xướng Năm 1968, chương trình triển khai mô hình 3 con, mô hình 2 con vào năm
1971 và 1-2 con vào đầu thập niên 80
Ngoài ra, mô hình lý tưởng của cuộc vận động thấp hơn rất nhiều so với mô hình mong muốn của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ và quy
mô gia đình lý tưởng ở Hàn Quốc luôn nhỏ hơn tổng tỷ suất sinh ghi nhận được trong cùng năm Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy mô lý tưởng và mức sinh thực tế đã được thu hẹp Những biến đổi này chỉ ra rằng chiến dịch có thể
đã tác động dây chuyền tới mức sinh Chiến dịch đã tạo ra biến đổi trong các giá trị của quy mô gia đình, dẫn đến giảm tỷ lệ sinh Tuy nhiên, rất khó có thể xác định mức độ ảnh hưởng của những thông điệp của chiến dịch đối với những biến động về quy mô gia đình mong muốn [24]
1.2 Xu hướng
Các yếu tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu về số con của các cặp vợ chồng trong gia đình Việc đánh giá về sự thay đổi trong nhận thức về số con trong các gia đình là đặc biệt khó khăn trong một nền kinh tế đang biến đổi nhanh chóng như ở Việt Nam Một lập luận dễ được chấp thuận
là tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng tích cực đến việc chấp nhận quy mô gia đình nhỏ, bởi lẽ tăng trưởng kinh tế thường gắn liền với nâng cao nhu cầu cuộc sống vật chất và tinh thần của cá nhân, tăng trình độ văn hóa và hiểu biết của các cá nhân Bên cạnh đó, các yếu tố văn hóa và trình độ học vấn được nâng cao cũng có tác dụng thúc đẩy giảm nhu cầu về số con của trong các gia đình Tuy nhiên có không ít nghiên cứu chỉ ra rằng trong giai đoạn đầu của sự tăng trưởng kinh tế, sự phát triển chưa ổn định của thời kỳ này cũng như khả năng mang lại thu nhập cao hơn cho kinh tế gia đình có thể sẽ tạo ra hệ quả ngược lại, thúc đẩy yêu cầu có quy mô gia đình đông con hơn [90]
Trang 2919
Các nghiên cứu gần đây về dân số cho thấy Việt Nam đang quá độ giảm mức sinh nhanh chóng Nếu tỷ suất sinh thô năm 1989 là 30‰, thì đến năm 1996 đã giảm còn 22,8‰ Trong vòng bảy năm kể từ năm 1989 đến năm
1996 tổng tỷ suất sinh đã giảm được 1,1 con, bình quân mỗi năm giảm gần 0,16 con Tuy nhiên, điều đặc biệt đáng quan tâm đối với chương trình dân số nước ta là khu vực nông thôn với địa bàn rộng lớn, nơi chiếm 80% dân số cả nước, có mức sinh cao hơn nhiều so với khu vực thành thị Việc xác định hành vi tái sinh sản là một chỉ báo gián tiếp để đánh giá triển vọng sự biến đổi mức sinh [22] Sự lựa chọn có ý thức của các cặp vợ chồng về sinh đẻ là một trong những tiền đề của giảm mức sinh trong số phụ nữ có chồng Easterlin (1975) nhấn mạnh ba phạm trù rộng lớn, mà thông qua chúng "những yếu tố quyết định cơ bản" (những yếu tố quyết định mức sinh) phát huy tác dụng và đến lượt mình những yếu tố này lại ảnh hưởng đến những yếu tố quyết định
kế cận của mức sinh [22] Ba phạm trù này là nhu cầu có con cái (số những đứa con còn sống mà cha mẹ muốn có, nếu việc điều chỉnh sự sinh đẻ không phải tốn kém); thứ hai là mức cung cấp con cái (số con còn sống mà cha mẹ
có thể có nếu họ không hạn chế sinh đẻ một cách suy tính) và, thứ ba là các chi phí (chủ quan và khách quan) của việc điều chỉnh sự sinh đẻ
Nằm ở giữa các yếu tố quyết định cơ bản đối với mức sinh và hành vi tái sinh sản được thực hiện là “những yếu tố quyết định kế cận” của mức sinh Điều đó có nghĩa là những yếu tố quyết định cơ bản chỉ ảnh hưởng đến mức sinh một cách gián tiếp và ảnh hưởng của chúng phải thông qua các yếu tố quyết định kế cận Những yếu tố quyết định kế cận bao gồm những nhân tố như mức độ được phép giao hợp, khả năng thụ thai, thời gian không thụ thai sau khi sinh (đặc biệt liên quan đến thời gian cho con bú), tình trạng vô sinh
và việc sử dụng biện pháp kiểm soát sinh đẻ một cách cố ý bao gồm tránh thai
và phá thai [80]
Trang 3020
Việc xác định nhu cầu sinh đẻ là một chỉ báo gián tiếp để đánh giá triển vọng sự biến đổi mức sinh [24],[75] Theo Coale (1973), sự lựa chọn có ý thức của các cặp vợ chồng về sinh đẻ là một trong những tiền đề giảm mức sinh trong số phụ nữ có chồng Các tác giả Tương Lai (1992), Knodel và đồng tác giả (1987) cũng cho rằng nhận thức của các cặp vợ chồng nhằm giảm mức sinh là yếu tố có tính quyết định đến sự thành công của chương trình kế hoạch hóa gia đình Công trình nghiên cứu này cũng gợi ý rằng nguyện vọng về số con có thể là nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định sinh đẻ của các cặp vợ chồng [35], [71] Thiếu điều đó, sự nâng cao thuần túy khả năng tiếp cận các phương tiện tránh thai là không đủ để giảm mức sinh
Phân tích về thái độ đối với việc sử dụng tránh thai theo các chiều cạnh khác nhau của văn hóa, bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu theo độ dài thời gian trong công trình nghiên cứu về hai cộng đồng ở Venezuela và Kenya, Khalifa (1988) đã chỉ ra có mối quan hệ giữa các biến số về đặc điểm nhân khẩu, xã hội, nghề nghiệp Nhân tố quan trọng mà tác giả phát hiện có ảnh hưởng tới thái độ của người dân tới việc sử dụng các biện pháp tránh thai
là trình độ văn hóa, thu nhập và sự bình đẳng vợ chồng trong gia đình [80]
Phân tích về sự phổ biến của việc sử dụng các biện pháp tránh thai đối với các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ Mauldin và Segal (1988) nhận định rằng có mối quan hệ mật thiết giữa mức độ sử dụng tránh thai và mức sinh [66]
1.3 Các yếu tố tác động đến thái độ và hành vi sinh đẻ
Phần lớn các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho đến nay đều chỉ ra rằng số con mong muốn trong các gia đình đã giảm đi trong những năm gần đây [3],[31],[39].Cùng với sự biến đổi của đời sống kinh tế xã hội, vai trò và địa vị người phụ nữ đã được nâng cao trong các quyết định công việc gia đình [30] Tuy nhiên, còn rất ít nghiên cứu đi sâu vào phân tích tác động của các
Trang 3121
nhân tố kinh tế - xã hội đang biến đổi nhanh chóng đến nhận thức, thái độ và hành vi của các gia đình về số con Nhận thức đúng đắn vai trò của các yếu tố trong việc làm thay đổi thái độ, nhu cầu sinh đẻ của cư dân có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định chính sách dân số
Một điều dễ nhận thấy là, sự thay đổi nhận thức của các gia đình nông thôn Việt Nam về số con do tác động của những cải cách trong kinh tế nông nghiệp thời gian sau Đổi mới (1986) gần đây là một chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong một nghiên cứu về nông thôn, kết quả nghiên cứu cho rằng sự phát triển kinh tế hộ gia đình trong nông nghiệp
có thể khuyến khích quy mô gia đình đông con, bởi vì sự phát triển đó dựa trên sức lao động sống của các thành viên trong gia đình Tuy nhiên, có thể lập luận một cách khác rằng mặc dù sự tham gia lao động của con cái là yếu
tố quan trọng đối với việc phát triển kinh tế gia đình, trong điều kiện tỷ suất đất trên đầu người ở nông thôn ngày càng hạn chế như những năm gần đây thì khó có thể khẳng định các gia đình sẽ chọn giải pháp đẻ nhiều con để phát triển kinh tế [62] Bên cạnh đó, quyền chủ động của gia đình trong sản xuất kinh doanh do khoán hộ đưa lại chắc chắn sẽ tạo điều kiện cho các gia đình nông thôn ý thức rõ hơn về nhu cầu lao động của họ, về sự giới hạn của đất đai canh tác, về sự cần thiết có phân công lao động chặt chẽ trong gia đình
Một yếu tố khác có tác động rất lớn đến nhu cầu lao động trong gia đình đó là Chính sách khoán hộ của nhà nước sau Đổi mới Khoán hộ đã có tác động thúc đẩy xu hướng mở rộng hợp tác lao động và liên kết vốn giữa các hộ trong phát triển sản xuất kinh doanh Cơ chế mới này từ khoán hộ có thể gợi ra định hướng giải quyết vấn đề nhân lực không phải nhất thiết bằng cách đẻ thêm con, mà bằng hợp tác lao động [39] Một nghiên cứu khác lại cho rằng: “Trong điều kiện hiện nay, yếu tố kinh tế chưa đủ sức tạo ra những chuyển đổi căn bản trong ý thức, nhưng đã mở ra những tiền đề cho quá trình
Trang 32Cũng phải thấy rằng, sự cải thiện đáng kể mức sống vật chất ở nông thôn trong những năm gần đây là một kết quả tích cực của chính sách đổi mới kinh tế do Đảng và nhà nước ta đề ra Các yếu tố này có tác động hai mặt đến mong muốn của các gia đình về số con Thứ nhất, mức sống tăng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho một số cặp vợ chồng thực hiện nhu cầu muốn có thêm con [6] Nói cách khác, có thể dự đoán là nhu cầu có đông con sẽ xuất hiện ở nhóm gia đình khá giả ở cả nông thôn và đô thị, nhất là những cặp vợ chồng
tự làm ăn kinh doanh ngoài nhà nước Thứ hai, mức sống tăng lên và sự chênh lệch đang dãn ra ngày càng lớn về mức sống giữa các gia đình tạo ra nhu cầu mới về văn hóa và vật chất cho các gia đình Tác động này đòi hỏi mỗi gia đình cần tính kỹ số con cần thiết, để có điều kiện kinh tế nhằm nâng cao hơn nữa mức sống của gia đình mình và hòa nhập với điều kiện sống nói chung cũng đang tăng lên của cộng đồng xung quanh Như vậy, có thể giả định ngược lại rằng các nhóm kinh tế khá giả hơn sẽ mong muốn một số con
ít hơn so với các gia đình khác nhằm tập trung cho chất lượng nuôi dưỡng và đầu tư học tập cho con cái
Hành vi tái sinh sản của các cặp vợ chồng chịu ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố phát triển kinh tế - xã hội Đánh giá về thái độ và hành vi tái sinh sản của các cặp vợ chồng, đặc biệt của người phụ nữ trong tương quan với sự biến đổi của nền kinh tế đang có sự biến đổi nhanh chóng như ở Việt Nam là công việc khó khăn Một lập luận dễ được tán đồng là tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng tích cực tới việc chấp nhận quy mô gia đình nhỏ, bởi lẽ nó làm
Trang 3323
tăng trình độ văn hóa và nâng cao trình độ nhận thức Đến lượt mình các yếu
tố này lại có tác động thúc đẩy việc giảm nhu cầu về sinh đẻ Tuy nhiên có không ít nghiên cứu lại chỉ ra rằng trong giai đoạn đầu của sự tăng trưởng kinh tế, sự phát triển chưa ổn định của thời kỳ này cũng như khả năng mang lại thu nhập cao hơn cho kinh tế gia đình có thể sẽ tạo ra hệ quả ngược lại, thúc đẩy yêu cầu có quy mô gia đình đông hơn [52]
Trong nghiên cứu dân số, mối quan hệ giữa sinh đẻ và địa vị kinh tế -
xã hội là một trong những quan tâm lớn Các kết quả rút ra được từ nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối liên hệ nghịch, trong đó các cặp vợ chồng hay gia đình có điều kiện kinh tế và vị thế xã hội cao hơn thường sinh đẻ ít hơn Bên cạnh đó, trình độ học vấn cao cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần hạn chế nhu cầu có con ở nhiều cặp vợ chồng Tuy nhiên, trong điều kiện xã hội nông nghiệp truyền thống, thì sinh nhiều con lại là một thuận lợi cho phát triển kinh tế gia đình [2]
Giáo dục thường được xem là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới thái độ về số con [70] Mối quan hệ thường được thừa nhận là trình
độ văn hóa của cặp vợ chồng tăng lên thì nhu cầu số con giảm xuống [40] Tuy nhiên vai trò tích cực của yếu tố giáo dục đến nguyện vọng về số con của các cặp vợ chồng không phải luôn luôn được khẳng định trong những nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam Theo phân tích của số liệu “Điều tra biến đổi gia đình và mức sinh” (FFS, 1990) thì yếu tố giáo dục không ảnh hưởng đáng
kể tới nhu cầu có thêm con của các cặp vợ chồng [3] Phải chăng kết quả này phản ánh một nét đặc thù cho nông thôn Việt Nam giữa trình độ giáo dục và nhu cầu về con hay sự tác động tích cực của chương trình thông tin, giáo dục, truyền thông hiện nay đã làm cho nhận thức của các cặp vợ chồng về số con không còn phụ thuộc trực tiếp vào trình độ học vấn của họ như thời kỳ đầu của chương trình kế hoạch hóa gia đình?
Trang 3424
Thái độ thiên vị giới tính có ảnh hưởng tới quyết định sinh thêm con của các cặp vợ chồng ở nông thôn, đặc biệt là người phụ nữ [47],[79],[32] Tác giả Li-Jiali (1995) trong một nghiên cứu ở Trung Quốc cũng cho biết sự mong muốn con trai thậm chí có ảnh hưởng lớn hơn đến quyết định sinh đứa con thứ hai hay thứ ba so với ảnh hưởng của trình độ văn hóa, mức đô thị hóa hay chính sách dân số của nhà nước [80] Đối với các xã hội truyền thống như Việt Nam thì tâm lý muốn có con trai để nối dõi tông đường và tâm lý muốn
"có nếp, có tẻ" thường được nhìn nhận là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức sinh thực tế và số con mong muốn Điều đó có thể làm cho các cặp vợ chồng tuy đã có đủ số con mong muốn, nhưng mới chỉ có con một bề, nhất là chỉ mới có con gái vẫn tiếp tục muốn đẻ thêm con Mối quan hệ chặt chẽ giữa tâm lý muốn có thêm con trai và số con mong muốn của phụ nữ đã được kiểm chứng trong nhiều mô hình phân tích đa biến tuy với dung lượng mẫu còn tương đối hạn chế [3]
Nghiên cứu về tính nhất quán giữa thái độ và hành vi sử dụng các biện pháp tránh thai là chủ đề lý thú gây nhiều sự chú ý cho các nhà nghiên cứu Cũng đã có một số công trình nghiên cứu quan tâm đến các khía cạnh của hành vi sử dụng biện pháp tránh thai Nghiên cứu về thái độ đối với việc sử dụng biện pháp tránh thai bằng tính vòng kinh ở Philipines bằng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua các cuộc thảo luận nhóm với các phụ nữ và nam giới đã có gia đình độ tuổi từ 21- 40 và phụ nữ độ tuổi 25 - 35 cho thấy
có nhiều yếu tố tác động đến thái độ của người phụ nữ trong việc sử dụng biện pháp tránh thai này Phát hiện trong nghiên cứu này cho thấy yếu tố tôn giáo không có ảnh hưởng quan trọng tới thái độ của người phụ nữ trong việc
sử dụng biện pháp tránh thai, mặc dù ở nước này chính phủ và các tổ chức tôn giáo có những cố gắng nhất định trong việc can thiệp vào tình hình nạo thai của người phụ nữ [87]
Trang 3525
Bên cạnh đó, có một thực tế là có nhiều phụ nữ lại không muốn nạo thai khi thất bại trong việc áp dụng các biện pháp tránh thai với nhiều lý do khác nhau như: chồng họ phản đối, sợ rủi ro, bản thân họ cảm thấy có lỗi khi nạo thai và muốn có thêm con Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt trong các nhóm tuổi, số con còn sống của người phụ nữ trong việc sử dụng biện pháp tránh thai
Nghiên cứu khác về địa vị phụ nữ thông qua các hoạt động tăng thu nhập và kế hoạch hóa gia đình cũng cho thấy những kết quả tương tự rằng khi người phụ nữ xác lập được quyền bình đẳng trong gia đình thì họ cũng có những vai trò nhất định trong việc xác lập các quyền quyết định trong sinh đẻ [48]
Những năm đầu của thập kỷ 90, ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu về dân
số đã góp phần chứng minh tính bức xúc của vấn đề dân số Nghiên cứu được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng cùng chung mục tiêu giảm quy
mô gia đình, tăng tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai, thực hiện giảm sinh
Một trong những cuộc điều tra đầu tiên có quy mô lớn, liên quan đến dân số là “Điều tra Dân số và Sức khoẻ” (VNDHS, 1988) Kết quả điều tra
đã góp phần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và hoạch định chính sách dân số Sau đó, các cuộc Tổng điều tra dân số được tiến hành theo định kỳ 10 năm Số liệu của tổng điều tra dân số mang tính chuyên biệt hơn so với điều tra Dân số và Sức khỏe Giữa hai cuộc tổng điều tra dân số, điều tra nhân khẩu học giữa kỳ được thực hiện vào năm 1994 (VNICDS, 1994), thu thập những thông tin tương tự như tổng điều tra
Một trong những phương pháp được áp dụng để phân tích mức sinh hiện nay ở nước ta là so sánh mức sinh các vùng địa lý Chẳng hạn, khi phân tích kết quả điều tra mẫu trong Tổng điều tra Dân số năm 2009 đã thu được kết quả TFR thấp nhất ở khu vực Đông nam Bộ với 1,69 con và đồng bằng
Trang 36Trình độ văn hóa của từng người khác nhau sẽ làm cho mức sinh khác nhau Trình độ văn hóa của người vợ và người chồng có ảnh hưởng đến số con mà họ sinh ra Trình độ văn hóa, đặc biệt là của phụ nữ, là một chỉ tiêu của mức độ hiện đại hóa và địa vị xã hội của phụ nữ Trong các nước có mức sinh thấp, trình độ văn hóa của người phụ nữ và mức sinh có mối liên hệ ngược, theo nghĩa trình độ văn hóa cao hơn đi liền với quy mô gia đình nhỏ hơn Những nghiên cứu gần đây cho thấy sau khi đã đạt được trình độ văn hóa
đủ cao ở một mức độ nào đó, chênh lệch về số con sẽ hẹp dần [12]
Phát triển dân số và đặc biệt là sự biến động của mức sinh chịu tác động qua lại của nhiều yếu tố như: phong tục tập quán, tâm lý, xã hội, các yếu tố tự nhiên sinh vật, mức sống dân cư Trong đó mức sống của dân cư giữ vai trò quyết định, là một yếu tố rất quan trọng đến mức sinh [22]
Bình đẳng giới được đánh giá là một chỉ tiêu ưu tiên trong phát triển xã hội hiện nay Nó là một trong mười Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs)
mà các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam cam kết thực hiện Ở Việt Nam, bình đẳng giới được đề ra ngay từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa được thiết lập, khi Hiến pháp nước ta được ban hành lần đầu tiên vào năm 1946 Xuất phát điểm từ một xã hội nông nghiệp mang bản chất văn hóa Á Đông truyền thống, dưới ảnh hưởng mạnh của Nho giáo (tính gia trưởng và phụ quyền), người phụ nữ trước kia luôn có địa vị thấp kém hơn người đàn ông
Trang 3727
trong gia đình lẫn ngoài xã hội [23],[5],[74] Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây đã kết luận Đổi mới đã có những tác động mạnh mẽ đến vị thế của người phụ nữ Việc sinh ít con đã trở lên phổ biến trong các gia đình Việt Nam ở cả nông thôn và thành thị Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 3 ở Đông Nam Á về quy mô dân số với 85,7 triệu người tính từ thời điểm Tổng điều tra Dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009 Cơ cấu dân
số theo giới tính đã cân bằng, song tình trạng mất cân bằng cơ cấu giới tính trẻ em khi sinh lại gia tăng [41]
Tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam thấp trong những năm 1970 (94,7 nam/100 nữ) và năm 1979 (94,2 nam/100 nữ), một phần do bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, nhiều nam giới ra trận và hy sinh Những năm sau này tỷ số giới tính của dân số Việt Nam bắt đầu tăng dần và liên tục tăng, ít nhất trong 10 năm qua từ TĐTDS năm 1999 (96,4 nam/100 nữ) đến TĐTDS 2009 (98,1 nam/100 nữ) [9] Vấn đề mất cân bằng giới tính trong dân số Việt Nam hiện nay là chủ đề đang thu hút sự quan tâm của những nhà nghiên cứu về dân số
và những nhà lập chính sách phát triển Một nguy cơ đối với cơ cấu dân số theo giới tính của Việt nam trong tương lai chính là sự mất cần đối về cơ cấu giới tính của trẻ sơ sinh hiện mang những dấu hiệu rất nghiêm trọng Một cách tự nhiên, không phân biệt chủng tộc, nguồn gen, xác suất sinh con gái luôn ở khoảng 0,488 so với xác suất sinh con trai là 0,512 Quy luật này giúp tạo ra tỷ số giới tính của trẻ em khi sinh ở mọi nhóm dân số luôn nằm trong khoảng 102-106 Theo quy luật tự nhiên, các bé trai và bé gái được sinh ra theo tỷ số 102-106 bé trai trên 100 bé gái Tỷ số này sẽ đảm bảo cho một cơ cấu giới tính cân bằng ở dân số trưởng thành Tuy nhiên, trong mấy thập kỷ gần đây, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã xảy ra ở một số nước châu Á Hiện tượng này xảy ra khá muộn ở Việt Nam so với hầu hết các nước khác nhưng từ khi xuất hiện, nó lại diễn biến khá nhanh chóng Tỷ số giới
Trang 38hệ lụy như: tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, buôn bán phụ nữ và trẻ em gái, bạo lực đối với phụ nữ và bất ổn xã hội do những vấn đề liên quan đến tình dục của nam giới
Mất cân bằng giới tính khi sinh là biểu hiện của bất bình đẳng giới, phản ánh sự phân biệt đối xử đối với các bé gái ngay cả khi chưa chào đời Sự mất cân bằng cơ cấu giới tính ở trẻ sơ sinh thuộc loại mất cân bằng vật chất - nền tảng của sự tồn tại và phát triển bền vững của xã hội, tất yếu sẽ dẫn tới nhiều hậu quả Các hậu quả đó chẳng hạn như: khó khăn trong việc kết hôn; nguy cơ lan rộng các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục; gia tăng tội phạm
xã hội…Phân tích tỷ số giới tính của các nhóm tuổi trong dân số Việt Nam tại Tổng điều tra Dân số năm 1999 và TĐTDS 2009 cho thấy, tỷ số giới tính của các nhóm 0 - 4 tuổi; 5 - 9 và 10 - 14 tuổi tăng cao từ TĐTDS 1999 và tiếp tục tăng trong TĐTDS 2009 Điều này cho thấy rất có thể lựa chọn giới tính của trẻ khi sinh con đã xuất hiện ngay từ những năm 90, khi bắt đầu có Chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình nhằm hạn chế quy mô gia đình chỉ với 1 hoặc 2 con [41]
Khi trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, những ảnh hưởng của Nho giáo còn nặng nề và khoa học kỹ thuật tiến bộ cho phép con người chủ
Trang 3929
động trong sinh sản kể cả lựa chọn giới tính cho thai nhi, thì việc đảm bảo cân bằng giới tính theo quy luật sinh sản tự nhiên là cần thiết nhưng cũng vô cùng nan giải [9]
2 Nghiên cứu liên quan đến hành vi dân số và kế hoạch hóa gia đình được tiến hành tại Hà Nội
mẽ, đặc biệt là từ năm 1986 khi chính sách Đổi mới được tiến hành Đề tài:
“Nghiên cứu các biện pháp và chính sách dân số trong quá trình đô thị hóa”
đã phân tích và đánh giá thực trạng các chính sách trong quá trình đô thị hóa, cũng như tác động của các chính sách đó đến phát triển dân số của Hà Nội, đồng thời khuyến nghị các chính sách về dân số phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với quá trình đô thị hóa của thủ đô [46]
Việt Nam, cũng như nhiều nước khác trên thế giới coi việc không ngừng nâng cao chất lượng con người, chất lượng giống nòi và chất lượng cuộc sống là mục tiêu cơ bản của chiến lược dân số và phát triển nguồn nhân lực Đề tài: “Nghiên cứu các mối quan hệ giữa chất lượng dân số với quy mô
hộ gia đình, đề xuất các kiến nghị và giải pháp” đã đánh giá thực trạng về quy
mô và chất lượng dân số hộ gia đình trên các khía cạnh về nhân khẩu học, kinh tế, xã hội trong đó có vấn đề tiếp cận các vấn đề kinh tế, đời sống, các dịch vụ xã hội và phát triển cộng đồng [26]
Trang 40và coi đó như một nhân tố ảnh hưởng đến mức sinh Nhiều kết quả nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, người phụ nữ có khả năng không sử dụng biện pháp tránh thai và sinh thêm con cao hơn khi họ có con bị chết Và điều này, lại ảnh hưởng đến mức sinh chung của phụ nữ Hiện tượng này được các nhà nghiên cứu gọi là “tâm lý đẻ bù trừ” [65]
Những nguyên nhân dẫn đến việc sinh con thứ ba cũng là chủ đề được quan tâm nghiên cứu Dựa trên kết quả khảo sát thực tế, nhóm nghiên cứu của
Uỷ ban Dân số - KHHGĐ Hà Nội đã phân tích về lý thuyết mức sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh của thành phố Hà Nội trong đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng trong trường hợp sinh con thứ ba trở lên ở các làng
xã ngoại thành Hà Nội, tìm giải pháp thích hợp”, đã đưa ra nhiều ý kiến bổ ích cả về lý luận và thực tiễn Các nhà nghiên cứu cho rằng cần có những giải pháp đồng bộ để xây dựng gia đình văn hoá mới tương ứng với gia đình ít con Nghiên cứu cũng kết luận việc giảm tổng tỷ suất sinh, tiến tới đạt mức sinh thay thế và giảm tỷ lệ sinh con thứ ba là có liên quan mật thiết với nhau
2.2 Xu hướng
Kể từ hơn 10 năm trở lại đây, những nghiên cứu về dân số nói chung trong đó có Hà Nội đã tập trung nghiên cứu: “Ảnh hưởng của mức sống đến mức sinh” Kết quả của nghiên cứu cho thấy trình độ văn hóa của người phụ
nữ nội thành có liên quan đến mức sinh, trình độ văn hóa càng cao thì số con càng ít [13] Nghiên cứu về mối quan hệ giữa di cư và sức khỏe do Quỹ Dân
số Liên hợp quốc (UNFPA) tài trợ cũng là một hướng nghiên cứu được triển