1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lịch sử căn cứ kháng chiến nâm nung

110 649 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 3,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử căn cứ kháng chiến

Trang 1

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK NÔNG

LỊCH SỬ CĂN CỨ KHÁNG CHIẾN NÂM NUNG (1959-1975)

Gia Nghĩa, tháng năm 2013

Trang 2

Lời nói đầu

Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông ta từ bao đời nay luôn có

sự sáng tạo, mưu lược, trong đó, việc lợi dụng địa thế núi sông hiểm trở - thiên thời, địalợi, nhân hòa là đúc kết kinh nghiệm truyền thống trong lịch sử Việt Nam từ bao đờinay

Đảng ta đã vận dụng tài tình phương châm ấy để xây dựng những căn cứ địa cáchmạng, làm cơ sở cốt yếu đánh giặc, giải phóng đất nước, trong đó Nâm Nung là mộttrong những căn cứ địa quan trọng Nâm Nung là vùng rừng núi hiểm trở, nơi có thể đặtchính quyền cách mạng để lãnh đạo quân dân Tây Nguyên nói chung và nhân dân tỉnhQuảng Đức nói riêng kháng chiến chống Mỹ cứu nước Trong những năm 1959-1975,căn cứ kháng chiến Nâm Nung là nơi đứng chân của các cơ quan, ban ngành, lực lượngcách mạng sống, chiến đấu và giành thắng lợi vẻ vang, góp phần đi đến thống nhất đấtnước Đồng thời, đây cũng là địa bàn nằm ở cực Nam Tây Nguyên, là bản lề thuận lợicho việc móc nối với các tỉnh thuộc quân khu V, quân khu VI, với miền Đông Nam Bộ

và biên giới Campuchia, là đoạn cuối của đường mòn Hồ Chí Minh, là hành lang chiếnlược quan trọng trong việc vận chuyển sức người, sức của từ miền Bắc vào miền Nam,phục vụ đắc lực cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, quyết định thắng lợi cuối cùng củacách mạng, thống nhất đất nước

Bên cạnh đó, căn cứ cách mạng tại Nâm Nung lúc bấy giờ nằm trong lòng dân,xung quanh là các bon dân tộc người M’Nông như bon R’Cập, bon Đắk Rồ,… Cán bộ,chiến sĩ ta ở đây đã hết sức coi trọng tuyên truyền, vận động, giác ngộ đồng bào thamgia cách mạng, kêu gọi, thôi thúc tình đoàn kết, lòng yêu nước thương nòi vốn cótruyền thống từ bao đời của các dân tộc Tây Nguyên Đồng bào các dân tộc bản địa nơiđây đã từng bước tin và ủng hộ cách mạng, sẵn sàng chiến đấu chống phá ấp chiếnlược, đánh biệt kích càn quét vào khu căn cứ, ra sức lao động sản xuất cung cấp nhuyếu phẩm cho bộ đội, cho tiền tuyến, hết lòng bảo vệ, che chở cho chiến sỹ cách mạngkhi gặp hiểm nguy, Giờ đây, chiến tranh đã lùi xa, căn cứ kháng chiến Nâm Nung vớinhững năm tháng hào hùng, dấu tích không còn nguyen vẹn nhưng ý nghĩa lịch sử, giátrị về quân sự, chính trị, văn hóa, khoa học vẫn vô cùng to lớn Với những giá trị to lớn,

Di tích lịch sử căn cứ kháng chiến Nâm Nung (B4 liên tỉnh IV) đã được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia tại Quyết định số 10/2005-QĐ-BVHTT, ngày 17/3/2005

-Để ghi lại lịch sử hào hùng của dân tộc, khẳng định truyền thống đấu tranh kiêncường, bất khuất của cha anh, góp phần vào sự nghiệp giáo dục, đặc biệt là thế hệ trẻtiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, yêu độc lập tự do Đồng thời, để thể hiện đạo lýuống nước nhớ nguồn tốt đẹp của dân tộc ta, nhằm khơi dậy truyền thống lịch sử đấutranh giữ nước, tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa các dân tộc, góp phần vào sự nghiệpbảo vệ và xây dựng quê hương đất nước Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Nông đã quantâm, chỉ đạo việc biên soạn ấn phẩm Lịch sử căn cứ kháng chiến Nâm Nung (1959-1975) Đến nay bản thảo ấn phẩm đã hoàn chỉnh, nội dung gồm 3 phần và kết luận:

PHẦN I: Vùng đất – con người và truyền thống;

PHẦN II: Tỉnh Quảng Đức được thành lập, đảm nhận nhiệm vụ xây dựng Căn cứ

và Hành lang chiến lược địa bàn Nam Tây Nguyên xuống chiến trường Đông Nam Bộ (1959 – 1960);

Trang 3

PHẦN III: Cuộc đấu tranh chống Mỹ và bảo vệ hành lang chiến lược Bắc - Nam trên địa bàn Căn cứ kháng chiến Nâm Nung (1961-1975);

KẾT LUẬN.

Trong quá trình biên soạn cuốn sách này, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ tậntình của Viện Lịch sử Đảng, Viện Dân tộc học, Viện Sử học thuộc Viện Khoa học xãhội Việt Nam ngày nay, các khoa nghiên cứu lịch sử của các trường Đại học tại Hà Nội

và thành phố Hồ Chí Minh đã có những đóng góp tích cực, làm phong phú thêm nộidung, chất lượng của cuốn sách Đặc biệt là nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báucủa các đồng chí cán bộ, lão thành cách mạng từng sống và chiến đấu trên căn cứ cáchmạng

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về mặt tiếp cận tư liệu, cuốn sách rađời sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Mong bạn đọc góp ý, phê bình và bổ sung đểchúng tôi có thêm cơ sở để chỉnh sửa, hoàn chỉnh ở lần tái bản sau

BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ ĐẮK NÔNG

Trang 4

PHẦN I Vùng đất – con người và truyền thống

I Lịch sử hình thành Căn cứ kháng chiến Nâm Nung.

Nâm Nung là tên của dãy núi phát nguyên từ tên gọi của dân tộc M’Nông bảnđịa Theo ngôn ngữ của dân tộc M’Nông nhóm Preh thì chữ “Nâm” có nghĩa là núi; chữ

“Nung” là cái tù và, cái sừng trâu, “Nâm Nung” có nghĩa là núi sừng trâu hay núi tù và.Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, thủ lĩnh N'Trang Lơng - vị anh hùng dân tộcM’Nông lấy Nâm Nung làm địa bàn chống Pháp Trong công cuộc đấu tranh chống Mỹcứu nước, Đảng ta lấy địa bàn Nâm Nung làm chỗ dựa cho lực lượng cách mạng, nơiđóng quân của các cơ quan ban ngành (Ban hành lang, Huyện uỷ, Tỉnh đội, Tỉnh uỷ,Liên tỉnh,…v.v) Hiện nay toàn bộ địa điểm mà các cơ quan ban ngành đóng trước đâynằm trong địa bàn rộng lớn thuộc khu vực núi Nâm Nung, nhiều điểm di tích có ý nghĩalịch sử quan trọng do vậy được gọi là di tích lịch sử cách mạng Căn cứ kháng chiến B4

- Liên tỉnh IV hay Căn cứ kháng chiến Nâm Nung

Đầu năm 1947, Ban cán sự Đảng tỉnh Đăk Lăk được củng cố, đồng chí NguyễnKhắc Tính làm Bí thư Tỉnh Đăk Lăk (trong đó có Đăk Nông) có sự chỉ đạo thống nhất,toàn diện Tháng 7-1947, Phòng Quốc dân thiểu số giải thể, thành lập Uỷ ban khángchiến hành chính tỉnh do Ama Khê làm Chủ tịch Đảng bộ, chính quyền cách mạng tỉnhđược khôi phục Từ 1947 lãnh đạo tỉnh Đăk Lăk quyết định đưa lực lượng trở lại bámđất, bám dân, lãnh đạo kháng chiến, các cơ quan lãnh đạo ở các huyện thuộc địa bàntỉnh Đăk Nông (ngày nay) lần lượt được tái lập Từ đây, các cán bộ cách mạng mở rộnghoạt động, gây cơ sở chính trị, bám dân từng bước vận động nhân dân phát động chiếntranh du kích

Đến năm 1950, tỉnh Đắk Lắk mới phân công đội công tác vũ trang tuyên truyền

do đồng chí Y BLốc Êban làm đội trưởng, đồng chí Trương Quốc Lợi làm chính trịviên đến địa bàn vùng Nâm Nung thuộc huyện Đắk Mil đứng chân hoạt động Đến địabàn này chưa được bao lâu thì bị lộ, đội Công tác phải rút về hậu cứ để củng cố

Đầu 1951, tỉnh Đắk Lắk phân công đội Công tác tiếp tục trở lại chiến trườnghuyện Đắk Mil hoạt động do đồng chí Trần Phòng (Bảy Biên) phụ trách bám trụ lại địabàn Nâm Nung công tác Các đồng chí kiên trì tuyên truyền, giáo dục nhân dân giácngộ cách mạng Từ 1951 - 1954, Ban Cán sự đội Công tác huyện Đắk Mil đã phát triểnđược 5 chi bộ có 28 đảng viên và một số tổ chức quần chúng Đến ngày 21-7-1954,Hiệp định Giơnevơ về lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết, đội Công tác rút vềđịa điểm tập kết Bình Định

Sau hiệp định Giơnevơ (năm 1954), theo yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạngmiền Nam, tỉnh Đắk Lắk xác định vùng Nâm Nung của huyện Đắk Mil là địa bàn rấtquan trọng đối với vùng Tây Nam của tỉnh Đắk Lắk Đây là địa bàn chiến lược tiếp giápvới các tỉnh miền Đông Nam Bộ và có đường biên giới giáp với nước bạn Campuchiatrên 100km Nâm Nung là vùng rừng núi hiểm trở ở cách xa các căn cứ của địch Hơnnữa, vùng Nâm Nung đã có các tổ chức cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng đượcxây dựng từ 1951 - 1954 Đây là điều kiện thuận lợi để lấy địa bàn Nâm Nung xây dựngcăn cứ kháng chiến lâu dài của huyện Đắk Mil

Năm 1955, tỉnh Đắk Lắk thành lập Ban Cán sự huyện Đắk Mil do đồng chí TrầnPhòng (Bảy Biên) làm Bí thư, tổ chức hai bộ phận trở lại chiến trường huyện Đức Lập

Trang 5

hoạt động; lấy địa bàn Nâm Nung làm hậu cứ kháng chiến Một bộ phận đi theo hệ bấthợp pháp do đồng chí Trần Phòng (Bảy Biên) phụ trách đến địa bàn Nâm Nung đứngchân hoạt động, Một bộ phận đi theo hệ hợp pháp do đồng chí Năm Tuỳ phụ trách đếnđịa bàn thị xã Buôn Ma Thuột hoạt động chủ yếu là hướng vùng Nâm Nung và theotrục đường 14.

Từ năm 1955 đến 1959, Ban Cán sự huyện Đắk Mil đã phát triển, củng cố các tổchức cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng nhất là tập trung xây dựng các buôn ở vùngcăn cứ Nâm Nung như: buôn Yia Ra, buôn Rkập, buôn Đăk Rí, Byok ling (Bg)

Ngày 23/01/1959, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh thành lập tỉnh QuảngĐức Tháng 12/1960, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng bộ tỉnh Quảng Đức(gọi là B4) trên cơ sở địa giới hành chính do chính quyền Ngô Đình Diệm thiết lập (baogồm các huyện Đức Lập, Kiến Đức, Khiêm Đức, Đức Xuyên) Đồng chí Vũ Anh Ba(Hồng Ưng) - Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk qua làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đức Tỉnh ủyQuảng Đức xác định nhiệm vụ trọng tâm lúc này là: Ngoài nhiệm vụ chỉ đạo phong tràochung, tỉnh tập trung xây dựng vùng Nâm Nung thuộc huyện Đức Lập trở thành căn cứkháng chiến lâu dài của tỉnh Quảng Đức

Từ khi thành lập tỉnh Quảng Đức đến khi đất nước hoàn toàn thống nhất, tỉnhQuảng Đức tuy có những thời gian giải thể, tách nhập nhưng vẫn quyết tâm xây dựngvững chắc vùng căn cứ kháng chiến Nâm Nung và bảo đảm các tuyến hành lang thôngsuốt, an toàn

Tại Nâm Nung, đầu năm 1961 ta đã nhanh chóng thành lập đội du kích gồm 06 độiviên, kết hợp cùng với lực lượng tỉnh, bảo vệ đường hành lang chiến lược và căn cứTỉnh uỷ, Tỉnh đội, Liên tỉnh IV, Ban hành lang, Hậu cần, Quân y, Xưởng quân giới.Đến cuối năm 1961 Khu X được thành lập, tỉnh Quảng Đức (B4) trực thuộc Khu X.Cũng trong thời gian này, các cơ quan ban ngành được thành lập, trong đó Văn phòngCung, Trạm,.v.v… đều đóng tại khu vực suối Đắk Đrouk thuộc địa bàn căn cứ khángchiến Nâm Nung (phía Bắc núi Nâm Nung)

Đầu năm 1962 tỉnh Quảng Đức (B4) giải thể, tháng 06 năm 1962 tỉnh Quảng Đứcđược tái lập trở lại với các huyện như cũ Trong thời gian này địch đã tiến hành pháhoại căn cứ cách mạng, tổ chức các cuộc càn vào căn cứ của ta khu vực suối ĐắkĐ’Rouk Để bảo tồn lực lượng Ban cán sự B4 chuyển vào khu vực suối Đắk R’Looungphía Tây Nam xã Nâm Nung

Đến tháng 10/1963, tỉnh Quảng Đức giải thể, căn cứ kháng chiến Nâm Nung thuộchuyện Đức Lập về Đắk Lắk Đầu 1966, do yêu cầu của tình hình chiến trường, tỉnhQuảng Đức được chia làm hai tiền phương A và B, huyện Đức Lập thuộc Tiền phương

A (trong đó có địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung) Do điều kiện, tình hình mới củachiến trường, đầu năm 1967, Tiền phương A và B sáp nhập lại theo các huyện như cũ

Từ tháng 7 - 1967, theo chủ trương mới của Tỉnh ủy, để việc chỉ đạo các địa bàn từ tỉnhxuống các huyện, đội công tác được thuận lợi, nhất là trung tâm Gia Nghĩa (tỉnh lỵQuảng Đức), các cơ quan - đơn vị - lực lượng vũ trang đều phải chuyển nhanh địa bànđứng chân ở vùng căn cứ mới “Nam Nâm Nung” Khu vực này địa hình còn hiểm trởhơn Bắc Nâm Nung: nhiều ngọn núi cao đan xen, nhiều hang động với những tảng đálớn, nhiều khe suối lưng chừng núi chằng chịt Từ Nam Nâm Nung nhìn về hướng Tây -Nam là đường 14 (khoảng cách 12km) nhiều trảng cỏ rộng hàng chục héc ta, dòng suốiĐắk N’Tao chảy dưới chân bao quanh quần thể núi cao Nhằm bảo đảm sự an toàn cho

Trang 6

hai cơ quan lớn: Văn phòng Tỉnh ủy và Tỉnh đội được bố trí nằm sâu bên trong, cạnhmột sình dứa to, rộng dài hàng ngàn mét, lưng dựa vào dốc cao Các cơ quan: An ninh,Kinh tài, Dân y, Dân binh vận đóng xung quanh cách nhau 15 - 30m, địa hình thuận lợicho giao thông liên lạc Riêng ban Hậu cần, ban Quân y thì đóng cơ quan về phíathượng nguồn suối Đắk P’Rí, sau này mới chuyển về Đắk N’Tao Các đơn vị lực lượng

vũ trang như C.1, C.90, C.2, B.28, đội Phẩu tiền phương và bệnh xá tỉnh đều đóng quândọc theo suối Đắk N’Tao (vòng ngoài)

Đến tháng 5/1971, tỉnh Quảng Đức giải thể, căn cứ kháng chiến Nâm Nung thuộchuyện Đức Lập giao về tỉnh Đắk Lắk Đồng thời các cơ quan Tỉnh ủy, Tỉnh đội cùngcác cơ quan khác cũng được sáp nhập với Lâm Đồng Lúc này căn cứ kháng chiến củahuyện Đức Lập vẫn ở địa bàn Bắc Nâm Nung, Ban Hành lang Quảng Đức đóng tại căn

cứ Nam Nâm Nung Từ đây địa bàn căn cứ Nâm Nung vẫn giữ vai trò chiến lược quantrọng, vừa là tiền tuyến vừa là hậu phương của quân và dân Quảng Đức trong cuộc đấutranh chống đế quốc Mỹ, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Mùa Xuân năm 1975,giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

Như vậy, tỉnh Quảng Đức trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước tuy có nhiều lầntách, nhập, có sự thay đổi tên gọi qua từng thời gian nhưng Nâm Nung vẫn là địa bàntrọng yếu được lấy làm vùng căn cứ kháng chiến trong suốt những năm tỉnh Quảng Đứccùng Tây Nguyên nói riêng và miền Nam nói chung đấu tranh chống Mỹ - Diệm, gópphần đưa đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

II Vài nét về địa lý tự nhiên, con người và truyền thống:

1 Địa lý, dân cư:

Hiện nay, di tích lịch sử cách mạng Căn cứ kháng chiến Nâm Nung (còn gọi làcăn cứ kháng chiến B4 - Liên tỉnh IV) gồm hai địa điểm Bắc Nâm Nung và Nam NâmNung thuộc địa bàn huyện Krông Nô và huyện Đắk G’Long

Di tích lịch sử cách mạng Căn cứ kháng chiến Bắc Nâm Nung trải dài trên địa bàn

xã Nâm Nung, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông Phía Bắc giáp với xã Đắk Rồ, phíaĐông Nam giáp với xã Nâm N'Dri và xã Đắk Rồ, phía Tây Bắc giáp với xã Đắk Rồ và

xã Đắk Mol, huyện Đắk Song, phía Nam giáp với xã Nâm N'Dri Còn đối với Di tíchlịch sử cách mạng Căn cứ kháng chiến Nam Nâm Nung nằm ở phía núi Nâm Jer Bri,trực thuộc địa phận khu Bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung và Lâm trường Đắk N’Tao trênđịa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’Long, phía Bắc giáp với xã Đắk Mol và NâmN'Dri, huyện Krông Knô, phía Đông giáp với núi Yok Nor Tou Rdéh, phía Tây giáp với

xã Đắk N’Drung và phía Nam giáp với suối Đắk Rung

Di tích lịch sử cách mạng Căn cứ kháng chiến Nâm Nung là vùng đất cao nguyên

có nhiều đồi núi, rừng rậm (Cao nguyên M’Nông), đỉnh cao nhất là 1.546m, nối liền vớinúi Nâm Lir của Campuchia (tạo thành địa thế hiểm trở, thuận lợi cho việc đóng quân,xây dựng và bảo tồn lực lượng, đi lại và chiến đấu trong vùng căn cứ) Đất đai màu mỡ,chủ yếu là đất đỏ Bazan, được thiên nhiên kiến tạo nhiều ao hồ, đầm lầy, suối rạch,thuận lợi cho việc phát triển cây nông, công nghiệp, như: lúa, ngô, khoai, sắn, cà phê,bông, tiêu, …

Nơi đây chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm Một năm chia làm haimùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (dương lịch), mùa khô từ tháng 11 đếncuối tháng 3 (dương lịch) năm sau Mưa nhiều vào tháng 7, tháng 8, tháng 9, nắng

Trang 7

nhiều vào tháng 01, tháng 02 Nói chung khí hậu nơi đây tương đối mát mẻ, thuận lợicho việc gieo trồng, phơi sấy các sản phẩm nông, công nghiệp và chăn nuôi gia súc.Trong tỉnh, đây là địa bàn có đường 14 xuyên qua, là con đường huyết mạch nốiliền các tỉnh Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ, đây là lợi thế trong việc giao lưu,buôn bán, trao đổi hàng hoá với các miền Tại di tích lịch sử cách mạng Căn cứ khángchiến Nâm Nung có nhiều cảnh đẹp, là điều kiện tốt để xây dựng điểm văn hoá du lịch

và góp phần phát triển kinh tế địa phương

Địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung tập trung nhiều dân tộc anh em sinh sống,trong đó, dân tộc M’Nông là dân tộc bản địa quần tụ lâu đời nhất nơi đây Từ xa xưa,dân tộc M’Nông được phân chia thành các nhóm địa phương (còn gọi là chi hay tênkhác)1 như Pnông, Nông, Preh, Bu đâng, Đi Pri, Gar, Rơ lan, Chil…; mỗi nhóm địaphương vừa mang trong mình bản sắc chung của dân tộc M’Nông, vừa mang một số sắcthái văn hóa riêng của các nhóm địa phương Vùng căn cứ kháng chiến Nâm Nung với

7 bon là đồng bào dân tộc M’Nông Preh và 5 bon (Nam Nâm Nung) là đồng bào dântộc Prơng, Mạ Người M’Nông thường thành lập bon (làng) ở những vùng chân núi,gần sông, suối, đầm hồ, để tiện sử dụng nguồn nước cho sinh hoạt hàng ngày

Người M’Nông sống chủ yếu bằng nông nghiệp, canh tác trên đất rẫy là chính.Theo tập quán lâu đời, việc sử dụng đất rẫy (mir) của đồng bào thường theo chế độ luânkhoảnh khép kín và luân khoảnh mở rộng Thời gian luân khoảnh trên đám rẫy tùythuộc vào độ phì nhiêu của đất đai Mỗi bon của người M’Nông đều có một khu vựccanh tác nhất định Ranh giới đất đai của các bon thường được dựa vào những đặc điểmđịa lý tự nhiên như ngọn suối, mỏm đá, đỉnh đồi… để làm mốc phân giới, do các chủlàng liên giới với nhau quy ước, thường là đã xác định từ xa xưa và lưu truyền từ thế hệnày đến thế hệ khác

Cùng với kinh tế nương rẫy, người M’Nông còn chăn nuôi gia súc, gia cầm; sănbắt và hái lượm Một số nghề thủ công của người M’Nông đã đạt tới trình độ khá tinh tếnhư nghề dệt vải có hoa văn, đan lát đồ dùng gia đình bằng mây tre lá, nghề rèn cũngkhá phổ biến nhằm rèn công cụ, sửa chữa những đồ dùng bằng sắt, rèn vũ khí (lao, xàgạc ) và một số công cụ bằng kim loại

2 Truyền thống văn hóa - lịch sử trước thời thuộc Pháp

Truyền thống văn hoá đồng bào dân tộc trên địa bàn Nâm Nung, đặc biệt là nềnvăn hóa của dân tộc bản địa M’Nông, Ê đê, … hết sức đặc sắc, gắn với hệ thống nghi lễ

- lễ hội, liên quan chặt chẽ đến hệ thống thần linh và tín ngưỡng đa thần Là những cưdân nông nghiệp, nên các lễ nghi đều phục vụ cho đời sống sinh hoạt hằng ngày, gắnvới nông nghiệp hết sức phong phú như lễ trồng nghệ, lễ trừ sâu bệnh, lễ cúng giữa vụlúa, lúc lúa trổ đòng, lễ tuốt lúa, lễ cơm mới… Bên cạnh đó là những nghi lễ trong tang

lễ, cưới hỏi, lễ lập bon mới, … Có thể nói, những nghi lễ, lễ hội trên địa bàn Nâm Nungnói riêng, vùng Tây Nguyên nói chung rất phong phú, đa dạng, nó là chất keo gắn kếtnhững con người của cộng đồng thành một khối vững chắc trong suốt quá trình lịch sửlâu dài của dân tộc

Trong quá trình lịch sử và cuộc sống hằng ngày của người M’Nông, họ đã sángtạo ra được một số loại nhạc cụ độc đáo, tuy còn rất thô sơ nhưng phong phú về số

1 Theo Danh mục các dân tộc Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02 tháng 3 năm 1979 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê gồm 54 dân tộc và các tên khác

Trang 8

lượng và chủng loại: Bộ gõ có đàn chiêng (cĩng), trống (Ding Gơr), đàn môi (guốc)…

Ca hát dân gian rất phong phú và đa dạng, hình thức truyền miệng được coi là phươngtiện chủ yếu của đồng bào dùng để chuyển tải văn hoá từ vùng này sang vùng khác, từđời này qua đời khác, tiêu biểu là những thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ, các luậttục dưới dạng văn vần hay hát đối đáp nam - nữ

Trong trang phục hàng ngày, nghệ thuật tạo hình được thể hiện rất sinh động.Hoa văn trên nền vải của người M’Nông chủ yếu tạo hình theo một mô típ truyền thốngđược cách điệu bằng nhiều hình thức khác nhau Đàn ông, đàn bà M’Nông đều đóngkhố, rộng chừng 20 phân và dài trên 1 thước, đàn bà ở những vùng dọc trên quốc lộ 14còn biết quấn Yêng, lấy khăn che ngực Trong những dịp lễ tết, đàn ông còn mặc thêmmột cái áo ngắn không cổ, hở bụng và đàn bà thường quấn Yêng màu tím đỏ Cộngthêm vào đó là những trang sức đi cùng phục trang rất đa dạng Họ thường đeo nhữngvòng đồng, đeo chồng chất ở cổ tay, cổ chân, càng đeo nhiều càng thể hiện sự giàusang

Cũng như các dân tộc khác trên toàn miền sơn nguyên Nam Đông Dương, ngườiM'Nông vùng căn cứ Nâm Nung là dân tộc có tinh thần yêu độc lập tự do, có truyềnthống bất khuất chống xâm lược Đặc biệt, từ những thế kỷ xa xưa đến thời kỳ cận đại,

họ là những dân tộc luôn gìn giữ được cuộc sống độc lập tự do cho quê hương Ở thời

kỳ xa xưa, tổ tiên họ đã không chấp nhận bất cứ một kẻ xâm lược nào, mặc dù sống sátnách những vương quốc cổ đại hùng mạnh2 Vì vậy, khi kẻ thù xâm lược tàn phá quêhương, bon rẫy thì tinh thần yêu nước cũng được nhen nhóm và bùng nổ, những phongtrào đấu tranh chống kẻ thù xâm lược diễn ra không ngừng đối với nhân dân các dân tộcnơi đây là điều tất yếu

III Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp trên địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung.

1 Những cuộc đấu tranh trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Thực dân Pháp chiếm Việt Nam và các nước Đông Dương vào nửa sau thế kỷXIX, khi chế độ phong kiến trong vùng đã trở nên suy yếu Triều đình phong kiến nhàNguyễn từ chống trả yếu ớt đến nhượng bộ đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của Pháp

Năm 1856, trong lúc triều đình nhà Nguyễn khủng hoảng trầm trọng, nông dânkhắp nơi nổi dậy, chính quyền phong kiến ở nhiều địa phương bị tê liệt Bên ngoài thìgiặc Pháp đang lăm le tìm cớ để vũ trang xâm lược nước ta Nắm được thời cơ thuận tiện,các giáo sĩ ở hội thánh Ba Na liền lập ngay một toà đại lý ở Kon Tum, thay mặt nướcPháp để cai trị xứ này Toà đại lý gồm những quan cai trị mặc áo đen, đeo thập ác, từnăm 1889 trở về sau trực thuộc vào chính quyền của thực dân Pháp ở Lào Sau nhiềunăm truyền đạo, thăm dò nghiên cứu, khảo sát về cảnh quan địa lý, phong tục, tập quán,tìm hiểu về tình hình chính trị trên địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số tại Nam TâyNguyên (trong đó có vùng đất Nâm Nung), thực dân Pháp đã dùng lực lượng quân sựđánh chiếm, bình định và thống trị vùng này

Năm 1905, thực dân Pháp chính thức bãi bỏ chế độ “Sơn phòng” của triều đìnhnhà Nguyễn Từ đây cho đến năm 1954, người Pháp trực tiếp đảm nhiệm các vấn đềkinh tế, chính trị và an ninh trên địa bàn vùng lãnh thổ các tỉnh Tây Nguyên

2 Theo Nyo, La pénétration dans les pays Mois, BSEI, T.XII, NO 1, 1937 Cũng theo Bourotte, Essai d'histoire des populations montagnardes du Sud-Indochinois jusqu'à 1945,

BSEI, T XXX, NO 1, 1955.

Trang 9

Với chế độ thuế khóa của thực dân Pháp, hằng năm, mỗi người Êđê, M’Nông vàcác dân tộc khác ở Đắk Lắk phải nộp cho chính quyền thực dân một khoản tiền thuếthân và đi làm phu 20 ngày Ngoài thuế thân, các dân tộc thiểu số còn phải nộp các sắcthuế khác như thuế nóc nhà, thuế làm rẫy Đặc biệt là thuế voi Đối với người M’Nông,Êđê tại địa phương, mỗi con voi cũng phải chịu 20 ngày đi xâu Ngoài ra, chính quyềnthực dân còn bày ra các chế độ phạt vạ đối với các dân tộc bản địa như phạt làm hỏngđường sá, phạt làm hỏng các cây, chống lại chính quyền Dưới thời thống trị của thựcdân Pháp, thuế khóa, phạt vạ và đi phu là một gánh nặng về kinh tế đối với đồng bàocác dân tộc ít người tại địa phương mà càng về sau càng trở nên nặng nề

Cùng với chính sách thuế khóa nặng nề, thực dân Pháp đã khuyến khích các nhànông nghiệp Pháp đầu tư vốn mở mang các đồn điền cây công nghiệp như chè, cà phê,cao su, lúa và canh-ki-na tại những vùng đất rộng lớn trên địa bàn cư trú của ngườiM’Nông, Êđê, trong đó có vùng đất Nâm Nung Các nhà tư sản thực dân đã tiến hànhtước đoạt đất đai, nương rẫy, bến nước của đồng bào nơi đây để lập nên các đồn điềntrồng cây công nghiệp và biến cư dân bản địa thành người làm thuê cho chúng Hàngchục đồn điền trồng cây công nghiệp của tư sản Pháp lần lượt mọc lên trên địa bàn cưtrú của người M’Nông, Êđê ở Đắk Lắk như đồn điền C.H.P.I (Compagnie HautPlateaux Indochine) - Công ty Cao Nguyên Đông Dương, Ca Đa (Compagnie AgricoledAsie) - Công ty nông nghiệp châu Á, Socíete Dexploitation Agricolede Darlac, DakNia, Méwal, Rossi, Puprang, đồn điền lúa ở Nâm Ka

Quy mô các đồn điền này ngày càng mở rộng, tỉ lệ thuận với chế độ bắt xâu đốivới người M’Nông, Êđê ở địa phương ngày càng ráo riết và tàn bạo Khi đã bị bắt vàolàm phu trong các đồn điền của Pháp, người M’Nông, Êđê ở địa phương bị chế độ laođộng khổ sai của chúng đày đọa đến cùng cực, nạn đói lan tràn lên hầu khắp các buônlàng Những căn bệnh hiểm nghèo của vùng rừng nhiệt đới như sốt rét ác tính, dịch tả,dịch hạch, bướu cổ, phong cùi… phát triển hầu khắp các buôn mà đồng bào không cóbệnh viện và thuốc chữa trị

Cuộc khai thác kinh tế được điều khiển bởi các vị đầu tỉnh là người Pháp với mụcđích tập trung mọi nỗ lực khai thác Tây Nguyên trong tay chính phủ Pháp Thương mạinhất là việc buôn bán muối được dự phòng để tránh sự hoạt động của các thương láiViệt Nam (những người này dưới sự đe doạ, bắt người “Mọi” khờ dại, chấp nhận một

sự buôn bán bịp bợm)

Bên cạnh chính sách khai thác kinh tế, thực dân Pháp tập trung ở Tây Nguyênmột lực lượng quân sự khá mạnh, ngay tại thị xã Buôn Ma Thuột có một trung đoànlính khố đỏ (quân cơ động) thường trực là một quan năm (đại tá) chỉ huy và một tiểuđoàn lính khố xanh (quân địa phương) do một quan tư (thiếu tá) chỉ huy.3

Năm 1899, thực dân Pháp đã thiết lập tòa Đại lý hành chính tại Bản Đôn (BuônĐôn), ngày 22 tháng 11 năm 1904, tỉnh Đắk Lắk được chính thức thành lập, tỉnh lỵđóng tại Buôn Ma Thuột Từ đó trở đi, bộ máy cai trị của chính quyền thực dân Phápđược thiết lập xuống tới các bon, buôn của đồng bào các dân tộc ở Nam Tây Nguyên.Cho đến những năm đầu thế kỷ XX, bộ máy cai trị của chính quyền thực dân Pháp mớikiểm soát được khoảng 500 buôn làng Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk còn khoảng 300 buônlàng người M’Nông, Êđê, nằm ở thượng nguồn sông Krông Nô vẫn được tự do Vớimục đích nhằm cắt đứt mọi liên lạc giữa vùng đồng bằng Việt Nam và miền sơn nguyên

3 Hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, Đắk Lắk, năm 1995, tr 64.

Trang 10

Nam Đông Dương, một số khu vực đã bình định ở bên kia sông Đắk Sal, Krông Nô sẽđược ngăn chặn nghiêm ngặt

Chính sách đối với văn hoá, giáo dục, y tế: Cũng như đã tiến hành ở vùng đồngbằng trên cả nước, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để hòng dễ cai trị vùngTây Nguyên Chúng chỉ mở một số trường sơ học bên cạnh một số trường Giáo phậndùng để truyền giáo Ngoài ra, trên phương diện văn hoá, chúng chỉ thị các tỉnh trưởngPháp có nhiệm vụ điển chế và góp nhặt tất cả những phong tục tâp quán của người sơncước Dưới chiêu bài “bảo vệ và phát triển các chủng tộc Thượng”, hoặc “không đụngchạm đến văn hoá bản địa”, ngăn cấm đến mức tối đa sự tiếp xúc liên lạc giữa người sơncước Việt Nam và người đồng bằng, thực dân Pháp đã tạo điều kiện duy trì và khuyếnkhích phục hồi những hủ tục, mê tín dị đoan trong nhân dân Mặt khác, mọi sự giao lưuvăn hoá giữa các dân tộc, các vùng đều bị cấm

Tây Nguyên nói chung và căn cứ Nâm Nung nói riêng đang là vùng đất mới khaiphá, là nơi “rừng thiêng, nước độc”, nhân dân bị nhiều bệnh tật, phổ biến nhất là bệnhkiết lỵ và sốt rét Nhiều làng bị xơ xác, dân số ngày càng giảm vì sự tàn phá của bệnhtật, nghèo đói Trẻ em bị suy dinh dưỡng vì đói, vì vệ sinh yếu kém Bệnh viện rất hạnchế, việc chữa bệnh cho con em đồng bào các dân tộc nơi đây càng hiếm hoi

Chính sách của Pháp trên các mặt chính trị - quân sự, kinh tế và văn hóa - xã hội

đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của các dân tộc trên toàn miền sơn nguyên NamĐông Dương Trước nguy cơ bị một kẻ thù lớn mạnh cướp mất cuộc sống độc lập và tự

do tổ tiên giữ được, các dân tộc miền sơn nguyên Nam Đông Dương hoặc lẻ tẻ, hoặcliên minh phối hợp với nhau vùng lên chống lại bọn xâm lược, đánh vào các đồn bót vàcác cuộc hành quân của giặc; chống thuế, chống xâu, hay lánh cư, bất hợp tác, khôngphục tùng… Do đó, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của các dântộc ở Tây Nguyên ngay từ khi thực dân Pháp vừa đặt chân đến vùng đất này đã diễn raliên tục và mạnh mẽ

Cùng với các cuộc đấu tranh của người Việt trên cả nước, những cuộc nổi dậychống thực dân Pháp của đồng bào dân tộc Tây Nguyên nói chung, đồng bào dân tộcbản địa trên địa bàn Nâm Nung đã liên tục bùng nổ và lan rộng Tiêu biểu là cuộc khởinghĩa do N’Trang Gưh lãnh đạo (1900 - 1914) và đỉnh cao là phong trào chống thựcdân Pháp của đồng bào M’Nông dưới sự lãnh đạo của N’Trang Lơng kéo dài gần ¼ thế

kỷ (1912 - 1936)

N’Trang Gưh là người Bih (một nhóm của dân tộc Êđê), quê ở buôn Choah (naythuộc thôn Buôn Choah, xã Buôn Choah, huyện Krông Nô) N’Trang Gưh là một ngườitài cao đức trọng, thuở nhỏ đã biết săn bắn các loài chim và thú rừng bằng những thứ vũkhí do chính bàn tay ông tạo ra Lớn lên N’Trang Gưh trở thành một thành viên săn bắngiỏi của buôn làng, ông có nhiều của cải quý giá như sừng tê giác, ngà voi Ông đượcđánh giá là người bậc nhất trong buôn bởi ngoài tài giỏi, giàu có, ông còn giàu lòngthương người, hướng dẫn đồng bào trong làng, ngoài buôn những kinh nghiệm săn bắt,chăn nuôi, trồng trọt, sẵn sàng giúp đỡ nhiều người, nhiều buôn nghèo khó khi hoạnnạn, mất mùa

Cuộc sống của đồng bào Êđê đang bình yên thì thực dân Pháp đến xâm lược,chúng ngang nhiên cướp bóc và hà hiếp dân lành, cả buôn làng chìm trong biển lửa, đóikhổ, tang tóc Năm 1900, N’Trang Gưh kêu gọi đồng bào Êđê và các dân tộc anh emtrong vùng nổi dậy đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược bảo vệ quê hương

Trang 11

Ngày 01 tháng 3 năm 1900, quân Pháp đánh chiếm các buôn của người Êđê dọclưu vực sông Krông Nô và Krông Ana Ở đây, ngoài sự hỗ trợ của lực lượng nghĩa quân

do tù trưởng Y Kơn dẫn đầu, vị thủ lĩnh N'Trang Gưh đã lãnh đạo nghĩa quân chiến đấudũng cảm, chuyển thế từ bị động sang chủ động, bao vây tên tướng Pháp - Bourgeois,khiến hắn phải rút lui Trên đường tháo chạy, quân Pháp đốt phá tàn trụi buôn Tur vàbuôn Trấp (nay là thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk) Hai ngày sau(ngày 03 tháng 3 năm 1900), tên Bourgeois đem quân trở lại, vượt sông Krông Nô tiếnđánh buôn Choah (quê hương của N’Trang Gưh) Đây không chỉ là cái nôi mà còn làtrung tâm hoạt động trọng yếu của nghĩa quân Do vậy, Bourgeois tập trung một lựclượng quân lớn xông vào đốt phá buôn Choah, bắt, giết nhiều người vô tội Sau nhiềuđợt chống trả quyết liệt, biết không thể đánh nổi lực lượng hùng hậu của địch, để dưỡngbinh và bảo tồn lực lượng, N’Trang Gưh và nghĩa quân đưa bà con trong buôn tạm lánhtrong cánh rừng cách buôn Choah khoảng 01km về phía Nam

Sau một thời gian chỉnh đốn lực lượng, N’Trang Gưh cùng với nghĩa quân trở lạibuôn Choah, quyết tâm giải phóng buôn, làng Năm 1901, hơn 600 nghĩa quân dưới sựchỉ huy của N’Trang Gưh đã vượt sông Krông Nô tấn công, bao vây đồn buôn Tur, bắnhàng loạt tên vào đồn giặc, toàn bộ quân xâm lược bị tiêu diệt, tên đồn trưởngBourgeois chết gục trước sân đồn, người cắm đầy tên

Sự có mặt của lực lượng khởi nghĩa do N’Trang Gưh lãnh đạo cách Buôn MaThuột khoảng 15 - 30 km là mối đe doạ lớn đối với âm mưu đô hộ và bình định củathực dân xâm lược Vì vậy, từ năm 1901 đến 1913, quân Pháp ở Buôn Ma Thuột liêntục mở nhiều cuộc hành quân khá quy mô, càn quét, đánh phá nghĩa quân, nhằm tiêudiệt và thôn tính phong trào đấu tranh yêu nước của người Êđê, đặt ách cai trị và bóc lộtvùng đất này Nghĩa quân N’Trang Gưh đã chiến đấu dũng cảm, bảo vệ từng tấc đất,từng mảnh vườn của mình trong suốt 13 năm Với thời gian ấy, lưu vực sông Krông Nô

và Krông Ana vẫn là địa bàn bất khả xâm phạm của đồng bào Êđê bản địa

Xác định được vị trí chiến lược về quân sự của vùng đất mà đồng bào Êđê sinhsống là cửa ngõ phía Nam để mở các cuộc hành quân, cũng như nhân rộng bộ máy caitrị của chúng xuống phía Nam tỉnh Đắk Lắk; thực dân Pháp đã huy động một lực lượngquân sự hùng mạnh mở nhiều cuộc hành quân quy mô lớn, quyết tâm tiêu diệt bằngđược phong trào khởi nghĩa của N’Trang Gưh Trước tình hình đó, nhằm đối phó vớilực lượng quân sự hùng hậu và thiện chiến của Pháp, năm 1913 N’Trang Gưh chỉ huynghĩa quân cùng dân làng rút khỏi buôn Choah tạm lánh vào rừng Cùng đi với nghĩaquân là 250 gia đình người Êđê, tiến vào phía Nam lưu vực sông Srêpôk, xây dựngbuôn mới, tiếp tục cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp

Phong trào đấu tranh đang phát triển thì vào năm 1914, do kẻ phản bội đã dẫnđường cho giặc hành quân bao vây tấn công khu vực đóng quân của N’Trang Gưh.Trong tình thế tương quan lực lượng quá chênh lệch nên khu vực đóng quân của nghĩaquân N’Trang Gưh rơi vào tay giặc, chúng đã bắt và giết thủ lĩnh N’Trang Gưh Sau khiN’Trang Gưh mất, phong trào đấu tranh đi vào thoái trào và kết thúc Tuy vậy, nhândân trong vùng vẫn tiếp tục đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược

Phong trào yêu nước của nghĩa quân N’Trang Gưh đã thực sự là ngòi nổ kíchhoạt phong trào chống giặc giữ làng của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên Cũng nhưngười Êđê ở căn cứ kháng chiến Nâm Nung và các dân tộc khác ở vùng lân cận cũng đã

Trang 12

sớm đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược, ngay khi chúng đặt chân lên TâyNguyên

Phong trào khởi nghĩa do N’Trang Gưh lãnh đạo phát triển mạnh mẽ nhưng cuốicùng đã bị thất bại, thực dân Pháp ngày càng tăng cường thống trị Tây Nguyên Tuynhiên, tinh thần đấu tranh chống kẻ thù vẫn luôn bền bỉ và âm ỉ cháy, đợi dịp tiếp tụcbùng lên đấu tranh Chính vì vậy, khi thủ lĩnh N’Trang Lơng đứng lên đấu tranh, nhândân các dân tộc trong vùng căn cứ Nâm Nung đã sẵn sàng đứng lên cùng đấu tranhchống kẻ thù xâm lược

N'Trang Lơng sinh khoảng năm 1870, gốc là người M'Nông Biêt Ông là tấmgương tiêu biểu về tình yêu quê hương, đất nước, về chí căm thù giặc Pháp xâm lượcsâu sắc, về lòng dũng cảm và ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ cuộc sống độc lập và tự

do của quê hương trong lịch sử chống Pháp ở miền sơn nguyên Nam Đông Dương

Từ khi đứng lên đánh Pháp, N’Trang Lơng đã tập hợp được nhiều thủ lĩnh, đầulàng của đồng bào các dân tộc như B’Heng Reng, R’Đing, R’Ong Leng, N’Xinh Họ lànhững thủ lĩnh yêu nước, là những cánh tay đắc lực của N’Trang Lơng N’Trang Lơngcùng các thủ lĩnh tiến hành xây dựng căn cứ địa kháng chiến tại thung lũng rừng già BuSiết (tức B Jeng Kiet hay Bu Jang Chet) giáp ranh với Bu N’Drung ở thượng nguồnsuối Buk Xô thuộc núi Nâm Nung Đây là cơ quan đầu não của nghĩa quân, với lựclượng từ 150 - 170 tay súng thoát ly buôn làng4 Phần lớn nghĩa quân là người M’nôngBiệt và M’Nông Nông do N’Trang Lơng trực tiếp chỉ huy Họ xây dựng lán trại, kholương, nhà chứa vũ khí, đào hầm, cắm chông gài bẫy xung quanh căn cứ Bên cạnh căn

cứ là những nương rẫy trồng lúa, bắp để thực hiện nhiệm vụ tự túc lương thực chonghĩa quân chiến đấu

Cuối năm 1908, Henri Maitre được chỉ định cầm đầu "Phái bộ khảo sát - hànhchính Đông Cao Miên" Hắn ra sức khủng bố giết chóc đồng bào Tây Nguyên, đàn ápbuôn làng Khi đánh phá buôn N’Trang Lơng, Henri Maitre đã bắt bớ, hãm hiếp vợ vàcon gái ông Để trả nợ nước, thù nhà, N'Trang Lơng đứng lên lãnh đạo nhân dân cácdân tộc M’Nông, Ê Đê đấu tranh Phong trào mở đầu bằng trận đánh đồn Pu Sra giànhthắng lợi vào năm 1912 Chiến thắng Pu Sra làm nức lòng dân chúng và làm tên tuổiN’Trang Lơng vang dội khắp Tây Nguyên,

Vào mùa khô 1913 - 1914 trên Cao nguyên M'Nông, đời sống của ngườiM’Nông: Biêt, Bu Nor và Rơhong rất khổ cực, phong trào xây dựng làng chiến đấuchuẩn bị chống giặc diễn ra rầm rộ, đặc biệt trong nguồn sông Đăk Huich

Trong tình hình đó, N’Trang Lơng và các thủ lĩnh nghĩa quân đã lập mưu, dựngnên lễ “kết minh” hay lễ “trá hàng” nhằm tiêu diệt tên Henri Maitre và đồng bọn củahắn Lễ "kết minh" tổ chức vào khoảng 8 giờ ngày 30-7-1914 Kết quả nghĩa quânN’Trang Lơng đã tiêu diệt được tên Henri Maitre và sau đó ngày 31-7-1914 trận đánhđồn Mêra giành thắng lợi, tiêu diệt toàn bộ lính và chỉ huy còn lại trong đồn, nghĩa quânthu toàn bộ vũ khí và đồ tiếp tế của địch

Năm 1915, sau chiến thắng Bu Tiên, N’Trang Lơng cùng nghĩa quân tiếp tụcgiành nhiều chiến thắng Vì thế, quân Pháp co hẳn về vùng châu thổ tỉnh Kratie, lậpmột hành lang an toàn gồm các đồn do các đội khố xanh để chặn đường nghĩa quân

4 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Nông, Lịch sử Phong trào N’Trang Lơng (1912-1936), Nxb Sự thật, năm 2012, tr 106

Trang 13

đánh xuống vùng châu thổ Cả một vùng M’Nông rộng lớn thoát khỏi ách thống trị củathực dân Pháp trong thời gian dài (1916 - 1927).

Phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng đã có ảnh hưởng mạnh mẽ trên vùng caonguyên Nam Đông Dương và lan rộng ra nhiều khu vực, đặc biệt nổi lên là phong tràochống Pháp của người S’Tiêng ở Bà Rá Như vậy, với truyền thống chống xâm lược từlâu đời, tấm gương chiến đấu và các chiến công oanh liệt của N'Trang Lơng đã độngviên và cổ vũ đồng bào M’Nông và S’Tiêng tiến hành một cuộc chiến đấu anh dũng,giữ vững được phần lớn đất đai, bảo vệ tự do trên quê hương, góp phần cổ vũ sức chiếnđấu chống thực dân Pháp của đồng bào các dân tộc nhiều vùng trên Tây Nguyên, Nam

Kỳ Song, trước mắt đồng bào là một kẻ thù tàn bạo, ngày càng mạnh và càng quyếttâm chinh phục trở lại cao nguyên

Năm 1928, thực dân Pháp lộ rõ âm mưu chính thức xâm chiếm trở lại cao nguyênM’Nông, chúng tập trung ra sức tìm diệt N'Trang Lơng Trong những năm 1918 - 1934,phong trào khởi nghĩa do N’Trang Lơng lãnh đạo vẫn liên tục nổ ra, thách thức và chiếnđấu chống thực dân Pháp quyết liệt

Tháng 10 năm 1931, tên Patkiê - toàn quyền Đông Dương và Tổng chỉ huy quânđội Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ đạo thực hiện kế hoạch tiêu diệt bằng được phongtrào khởi nghĩa do N’Trang Lơng lãnh đạo, với lực lượng không quân, lực lượng bảo an

ở Buôn Ma Thuột, tấn công theo nhiều hướng như một gọng kìm khép kín tấn công vàolực lượng nghĩa quân

Trước tình thế bất lợi đó, để bảo toàn lực lượng, N’Trang Lơng cùng các thủ lĩnhquyết định rút quân lên dãy Nâm Nung lập căn cứ kháng chiến Tại đây, nghĩa quân đãxây dựng căn cứ kháng chiến, đào hầm chông, giếng chông làm bẫy đá, bẫy chông, …tạo thành một địa bàn mang tính “bất khả xâm phạm” Ngoài ra nghĩa quân còn thamgia trồng trọt, tự túc về lương thực, thực phẩm, đồng thời làm điểm tụ quân, xuất quântrong những trận đánh vào những năm cuối của cuộc khởi nghĩa Tại đây, N’TrangLơng và các thủ lĩnh nghĩa quân đã kêu gọi đồng bào bản địa cùng tham gia khángchiến, bỏ làng vào rừng, bất hợp tác với giặc Pháp Tên Béc Na Sô - Công sứ Pháp khitiến quân vào vùng Đắk Mil (thuộc địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung) đã mô tả

“Tôi trở lại Ai Lum, tôi lấy làm ngạc nhiên vì làng bị bỏ trống”

Bước vào mùa khô 1934 - 1935, khắp cao nguyên, nhân dân M'Nông, Ê đê vàS’Tiêng lại nổi lên rào làng, dấp rừng chống Pháp Cuộc đối đầu ngày càng quyết liệtgiữa nghĩa quân N'Trang Lơng và giặc Pháp Giặc Pháp truy lùng nghĩa quân ráo riếtbuộc nghĩa quân phải không ngừng di chuyển, nhưng khi giáp mặt với quân thù, nghĩaquân chiến đấu rất anh dũng Chính viên quan tư Nyô, kẻ đang đối mặt với N'Trang Lơngcũng buộc phải nhìn nhận rằng: "Thủ lĩnh N'Trang Lơng hồi này đã chừng 50 tuổinhưng vẫn rất khỏe mạnh và hàng chục vị thủ lĩnh kiên cường, dũng cảm khác, tất cảđều quyết tâm bằng mọi giá đánh đuổi ta (Pháp) ra khỏi cao nguyên Trung Tâm (caonguyên M'Nông) một lần nữa”.5

Từ đầu tháng 5-1935, chúng tung quân ra sức truy lùng nghĩa quân N’TrangLơng, bất chấp các cơn mưa đầu mùa xối xả, núi cao, rừng sâu Trong hoàn cảnh đó,N'Trang Lơng tạm lánh về quê cũ, ẩn náu trong một vùng rừng gần Bu Par, chuẩn bị lựclượng tiếp tục chiến đấu chống kẻ thù Tuy nhiên do bị tên phản bội Bơ Mpông Phê chỉđiểm và đưa chúng đến bao vây Tại đây, diễn ra trận chiến đấu cuối cùng, bất ngờ và

5 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Nông, Phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng (1912-1936), nxb Sự thật, 2011, trang 195

Trang 14

không cân sức, ông bị quân Pháp bắn bị thương nặng tại bon này Sau đó, N'TrangLơng mất ngày 23-5-1935tại Bu Par

N’Trang Lơng hy sinh, nghĩa quân của ông vẫn tiếp tục đấu tranh chống thực dânPháp trên cao nguyên M’Nông Phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng đi vào thoái trào

và đánh dấu kết thúc vào năm 1936, nhưng ảnh hưởng của phong trào đã không ngừngvươn cao, vươn xa Chỉ sau đó không lâu, phong trào đấu tranh của đồng bào các dântộc Đắk Nông nói riêng và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, Nam Bộ nói chung lạibùng lên và lan rộng hơn trước Khởi nghĩa N’Trang Lơng còn mãi âm vang trong lòngngười Tây Nguyên nói chung và nhân dân căn cứ Nâm Nung nói riêng:

“Dân M’nông ơi! Vùng lên đi!

Con gái đánh bằng chày giã gạoCon trai đánh bằng dao găm, giáo mácTất cả giơ lên như bông lau lách

Giết bằng được thằng Hăng-ri-mét Thì ta mới yên cái bụng làm rẫy, xây làng…”

Kiên cường, bất khuất, phong trào này lắng xuống, phong trào khác lại nổi lên,người trước ngã người sau tiếp bước, cuộc chiến đấu của nhân dân Tây nguyên lúc sôinổi, mãnh liệt, lúc tạm thời âm ỉ chờ thời cơ để rồi lại bùng lên với khí thế mãnh liệthơn Tuy nhiên, thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn, những cuộc đấu tranh đó vẫnchưa đưa lại kết quả thắng lợi cuối cùng

2 Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đến cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

Phong trào đấu tranh dưới sự lãnh đạo của những thủ lĩnh yêu nước như HoàngHoa Thám, Phan Đình Phùng, N’Trang Gưh, N’Trang Lơng, Săm Brăm, … diễn ra rấtanh dũng song cuối cùng đều bị thực dân Pháp đàn áp, dìm trong biển máu Điều đó chothấy cách mạng Việt Nam còn thiếu đường lối đúng đắn dưới sự lãnh đạo của Đảng tiênphong của giai cấp công nhân để đoàn kết tất cả các dân tộc trong nước cùng vùng lênđấu tranh giành thắng lợi hoàn toàn Vì vậy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Namngày 03 tháng 02 năm 1930, là một bước ngoặt lịch sử, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng

về đường lối cứu nước và vai trò lãnh đạo của một chính Đảng cách mạng Việt Nam

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố thành lập, thực dân Pháp ở ĐôngDương càng ra sức đàn áp, khủng bố và bóc lột nhân dân ta Ở Tây Nguyên, thực dânPháp đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa, tiếp tục thành lập, xây dựng và mở rộngcác đồn điền trồng lúa, chè, cà phê, cao su…Công nhân ở các đồn điền này gồm côngnhân người Êđê, M’nông và người Kinh Các chủ đồn điền người Pháp bóc lột côngnhân, bần cùng hoá công nhân, biến họ thành lao động khổ sai tại các đồn điền củachúng

Sau sự hy sinh của anh hùng dân tộc N’Trang Lơng (năm 1935), phong trào đấutranh chống thực dân Pháp của nhân dân Tây Nguyên tiếp tục tiếp diễn Hưởng ứngphong trào đấu tranh Mộ Cọ (Bà Trắng) phát nguyên từ Di Linh - đồng Nai Thượng(1937 - 1938), phong trào Nước Xu do Săm Brăm lãnh đạo (1935 - 1939), nhân dânĐắk Lắk sát cánh bên nhau cùng chiến đấu với mục tiêu độc lập, tự chủ, không chịu bỏnhà bỏ nương rẫy theo thực dân Pháp Tại Đắk Mil (lúc này Nâm Nung là xã phía Nam

Trang 15

huyện Đắk Mil tỉnh Đắk Lắk), phong trào đấu tranh của đồng bào dân tộc nơi đây cùngvới các phong trào khác phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào đấu tranh vang dộicủa chiến sĩ cộng sản tại nhà đày Buôn Ma Thuột như: Tháng 6 năm 1934, đồng chíNguyễn Duy Trinh thay mặt anh em tù nhân viết thư gửi cho Khâm sứ Trung Kỳ vàCông sứ tỉnh Đắk Lắk, tố cáo chế độ lao tù khắc khổ tại nhà đày Buôn Ma Thuột, hay

sự kiện Ban lãnh đạo nhà đày chủ trương cho các chiến sĩ tại các trại giam đưa đơn tốcáo bọn cai tù ở nhà đày Buôn Ma Thuột tra tấn dã man tù nhân, khi được tin Toànquyền Đông Dương (Pháp) đi kinh lý Trung Kỳ và sẽ đến nhà đày Buôn Ma Thuột, …

Với bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, lực lượng công nhân ngườiM’Nông, Êđê và Kinh đã từng bước giác ngộ về quyền lợi giai cấp, đoàn kết chặt chẽcùng đấu tranh giành quyền dân sinh dân chủ, góp phần vào cuộc đấu tranh giải phóngdân tộc dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam Phong trào công nhân tại các đồnđiền của tư bản Pháp ở Nam Tây Nguyên, tuy chưa có sự lãnh đạo trực tiếp của các cơ

sở Đảng, nhưng vẫn là một bộ phận của cuộc vận động giải phóng dân tộc do Đảng lãnhđạo, đúng như nhận định của Đại hội lần thứ I của Đảng (1935) “ở các xứ và các miềndân tộc thiểu số đã có điều kiện khách quan sẵn sàng phát triển cách mạng vận động.Đảng Cộng sản cần tổ chức công nhân thêm vào hàng ngũ đấu tranh để nâng cao điềukiện chủ quan và để làm cho điều kiện phát triển cách mạng ấy mau chóng tới trình độrộng lớn hơn”

Những cao trào cách mạng diễn ra ở miền xuôi đã tạo ra và rèn luyện đội ngũ cán

bộ cách mạng đông đảo Hàng nghìn chiến sĩ cách mạng bị bắt, bị đày ải qua các nhà tù

đế quốc, trong đó có nhiều chiến sĩ cộng sản ưu tú, có trình độ và kinh nghiệm tuyêntruyền và khả năng tập hợp, tổ chức quần chúng Trong các lao tù, thực dân Pháp thựcthi chính sách giam cầm và tra tấn các tù nhân chính trị, các chiến sĩ cách mạng vô cùng

dã man và hiểm độc, hòng tiêu diệt phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ViệtNam Trong đó, thực dân Pháp đã dựng lên một hệ thống các nhà tù ở Trung Kỳ và TâyNguyên (trong đó có Nhà đày Buôn Ma Thuột) nhằm khai thác sức lao động khổ saiphục vụ cho việc mở đường, lập đồn điền và độc ác hơn là lấy khí hậu khắc nghiệt

"rừng thiêng nước độc" để tiêu diệt ý chí cách mạng, lấy đói rét, bệnh tật để giết chếtcác tù nhân chính trị

Năm 1940, do số lượng tù chính trị tại nhà đày Buôn Ma Thuột ngày càng đông

và để phục vụ việc thi công tuyến đường xuyên qua cao nguyên M’Nông, thực dânPháp lập thêm một nhà ngục tại Đăk Mil Nhà ngục được xây dựng trên một khoảng đấtnhỏ tại trung tâm huyện Đăk Mil, bao quanh bằng một hàng rào gỗ chồng khít nhau vàdây thép gai bên ngoài Căn nhà sàn chín gian bằng gỗ lợp tranh, có lối đi ở giữa Haidãy sàn gỗ có đủ cùm, xiềng Mỗi cột cùm có treo bốn ống tre Hai ống trên là “ĐingEa”- đựng nước uống, hai ống dưới là “Đing Chéh”- đựng nước tiểu, phân Mỗi tù nhânđược phát chăn, chiếu, bát ăn cơm

Đầu tháng 11-19416, đoàn tù đầu tiên bị đày tới ngục Đăk Mil gồm 45 tù nhân

6 Về thời gian đoàn tù đầu tiên đến Đăk Mil cũng có tài liệu viết là năm 1940 (Lịch sử đấu tranh cách mạng của

Đảng bộ và quân dân các dân tộc huyện Đăk Mil (1930-1975), T.I, tr.35), một số tài liệu viết đoàn tù đầu tiên đến Đăk Mil vào đầu tháng 11 năm 1941 Nhìn chung, qua đối chiếu các tài liệu và căn cứ vào các dữ liệu từ hồi kỳ, có thể đi đến thống nhất là đoàn tù nhân đầu tiên từ Nhà đày Buôn Mê Thuột đến Đăk Mil là vào đầu năm 1941, cụ thể là đầu tháng 3 – 1941

Xung quanh số người trong đoàn tù đầu tiên từ Buôn Mê Thuột chuyển đến Nhà ngục Đăk Mil đến nay có nhiều ý

kiến chưa thống nhất

Theo sách Lịch sử Nhà đày Buôn Ma Thuột 1930-1945 (tr 114) viết, cuối năm 1941, địch bắt đầu đưa 60 tù nhân

– những phần tử "rất nguy hiểm", từ "biệt giam" Lao số 1 - Nhà đày Buôn Ma Thuột (nơi biệt giam những người tù cộng sản nguy hiểm), lên lưu đày tại Đắk Mil

Trang 16

Sau đú, số tự nhõn dần tăng lờn tới 120 người Ngay sau khi bị đày tới ngục Đăk Mil,cỏc tự nhõn đó lựa chọn và bầu ra Ban chỉ đạo đầu tiờn của nhà ngục gồm cỏc đồng chớTrần Văn Quang, Nguyễn Tạo, Kinh, Hoà, Trinh, Bửu, Toàn Ban chỉ đạo đề ra chủtrương trong giai đoạn này là nhanh chúng chuẩn bị chiến đấu, chống đàn ỏp, bảo vệquyền lợi tự nhõn và tổ chức vượt ngục.

Phong trào đấu tranh của cỏc chiến sĩ cộng sản tại đõy đó giành nhiều thắng lợi

cụ thể như: Đầu năm 1942, tự nhõn đấu tranh thắng lợi, tổ chức được Tết đầu tiờn tạinhà ngục, tự nhõn được nghỉ 3 ngày, được diễn tuồng, ngõm thơ, đỏnh cờ tướng vàtrang trớ cõu đối Tết; cuối thỏng 6-1942, tự nhõn ngục Đăk Mil thành cụng trong việcphỏ lũ gạch của địch, khoảng 38.000/40.000 viờn gạch ra lũ bị hỏng, gúp phần phỏ vỡ

kế hoạch mở rộng nhà ngục của địch, Những chiến sĩ cộng sản khụng chỉ biến nhà tựthành trường học đấu tranh cỏch mạng, rốn luyện khớ tiết mà hơn thế nữa, vượt ra khỏichế độ lao tự hà khắc, họ đó gieo những hạt giống, những tư tưởng cộng sản trờn mỗimảnh đất quờ hương nơi đặt chõn tới Chớnh việc thực dõn Phỏp tăng cường đày ải tựchớnh trị cộng sản lờn Tõy Nguyờn, dự muốn hay khụng chỳng đó đưa những người cú

tư tưởng cộng sản đến với mảnh đất, với quần chỳng chưa giỏc ngộ lý tưởng đấu tranhcỏch mạng

Phong trào đấu tranh của cỏc dõn tộc Tõy Nguyờn, với nhõn dõn trờn địa bànNõm Nung chịu ảnh hưởng và sự lónh đạo của Đảng Cộng sản bằng con đường riờng,qua nhà đày Buụn Ma Thuột và ngục Đăk Mil Hoạt động của cỏc tổ chức và phongtrào đấu tranh cỏch mạng trong tự vượt qua sự ngăn chặn, bưng bớt của kẻ thự, đến vớiđồng bào cỏc dõn tộc, thổi bựng ngọn lửa đấu tranh cỏch mạng luụn õm ỷ chỏy trongnhững người con của nỳi rừng Tõy Nguyờn Được sự giỏc ngộ của cỏc chiến sĩ cộngsản, cú những người từng là cai tự, binh lớnh trước đõy theo Phỏp đó bỏ ngũ đi theo cỏchmạng, giữ vị trớ quan trọng và cú nhiều đúng gúp cho Đảng, cho nhõn dõn, như ụngQuản Lộ (tức đồng chớ Ybih Alộo sau này giữ chức Phú chủ tịch Mặt trận dõn tộc giảiphúng miền Nam Việt Nam, một người lónh đạo cú uy tớn ở vựng Tõy Nguyờn)

Sau sự kiện thành lập Chi bộ Cộng sản trong nhà đày Buụn Ma Thuột (cuối năm

1941, đầu năm 1942), năm 19437 một chi bộ Cộng sản được thành lập trong ngục ĐăkMil do đồng chớ Nguyễn Tạo làm Bớ thư Cú thể núi, từ đõy, cuộc đấu tranh giải phúngdõn tộc của nhõn dõn cỏc dõn tộc trờn địa bàn Đăk Nụng chịu ảnh hưởng và dưới sựlónh đạo của Đảng Cộng sản

Phong trào cỏch mạng dưới sự lónh đạo của Đảng ngày càng chuyển biến mau lẹ.Trước tỡnh hỡnh ở nhiều địa phương thiếu cỏn bộ lónh đạo, Trung ương Đảng đó chủtrương tổ chức cho một số cỏn bộ trong cỏc lao tự đế quốc vượt ngục ra ngoài để hoạtđộng và xây dựng cơ sở cách mạng trong binh lính, trong nhân dân, hớng phong trào

đấu tranh cách mạng theo đờng lối của Đảng Cộng sản

Theo hồi ký của đồng chớ Nguyễn Tạo, một trong những phạm nhõn trong đoàn tự nhõn đầu tiờn bị chớnh quyền

thực dõn đưa đến Đăk Mil, in trong cuốn Chỳng tụi vượt ngục, tr.254, đoàn tự đầu tiờn đến Đăk Mil cú 120 tự nhõn.

Theo sỏch Trương Võn Lĩnh, Lờ Hồng Sơn, cuộc đời và sự nghiệp, đoàn tự đầu tiờn từ Nhà đày Buụn Mờ Thuột tới Đăk Mil cú 60 tự nhõn (Sở Văn húa – Thụng tin Nghệ An, Bảo tàng Xụ viết Nghệ - Tĩnh: Trương Võn Lĩnh, Lờ Hồng

Sơn, cuộc đời và sự nghiệp, Nxb Nghệ An, tr.47).

Cũng ở nhiều cuốn sỏch khỏc đó được xuất bản, lại cho rằng đoàn tự nhõn đầu tiờn đến Đăk Mil gồm 45 tự chớnh trị.

7 Dẫn theo sỏch Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Nụng, 1930-2005, tr 46 Một số tài liệu như tài liệu “Cục hồ sơ nghiệp

vụ An ninh của Tổng cục An ninh Số 1660/A27 (P3), 1662/A27 (P3) ngày 26/5/2005” lưu tại Bảo tàng tỉnh Đắk Nụng thỡ đồng chớ Nguyễn Tạo – Bớ thư Chi bộ cộng sản ngục ĐĂk Mil đó vượt ngục thành cụng vào đờm 04 rạng 05-12-1942

Trang 17

Thỏng 03/19438, cỏc đồng chớ Nguyễn Tạo, Trương Võn Lĩnh, Chu Huệ, TrầnNgọc Oỏnh tổ chức vượt ngục Đắk Mil thành cụng9 Trải qua những ngày đờm vật lộnvới cỏi đúi, cỏi rột, bệnh tật, thỳ dữ và đặc biệt là sự truy đuổi gắt gao của kẻ thự, cỏcđồng chớ đó về với cỏch mạng, tiếp tục hoạt động Đõy là cuộc vượt ngục đầu tiờn được

tổ chức của tự chớnh trị trong nhà ngục Đăk Mil, đú là một thành cụng lớn, đỏnh dấumột bước tiến mới trong việc tổ chức bộ mỏy lónh đạo cỏch mạng đối với tự chớnh trịtrờn địa bàn Tõy Nguyờn

Cuộc vượt ngục Đăk Mil lần thứ hai gồm cỏc đồng chớ Nguyễn Khải, Trần Tống,

Vũ Nhõn vào năm 194310 Lợi dụng sơ hở của địch, Ban chỉ đạo nhà ngục bố trớ cho 3đồng chớ vượt ngục ra ngoài bằng cỏch trốn vào bồ đi lấy nước và theo kế hoạch địnhsẵn, 3 đồng chớ trốn thoỏt vào rừng Tuy nhiờn, địch đó bắt và bắn chết 4 tự nhõn đẩy xe

đi lấy nước để khủng bố tinh thần tự nhõn, nhằm ngăn chặn cỏc vụ vượt ngục tiếp theo

Trong quỏ trỡnh hoạt động đấu tranh trong tự cũng như việc phải đi lao dịch, cỏc

tự nhõn luụn tranh thủ mọi cơ hội, tiến hành tuyờn truyền, vận động, giỏc ngộ trước hết

là binh lớnh người Thượng - một đối tượng được thực dõn Phỏp nhồi sọ và tin tưởnggiao cho việc cai quản và đàn ỏp tự nhõn, khi cú điều kiện tranh thủ vận động nhõn dõnquanh nhà lao và đồng bào trong vựng

Thất bại liờn tiếp trong việc cai quản và lợi dụng cụng sức của tự chớnh trị vàoxõy dựng Đại lý Đắk Mil, trọng tõm là khai thỏc sức tự vào làm lũ gạch, nhận thấykhụng thể đày ải tự nhõn, những chiến sĩ cộng sản kiờn cường tại ngục Đắk Mil đượclõu hơn nữa, cuối năm 1943, thực dõn Phỏp đó chuyển toàn bộ số tự nhõn ở đõy về Nhàđày Buụn Ma Thuột và cho phỏ Nhà ngục Đắk Mil

Thất bại của thực dõn Phỏp ở Đắk Mil chứng tỏ rằng, chớnh sỏch khủng bố cực

kỳ dó man của kẻ thự khụng thể ngăn trở được bước tiến của cỏch mạng mà trỏi lại, nhưlửa thử vàng, rốn luyện người tự cộng sản càng thờm vững vàng, bền gan quyết chớ đấutranh đến thắng lợi cuối cựng Ngục Đăk Mil chớnh là “gậy ụng đập lưng ụng”, chớnhnơi xa xụi hẻo lỏnh của ngục Đăk Mil đó nhúm lờn ngọn lửa cỏch mạng của Đảng tađầu tiờn ở Đăk Mil Ngọn lửa cỏch mạng đú đó lan truyền cho những phong trào, nhữngthắng lợi to lớn của vựng Đăk Nụng trong những giai đoạn kế tiếp

Từ cuối năm 1943, những chiến sĩ cỏch mạng từ Nhà ngục Đắk Mil bị thực dõnPhỏp đưa về giam ở nhà đày Buụn Ma Thuột, phỏt huy kinh nghiệm, truyền thống đấutranh và bản lĩnh cỏch mạng kiờn cường đó được “thử lửa” ở địa ngục trần gian ĐắkMil, tiếp tục tổ chức với cỏc hỡnh thức đấu tranh, tỏa sỏng trong cuộc đấu tranh của cỏc

tự nhõn trong nhà đày Buụn Ma Thuột, gúp phần tạo nờn một đội ngũ cỏn bộ cốt cỏn,kiờn trung, được trải nghiệm trong đấu tranh cỏch mạng, để cựng toàn dõn tộc làm nờnthắng lợi của cỏch mạng Thỏng Tỏm 1945 vĩ đại11

8 Dẫn theo sỏch Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Nụng, 1930-2005, tr 47 Một số tài liệu như tài liệu “Cục hồ sơ nghiệp

vụ An ninh của Tổng cục An ninh Số 1660/A27 (P3), 1662/A27 (P3) ngày 26/5/2005” Lưu tại Bảo tàng tỉnh Đắk Nụng thỡ đồng chớ Nguyễn Tạo vượt ngục thành cụng vào đờm 04 rạng 05-12-1942.

9 Đồng chí Nguyễn Tạo và Trơng Vân Lĩnh sau đó ra tới Việt Bắc, đợc giao nhiệm vụ tổ chức trờng quân sự của

Xứ ủy Bắc Kỳ Đến 18-9-1944, đồng chí Trơng Vân Lĩnh bị bắt ở Thái Nguyên, giam tại Hoả Lò, Hà Nội, mất ngày

23-11-1945 Đồng chí Trần Ngọc Oánh về hoạt động ở vùng Thanh Chơng, Nghệ An, hy sinh tháng 3-23-11-1945 Đồng chí Chu Huệ

về hoạt động ở Nghệ An, Hà Tĩnh, đến 1943 bị bắt đày trở lại Buôn Ma Thuột, đến 4-1945 đợc thả ra, về hoạt động tại Nghệ An.

10 Dẫn theo sỏch Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Nụng, 1930-2005, tr 48 Một số tài liệu như tài liệu Phụ bản kốm phiếu gửi số 2350/SP-C ngày 18/03/1943 của Sở Mật thỏm Trung Kỳ Lưu tại Bảo tàng tỉnh Đắk Nụng, ghi ngày 08/02/1943 diễn ra cuộc vượt ngục lần 2

Trang 18

Công tác tuyên truyền vận động và đặc biệt là những tấm gương đấu tranh kiêncường, bất khuất của những chiến sĩ cộng sản đã cảm hoá và giáo dục trước hết lànhững người trực tiếp tiếp xúc với tù nhân, qua họ hoặc khi có điều kiện trực tiếp tácđộng với nhân dân, đồng bào các dân tộc Cuối năm 1944, chi bộ nhà đày Buôn MaThuột xây dựng được một số cơ sở trong hàng ngũ lính khố xanh người M’Nông vàÊđê Với âm mưu chia rẽ khối đoàn kết Kinh - Thượng, thực dân Pháp ở Tây Nguyên

đã sử dụng lính khố xanh người dân tộc thiểu số để canh giữ những tù cộng sản ngườiKinh, song do nhờ sự tuyên truyền khôn khéo của các chiến sĩ cộng sản nên nhiều línhkhố xanh là người M’Nông, Êđê lại có cảm tình với cách mạng và được các chiến sĩcộng sản tuyên truyền, vận động đứng hẳn về phía Mặt trận Việt Minh Hàng trăm binhlính của Pháp và hàng ngàn quần chúng là người M’Nông, Êđê, Gia Rai trên địa bànĐắk Lắk tích cực tham gia cách mạng, trở thành lực lượng nòng cốt cho cuộc tổng khởinghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sảnĐông Dương

Bước sang năm 1945 tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biếnthuận lợi cho phong trào cách mạng ở Đông Dương Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn,ngày 9-3-1945, phát xít Nhật tiến hành đảo chính, thay thế thực dân Pháp cai trị ĐôngDương Đảng ta xác định kẻ thù trực tiếp, trước mắt của nhân dân Đông Dương là phátxít Nhật và tay sai Tháng Tám năm 1945, sau khi đánh bại phát xít Đức, Liên Xô tuyênchiến với phát xít Nhật và trong vòng một tuần lễ, đánh tan đạo quân Quan Đông thiệnchiến hơn một triệu tên của Nhật Giờ tận số của phát xít Nhật đã đến Ngày 14-8-1945,Nhật hoàng phải tuyên bố đầu hàng Đồng Minh và Liên Xô không điều kiện

Tại Đông Dương, tinh thần lực lượng quân đội Nhật suy sụp, chính quyền tay saihoang mang cực độ Thời cơ tổng khởi nghĩa đã đến Trung ương Đảng và Uỷ ban Mặttrận dân tộc giải phóng ra lệnh tổng khởi nghĩa toàn quốc, giành chính quyền về taynhân dân

Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương raChỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phát động cao trào khángNhật cứu nước trên cả nước

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, theo chủ trương của Trung ương Đảng, cũng nhưcác địa phương trong cả nước, phong trào cách mạng ở Đăk Lăk nói chung, trên địa bànĐăk Nông nói riêng bước vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, đẩy mạnh cao trào kháng Nhật

11

Một trong những tù nhân chính trị đã từng bị giam ở Nhà đày Đắk Mil, sau khi ra tù, đã trở thành cán bộ nòng cốt và có đóng góp quan trọng cho sự nghiệp cách mạng đó là đồng chí Trần Hữu Dực Năm 1945, ông được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa và sau đó trở thành Chủ tịch ỦBND dân tỉnh đầu tiên của Quảng Trị sau Cách mạng Tháng Tám Sau tháng 8 năm 1945, ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Cánh mạng lâm thời Trung Bộ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Trung Bộ Năm 1947 ông được bổ sung vào BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa I Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, ông được Đảng và N hà nước giao nhiều trọng trách: Đổng lý sự vụ Bộ Nội Vụ; Ủy viên Trung ương Đảng, Đảng đoàn Chính phủ; Chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Trung ương…; Phó Thủ tướng Chính phủ Ông mất vào ngày 21-8-1993 Câu nói nổi tiếng của Ông:

Của cải như không khí.

Cảnh vật như thần tiên.

Con người như thánh hiền

Mới xây dựng được lý tưởng Cộng sản

(Xem hồi ký “Bước qua đầu thù” của Trần Hữu Dực).

Trang 19

cứu nước, chuẩn bị mọi điều kiện tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền Chi bộ cộngsản và các tổ chức cách mạng trong nhà đày Buôn Ma Thuột chủ trương tăng cườngcông tác tuyên truyền, giải thích đường lối, nhiệm vụ cách mạng, tiếp tục xây dựng cơ

sở cách mạng, chống lại những luận điệu tuyên truyền phản động của phát xít Nhật vàtay sai

Ngày 23-8-1945, tại huyện lỵ Đắk Mil (Đức Lập cũ) trong cuộc mít tinh củađông đảo quần chúng nhân dân trên địa bàn, đại diện Mặt trận Việt Minh huyện tuyên

bố xóa bỏ chính quyền tay sai bù nhìn, thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời huyện

15 giờ ngày 24 tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các Chi bộĐảng, 3.000 quần chúng cách mạng và gần 500 binh lính có vũ trang người M’Nông,Êđê, Gia Rai đã đi theo cách mạng, từ các địa phương nhân dân đã hăng hái tham giavào cuộc mít tinh, biểu tình lớn lật đổ chính quyền thực dân, phong kiến ở thị xã Buôn

Ma Thuột Đại diện mặt trận Việt Minh tỉnh tuyên bố xóa bỏ chính quyền tay sai phảnđộng của phát xít Nhật và thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân lao động, kêugọi các tầng lớp nhân dân trong tỉnh ủng hộ chính quyền, tham gia xây dựng cuộc sốngmới Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại Thị xã Buôn Ma Thuột thành công

Tại các huyện, buôn, bon trong tỉnh Đắk Lăk trong đó có nhiều địa phương thuộctỉnh Đắk Nông ngày nay như Đắk Song, Đắk Mil, Krông Nô, … dưới sự lãnh đạo củacán bộ, hội viên Việt Minh, nhân dân đứng lên giành chính quyền thắng lợi

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công tại Đắk Lắk và trên địa bàn tỉnh ĐắkNông nói riêng, góp phần vào thắng lợi chung của nhân dân cả nước Thắng lợi này làkết quả cụ thể của cả một quá trình tuyên truyền, vận động của các chiến sĩ cách mạng,các đảng viên thuộc hai chi bộ nhà đày Buôn Ma Thuột và nhà ngục Đắk Mil, là sự giácngộ và tích cực hưởng ứng cao trào cách mạng do Đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của Mặttrận Việt Minh

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, trong không khí phấn khởicủa những ngày đầu độc lập, cùng với đồng bào các dân tộc anh em trong cả nước,đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã bắt đầu một cuộc sống mới củangười dân sống trong một nước độc lập, tự do; hăng hái tham gia thực hiện các chủtrương của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên các lĩnh vực củađời sống xã hội

Nhân dân các dân tộc trên địa bàn Nâm Nung cùng nhân dân trong tỉnh Đăk Lăkhăng hái tham gia xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng từ cấp huyện, tổng đếncác buôn, bon, thực hiện các chương trình của Mặt trận Việt Minh, bảo vệ chính quyềncách mạng, giữ gìn trật tự trị an, trừng trị bọn phản động Nhiều cơ sở cách mạng trênđịa bàn được tham dự các lớp đào tạo cán bộ do Việt Minh tỉnh, huyện tổ chức, sau khikết thúc các lớp học đã trở về các buôn làng để xây dựng, củng cố chính quyền và cácđoàn thể cách mạng cấp cơ sở, vận động nhân dân tham gia hạ đài kỷ niệm H.Maitre vàxây dựng đài kỷ niệm N’Trang Lơng ở vùng ba ranh giới và góp phần xây dựng đàitưởng niệm các chiến sĩ cách mạng đã hy sinh tại nhà ngục Đắk Mil và nhà đày Buôn

Ma Thuột; xây dựng và phát triển các tổ chức đoàn thể quần chúng như Hội Thanh niêncứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc…

Đồng bào dân tộc M’Nông, Êđê trên địa bàn tỉnh cùng cả nước hưởng ứng lờikêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát động phong trào tăng gia sản xuất, thực hànhtiết kiệm, có nhiều cải tiến kỹ thuật làm nương rẫy, tổ chức làm ruộng lúa nước, tập kéo

Trang 20

cày bằng sức trâu bò, tổ chức đánh cá, săn bắt để cải thiện thêm đời sống nhân dân.Chính quyền cách mạng bãi bỏ các thứ thuế của chế độ thực dân phong kiến như thuếthân, thuế voi và các chế độ sưu dịch nặng nề Đồng thời, tổ chức bán muối, gạo chonhân dân, trao đổi hàng hóa, chủ yếu là nông, lâm, thổ sản đưa về miền xuôi buôn bán,trao đổi hàng hoá đem về phục vụ lại nhân dân địa phương

Làm theo lời Bác, cùng cả nước thi đua diệt giặc dốt, nhân dân Nâm Nung và cácvùng lân cận trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk tích cực hưởng ứng phong trào bình dân học vụ,xóa nạn mù chữ Các tàn tích của thực dân để lại được vận động xoá bỏ Cán bộ cáctrạm y tế đã xuống tận các tổng, thôn, buôn để phục vụ, chăm sóc sức khỏe ban đầu chonhân dân

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, Đảng bộ và chính quyềncách mạng tỉnh, huyện, nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã phát huynhiệt tình cách mạng, bước đầu thực hiện có kết quả một số nhiệm vụ cả về chính trị,kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, góp phần vào thắng lợi chung của phong trào cách mạngcủa nhân dân Tây Nguyên

Thời gian này, chính quyền cách mạng tỉnh Đắk Lắk đã vận động được nhiềunhân sỹ, trí thức, công chức và cả các vị chỉ huy binh lính người dân tộc của Pháp như

Y Bih Alêô, Y Blốc ÊBan, Y Blô, Y Wang, Y Ngông… tham gia chính quyền cáchmạng càng làm tăng thêm niềm tin của nhân dân trong tỉnh vào chế độ mới Tháng 10năm 1945, nhằm thực hiện các chủ trương tăng cường hơn nữa đoàn kết các dân tộc, tạiBuôn Ma Thuột, Uỷ ban Hành chính miền Nam Trung Bộ tổ chức “Hội chợ liên hoanđoàn kết giữa các dân tộc”, nhân dân trên địa bàn hăng hái tham dự trong không khí sôiđộng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết Kinh - Thượng

Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Tây Nguyên nói chung, ĐắkLắk nói riêng là thắng lợi của việc thực hiện sáng tạo đường lối giương cao ngọn cờ độclập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống thực dân đế quốc và chống phongkiến, đoàn kết các lực lượng yêu nước trên cả nước, đoàn kết các dân tộc, trên nền tảngliên minh công nông nên đã dẫn tới cuộc nổi dậy đồng loạt của toàn dân Đó là thắnglợi của tinh thần cách mạng tiến công, kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị củaquần chúng với đấu tranh chính trị là chủ yếu với đấu tranh vũ trang, kết hợp giữa nôngthôn - thành thị - miền núi, đánh giá đúng tình hình cụ thể của địa phương, nhạy bénnắm và hành động đúng thời cơ, tập trung đánh vào cơ quan đầu não của địch Vớithắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân Tây Nguyên càng củng cố hơn nữalòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, càng nhận thức sâu sắc là chỉ có một lòng một dạ đitheo con đường cách mạng do Đảng vạch ra mới thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than, tiến tớigiải phóng đất nước, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc

3 Cùng cả nước tiếp tục cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)

Không khí hoà bình bước vào xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới trên cả nướcnói chung và ở Tây Nguyên nói riêng kéo dài không được bao lâu thì nhân dân trên địabàn Tây Nguyên đã phải cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Phápxâm lược lần thứ hai

Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, bên cạnh những thuận lợi rất cơbản, cách mạng nước ta phải đứng trước nhiều khó khăn thử thách, cùng lúc phải đốiphó với cả thù trong giặc ngoài, vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc”, trước

Trang 21

nguy cơ xâm lược của không chỉ một kẻ thù: Quân Tưởng Giới Thạch đã tiến hành cáchoạt động quân sự, chính trị nhằm lật đổ Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủcộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, quân Anh đã vào nước ta để giải giápquân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, mở nhà tù giải thoát cho tù binh Pháp, lôi kéotàn quân Nhật vào việc chống phá cách mạng nước ta Núp sau quân Anh, thực dânPháp đã nổ súng tiến công lực lượng của ta tại Sài Gòn - Chợ Lớn, mở đầu cuộc chiếntranh xâm lược nước ta lần thứ hai

Để xâm lược nước ta lần thứ hai, quân Pháp đổ bộ lên đánh chiếm Nha Trang, BaNgòi Ngày 15 tháng 11 năm 1945, đánh chiếm Di Linh thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng

và Đà Lạt thuộc tỉnh Lâm Viên Tỉnh Đắk Lắk đã rơi vào tình thế bị quân Pháp bao vây

từ ba phía: Nha Trang ở phía Đông, Thủ Dầu Một ở phía Nam, và Stung Treng, Kratie(thuộc Campuchia) ở phía Tây

Trước tình hình đó, biết chắc quân Pháp sẽ tiến đánh Đắk Lắk theo Đường 14 từĐông Nam qua, theo đường 26 từ Nha Trang lên, hoặc theo hướng Đông Bắc từCampuchia qua, Ban Lãnh đạo của tỉnh Đắk Lắk đã gấp rút huy động lực lượng củaquân và dân các dân tộc trong tỉnh xây dựng phòng tuyến và bố trí lực lượng trên cácmặt trận tiền tiêu để ngăn chặn các mũi tiến quân của địch tại ngã ba ranh giới và ở đèoPhượng Hoàng - M’Drăk Những ngày tiếp theo, địch ồ ạt tiến công tái chiếm cả mộtvùng rộng lớn thuộc địa bàn Đắk Mil trong đó có Nâm Nung Đến ngày 06 tháng 12năm 1945, Buôn Ma Thuột rơi vào tay địch

Trong lúc quân địch đang nhanh chóng mở rộng vùng tái chiếm, trên cơ sở nhậnđịnh tình hình giữa địch và ta, thực hiện chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” của Trungương Đảng, Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk chủ trương đi sâu vào các huyện xã, buôn làng, phátđộng một phong trào toàn dân kháng chiến trên địa bàn toàn tỉnh, tích cực tuyên truyền,vận động thanh niên tự nguyện gia nhập quân đội cách mạng, khẩn trương củng cố vàtăng cường các phòng tuyến dọc đường 14, đường 26 kéo dài để bao vây kìm chân làmchậm bước tiến quân của địch ra vùng nông thôn miền núi; đưa ngay một số đội côngtác trở lại các vùng địch mới chiếm ở Đắk Mil, Lắk để nắm lại quần chúng, xây dựngchính quyền, phát động nhân dân tổ chức du kích đánh địch12; đẩy mạnh công tác củng

cố, xây dựng chính quyền và các đoàn thể cứu quốc cấp huyện, xã; tổ chức các đội vũtrang công tác vào địa bàn phía Nam (tức là địa bàn Krông Nô, Krông Ana, Đắk Mil,

…) để nắm lại dân, nắm lại cơ sở, phát động đồng bào M’Nông, Êđê đứng lên đánhgiặc giữ làng, đồng thời chuẩn bị các điều kiện vật chất, tinh thần để tổ chức thành côngcuộc tổng tuyển cử đầu tiên bầu cử Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòatheo đúng ngày, giờ quy định của Trung ương Đảng và Chính phủ

Ngày 06 tháng 01 năm 1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa được tổ chức trên địa bàn cả nước Tuy nằm trong vùngđịch tạm chiến của thực dân Pháp, song đồng bào M’Nông, Êđê trên địa bàn tỉnh ĐắkLắk đã hăng hái đi bầu cử Quốc hội Cuộc bầu cử diễn ra rất linh hoạt và tự nhiên, aibiết chữ thì viết, ai chưa biết chữ thì bỏ phiếu bằng hạt đậu, hạt ngô, hoặc bằng cách giơtay Cuộc bầu cử Quốc hội đã thành công tốt đẹp Hai đại biểu người dân tộc thiểu sốTây Nguyên là ông Y Ngông Niê Kdăm và Y Wang MLô Du đã được bầu vào Quốchội nước Việt Nam Dan chủ cộng hòa khóa I

12 Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, tập 1, 1986, tr56

Trang 22

Những ngày bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đã trở thành cuộcvận động chính trị rộng lớn của toàn thể nhân dân Đồng bào dân tộc M’Nông, Êđê ởNâm Nung và Đắk Lắk đã thể hiện tinh thần làm chủ đất nước, ý thức rõ hơn quyền lợi

và trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và bảo vệ nước nhà độc lập Thắng lợicủa cuộc tổng tuyển cử trên địa bàn là biểu hiện của sự gắn bó, tin tưởng của đồng bàocác dân tộc nơi đây vào Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày 19 tháng 4 năm 1946, Đại hội các dân tộc thiểu số ở miền Nam được tổchức tại Pleiku Phát huy tinh thần đại hội, nhân dân trên địa bàn tỉnh ngày càng giácngộ cách mạng, tích cực đóng góp sức người sức của cho công cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp xâm lược như đóng góp nhân công, bất hợp tác với địch, đào hầm chông,tham gia rào làng chiến đấu, lợi dụng việc chống thú dữ để đào hố chông, đặt cạmbẫy… ở nhiều nơi và quanh buôn làng nhằm chống những cuộc lùng sục, càn quét củaquân Pháp và gia nhập dân quân du kích, bộ đội địa phương nhằm góp phần vào côngcuộc kháng chiến

Ngày 27 tháng 6 năm 1946, sau khi tái chiếm Đắk Lắk và các tỉnh khác ở TâyNguyên, cao ủy Pháp tại Đông Dương D’Argenlieu đã ký ngay sắc lệnh hợp nhất cáctỉnh Đắk Lắk, Pleiku, Kontum, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành một Liên bang tựtrị do thực dân Pháp trực tiếp phụ trách

Trong tình thế không thể hòa hoãn với thực dân Pháp, chiều ngày 19 tháng 12năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” Làmtheo lời Bác, tại Đăk Lăk, tháng 3 năm 1947, Trung đoàn N’Trang Lơng được thànhlập, trong đó phần lớn các chiến sĩ là con em các dân tộc Tây Nguyên Sau ngày thànhlập, Trung đoàn đã phối hợp với các đội vũ trang công tác tiến sâu vào địa bàn huyệnĐắk Mil, các địa phương khác để xây dựng các cơ sở cách mạng Nhiều thanh niênngười M’Nông, Êđê đã hăng hái tham gia dân quân du kích, canh gác buôn làng và tòngquân gia nhập các lực lượng vũ trang cách mạng

Tháng 9-1947, đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ, đồngchí Phạm Văn Đồng quyết định thành lập khu XV (gồm 5 tỉnh Tây Nguyên, trong đóĐắk Nông vẫn thuộc tỉnh Đắk Lắk) để chỉ đạo trực tiếp công tác xây dựng cơ sở, pháttriển chiến tranh ở vùng địch chiếm

Tháng 10 năm 1948, theo chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ, Khu

V, Khu VI và Khu XV (gồm 5 tỉnh Tây Nguyên) đã hợp nhất thành Liên khu V Từđây, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Tây Nguyên phát triển nhanh chóng hơn.Nhiều trận đánh của lực lượng vũ trang Liên khu V nổ ra, gây cho quân Pháp những tổnthất nặng nề, tạo cơ sở để quân và dân Tây Nguyên bước vào các chiến dịch có qui môlớn Đặc biệt, trong chiến dịch Nguyễn Huệ (1950), quân, dân Đắk Lắk và Tây Nguyên

đã giành được thắng lợi to lớn, tiêu diệt hơn 100 tên địch và làm bị thương nặng 50 tên,bắt sống 03 sỹ quan Pháp, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự, đặt nền móng cho việcxây dựng các căn cứ địa và các cơ sở cách mạng trong vùng địch hậu trên địa bàn ĐắkMil, trong đó có Nâm Nung

Tháng 3 năm 1950, Ban cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk tổ chức hội nghị, đề ra nhiệm

vụ phát triển các cơ sở vùng địch hậu phía Tây đường 14, tiến vào vùng Nâm Nung,Bản Đôn… để liên lạc với miền Đông Campuchia và thành lập Ban cán sự Đảng trênđịa bàn Đắk Mil Thực hiện nhiệm vụ đặt ra, đội vũ trang tuyên truyền VT3-24 đã đượcthành lập do đồng chí Y Blók ÊBan làm đội trưởng, đồng chí Trần Phòng (Bảy Biên)

Trang 23

làm đội phó, đồng chí Trần Quốc Lợi làm chính ủy viên Thời gian đầu, đội đã lấy bonJok Du (thuộc khu vực suối Đắk Đ’rouk - căn cứ Bắc Nâm Nung sau này) làm địa bànhoạt động, tăng gia sản xuất Trên cơ sở đó, hoạt động mở rộng địa bàn, tuyên truyềnđường lối chủ trương, chính sách của Đảng, quảng bá rộng rãi trong quần chúng đặcbiệt là đồng bào các dân tộc trong vùng Với việc kiên trì vận động giác ngộ quầnchúng và việc chấp hành đúng đắn chính sách dân tộc của Đảng, với tinh thần chânthành đoàn kết, thương yêu, cán bộ cơ sở đã làm cho đồng bào nhân dân từ chỗ bị địchtuyên truyền xuyên tạc, nghi ngờ, lẩn tránh chuyển dần thành mến phục, tin yêu Nhữngthành kiến hằn thù giữa các dân tộc do kẻ địch cố tình gây ra dần dần được xóa bỏ.Ngọn lửa căm thù của đồng bào các dân tộc đã được hướng đúng mục tiêu Đây làthắng lợi quan trọng nhất, là sức mạnh to lớn nhất và là nhân tố cơ bản trong việc đẩymạnh cuộc kháng chiến ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên và nhân dân căn cứ NâmNung.

Cũng từ năm 1950, Trung ương Đảng chủ trương chuyển sang giai đoạn tổngphản công Không khí cách mạng trên địa bàn căn cứ Nâm Nung hòa cùng không khísôi động của các tỉnh Tây Nguyên, các cơ sở cách mạng đã được xây dựng trong cácbuôn, bon người M’Nông, Êđê Phong trào chống xâu, chống thuế lên cao, đặc biệt làphong trào diệt ác, trừ gian trên địa bàn đã gây tác động mạnh mẽ đối với bọn tề, ngụytại địa phương Trong giai đoạn chuyển sang tổng phản công địch, các đoàn thể quầnchúng như Thanh niên, Phụ nữ ở Nâm Nung được tổ chức xây dựng và phát triển Một

số cuộc đấu tranh trực diện với địch đã nổ ra Qua các cuộc đấu tranh này, ta đã lựachọn được hàng ngũ cốt cán đưa vào đào tạo nhằm tăng cường cán bộ cho các cơ sở xã,buôn, bon trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.Tại đây, một trung đội du kích được thành lập (tuyển chọn một số thanh niên ngườiM’Nông), vận động nhân dân rào làng chiến đấu, đưa một số buôn làng đấu tranh bấthợp pháp với tề ngụy ở địa phương Lực lượng vũ trang bí mật đã hỗ trợ đắc lực chocác cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân Trước khí thế cách mạng và sự hoạt độngkiên trì, táo bạo và khéo léo của đội VT3-24, nhiều tên vốn là lính của Pháp tham giatrong hệ thống chính quyền thực dân tại Nâm Nung đã được cách mạng cảm hóa, từ bỏcon đường làm tay sai cho giặc, đi theo cách mạng; nhiều người dân ở địa phương trênđịa bàn Đắk Mil đã hy sinh để bảo vệ đội, như Y Muôn Blô bị giặc Pháp bắt đem rađường 14 chặt hết chân tay vẫn không một lời khai về nơi đội VT3-24 đóng quân, nữ dukích H’Mai chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và hy sinh bên bờ suối Đắk Đam để bảo

vệ đội, …

Đến cuối năm 1950, cơ sở cách mạng được mở rộng ra 5 xã (Đắk Lô, Đắk Đam,Đắk La, Đắk Sua, buôn Bu Róa) 5 chi bộ đảng đầu tiên ở Đắk Mil được xây dựng Cáccăn cứ lớn dược hình thành và tạo một mạng lưới liên kết giữa lực lượng chiến đấu củaĐắk Mil với lực lượng hoạt động ở địa bàn Đông Campuchia Các cơ sở ở 5 xã xây dựnđược lực lượng du kích, đào hầm chông, cài bẫy đá, rào buôn để chống địch; cùng một

số buôn cơ sở khác tiến hành bất hợp tác với địch

Giữa năm 1951, cơ quan tiền phương của tỉnh Đắk Lắk do đồng chí Lê Vụ - Phó

Bí thư ban cán sự trực tiếp lãnh đạo công tác xây dựng cơ sở ở huyện Đắk Mil Cùngvới cán bộ cơ sở, đội vũ trang tuyên truyền VT3-24 quay trở lại Đắk Mil hoạt động Từcuối năm 1951, đầu năm 1952, trên địa bàn Nâm Nung đã hình thành các tổ chức cơ sởĐảng Cụ thể như bon Đăk Prí có 07 đảng viên do đồng chí Ama Beo làm Bí thư, bonRcập có 04 đảng viên do đồng chí Y Lớ làm Bí thư, bon Jriah có 04 đảng viên do đồng

Trang 24

chí Ama Hing làm Bí thư Tháng 4 năm 1952, thực hiện chủ trương chung của Đảng,dưới sự lãnh đạo của Ban cán sự Đảng tỉnh Đăk Lăk, các tổ chức cơ sở Đảng trên địabàn Nâm Nung đã thực hiện tốt đợt chỉnh Đảng, chỉnh quân lần đầu tiên nhằm làm chomọi chiến sỹ và đảng viên nhận rõ tính chất toàn dân, toàn diện, trường kỳ, gian khổnhưng nhất định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Đội vũtrang tuyên truyền VT3.24 và các tổ chức cơ sở đảng tại Nâm Nung đã hạ quyết tâmphải bám đất, bám dân, gây cơ sở cách mạng trong lòng địch, phát động chiến tranh dukích và hỗ trợ phong trào nổi dậy đấu tranh chống địch của đồng bào các dân tộc tại địaphương Các đồng chí đảng viên, các chiến sỹ đội vũ trang tuyên truyền đã tự nguyệnhọc tiếng M’Nông, Êđê, thực hiện đóng khố, xăm tai, mang gùi, để tóc dài, hòa mìnhvào quần chúng để hoạt động và che mắt địch Các chi bộ hoạt động tại vùng NâmNung nhắc nhở các cán bộ, đảng viên và chiến sỹ hoạt động ở địa phương phải chú ýtìm hiểu về phong tục, tập quán của các dân tộc tại địa phương Nhiều tấm gương cán

bộ tiêu biểu như các đồng chí Nguyễn Tùy (Năm Tùy), Lê Văn Cát (Ba Đạo)… đã kiêntrì học tiếng M’Nông, Êđê, cùng ăn cháo chua, đóng khố, cùng phát rẫy với đồng bào ởcác buôn làng, qua đó tuyên truyền, vận động, giác ngộ quần chúng, xây dựng và pháttriển các cơ sở cách mạng ở trong vùng

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta ngày càng phát triển đã đẩy quân Pháp ngàycàng rơi vào thế bị động, lúng túng trên các chiến trường Trong tình hình đó, tháng 5năm 1953, Chính phủ Pháp cử tướng Nava sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinhPháp tại Đông Dương với hy vọng cứu vớt danh dự cho nước Pháp Na-va vạch ra một

kế hoạch quân sự mang tên “Kế hoạch Na-va” với tham vọng trong vòng 18 tháng sẽtạo ra một cục diện chiến trường có lợi thế cho Pháp Riêng trên chiến trường Liên khu

V, theo “Kế hoạch Na-va”, quân Pháp mở "Chiến dịch Át-lăng" nhằm tấn công toàndiện vào Tây Nguyên và vùng tự do của ta trên toàn Liên khu Na-va đặt hy vọng vàochiến dịch này Theo các tướng lĩnh Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ, thành bại củachiến dịch Át-lăng sẽ quyết định một phần quan trọng toàn bộ “Kế hoạch Na-va” củathực dân Pháp và can thiệp Mỹ

Tháng 11 năm 1953, Trung ương Đảng chính thức đề ra nhiệm vụ cho Liên khu

V là phải ra sức tiêu diệt sinh lực địch, phá tan chiến dịch Át-lăng, mở rộng căn cứ, bảo

vệ vùng tự do, phối hợp đắc lực với chiến trường chính theo hướng tích cực và mạnhdạn phát triển lực lượng vào Tây Nguyên, đồng thời tiếp tục củng cố vùng tự do củaLiên khu Trung ương Đảng nhấn mạnh: Đối với chiến trường Liên khu V nhiệm vụphát triển vào Tây Nguyên phải coi là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất và nhiệm vụ củng

cố vùng tự do phải coi là nhiệm vụ quan trọng thứ hai

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, vào tháng 12 năm 1953, Hội nghị Liênkhu ủy V và Đảng ủy Bộ tư lệnh Liên khu V đã quyết định tập trung toàn bộ lực lượng

bộ đội chủ lực của ta tiến công quân Pháp ở Tây Nguyên, đồng thời đẩy mạnh chiếntranh du kích, gây rối hậu phương của chúng trên địa bàn toàn liên khu

Trên đà phát triển của cách mạng cả nước nói chung và Tây Nguyên nói riêng,quân và dân tại căn cứ Nâm Nung bước vào cuộc tổng tiến công chiến lược Đông -Xuân 1953 - 1954 với một khí thế mới Ban cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk tiến hành phâncông, bố trí các đội vũ trang tuyên truyền xúc tiến việc phát động chiến tranh du kíchtrong lòng địch, kết hợp với binh vận để phá kế hoạch tăng cường bắt lính của chúng.Nhiều cán bộ quân dân chính của tỉnh và của huyện đã được tăng cường về hoạt độngtại Nâm Nung

Trang 25

Các tổ chức cơ sở Đảng, các lực lượng vũ trang và tổ chức quần chúng ở NâmNung thực hiện nhiệm vụ cụ thể lúc này là: Khẩn trương xây dựng tổ du kích tại buôn,bon, tổ chức huấn luyện cho du kích, xây dựng buôn làng chiến đấu; phối hợp nhịpnhàng với mặt trận phía trước, các tổ chức công tác tuyên truyền vũ trang bám chắc vàocác buôn làng người M’Nông, Êđê, tổ chức cho quần chúng đấu tranh chống địch cànquét, vận động binh lính chống lệnh đi càn hoặc tìm cách báo cho các cơ sở cách mạngtại chỗ của ta biết trước được kế hoạch càn quét của chúng để du kích địa phương phụckích đánh địch.

Cùng với khí thế của cả nước, phong trào cách mạng ở Tây Nguyên nói chung,vùng Nâm Nung nói riêng càng về cuối chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954 càng pháttriển mạnh mẽ Phong trào diệt ác, phá kìm của ta càng phát triển mạnh hơn trước Cácđại đội độc lập, đại đội tăng cường của Tỉnh đội Đắk Lắk đã bám đánh địch trên cáctuyến đường lớn và tấn công các đồn bót của chúng đóng trên địa bàn nhằm phối hợpvới chiến trường trong toàn Liên khu V và cả nước đưa cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp đi đến thắng lợi Phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân các dân tộc dướicác hình thức đấu tranh như đòi chồng, con bị giặc bắt đi lính trở về với gia đình, …càng làm cho tinh thần của binh lính ngụy thêm hoang mang, dao động và rệu rã Giảiphóng được đến đâu, cán bộ, đảng viên của ta bắt tay ngay vào việc xây dựng chínhquyền cách mạng tới đó, vì vậy vùng giải phóng của ta ngày càng được mở rộng

Ngày 07 tháng 5 năm 1954, trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ kết thúcthắng lợi Tướng Đờ Cát-tơ-ri cùng Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm của Pháp tại ĐiệnBiên Phủ đã phải giơ cờ trắng đầu hàng Tin chiến thắng Điện Biên Phủ nhanh chóngbay về Tây Nguyên, động viên quân và dân Tây Nguyên, trong đó có quân và dân NâmNung đánh giặc, góp phần cùng cả nước đẩy mạnh tiến công, tiêu diệt địch, giải phóngquê hương

Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dươngđược ký kết (ngày 21 tháng 7 năm 1954), cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và canthiệp Mỹ của quân và dân ta kết thúc thắng lợi Ở Tây Nguyên, các tổ vũ trang tuyêntruyền còn ở trong các buôn của đồng bào các dân tộc tại Nâm Nung nhanh chóngtuyên truyền về chiến thắng to lớn của dân tộc ta Nhân dân được tin chiến thắng củaquân ta ở Điện Biên Phủ đã vô cùng phấn khởi, tự hào

* *

*Phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần kiên cường bất khuất của anh hùngdân tộc trên địa bàn như N’Trang Gưh, N’Trang Lơng, … Từ khi Đảng Cộng sản ViệtNam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Tỉnh ủy lâm thời Đắk Lắk, Ban cán

sự Đảng tỉnh Đắk Lắk và các tổ chức Đảng chiến khu VI, sau đó là Liên khu ủy V, trựctiếp là Đảng ủy Bộ Chỉ huy Quân sự Nam Trung Bộ, nhân dân các dân tộc trên địa bàntỉnh Đắk Lắk (trong đó có địa bàn Nâm Nung) nhất tề hưởng ứng theo Đảng, khôngngừng đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cùng cả nước làm nên cuộc cách mạngTháng Tám năm 1945 thành công, mở ra cho nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnhĐăk Lăk trang sử mới, từ thân phận người nô lệ, nhân dân các dân tộc Đắk Lắk đã trởthành những người chủ của đất nước, được sống trong không khí của những ngày độclập, tự do

Trang 26

Bảo vệ thành quả cách mạng tháng Tám 1945, chín năm chiến đấu mặt đối mặtvới kẻ thù nham hiểm, xảo quyệt, cuộc chiến đấu của quân và dân trên địa bàn căn cứNâm Nung cùng tỉnh Đắk Lắk và cả nước đã trải qua chặng đường vô cùng khó khăn,phức tạp, đầy gian khổ hy sinh Với một địa bàn được xem là nơi “rừng thiêng, nướcđộc”, một địa bàn với vô vàn những khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống cũng nhưchiến đấu, nhưng “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, quân và dân tỉnh Đắk Lắk luôn luônvững vàng kiên định trong lúc thắng lợi cũng như khi khó khăn, lúc cao trào cũng nhưlúc thoái trào Trong mọi hoàn cảnh, Đảng luôn gắn bó với dân, dân tin tưởng Đảng, đitheo Đảng, quyết chiến đấu vì lý tưởng của Đảng Do đó, dù kẻ thù có thâm độc, tànbạo, xảo quyệt đến đâu cũng không thể tách đảng viên ra khỏi quần chúng, không thểlàm cho quần chúng nhân dân dù có gian khổ, hy sinh cũng không xa rời Đảng, xa rờimục tiêu lý tưởng chiến đấu, đó là phẩm chất tốt đẹp và truyền thống vẻ vang của Đảng

bộ, quân và dân Tây Nguyên cũng như quân và dân trên địa bàn căn cứ kháng chiếnNâm Nung

Kháng chiến thắng lợi nhưng thắng lợi của chiến tranh còn chưa trọn vẹn, mộtnửa đất nước đã sạch bóng quân xâm lược, nhưng một nửa đất nước thân yêu vẫn chưađược giải phóng, nhân dân các dân tộc trên địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung tiếptục củng cố, phát huy vị thế chiến lược, từng bước trở thành căn cứ địa quan trọng,ngày càng được củng cố vững chắc Nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo, nơi đóngquân chiến đấu trong suốt 21 năm trường kỳ kháng chiến chống lại đế quốc Mỹ xâmlược của tỉnh Quảng Đức nói riêng và Tây Nguyên cùng toàn miền Nam nói chung

IV Phong trào đấu tranh trên địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (7/1954-1958)

1 Âm mưu và hành động của Mỹ - Diệm trên địa bàn Nam Tây Nguyên:

Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dươngđược ký kết Theo Hiệp định, lấy sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) làm giới tuyến quân sự,đất nước ta tạm thời chia làm hai miền: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạmthời chịu sự kiểm soát của địch Sau hai năm sẽ tổ chức hiệp thương tổng tuyển cửthống nhất đất nước Với yêu cầu của Hiệp định, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳmới phải đồng thời thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng miền Bắc đi lên chủnghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam,tiến tới thống nhất nước nhà

Với bản chất hiếu chiến và xâm lược, từ lâu đế quốc Mỹ đã âm mưu thôn tínhViệt Nam, ngày 7-7-1954, Mỹ vội nhảy vào thay thế, đưa Ngô Đình Diệm về nước lậpchính quyền thân Mỹ và cử tướng Côlin sang Việt Nam trực tiếp điều khiển Ngô ĐìnhDiệm phá hoại hiệp định Giơnevơ Được Mỹ đỡ đầu Ngô Đình Diệm tuyên bố xóa bỏHiệp định Giơnevơ cùng lời tuyên bố trắng trợn “không có hiệp thương tổng tuyển cử”

do “chúng không ký và không bị ràng buộc bởi hiệp định đó”

Đối với Tây Nguyên, địa bàn Đăk Lăk chiếm vị trí rất quan trọng cả về mặt quân

sự, kinh tế, chính trị, xã hội Vì thế chúng ra sức đầu tư xây dựng Đăk Lăk nói riêng,Tây Nguyên nói chung trở thành một trung tâm căn cứ quân sự cơ động và ra sức khaithác tiềm năng to lớn về kinh tế nhằm mục đích phục vụ cho kế hoạch xâm chiếm lâudài miền Nam Việt Nam và cả Đông Dương

Cuối năm 1954, Mỹ - Diệm áp dụng chế độ xâu thuế cũ của thời Pháp, bắt nộpthuế thân, đồng thời dùng chính sách mua chuộc, lừa mị đồng bào các dân tộc như đưa

Trang 27

hàng viện trợ Mỹ Địch gấp rút mở rộng đồn điền Đăk Mil, Đăk Song; cưỡng ép cáclinh mục và đồng bào theo đạo Thiên chúa miền Bắc di cư vào, lập ra các khu di cư ởĐức Minh, Đức Mạnh (Đăk Mil) Phát triển đạo Tin lành trong vùng dân tộc ít người đểtạo cơ sở chính trị xã hội cho chế độ Diệm Tại Kiến Đức, sau khi tiếp quản địa bàn,xác định đây là cửa ngõ phía Nam Tây Nguyên, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng,nên chính quyền Diệm càng chú trọng xây dựng nơi đây thành một cứ điểm bất khảxâm phạm.

Ngay sau đó Mỹ - Diệm cho tiến hành hàng loạt các hoạt động phá hoại hiệpđịnh, điển hình bắt đầu từ tháng 2-1955, Mỹ- Diệm cho thi hành chính sách “tố cộng,diệt cộng” với những thủ đoạn rất dã man, trắng trợn kết hợp với dụ dỗ, lừa bịp Vớiphương châm “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót” và đề ra đạo luật “đưa cộng sản ra ngoàivòng pháp luật”, đồng thời lê máy chém đi khắp miền Nam theo luật 10/59 v.v…Trênthực tế Mỹ - Diệm đang tiến hành cuộc chiến tranh “đơn phương” (một phía), nhằmtiêu diệt phong trào yêu nước của nhân dân miền Nam, chuẩn bị điều kiện và thời cơcho việc thực thi kế hoạch “Bắc tiến” đầy tham vọng của chúng

Tháng 3.1955, Diệm xóa bỏ chế độ “Hoàng triều cương thổ” (đất của vua) củavua Bảo Đại và lập ra Tòa đại diện Chính phủ tại Cao nguyên trung phần, trụ sở đóngtại Buôn Ma Thuột Tháng 6.1955 Ngô Đình Diệm ký ban hành chính sách “Kinh-Thượng đề huề - Quân dân nhất trí - Khai thác miền sơn cước”, chúng đưa bọn tay chân

mê hoặc được một số thanh niên ra làm “lễ tuyên thệ” ủng hộ thủ đoạn này, đích thânNgô Đình Diệm chủ trì buổi lễ Sau đó chúng cho phép bọn ngụy quyền, tướng tá quânđội ngụy khai thác đất đai ở các vùng trù phú, lập ra các đồn điền cà phê, cao su, độcquyền khai thác nông - lâm sản

Năm 1956, địch ra sức củng cố hệ thống tề ngụy ở cơ sở xã, buôn, bon, cho cáctoán gián điệp, biệt kích len lỏi vào vùng căn cứ của ta để thăm dò Dưới chiêu bài

“Thượng du vận”, ở những buôn, bon địch đã kiểm soát, chúng tổ chức nhiều cuộccưỡng ép đồng bào Êđê, M’Nông, phải khai báo những người tham gia cách mạng, chedấu, tiếp tế, nuôi dưỡng cán bộ cách mạng trước đây nhằm đánh vào cơ sở cách mạngcủa ta Chúng đưa các đoàn chiêu hồi, tâm lý chiến nấp dưới hình thức các đoàn vệsinh, y tế đi phun thuốc trừ muỗi, các lái buôn, để đi sâu vào tận các buôn làng ngườiThượng hoạt động dài ngày hòng tìm ra dấu vết cán bộ nằm vùng của ta trên địa bàntỉnh Trước tình hình đó, ở các buôn người Êđê, M’Nông tại Nâm Nung và các buôn,bon khác đã gây dựng được cơ sở cách mạng, được giác ngộ cách mạng phát động quầnchúng nhân dân không chịu lập tề - ngụy; không chịu thay đổi chủ bon (Kuang bon),nhiều buôn, bon che dấu cán bộ của đội công tác và các cơ sở cách mạng, bảo vệ lựclượng của ta

Đầu năm 1957, Mỹ - Diệm chuyển lên đánh phá miền núi, chúng triển khai chiếndịch “tố cộng” ra sức dồn dân miền núi vào các khu tập trung ở giáp ranh các tỉnh đồngbằng nhằm kiểm soát dân chặt chẽ hơn và đánh bật lực lượng cách mạng ra khỏi miềnnúi

Ngày 22.2.1957, nhằm mục đích khuếch trương cho chính sách khai thác TâyNguyên, Ngô Đình Diệm còn tổ chức Hội chợ triển lãm về kinh tế cao nguyên tại thị xãBuôn Ma Thuột để triển khai kế hoạch chiếm đoạt đất đai, rừng núi, bến nước của đồngbào dân tộc thiểu số, lập hệ thống các dinh điền Trong diễn văn, Ngô Đình Diệm đã lêntiếng kêu gọi nhân dân vùng đồng bằng hãy lên định cư ở cao nguyên để khai thác vùng

Trang 28

cao nguyên một cách nhanh nhất và nhiều nhất nhằm phục vụ cho công cuộc xâm lược

và thống trị của chúng Lời tuyên bố của Diệm tại Hội chợ đã mở đầu chiến dịch đưangười Kinh quê ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và một sốtỉnh ở Nam Bộ lên Tây Nguyên lập một số dinh điền Hàng chục vạn đồng bào ngườiKinh, phần lớn là những người kháng chiến cũ, phải rời bỏ quê hương làng xóm thânyêu của mình lên sống ở vùng “rừng thiêng nước độc” này.13

Đến tháng 5-1957, chính quyền Ngô Đình Diệm thông qua đạo luật “Đặt cộngsản ra ngoài vòng pháp luật, công khai hóa việc đàn áp cách mạng miền Nam ViệtNam” Ngoài ra Ngô Đình Diệm còn tiến hành một số hoạt động đưa một số chăn màn,quần áo, thuốc chữa bệnh, gạo, muối…lên viện trợ cho những vùng chúng thấy có thểquy thuận được Chúng tập trung đầu độc thanh thiếu niên, cho ăn chơi đua đòi để biến

họ thành những nhân viên chỉ điểm, mật vụ làm tay sai cho chúng

Diệm nhận định muốn khai hóa văn minh vùng dân tộc, phải xóa bỏ các luật tụccủa đồng bào các dân tộc như Luật sử dụng đất đai, luật hôn thú, luật tang lễ,…thay vào

đó là luật chung của chính quyền Ngô Đình Diệm Chúng bắt đồng bào thay đổi cáchmặc, đàn ông phải bỏ khố, đàn bà phải bỏ váy, mặc quần áo như người Kinh Để đàn ápcuộc đấu tranh của nhân dân, Diệm đưa một số đơn vị lính Nùng thuộc sư đoàn 5 từmiền Bắc vào vùng Đắk Mil để làm áp lực cho việc xây dựng hệ thống tề ngụy cácbuôn, bon xã người M’Nông, Êđê Nhưng các cơ sở cách mạng của ta ở địa phương đãvận động đồng bào Thượng bất hợp tác với địch nên chúng không sao lập được tề

Những hành động trên của Mỹ- Diệm đã làm tăng thêm mức độ trầm trọng và sâusắc của mâu thuẫn dân tộc giữa một bên là nhân dân miền Nam, bao gồm tất cả các dântộc, các tôn giáo, các đảng phái, với một bên là đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai củachúng

Có thể nói trong những năm từ 1954 – 1958, thực hiện chiến lược chiến tranhđơn phương ở Quảng Đức (Đăk Nông ngày nay) nói chung, trên địa bàn căn cứ khángchiến Nâm Nung nói riêng, Mỹ - Diệm đã triển khai nhiều âm mưu và kế hoạch trên tất

cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa… nhằm khống chế chặt chẽ đồngbào ta, đánh phá và ngăn chặn sự lớn mạnh quân sự của ta trên địa bàn Những hoạtđộng đó của địch trên thực tế đã gây cho lực lượng cách mạng và nhân dân trên địa bànrất nhiều khó khăn, tạo thêm mối căm hận sâu sắc trong lòng quần chúng nhân dân, tiếptục cùng nhân dân miền Nam và cả nước đấu tranh chống kẻ thù xâm lược dưới sự lãnhđạo của Đảng và Bác Hồ, đây là điều tất yếu đối với quân và dân trên địa bàn căn cứkháng chiến Nâm Nung

2 Đấu tranh đòi hòa bình và thi hành Hiệp định Giơnevơ (1954 - 1958):

Năm ngày trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Ban Chấp hành Trung ươngĐảng đã họp Hội nghị toàn thể lần thứ VI (từ ngày 15 đến ngày 17.7.1954) để bàn vềtình hình nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới Hội nghị đã khẳngđịnh: đế quốc Mỹ đang là kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân ta Vì thế phải tậptrung lực lượng chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng để thực hiện hòa bình, thống nhất,hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước

13 (theo thống kê của Liên khu ủy Khu V, từ tháng 4-1957 đến cuối năm 1958, Mỹ- Diệm đã đưa lên Đắk Mil, Gia Nghĩa hàng ngàn người từ Quảng Ngãi lên lập thêm các dinh điền dọc theo trục đường 14, lập bốn dinh điền lớn ở xung quanh thị xă Gia Nghĩa (Nghĩa BBnh, Nghĩa Thành, Nghĩa Tín, Nghĩa Đức) và một dinh điền lớn ở Nghi Xuân (xã Trường Xuân ngày nay).

Trang 29

Trước tình hình diễn biến phức tạp, ngày 22.7.1954 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lờikêu gọi “Đồng bào miền Nam kháng chiến trước hết, giác ngộ rất cao Tôi chắc rằngđồng bào sẽ đặt lợi ích cả nước lên trên lợi ích địa phương, lợi ích lâu dài trên lợi íchtrước mắt, mà ra sức cùng đồng bào toàn quốc phấn đấu để củng cố hòa bình, thực hiệnthống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc”.14

Trong hai ngày 27 và 28.7.1954, Liên khu ủy Khu V đã triệu tập Hội nghị Liênkhu ủy mở rộng với sự tham dự của các Bí thư Tỉnh ủy Trên cơ sở Hội nghị Ban Chấphành Trung ương Đảng lần thứ VI, khóa II (từ ngày 15 đến 17.7.1954), Hội nghị đã đisâu phân tích diễn biến tư tưởng của cán bộ và quần chúng nhân dân trong khu, nhữngthuận lợi và khó khăn của ta trong tình hình mới… Từ đó Hội nghị đề ra những nhiệm

vụ cấp bách cần phải hoàn thành trước ngày 31.8.1954 (ngày bàn giao chính quyền chođối phương theo đúng Hiệp định Giơnevơ), đó là: Tiến hành một đợt tuyên truyền giáodục thật sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về nội dung, ý nghĩacủa Hiệp định Giơnevơ, về tình hình nhiệm vụ mới, về phương châm, phương pháp đấutranh mới; sắp xếp, bố trí lại bộ máy lãnh đạo của Đảng và các tổ chức quần chúng từkhu cho đến cơ sở cho phù hợp với tình hình mới; biên chế lại lực lượng vũ trang thànhcác trung đoàn, sư đoàn để biểu dương lực lượng và chuyển quân tập kết ra Bắc theođúng kế hoạch

Chấp hành sự chỉ đạo của Trung ương và của Liên khu ủy Khu V, vào đầu tháng8.1954 Thường vụ Ban Cán sự đảng tỉnh Đắk Lắk đã họp và đề ra ba công tác lớn của

tỉnh: Thứ nhất là công tác tập kết ra Bắc do đồng chí Lê Văn Nhiễu, Bí thư Ban cán sự tỉnh kiêm Chính ủy Trung đoàn 84 phụ trách Thứ 2 là công tác bàn giao chính quyền

cho đối phương do đồng chí Nguyễn Khắc Tính (Ba Ban) và đồng chí K'Nơng Y Bun

(Ama Khê) Thường vụ Ban cán sự tỉnh phụ trách Thứ 3 là công tác sắp xếp cán bộ ở

lại hoạt động do đồng chí Phạm Thuần, Thường vụ Ban cán sự tỉnh phụ trách

Giữa tháng 8-1954, lực lượng của tỉnh Đắk Lắk tập trung về Tân Vinh (một khucăn cứ của miền Tây Phú Yên chuyển cho Đắk Lắk xây dựng trong kháng chiến chốngPháp) để tổ chức lễ mừng chiến thắng và liên hoan chia tay giữa nhân dân và quân độicủa tỉnh Buổi lễ có trên 2.000 đồng bào các dân tộc các vùng căn cứ du kích và vùngđịch tạm chiếm ở các huyện về dự cùng hàng nghìn cán bộ chiến sỹ quân dân chính củatỉnh Buổi lễ đã nói lên thắng lợi của 9 năm kháng chiến chống Pháp, thắng lợi của Hiệpđịnh Giơnevơ và nhiệm vụ đấu tranh của nhân dân sắp đến Sau lễ tổ chức liên hoanđoàn kết, quân dân ta đã xuất kho cấp phát cho dân muối, gạo, nông cụ cho đồng bàođến dự Buổi lễ chia tay quân, dân đã gây một ấn tượng sâu sắc trong lòng đồng bào kéodài đến những năm sau này Sau buổi lễ lực lượng vũ trang của tỉnh rút về Bình Định đểcùng với lực lượng các tỉnh Tây Nguyên thành lập trung đoàn chiến đấu

Với một thời gian ngắn từ ngày 01 đến 31.8.1954 mặc dù gặp nhiều khó khăn vìtriển khai các hoạt động trên một địa bàn rộng, thông tin liên lạc khó khăn, việc tập kếtrút quân tiến hành gấp nhưng quân và dân Đắk Lắk đã hoàn thành đúng theo kế hoạch

và thời gian quy định

Ngày 6.9.1954 Bộ Chính trị ra Chỉ thị về tình hình mới và nhiệm vụ công tác mớicủa miền Nam, chỉ thị nêu rõ: “Kẻ thù trước mắt của ta là đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp

và tay sai của chúng Nhiệm vụ trước mắt của miền Nam là: Thi hành triệt để Hiệp địnhđình chiến (tập kết quân đội, rút quân ra Bắc) Đấu tranh đòi Pháp phải thi hành đúng

14(Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, t7, tr 322)

Trang 30

Hiệp định; Chuyển hướng công tác cho thích hợp với điều kiện hòa bình … sắp xếp cán

bộ, bố trí lực lượng; đảm bảo vừa che dấu được lực lượng, vừa lợi dụng được nhữngkhả năng thuận lợi mới mà hoạt động để thực hiện chủ trương, chính sách và khẩu hiệumới của Đảng; Đoàn kết rộng rãi, tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình,đấu tranh đánh đổ Chính phủ Ngô Đình Diệm, lập Chính phủ không thân Mỹ, tiến tớihiệp thương thống nhất Tổ quốc Phương châm đấu tranh của ta lúc này là “kết hợpcông tác hợp pháp và không hợp pháp, hết sức lợi dụng mọi khả năng hợp pháp và nửahợp pháp mà tuyên truyền tổ chức lãnh đạo quần chúng đấu tranh, khéo công tác, khéoche dấu lực lượng”.15

Thực hiện chỉ thị trên, sau khi lực lượng quân, dân, chính đảng của Đắk Lắk (chủyếu là lực lượng vũ trang) đã tập trung về Bình Định để học tập chủ trương, đường lốicủa Đảng sau Hiệp định Giơnevơ

Dựa vào sự chỉ dẫn của Trung ương về tình hình nhiệm vụ và phương pháp đấutranh mới, Ban cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk đã bố trí số cán bộ, đảng viên trên thành hai

bộ phận hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp với khoảng 120 đồng chí; cử hai bộ phận

về hoạt động gây dựng cơ sở ở vùng Tây Nam của tỉnh: Bộ phận hoạt động hợp pháp có

ba đồng chí là Nguyễn Tùy (Năm Tùy) làm đội trưởng, Phạm Văn Hương và Bùi VănViện Bộ phận hoạt động bất hợp pháp có năm đồng chí là: Trần Phòng (Bảy Biên) làmđội trưởng, các đông chí Ba Đạo (Ma Nhao), Nguyễn Xuân Hòa (Ma Thu), Y Bờ (MaSa) và Y Đum (Ma Dút) làm đội viên

Bộ phận hợp pháp cho thị xã Buôn Ma Thuột và các thị trấn Cheo Reo, Đắk Mil,Bản Đôn 20 đồng chí Bộ phận bất hợp pháp cho 7 huyện nông thôn, cho cơ quan tỉnh

và giao thông liên lạc gồm khoảng 100 đồng chí Ngoài ra, tỉnh còn bố trí một số cán

bộ, đảng viên người dân tộc về sống và làm việc trong nhân dân để hoạt động tại chỗ

Ở khu vực Nâm Nung, địa chỉ được đội thâm nhập đầu tiên là bon Đru (xã Đắk

Rồ, nay là xã Đắk Drô) Các đồng chí đã móc nối được với một cụ già tên là Bơ Trang(sau là đảng viên, bố nuôi của đồng chí Trần Phòng) Thông qua cụ Bơ Trang ta tranhthủ tuyên truyền, giáo dục và xây dựng được cơ sở trong toàn bon Anh em trong độicông tác cũng thường xuyên vận động tắm rửa, cắt tóc cho trẻ em, cùng làm rẫy, trồnghoa màu với nhân dân tạo thêm nguồn lương thực Nhờ có phương châm và phươngpháp vận động phù hợp nên các cơ sở cách mạng ở đây dần dần được xây dựng và pháttriển, đồng thời khôi phục được 4 cơ sở ở 4 xã vùng Nâm Nung tạo tiền đề cho việc xâydựng nơi đây trở thành vùng căn cứ đứng chân của tỉnh Quảng Đức trong suốt cuộckháng chiến chống Mỹ

Bộ phận hoạt động bất hợp pháp không nhận được sự chỉ đạo của trên Anh emchỉ dựa vào nội dung tuyên truyền, vu khống của địch để giáo dục cho quần chúng hiểubản chất của vấn đề và ý đồ thâm độc của kẻ thù, đồng thời bày cách cho đồng bàochống lại chúng Đến cuối năm 1955 đội công tác gây thêm được cơ sở ở các xã ĐăkMâm, Đắk La (thuộc huyện Đắk Mil ngày nay) và các buôn Thu, Ma Ha, Jarah (thuộchuyện Krông Nô ngày nay), các đồng chí trong chi bộ bí mật xây dựng được nhiều cơ

sở cách mạng trong các buôn, xã đồng bào tại chỗ

Để bảo đảm sự lãnh đạo thông suốt từ tỉnh đến cơ sở, các đồng chí hoạt độngtrong đội hoạt động bất hợp pháp đã tổ chức cho anh em cải trang là người dân tộc lênbám khu vực chợ Buôn Ma Thuột để bắt liên lạc với bộ phận hoạt động hợp pháp Cuối

15(Trích chỉ thị Bộ Chính trị 9-1954, tài liệu sao lưu tại Ban khoa học –Lịch sử quân sự tỉnh Đắk Lắk).

Trang 31

cùng, hai bộ phận đã gặp được nhau, nhờ đó phong trào cách mạng ở huyện phía Namtỉnh dần được đẩy lên, phối hợp với phong trào đấu tranh chung của tỉnh

Việc bố trí cán bộ bám lại chiến trường là một thắng lợi lớn bước đầu, tỉnh ĐắkLắk tranh thủ thời gian địch còn sơ hở, kịp thời đưa cán bộ lên khắp các địa bàn trongtỉnh, bảo đảm được bí mật, an toàn, che dấu được lực lượng ta, địch không phát hiệnđược Đặc biệt, tỉnh đã sớm bố trí được một đội ngũ cán bộ hợp pháp vào thị trấn, thị

xã, tạo được một thời gian dài, kết hợp giữa hai lực lượng hợp pháp và bất hợp pháp,giữa nông thôn và thành thị hỗ trợ lẫn nhau Cán bộ hợp pháp ở lại thị xã đã phục vụ tốtcho công tác nắm tình hình địch, giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế tài chính chotỉnh, phục vụ tốt cho việc xây dựng phát triển cơ sở cách mạng ở thị xã, thị trấn và nôngthôn

Công tác vận động quần chúng xây dựng phát triển cơ sở ở Đắk Lắk trong nhữngnăm 1955 đến 1956 phát triển mạnh Một mặt ta móc nối lại số cán bộ cũ ở nông thôn,đẩy mạnh xây dựng phát triển cơ sở ở vùng đồng bào các dân tộc, mặt khác xây dựng

cơ sở mới vào vùng địch, thị trấn, các đồn điền Mỗi buôn, mỗi vùng chỉ có một vài cán

bộ bám sát vào dân, quần chúng hóa, ăn ở trong dân, cùng lao động sản xuất với dân,dạy thanh niên học chữ, dùng thuốc nam chữa bệnh cho dân Cán bộ được dân tin, dânmến, được dân che chở khi có địch, nuôi dưỡng khi đau ốm, nhiều đồng chí được dânxem như con em trong bon, buôn, được dân thừa nhận là thành viên trong cộng đồngdân tộc ít người Nhờ đó ta nắm được đông đảo nhân dân, nắm được tề ngụy ở xã, ởbuôn, nắm được cả lớp trên, già làng hình thành mặt trận đoàn kết rộng rãi các tầng lớpchống Mỹ - Diệm Công tác binh vận thời gian này cũng làm tốt, vận động được sốđông binh lính, tranh thủ được một số đồn trưởng, quận trưởng, tỉnh phó người dân tộchướng họ có cảm tình với cách mạng, có người làm ngơ để cho nhân dân tham gia hoạtđộng cách mạng Các huyện phía Bắc của tỉnh cơ sở có đều khắp các buôn làng, nhiềunơi đã xây dựng được cơ sở Đảng, các huyện phía Nam của tỉnh tuy còn hẹp nhưng cán

bộ cũng bám được dân Ở huyện Đắk Mil lúc đầu đứt liên lạc với tỉnh nhưng đội côngtác vẫn bám xây dựng được cơ sở ở 7 xã trong huyện

Đi đôi với xây dựng phát triển cơ sở, trong hai năm 1955 đến năm 1956 tỉnh cũng

đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống địch, đem lại những quyền lợi thiết thực cho dân.Sau khi có lệnh ngừng bắn, quần chúng nhân dân đã đẩy mạnh phong trào chống xâu,chống thuế buộc địch phải bãi bỏ việc bắt dân đi xâu cho các đồn điền của Pháp và bãi

bỏ thuế thân, đấu tranh đòi tự do đi lại, chống khủng bố bắt người, đấu tranh đòi chồngcon đi lính cho địch trở về Hàng trăm người nhà binh lính người dân tộc ở vùng ta và

cả trong vùng địch kéo lên đồn, lên quận đấu tranh với khẩu hiệu “Hòa bình rồi, phải trảchồng con về nhà làm ăn” Cuộc đấu tranh kéo dài nhiều ngày ở các đồn bót địch, một

số cán bộ người Kinh đã cải trang cùng đi với dân vào đồn địch để trực tiếp lãnh đạođấu tranh, kéo được một số lính trở về nhà

Bước vào cuộc chiến đấu mới, ta có những thay đổi rất cơ bản cả thế và lực, cảphương châm và phương pháp đấu tranh Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình; từ hoạtđộng công khai chuyển sang hoạt động bí mật; từ kháng chiến chống Pháp sang đấutranh chính trị chống Mỹ - Diệm đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ

Tháng 7- 1955, hưởng ứng phong trào đấu tranh đòi hiệp thương, ở Đắk Mil cónhững đoàn đại biểu và quần chúng lên đồn, lên quận đưa kiến nghị đòi hiệp thươngtổng tuyển cử Trước những hoạt động phá hoại của Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu

Trang 32

ý dân phế truất Bảo Đại (10- 1955), công khai xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ, đưa NgôĐình Diệm lên làm Tổng thống Việt Nam cộng hòa, tổ chức bầu cử quốc hội riêng rẽ vàban hành hiến pháp mới (3-1956) Nắm bắt các hoạt động của địch, tổ công tác của takịp thời hướng dẫn nhân dân không đi bỏ phiếu, số người bị bắt đi, ta lãnh đạo làm bẩnphiếu, rách phiếu hay bỏ cả hai phiếu vào một thùng, đồng thời tập dượt cho quầnchúng nhiều phương thức đấu tranh với địch, nhiều cuộc đấu tranh chống địch của quầnchúng ở các vùng liên tiếp diễn ra Có nơi tẩy chay bầu cử bịp bợm của Diệm, cơ sở tavận động binh lính ném lựu đạn giải tán điểm bầu cử; quần chúng các buôn làng vùng

Sa Na, Yang Yú ở Đắk Mil đã giằng co, trì hoãn làm phá sản kế hoạch dồn dân vùngsâu ra trục đường 14

Năm 1957, Đắk Lắk vốn là vùng địch hậu, trong kháng chiến phong trào cáchmạng còn yếu nên các đợt “tố cộng” ở đây địch tập trung vào các vùng căn cứ khángchiến, vùng du kích cũ Địch bắt dân làm thẻ kiểm tra, kê khai dân số, kê khai gia đìnhkháng chiến, gia đình có người đi tập kết, bắt dân đi học tố cộng, tuyên truyền nói xấucộng sản, chia rẽ Kinh - Thượng, truy bắt đánh đập, tra tấn số cán bộ cốt cán của ta.Địch dùng lính bảo an, cảnh sát lùng sục ven làng, rẫy để phát hiện nơi ăn, ở của cán bộbất hợp pháp, ngăn cấm dân không được để lúa gạo ở rẫy, ban đêm không được ngủ ởrẫy, ngăn cấm việc tiếp tế, nuôi dưỡng, che dấu cán bộ cách mạng, đưa bọn mật vụ chỉđiểm ở các tỉnh đồng bằng miền Trung lên Đắk Lắk để theo dõi nhận diện, truy bắt sốcán bộ hợp pháp, cán bộ chuyển vùng của ta Nhưng so với đồng bằng, hoạt động “tốcộng” của địch ở Đắk Lắk không quyết liệt, mức độ tổn thất về cán bộ đảng viên khôngnhiều Cán bộ ta lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống khủng bố bắt người, không chịu đihọc tố cộng, nhân dân đã lợi dụng những phong tục tập quán của người dân tộc treo lácây trước nhà không cho địch vào làng, tổ chức cắm chông, gài mang cung ở ven rẫykhông cho địch đi lùng sục

Được sự chỉ đạo của Liên tỉnh IV, Đắk Lắk mở đợt học tập cho cán bộ, đảngviên, cốt cán và nhân dân về các tài liệu như: Thương dân, yêu nước đứng lên làm cáchmạng; Ba thương ba ghét; Chủ nghĩa cộng sản và người cộng sản; Khí tiết người đảngviên cộng sản Đây là những nội dung giáo dục rất cơ bản vừa phù hợp với trình độ củacán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc, phù hợp tình hình lúc bấy giờ Đợt học tập

mở rộng khắp trong Đảng bộ và ở cơ sở đã nâng cao được nhận thức tư tưởng cho cán

bộ, đảng viên và nhân dân, chống lại những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch,giữ vững khí thế của nhân dân và ý chí cách mạng cho cán bộ đảng viên Trong thờigian địch tố cộng, tình hình trong cán bộ đảng viên có những diễn biến phức tạp, Đảng

bộ dùng những hình thức văn nghệ, thơ ca, dùng tờ báo “Thống nhất” của tỉnh để tuyêntruyền, giáo dục, động viên tư tưởng cho anh em

Từ tháng 7 - 1957, với việc bắt di dân ồ ạt lên Đắk Lắk lập dinh điền phục vụ mụcđích quân sự, địch đã chiếm nhiều vùng đất đai còn hoang hóa và lấn chiếm cả nhữngvùng có ruộng rẫy của đồng bào các dân tộc đã sản xuất làm ăn sinh sống từ lâu đời,trực tiếp uy hiếp đời sống của đồng bào dân tộc, đụng chạm đến quyền lợi đất đai, rừngnúi, nguồn nước, đến tập quán làm ăn của đồng bào các dân tộc Việc này không chỉ đốivới những nông dân lao động mà đến cả lớp trên và trung gian, đến chủ đất, chủ làng,chủ bến nước… đến gia đình binh lính sĩ quan công chức người dân tộc, do đó nỗi bấtbình của các tầng lớp quần chúng với chính quyền Ngô Đình Diệm trở nên rất sâu sắc

Ta đã kịp thời lãnh đạo giáo dục nhân dân vạch rõ âm mưu thủ đoạn của địch dồn dân,

Trang 33

lập ấp, lập dinh điền phục vụ mục đích quân sự của chúng Một số phong trào quầnchúng vùng dân tộc chống chiếm đất đã nổi lên mạnh mẽ quyết liệt.

Để bảo vệ đất đai của mình, đồng bào các dân tộc đã đưa đơn đến tỉnh, quận kiệnviệc chiếm đất, hàng nghìn người đã kéo ra ruộng rẫy đóng cọc, căng dây, giữ phạm viđất đai của mình không cho địch lấn chiếm, phong trào chống chiếm đất đã được đôngđảo các tầng lớp nhân dân tham gia, binh lính người dân tộc cũng đồng tình với phongtrào đấu tranh của quần chúng đã buộc địch phải nhượng bộ, trả lại những nương rẫylấn chiếm của dân Qua đợt đấu tranh này, tinh thần và khí thế của nhân dân các dân tộcđược nâng lên, mâu thuẫn giữa Mỹ - Diệm và nhân dân ngày càng sâu sắc thêm

Đồng bào miền xuôi do địch đưa lên Đắk Lắk phần lớn là dân các vùng tự do,vùng kháng chiến cũ ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, đã từng sống dưới chế

độ ta, có người là cán bộ, đảng viên, cơ sở cách mạng, nay bị địch cưỡng ép di dân, họrất căm thù địch Phong trào chống di dân ở các tỉnh đồng bằng lúc này cũng rất quyếtliệt, nhiều gia đình đấu tranh giành chồng con, nhiều người nằm cản đầu xe không chochở chồng con đi di dân Lãnh đạo địa phương Đắk Lắk đã vạch rõ âm mưu thủ đoạncủa địch, hướng dẫn đồng bào đấu tranh chống Mỹ - Diệm, đòi giải quyết đời sống, đòitrở về quê cũ, đoàn kết với đồng bào các dân tộc, chĩa mũi nhọn vào chống Mỹ - Diệm.Trước sự đấu tranh quyết liệt của đồng bào, âm mưu, thủ đoạn dồn dân lập dinhđiền của địch bị thất bại từng bước, chúng phải hạn chế dồn dân, lập dinh điền ở nhữngnơi hoang hóa, không cày ủi chiếm đất, nương rẫy của đồng bào

Suốt 5 năm (1954 -1958), cuộc đấu tranh đòi Ngô Đình Diệm thi hành Hiệp địnhGiơnevơ của nhân dân đã chịu nhiều tổn thất vô cùng lớn lao Rất nhiều cán bộ, đảngviên, quần chúng yêu nước và cả những người vô tội (trẻ em, người già, phụ nữ) đã bịchúng giết hại một cách dã man Việc đấu tranh bằng hòa bình, bằng thương lượng vớichính quyền độc tài Ngô Đình Diệm trong khi ta bị tước quyền tự vệ là tự sát, địch dùngbạo lực phản cách mạng tiêu diệt ta, ta phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt chúng

đó là lôgic của thời đại

Giữa năm 1958, Ban cán sự tỉnh được phổ biến tinh thần bản Đề cương cách mạng

miền Nam do đồng chí Lê Duẩn soạn thảo, Đề cương đã chỉ rõ cách mạng miền Nam

phải đi lên bằng con đường bạo lực Từ năm 1958, Trung ương và Liên khu V đã có sựchú ý hơn đến phong trào cách mạng ở Tây Nguyên Giữa năm 1958, Liên khu V tổchức Hội nghị họp kiểm điểm tình hình và nghiêm khắc phê phán những những sai lầm,khuyết điểm trong việc chỉ đạo và lãnh đạo của khu ủy mấy năm qua Hội nghị đã kếtluận “Nhìn chung từ sau hiệp định Giơnevơ đến năm 1958, phong trào đấu tranh củaquần chúng có đưa lên liên tục nhưng chưa thành phong trào mạnh, khuyết điểm chungcủa khu là đánh giá địch ta có nhiều sai lệch, không nắm bắt kịp thời âm mưu thủ đoạncủa địch nên đối phó bị động Nhận thức đường lối không đúng, quá tin vào pháp lýhiệp định Giơnevơ, quá tin vào đấu tranh chính trị Chưa thấy rõ đặc điểm của miền núi

để sớm xây dựng căn cứ địa Thực tế địch có hung bạo, đường lối Đảng có nhiều thiếusót, nhưng nếu chỉ đạo của Đảng bộ khu không mắc sai lầm thì phong trào trong khu sẽkhác hơn”

Từ nhận định đó, Liên khu ủy đã đề ra một số phương hướng để chuyển phongtrào đi lên: Xây dựng Tây Nguyên và miền núi các tỉnh đồng bằng thành căn cứ địa

Trang 34

cách mạng; Bước đầu xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang ở miền núi để làmnhiệm vụ tự vệ, bảo vệ căn cứ, bảo vệ cán bộ; Khôi phục lại phong trao đồng bằng.16

Hội nghị ra Nghị quyết về xây dựng căn cứ Tây Nguyên và miền Tây các tỉnhđồng bằng Nam Trung Bộ với những nội dung cụ thể như: Phát động nhân dân làm

“nương rẫy cách mạng”, tích trữ và cất giấu lương thực, muối, vũ khí, thuốc men đểchuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài

Tinh thần bản Đề cương cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn và các chủtrương của Hội nghị khu ủy đã mở đầu cho việc chuyển phong trào cách mạng theophương hướng mới Cũng trong năm 1958, Liên khu ủy V có chỉ thị về xây dựng căn cứđịa, đã nêu rõ: “xây dựng căn cứ địa là một vấn đề chiến lược của cách mạng Từ sauHiệp định Giơnevơ, Mỹ - Diệm đã có âm mưu xây dựng Tây Nguyên thành trung tâmcăn cứ quân sự cơ động ở miền Nam, vì vậy một trong những nhiệm vụ của cách mạngmiền Nam là phải tích cực phá kế hoạch xây dựng trung tâm căn cứ của địch, từng bướcbiến hậu phương của địch thành hậu phương của ta, xây dựng Tây Nguyên thành chỗdựa vững chắc và lâu dài của cách mạng miền Nam”

Sau khi Ban cán sự Đắk Lắk tiếp cận với Bản đề cương về đường lối cách mạngmiền Nam của đồng chí Lê Duẩn Qua nghiên cứu các đồng chí rất phấn khởi với vấn

đề “đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ” Tuy chưa có Nghị quyết Trung ương nhưngBan cán sự tỉnh căn cứ phong trào thực tiễn của quần chúng, từng bước tổ chức thànhnhững tổ, nhóm bán vũ trang (tự vệ mật, du kích mật,…) để bảo vệ nhân dân, bảo vệcán bộ, cơ sở Đến cuối năm 1958, xuất hiện nhiều sự kiện đồng bào tìm cách diệt ác

ôn, bảo vệ cán bộ, bảo vệ đồng bào, phá cuộc càn quét dồn dân của địch

Nhờ sự hoạt động tích cực và chuyển hướng kịp thời, từ phương thức đấu tranh

vũ trang thời kháng chiến chống Pháp sang đấu tranh chính trị, che dấu và giữ gìn lựclượng cách mạng, nên các xã miền núi trên địa bàn Đắk Mil và Krông Nô như: NâmNung, Nam Ka, Đắk Mâm, Gia Rá, Đắk Rồ, K’Rue, Buôn Leng ta xây dựng được các

cơ sở cách mạng sâu rộng Tại các buôn, bon này cũng hình thành được các tổ chức tựquản, để đối phó một cách kịp thời và hữu hiệu với địch trong việc tố cộng và cướp đất,lập các dinh điền Dưới sự chỉ đạo của chi bộ Đảng bí mật, các tổ, đội vũ trang tuyêntruyền của ta nhanh chóng thâm nhập xuống tận xã, buôn, bon, xây dựng nhiều cơ sởcách mạng bí mật trong lòng địch Trong những năm 1955 đến năm 1958, công táctuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân, xây dựng phát triển cơ sở cách mạng đượccoi là nhiệm vụ hàng đầu Nhờ đó, ta móc nối lại số cán bộ cốt cán cũ ở nông thôn, đẩymạnh xây dựng phát triển cơ sở ở vùng đồng bào các dân tộc; xây dựng cơ sở mới vàovùng địch, thị trấn, các đồn điền Cán bộ của ta được dân tin yêu, che chở, nhờ đó tanắm được tề ngụy ở xã, buôn, bon; vận động được đông đảo nhân dân, các già làng vàmột số tầng lớp trên hình thành mặt trận đoàn kết rộng rãi chống Mỹ - Diệm

PHẦN II: Tỉnh Quảng Đức được thành lập, đảm nhận nhiệm vụ xây dựng Căn cứ và Hành lang chiến lược địa bàn Nam Tây Nguyên xuống chiến trường Đông Nam Bộ (1959 – 1960)

I Khẩn trương xây dựng Nam Tây Nguyên gắn với các tỉnh Miền Đông Nam Bộ thành căn cứ địa vững chắc mở thông tuyến đường chiến lược Bắc – Nam.

16(trích dự thảo Nghị quyết của Liên khu ủy V, tháng 8-1958, Tài liệu lưu trữ tại phòng Nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Đắk Lắk)

Trang 35

1 Sự hình thành Đoàn B.90 và cuộc hành trình đến địa bàn đứng chân Nam Đăk Lăk (Quảng Đức) từ 5-1959 đến năm 1960.

Năm 1959, tình hình ở Nam Tây Nguyên bị địch liên tục đánh phá và khống chếgắt gao, đời sống kinh tế của đồng bào còn rất nghèo, phong trào cách mạng chưa thực

sự phát triển mạnh và đều khắp, nhiều nơi vẫn còn là vùng “trắng” do địch kiểm soát.Trong lúc đó, với khí thế sục sôi căm thù giặc Mỹ xâm lược và trước xu thế vùng dậycủa quần chúng, tháng 1–1959 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) họp Hộinghị lần thứ 15 (mở rộng), Hội nghị đã ra Nghị quyết về đường lối cách mạng ViệtNam ở miền Nam, Nghị quyết nêu rõ: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạngViệt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân Theo tình hình

cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quầnchúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũtrang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cáchmạng của nhân dân” Nghị quyết 15 của Trung ương phản ánh đúng nhu cầu của lịch

sử, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam, đáp ứng đúng tâm

tư nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân miền Nam; là ngọn lửa dấy lên caotrào đồng khởi, làm xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam lúc bấy giờ

Đánh giá tầm quan trọng của vùng tiếp giáp Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ,

cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nói: Chúng ta muốn đánh thắng đế quốc xâm lược Mỹ ởmiền Nam, nhất thiết phải mở được hành lang chiến lược và xây dựng vùng căn cứ địacách mạng ở khu vực này Cố Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Phó Tổng thammưu Quân đội nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ được Bác Hồ giao nhiệm vụ đặc tráchĐoàn B90 cũng đã nói: “Nhiệm vụ xoi mở đường Hồ Chí Minh - Đoạn Nam TâyNguyên đến Đông Nam Bộ trong 9 năm kháng chiến chúng ta đã có nhiều cố gắngnhưng chưa thực hiện được; do đó trong đấu tranh chống Mỹ chúng ta phải kiên quyếtthực hiện kỳ được, coi như trả nợ cho quốc dân đồng bào”

Sau một thời gian tuyển chọn, ngày 15-5-1959, Trung ương Đảng và Chủ tịch HồChí Minh quyết định thành lập đoàn vận tải chiến lược Bắc – Nam (đoàn 559) với 25cán bộ chiến sĩ được chính thức chỉ định Ngay sau đó, tuyến đường bộ trên dãy núiTrường Sơn được gấp rút khai phá Đồng thời, theo chủ trương của Đảng, ngày 25-5-

1959 Bộ Quốc phòng và Ban thống nhất Trung ương tổ chức đoàn B90 gồm 25 đồngchí đã từng hoạt động và chiến đấu trên các chiến trường Đông Nam Bộ, Nam TâyNguyên, Đông Bắc Campuchia do đồng chí Trần Quang Sang làm trưởng đoàn khẩntrương lên đường vào Nam nhận công tác mới

Nhiệm vụ của Đoàn B.90 là “về chiến trường miền Nam, đến Nam Đăk Lăk hợp

nhất với đội vũ trang công tác Bắc Đăk Mil (Nam Đăk Lăk) dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đăk Lăk, gây dựng cơ sở và xoi, mở đường về Nam Bộ, xây dựng hành lang chiến lược nối liền hai chiến trường Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ”.

Cùng với chủ trương trên, Trung ương cũng chỉ đạo Liên khu ủy V giao cho tỉnhĐăk Lăk gấp rút khai thông đường hành lang chiến lược từ Nam Tây Nguyên vào ĐôngNam Bộ; đồng thời Xứ ủy Nam Bộ phải trực tiếp chỉ đạo Liên Tỉnh ủy miền Đông tổchức mở đường từ chiến khu Đ ra Nam Tây Nguyên, bắt liên lạc với đoàn B90

Để đảm bảo có sự phối hợp chặt chẽ giữa đoàn B90 với Đảng bộ tỉnh trong côngtác khai thông hành lang chiến lược Bắc - Nam và phát triển phong trào cách mạng ởNam Tây Nguyên, giữa năm 1959, Liên khu ủy V điều đồng chí Vũ Anh Ba (Ba Hồng

Trang 36

Ưng) nguyên Bí thư liên tỉnh IV vào làm Bí thư Ban cán sự tỉnh, chỉ đạo cả đoàn B90

và đơn vị ở lại, đặc trách công tác mở đường móc nối với miền Đông Nam Bộ và pháttriển cơ sở cách mạng của tỉnh

Đến cuối tháng 10–1959, Đoàn B90 của Trung ương vào đến chiến trường, tậpkết tại buôn Đru, Đắk Rồ Lực lượng của tỉnh lúc này có đội vũ trang công tác của cácđồng chí Trần Phòng (Bảy Biên), Lê Đạo (Ama Nhao), Nguyễn Xuân Hòa (Ama Thu),Ama Sa, đứng chân ở Đức Lập (Đắk Mil - địa bàn căn cứ kháng chiến Nâm Nung).Theo sự chỉ đạo của đồng chí Ba Đạo và đồng chí Vũ Anh Ba (Hồng Ưng), đoàn B90cùng với đội công tác Đắk Mil hợp nhất thành một đơn vị, do đồng chí Vũ Anh Ba làm

là đối với các đồng chí được phân công đi các hướng, các mũi thường xuyên tiếp xúcvới nhân dân địa phương

Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Vũ Anh Ba và đồng chí Bốn Đạo, đoàn cùng vớicác đội công tác Đắk Mil thống nhất lại và phân công, phân nhiệm công tác, tổ chứcthành 3 đội công tác, 1 bộ phận xây dựng cơ quan và an toàn khu Cụ thể:

Sau một thời gian ngắn học tập về đường lối cách mạng, phương châm phươngthức công tác, đơn vị tổ chức thành 3 đội, một mũi và hai bộ phận công tác, gồm một bộphận xây dựng cơ quan, một bộ phận củng cố địa bàn, một mũi công tác bắc quốc lộ 14,một đội mở đường xây dựng cơ sở lấy địa bàn yếu khu hành chính Đức Xuyên làm bànđạp, hướng về Tây Nam tỉnh Tuyên Đức (nay là thành phố Đà Lạt) do đồng chí AmaQuang (Kpă Ngãi) phụ trách Còn hai đội có nhiệm vụ mở đường về Nam Bộ gồm:

Đội I: do đồng chí Trần Quang Sang, nguyên Đoàn trưởng Đoàn B90 làm độitrưởng, đồng chí Lê Đạo (Ama Nhao) cán bộ đội công tác Đắk Mil cũ làm Bí thư chi

bộ, đồng chí Phạm Văn Nhường làm đội phó, về sau tăng cường đồng chí Phạm Lạccùng các đồng chí Hoàng Minh Đỏ, Trần Văn Thời, Nguyễn Văn Định, Danh, Kỉnh,Quảng, Ai, Cược, Bình là cán bộ đoàn B90 làm đội viên Đội có nhiệm vụ phát triển cơ

sở từ Đru, Đắk Rồ lấy buôn Bu SaNar, Bu Sia, Bu N’tinh làm bàn đạp, mở theo hướng

từ Đông Khiêm Đức, Gia Nghĩa, tiến về Đồng Nai Thượng (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng)bắt liên lạc với bộ phận xoi đường đơn vị C200 của Đông Nam Bộ từ chiến khu Đ lênNam Tây Nguyên

Đội II Lúc đầu do đồng chí Phùng Đình Ấm (Ba Cung) - nguyên phó đoàn B90làm Bí thư chi bộ, đồng chí Nguyễn Xuân Hòa (Ama Thu) cán bộ đội công tác Đắk Mil

cũ làm đội trưởng Về sau đồng chí Phùng Đình Ấm, Bí thư chi bộ kiêm đội trưởng,đồng chí Nguyễn Đình Kính cán bộ đoàn B90 làm đội phó, đồng chí Ama Sa (Y B’ơ).Đội có nhiệm vụ từ bàn đạp Bu Đjră phát triển ra vùng ba biên giới xây dựng và pháttriển cơ sở địa bàn Đắk Mil, Tây Gia Nghĩa, Đông và Tây Kiến Đức (vùng tiếp giápgiữa Trung Bộ, Nam Bộ và Đông Bắc Campuchia - trung tâm của nó bây giờ là ngã baĐồn 9, huyện Tuy Đức) vượt quốc lộ 14, tiến về bắt liên lạc với bộ phận mở đường của

Trang 37

Liên tỉnh miền Đông ở hướng Bà Rá - Phước Long (nay thuộc tỉnh Bình Phước) Nhưvậy địa bàn Kiến Đức (sau này là huyện Đăk R’Lấp) là một trong những địa bàn quantrọng, đội II phải triển khai công tác xoi đường để về đến mục tiêu.

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, với phương châm là: Tích cực, khẩn trương

nhưng vững chắc, xoi đến đâu bám vào dân đến đó, xây dựng cơ sở thành lõm đứng chân và mở rộng theo vết dầu loang, làm bàn đạp tiến lên phía trước: nói chung là vừa xoi đường vừa tạo khí thế bám trụ được khi hành lang đã mở ra.

Việc mở đường khai thông hành lang chiến lược Bắc - Nam trên địa bàn NamTây Nguyên lúc này là một nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng nhưng vô cùng khókhăn gian khổ Trong điều kiện chiến trường mới lạ, cơ sở cách mạng chưa có, thời tiết

ở Tây Nguyên lúc bấy giờ vào mùa mưa, nước các suối đều dâng cao và chảy xiết; trời

âm u, việc định hướng để cắt rừng rất khó khăn, không có phương tiện, dụng cụ thiênvăn kể cả la bàn, hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm đội công tác phải mò mẫm bám từngbuôn, móc ráp từng người dân, phải tự lo về lương thực hậu cần trong quá trình hoạtđộng Sau khi sắp xếp phân công, phân nhiệm cho từng hướng, các đội công tác bắt đầutriển khai xuống cơ sở vào đầu tháng 12-1959

Ở hướng đội 1: (Đông Quảng Đức) từ bàn đạp Jốc Ju, đội đã nhanh chóng phát

triển cơ sở, xây dựng được lõm đứng chân tạo nhiều bon xoay quanh cao nguyênPlateau R’Bút, làm bàn đạp mở ra hướng bon Sa-Nar tiếp tục thành lõm bàn đạp mới

mở ra hướng khu vực bon Đắk N’Ting, tạo thế tiếp cận huyện Khiêm Đức và Thị xãGia Nghĩa (tỉnh lỵ Quảng Đức)

Cuối tháng 8-1960, Đội 1 nhận được tin do Ban Lãnh đạo B.4 thông báo cấp trên

đã cho mật hiệu và địa điểm để đội xoi đường phía Bắc bắt liên lạc với bộ phận phíaNam ra, nội dung địa điểm tại bon Rưng ám tín hiệu “xin mua 25 viên ký ninh vàng”

Đội 1 nghiên cứu kỹ thấy khó có khả năng thực hiện được, vì bon Rưng là mộtbon lớn sở tại và nhiều bon khác địch gom lại thành nhiều khu tập trung nằm ngay bờcủa ngã ba sông Đắk R’Tih và Đắk Deung, sát bìa phía Đông thị xã Gia Nghĩa, cạnh đó

là quận lỵ Khiêm Đức Đồng bào khu tập trung này cũng như bon Rưng không có quan

hệ qua lại với đồng bào phía Đông Gia Nghĩa, chỉ có quan hệ qua lại với đồng bào phíaTây Gia Nghĩa mà thôi Đội 1 lập tức báo cáo về lãnh đạo B.4 và nhận định là phía TâyGia Nghĩa đã có lực lượng trong Nam hoạt động ra tới: Lập tức tổ chức 1 bộ phận 4đồng chí gồm đồng chí Năm Nhường, đội phó và 3 đồng chí nữa (Lạc, Ma Đen và đồngchí y tá Thời) bí mật vượt lộ 14 bis (đoạn Nam Khiêm Đức) cắt rừng vượt sông ĐắkR’tih, đoạn Vàm Đắk R’tih giáp sông Đồng Nai để tìm lực lượng phía Nam Đến VàmĐắk R’tih, nước sông lên to do có trận mưa lớn ở thượng nguồn, nước lũ đổ về chảymạnh và xiết không thể qua được Chờ mấy ngày mà nước mưa vẫn không rút, lại tiếptục mạnh hơn, đồng chí Năm Nhường về căn cứ của đội để báo cáo và tải gạo để tiếptục tìm cách vượt sông Nhiệm vụ thôi thúc, các đồng chí đã quyết tâm thực hiện bằngcách lấy dây dù võng nối lại, cột vào thắt lưng đồng chí Thời để đồng chí tình nguyệnbơi qua trước và đồng chí đã hy sinh17 Sau khi đồng chí Thời hy sinh, tổ công tác củađồng chí Năm Nhường trở về bàn đạp đứng chân của đội 1 ở bon Sanar, báo cáo về sựtổn thất vừa qua, bàn biện pháp khắc phục vàm Đắk R’tih; sau đó đội 1 lại nhận tiếp tin

17 (đồng chí Thời là lính trẻ, y tá, bơi lội giỏi) Nhưng khi đồng chí bơi qua gần đến bờ bên kia thì dòng nước chảy siết mạnh đẩy đồng chí ra giữa dòng không sao bám được vào

bờ, chiếc dây dù bị tuột khỏi thắt lưng, dòng nước cuốn mạnh đồng chí ra sông Đồng Nai mất hút! Như vậy đồng chí Thời đã hoàn thành nhiệm vụ của mình trong sự nghiệp mở đường về Nam Bộ, cũng là liệt sỹ đầu tiên của đoàn B.90

Trang 38

của ban lãnh đạo B.4 thông báo ám tín hiệu và địa điểm tìm bắt liên lạc với các đồngchí phía Nam ra như sau: “địa điểm tìm nhau tại suối cạn phía Nam Đắk Deung (tứcsông Đồng Nai) ám tín hiệu: “ chặt cây lồ ô, thành nhiều đoạn, mỗi đoạn dài 3m, rảiliên tiếp ở lòng suối cạn, lần theo dấu vết đó để bắt liên lạc nhau”.

Trong khi đó, bộ phận cánh Nam do đồng chí Nguyễn Trọng Tâm - tức anh BảyB.K - chỉ huy gồm các đồng chí Tâm, Cột, Tư đã phát hiện được dấu vết, nơi tạm trúcủa cánh phía Bắc, các đồng chí phục kích chờ đợi và gặp nhau vào lúc 16 giờ ngày 30-10-1960

Như vậy là gần năm trời vừa phát triển xây dựng cơ sở, vừa cắt rừng xoi đường,đội 1 đã hoàn thành nhiệm vụ Hành lang phía Đông Quảng Đức đã được khai thông đểgiữ mối liên lạc, mỗi bên Nam - Bắc đều cử cán bộ cùng đi với bên kia về đến căn cứcủa ban lãnh đạo, báo cáo tình hình và nhận nhiệm vụ mới

Ở hướng đội 2 (Tây Quảng Đức) Từ bon Jră (Djrah) nằm phía Đông Bắc

huyện Đức Lập làm bàn đạp để mở rộng cơ sở về hướng Nam và Tây Nam Đội nhanhchóng tuyên truyền phát triển cơ sở và xây dựng các Bon Đăk Prí, Bu bơ Đăk Đam,R’Loong, Bon Ng’Lao làm bàn đạp mới tiếp cận huyện lỵ Đức Lập và tiến về hướngNam Hướng phát triển là khu vực bon Bu-Róa, dinh điền Đức An (Đăk Song) vượt lộ

14 bis và thượng nguồn Đăk Deung, sang Tây lộ 14 tiến về Bắc chiến khu Đ (tức PhướcLong lúc bấy giờ)

Vào khoảng tháng 3-1960, đội 2 nhận được tin Ban Lãnh đạo thông báo ở phíaNam có lực lượng lên đến Bon Bu Gân, Tây lộ 14 khoảng 2 ngày đường, chỉ thị đội tìmcách bắt liên lạc Nhưng lúc này đội chưa có khả năng vượt qua khu Bu-Róa nên thời

cơ bị bỏ lỡ Sau đó, đội móc ráp được 1 cơ sở bon Nâm Nung là một làng nhỏ bị gomdân về Bu-Róa, tìm hiểu tình hình Bu-Róa là một khu tập trung lớn, có tên tề “TốngGiang” ác ôn nhất vùng kèm kẹp quần chúng chặt, phát triển nhanh về hướng này cònkhó khăn, đội quyết định chuyển dịch về hướng Đông, phát triển cơ sở vào bon Bu –BơĐăk Nông, 1 bon nằm trên trục 14 làm bàn đạp Tháng 4 -1960 trong dịp tuyên truyềntại bon Bu Bơ Đăk Nông, tên Tống Giang đã bố trí dân vệ gài thế hòng bắt sống toàn bộ(3 người) nhưng ta thoát được, đồng chí Ma Năm (Nguyễn Tùy) bị thương và mất mộtsúng ngắn, tên Tống Giang bị ta bắn gãy cánh tay phải18 Quần chúng bị địch kích động,dọa là ta sẽ trả thù nên chỉ trong một đêm tất cả đã bỏ làng, bỏ rẫy chạy vào lập khu tậptrung sát Thị xã Gia Nghĩa

Sau vụ Bu Bơ Đắk Nông, tình hình phát triển về hướng Đông gặp khó khăn, cơ

sở ở đây đã bị mất Đội chuyển hướng chủ yếu về hướng Tây Lấy Bon Bu Ng’lao làmbàn đạp Các đồng chí Ba Can, Bảy Kính nhận gia đình ông “già hủi” làm cha nuôinhằm dễ tạo chỗ dựa, bám cơ sở mật tổ chức được ở Bon Bu Róa nằm ở Nam lộ 14 bisnắm tình hình tìm cách xoi đường vượt qua khu vực Bu Róa, hướng về phía ngã ba biêngiới (Trois Fonfiere) đồng thời lúc này đội cũng phải tập trung củng cố cơ sở vùng mớiđược xây dựng đang bị tác động mạnh do hoạt động của địch sau vụ bon Bu Bơ ĐăkNông xảy ra

Cuối tháng 9 năm 1960, Đội được Ban Lãnh đạo B.4 triệu tập về căn cứ học tập,

bàn kế hoạch khẩn trương hoàn thành nhiệm vụ xoi mở đường Sau khi nắm tình hình,

18 (đầu năm 1961 trước phong trào đồng khởi của đồng bào M’Nông, tên Tống Giang đã mang rượu cần và lễ vật ra rừng đầu thú với Cách Mạng).

Trang 39

Đội đề nghị Ban Lãnh đạo B.4 báo về Liên khu, để Liên khu trao đổi với phía Nam Bộxin hẹn địa điểm hai bên gặp nhau bằng ám tín hiệu 19

Thực hiện theo kế hoạch và nhiệm vụ, ngày 4/11/1960 đội soi đường thứ II củađoàn B90 bắt được liên lạc với lực lượng vũ trang tỉnh Phước Long, Đông Nam Bộ tạitrụ Km 4 đường 14 kéo dài tính từ ngã ba Đăk Song đi Gia Nghĩa (nay là Km 23 ĐăkMil đi Gia Nghĩa)

Như vậy, sau gần một năm vừa phát triển, gây dựng cơ sở quần chúng, vừa xoi

mở đường, đến tháng 11 năm 1960, cả hai đội của đoàn B90 (hướng Đông và hướngTây) đều hoàn thành nhiệm vụ Sự kiện này có nghĩa rất quan trọng về mặt chiến lược,chấm dứt thời kỳ chiến trường bị chia cắt, nối liền Liên Khu V với miền Đông Nam Bộ,nối liền tiền phương miền Nam với hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa; mở ramột vùng rộng lớn trở thành căn cứ địa kháng chiến Việc hai cánh phía Nam và phíaBắc ráp liên lạc được với nhau ở vùng này chẳng những làm cơ sở mở rộng đườngHành lang chiến lược lưu thông Nam - Bắc mà còn mở ra cho phong trào cách mạngcủa đồng bào các dân tộc ở đây một trang sử mới Đây là thắng lợi to lớn đạt được yêucầu chỉ đạo của Trung ương, của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà suốt cuộc kháng chiến 9năm chống Pháp, Đảng và quân đội ta đã đặt ra và trải qua bao hy sinh xương máu chưađạt được nay được ghi vào truyền thống của Đoàn B90 như một nét son sáng chói, rấtđáng tự hào, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của nhân dân trên địa bàn căn cứkháng chiến Nâm Nung, góp phần đưa cách mạng miền Nam nói chung, Nam Bộ vàcực Nam Trung Bộ nói riêng chuyển sang một giai đoạn mới

II Quá trình thành lập tỉnh Quảng Đức và Căn cứ kháng chiến Nâm Nung.

1 Thành lập tỉnh Quảng Đức.

Nghị quyết 15 của T.W Đảng ra đời đã đáp ứng kịp thời yêu cầu bức thiết củacách mạng miền Nam, đáp ứng đúng tâm tư nguyện vọng của cán bộ, đảng viên vànhân dân miền Nam, làm cho mọi người đều vui mừng phấn khởi khi tiếp thu và thựchiện Nghị quyết Từ đấy, phong trào cách mạng miền Nam vùng lên với khí thế mới rấtquyết liệt

Ngày 23 – 1 – 1959, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh thành lập ở NamTây Nguyên một tỉnh mới lấy tên là Quảng Đức, phạm vi từ phía Nam cầu 14 vào đếnPhước Long gồm 3 huyện Đức Lập, Khiêm Đức, Kiến Đức và 1 khu hành chính ĐứcXuyên, Tỉnh lỵ đóng tại Gia Nghĩa nhằm khống chế một địa bàn chiến lược ở Nam TâyNguyên và để ngăn chặn hành lang của ta vào Nam Bộ

Tháng 5 – 1959, Mỹ - Diệm đưa ra luật 10/59 - đặt cộng sản ra ngoài vòng phápluật, lê máy chém đi khắp nơi, mở toà án xét xử và chém giết ngay tại chỗ những ngườichúng cho là theo cách mạng Chúng còn mở các cuộc hành quân qui mô lớn cỡ trungđoàn, sư đoàn đánh vào căn cứ miền Tây các tỉnh Liên khu V để gom xúc dân, nhằmđàn áp phong trào cách mạng của nhân dân

Trước tình hình đó, đầu năm 1960, Liên Khu ủy V quyết định chia tỉnh Đăk Lăk

ra thành 4 vùng gọi theo mật danh là B, trong đó B.4 là mật danh gồm toàn bộ địa bàn

19 Ám tín hiệu là bên đến sau nhặt hai khúc gỗ ba gang đặt chéo hình chữ “X”, trên có phủ một cành lá tươi Thời gian gặp vào ban đêm, ngày tháng

do phía Nam quy định Bên nào đến địa điểm trước thì đặt ám tín hiệu, bên đến sau nhặt 2 khúc cây gõ, bên đến trước gõ trả lời “cộng tròn năm”; mật khẩu: hỏi bằng thủy, trả lời bằng thổ đúng rồi thì gọi tên nhau, anh em phía Nam gọi tên đội trưởng phía Bắc là “Ấm”

Trang 40

Quảng Đức20 Đến tháng 12- 1960, trên cơ sở địa giới hành chính của chính quyền NgôĐình Diệm, Trung ương quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức, được chia làm 4 huyện(mật danh là K) gồm: K.2 (Đức Lập), K.4 (Đức Xuyên), K.6 (Khiêm Đức - thị xã GiaNghĩa), và K.8 (Kiến Đức) Ban Cán sự Quảng Đức (tức Đảng bộ tỉnh) được thành lập

và củng cố, trên cơ sở Ban cán sự B4 cũ Đồng chí Vũ Anh Ba (bí danh Hồng Ưng) làm

Bí thư, các đồng chí Trần Phòng (Bảy Biên), Lê Đạo (Ama Nhao) và Ama Sa là ủyviên Sau đó (khoảng cuối năm 1960) do yêu cầu phối hợp giữa công tác xây dựng cơ

sở cách mạng và khai thông hành lang chiến lược, Trung ương quyết định bổ sung vàoban cán sự Quảng Đức 3 ủy viên nguyên là cán bộ lãnh đạo của Đoàn B90 gồm cácđồng chí: Trần Quang Sang (Ba Phước), Phùng Đình Ấm (Ba Cung), và Phạm Văn Lạc

Tỉnh Quảng Đức được thành lập, tập trung vào hai nhiệm vụ chính Một là ra sức

xây dựng phát triển thực lực cách mạng, xây dựng căn cứ địa Nâm Nung (nơi đứngchân của Cơ quan Đảng bộ tỉnh, các cơ quan trực thuộc và lực lượng vũ trang) đẩy

mạnh hoạt động chính trị, quân sự, chủ động chống đánh địch Hai là khẩn trương xây

dựng bảo vệ đường hành lang chiến lược cả cánh Đông và cánh Tây nối liền với miềnĐông Nam Bộ; chuẩn bị lương thực, thực phẩm để đưa đón cán bộ, bộ đội, các loạihàng hóa, khí tài vào Nam

Với khí thế của một tỉnh mới thành lập, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh Đảng bộQuảng Đức nhân dân trên địa bàn Nâm Nung (thuộc huyện Đức Lập) cùng quân và dântrên toàn tỉnh hăng hái tham gia cuộc đấu tranh với khí thế mới, trong đó có nhiệm vụxây dựng căn cứ kháng chiến Nâm Nung

2 Xây dựng Khu căn cứ kháng chiến Nâm Nung

Tháng 5.1959, Ban Chấp hành Trung ương ra chỉ thị “Về nhiệm vụ xây dựng căn

cứ cách mạng ở Tây Nguyên” Bản chỉ thị xác định: “Xây dựng Tây Nguyên, trọng tâm

là xây dựng các tỉnh Nam Tây Nguyên trở thành một căn cứ địa chính, vững chắc ởmiền Nam, phá vỡ kế hoạch xây dựng trung tâm căn cứ quân sự của Mỹ - Diệm, tạo thếmạnh cho cách mạng miền Nam chuyển sang tiến công địch và tích cực góp phần bảo

vệ miền Bắc” “Phương hướng phấn đấu của ta là ra sức xây dựng lực lượng, xây dựngtrung tâm căn cứ cách mạng, mở rộng các vùng trọng yếu, tiến lên xây dựng thực hiệnchiến tranh du kích cục bộ, làm chủ những vùng rộng lớn ở Tây Nguyên, uy hiếp và thuhẹp vùng kiểm soát của địch, thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị toàn miền Nam,sẵn sàng hành động khi có thời cơ”, “xây dựng đường hành lang chiến lược Bắc - Nam,Đông - Tây là yêu cầu trước mắt và lâu dài” Đồng thời Trung ương cũng giao choĐảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Đăk Lăk, Lâm Đồng và miền Đông Nam Bộ,phải đảm trách nhiệm vụ quan trọng này, vì xây dựng căn cứ địa ở Tây Nguyên là mộtvấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cách mạngmiền Nam và cả Đông Dương

Tỉnh Đăk Lăk triển khai Nghị quyết trên của Trung ương bằng việc tập trung xâydựng hai khu căn cứ lớn của tỉnh: khu căn cứ phía Bắc là Dleiya và khu căn cứ phíaNam là khu căn cứ kháng chiến Nâm Nung

Quán triệt và triển khai tinh thần chủ trương trên, đội hoạt động bất hợp pháp đãnhất trí nhận định: muốn xây dựng căn cứ ở đây, trước hết phải củng cố cho thật vững

20 - B.3: Bắc đường 21 gồm 4 huyện Đông Cheo reo, Tây Cheo reo, Buôn Hồ và Ma Đrăk.

- B.5: Nam đường 21 gồm Lăk và Bắc Lạc Dương, Đức Trọng.

- B.6: Là Buôn Ma Thuột.

Ngày đăng: 04/08/2016, 08:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Nông (1930 - 2005), Đắk Nông 2006 Khác
2. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk – Kháng chiến chống Mỹ 1954 – 1975, Tập II Khác
3. Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và quân dân các dân tộc huyện Đắk Mil 1930 – 1975. Nxb Tp. Hồ Chí Minh, năm 1996 Khác
4. Lịch sử đấu tranh của Đảng bộ và nhân dân huyện Đắk Nông, 1945 – 1975.Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2000 Khác
5. Lịch sử Khu VI (cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên) kháng chiến chống Mỹ 1954 – 1975 Khác
7. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), Tập VII, Thắng lợi quyết định năm 1972, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007 Khác
8. Lịch sử lực lượng vũ trang ND tỉnh Đắk Nông (1945 - 2007), Đắk Nông – 2009 Khác
9. Lịch sử của Đảng bộ và nhân dân huyện Krông Nô (1945-1997), Đắk Lắk, 1997 Khác
10. Lịch sử đường Hồ Chí Minh từ Nam Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ (1959 – 1975), NXB QĐND, Hà Nội-2010 Khác
11. Lịch sử CTĐ, CTCT lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Đắk Nông (1945 - 2010), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội – 2012 Khác
12. Phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng (1912-1936), Nxb Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2012 Khác
13. Tây Nguyên không xa (hồi ký) - Phạm Thuần – Nxb Văn hoá Hà Nội, năm 2000 Khác
14. Thư vào Nam - Lê Duẩn, NXB Sự thật, Hà Nội – 1985 Khác
15. Văn hoá dân gian M’Nông - Sở VHTT tỉnh Đắk Lắk, năm 1995 Khác
16. Hồ sơ Lý lịch Di tích lịch sử cách mạng Căn cứ kháng chiến B4 – Liên tỉnh IV, Sở Văn hóa, THhể thao & Du lịch tỉnh Đắk Nông.* Tài liệu ghi chép Khác
01. Bản ghi chép; Một ngày đầu kỷ niệm ở Quảng Đức (B4); Sơ đồ căn cứ tỉnh Quảng Đức (B4) năm 1959 – 1961 của đ/c Ao Sỹ - nguyên Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ Quảng Đức từ năm 1959 đến 1961 Khác
02. Bản ghi chép của đ/c Huỳnh Xuân Cư – nguyên là Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ tỉnh Quảng Đức Khác
03. Bản ghi chép của đ/c Y Thoan – nguyên là Tỉnh đội phó tỉnh Quảng Đức Khác
04. Bản ghi chép của đ/c Đỗ Thanh Bình – nguyên là Phó tham mưu Tỉnh đội tỉnh Quảng Đức Khác
05. Bản ghi chép; Bản đồ ban Hành lang B4; Tư liệu Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Đức; Vài nét về khu căn cứ Nâm Nung của đ/c Lê Trúc Phương – nguyên là Bí thư Huyện uỷ huyện Đắk Nông Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w