1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

1 lịch sử đảng bộ cô tô

168 382 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN 1ĐẢNG BỘ HUYỆN CÔ TÔ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ III (20052010)I. Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III với quyết tâm chính trị tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới1. Khái quát về huyện đảo Cô Tô sau 10 năm thành lập huyệnLà một huyện đảo được thành lập ngày 2331994 theo Nghị định Số 28CP của Chính phủ, đến năm 2004, sau 10 năm thành lập, Cô Tô có những điểm đặc biệt khác với tất cả các huyện đảo khác trong cả nước: Cô Tô là huyện đảo biên giới tiền tiêu của Tổ quốc, cách đất liền 100 km về phía Đông Bắc Vịnh Bắc Bộ, có tổng chiều dài biên giới biển tiếp giáp với Trung Quốc gần 200 km từ khơi đảo Trần đến ngoài khơi phía Đông đảo Bạch Long Vĩ Hải Phòng.Huyện Cô Tô có trên 40 hòn đảo lớn nhỏ. Trong đó, có 3 đảo lớn là: Cô Tô, Thanh Lân và đảo Trần (đảo Tràng Tây). Đảo Trần là đảo xa trung tâm huyện trên 30 km. Tổng diện tích đất nổi của huyện là 4.620 ha. Trong đó: đảo Cô Tô lớn rộng: 1.780 ha, đảo Thanh Lân rộng: 1.887 ha; đảo Trần rộng: 512 ha, còn lại là diện tích các đảo nhỏ, lẻ. Rừng và đất rừng gồm: 2.200 ha. Cô Tô là ngư trường lớn của vịnh Bắc Bộ rất thuận lợi cho việc khai thác thuỷ sản. Ngư trường Cô Tô là nguồn lợi thuỷ sản phong phú, có thể đưa việc khai thác chế biến hải sản thành sản phẩm hàng hóa để tiêu thụ cho nhân dân trong nước và nước lân cận như: Trung Quốc, Hồng Kông… Ngoài ra, Cô Tô còn một số bãi biển đẹp phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước.Huyện đảo Cô Tô có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng về quốc phòng an ninh, lãnh hải quốc gia, là một trong những điểm quan trọng để làm cơ sở xác định đường biên giới quốc gia trên biển, phân định Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc. Cô Tô là vị trí tiền tiêu trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc.Dân số của huyện gồm 1039 hộ, với 5086 nhân khẩu, bao gồm nhân dân của 10 tỉnh, thành chuyển ra xây dựng kinh tế mới như: Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hoá, Hà Tĩnh… Dân số sống trên huyện đảo Cô Tô gồm các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Mường, Sán Dìu… Trong đó, người kinh chiếm 95%, còn lại là các dân tộc khác là 5%. Huyện có 3 đơn vị hành chính: Thị trấn Cô Tô, xã Thanh Lân và xã Đồng Tiến.Ngoài những thuận lợi đó, huyện còn nhiều khó khăn, thách thức: Kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào biển, đời sống văn hoá, vật chất của nhân dân và cán bộ trên đảo trong diện đặc biệt khó khăn. Khó khăn lớn nhất là địa bàn huyện đảo xa đất liền, điều kiện giao thông đi lại không thuận tiện… Bên cạnh đó là hoạt động chống phá của các thế lực thù địch cũng như diễn biến phức tạp về quản lý chủ quyền an ninh biên giới, biển đảo đã tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh của Đảng bộ huyện.Sau 10 năm thành lập, được sự quan tâm của Trung ương Đảng, của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Đảng bộ huyện, các cấp chính quyền và nhân dân trên đảo đã đoàn kết một lòng, xây dựng Cô Tô thành một huyện đảo ngày càng giàu mạnh, đạt được nhiều thành tựu rất đáng trân trọng. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng ổn định, nâng cao. An ninh quốc phòng luôn được giữ vững. Vị trí tiền tiêu của Tổ quốc ngày càng được củng cố vững chắc.2. Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III (92005)Đại hội Đại biểu Đảng bộ Huyện Cô Tô lần thứ III, nhiệm kỳ 20052010, được tiến hành từ ngày 149 đến ngày 1592005 với tinh thần dân chủ, trí tuệ, đoàn kết và trách nhiệm.Đại hội đã thảo luận và thông qua Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa II, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ, nhiệm kỳ 20002005 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 20052010; Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa II; Báo cáo kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương VI (lần 2) về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đại hội đã biểu quyết nội dung góp ý với Dự thảo Báo cáo chính trị và Dự thảo Điều lệ Đảng (sửa đổi bổ sung) trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng; đóng góp ý kiến vào Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII.Đánh giá về việc lãnh đạo thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa II (20002005), Đại hội khẳng định: Mặc dù trong điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật của kinh tế huyện đảo còn nhiều khó khăn, thiếu thốn; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tình hình an ninh quốc phòng trên vùng biển vẫn còn diễn biến phức tạp. Được sự quan tâm của Trung ương Đảng, tỉnh Quảng Ninh và các ban, ngành, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện đảo đã đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, thử thách, vươn lên giành những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế xã hội. Hàng năm, hầu hết các ngành kinh tế của huyện đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm: 10,2%. Kết cấu hạ tầng kinh tế được đầu tư xây dựng với tốc độ nhanh, phục vụ thiết thực cho sản xuất, lưu thông và an ninh quốc phòng. Sự nghiệp giáo dục, văn hóa, y tế, truyền thanh truyền hình được quan tâm và phát triển cả về quy mô và chất lượng, phục vụ thiết thực cho nhu cầu của nhân dân huyện đảo. Các chính sách xã hội được quan tâm; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong huyện từng bước được cải thiện; an ninh quốc phòng được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và công tác vận động quần chúng từng bước được kiện toàn và có những tiến bộ rõ rệt.Bên cạnh những thành tựu đó, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Tốc độ phát triển của một số ngành kinh tế mũi nhọn còn chậm, chưa bền vững; chưa tổ chức tốt việc khai thác tiềm năng kinh tế biển, việc vận động các thành phần kinh tế đầu tư vốn vào nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao còn ít. Ngành nông, lâm nghiệp cũng còn hạn chế trong thâm canh, chuyển đổi cơ cấu giống, cây trồng, mùa vụ, chất lượng trồng rừng và công tác bảo vệ rừng vẫn còn nhiều thiếu sót. Công tác giải quyết việc làm chưa đạt hiệu quả cao, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhưng vẫn còn ở mức cao. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền có nhiều tiến bộ, nhưng trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, một số tổ chức cơ sở đảng, chính quyền còn lúng túng trong lãnh đạo, điều hành. Đặc biệt, một số ít cán bộ, đảng viên chưa năng động, sáng tạo, nhận thức còn hạn chế, thậm chí còn có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và vi phạm pháp luật.Trên cơ sở phân tích sâu sắc thành tựu và hạn chế sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II; đồng thời, nhằn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ và các biện pháp tổ chức thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội, trong đó tập trung thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản: Chỉ đạo tổ chức khai thác tốt tiềm năng kinh tế của địa phương, chú trọng đẩy mạnh phát triển bền vững các ngành kinh tế mũi nhọn, xác định cơ cấu kinh tế của huyện là: Ngư nghiệp dịch vụ, thương mại Du lịch Nông lâm nghiệp. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm từ 12% đến 15%. Cụ thể:+ Ngành thủy sản: Tổ chức, quản lý, chỉ đạo khai thác hải sản trên các tuyến, chú ý tổ chức tốt khai thác tuyến khơi, tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương, của tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân vay vốn để đầu tư mua sắm phương tiện, trang thiết bị, vật tư phục vụ đánh bắt, nuôi trồng hải sản; quản lý tốt tài nguyên môi trường biển. Phấn đấu đưa sản lượng khai thác thủy sản đến năm 2010 đạt 5.500 tấn.+ Ngành nông nghiệp: Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu cây trồng mùa vụ hợp lý, chú ý đưa giống mới có năng suất cao vào sản xuất. Tăng cường các biện pháp tưới tiêu và các công trình thủy lợi, thực hiện tốt công tác khuyến nông, phấn đấu đưa sản lượng lương thực quy thóc hàng năm là 650 tấn.+ Ngành lâm nghiệp: Nhiệm vụ trọng tâm là giao đất rừng, làm tốt công tác quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng hiện có, nâng cao độ che phủ của rừng. Tăng cường chỉ đạo phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ, thương mại, xây dựng cơ bản, giao thông, bưu điện, khuyến khích và tạo điều kiện cho các ngành và các dịch vụ phát triển phục vụ sản xuất và đời sống. Quản lý, khai thác có hiệu quả các bến tàu, cầu cảng và các trung tâm dịch vụ. Từng bước bê tông hóa các tuyến đường liên thôn, mở rộng, nâng cấp hệ thống điện nội thị và đường xuyên đảo Cô Tô. Mở rộng mạng lưới thông tin và giao thông vận tải đảm bảo an toàn, tiến tới đưa hệ thống vận tải hành khách và hàng hóa giữa đảo và đất liền bằng tầu cao tốc. Đảm bảo hệ thống thông tin thông suốt. Phấn đấu đến năm 2010, có trên 80% số hộ dân được sử dụng nước sạch, 90 95% được sử dụng điện.Đề nghị tỉnh Quảng Ninh và Nhà nước có chính sách ưu tiên đặc biệt để phát triển kinh tế Cô Tô. Kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vốn, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ. Phát triển Cô Tô để từng bước đưa khu kinh tế tổng hợp (Vân đồn Cô Tô) vào hoạt động. Tăng cường công tác chỉ đạo thu ngân sách: Phấn đấu tăng thu ngân sách hàng năm từ 10% đến 12%, đến năm 2010, tổng nguồn thu đạt 2.150 triệu đồng. Đảm bảo chi ngân sách theo đúng kế hoạch; có hiệu quả, thực hiện chi đúng trọng tâm, trọng điểm, tiết kiệm chi. Quan tâm phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin thể thao, truyền thanh truyền hình, y tế, giáo dục.+ Thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh, tiến bộ. Chú trọng xây dựng gia đình văn hóa mới, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Phát triển phong trào thể dục thể thao sâu rộng trong nhân dân.+ Củng cố hệ thống truyền thanh truyền hình, phấn đấu đến năm 2006, đưa trang tin lên truyền hình địa phương, 95% số hộ dân có phương tiện nghe nhìn.+ Quan tâm hơn nữa đến công tác giáo dục đào tạo, không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học. Phấn đấu đến năm 2010: 100% các trường tiểu học và trung học cơ sở và trung học phổ thông có điều kiện học 2 buổingày ở mỗi bậc học, ngành học từ mầm non đến trung học phổ thông đều có ít nhất 1 trường đạt chuẩn quốc gia. 100% giáo viên từ mầm non đến phổ thông trung học đạt trình độ chuẩn, trong đó có 20% đến 30% giáo viên các cấp đạt tiêu chuẩn. 13 xã, thị trấn được công nhận hoàn thành phổ cập trung học phổ thông, 100% xã, thị trấn được công nhận hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi.+ Chú trọng công tác khám và chữa bệnh trên địa bàn, tăng cường đội ngũ y, bác sỹ chuyên khoa sâu, đặc biệt ở hai ngành ngoại và sản. Duy trì, mở rộng các cơ sở y tế phục vụ nhân dân ở những nơi xa trung tâm, phát huy họat động chương trình quân dân y kết hợp. Phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống dưới 15%, giảm tỷ suất sinh bình quân hàng năm 0,3%, tốc độ phát triển dân số là 1%.+ Thực hiện tốt chính sách xã hội, quan tâm hơn nữa đối với các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và những người có công.+ Thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, phấn đấu đến năm 2010 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 7%. Giải quyết việc làm mới hàng năm cho 80 đến 100 lao động. Tăng cường công tác quốc phòng an ninh, thường xuyên nâng cao cảnh giác, chống các âm mưu thủ đoạn của địch. Thực hiện sự phối hợp các lực lượng vũ trang trên địa bàn giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Gắn chặt nhiệm vụ củng có quốc phòng với các chương trình phát triển kinh tế xã hội. Đẩy mạnh, nhân rộng hoạt động của phong trào “Giữ đảo bình yên” góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Nâng cao hơn nữa chất lượng họat động của Hội đồng nhân dân và sự điều hành của Uỷ ban nhân dân các cấp, tiếp tục kiện toàn và thực hiện cải cách hành chính. Tiếp tục thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Tăng cường sự lãnh đạo hoạt động của các tổ chức quần chúng, các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở. Thực hiện tốt mối quan hệ giữa cấp ủy, chính quyền với các đoàn thể quần chúng. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng phải tập hợp, động viên hội viên, đoàn viên và nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện. Tăng cường công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương sáu (lần 2), xây dựng các cơ sở Đảng ngày càng vững mạnh cả về số lượng và chất lượng nhằm xây dựng Đảng bộ ngày càng vững mạnh. Đảng viên phải có phẩm chất đạo đức trong sáng và trình độ năng lực lãnh đạo, thực hiện Nghị quyết của Đảng, Phấn đấu hàng năm phát triển từ 7% đến 10% đảng viên mới. Mỗi năm có từ 65% đến 70% tổ chức cơ sở Đảng đạt danh hiệu “trong sạch vững mạnh”. Tăng cường công tác kiểm tra Đảng hàng năm.Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Khóa III, nhiệm kỳ 20052010, gồm 27 đồng chí. Đại hội cũng đã bầu đoàn Đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ cấp trên gồm 5 đồng chí.Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Cô Tô lần thứ III, nhiệm kỳ 20052010 với tinh thần dân chủ, trí tuệ, đoàn kết và trách nhiệm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng sau 10 năm thành lập huyện. Đại hội đã đánh giá đúng những thuận lợi, khó khăn, phân tích sâu sắc những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ II; đồng thời, thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế cần phải khắc phục. Với tinh thần đoàn kết và trách nhiệm cao, phát huy tinh thần dân chủ, Đại hội đã tập trung trí tuệ, đề ra mục tiêu, phương hướng, các biện pháp và kế hoạch tổ chức thực hiện, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III. II. Lãnh đạo phát triển kinh tế, tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hộiThực hiện Nghị quyết Đại hội huyện Cô Tô lần thứ III, Đảng bộ huyện Cô Tô đã quyết tâm tập trung chỉ đạo tổ chức khai thác tốt tiềm năng kinh tế của địa phương, chú trọng đẩy mạnh phát triển bền vững các ngành kinh tế mũi nhọn; theo định huớng mà NghÞ quyÕt §¹i héi §¶ng bé huyện lÇn thø III ®· xác định là: ngư nghiệp dịch vụ, thương mại du lịch nông lâm nghiệp.1. Lãnh đạo phát triển nông, lâm, ngư nghiệpTrước khi Đại hội Đảng bộ lần thứ III huyện Cô Tô tiến hành, theo Báo cáo số 07BCHU về “ Thực hiện nhiệm vụ 9 tháng. Một số nhiệm vụ trọng tâm quý IV2005” đã nhận định t×nh h×nh 9 tháng đầu năm 2005 gặp nhiều khó khăn thách thức: rét đậm, rét hại đầu năm, hạn hán kéo dài làm cho nước ở các hồ đập cạn kiệt, từ đó làm giảm diện tích, năng suất, sản lượng vụ Đông Xuân so với cùng kỳ năm trước. Mặt khác giá cả hàng hoá trên thị trường có sự biến động đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân trên địa bàn. Bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III vượt lên những khó khăn về thời tiết; sự giảm sút về diện tích, năng suất và sản luợng trong vụ sản xuất Đông Xuân và những biến động lớn về giá cả thị truờng, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo tới các cấp ủy và chính quyền địa phương trong huyện tập trung khắc phục khó khăn, ưu tiên phát triển kinh tế. Với sự nỗ lực phấn đấu của cấp ủy và chính quyền các cấp, tình hình kinh tế xã hội của huyện tiếp tục ổn định, duy trì và phát triển. Các chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu đều đạt kế hoạch đề ra và tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ năm trước, an ninh quốc phòng được giữ vững, đời sống nhân dân ổn định.Trong sản xuất nông nghiệp: do thời tiết không thuận lợi, hạn hán kéo dài, nguồn nước phục vụ sản xuất không chủ động nên đã ảnh hưởng tới sản xuất vụ Chiêm Xuân. Vì thế, tổng diện tích gieo trồng vụ Chiêm chỉ đạt 82,7 ha, bằng 88%. Trong đó, lúa: 54,7 ha (giảm 11,3 ha so với cùng kỳ năm trước); ngô: 0,5 ha; khoai lang: 5,5 ha; lạc: 4 ha; đậu: 11 ha; sắn: 7 ha. Trong vụ mùa, do thời tiết thuận lợi, tổng diện tích gieo trồng đạt 170 ha, tăng 1 ha so với vụ mùa năm trước. Bên cạnh đó, do đưa giống lúa mới, có năng suất cao vào canh tác, nên năng suất lúa vụ mùa đạt khoảng 36 tạha. Để phục vụ sản xuất nông nghiệp, huyện đã dùng nguồn vốn ngân sách địa phương để hỗ trợ cước vận chuyển thóc giống cho nông dân, với 3.700 kg thóc giống (vụ chiêm: 1.400 kg; vụ mùa: 2.300 kg) chủ yếu là giống mới: Bồi tạp, Khang dân, Siêu khang dân, Q5 nguyên chủng, Hương thơm, Hoa ưu 86. Phân bón cung ứng: 108 tấn, trong đó: đạm: 39 tấn; kali: 6 tấn; lân: 18 tấn; NPK: 45 tấn.Trước sự hoành hành của dịch cúm gia cầm, Huyện ủy đã chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn cùng các địa phương tiến hành tiêu huỷ: 226 con gà, 968 quả trứng gia cầm. Phun thuốc khử trùng phòng dịch cho đàn gia cầm kịp thời cho nên đã ngăn chặn được dịch bệnh lan rộng. Tổ chức tiêm phòng vacxin phòng chống bệnh: đóng dấu, dịch tả, thương hàn cho đàn lợn trên địa bàn huyện. Nhờ làm tốt công tác phòng chống các loại dịch bệnh nên đàn gia súc, gia cầm phát triển tốt. Năm 2005, tổng đàn lợn: 2.350 con, đạt 106,8% kế hoạch năm; đàn trâu: 255 con, đạt 98,1% kế hoạch năm; đàn bò: 497 con, đạt 99,4% kế hoạch năm; gia cầm: 15.000 con, tăng 7,1% so với cùng kỳ; đàn dê: 135 con, tăng 3,8% so với cùng kỳ.Lâm nghiệp: Công tác bảo vệ rừng chưa được chính quyền địa phương quan tâm đúng mức. Tình trạng chặt phá rừng làm củi, khai thác gỗ còn xảy ra ở các địa bàn xã Thanh Lân, xã Đồng Tiến. Chưa xử lý kịp thời những đối tượng chặt phá rừng, nhất là rừng phòng hộ chắn gió cát ven biển, rừng thông… Những tháng cuối năm 2005, do cung ứng kịp thời than bùn làm chất đốt cho nên việc chặt phá rừng làm chất đốt đã giảm đáng kể.Ngư nghiệp: Tổng sản lượng khai thác đạt 4.120 tấn, bằng 73% kế hoạch năm. Trong đó, cá: 2.197 tấn, tôm: 55 tấn, mực: 232 tấn, hải sản khác: 1.636 tấn, tăng 295 tấn (7,7%) so với cùng kỳ năm trước. Kế hoạch khai thác đánh bắt hải sản có sự tăng trưởng là do trong ngư trường huyện đảo đã xuất hiện loài sứa biển, rong biển. Vì vậy, ngư dân đã tập trung khai thác, sơ chế, xuất bán sang thị trường Trung Quốc, góp phần tăng thu nhập cho nhân dân trên địa bàn.Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cơn bão số 2 đã gây thiệt hại đáng kể cho nuôi trồng thuỷ sản của địa phương, đặc biệt là ở xã Thanh Lân. Tổng thiệt hại khoảng 437 triệu đồng. Trong đó, tôm Hùm giống chết 3.846 con; cá lồng bè thiệt hại 110 triệu đồng.Thực hiện chủ trương phát triển nuôi trồng thuỷ sản, huyện đã tổ chức đưa các hộ nuôi trồng thuỷ sản đi tham quan, học tập các mô hình nuôi cá lồng bè theo công nghệ Nauy tại các tỉnh miền Trung; mô hình nuôi lồng chìm, Ốc Hương, Tu Hài tại các huyện trong tỉnh. Nhằm động viên các chủ hộ nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn đi vào ổn định sản xuất, Uỷ ban nhân dân huyện tiếp tục chỉ đạo công tác nuôi Tôm Hùm, cá lồng bè theo công nghệ Nauy theo chương trình nguồn vốn hỗ trợ phát triển kinh tế của tỉnh. Huyện giúp đỡ một hộ dân đưa vào nuôi thí điểm khoảng 2 vạn con giống Ốc Hương tại khu vực gần vụng Hồng Vàn. Nếu thành công, sẽ nhân rộng trong các vụ nuôi tiếp theo.Ban Chấp hành Đảng Bộ huyện đã đề ra những nhiệm vụ trọng tâm trong quý IV năm 2005.Nông nghiệp: Tập trung chỉ đạo nông dân chăm sóc, làm tốt công tác phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng. Tập trung phát triển mô hình thí điểm cây cam đặc sản ở xã Thanh Lân.Tiến hành chủ động tiêm phòng, đề phòng dịch bệnh, đảm bảo đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định.Lâm nghiệp: Tiến hành trồng, chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng trên địa bàn từ nguồn vốn dự án 661 năm 2005 và ngân sách địa phương. Có biện pháp xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm chặt phá rừng; kiểm tra bảo vệ rừng trên địa bàn.Ngư nghiệp: Tiếp tục chỉ đạo phát triển dự án nuôi cá lồng bè trên biển. Xây dựng mô hình nuôi cá lồng theo công nghệ Nauy. Vận động ngư dân nuôi các loại hải sản có giá trị cao như: Tôm Hùm, Bào Ngư, Ốc Hương; Vận động ngư dân khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản sẵn có như: Bào Ngư, Hải Sâm, Cầu Gai...Tăng cường công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản. Quản lý tốt tàu thuyền hoạt động nghề cá, làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn đảm bảo an toàn cho người và phương tiện khai thác hải sản trong mùa mưa bão.Nhờ sự lãnh đạo sát sao, kịp thời của Đảng bộ huyện và sự nỗ lực của các tầng lớp nhân dân nên, mặc dù gặp nhiều khó khăn do thiên tai nhưng kinh tế xã hội của huyện Cô Tô trong năm 2005 đạt được những kết quả hết sức quan trọng, tạo điều kiện cho sự phát triển của các năm sau.Trong sản xuất nông nghiệp: Do chưa chủ động nguồn nước phục vụ cho sản xuất, nên diện tích gieo trồng cả năm thực hiện chỉ đạt 252,7 ha, bằng 96% kế hoạch năm, giảm 10 ha so với cùng kỳ. Trong đó, lúa: 204,7 ha, đạt 94,5% (giảm: 11,3 ha so với cùng kỳ năm trước). Tổng sản lượng lương thực đạt 580 tấn, đạt 82,8% kế hoạch năm, giảm 62 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, nên đàn gia súc, gia cầm phát triển tốt. Huyện tiến hành tiêm phòng cả 2 đợt với số lượng trên 10.000 con. Đồng thời, ngăn chặn việc lưu thông gia cầm từ các địa phương khác đến địa bàn huyện và gia cầm từ địa bàn huyện đến các địa phương khác. Đến 20112005, đàn lợn: 2.350 con, đạt 106,8% kế hoạch năm; đàn trâu: 255 con, đạt 98,1% kế hoạch năm; đàn bò: 497 con, đạt 99,4% kế hoạch năm; gia cầm: 15.000 con, đạt 107,1%, tăng 7,1% so với cùng kỳ; đàn dê: 135 con, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước.Lâm nghiệp: Công tác bảo vệ rừng luôn được cấp uỷ, chính quyền các cấp quan tâm, nhất là trong việc phòng chống cháy rừng, chặt phá rừng. Năm 2005, trên huyện đã trồng mới: 9 ha rừng, đạt 62% kế hoạch năm. Ngư nghiệp: Tổng giá trị sản xuất ngư nghiệp ước tính đạt 30 tỷ, tăng 109% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng thực hiện đạt 5.700 tấn, bằng 101% kế hoạch năm. Trong đó, cá: 2.942 tấn; tôm: 90 tấn; mực: 324 tấn, hải sản khác: 2.344 tấn, tăng 710 tấn (10,2%) so với cùng kỳ năm trước.Trong năm 2005, huyện tiến hành khai thác sứa biển, rong biển sơ chế xuất tiểu ngạch ra nước ngoài với tổng sản lượng hàng ngàn tấn, đạt giá trị hàng tỷ đồng, tạo việc làm cho hàng trăm lao động. Tuy nhiên, do ảnh hưởng trực tiếp của cơn bão số 2, nên trên: 3.846 con tôm giống chết, gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng.Trên cơ sở phân tích kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 2005 và căn cứ vào tình hình thực tế, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện ra Nghị quyết số 03 NQHU về phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2006. Nghị quyết chỉ rõ, năm 2006, là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, toàn huyện cũng đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức: đại dịch cúm gia cầm vẫn bùng phát và có nguy cơ lan trên diện rộng; giá cả thị trường các mặt hàng tăng nhanh; thời tiết diễn biến phức tạp, khó lường; nước ta tham gia hội nhập kinh tế quốc tế sẽ có những tác động cạnh tranh quyết liệt. Do đó, cần tập trung triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III và nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, nhằm phát triển mạnh mẽ và đồng bộ các lĩnh vực kinh tế, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Khai thác và phát huy nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển. Nghị quyết đề ra các chỉ tiêu kinh tế năm 2006: Tăng trưởng kinh tế (GDP): 11% đến 13%. Khai thác thuỷ sản các loại: 5.800 tấn. Sản lượng lương thực: 650 tấn. Thu ngân sách trên địa bàn tăng trên: 10% so với kế hoạch pháp lệnh.Nhằm hoàn thành nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 2006, Đảng bộ huyện đã đề ra Nghị quyết số 03 và chương trình công tác số 06, số 19 đã chỉ đạo các ban, ngành địa phương thực hiện toàn diện các nhiệm vụ. Nhờ vậy, sản xuất đã có chuyển biến tích cực.Đối với sản xuất nông nghiệp: Đã khắc phục được hạn hán, thiếu nước, sâu bệnh hại lúa. Diện tích gieo trồng năm 2006 đạt 259,6 ha; trong đó, diện tích lúa là: 214,6 ha; diện tích rau màu là: 45 ha.Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt khoảng: 6,8 tỷ6 tỷ, đạt 113,33% kế hoạch năm. Sản lượng thóc đạt 610 tấn, tăng 1,6% kế hoạch năm. Năng suất lúa bình quân 28,1 tạha. Các giống lúa có năng suất cao được đưa vào sản xuất đáng chú ý là Khang dân, Hương thơm, Bao thai. Trong ngành chăn nuôi: Huyện tổ chức tốt công tác phòng chống dịch bệnh, phòng chống rét cho đàn gia súc gia cầm trong toàn huyện. Tiêm phòng cả 2 đợt với số lượng trên: 12.610 con gà, vịt. Bên cạnh đó, đàn gia súc gia cầm phát triển tốt.Lâm nghiệp: Thực hiện chương trình 661 từ nguồn vốn phát triển kinh tế của huyện, toàn huyện đã trồng được 44,5 ha rừng (trong đó: 14,5 ha rừng thông mã vị, 30 ha rừng phi lao ven biển); chăm sóc 23,5 ha, bảo vệ 686,9 ha.Ngư nghiệp: Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III: “Tiếp tục xây dựng và phát triển một cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng: Ngư nghiệp dịch vụ, du lịch nông, lâm nghiệp công nghiệp, trong đó: Ngành kinh tế mũi nhọn là ngư nghiệp; đẩy mạnh nghề khai thác hải sản tuyến khơi, chú trọng phát triển khai thác gần bờ truyền thống cùng với việc nuôi trồng thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao”, trong chương trình phát triển kinh tế, Huyện ủy xác định, nhiệm vụ sản xuất ngư nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu. Huyện ủy ra Nghị quyết số 09NQHU Về Chương trình phát triển kinh tế thuỷ sản 5 năm (20062010) và định hướng đến 2015 và Nghị quyết số 10NQHU Về một số nhiệm vụ cấp bách trong quản lý tài nguyên và môi trường.Huyện ủy Cô Tô chỉ rõ: Phát huy các lợi thế về địa lý, ưu thế về tiềm năng thuỷ sản hiÖn có trên địa bàn huyện; tập trung đầu tư mở rộng quy mô và đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thủy sản, xây dựng ngành thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, thành trung tâm hậu cần dịch vụ nghề cá của tỉnh Quảng Ninh và khu vực phía Bắc VÞnh B¾c bé. Phát triển kinh tế thủy sản là nhiệm vụ, trách nhiệm của tất cả các cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng trong huyện; phát triển phải gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường sinh thái; khuyến khích các thành phần kinh tế trong vµ ngoµi n­íc đầu tư vào phát triển nuôi trồng, khai thác, chế biến xuất khẩu và dịch vụ hậu cần nghề cá có sự hỗ trợ và quản lý thống nhất của Nhà nướcSử dụng các nguồn vốn của tỉnh, của huyện hỗ trợ tập huấn kỹ thuật khai thác, chế biến, nuôi trồng hải sản, tạo cho nhân dân phấn khởi, hăng hái sản xuất.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG

Lịch sử Đảng bộ huyện Cô Tô (2004-2014)

LỜI GIỚI THIỆU: Do một đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy hoặc Trung ươngđứng tên

LỜI NÓI ĐẦU: Của BCH Đảng bộ (Do Bí thư Huyện uỷ đứng tên).

PHẦN 1ĐẢNG BỘ HUYỆN CÔ TÔ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ HUYỆN

LẦN THỨ III (2005-2010)

I Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III với quyết tâm chính trị tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới

1 Khái quát về huyện đảo Cô Tô sau 10 năm thành lập huyện

Là một huyện đảo được thành lập ngày 23-3-1994 theo Nghị định Số

28-CP của Chính phủ, đến năm 2004, sau 10 năm thành lập, Cô Tô có những điểmđặc biệt khác với tất cả các huyện đảo khác trong cả nước: Cô Tô là huyện đảobiên giới tiền tiêu của Tổ quốc, cách đất liền 100 km về phía Đông Bắc VịnhBắc Bộ, có tổng chiều dài biên giới biển tiếp giáp với Trung Quốc gần 200 km

từ khơi đảo Trần đến ngoài khơi phía Đông đảo Bạch Long Vĩ - Hải Phòng

Huyện Cô Tô có trên 40 hòn đảo lớn nhỏ Trong đó, có 3 đảo lớn là: Cô

Tô, Thanh Lân và đảo Trần (đảo Tràng Tây) Đảo Trần là đảo xa trung tâmhuyện trên 30 km Tổng diện tích đất nổi của huyện là 4.620 ha Trong đó: đảo

Cô Tô lớn rộng: 1.780 ha, đảo Thanh Lân rộng: 1.887 ha; đảo Trần rộng: 512

ha, còn lại là diện tích các đảo nhỏ, lẻ Rừng và đất rừng gồm: 2.200 ha Cô Tô

là ngư trường lớn của vịnh Bắc Bộ rất thuận lợi cho việc khai thác thuỷ sản Ngưtrường Cô Tô là nguồn lợi thuỷ sản phong phú, có thể đưa việc khai thác chếbiến hải sản thành sản phẩm hàng hóa để tiêu thụ cho nhân dân trong nước và

Trang 2

nước lân cận như: Trung Quốc, Hồng Kông… Ngoài ra, Cô Tô còn một số bãibiển đẹp phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước.

Huyện đảo Cô Tô có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng về quốc phòng - anninh, lãnh hải quốc gia, là một trong những điểm quan trọng để làm cơ sở xácđịnh đường biên giới quốc gia trên biển, phân định Vịnh Bắc Bộ với TrungQuốc Cô Tô là vị trí tiền tiêu trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc

Dân số của huyện gồm 1039 hộ, với 5086 nhân khẩu, bao gồm nhân dâncủa 10 tỉnh, thành chuyển ra xây dựng kinh tế mới như: Hải Phòng, Nam Định,Thái Bình, Thanh Hoá, Hà Tĩnh… Dân số sống trên huyện đảo Cô Tô gồm cácdân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Mường, Sán Dìu… Trong đó, người kinh chiếm95%, còn lại là các dân tộc khác là 5% Huyện có 3 đơn vị hành chính: Thị trấn

Cô Tô, xã Thanh Lân và xã Đồng Tiến

Ngoài những thuận lợi đó, huyện còn nhiều khó khăn, thách thức: Kinh tếchủ yếu phụ thuộc vào biển, đời sống văn hoá, vật chất của nhân dân và cán bộtrên đảo trong diện đặc biệt khó khăn Khó khăn lớn nhất là địa bàn huyện đảo

xa đất liền, điều kiện giao thông đi lại không thuận tiện… Bên cạnh đó là hoạtđộng chống phá của các thế lực thù địch cũng như diễn biến phức tạp về quản lýchủ quyền an ninh biên giới, biển đảo đã tác động, ảnh hưởng không nhỏ đếncông tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội, đảm bảo quốc phòng an ninh của Đảng bộ huyện

Sau 10 năm thành lập, được sự quan tâm của Trung ương Đảng, của Đảng

bộ tỉnh Quảng Ninh, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Đảng bộ huyện, cáccấp chính quyền và nhân dân trên đảo đã đoàn kết một lòng, xây dựng Cô Tôthành một huyện đảo ngày càng giàu mạnh, đạt được nhiều thành tựu rất đángtrân trọng Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng ổn định, nângcao An ninh - quốc phòng luôn được giữ vững Vị trí tiền tiêu của Tổ quốc ngàycàng được củng cố vững chắc

2 Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III (9-2005)

Trang 3

Đại hội Đại biểu Đảng bộ Huyện Cô Tô lần thứ III, nhiệm kỳ 2005-2010,

được tiến hành từ ngày 14-9 đến ngày 15-9-2005 với tinh thần dân chủ, trí tuệ, đoàn kết và trách nhiệm.

Đại hội đã thảo luận và thông qua Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hànhĐảng bộ huyện khóa II, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ, nhiệm kỳ 2000-

2005 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2005-2010; Báo cáo kiểmđiểm sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa II;Báo cáo kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương VI (lần 2) về xâydựng và chỉnh đốn Đảng Đại hội đã biểu quyết nội dung góp ý với Dự thảo Báocáo chính trị và Dự thảo Điều lệ Đảng (sửa đổi bổ sung) trình Đại hội Đại biểutoàn quốc lần thứ X của Đảng; đóng góp ý kiến vào Dự thảo Báo cáo Chính trịcủa Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII

Đánh giá về việc lãnh đạo thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyệnkhóa II (2000-2005), Đại hội khẳng định: Mặc dù trong điều kiện cơ sở vật chất,

kỹ thuật của kinh tế huyện đảo còn nhiều khó khăn, thiếu thốn; đời sống nhândân còn nhiều khó khăn, tình hình an ninh - quốc phòng trên vùng biển vẫn còndiễn biến phức tạp Được sự quan tâm của Trung ương Đảng, tỉnh Quảng Ninh

và các ban, ngành, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện đảo đã đoàn kết vượtqua mọi khó khăn, thử thách, vươn lên giành những thành tựu quan trọng trêncác lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội Hàng năm, hầu hết các ngành kinh tế củahuyện đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàngnăm: 10,2% Kết cấu hạ tầng kinh tế được đầu tư xây dựng với tốc độ nhanh,phục vụ thiết thực cho sản xuất, lưu thông và an ninh - quốc phòng Sự nghiệpgiáo dục, văn hóa, y tế, truyền thanh - truyền hình được quan tâm và phát triển

cả về quy mô và chất lượng, phục vụ thiết thực cho nhu cầu của nhân dân huyệnđảo Các chính sách xã hội được quan tâm; đời sống vật chất, tinh thần của nhândân trong huyện từng bước được cải thiện; an ninh - quốc phòng được giữ vững.Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và công tác vận động quầnchúng từng bước được kiện toàn và có những tiến bộ rõ rệt

Trang 4

Bên cạnh những thành tựu đó, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục.

- Tốc độ phát triển của một số ngành kinh tế mũi nhọn còn chậm, chưabền vững; chưa tổ chức tốt việc khai thác tiềm năng kinh tế biển, việc vận độngcác thành phần kinh tế đầu tư vốn vào nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế caocòn ít Ngành nông, lâm nghiệp cũng còn hạn chế trong thâm canh, chuyển đổi

cơ cấu giống, cây trồng, mùa vụ, chất lượng trồng rừng và công tác bảo vệ rừngvẫn còn nhiều thiếu sót

- Công tác giải quyết việc làm chưa đạt hiệu quả cao, tỷ lệ hộ nghèo đãgiảm nhưng vẫn còn ở mức cao

- Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền có nhiều tiến bộ, nhưngtrước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, một số tổ chức cơ sở đảng, chính quyềncòn lúng túng trong lãnh đạo, điều hành Đặc biệt, một số ít cán bộ, đảng viênchưa năng động, sáng tạo, nhận thức còn hạn chế, thậm chí còn có biểu hiện suythoái về đạo đức, lối sống và vi phạm pháp luật

Trên cơ sở phân tích sâu sắc thành tựu và hạn chế sau 5 năm thực hiệnNghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II; đồng thời, nhằn đáp ứng yêu cầu,nhiệm vụ mới, Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ và các biện pháp tổ chứcthực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, trong đó tập trung thực hiện các mục tiêu,nhiệm vụ cơ bản:

- Chỉ đạo tổ chức khai thác tốt tiềm năng kinh tế của địa phương, chútrọng đẩy mạnh phát triển bền vững các ngành kinh tế mũi nhọn, xác định cơcấu kinh tế của huyện là: Ngư nghiệp - dịch vụ, thương mại - Du lịch - Nông -lâm nghiệp Phấn đấu tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm từ 12% đến 15%

Cụ thể:

+ Ngành thủy sản: Tổ chức, quản lý, chỉ đạo khai thác hải sản trên các

tuyến, chú ý tổ chức tốt khai thác tuyến khơi, tranh thủ sự giúp đỡ của Trungương, của tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân vay vốn để đầu tư mua sắmphương tiện, trang thiết bị, vật tư phục vụ đánh bắt, nuôi trồng hải sản; quản lý

Trang 5

tốt tài nguyên - môi trường biển Phấn đấu đưa sản lượng khai thác thủy sản đếnnăm 2010 đạt 5.500 tấn.

+ Ngành nông nghiệp: Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu cây trồng mùa vụ hợp

lý, chú ý đưa giống mới có năng suất cao vào sản xuất Tăng cường các biệnpháp tưới tiêu và các công trình thủy lợi, thực hiện tốt công tác khuyến nông,phấn đấu đưa sản lượng lương thực quy thóc hàng năm là 650 tấn

+ Ngành lâm nghiệp: Nhiệm vụ trọng tâm là giao đất rừng, làm tốt công

tác quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng hiện có, nâng cao độ che phủ của rừng

- Tăng cường chỉ đạo phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp, du lịch,dịch vụ, thương mại, xây dựng cơ bản, giao thông, bưu điện, khuyến khích vàtạo điều kiện cho các ngành và các dịch vụ phát triển phục vụ sản xuất và đờisống Quản lý, khai thác có hiệu quả các bến tàu, cầu cảng và các trung tâm dịch

vụ Từng bước bê tông hóa các tuyến đường liên thôn, mở rộng, nâng cấp hệthống điện nội thị và đường xuyên đảo Cô Tô Mở rộng mạng lưới thông tin vàgiao thông vận tải đảm bảo an toàn, tiến tới đưa hệ thống vận tải hành khách vàhàng hóa giữa đảo và đất liền bằng tầu cao tốc Đảm bảo hệ thống thông tinthông suốt Phấn đấu đến năm 2010, có trên 80% số hộ dân được sử dụng nướcsạch, 90 - 95% được sử dụng điện

Đề nghị tỉnh Quảng Ninh và Nhà nước có chính sách ưu tiên đặc biệt đểphát triển kinh tế Cô Tô Kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vốn,xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ Phát triển

Cô Tô để từng bước đưa khu kinh tế tổng hợp (Vân đồn - Cô Tô) vào hoạt động

- Tăng cường công tác chỉ đạo thu ngân sách: Phấn đấu tăng thu ngânsách hàng năm từ 10% đến 12%, đến năm 2010, tổng nguồn thu đạt 2.150 triệuđồng Đảm bảo chi ngân sách theo đúng kế hoạch; có hiệu quả, thực hiện chiđúng trọng tâm, trọng điểm, tiết kiệm chi

- Quan tâm phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin - thể thao, truyền thanh

- truyền hình, y tế, giáo dục

Trang 6

+ Thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh, tiến bộ Chú trọng xây dựng giađình văn hóa mới, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện tốt cuộc

vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” Phát

triển phong trào thể dục thể thao sâu rộng trong nhân dân

+ Củng cố hệ thống truyền thanh - truyền hình, phấn đấu đến năm 2006,đưa trang tin lên truyền hình địa phương, 95% số hộ dân có phương tiện nghenhìn

+ Quan tâm hơn nữa đến công tác giáo dục - đào tạo, không ngừng nângcao chất lượng dạy và học Phấn đấu đến năm 2010: 100% các trường tiểu học

và trung học cơ sở và trung học phổ thông có điều kiện học 2 buổi/ngày ở mỗibậc học, ngành học từ mầm non đến trung học phổ thông đều có ít nhất 1 trườngđạt chuẩn quốc gia 100% giáo viên từ mầm non đến phổ thông trung học đạttrình độ chuẩn, trong đó có 20% đến 30% giáo viên các cấp đạt tiêu chuẩn 1/3

xã, thị trấn được công nhận hoàn thành phổ cập trung học phổ thông, 100% xã,thị trấn được công nhận hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi

+ Chú trọng công tác khám và chữa bệnh trên địa bàn, tăng cường đội ngũ

y, bác sỹ chuyên khoa sâu, đặc biệt ở hai ngành ngoại và sản Duy trì, mở rộngcác cơ sở y tế phục vụ nhân dân ở những nơi xa trung tâm, phát huy họat độngchương trình quân - dân y kết hợp Phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suydinh dưỡng xuống dưới 15%, giảm tỷ suất sinh bình quân hàng năm 0,3%, tốc

- Tăng cường công tác quốc phòng - an ninh, thường xuyên nâng cao cảnhgiác, chống các âm mưu thủ đoạn của địch Thực hiện sự phối hợp các lực lượng

vũ trang trên địa bàn giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Gắn

Trang 7

chặt nhiệm vụ củng có quốc phòng với các chương trình phát triển kinh tế - xã

hội Đẩy mạnh, nhân rộng hoạt động của phong trào “Giữ đảo bình yên” góp

phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn

- Nâng cao hơn nữa chất lượng họat động của Hội đồng nhân dân và sựđiều hành của Uỷ ban nhân dân các cấp, tiếp tục kiện toàn và thực hiện cải cáchhành chính Tiếp tục thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở

- Tăng cường sự lãnh đạo hoạt động của các tổ chức quần chúng, các cấp

ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở Thực hiện tốt mối quan hệ giữa cấp

ủy, chính quyền với các đoàn thể quần chúng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chứcquần chúng phải tập hợp, động viên hội viên, đoàn viên và nhân dân thực hiệnthắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện

- Tăng cường công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghịquyết Trung ương sáu (lần 2), xây dựng các cơ sở Đảng ngày càng vững mạnh

cả về số lượng và chất lượng nhằm xây dựng Đảng bộ ngày càng vững mạnh.Đảng viên phải có phẩm chất đạo đức trong sáng và trình độ năng lực lãnh đạo,thực hiện Nghị quyết của Đảng, Phấn đấu hàng năm phát triển từ 7% đến 10%đảng viên mới Mỗi năm có từ 65% đến 70% tổ chức cơ sở Đảng đạt danh hiệu

“trong sạch vững mạnh” Tăng cường công tác kiểm tra Đảng hàng năm

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Khóa III, nhiệm kỳ

2005-2010, gồm 27 đồng chí Đại hội cũng đã bầu đoàn Đại biểu đi dự Đại hội Đảng

bộ cấp trên gồm 5 đồng chí

Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Cô Tô lần thứ III, nhiệm kỳ 2005-2010

với tinh thần dân chủ, trí tuệ, đoàn kết và trách nhiệm có ý nghĩa đặc biệt quan

trọng sau 10 năm thành lập huyện Đại hội đã đánh giá đúng những thuận lợi,khó khăn, phân tích sâu sắc những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiệnNghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ II; đồng thời, thẳng thắn chỉ

ra những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế cần phải khắc phục.Với tinh thần đoàn kết và trách nhiệm cao, phát huy tinh thần dân chủ, Đại hội

đã tập trung trí tuệ, đề ra mục tiêu, phương hướng, các biện pháp và kế hoạch tổ

Trang 8

chức thực hiện, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lầnthứ III

II Lónh đạo phỏt triển kinh tế, tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xõy dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xó hội

Thực hiện Nghị quyết Đại hội huyện Cụ Tụ lần thứ III, Đảng bộ huyện Cụ

Tụ đó quyết tõm tập trung chỉ đạo tổ chức khai thỏc tốt tiềm năng kinh tế của địaphương, chỳ trọng đẩy mạnh phỏt triển bền vững cỏc ngành kinh tế mũi nhọn;theo định huớng mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III đã xỏc định

là: ngư nghiệp - dịch vụ, thương mại - du lịch - nụng - lõm nghiệp.

1 Lónh đạo phỏt triển nụng, lõm, ngư nghiệp

Trước khi Đại hội Đảng bộ lần thứ III huyện Cụ Tụ tiến hành, theo Bỏo cỏo số 07-BC/HU về “ Thực hiện nhiệm vụ 9 thỏng Một số nhiệm vụ trọng tõm quý IV/2005” đó nhận định tình hình 9 thỏng đầu năm 2005 gặp nhiều khú khăn

thỏch thức: rột đậm, rột hại đầu năm, hạn hỏn kộo dài làm cho nước ở cỏc hồ đậpcạn kiệt, từ đú làm giảm diện tớch, năng suất, sản lượng vụ Đụng Xuõn so vớicựng kỳ năm trước Mặt khỏc giỏ cả hàng hoỏ trờn thị trường cú sự biến động đóảnh hưởng đến tỡnh hỡnh sản xuất, kinh doanh và đời sống nhõn dõn trờn địa bàn.Bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III vượt lờnnhững khú khăn về thời tiết; sự giảm sỳt về diện tớch, năng suất và sản luợngtrong vụ sản xuất Đụng Xuõn và những biến động lớn về giỏ cả thị truờng, BanChấp hành Đảng bộ huyện đó quyết tõm lónh đạo, chỉ đạo tới cỏc cấp ủy vàchớnh quyền địa phương trong huyện tập trung khắc phục khú khăn, ưu tiờn phỏttriển kinh tế Với sự nỗ lực phấn đấu của cấp ủy và chớnh quyền cỏc cấp, tỡnhhỡnh kinh tế - xó hội của huyện tiếp tục ổn định, duy trỡ và phỏt triển Cỏc chỉtiờu kinh tế - xó hội chủ yếu đều đạt kế hoạch đề ra và tăng trưởng cao hơn sovới cựng kỳ năm trước, an ninh - quốc phũng được giữ vững, đời sống nhõn dõn

ổn định

Trong sản xuất nụng nghiệp: do thời tiết khụng thuận lợi, hạn hỏn kộo dài,nguồn nước phục vụ sản xuất khụng chủ động nờn đó ảnh hưởng tới sản xuất vụ

Trang 9

Chiêm Xuân Vì thế, tổng diện tích gieo trồng vụ Chiêm chỉ đạt 82,7 ha, bằng88% Trong đó, lúa: 54,7 ha (giảm 11,3 ha so với cùng kỳ năm trước); ngô: 0,5ha; khoai lang: 5,5 ha; lạc: 4 ha; đậu: 11 ha; sắn: 7 ha

Trong vụ mùa, do thời tiết thuận lợi, tổng diện tích gieo trồng đạt 170 ha,tăng 1 ha so với vụ mùa năm trước Bên cạnh đó, do đưa giống lúa mới, có năngsuất cao vào canh tác, nên năng suất lúa vụ mùa đạt khoảng 36 tạ/ha Để phục

vụ sản xuất nông nghiệp, huyện đã dùng nguồn vốn ngân sách địa phương để hỗtrợ cước vận chuyển thóc giống cho nông dân, với 3.700 kg thóc giống (vụchiêm: 1.400 kg; vụ mùa: 2.300 kg) chủ yếu là giống mới: Bồi tạp, Khang dân,Siêu khang dân, Q5 nguyên chủng, Hương thơm, Hoa ưu 86 Phân bón cungứng: 108 tấn, trong đó: đạm: 39 tấn; kali: 6 tấn; lân: 18 tấn; NPK: 45 tấn

Trước sự hoành hành của dịch cúm gia cầm, Huyện ủy đã chỉ đạo cácphòng, ban chuyên môn cùng các địa phương tiến hành tiêu huỷ: 226 con gà,

968 quả trứng gia cầm Phun thuốc khử trùng phòng dịch cho đàn gia cầm kịpthời cho nên đã ngăn chặn được dịch bệnh lan rộng Tổ chức tiêm phòng vacxinphòng chống bệnh: đóng dấu, dịch tả, thương hàn cho đàn lợn trên địa bànhuyện Nhờ làm tốt công tác phòng chống các loại dịch bệnh nên đàn gia súc,gia cầm phát triển tốt Năm 2005, tổng đàn lợn: 2.350 con, đạt 106,8% kế hoạchnăm; đàn trâu: 255 con, đạt 98,1% kế hoạch năm; đàn bò: 497 con, đạt 99,4% kếhoạch năm; gia cầm: 15.000 con, tăng 7,1% so với cùng kỳ; đàn dê: 135 con,tăng 3,8% so với cùng kỳ

Lâm nghiệp: Công tác bảo vệ rừng chưa được chính quyền địa phươngquan tâm đúng mức Tình trạng chặt phá rừng làm củi, khai thác gỗ còn xảy ra ởcác địa bàn xã Thanh Lân, xã Đồng Tiến Chưa xử lý kịp thời những đối tượngchặt phá rừng, nhất là rừng phòng hộ chắn gió cát ven biển, rừng thông…Những tháng cuối năm 2005, do cung ứng kịp thời than bùn làm chất đốt chonên việc chặt phá rừng làm chất đốt đã giảm đáng kể

Ngư nghiệp: Tổng sản lượng khai thác đạt 4.120 tấn, bằng 73% kế hoạchnăm Trong đó, cá: 2.197 tấn, tôm: 55 tấn, mực: 232 tấn, hải sản khác: 1.636 tấn,

Trang 10

tăng 295 tấn (7,7%) so với cùng kỳ năm trước Kế hoạch khai thác đánh bắt hảisản có sự tăng trưởng là do trong ngư trường huyện đảo đã xuất hiện loài sứabiển, rong biển Vì vậy, ngư dân đã tập trung khai thác, sơ chế, xuất bán sang thịtrường Trung Quốc, góp phần tăng thu nhập cho nhân dân trên địa bàn.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cơn bão số 2 đã gây thiệt hại đáng kể chonuôi trồng thuỷ sản của địa phương, đặc biệt là ở xã Thanh Lân Tổng thiệt hạikhoảng 437 triệu đồng Trong đó, tôm Hùm giống chết 3.846 con; cá lồng bèthiệt hại 110 triệu đồng

Thực hiện chủ trương phát triển nuôi trồng thuỷ sản, huyện đã tổ chứcđưa các hộ nuôi trồng thuỷ sản đi tham quan, học tập các mô hình nuôi cá lồng

bè theo công nghệ Na-uy tại các tỉnh miền Trung; mô hình nuôi lồng chìm, ỐcHương, Tu Hài tại các huyện trong tỉnh Nhằm động viên các chủ hộ nuôi trồngthuỷ sản trên địa bàn đi vào ổn định sản xuất, Uỷ ban nhân dân huyện tiếp tụcchỉ đạo công tác nuôi Tôm Hùm, cá lồng bè theo công nghệ Na-uy theo chươngtrình nguồn vốn hỗ trợ phát triển kinh tế của tỉnh Huyện giúp đỡ một hộ dânđưa vào nuôi thí điểm khoảng 2 vạn con giống Ốc Hương tại khu vực gần vụngHồng Vàn Nếu thành công, sẽ nhân rộng trong các vụ nuôi tiếp theo

Ban Chấp hành Đảng Bộ huyện đã đề ra những nhiệm vụ trọng tâm trongquý IV năm 2005

Nông nghiệp: Tập trung chỉ đạo nông dân chăm sóc, làm tốt công tácphòng trừ sâu bệnh cho cây trồng Tập trung phát triển mô hình thí điểm câycam đặc sản ở xã Thanh Lân

Tiến hành chủ động tiêm phòng, đề phòng dịch bệnh, đảm bảo đàn giasúc, gia cầm phát triển ổn định

Lâm nghiệp: Tiến hành trồng, chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng trên địabàn từ nguồn vốn dự án 661 năm 2005 và ngân sách địa phương Có biện pháp

xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm chặt phá rừng; kiểm tra bảo vệ rừng trênđịa bàn

Trang 11

Ngư nghiệp: Tiếp tục chỉ đạo phát triển dự án nuôi cá lồng bè trên biển.Xây dựng mô hình nuôi cá lồng theo công nghệ Na-uy Vận động ngư dân nuôicác loại hải sản có giá trị cao như: Tôm Hùm, Bào Ngư, Ốc Hương; Vận độngngư dân khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản sẵn có như: Bào Ngư, Hải Sâm,Cầu Gai

Tăng cường công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản Quản lý tốttàu thuyền hoạt động nghề cá, làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn đảm bảo an toàncho người và phương tiện khai thác hải sản trong mùa mưa bão

Nhờ sự lãnh đạo sát sao, kịp thời của Đảng bộ huyện và sự nỗ lực của các tầng lớp nhân dân nên, mặc dù gặp nhiều khó khăn do thiên tai nhưng kinh

tế - xã hội của huyện Cô Tô trong năm 2005 đạt được những kết quả hết sức quan trọng, tạo điều kiện cho sự phát triển của các năm sau.

Trong sản xuất nông nghiệp: Do chưa chủ động nguồn nước phục vụ chosản xuất, nên diện tích gieo trồng cả năm thực hiện chỉ đạt 252,7 ha, bằng 96%

kế hoạch năm, giảm 10 ha so với cùng kỳ Trong đó, lúa: 204,7 ha, đạt 94,5%(giảm: 11,3 ha so với cùng kỳ năm trước) Tổng sản lượng lương thực đạt 580tấn, đạt 82,8% kế hoạch năm, giảm 62 tấn so với cùng kỳ năm trước

Do làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, nên đàn gia súc, gia cầmphát triển tốt Huyện tiến hành tiêm phòng cả 2 đợt với số lượng trên 10.000con Đồng thời, ngăn chặn việc lưu thông gia cầm từ các địa phương khác đếnđịa bàn huyện và gia cầm từ địa bàn huyện đến các địa phương khác Đến 20-11-2005, đàn lợn: 2.350 con, đạt 106,8% kế hoạch năm; đàn trâu: 255 con, đạt98,1% kế hoạch năm; đàn bò: 497 con, đạt 99,4% kế hoạch năm; gia cầm:15.000 con, đạt 107,1%, tăng 7,1% so với cùng kỳ; đàn dê: 135 con, tăng 3,8%

so với cùng kỳ năm trước

Lâm nghiệp: Công tác bảo vệ rừng luôn được cấp uỷ, chính quyền các cấpquan tâm, nhất là trong việc phòng chống cháy rừng, chặt phá rừng Năm 2005,trên huyện đã trồng mới: 9 ha rừng, đạt 62% kế hoạch năm

Trang 12

Ngư nghiệp: Tổng giá trị sản xuất ngư nghiệp ước tính đạt 30 tỷ, tăng109% so với cùng kỳ Tổng sản lượng thực hiện đạt 5.700 tấn, bằng 101% kếhoạch năm Trong đó, cá: 2.942 tấn; tôm: 90 tấn; mực: 324 tấn, hải sản khác:2.344 tấn, tăng 710 tấn (10,2%) so với cùng kỳ năm trước.

Trong năm 2005, huyện tiến hành khai thác sứa biển, rong biển sơ chếxuất tiểu ngạch ra nước ngoài với tổng sản lượng hàng ngàn tấn, đạt giá trị hàng

tỷ đồng, tạo việc làm cho hàng trăm lao động Tuy nhiên, do ảnh hưởng trực tiếpcủa cơn bão số 2, nên trên: 3.846 con tôm giống chết, gây thiệt hại hàng trămtriệu đồng

Trên cơ sở phân tích kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm

2005 và căn cứ vào tình hình thực tế, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện ra Nghịquyết số 03 - NQ/HU về phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2006

Nghị quyết chỉ rõ, năm 2006, là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hộiĐảng bộ huyện lần thứ III Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, toàn huyện cũngđang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức: đại dịch cúm gia cầm vẫnbùng phát và có nguy cơ lan trên diện rộng; giá cả thị trường các mặt hàng tăngnhanh; thời tiết diễn biến phức tạp, khó lường; nước ta tham gia hội nhập kinh tếquốc tế sẽ có những tác động cạnh tranh quyết liệt Do đó, cần tập trung triểnkhai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III và nghị quyết Đạihội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, nhằm phát triển mạnh mẽ và đồng bộ các lĩnh vựckinh tế, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Khai thác và phát huynguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển Nghị quyết đề ra cácchỉ tiêu kinh tế năm 2006:

- Tăng trưởng kinh tế (GDP): 11% đến 13%.

- Khai thác thuỷ sản các loại: 5.800 tấn.

- Sản lượng lương thực: 650 tấn.

- Thu ngân sách trên địa bàn tăng trên: 10% so với kế hoạch pháp lệnh.

Trang 13

Nhằm hoàn thành nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2006, Đảng bộ huyện đã

đề ra Nghị quyết số 03 và chương trình công tác số 06, số 19 đã chỉ đạo các ban,ngành địa phương thực hiện toàn diện các nhiệm vụ Nhờ vậy, sản xuất đã cóchuyển biến tích cực

Đối với sản xuất nông nghiệp: Đã khắc phục được hạn hán, thiếu nước,sâu bệnh hại lúa Diện tích gieo trồng năm 2006 đạt 259,6 ha; trong đó, diện tíchlúa là: 214,6 ha; diện tích rau màu là: 45 ha

Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt khoảng: 6,8 tỷ/6 tỷ, đạt 113,33% kếhoạch năm Sản lượng thóc đạt 610 tấn, tăng 1,6% kế hoạch năm Năng suất lúabình quân 28,1 tạ/ha Các giống lúa có năng suất cao được đưa vào sản xuấtđáng chú ý là Khang dân, Hương thơm, Bao thai

Trong ngành chăn nuôi: Huyện tổ chức tốt công tác phòng chống dịchbệnh, phòng chống rét cho đàn gia súc gia cầm trong toàn huyện Tiêm phòng cả

2 đợt với số lượng trên: 12.610 con gà, vịt Bên cạnh đó, đàn gia súc gia cầmphát triển tốt

Lâm nghiệp: Thực hiện chương trình 661 từ nguồn vốn phát triển kinh tếcủa huyện, toàn huyện đã trồng được 44,5 ha rừng (trong đó: 14,5 ha rừng thông

mã vị, 30 ha rừng phi lao ven biển); chăm sóc 23,5 ha, bảo vệ 686,9 ha

Ngư nghiệp: Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III:

“Tiếp tục xây dựng và phát triển một cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng: Ngư nghiệp - dịch vụ, du lịch - nông, lâm nghiệp - công nghiệp, trong đó: Ngành kinh tế mũi nhọn là ngư nghiệp; đẩy mạnh nghề khai thác hải sản tuyến khơi, chú trọng phát triển khai thác gần bờ truyền thống cùng với việc nuôi trồng thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao”, trong chương trình phát triển kinh tế, Huyện

ủy xác định, nhiệm vụ sản xuất ngư nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu Huyện ủy ra

Nghị quyết số 09-NQ/HU Về Chương trình phát triển kinh tế thuỷ sản 5 năm (2006-2010) và định hướng đến 2015 và Nghị quyết số 10-NQ/HU Về một số nhiệm vụ cấp bách trong quản lý tài nguyên và môi trường.

Trang 14

Huyện ủy Cô Tô chỉ rõ: Phát huy các lợi thế về địa lý, ưu thế về tiềm năngthuỷ sản hiÖn có trên địa bàn huyện; tập trung đầu tư mở rộng quy mô và đẩymạnh tốc độ phát triển kinh tế thủy sản, xây dựng ngành thủy sản thành ngànhkinh tế mũi nhọn của huyện, thành trung tâm hậu cần dịch vụ nghề cá của tỉnhQuảng Ninh và khu vực phía Bắc VÞnh B¾c bé Phát triển kinh tế thủy sản lànhiệm vụ, trách nhiệm của tất cả các cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thểquần chúng trong huyện; phát triển phải gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản vàmôi trường sinh thái; khuyến khích các thành phần kinh tế trong vµ ngoµi nícđầu tư vào phát triển nuôi trồng, khai thác, chế biến xuất khẩu và dịch vụ hậucần nghề cá có sự hỗ trợ và quản lý thống nhất của Nhà nước

Sử dụng các nguồn vốn của tỉnh, của huyện hỗ trợ tập huấn kỹ thuật khaithác, chế biến, nuôi trồng hải sản, tạo cho nhân dân phấn khởi, hăng hái sảnxuất

Trong báo cáo số 85-BC/HU của Huyện ủy đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế về nông, lâm, ngư nghiệp năm 2007:

Bước sang năm 2007, năm thứ hai thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội 5 năm (2006-2010) cña huyÖn, huyện Cô Tô cũng như tỉnhQuảng Ninh, cũng như cả nước có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khókhăn, thách thức khi trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thếgiới (WTO)

Trong điều kiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật của Cô Tô còn nhiều khó khăn,hạn chế, c¸c ngành kinh tế cha phát triển, tổng thu nhập còn thấp, đòi hỏi cácngành, các cấp cần phải nỗ lực phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội năm 2007, tạo đà phát triển cho các năm tiếp theo

Đảng bộ huyện đề ra chỉ tiêu chủ yếu năm 2007:

- Tổng sản lượng lương thực: 610 tấn

- Tổng sản lượng thuỷ h¶i sản: 5.000 tấn

Trang 15

- Thu ngõn sỏch Nhà nước đạt trên: 10% so với kế hoạch tỉnh giao.

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP): 11% đến 13%

Cựng với việc xỏc định chỉ tiờu, Huyện ủy đề ra phương hướng, nhiệm vụ

cụ thể:

Nụng nghiệp: Nâng cao diện tớch canh tỏc của từng địa phương, bố trớ hợp

lý cỏc giống cõy trồng, tổ chức chuyển giao kỹ thuật canh tỏc cỏc loại giống cúnăng suất cao cho nụng dõn sản xuất Đảm bảo cung ứng đầy đủ vật tư nụngnghiệp cho bà con nụng dõn

Nõng cao chất lượng giống vật nuụi, nhằm tạo ra những sản phẩm cú chấtlượng cao cung cấp cho nhu cầu tiờu dựng của thị trường Tổ chức tốt cụng tỏcphũng chống dịch bệnh cho gia sỳc, gia cầm Kiểm tra, kiểm soỏt chặt chẽ việcvận chuyển lưu thụng buụn bỏn gia sỳc, gia cầm khi dịch bệnh xảy ra

Lõm nghiệp: Thực hiện tốt việc trồng, chăm súc, bảo vệ diện tớch rừngtrờn địa bàn từ nguồn vốn ngõn sỏch huyện và dự ỏn 661 năm 2007 Tăng cườngcụng tỏc tuyờn truyền, vận động nhõn dõn nõng cao ý thức trỏch nhiệm về bảo vệrừng, phũng chống chỏy rừng, chặt phỏ rừng; kiờn quyết xử lý nghiờm khắc đốivới cỏc trường hợp chặt phỏ rừng, cỏc điểm chế biến gỗ khụng cú nguồn gốctrờn địa bàn

Ngư nghiệp: Từng bước nõng cấp phương tiện, trang thiết bị và kỹ thuậtđảm bảo khai thỏc dài ngày trờn biển, nõng cao hiệu quả đỏnh bắt, giảm ỏp lựckhai thỏc ven bờ Tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật khai thỏc, nuụi trồng hải sảncho ngư dõn, thụng tin dự bỏo ngư trường cho ngư dõn, chuyển đổi cơ cấu ngành

nghề phự hợp với ngư trường Lấy nuụi biển là mũi nhọn của nghề nuụi, mà chủ yếu là nuụi lồng theo cụng nghệ Na-uy Khuyến khớch ưu tiờn cỏc thành phần

kinh tế, cỏc tổ chức, cỏ nhõn phỏt triển nuụi cỏc loài hải sản cú giỏ trị kinh tế caonhư: Cỏ Song, cỏ Hồng, cỏ Giũ, Tụm hựm, Bào ngư, Cầu gai, Hải sõm, Ốchương

Trang 16

Tăng cường công tác bảo vệ các nguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt là các rạnSan hô, có biện pháp xử lý nghiêm các đối tượng khai thác hải sản bằng cácnghề cấm, bảo vệ môi trường sinh thái vùng biển Cô Tô.

Với sự lãnh đạo và chỉ đạo sâu sát của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện

và sự phấn đấu nỗ lực cuả nhân dân trong huyện, năm 2007, Cô Tô đã đạt đượcnhững thành tựu quan trọng về nông, lâm, ngư nghiệp:

Trong sản xuất nông nghiệp: Diện tích gieo trồng cả năm đạt 238 ha.Trong đó, lúa: 196 ha, năng suất bình quân: 3,2 tấn/ha, sản lượng đạt 575 tấn,bằng 99,5% kế hoạch Hoa màu: 42 ha, sản lượng khoảng: 125 tấn

Huyện đã tập trung chỉ đạo các ngành, các địa phương chủ động phòngchống dịch bệnh nên đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định Tổng đàn trâu là

207 con, đạt 103,5% kế hoạch, bò: 809 con, đạt 89,9% kế hoạch, lợn: 2.160 con,đạt 108% kế hoạch và gia cầm: 16.000 con

Lâm nghiệp: Trong năm, huyện không để xảy ra vụ cháy rừng nào Uỷban nhân dân tỉnh đã quyết định thành lập Hạt kiểm lâm Cô Tô Hạt đi vào hoạtđộng từ tháng 8-2007, đã tổ chức phối hợp cùng các lực lượng liên quan kiểmtra, bắt giữ: 10 vụ vi phạm, tịch thu: 3,17 m3 gỗ rừng trồng, xử phạt: 41,79 triệuđồng nộp ngân sách

Diện tích rừng được bảo vệ là: 686,9 ha, chăm sóc: 67,9 ha, gieo ươm: 10vạn cây con (gồm phi lao và thông mã vĩ) Hưởng ứng tết trồng cây, toàn huyện

đã trồng được: 1 vạn cây phi lao phân tán

Ngư nghiệp: Tổng sản lượng khai thác thuỷ sản cả năm đạt khoảng: 5.350tấn, bằng 107% kế hoạch Trong đó, cá: 2.640 tấn, đạt 97,7% kế hoạch, tôm: 160tấn, đạt 53% kế hoạch; mực: 465 tấn, đạt 116,2% kế hoạch; hải sản khác: 2085tấn, đạt 139% kế hoạch

Trong năm, huyện đã tạo điều kiện cho các hộ dân đầu tư mở rộng sảnxuất, mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản nhằm bảo vệ nguồn lợi và các loạihải sản quý hiếm như: Bào ngư, Hải sâm, Cầu gai Qua đánh giá cho thấy, việc

Trang 17

nuôi trồng trên các bãi triều đạt hiệu quả cao, ít dịch bệnh, sản phẩm dễ tiêu thụ.Riêng mô hình nuôi cá theo công nghệ lồng Na-uy do bị thiệt hại sau bão nênchưa khôi phục được lồng bè và chưa có giống thả nuôi Nuôi cá nước ngọt chủyếu theo quy mô hộ gia đình, phục vụ nhu cầu tiêu thụ tại chỗ, sản lượng thấp.

Lĩnh vực chế biến, chủ yếu là sứa, cá khô và nước mắm Riêng chế biếnsứa, thời gian tuy ngắn nhưng đã giải quyết được việc làm và thu nhập chokhoảng 500 lao động, doanh thu ước đạt trên 15 tỷ đồng Sản lượng chế biến cákhô đạt khoảng 60 tấn (doanh thu trên 900 triệu) và 10.300 lít nước mắm, đạt103% kế hoạch

Bước vào năm 2008, năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội III và kếhoạch phát triển kinh tế xã hội 2006-2010, bên cạnh những thuận lợi để pháttriển kinh tế, năm 2007, huyện Cô Tô còn phải đối mặt với nhiều khó khăn tháchthức: Thời tiết diễn biến phức tạp, giá cả thị trường tiềm ẩn nhiều biến động Tình hính đó, đòi hỏi cấp uỷ, chính quyền các cấp phải tập trung lãnh đạo, chỉđạo quyết liệt hơn, sâu sát hơn để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế

- xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2008 nhằm không ngừng ổn định và nângcao đời sống cho nhân dân

Huyện ủy đề ra các chỉ tiêu chủ yếu năm 2007:

- Tốc độ tăng trưởng GDP: 11% đến 12%

- Tổng sản lượng thuỷ hải sản: 5.200 tấn

- Sản lượng lương thực: 620 tấn

- Tăng thu ngân sách: 10%

Nông nghiệp: Tăng cường tu sửa hồ đập, kênh mương, tích cực tuyêntruyền vận động nhân dân đưa cây, con giống có năng suất cao vào sản xuất.Đảm bảo đáp ứng đầy đủ các dịch vụ nông nghiệp cho nhân dân Tích cực chủđộng phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm trong toàn huyện

Trang 18

Lâm nghiệp: Thực hiện tốt việc chăm sóc, bảo vệ rừng hiện có, tăngcường tuyên truyền giáo dục ý thức trách nhiệm về phòng chống cháy rừng, xử

lý kiên quyết các trường hợp vi phạm luật bảo vệ rừng

Ngư nghiệp: Chỉ đạo cải tiến phương tiện, trang thiết bị và kỹ thuật đểkhai thác có hiệu quả, thực hiện tốt việc dự báo ngư trường cho ngư dân

Đẩy mạnh mô hình giao mặt đất, mặt nước để nuôi trồng các loại hải sản

có giá trị kinh tế cao như: Hải sâm, Bào ngư và nuôi cá lồng bè theo côngnghệ lồng Na-uy Tăng cường công tác bảo vệ các nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ tàinguyên môi trường

Nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2008, Đảng bộ huyện đã đề ra các chương trình, kế hoạch công tác sát với thực tế, đồng thời chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền và nhân dân huyện đảo tập trung sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Nhờ vậy, kinh tế của huyện đã đạt đuợc những kết

quả khả quan

Nông nghiệp: Việc cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp đượcduy trì nên tổng diện tích gieo trồng cả năm đạt 264 ha Trong đó, lúa: 225 ha,tăng 5 ha so với cùng kỳ Năng suất bình quân cả năm đạt 32,4 tạ/ha, sản lượngđạt 730 tấn, bằng 121,6% kế hoạch năm, tăng 17,1% so cùng kỳ Các giống gieocấy chủ yếu: Khang dân 18, Mộc hương, Bao thai, Bắc ưu 903 và 025 Quatheo dõi thì giống lúa Khang dân 18 và Mộc hương phù hợp với chất đất và thực

tế canh tác của địa phương

Do công tác phòng chống dịch bệnh tốt nên huyện vẫn duy trì và pháttriển được đàn gia súc, gia cầm ở địa phương Trong năm, không có dịch bệnhxảy ra Theo kết quả điều tra ngành chăn nuôi trên toàn huyện, đến 01-10-2008,tổng số đàn gia súc, gia cầm hiện có: Đàn trâu: 170 con, đạt 87,1% so với cùngkỳ; đàn bò: 337 con, đạt 50% so với cùng kỳ; đàn lợn 2150 con, tăng 9,1% sovới cùng kỳ; đàn dê: 108 con, đạt 86,4% so với cùng kỳ; đàn gia cầm: 14.200con, tăng 5,1% so cùng kỳ

Trang 19

Lâm nghiệp: Huyện tổ chức tốt việc chăm sóc rừng đợt 2 và bảo vệ rừngtheo kế hoạch năm 2008: Chăm sóc được 24 ha, trồng và bảo vệ hơn: 700 ha (cảrừng trồng và rừng bảo vệ tự nhiên) Cơ quan chức năng đã có nhiều cố gắngtrong công tác kiểm tra, quản lý, bảo vệ rừng Tuy nhiên, một số nơi tình trạngchặt phá rừng vẫn còn xảy ra Qua kiểm tra, lực luợng kiểm lâm đã bắt giữ: 08

vụ vi phạm bảo vệ rừng, tịch thu 22 cây rù rì, xử phạt và bán lâm sản tịch thu15.150.800 đồng

Ngư nghiệp: Ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại kéo dài và tác động củadòng hải lưu lạnh từ phía Bắc, đã ảnh hưởng nhiều đến việc khai thác thuỷ sản.Sản lượng khai thác trong năm đạt khoảng: 11.250 tấn, bằng 212,2% kế hoạch,tăng 111,2% so với cùng kỳ Trong đó, tôm: 120 tấn, mực: 400 tấn, cá: 2.630tấn, hải sản khác: 8.100 tấn (sứa: 6.000 tấn)

Chế biến hải sản tập trung vào: nước mắm, cá khô và chế biến sứa thànhphẩm ước đạt trên: 80.000 thùng, trị giá trên 24 tỷ đồng

Huyện tập trung phát triển mô hình nuôi hải sản quý hiếm như: Ốc hương,Hải sâm, Bào ngư, đang được phát triển Tập trung vào nuôi cá nước ngọt vàmột số mô hình nuôi cá lồng bè Do đợt rét đậm, rét hại kéo dài nên tình hìnhnuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại trên 60 triệu đồng (gồm cả cá nước mặn và cánước ngọt) Huyện hỗ trợ cho 1 hộ dân triển khai thực hiện mô hình nuôi Tu hàithương phẩm, nguồn vốn từ sự nghiệp thuỷ sản (số lượng: 1,5 vạn con) Qua thínghiệm, Tu hài đang phát triển tốt, thành công sẽ tuyên truyền nhân rộng trênđịa bàn

Công tác triển khai Quyết định 289 QĐ/TTg ngày 18-3-2008 của Thủtướng Chính phủ về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu

số, hỗ trợ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân đã đượctuyên truyền, hướng dẫn đến các xã, thị trấn Đến cuối năm 2005, 100% tổng sốphương tiện tàu cá gắn máy vỏ gỗ công suất dưới 45CV đã hoàn thành việc đăng

ký, đăng kiểm (199 phương tiện) Uỷ ban nhân dân huyện ra quyết định hỗ trợđợt I cho 77 phương tiện, với số tiền là 652 triệu đồng; đợt II cho 188 phương

Trang 20

tiện với số tiền là: 3.443 triệu đồng Cả 2 đợt gồm: 205 phương tiện, tổng số tiền

hỗ trợ là: 4.095 triệu đồng Nhờ vậy, năm 2008 mặc dù bị rét đậm, rét hại nhưng

cơ bản một số chỉ tiêu quan trọng vẫn đạt và vượt

Trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được năm 2008, Đảng bộ huyện

Cô Tô đề ra phương hướng lãnh đạo phát triển nông, lâm, ngư nghiệp năm 2009như sau: Làm tốt công tác chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, đảm bảo tốt cácdịch vụ nông nghiệp cho nhân dân, tăng cường công tác thú y, đảm bảo phòngtrừ dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm Làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ rừng,

xử lý kiên quyết các trường hợp chặt, phá rừng trên địa bàn Tăng cường côngtác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, thực hiện tốt chủ trương cấm khai thác hải sảnbằng nghề lặn, chất nổ, xung điện Một số chỉ tiêu lớn:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân: 12% đến 15%

- Tổng sản lượng thuỷ, hải sản: 5.500 tấn

- Sản lượng lương thực: 650 tấn

Được sự quan tâm của Trung ương, của Tỉnh, Đảng bộ huyện tập trunglãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2009.Kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp đã đạt được những thành tích đáng kể

Nông nghiệp: Đến 15-9-2009, diện tích gieo trồng đạt 262 ha, cơ cấu giống có

sự thay đổi theo hướng tích cực, tỷ lệ lúa lai chiếm 23%, mô hình lúa gieo thẳngđạt tỷ lệ cao

Do làm tốt công tác phòng chống nên dịch bệnh không xảy ra trên diệnrộng, đàn gia súc, gia cầm phát triển tốt Duy trì tốt công tác kiểm tra, kiểm soát,buôn bán, vận chuyển lưu thông gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện

Lâm nghiệp: Làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ rừng và chuẩn bị câygiống trồng rừng theo kế hoạch 2009 Tuyên truyền về luật bảo vệ và phát triểnrừng, các chủ trương, chính sách về giao đất, giao rừng đến các khu dân cư

Trang 21

Về công tác quản lý bảo vệ rừng: Qua kiểm tra, huyện đã xử lý 10 vụ, tịchthu 6,384 m3 gỗ, phạt vi phạm hành chính: 3.633.000 đồng, bán phát mại lâmsản 4.768.000 đồng, với tổng số tiền là: 8.401.000đ Kiểm tra xác minh khốilượng nhựa thông đã khai thác là: 5.536 kg nhựa thô.

Ngư nghiệp: Sản lượng khai thác hải sản đạt khoảng: 7.200 tấn, bằng127% kế hoạch năm Trong đó, cá: 1.750 tấn, đạt 62,5% kế hoạch năm (bằng90,6% so cùng kỳ); mực: 280 tấn, đạt 62,2% kế hoạch (bằng 87,5 % so cùngkỳ); tôm: 105 tấn, đạt 52,5% kế hoạch (tăng 16,6% so cùng kỳ); hải sản khác:5.065 tấn, đạt 230,2% kế hoạch (trong đó sứa: 3.500 tấn, bằng 58,3% so cùngkỳ)

Sản lượng chế biến sứa đạt khoảng: 50.000 thùng thành phẩm, giá trị ướcđạt trên 10 tỷ đồng Chế biến nước mắm 7.500 lít, doanh thu 150 triệu đồng

Các mô hình nuôi trồng thuỷ sản bãi triều, nuôi cá biển và Tu hài pháttriển tốt Mô hình nuôi thí điểm Bào ngư tại xã Thanh Lân với số lượng: 5.000con, phát triển tốt

Từ thực tiễn 9 tháng đầu năm 2009, Đảng bộ huyện đề ra phương hướnglãnh đạo phát triển nông, lâm, ngư nghiệp quý IV năm 2009 và năm 2010 nhưsau:

Nông nghiệp: Tổ chức chăm sóc lúa vụ mùa, chú trọng phòng trừ dịch

bệnh cho cây đang trong thời kỳ phát triển Tiếp tục thực hiện nghiêm túc côngtác phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm Tổ chức thực hiện tốt các môhình phát triển kinh tế như: Trồng cây ăn quả, trồng rau xanh an toàn để phục vụtốt nhu cầu tiêu dùng cho cán bộ, chiến sỹ và nhân dân trên đảo Tăng cườngcông tác khuyến ngư, khuyến nông, khuyến lâm, tích cực ứng dụng tiến bộ khoahọc vào sản xuất đến các xã và thị trấn

Lâm nghiệp: Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng, phòngchống cháy rừng, nhất là các tuyến rừng phòng hộ Xử lý nghiêm các trườnghợp vi phạm Để tránh phá rừng, đã cung cấp phục vụ kịp thời than làm chất đốtcho các bếp ăn tập thể, đơn vị lực lượng vũ trang và nhân dân

Trang 22

Ngư nghiệp: Chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường tuần tra, kiểm

soát, xử lý một cách kiên quyết đối với các trường hợp khai thác hải sản bằngphương pháp lặn, đánh mìn, xung điện Các trường hợp chở hàng, gian lậu trốnthuế qua địa bàn huyện quản lý

Nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp, Ban Chấp

hành Đảng bộ huyện ra Nghị quyết Số 20-NQ/HU (ngày 11-01-2010), Về phương hướng, nhiệm vụ năm 2010 đã xác định nhiệm vụ trọng tâm: Triển khai

thực hiện theo quy hoạch phát triển kinh tế ngành, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấunghề để phù hợp với ngư trường Tập trung phát triển các mô hình kinh tế khaithác, nuôi trồng và chế biến hải sản Tiếp tục tuyên truyền và tăng cường côngtác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ các rạn San hô

Khuyến khích động viên nhân dân tích cực sản xuất các loại rau, củ, vụĐông và Đông Xuân năm 2009-2010, đảm bảo cung cấp cho nhu cầu rau xanhtại chỗ, đặc biệt phục vụ cho nhân dân đón tết Nguyên đán 2010

Tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân trong việc bảo vệtài nguyên rừng, công tác phòng chống cháy rừng và chặt phá rừng Đảng bộhuyện xác định chỉ tiêu cụ thể:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt từ: 13,5 đến 14 %.

- Tổng sản lượng thuỷ sản: 4.845 tấn.

- Tổng sản lượng lương thực: 500 tấn.

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Số 20-NQ/HU, Đảng bộ huyện lãnh đạocác cấp ủy Đảng, chính quyền và đồng bào các dân tộc trong huyện thực hiệnthắng lợi nhiệm vụ phát triển nông, lâm, ngư nghiệp năm 2010

Nông nghiệp: Tổng diện tích gieo trồng 2 vụ đạt 263 ha (trong đó, diệntích lúa: 225 ha, tăng 2 ha so với cùng kỳ) Năng suất lúa bình quân 2 vụ đạt28,5 tạ/ha Sản lượng lương thực đạt 642 tấn, bằng 128,4% kế hoạch năm, tăng36,5% so với cùng kỳ Tổng đàn trâu: 215 con, tăng 5,9% so với cùng kỳ; đàn

Trang 23

bò: 420 con, tăng 9% so với cùng kỳ; đàn lợn: 2.500 con, tăng 13,6% so vớicùng kỳ; đàn gia cầm: 16.200 con, tăng 3,2% so với cùng kỳ.

Lâm nghiệp: Trồng 275,5 ha rừng kế hoạch; trong đó, diện tích do Banquản lý dự án: 5 triệu ha, rừng trồng là 26,8 ha; diện tích do Ban Chỉ huy Quân

sự huyện trồng là: 248,8 ha; tỷ lệ che phủ của rừng đạt 47% Trong năm, xảy ra

2 vụ cháy rừng với diện tích nhỏ Cơ quan Kiểm lâm đã kiểm tra, xử lý 12 vụ viphạm, phạt hành chính, nộp ngân sách: 13 triệu đồng

Ngư nghiệp:

Khai thác: Tổng sản lượng khai thác thuỷ sản cả năm đạt 14.800 tấn, bằng305% kế hoạch năm, tăng 74,1% so với cùng kỳ Trong đó, cá đạt 2.270 tấn,tôm đạt 85 tấn, mực đạt 325 tấn, hải sản khác ước đạt 12.120 tấn (trong đó sứa:10.500 tấn)

Chế biến: Toàn huyện có 26 cơ sở thu mua, chế biến sứa; sản lượng sứathành phẩm đạt 150 nghìn thùng, giá trị đạt 45 tỷ đồng; sản lượng muối, đạt 125tấn; chế biến nước mắm, đạt 10.000 lít, giá trị bằng 300 triệu đồng; cá khô: 30tấn, đạt 1.050 triệu đồng

Nuôi trồng: Uỷ ban nhân dân huyện đã quyết định cho các hộ gia đìnhthuê 70.527 m2 đất có mặt nước và đất ngập mặn để đầu tư nuôi, trồng chế biếnthủy, hải sản Sản lượng nuôi trồng thủy, hải sản bãi triều trong năm đạt khoảng

250 tấn, bằng 102% kế hoạch năm Trong đó, nhuyễn thể đạt 230 tấn, cá nướcngọt đạt 10 tấn, cá biển đạt 10 tấn

Với sự nỗ lực, quyết tâm phấn đấu của cán bộ, chiến sỹ, nhân dân trongtoàn huyện, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ huyện lại được sự quan tâmcủa Trung ương và của tỉnh, tất cả các chỉ tiêu đều vượt mức kế hoạch, đặc biệt

là khai thác thủy sản, vượt 305% kế hoạch đề ra

Bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III, bêncạnh những thuận lợi cơ bản, Đảng bộ và nhân dân huyện Cô Tô càng phải đốimặt với nhiều khó khăn, thách thức: Kinh tế thế giới đã rơi vào thời kỳ khủng

Trang 24

hoảng, suy thoái đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của kinh tế của đấtnước, của tỉnh nói chung cũng như của huyện Cô Tô nói riêng Nhưng với sự nỗlực quyết tâm phấn đấu của Đảng bộ và toàn thể nhân dân trong huyện đã đạtđược những kết quả rất đáng khích lệ, thực hiện thắng lợi những chỉ tiêu quantrọng, cơ bản mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III đề ra.

Về sản xuất Ngư nghiệp

- Về khai thác: Do được đầu tư, hỗ trợ bằng các nguồn vốn của Nhà nước

và cá nhân để đóng mới phương tiện đánh bắt và mua sắm ngư cụ nên sản lượngkhai thác đã tăng dần theo từng năm, năm sau cao hơn năm trước Nếu như năm

2006 mới đạt 5.500 tấn thì đến năm 2009 sản lượng khai thác đã tăng lên 8.550

tấn, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III đề ra là: 204%.Năm 2005, toàn huyện có 200 phương tiện với tổng công suất 5.884 CV, đếnnăm 2010, có 502 phương tiện với tổng công suất 8.670 CV

Trong 5 năm (2005-2010), Đảng bộ, chính quyền huyện đã chỉ đạo tậptrung khai thác nhiều loại hải sản, nhuyễn thể sẵn có trên địa bàn, tạo thêm công

ăn việc làm, tăng thêm thu nhập hàng chục tỷ đồng mỗi năm cho ngân sách địaphương

- Về nuôi trồng: Huyện đã quan tâm, khuyến khích giao đất, mặt nướcnuôi trồng thuỷ sản cho các chủ hộ, chủ dự án đầu tư mới, các loại có giá trịkinh tế cao như: Cá song, Bào ngư, Tu hài… và các loại nhuyễn thể khác, bướcđầu đã đạt kết quả tốt

Bên cạnh việc khai thác và nuôi trồng, huyện đã làm tốt công tác quản lýtài nguyên biển, có kế hoạch bảo vệ các rạn San hô để giữ gìn giá trị tài nguyênbiển, xử lý nghiêm túc các trường hợp khai thác, đánh bắt hải sản bằng chất nổ,hoá chất, xung điện, nghề lặn không được Nhà nước cấp phép

Về sản xuất Nông nghiệp

- Trồng trọt: Được xác định là ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh

tế của huyện Được sự quan tâm của Trung ương, của Tỉnh, huyện Cô Tô đã đầu

Trang 25

tư xây dựng mới và sửa chữa hệ thống hồ đập chứa nước, kiên cố hoá hệ thốngkênh mương, tưới tiêu, hỗ trợ cho nông dân về giống, vật tư nông nghiệp; tăngcường công tác khuyến nông, tập huấn kỹ thuật gieo trồng, áp dụng kỹ thuật,công nghệ vào sản xuất Mặc dù tình hình sâu bệnh, thời tiết khắc nghiệt và sựbiến đổi khí hậu đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất cây trồng nhưngsản lượng lương thực trung bình hàng năm vẫn đạt so với chỉ tiêu Đại hội đã đềra.

- Chăn nuôi: Do làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, kiểm soát chặtchẽ việc vận chuyển lưu thông gia súc, gia cầm từ địa phương khác vào địa bàn,kiểm soát chặt chẽ các cơ sở giết mổ nên đã không có bệnh dịch lớn xảy ra Đàngia súc, gia cầm trên địa bàn huyện phát triển tốt Đàn trâu đạt 98,9%; đàn bòđạt 95,5%; đàn lợn đạt 104,28%; đàn gia cầm các loại tăng 7,5%

Về Lâm nghiệp

Từ năm 2005 đến năm 2010, cơ bản không còn diện tích trồng mới.Huyện tập trung vào việc chăm sóc, bảo vệ rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừngđặc dụng Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng đã được đánh giá là làm tương đốitốt, số vụ cháy rừng xảy ra ít

2 Lãnh đạo phát triển công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch

Trước những diễn biến phức tạp của giá cả trong năm 2005, Ban Chấphành Đảng Bộ huyện đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển công nghiệp,dịch vụ, thương mại, du lịch quý IVnăm 2005: Tăng cường công tác phối hợpvới các lực lượng trong công tác tuần tra, kiểm soát chống buôn lậu, gian lậnthương mại tăng thu cho ngân sách Nhà nước Tận thu, quản lý tốt các nguồnthu trên địa bàn Phấn đấu thu đạt chỉ tiêu Nghị quyết Hội đồng nhân dân khóaIII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Ưu tiên chi cho đầu tư phát triển và các vấn đề xãhội

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện về phát triển công nghiệp, dịch vụ,thương mại, du lịch quý IV năm 2005 đã thu được những thắng lợi hết sức quantrọng

Trang 26

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:

Tổng giá trị sản xuất năm 2005, đạt 1.095 triệu đồng Trong đó, sản lượngđiện là 288.665 KW, đạt 442 triệu đồng Nước sinh hoạt: 19.265 m3, đạt 97triệu đồng Khai thác đá: 2.500m3; khai thác cát: 3.500m3; sản xuất muối: 165tấn; Chế biến nước mắm: 8.000 lít

Giao thông vận tải, dịch vụ thương mại, bưu điện:

Doanh thu ngành giao thông vận tải năm 2005 là 2.700 triệu đồng, đạt119,7% kế hoạch Trong đó, doanh thu vận tải hành khách được: 2.250 triệuđồng, đạt 120,3% kế hoạch

Tổng mức bán lẻ hàng hoá năm 2005 là 5,70 tỷ đồng, đạt 162% kế hoạch.Tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá tiểu ngạch năm 2005 là: 386.660 USD, đạt97,1% so với cùng kỳ năm 2004

Cung cấp 1.000 tấn than bùn phục vụ chất đốt cho nhân dân và các lựclượng vũ trang đóng quân trên địa bàn nhằm hạn chế việc chặt phá rừng Cungcấp hàng ngàn kg giống lúa mới, hàng trăm tấn phân vô cơ và thuốc trừ sâu phục

vụ cho sản xuất nông nghiệp

Bưu điện:

Duy trì tốt hệ thống thông tin liên lạc, phát triển thuê bao, phát hành báochí, công văn an toàn bí mật, kịp thời, đảm bảo phục vụ nhiệm vụ chính trị vànhu cầu của nhân dân trong huyện Tổng doanh thu là 313 triệu đồng, đạt 94%

kế hoạch năm Phát hành: 110.000 tờ, cuốn, đạt 110% kế hoạch năm Phát triển:

120 máy thuê bao cố định và di động Bình quân toàn huyện đạt 12 máy/100dân

Thu - chi ngân sách, hoạt động Ngân hàng:

Tổng thu ngân sách năm 2005 đã thực hiện 19.436 triệu đồng, đạt 115,9%

kế hoạch năm Trong đó, tổng thu trên địa bàn là 1.826 triệu đồng, đạt 109,3%

kế hoạch

Trang 27

Tổng chi ngân sách năm 2005 là 18.959 triệu đồng, đạt 115,1 % kế hoạch

so với cùng kỳ, tăng 30,6% Các khoản chi đều được kiểm soát chặt chẽ, chiđúng, chi đủ Ưu tiên chi cho sự nghiệp phát triển, quốc phòng - an ninh

Hoạt động của các ngân hàng: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nôngthôn, tổng nguồn vốn thực hiện đến 31-12-2005, là 30.000 triệu đồng, đạt 100%

kế hoạch Sử dụng đầu tư vốn là: 9.000 triệu đồng Thu tài chính là 2.200 triệuđồng, trong đó, thu từ lãi cho vay là 500 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch; chấtlượng tín dụng tỷ lệ chung 7,9% Ngân hàng Chính sách xã hội, nguồn vốn huyđộng là 299 triệu đồng Tổng dư nợ là 7.200 triệu đồng, trong đó: cho vay hộnghèo là 4.716 triệu đồng, cho vay giải quyết việc làm là 2.810 triệu đồng chovay xuất khẩu lao động là 39 triệu đồng

Kho bạc Nhà nước huyện: Đảm bảo nguồn chi cho các nhu cầu trên địabàn kịp thời, đúng chế độ, tổ chức phát hành công trái Giáo dục, trái phiếuChính phủ đạt kết quả tốt Trong đó: Công trái Giáo dục là: 66,3 triệu đồng, đạt132,6% kế hoạch tỉnh giao, trái phiếu Chính phủ thực hiện được là 245 triệuđồng, đạt 122,5% kế hoạch tỉnh giao

Trên cơ sở phân tích kết quả đạt được năm 2005 và căn cứ vào tình hình

cụ thể của huyện, Đảng bộ huyện xác định phương hướng, nhiệm vụ tổng quátnăm 2006 về phát triển công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch là: Khai thác

và phát huy nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển

Đảng bộ huyện tập trung lãnh đạo về phát triển công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch năm 2006 đã thu được kết quả:

Theo báo cáo số 85-BC/HU của huyện ủy về “Tình hình phát triển kinh tế

- xã hội năm 2006 - Phương hướng nhiệm vụ năm 2007” (ngày 06 tháng 02 năm2007) Giá trị sản xuất công nghiệp (năm 2006) ước tính được: 3.805 triệu đồng

Đảng bộ đề ra phương hướng nhiệm vụ cụ thể:

Giao thông vận tải: Thực hiện luật an toàn giao thông đường bộ, đườngthuỷ nội huyện, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát các phương tiện vậnchuyển hành khách trên địa bàn, kiểm tra xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm,

Trang 28

các phương tiện không đảm bảo, chưa đăng ký, đăng kiểm đảm bảo an toàntuyệt đối về người và tài sản

Bưu điện: Duy trì tốt hệ thống thông tin liên lạc, phát triển thuê bao, pháthành báo chí, công văn an toàn, bí mật, kịp thời, đảm bảo phục vụ nhiệm vụchính trị và nhu cầu của nhân dân

Tài chính - Ngân hàng: Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2006 ước tínhthực hiện: 24.500 triệu đồng, đạt 107,82% kế hoạch năm Trong đó, thu ngânsách Nhà nước trên địa bàn ước tính thực hiện: 2.430 triệu đồng, đạt 154,4% kếhoạch năm Một số khoản thu đạt khá như: Thu khác ngoài quốc doanh đạt189,44% kế hoạch; thu khác ngoài ngân sách đạt 139,26% kế hoạch

Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2006 ước tính thực hiện 24.937 triệuđồng, đạt 110,58% kế hoạch, tăng 31,53% so cùng kỳ năm trước

Kho bạc nhà nước đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn chi phục vụ nhiệm vụchính trị cuả địa phương, công tác kiểm soát chi ngân sách chặt chẽ theo đúngluật Ngân sách Nhà nước

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, với sự cố gắng nỗ nực của toàn Đảng,toàn dân trong huyện về phát triển Công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịchnăm 2007 đạt được kết quả đáng khích lệ:

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại: Giá trị sản xuất hàng tiểuthủ công nghiệp năm 2007 đạt khoảng 17 tỷ đồng, bằng 340% kế hoạch năm.Các sản phẩm chủ yếu là khai thác: cát, đá xây dựng, sản xuất muối, cá khô,nước mắm và chế biến sứa

Giá cả hàng hoá trong năm liên tục tăng, nhất là xăng dầu, vật liệu xâydựng và hàng tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hoá năm 2007 đạt 5.800 triệuđồng, bằng 120,8% so cùng kỳ

Huyện đã chỉ đạo đội Quản lý thị trường tổ chức kiểm tra, kiểm soát thịtrường, đảm bảo đầy đủ hàng hoá tiêu dùng cho nhân dân, bình ổn giá cả thị

Trang 29

trường Tổ chức kiểm tra 5 nhà ăn tập thể, kiểm tra 82 hộ kinh doanh trên địabàn, đã thu giữ: 21,5 kg mắm tôm sống.

Giao thông vận tải - Bưu điện: Tổ chức, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc

Nghị quyết 32/CP của Chính phủ, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát cácphương tiện vận chuyển hành khách trên địa bàn, nên trong năm 2007 vẫn đảmbảo an toàn về người và tài sản Tổng doanh thu vận tải năm 2007 đạt 3.600triệu đồng, bằng 112,5% so cùng kỳ

Ngành Bưu điện duy trì hệ thống thông tin liên lạc, tăng cường chất lượngcông tác phát hành báo chí, đảm bảo báo Đảng được đến tay độc giả hàng ngày.Chuyển phát nhanh chóng, chính xác và an toàn thư báo, công văn, đảm bảophục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu của nhân dân Doanh thu năm 2007 đạt

340 triệu đồng, bằng 103% kế hoạch năm Trong đó, phát hành báo chí là138.000 tờ/cuốn, thu 58 triệu đồng, đạt 97% kế hoạch năm Phát triển trên 200máy điện thoại, nâng tổng số máy trên địa bàn đạt khoảng 1.120 máy, trong đó,

có 94 máy di động trả sau và 1.026 máy điện thoại cố định

Huy động tiền gửi tiết kiệm bưu điện ước tính được 10,5 tỷ đồng, đạt105% kế hoạch năm

Tài chính - Ngân hàng: Tăng cường công tác chỉ đạo thu ngân sách trênđịa bàn Quản lý dự toán chi ngân sách chặt chẽ có hiệu quả cao theo đúng kếhoạch giao Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi tiêu ngân sách; ưutiên chi phục vụ phát triển kinh tế và công trình mục tiêu xã hội trên địa bàn.Kho bạc Nhà nước kiểm soát chi ngân sách chặt chẽ theo đúng luật ngân sáchNhà nước

Thu ngân sách Nhà nước năm 2007 đạt 38.374.830.000 đồng Trong đó,thu trên địa bàn ước đạt 2.510.029.000 đồng, đạt 175,89% kế hoạch Một sốkhoản thu đạt cao như: Thuế CTN - NQD đạt 139,8% kế hoạch; lệ phí trước bạ,đạt 286,52%.Thu chuyển quyền sử dụng đất, đạt 195,64% kế hoạch và thu khácngân sách, đạt 162,7% kế hoạch

Trang 30

Tổng chi ngân sách Nhà nước đạt 36.599.188.000đ, bằng 110,67% kếhoạch Kho bạc Nhà nước thực hiện tất cả các khoản chi đều được kiểm soátchặt chẽ, đảm bảo chi đúng, chi đủ theo chế độ.

Tổng số nguồn vốn huy động của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triểnnông thôn là 29.500 triệu, đạt 100% kế hoạch tỉnh giao, tăng 21% so cùng kỳnăm trước Trong đó, nguồn vốn huy động tại địa phương 6.163 triệu chiếm20% tổng nguồn vốn

Tổng số nguồn vốn tiền gửi của khách hàng của Ngân hàng Chính sách xãhội là 522 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch Tổng số dư nợ cho vay là 19.876 triệuđồng, đạt 100% kế hoạch Ngân hàng Chính sách xã hội đã phối hợp với cácđoàn thể thực hiện cho vay với số dư uỷ thác là 13.003 triệu đồng Trong đó,Hội phụ nữ là 9.485 triệu đồng; Hội nông dân là 3.154 triệu đồng; Hội cựu chiếnbinh: 134 triệu đồng; Đoàn Thanh niên là 230 triệu đồng

Bước vào năm 2008, năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội và kếhoạch phát triển kinh tế xã hội 2006-2010, Đảng bộ huyện chỉ đạo phối hợp chặtchẽ các lực lượng trên địa bàn trong công tác thu ngân sách, phấn đấu tăng 10%

Phương châm là: Triệt để tiết kiệm chi, thực hiện nghiêm luật: phòngchống tham nhũng, lãng phí trong quản lý và sử dụng ngân sách

Huyện ủy Cô Tô xác định, thương mại - dịch vụ là ngành kinh tế quantrọng nằm trong chương trình của tỉnh và huyện nên Huyện ủy rất quan tâm.Đảng bộ huyện kịp thời đề ra chương trình, kế hoạch nhằm triển khai có hiệuquả về phát triển công nghiệp - dịch vụ

Được sự quan tâm giúp đỡ của tỉnh và các ban ngành Trung ương, saumột năm nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân trong huyện, dưới sự lãnh đạocủa Huyện ủy về phát triển Công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch năm 2008

đã đạt được kết quả tích cực:

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại: Tổng giá trị sản xuấttrong năm đạt 4.150 triệu đồng Trong đó, giá trị chế biến sứa đạt 3.200 triệu

Trang 31

đồng, chiếm 77,1% Các sản phẩm chủ yếu là: Chế biến sứa, tăng 40,3% so cùng

kỳ Nước mắm tăng 17,3% so cùng kỳ Khai thác cát, đá, sỏi tăng 7,1% so cùng

Giao thông vận tải, bưu chính - viễn thông: Trên địa bàn huyện có 6phương tiện vận chuyển hành khách Trong đó, có 4 phương tiện vận chuyểnhành khách từ đất liền ra đảo, 2 phương tiện vận chuyển khách nội huyện nhằmđáp ứng cơ bản nhu cầu lưu thông hàng hoá và phục vụ hành khách đi lại thuậntiện, đảm bảo an toàn Tổng mức doanh thu vận tải trong năm đạt 4,5 tỷ đồng,tăng 25% so cùng kỳ, trong đó, doanh thu vận tải hành khách đạt 3,5 tỷ đồng,tăng 20,6%

Bưu chính - viễn thông, thông tin liên lạc luôn được đảm bảo thông suốt,đáp ứng được nhu cầu thông tin liên lạc của cán bộ và nhân dân trên đảo Côngtác phát hành báo chí, chuyển công văn thư báo được thường xuyên ổn định đảmbảo kịp thời Doanh thu trong năm được 380 triệu đồng, đạt 112% kế hoạch;phát hành báo chí là 142.000 tờ, đạt 95,6% kế hoạch Bình quân 30,5 máy điệnthoại/100 người dân

Hoạt động tài chính - ngân hàng: Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2008đạt 46.926 triệu đồng Trong đó, thu trợ cấp 44.718 triệu đồng, đạt 105% kếhoạch, thu ngân sách trên địa bàn huyện đạt 2.208 triệu đồng, bằng 129,6% dựtoán do Hội đồng nhân dân huyện giao

Chi ngân sách trong năm đạt 44.767 triệu, bằng 102,6% so với cùng kỳnăm trước, vượt 15,1%,

Trang 32

Kho bạc Nhà nước huyện đã đảm bảo đầy đủ, kịp thời cho mọi nhu cầuchi tiêu Quản lý và kiểm soát thu - chi, thanh toán bằng tiền mặt qua Kho bạcNhà nước một cách chặt chẽ, đạt hiệu quả.

Đến ngày 31-10-2008, tổng nguồn vốn thực hiện của Ngân hàng nôngnghiệp và phát triển nông thôn là 54.749 triệu, đạt 136% kế hoạch giao, tăng socùng kỳ năm trước 24.471 triệu đồng

Tổng dư nợ đến hết ngày 31-10-2008 của Ngân hàng chính sách là 31.997triệu đồng/32.669 triệu đồng, đạt 97,94% kế hoạch năm, tăng so với năm 2007

là 11.316 triệu đồng; so cùng kỳ trước là 154,7 % Hoạt động của ngân hàng đã

có đóng góp tích cực vào việc phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, xoá đóigiảm nghèo ở địa phương

Nhằm đẩy mạnh phát triển công nghiệp - thương mại và dịch vụ, Đảng bộhuyện đã xác định phương hướng phát triển Công nghiệp, dịch vụ, thương mại,

du lịch năm 2009 là: Tiếp tục làm tốt việc thực hiện Quyết định Số 289, ngày18-3-2008 của Thủ tướng Chính phủ Phối hợp tổ chức tốt việc khai thác, chếbiến, tiêu thụ sản phẩm vụ sứa năm 2009 Thực hiện nghiêm luật ngân sách,đảm bảo chi tiết kiệm, làm tốt công tác thu ngân sách Chỉ tiêu: Tăng thu ngânsách địa phương: 10% đến 12%

Đảng bộ huyện xác định phương hướng phát triển Công nghiệp, dịch vụ,thương mại, du lịch quý IV năm 2009, năm 2010: Chỉ đạo hợp tác xã dịch vụthương mại tổ chức cung ứng đầy đủ nhu cầu các loại giống cây trồng, phânbón, thuốc bảo vệ thực vật và các vật tư nông nghiệp khác để phục vụ tốt chosản xuất vụ Đông - Xuân 2010 Chú trọng công tác phòng chống dịch bệnh chocây trồng, vật nuôi, tổ chức công tác kiểm ta, kiểm soát, quản lý chặt chẽ việcvận chuyển, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện

Mục tiêu là: Tăng thu ngân sách địa phương: 10% đến 12%

Được sự quan tâm của Trung ương, của tỉnh, của các bộ, ngành, Đảng bộhuyện Cô Tô đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kinh

tế - xã hội

Trang 33

Tiểu thủ công nghiệp:

Trên địa bàn huyện hiện có 31 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chủyếu là các hộ kinh doanh cá thể và mô hình hợp tác xã; số lao động trongngành tiểu thủ công nghiệp chiếm từ 9% - 10% trong tổng số lao động trên địabàn; giá trị sản xuất đạt 10 tỷ đồng, tăng 17,6% so với cùng kỳ

Các sản phẩm chủ yếu: khai thác đá đạt 1.950 m3,giảm 65% so cùng kỳnăm 2009; khai thác cát, sỏi đạt 3.200 m3, giảm 76% so với cùng kỳ năm 2009;sản xuất muối đạt 125 tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2009; chế biến nướcmắm đạt 10.000 lít Các sản phẩm vật liệu xây dựng địa phương giảm là dohuyện có chủ trương hạn chế khai thác, nhằm hạn chế tác động xấu đến môitrường sinh thái

Sản xuất và cung cấp điện: Tổng công suất thu cả năm đạt 536.771 kw/hbằng 111% so với cùng kỳ năm 2009, giá trị doanh thu đạt 1.928,5 triệu đồng(không kể phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước)

Sản xuất và cung cấp nước sinh hoạt: Tổng khối lượng nước tiêu thụ trongnăm đạt 86.536 m3, bằng 123% so với cùng kỳ năm 2009; giá trị doanh thu cảnăm đạt 441.687.650 đồng

Thương mại và dịch vụ:

Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong năm đạt 8 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng

kỳ Các mặt hàng chủ yếu là: Lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, nhiênliệu xăng, dầu, đồ dùng gia dụng, sinh hoạt

Tổng khối lượng than bùn nhập kho trong năm thực hiện 586 tấn, đạt29,3% kế hoạch

Hoạt động vận tải hàng hóa và hành khách: Doanh thu vận tải đạt 6,5 tỷđồng, bằng 118% so với cùng kỳ năm 2009 (trong đó vận tải khách thủy được:4,55 tỷ đồng, đạt 108% so với cùng kỳ năm 2009); vận chuyển hành kháchkhoảng 40.000 lượt người (bằng 114% cùng kỳ)

Bưu chính - viễn thông:

Trang 34

Viễn thông: Thuê bao cố định trên địa bàn là 1.672 máy, kết nối Internet

là 200, thuê bao di động trả sau là 490 máy, tỷ lệ sử dụng điện thoại đạt 40máy/100 người dân; 100% số xã và vùng biển đảo được phủ sóng điện thoại diđộng

Bưu điện: Phát hành báo chí cả năm đạt 154.000 tờ, bằng 83,3% kếhoạch: doanh thu cả năm đạt 569 triệu đồng, bằng 102% kế hoạch

Tài chính, ngân sách, hoạt động ngân hàng:

Tổng thu ngân sách cả năm đạt 76.064 triệu đồng, bằng 118,25% kếhoạch Trong đó, thu trên địa bàn là 3.770,106 triệu đồng, đạt 164,63% kếhoạch; thu trợ cấp đạt 68.194 triệu đồng, bằng 109,94% kế hoạch Tổng chingân sách cả năm là 75.432,41 triệu đồng, đạt 117,89% kế hoạch

Hoạt động ngân hàng: Tổng nguồn vốn huy động trong năm của Ngânhàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn là 39 tỷ đồng, tăng 20,5% so với cùngkỳ; đầu tư tín dụng đạt 35 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch Trong đó, dư nợ ngắnhạn là 140 tỷ đồng, trung hạn là 21 tỷ đồng; nợ xấu chỉ chiếm tỷ lệ 1% trongtổng dư nợ Ngân hàng Chính sách xã hội đã huy động vốn đạt 4.544 triệu đồng,bằng 100,07% kế hoạch; tổng dư nợ các chương trình là 44.352 triệu đồng, nợquá hạn chiếm 3,08%

Với sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và toàn thể nhân dân trong huyệntrong những năm 2005-2010, kinh tế dịch vụ - thương mại, giao thông vận tải,bưu chính viễn thông phát triển khá

Giao thông vận tải: Đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triểnkinh tế - xã hội của huyện Các bến cảng, đường giao thông liên xã, liên thôn đãphát huy tốt hiệu quả sử dụng, đáp ứng được nhu cầu vận chuyển người và hànghoá phục vụ phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân

Huyện đã làm thêm hàng chục km đường bê tông trên các đảo, mở thêmluồng, tăng thêm chuyến các phương tiện tàu khách, xây dựng thêm các bến

Trang 35

cảng, cầu tàu, tạo điều kiện thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển hàng hoá củanhân dân.

Bưu chính - Viễn thông: Ngày càng được nâng cấp, trang bị hiện đại hơn,đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, nhanh chóng và kịp thời; phục vụ tốt cho

sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh Công tác phát hànhbáo chí, công văn, thư tín luôn được đảm bảo kịp thời Bình quân có trên 30 máyđiện thoại cố định/100 người dân, đáp ứng tốt nhu cầu về thông tin liên lạc tronghuyện

Tài chính - Tín dụng: Thu ngân sách Nhà nước là một trong những nhiệm

vụ chính trị quan trọng đã được các cấp uỷ đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo.Thực hiện Luật Ngân sách, nhiệm vụ tài chính, ngân sách luôn được đảm bảo,các ngành, các địa phương làm tốt công tác thu trên địa bàn, số thu nguồn thungân sách đi vào ổn định Tốc độ tăng thu hàng năm vượt trên 10% dự toán tỉnhgiao, bình quân đạt 128,52% vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội (từ 10% đến12%) Các chỉ tiêu thuế trên địa bàn thực hiện đạt và vượt kế hoạch Dự toánnăm 2010, thu: 2.010 triệu đồng, tăng 11,6% so với năm 2005

Chi ngân sách đảm bảo theo kế hoạch, ưu tiên chi cho sự nghiệp phát triểnkinh tế - xã hội, thực hành tiết kiệm trong chi tiêu ngân sách theo Luật thực hànhtiết kiệm, chống lãng phí, giành ngân sách chi cho đầu tư phát triển Tốc độ tăngchi bình quân 5 năm đạt 12,24%

Kho bạc Nhà nước huyện thực hiện tốt chức năng kiểm soát chi ngânsách, đảm bảo đáp ứng đầy đủ nguồn chi kịp thời cho nhiệm vụ chính trị của địaphương Hoạt động của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòngGiao dịch Ngân hàng Chính sách - xã hội đã thực hiện tốt chức năng trên địabàn, nguồn cho vay tín dụng đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động, thúc đẩykinh tế hộ gia đình phát triển và xoá đói giảm nghèo đạt hiệu quả

Dịch vụ - Du lịch- Thương mại: Từng bước phát triển, đa dạng hoá gồmnhiều thành phần kinh tế tham gia phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dântrên đảo Các Trung tâm thương mại, dịch vụ được củng cố, nâng cấp, duy trì

Trang 36

hoạt động tốt như: chợ Trung tâm Cô Tô, và các cửa hàng dịch vụ của tư nhân

đã góp phần vào tăng thu cho ngân sách Nhà nước Hợp tác xã Dịch vụ thươngmại và tư nhân đã cung cấp hàng chục tấn giống, hàng ngàn tấn phân bón vô cơphục vụ cho sản xuất nông nghiệp và một lượng lớn lương thực, thực phẩm,hàng tiêu dùng phục vụ cho nhu cầu của nhân dân và các lực lượng vũ trangđóng quân trên địa bàn

Việc cung cấp than bùn làm chất đốt đã được cấp uỷ đảng, chính quyềnquan tâm chỉ đạo, hàng năm cơ quan được giao nhiệm vụ đã cung cấp hàng ngàntấn than bùn làm chất đốt phục vụ cho các cơ quan, đơn vị và nhân dân đã hạnchế rất nhiều tệ nạn chặt phá rừng lấy củi

Mặc dù quy mô ngành du lịch còn du lịch còn nhỏ, nhưng trong 5 năm(2005-2010); huyện đã thu hút một số lượng khách đáng kể Trong đó, có cảquốc tế đến thăm quan, tìm hiểu thị trường đặt quan hệ cho đầu tư, phát triển.Nhìn chung, tiềm năng du lịch của địa phương vẫn chưa được khai thác, hệthống hạ tầng cơ sở chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư và khách dulịch

3 Lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các thành phần kinh

tế phù hợp với điều kiện huyện đảo.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Cô Tô lần thứ III, nhiệm kỳ

2005-2010 xác định rõ: Với đặc thù là một huyện đảo vùng Đông Bắc Tổ quốc, Đảng

bộ huyện phải tập trung chỉ đạo tổ chức khai thác tốt tiềm năng kinh tế của địaphương, chú trọng đẩy mạnh phát triển bền vững của các ngành kinh tế mũinhọn Lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với đặc thù của huyện và đã

xác định cơ cấu kinh tế của huyện là: Ngư nghiệp - dịch vụ, thương mại - Du lịch - Nông - Lâm nghiệp… Phấn đấu tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm từ

12% đến 15%

Năm 2006, căn cứ vào thực tiễn tình hình kinh tế - xã hội của huyện đảo

Cô Tô, Đảng bộ huyện đã xác định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phùhợp, nhằm khai thác thế mạnh của huyện: Tập trung vào định hướng phát triển

Trang 37

nghề cá, nuôi trồng hải sản, chuyển dịch cơ cấu kinh tế: từ sản xuất sang dịch

vụ, du lịch

Năm 2007 căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, của tỉnhQuảng Ninh và tình hình thực tiễn của huyện đảo Cô Tô, Đảng bộ huyện đã xácđịnh: Phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu phấn đấu 5 năm (2006-2010) là: “Tiếp

tục xây dựng và phát triển một cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng: Ngư nghiệp dịch vụ, du lịch - nông, lâm nghiệp - công nghiệp, trong đó: Ngành kinh tế mũi nhọn là ngư nghiệp; đẩy mạnh nghề khai thác hải sản tuyến khơi, chú trọng phát triển khai thác gần bờ truyền thống cùng với việc nuôi trồng thuỷ hải sản

-có giá trị kinh tế cao”.

Để phát huy các lợi thế về địa lý, ưu thế về tiềm năng thuỷ sản hiện cótrên địa bàn huyện; tập trung đầu tư mở rộng quy mô và đẩy mạnh tốc độ pháttriển kinh tế thủy sản, nhằm xây dựng huyện đảo Cô Tô vừa phát triển mạnhkinh tế biển, vừa bảo vệ vững chắc an ninh - quốc phòng xứng đáng với vai tròcủa vị trí tiền tiêu Xây dựng ngành thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn củahuyện, thành trung tâm hậu cần dịch vụ nghề cá của tỉnh Quảng Ninh và khuvực phía Bắc Vịnh Bắc bộ

Trong các năm tiếp theo, tiếp tục coi ngư nghiệp là kinh tế mũi nhọn Đếnnăm 2009, qua việc lãnh đạo năm 2008 thấy cơ cấu trên là đúng hướng nên năm

2009, Đảng bộ xác định: Làm tốt công tác chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng,đảm bảo tốt các dịch vụ nông nghiệp cho nhân dân Đến năm 2010, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế cho phù hợp với tình hình của huyện: Triển khai thực hiện theoquy hoạch phát triển kinh tế ngành, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu nghề để phùhợp với ngư trường Tập trung phát triển các mô hình kinh tế khai thác, nuôitrồng và chế biến hải sản

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III, dưới

sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn đảng, toànquân và toàn dân trong huyện, Cô Tô đã thực hiện thắng lợi những chỉ tiêu quantrọng, cơ bản mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III đề ra Cơ cấu

Trang 38

kinh tế của huyện từng bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng Ngư nghiệp,

Dịch vụ - Du lịch, Nông, Lâm nghiệp, Ngư nghiệp được xác định là ngành kinh

tế mũi nhọn tăng trên 32%, thu ngân sách Nhà nước tăng trên 28%.

4 Đẩy nhanh tốc độ xây dựng, củng cố cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Cô Tô lần thứ III, nhiệm kỳ

2005-2010 xác định: Tăng cường chỉ đạo phát triển xây dựng cơ bản, giao thông, bưuđiện, khuyến khích và tạo điều kiện cho các ngành và các dịch vụ phát triểnphục vụ sản xuất và đời sống Quản lý khai thác có hiệu quả các bến tàu, cầucảng và các trung tâm dịch vụ Từng bước bê tông hóa các tuyến đường liênthôn, mở rộng, nâng cấp hệ thống điện nội thị và đường xuyên đảo Cô Tô Mởrộng mạng lưới thông tin và giao thông vận tải đảm bảo an toàn, tiến tới đưa hệthống vận tải hành khách và hàng hóa giữa đảo và đất liền bằng tầu cao tốc Hệthống thông tin thông suốt, phấn đấu đến năm 2010 có trên 80% số hộ dân được

sử dụng nước sạch, 90% đến 95% số hộ dân được sử dụng điện

Nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ III, Đảng bộ huyện Cô Tô

đề ra phương hướng về kết cấu hạ tầng: Rà soát lại việc cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất ở đối với khu vực nông thôn và đô thị Phấn đấu cơ bản hoànthành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở khu đô thị và nông thôntheo kế hoạch đề ra

Xây dựng phương án quy hoạch các ngành kinh tế như: Quy hoạch nuôitrồng thuỷ hải sản, quy hoạch chi tiết xây dựng khu trung tâm huyện lỵ, quyhoạch sử dụng đất nông nghiệp

Triển khai thực hiện đầu tư các dự án mới: Đường khu 2 thị trấn, kè chắnsóng tượng đài Bác Hồ, đường giao thông liên thôn, Trung tâm chính trị, quyếttoán các dự án đã hoàn thành để đưa vào sử dụng

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III, dưới sự lãnhđạo, chỉ đạo chặt chẽ của Đảng bộ huyện và các cấp chính quyền, đến hết năm

2005, các công trình xây dựng cơ bản thực hiện đúng theo kế hoạch đã đề ra,đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng Năm 2005, số tiền thực hiện là 19.816

Trang 39

triệu, đạt 66% kế hoạch Trong đó, vốn Biển Đông - Hải đảo: 5 tỷ, đạt 72%; vốnngân sách tỉnh là 13.948 triệu đồng; Vốn ngân sách huyện là 868,08 triệu, đạt100% kế hoạch.

Công tác địa chính luôn được quan tâm, nhất là việc kiểm kê đất đai, việccấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất ở cấp xã Đến 15-11-2005, toàn huyện đã cấp được 807 giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất; trong đó, đất đô thị đạt 50%, đất nông thôn đạt 88,6%

Trong năm 2006, Đảng bộ huyện đã kêu gọi vốn đầu tư cơ sở hạ tầng gồm

có điện gió, nước sinh hoạt, dịch vụ hậu cần nghề cá, các công trình thuỷ lợi, đê,

kè chắn sóng biển Đánh giá việc cấp đất và sử dụng đất trong toàn huyện

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, với sự cố gắng nỗ lực của toàn Đảng, toàndân trong huyện việc củng cố kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đã đạt kết quả khảquan:

Tổng số vốn xây dựng cơ bản là 18.855 triệu đồng, thực hiện được 20.786triệu đồng Trong đó, nguồn vốn Biển Đông - Hải Đảo là 4.950 triệu đồng, vốnngân sách tỉnh là 13.200 triệu đồng; vốn ngân sách huyện là 2.636 triệu đồng.Các công trình xây dựng cơ bản triển khai thi công theo kế hoạch vốn, các côngtrình thi công đều được quản lý, giám sát theo đúng thiết kế

Trong năm 2006, huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho 71

hộ dân Giao đất ở cho 5 hộ tái định cư, giải phóng mặt bằng các công trình xâydựng Công tác quản lý bảo vệ môi trường đã được chính quyền cơ sở và nhândân quan tâm, từng bước đi vào quản lý có nề nếp; công tác thu gom xử lý rácthải, công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường biển đó có những tiến bộ rõ nét

Nhằm đẩy nhanh tốc độ xây dựng, củng cố cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội,buớc vào năm 2007, Đảng bộ huyện chủ trương: Đẩy nhanh tiến độ cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất, phấn đấu đến hết quý II năm 2007, cơ bản hoànthành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn toàn huyện Tiếptục làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cấp xã, phấn đấu hoànthành theo đúng tiến độ Làm tốt công tác giải phóng mặt bằng các công trình

Trang 40

xây dựng đã được phê duyệt Tập trung làm tốt công tác giải quyết đơn thưkhiếu nại của công dân về lĩnh vực đất đai, kiên quyết xử lý các vi phạm phápluật về tài nguyên môi trường, đặc biệt là vấn đề sử dụng đất đai.

Tranh thủ các nguồn vốn của tỉnh, của Trung ương để khởi công các côngtrình đã được phê duyệt: hồ Trường Xuân, hồ Bắc Vàn, cải tạo tuyến đê TrườngXuân, nâng cấp hồ Hải Tiến, hồ ông Toẻ, bến cập tàu Cô Tô - Thanh Lân, nướcngọt sinh hoạt đảo Thanh Lân, điện tổng hợp, âu tàu tránh bão

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, với sự cố gắng nỗ lực của toàn Đảng, toàndân trong huyện, trong năm 2007, công tác xây dựng, củng cố cơ sở hạ tầngkinh tế - xã hội năm 2007 đã đạt được những kêt quả đáng khích lệ

Đến 31-12-2007, toàn bộ các dự án đầu tư xây dựng được ghi vốn đềuđược triển khai thi công Tổng số vốn đầu tư 17.465 triệu đồng, thực hiện được16.965 triệu đồng, đạt 97% kế hoạch Các công trình được triển khai thực hiện,

đã đưa vào sử dụng đều đảm bảo chất lượng và phục vụ tốt nhu cầu phát triểnkinh tế, đời sống dân sinh trên địa bàn Tuy nhiên, tiến độ một số công trìnhchưa đảm bảo do địa hình thi công ở vùng biển đảo khó khăn, công tác đền bù,giải phóng mặt bằng còn chậm: như đường Ký Con, đường C4, đường HồngVàn do phải điều chỉnh một số nội dung đầu tư

Đảng bộ, chính quyền huyện tổ chức triển khai kiểm tra việc lãnh đạo, chỉđạo thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong quản lý sử dụng đất đai đã đượcgiao cho các dự án giai đoạn 2003 - 2006 Hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất đaigiai đoạn 2006 - 2010 trên địa bàn huyện, tiến hành giao đất cho 35 hộ gia đìnhnuôi trồng thuỷ sản với diện tích là: 29,84 ha, giao đất ở cho 14 hộ gia đình vớidiện tích: 2.488m2, chuyển đổi mục đích từ đất mới sang đất ở là: 1007 m2

Đến 31-12-2007, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt1.013/1.159; giấy cần cấp đạt 87,4% kế hoạch; trong đó, đất ở đô thị: 435/530đạt 82,1% và đất ở nông thôn: 578/629 đạt 91,9% kế hoạch

Ngày đăng: 03/08/2016, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w