Mở đầuHẠ LONG VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜIVÀ TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNGI. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, DÂN SỐ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊNThành phố Hạ Long nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Ninh, cách thủ đô Hà Nội 155 km. Hạ Long có diện tích 27.195,03 ha (chiếm 4,5% diện tích đất toàn tỉnh) với 227.874 người (bằng 19% số dân của tỉnh), 59.819 hộ dân , trong đó dân tộc Kinh chiếm đại đa số, ngoài ra còn có các dân tộc khác như Sán Dìu, Hoa, Tày, Nùng, Hán, Dao, Thổ, Mường, Vân Kiều, Cao Lan...Thành phố Hạ Long có địa hình đặc biệt, chiều dài khu vực tiếp giáp trực tiếp với bờ biển dài 50 km, khu vực bên trong tựa vào đồi núi, tạo cho Hạ Long trở thành một trong những nơi có cảnh quan đẹp nhất Việt Nam. Thành phố Hạ Long trải dài và chia thành hai khu vực: phía Đông và phía Tây ngăn cách bằng eo biển Cửa Lục rộng 420m. Nối hai bờ Cửa Lục là cầu Bãi Cháy một trong năm cây cầu dây văng, mặt phẳng dây lớn nhất thế giới. Phía Đông thành phố là trung tâm chính trị, thương mại và công nghiệp khai thác than của tỉnh. Phía Tây thành phố là trung tâm du lịchdịch vụ, đồng thời cũng là khu công nghiệp đóng tàu và cảng biển nổi tiếng của cả nước. Ở đây có khu du lịch quốc tế Hoàng Gia, Tuần Châu, với nhiều khách sạn từ 2 sao đến 4 sao. Riêng đảo Tuần Châu, rộng trên 400 ha, có đường nối với quốc lộ 18A dài khoảng 2km, được xem là thiên đường du lịch của Việt Nam và đang phấn đấu mang tầm khu vực và quốc tế.Về khí hậu, Hạ Long thuộc kiểu khí hậu vùng ven biển, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa đông từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10. Nhiệt độ trung bình hàng năm 23,70C, dao động không lớn, từ 16,70C đến 28,60C. Mùa hè, nhiệt độ trung bình cao là 34,90C, nóng nhất đến 380C. Mùa đông, nhiệt độ trung bình thấp là 13,70C, rét nhất là 50C.Lượng mưa trung bình một năm 1.832mm, phân bố không đều theo 2 mùa. Mùa hè, mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 8085% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa cao nhất vào tháng 7, tháng 8 với khoảng 350mm. Mùa đông ít mưa, chỉ đạt khoảng 1520% tổng lượng mưa cả năm. Độ ẩm không khí trung bình hàng năm 84%. Hạ Long nằm phía trong vùng biển kín nên ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, sức gió mạnh nhất trong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10. Cá biệt có cơn bão mạnh cấp 11.Về sông ngòi, các sông chính chảy qua địa phận thành phố Hạ Long gồm có sông Diễn Vọng, Vũ Oai, Man, Trới. Cả bốn con sông đều đổ vào vịnh Cửa Lục, rồi chảy ra vịnh Hạ Long. Các con suối chảy dọc sườn núi phía Nam thuộc phường Hồng Gai, Hà Tu, Hà Phong. Cả sông và suối ở thành phố Hạ Long đều nhỏ, ngắn, lưu lượng nước không nhiều. Vì địa hình dốc nên khi có mưa to, nước dâng lên nhanh và thoát ra biển thuận lợi.Chế độ thuỷ triều của vùng biển Hạ Long chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ nhật triều vịnh Bắc Bộ, biên độ dao động thuỷ triều trung bình 3.6m. Nhiệt độ nước biển ở lớp bề mặt trung bình 180C đến 30.80C, độ mặn nước biển trung bình 21.6‰ (tháng7) cao nhất là 32.4‰ (tháng 2, 3 hàng năm). Về tài nguyên thiên nhiên, thành phố Hạ Long có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng. Người dân Quảng Ninh ai cũng thuộc câu ca: Hồng Gai than lắm, cá nhiều. Bao nhiêu bể, núi, bấy nhiêu bạc vàng. Tài nguyên khoáng sản ở thành phố Hạ Long chủ yếu là than đá và nguyên vật liệu xây dựng. Năm 2010, tổng trữ lượng than đá thăm dò được đạt gần 600 triệu tấn, chủ yếu nằm ở phía Bắc và Đông Bắc thành phố Hạ Long trên địa bàn các phường Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu. Hạ Long còn có đất sét với trữ lượng 63,5 triệu m3, tập trung chủ yếu ở phường Giếng Đáy; có đá vôi với trữ lượng 1,3 tỷ tấn, hàm lượng cao 54,36%, chủ yếu tập trung ở các phường Hà Phong, Đại Yên; có các khu vực khai thác cát xây dựng tại ven biển phường Hà Phong, Hà Khánh, khu vực sông Trới tiếp giáp Hà Khẩu, Việt Hưng…, song trữ lượng phân tán và không lớn. Đây là những nguồn nguyên liệu phục vụ làm xi măng và vật liệu xây dựng.Tài nguyên rừng, theo số liệu thống kê tính đến hết năm 2011, thành phố Hạ Long có tổng diện tích đất rừng 7.002,09 ha; trong đó đất rừng sản xuất 1.678,63 ha, đất rừng phòng hộ 5.029,98 ha, đất rừng đặc dụng 297,48 ha . Rừng vịnh Hạ Long phong phú, đa dạng như các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở cửa hang hay khe đá. Trong đó, có 7 loài thực vật đặc hữu mà không nơi nào trên thế giới có được, như thiên tuế, cọ, khổ cử đại nhung, móng tai, ngũ gia bì, hài vệ nữ hoa vàng…Tài nguyên đất, thành phố Hạ Long có tổng diện tích đất tự nhiên 27.195,03 ha, trong đó đất nông nghiệp 9483,18 ha; đất phi nông nghiệp 16.349,77 ha, đất ở 1370,22 ha, đất chuyên dùng 10.057,02 ha .Tài nguyên biển, vùng biển Hạ Long rất phong phú về các loại động vật và thực vật dưới nước. Theo nghiên cứu có 950 loài cá, 500 loài động vật thân mềm và 400 loài giáp xác, trong đó có nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như cá thu, cá nhụ, cá song, cá tráp, cá chim và tôm, cua, mực, ngọc trai, bào ngư, sò huyết, tu hài… 117 loài san hô thuộc 40 họ, 12 nhóm. Vịnh Hạ Long đã hai lần được Unesco công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, được bình chọn là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới. Vùng Di sản được Thế giới công nhận có diện tích 434 km2, bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông). Với nhiều hang động đẹp và huyền ảo như hang Bồ Nâu, Trinh Nữ, Sửng Sốt, Đầu Gỗ, Thiên Cung, Tam Cung, Mê Cung đã đưa danh tiếng của vịnh Hạ Long trở thành một trong những điểm du lịch nổi tiếng trên toàn thế giới. Tài nguyên nước, tài nguyên mặt nước ở thành phố Hạ Long tập trung tại các khu vực hồ Yên Lập với tổng dung tích khoảng 107.200.000 m3 (thời điểm đo trong tháng 82010), Hồ Khe Cá tại phường Hà Tu… Đây là nguồn cung cấp nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra có các hồ điều hòa tạo cảnh quan cho thành phố như hồ Yết Kiêu, Ao CáKênh Đồng…Thành phố Hạ Long là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh Quảng Ninh và vùng Đông Bắc Tổ quốc. Thành phố có có hệ thống giao thông đường bộ với chất lượng hạ tầng kỹ thuật tương đối đồng bộ, khá hoàn chỉnh với cả đường bộ lẫn đường thuỷ, như: đường Quốc lộ 18A đi Hải Dương, Hải Phòng. Quốc lộ 279 từ Bắc Giang, qua Hoành Bồ, đến Hạ Long. Từ Hà Nội, có 3 tuyến đường bộ đi Hạ Long là: Hà NộiBắc NinhHạ Long dài 155 km, Hà NộiHải DươngHạ Long dài 170km và Hà NộiHải DươngHải PhòngHạ Long dài 160km… Trong kế hoạch sẽ xây dựng các tuyến đường cao tốc Nội BàiHạ Long, Hải PhòngHạ Long, Móng CáiHạ Long.Thành phố Hạ Long còn có tuyến đường sắt Hà NộiKépHạ Long nối đến cảng Cái Lân, tuyến đường sắt đang được đầu tư nâng cấp để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa từ Hà Nội tới Hạ Long và các tỉnh lân cận. Hệ thống cảng và bến tàu du lịch nằm trong vịnh Hạ Long sẵn sàng đón nhận các loại tàu nội địa và tàu viễn dương có trọng tải lớn. Bên cạnh đó, Hạ Long cũng có một số bãi đỗ cho sân bay trực thăng và thuỷ phi cơ. Vị trí địa lý“đắc địa” cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng và hệ thống giao thông thuận lợi đã tạo điều kiện thuận lợi để thành phố Hạ Long sớm trở thành một trong những trung tâm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội toàn diện, hiện đại của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cả nước nói chung.II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HẠ LONGỞ Giáp Khẩu (nay thuộc phường Hà Khánh) đã phát hiện một di chỉ lớn thời trung kỳ đồ đá mới. Ở Đồng Mang (phường Giếng Đáy), đảo Tuần Châu, Cái Lân (phường Bãi Cháy), Cọc 8 (phường Hồng Hà) và trong nhiều hang động, mái đá trên vịnh Hạ Long đã phát hiện những di chỉ thời đại đồ đá mới. Căn cứ vào những di chỉ khảo cổ được phát hiện cho thấy, ngay từ rất sớm ở Hạ Long đã có con người sinh sống và cùng nhau xây dựng nên các xóm làng. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, cộng đồng dân cư và tổ chức xã hội ở đây ngày càng phát triển, để hình thành thành phố Hạ Long như ngày nay. Vùng đất trung tâm của thành phố Hạ Long ngày nay, xưa kia chỉ là một làng chài ven biển, có tên là Bãi Hàu, sau thành làng xã. Đến đầu thời Nguyễn được đổi tên thành xã Mẫu Lệ. Về sau hình thành nên các xã Hà Lầm, Lũng Phong, Giang Võng và Trúc Võng. Các phường phía Đông và phía Tây của thành phố hiện nay, trước đó đều thuộc huyện Hoành Bồ.Năm 1883, thực dân Pháp chiếm vùng vịnh Hạ Long, chúng tiến hành khai thác than ở các mỏ trên bờ vịnh, lập ra phố Hòn Gai, do một quan bang người Việt cai quản, nhưng mọi thực quyền nằm trong tay viên Đại lý người Pháp. Ở Hòn Gai, thực dân Pháp còn chia thành nhiều bang nhỏ như Hà Tu, Hà Lầm, Bãi Cháy…Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Hòn Gai trở thành thị xã, thủ phủ của vùng mỏ. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Đặc khu Hòn Gai là đơn vị hành chính độc lập cấp tỉnh, được đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của Ủy ban kháng chiến Hành chính Liên khu I . Ngày 1051949, huyện Hoành Bồ được tách khỏi tỉnh Quảng Yên để sáp nhập vào Đặc khu Hòn Gai. Do đó, Đặc khu Hòn Gai có hai huyện Cẩm Phả và Hoành Bồ. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Hòn Gai trở thành thị xã, thủ phủ của khu Quảng Hồng (Hồng Quảng trên cơ sở sáp nhập tỉnh Quảng Yên và khu Hồng Gai). Ngày 30101963, tỉnh Hải Ninh và khu Quảng Hồng hợp nhất thành tỉnh Quảng Ninh, từ đó thị xã Hồng Gai trở thành thủ phủ của tỉnh Quảng Ninh và được mở rộng địa bàn thị xã về phía Đông và phía Tây.Trước ngày 1091981, thị xã Hòn Gai có 6 thị trấn, 3 xã và 6 tiểu khu . Ngày 1091981, một số thị trấn và tiểu khu thuộc thị xã Hồng Gai giải thể và một số phường được thành lập như: Phường Hà Tu và phường Hà Phong trên cơ sở thị trấn Hà Tu. Phường Hà Lầm, Hà Trung và Hà Khánh từ thị trấn Hà Lầm. Phường Hồng Hà, Hồng Hải từ thị trấn Cọc 5. Phường Cao Thắng, Cao Xanh từ thị trấn Cao Thắng. Phường Giếng Đáy, Hà Khẩu từ thị trấn Giếng Đáy. Thành lập phường Bãi Cháy từ thị trấn Bãi Cháy.Sau khi thành lập các phường mới, thị xã Hồng Gai gồm 16 phường (Bạch Đằng, Hạ Long, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Hà Phong, Hà Tu, Hà Trung, Hà Lầm, Hà Khánh, Hồng Hà, Hồng Hải, Cao Thắng, Cao Xanh, Giếng Đáy, Hà Khẩu, Bãi Cháy) và ba xã (Thành Công, Hùng Thắng, Tuần Châu). Năm 1992 sáp nhập xã Thành Công vào phường Cao Xanh.Ngày 27121993, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 102NĐTTg, đổi thị xã Hồng Gai thành thành phố Hạ Long. Thực hiện Nghị định số 512001NĐCP ngày 1682001 của Chính phủ Về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hoành Bồ để mở rộng thành phố Hạ Long và thành lập phường thuộc thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, hai xã Việt Hưng và Đại Yên của huyện Hoành Bồ được sáp nhập vào thành phố Hạ Long.Ngày 2692003, theo Quyết định số 1992003QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ, thành phố Hạ Long được công nhận là thành phố đô thị loại II, đã khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của thành phố Hạ Long trong tiến trình phát triển của lịch sử.Ngày 522010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 07NQCP Về việc thành lập các phường thuộc thành phố Hạ Long và thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Nghị quyết nêu rõ: Thành lập phường Đại Yên và Việt Hưng trên cơ sở toàn bộ diện tích, nhân khẩu của xã Đại Yên và Việt Hưng. Thành phố Hạ Long trải dài từ Yên Lập (sát với địa phận huyện thị xã Quảng Yên) tới Đèo Bụt (giáp ranh với thành phố Cẩm Phả) như ngày nay.Sau khi thành lập các phường Đại Yên và Việt Hưng, thành phố Hạ Long có 20 phường, đó là các phường Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu, Hồng Hà, Hồng Hải, Cao Thắng, Cao Xanh, Yết Kiêu, Trần Hưng Đạo, Bạch Đằng, Hồng Gai, Bãi Cháy, Hà Khẩu, Giếng Đáy, Hùng Thắng, Tuần Châu, Việt Hưng, Đại Yên.III. TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG TRƯỚC NĂM 1930Hạ Long là nơi có vị trí chiến lược về kinh tếxã hội, quốc phòngan ninh của tỉnh Quảng Ninh và vùng Đông Bắc Tổ quốc. Trong các thời kỳ lịch sử của dân tộc, con đường tiến quân xâm lược nước ta bằng đường thủy của các triều đại phong kiến phương Bắc đều đi qua vịnh Hạ Long, ngược sông Bạch Đằng đến Thăng Long. Ngoài ra, Hạ Long còn có các mỏ than với trữ lượng lớn, nên ngay từ rất sớm, nơi đây đã trở thành miếng mồi béo bở đối với các thế lực ngoại xâm. Tất cả bọn thực dân, đế quốc, điển hình là Pháp, Nhật, Mỹ mỗi khi đánh chiếm vùng Đông Bắc Việt Nam đều coi Hạ Long là mục tiêu số một, hàng đầu của chúng . Do đó, lịch sử Hạ Long gắn bó hữu cơ với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.Trước sự xâm lược và thống trị của các thế lực ngoại xâm, nhân dân các dân tộc Hòn Gai đoàn kết một lòng đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Ngay từ buổi đầu dựng nước và trong suốt thời phong kiến, nhân dân Hòn Gai đã cùng nhân dân cả nước vùng lên đấu tranh đánh bại nhiều đội quân xâm lược, làm nên thiên anh hùng ca bất diệt trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm.Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), chính thức xâm lược nước ta. Sau khi đánh ra Bắc Kỳ lần thứ nhất (1874), trong các năm 18801881, thực dân Pháp đã đưa các đoàn kỹ thuật Pyuystxơ, Xalađanh, Xărăng đến khu mỏ Hòn Gai thăm dò, khảo sát.Đầu tháng 31883, thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai. Sau khi hạ thành Hà Nội, ngày 1231883, thực dân Pháp đưa tàu chiến vào vịnh Hạ Long, tiến sâu vào vũng Cửa Lục, đổ quân lên đóng đồn trên đỉnh đồi Bãi Cháy. Mở đầu 72 năm chiếm đóng vùng mỏ, chúng đem 500 quân đánh chiếm Hòn Gai, dựng trại tại Bãi Cháy.Ngày 2411884, thực dân Pháp ép triều đình nhà Nguyễn làm khế ước bán vùng mỏ Hòn Gai Cẩm Phả cho Baviê Sôphua với giá 10 vạn đồng Đông Dương. Ngày 2441888, chúng lập Công ty khai thác than Bắc Kỳ thuộc Pháp (S.F.C.T); cùng ngày, toàn quyền Đông Dương ký văn bản chính thức nhường quyền sở hữu vùng mỏ mà Baviêsô Phua đã mua của triều đình nhà Nguyễn, do đó Hòn Gai trở thành “đất nhượng” thuộc quyền của chủ mỏ, có bộ máy cai trị riêng. Vì thế, Hòn Gai tồn tại song song hai bộ máy cai trị, đó là bộ máy cai trị của thực dân chủ mỏ và bộ máy cai trị của chính quyền thực dân.Hòn Gai là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, đặc biệt là than, nên là một trong những mục tiêu quan trọng trong chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và bọn chủ mỏ. Dựa vào chế độ cai trị hà khắc, bọn chủ mỏ thực dân ra sức vơ vét tài nguyên thiên nhiên và bóc lột sức lao động rẻ mạt của nhân dân với quy mô và mức độ ngày càng lớn, nhất là việc đẩy mạnh khai thác than. Hàng nghìn nông dân từ đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh bị bần cùng hóa được mộ ra làm phu mỏ. Cùng với Cẩm Phả, Đông Triều, Uông Bí, Hòn Gai trở thành nơi ra đời sớm nhất và tập trung đông đảo nhất giai cấp công nhân Việt Nam .Dưới sự thống trị hà khắc, tàn bạo của thực dân Pháp, phong kiến tay sai và chủ mỏ, nhân dân Hòn Gai, nhất là công nhân mỏ bị bóc lột thậm tệ. Họ phải làm 1012 giờngày, nhưng chỉ nhận được đồng lương rẻ mạt, lại luôn bị chủ thầu, cai mỏ, giám thị đánh đập, cúp phạt tiền lương. Công nhân mỏ trở thành những người “lao động khổ sai”, bị đẩy vào đường cùng không lối thoát với nghèo đói và bệnh tật. Hòn Gai trở thành địa ngục trần gian. Mâu thuẫn giữa công nhân mỏ, nhân dân Hòn Gai với bọn thực dân chủ mỏ, phong kiến tay sai vô cùng gay gắt. Phong trào đấu tranh liên tiếp nổ ra, lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia.Ngay khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam nói chung, Quảng Ninh nói riêng, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, nhân dân Hòn Gai nêu cao ý chí quật cường, bất khuất, đoàn kết một lòng cùng nhân dân cả nước nổi dậy chống xâm lược. Từ năm 1885 đến năm 1895, hưởng ứng phong trào Cần Vương, trên vùng biển Hạ Long, sát khu mỏ, nhân dân Hòn Gai tham gia cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp do Lãnh Pha lãnh đạo, lập căn cứ ở đảo Vạn Hoa. Nghĩa quân tiến nhiều lần công vào các cơ sở của thực dân Pháp ở mỏ Kế Bào, Hà Lầm… và giành thắng lợi. Trước sự lớn mạnh của nghĩa quân, thực dân Pháp điều binh đoàn thủy quân lục chiến Cờlamoocgăng đến Vịnh Hạ Long để bao vây, càn quét, khủng bố, nhưng không tiêu diệt được nghĩa quân.Đầu thế kỷ XX, phong trào Đông Du và Đông Kinh nghĩa thục do các sĩ phu yêu nước nổ ra mạnh mẽ, lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia. Ở Quảng Ninh, một số nhà nho và thương gia có tinh thần yêu nước chống Pháp đã thành lập Hội Công thương ái hữu, đặt trụ sở tại Hòn Gai và đã kết nạp được 100 hội viên, gồm những thương gia, công chức lớp dưới, học sinh, công nhân mỏ. Hoạt động chính của Hội là cổ động cho hàng nội hóa, tổ chức thanh niên học tập, quyên tiền ủng hộ phong trào Đông Du. Từ khi Hội Công thương ái hữu thành lập, những bài văn, bài thơ cổ động lòng yêu nước và chí căm thù giặc như bài “Hải ngoại huyết thư” của Phan Bội Châu được truyền bá rộng rãi trong công nhân và nhân dân Hòn Gai. Ngay từ khi mới ra đời, công nhân mỏ Hòn Gai đã sớm được giác ngộ cách mạng, nên vùng lên đấu tranh quyết liệt chống thực dân Pháp và tay sai. Năm 1906, công nhân mỏ Hà Tu đình công vì bọn cai mỏ cắt xén tiền ăn đường của họ. Chủ mỏ đối phó bằng cách không bán lương thực cho những người đấu tranh, đẩy họ vào cảnh đói khát buộc phải đi làm. Được sự giúp đỡ của những người thợ cũ ở Hà Tu, cuộc đấu tranh giành được thắng lợi.Năm 1909, công nhân mỏ Hà TuCẩm Phả đấu tranh phản đối chủ mỏ trả tiền công thấp, nhưng không được chấp nhận. Công nhân căm phẫn đốt chòi, chặt mai cuốc, rồi rủ nhau bỏ về.Năm 1916, khoảng 10 công nhân đề pô xe lửa Hà Tu chặn đánh lính khố xanh, vì chúng trắng trợn cướp giật hàng hóa, trêu ghẹo, hãm hiếp phụ nữ. Năm 1918, công nhân Hà Tu đấu tranh đòi chủ mỏ thả một công nhân bị bắt vô cớ; 700 công nhân Lán Phục, Lán Nghệ (Hà Tu) phối hợp cùng công nhân xe lửa kéo đến đốt nhà tên Bang Sâm, vì tên này thường hống hách, dọa nạt, áp bức công nhân. Năm 1919, một số nữ công nhân nhà sàng Hòn Gai nghỉ việc một ngày để phản đối tên đốc công Valuy và cai nhà máy thường trêu ghẹo, làm nhục họ.Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đặc biệt chú ý đến việc phát huy ảnh hưởng và gây dựng cơ sở ở Hòn Gai. Các hội viên Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đẩy mạnh tuyên truyền, giác ngộ công nhân mỏ và coi đó là nhiệm vụ trọng tâm. Hình thức tuyên truyền linh hoạt, sáng tạo, phù hợp hoàn cảnh lịch sử như tổ chức những cuộc gặp gỡ trong xưởng máy, tầng lò lúc làm việc hay tổ chức họp kín để tuyên truyền, giác ngộ cách mạng. Các hội viên Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã nhanh chóng “bắt rễ” được vào những công nhân bị bóc lột dã man, có tinh thần đấu tranh cách mạng cao để tuyên truyền, giáo dục và gây dựng cơ sở cách mạng. Từ năm 1928, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên thực hiện phong trào “vô sản hóa”. Một loạt cán bộ của Hội được Kỳ bộ Bắc Kỳ cử đi vô sản hóa và truyền bá chủ nghĩa MácLênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Hòn Gai, Hà Tu, Hà Lầm, Cọc 5, Cẩm Phả, Cửa Ông, Mạo Khê, Vàng Danh, Uông Bí…, trong đó có các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Xứng (tức Lê Thanh Nghị), Đặng Châu Tuệ, Vũ Thị Mai, Nguyễn Văn Lịch (tức Mẫn), Vũ Văn Hiếu, Trần Văn Nghệ. Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, các hội viên Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã giác ngộ được nhiều công nhân và dẫn dắt họ vào con đường đấu tranh cách mạng. Trên cơ sở đó, nhiều Chi bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên lần lượt được thành lập. Đầu năm 1929, Chi bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Hòn Gai được thành lập. Phong trào yêu nước và phong trào công nhân mỏ Hòn Gai ngày càng phát triển, nhất là từ khi đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Ủy viên Trung ương Đông Dương Cộng sản Đảng cử đồng chí Đỗ Huy Liêm ra khu mỏ Hòn GaiCẩm Phả xây dựng tổ chức Đảng (cuối tháng 71929). Đồng chí Đỗ Huy Liêm đã triệu tập Hội nghị cán bộ, hội viên thanh niên ở Cẩm Phả, Cửa Ông để truyền đạt chủ trương của Đông Dương Cộng sản Đảng, giải tán các Chi bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, để thành lập các Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng.Thực hiện chủ trương của cấp trên, tháng 91929, đồng chí Phạm Văn Cát (tức Cao) từ Cao Bằng về vô sản hóa ở Cái Đá, đã thực hiện nhiệm vụ giải thể các Chi bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và thành lập Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng đầu tiên ở Hòn Gai, gồm các đồng chí Phạm Văn Cát (tức Cao), Đỗ Văn Hợp (tức xếp Hiên), Nguyễn Thành (tức Tuất), do đồng chí Phạm Văn Cát làm Bí thư. Trụ sở liên lạc của Chi bộ được đặt tại nhà số 3, phố Paris (nay là nhà số 11, phố Cây Tháp, phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long).Ngay sau khi thành lập, Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Hòn Gai đã lãnh đạo công nhân mỏ Hòn Gai phối hợp với các Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng mỏ Cửa Ông, Cẩm Phả, Uông Bí, Vàng Danh… tổ chức rải truyền đơn, treo cờ, dán áp phích kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga (7111917 7111929).Để thúc đẩy phong trào các mạng ở khu mỏ Hòn Gai phát triển hơn, tháng 21930, Trung ương Đông Dương Cộng sản Đảng tiếp tục cử nhiều cán bộ về Hòn Gai hoạt động, trong đó có đồng chí Nguyễn Thị Lưu (tức Nguyễn Thị Nhâm, tức Phan Thị Khương, Cả Khương).Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Cộng sản, phong trào yêu nước và phong trào công nhân ở Hòn Gai ngày càng lớn mạnh, đã thúc đẩy sự ra đời của nhiều chi bộ Cộng sản. Cuối năm 1929, đầu năm 1930, các Chi bộ Đảng ở Hà Tu, Cọc 5 lần lượt được thành lập. Nhiệm vụ đặt ra của cách mạng Hòn Gai lúc này là phải thành lập được Chi bộ Cộng sản thống nhất và duy nhất để lãnh đạo cách mạng tiến tới thắng lợi hoàn toàn.
Trang 1ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH BAN THƯỜNG VỤ THÀNH ỦY HẠ LONG
CHỈ ĐẠO NỘI DUNG
BAN THƯỜNG VỤ THÀNH ỦY HẠ LONG
1
Trang 2BAN CHỈ ĐẠO
1 Đồng chí Vũ Hồng Thanh, UVBTV Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy, Trưởng ban;
2 Đồng chí Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Chủ tịchHĐND thành phố, Phó Trưởng ban Thường trực;
3 Đồng chí Đào Xuân Đan, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố,Phó Trưởng ban;
4 Đồng chí Trịnh Minh Thanh, Phó Bí thư Thành ủy, Phó Trưởng ban;
5 Đồng chí Vũ Văn Hợp, Ủy viên BTV Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trựcUBND thành phố, Ủy viên;
6 Đồng chí Ninh Văn Thương, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy, Ủy viênThường trực;
7 Các đồng chí trong Ban Thường vụ Thành ủy, Thường trực HĐND, UBNDthành phố; Lãnh đạo các Ban Xây dựng Đảng, Văn phòng Thành ủy,UBMTTQ và các đoàn thể thành phố, Ủy viên
BAN BIÊN SOẠN
1 TS Hoàng Thị Kim Thanh (Chủ biên)
1 Đ/c Nguyễn Quang Hưng 7 Đ/c Tống Khắc Hài
2 Đ/c Ninh Văn Thương 8 Đ/c Đào Duy Cát
3 Đ/c Vũ Thanh Đạm 9 Đ/c Nguyễn Văn Quý
4 Đ/c Lê Quyền 10 Đ/c Nguyễn Thị Vân Hà
5 Đ/c Trần Nhuận Minh 11 Đ/c Trần Kiên
Trang 3Hạ Long là thành phố tỉnh lỵ, trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị củatỉnh Quảng Ninh,thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ Đây là một trong những khu vực
được hình thành lâu đời nhất trên lãnh thổ Việt Nam Lịch sử hình thành và pháttriển của thành phố Hạ Long gắn liền với các phong trào đấu tranh cách mạng anhhùng và đầy tự hào của cán bộ, nhân dân thành phố Hơn 80 năm dưới sự lãnhđạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tỉnh ủyQuảng Ninh, Đảng bộ và nhân dân thành phố Hạ Long đã phát huy tinh thần đoànkết, yêu nước, truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất của vùng mỏ, vượtqua bao khó khăn, thử thách, một lòng tin tưởng theo Đảng, cùng cả nước viết lên
những trang sử hào hùng trong cuộc đấu tranh giành chính quyền (1930-1945),kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1955), kháng chiến chống Mỹcứu nước (1955-1975) và xây dựng chủ nghĩa xã hội (1976-2010) Những sự kiệnlịch sử gắn với bao chiến công oanh liệt, thắng lợi vẻ vang mà Đảng bộ và nhândân thành phố Hạ Long đạt được hơn 80 năm qua mãi là niềm tự hào của các thế
hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân thành phố
Thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 28-8-2002 của Ban Bí thư Trungương Đảng Khóa IX về Tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Quảng Ninh,
Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hạ Long quyết định tổ chức biên soạn Lịch
sử Đảng bộ thành phố giai đoạn 1930-2010, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và bổ
sung, chỉnh sửa cuốn “60 năm chiến đấu xây dựng-trưởng thành của Đảng bộ
và nhân dân thị xã Hồng Gai (1930-1990)” đã được Ban Chấp hành Đảng bộ thị
xã Hồng Gai chỉ đạo biên soạn, xuất bản năm 1991
Công trình Lịch sử Đảng bộ thành phố Hạ Long (1930-2010) ra đời là
tài liệu quý, phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cho cán bộ,đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ trong thành phố nâng cao niềm tự hào,phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân thành phố
Hạ Long đã tạo dựng nên hơn 80 năm qua
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong chỉ đạo và biên soạn cuốn sách, song
do nguồn tài liệu lưu trữ còn thiếu, trải qua các cuộc chiến tranh nên thất lạcnhiều, nhân chứng lịch sử, nhất là cán bộ chủ chốt của thành phố qua các thời kỳtuổi cao, thời gian trôi đi quá lâu nên nguồn cung cấp tư liệu còn hạn chế Vì vậy,cuốn sách khó tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết Rất mong được sự đóng
3
Trang 4góp ý kiến và bổ sung thêm tư liệu lịch sử của cán bộ, đảng viên và nhân dântrong thành phố cùng bạn đọc để cuốn sách lần sau tái bản đạt chất lượng hơn.
Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố
Hạ Long chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng, các nhânchứng lịch sử qua các thời kỳ, các cơ quan và tổ chức, các cán bộ khoa học lịch
sử đã nhiệt tình cung cấp tài liệu, đọc và góp ý bản thảo Xin trân trọng cảm ơnTỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Ninh và Ban Địa phương, Viện Lịch sửĐảng thuộc Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã giúp đỡ,
tạo điều kiện để cuốn sách Lịch sử Đảng bộ thành phố Hạ Long (1930-2010) ra
m t b n ắt bạn đọc ạn đọc đọc.c
BAN THƯỜNG VỤ THÀNH ỦY HẠ LONG
4
Trang 55
Trang 6Mở đầu
HẠ LONG - VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI
VÀ TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG
I VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, DÂN SỐ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Thành phố Hạ Long nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Ninh, cách thủ đô HàNội 155 km Hạ Long có diện tích 27.195,03 ha (chiếm 4,5% diện tích đất toàntỉnh) với 227.874 người (bằng 19% số dân của tỉnh), 59.819 hộ dân1, trong đó dântộc Kinh chiếm đại đa số, ngoài ra còn có các dân tộc khác như Sán Dìu, Hoa, Tày,Nùng, Hán, Dao, Thổ, Mường, Vân Kiều, Cao Lan
Thành phố Hạ Long có địa hình đặc biệt, chiều dài khu vực tiếp giáp trựctiếp với bờ biển dài 50 km, khu vực bên trong tựa vào đồi núi, tạo cho Hạ Long trởthành một trong những nơi có cảnh quan đẹp nhất Việt Nam Thành phố Hạ Longtrải dài và chia thành hai khu vực: phía Đông và phía Tây ngăn cách bằng eo biểnCửa Lục rộng 420m Nối hai bờ Cửa Lục là cầu Bãi Cháy - một trong năm cây cầudây văng, mặt phẳng dây lớn nhất thế giới Phía Đông thành phố là trung tâm chínhtrị, thương mại và công nghiệp khai thác than của tỉnh Phía Tây thành phố là trungtâm du lịch-dịch vụ, đồng thời cũng là khu công nghiệp đóng tàu và cảng biển nổitiếng của cả nước Ở đây có khu du lịch quốc tế Hoàng Gia, Tuần Châu, với nhiềukhách sạn từ 2 sao đến 4 sao Riêng đảo Tuần Châu, rộng trên 400 ha, có đường nốivới quốc lộ 18A dài khoảng 2km, được xem là thiên đường du lịch của Việt Nam
và đang phấn đấu mang tầm khu vực và quốc tế
Về khí hậu, Hạ Long thuộc kiểu khí hậu vùng ven biển, mỗi năm có 2 mùa
rõ rệt, mùa đông từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình hàng năm 23,70C, dao động không lớn, từ 16,70Cđến 28,60C Mùa hè, nhiệt độ trung bình cao là 34,90C, nóng nhất đến 380C Mùađông, nhiệt độ trung bình thấp là 13,70C, rét nhất là 50C
1 Số liệu tính đến ngày 31-12-2011.
6
Trang 7Lượng mưa trung bình một năm 1.832mm, phân bố không đều theo 2 mùa.Mùa hè, mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80-85% tổng lượng mưa cả năm.Lượng mưa cao nhất vào tháng 7, tháng 8 với khoảng 350mm Mùa đông ít mưa,chỉ đạt khoảng 15-20% tổng lượng mưa cả năm Độ ẩm không khí trung bình hàngnăm 84% Hạ Long nằm phía trong vùng biển kín nên ít chịu ảnh hưởng của nhữngcơn bão lớn, sức gió mạnh nhất trong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10 Cá biệt
có cơn bão mạnh cấp 11
Về sông ngòi, các sông chính chảy qua địa phận thành phố Hạ Long gồm
có sông Diễn Vọng, Vũ Oai, Man, Trới Cả bốn con sông đều đổ vào vịnh Cửa Lục,rồi chảy ra vịnh Hạ Long Các con suối chảy dọc sườn núi phía Nam thuộc phườngHồng Gai, Hà Tu, Hà Phong Cả sông và suối ở thành phố Hạ Long đều nhỏ, ngắn,lưu lượng nước không nhiều Vì địa hình dốc nên khi có mưa to, nước dâng lênnhanh và thoát ra biển thuận lợi
Chế độ thuỷ triều của vùng biển Hạ Long chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế
độ nhật triều vịnh Bắc Bộ, biên độ dao động thuỷ triều trung bình 3.6m Nhiệt độnước biển ở lớp bề mặt trung bình 180C đến 30.80C, độ mặn nước biển trung bình21.6‰ (tháng7) cao nhất là 32.4‰ (tháng 2, 3 hàng năm)
Về tài nguyên thiên nhiên, thành phố Hạ Long có nguồn tài nguyên phong
phú, đa dạng Người dân Quảng Ninh ai cũng thuộc câu ca:
Hồng Gai than lắm, cá nhiều
Bao nhiêu bể, núi, bấy nhiêu bạc vàng
Tài nguyên khoáng sản ở thành phố Hạ Long chủ yếu là than đá và nguyênvật liệu xây dựng Năm 2010, tổng trữ lượng than đá thăm dò được đạt gần 600triệu tấn, chủ yếu nằm ở phía Bắc và Đông Bắc thành phố Hạ Long trên địa bàncác phường Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu Hạ Long còn có đấtsét với trữ lượng 63,5 triệu m3, tập trung chủ yếu ở phường Giếng Đáy; có đá vôivới trữ lượng 1,3 tỷ tấn, hàm lượng cao 54,36%, chủ yếu tập trung ở các phường
Hà Phong, Đại Yên; có các khu vực khai thác cát xây dựng tại ven biển phường HàPhong, Hà Khánh, khu vực sông Trới tiếp giáp Hà Khẩu, Việt Hưng…, song trữ
7
Trang 8lượng phân tán và không lớn Đây là những nguồn nguyên liệu phục vụ làm ximăng và vật liệu xây dựng.
Tài nguyên rừng, theo số liệu thống kê tính đến hết năm 2011, thành phố
Hạ Long có tổng diện tích đất rừng 7.002,09 ha; trong đó đất rừng sản xuất1.678,63 ha, đất rừng phòng hộ 5.029,98 ha, đất rừng đặc dụng 297,48 ha1 Rừngvịnh Hạ Long phong phú, đa dạng như các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cátven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở cửa hanghay khe đá Trong đó, có 7 loài thực vật đặc hữu mà không nơi nào trên thế giới cóđược, như thiên tuế, cọ, khổ cử đại nhung, móng tai, ngũ gia bì, hài vệ nữ hoavàng…
Tài nguyên đất, thành phố Hạ Long có tổng diện tích đất tự nhiên
27.195,03 ha, trong đó đất nông nghiệp 9483,18 ha; đất phi nông nghiệp 16.349,77
ha, đất ở 1370,22 ha, đất chuyên dùng 10.057,02 ha2
Tài nguyên biển, vùng biển Hạ Long rất phong phú về các loại động vật và
thực vật dưới nước Theo nghiên cứu có 950 loài cá, 500 loài động vật thân mềm và
400 loài giáp xác, trong đó có nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như cá thu, cánhụ, cá song, cá tráp, cá chim và tôm, cua, mực, ngọc trai, bào ngư, sò huyết, tuhài… 117 loài san hô thuộc 40 họ, 12 nhóm Vịnh Hạ Long đã hai lần được Unesco
công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, được bình chọn là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới Vùng Di sản được Thế giới công nhận có diện tích
434 km2, bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ(phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông) Với nhiều hangđộng đẹp và huyền ảo như hang Bồ Nâu, Trinh Nữ, Sửng Sốt, Đầu Gỗ, ThiênCung, Tam Cung, Mê Cung đã đưa danh tiếng của vịnh Hạ Long trở thành mộttrong những điểm du lịch nổi tiếng trên toàn thế giới
Tài nguyên nước, tài nguyên mặt nước ở thành phố Hạ Long tập trung tại
các khu vực hồ Yên Lập với tổng dung tích khoảng 107.200.000 m3 (thời điểm đotrong tháng 8-2010), Hồ Khe Cá tại phường Hà Tu… Đây là nguồn cung cấp nước
1 Số liệu tính đến ngày 31-12-2011.
2 Số liệu tính đến ngày 31-12-2011.
8
Trang 9tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp Ngoài ra có các hồ điều hòa tạo cảnh quancho thành phố như hồ Yết Kiêu, Ao Cá-Kênh Đồng…
Thành phố Hạ Long là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh Quảng Ninh
và vùng Đông Bắc Tổ quốc Thành phố có có hệ thống giao thông đường bộ vớichất lượng hạ tầng kỹ thuật tương đối đồng bộ, khá hoàn chỉnh với cả đường bộ lẫnđường thuỷ, như: đường Quốc lộ 18A đi Hải Dương, Hải Phòng Quốc lộ 279
từ Bắc Giang, qua Hoành Bồ, đến Hạ Long Từ Hà Nội, có 3 tuyến đường bộ đi HạLong là: Hà Nội-Bắc Ninh-Hạ Long dài 155 km, Hà Nội-Hải Dương-Hạ Long dài170km và Hà Nội-Hải Dương-Hải Phòng-Hạ Long dài 160km… Trong kế hoạch sẽxây dựng các tuyến đường cao tốc Nội Bài-Hạ Long, Hải Phòng-Hạ Long, MóngCái-Hạ Long
Thành phố Hạ Long còn có tuyến đường sắt Hà Nội-Kép-Hạ Long nối đếncảng Cái Lân, tuyến đường sắt đang được đầu tư nâng cấp để đáp ứng nhu cầu vậnchuyển hàng hóa từ Hà Nội tới Hạ Long và các tỉnh lân cận Hệ thống cảng và bếntàu du lịch nằm trong vịnh Hạ Long sẵn sàng đón nhận các loại tàu nội địa và tàuviễn dương có trọng tải lớn Bên cạnh đó, Hạ Long cũng có một số bãi đỗ cho sânbay trực thăng và thuỷ phi cơ
Vị trí địa lý“đắc địa” cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa
dạng và hệ thống giao thông thuận lợi đã tạo điều kiện thuận lợi để thành phố HạLong sớm trở thành một trong những trung tâm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hộitoàn diện, hiện đại của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cả nước nói chung
II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HẠ LONG
Ở Giáp Khẩu (nay thuộc phường Hà Khánh) đã phát hiện một di chỉ lớnthời trung kỳ đồ đá mới Ở Đồng Mang (phường Giếng Đáy), đảo Tuần Châu, CáiLân (phường Bãi Cháy), Cọc 8 (phường Hồng Hà) và trong nhiều hang động, mái
đá trên vịnh Hạ Long đã phát hiện những di chỉ thời đại đồ đá mới Căn cứ vàonhững di chỉ khảo cổ được phát hiện cho thấy, ngay từ rất sớm ở Hạ Long đã cócon người sinh sống và cùng nhau xây dựng nên các xóm làng Trải qua hàng nghìn
9
Trang 10năm lịch sử, cộng đồng dân cư và tổ chức xã hội ở đây ngày càng phát triển, đểhình thành thành phố Hạ Long như ngày nay
Vùng đất trung tâm của thành phố Hạ Long ngày nay, xưa kia chỉ là mộtlàng chài ven biển, có tên là Bãi Hàu, sau thành làng xã Đến đầu thời Nguyễnđược đổi tên thành xã Mẫu Lệ Về sau hình thành nên các xã Hà Lầm, Lũng Phong,Giang Võng và Trúc Võng Các phường phía Đông và phía Tây của thành phố hiệnnay, trước đó đều thuộc huyện Hoành Bồ
Năm 1883, thực dân Pháp chiếm vùng vịnh Hạ Long, chúng tiến hành khai
thác than ở các mỏ trên bờ vịnh, lập ra phố Hòn Gai, do một quan bang người Việt
cai quản, nhưng mọi thực quyền nằm trong tay viên Đại lý người Pháp Ở Hòn Gai,thực dân Pháp còn chia thành nhiều bang nhỏ như Hà Tu, Hà Lầm, Bãi Cháy…
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Hòn Gai trở thành thị xã, thủ phủ củavùng mỏ Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Đặc khu Hòn Gai làđơn vị hành chính độc lập cấp tỉnh, được đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của Ủyban kháng chiến Hành chính Liên khu I1
Ngày 10-5-1949, huyện Hoành Bồ được tách khỏi tỉnh Quảng Yên để sápnhập vào Đặc khu Hòn Gai Do đó, Đặc khu Hòn Gai có hai huyện Cẩm Phả vàHoành Bồ Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Hòn Gai trở thành thị xã, thủ phủcủa khu Quảng Hồng (Hồng Quảng trên cơ sở sáp nhập tỉnh Quảng Yên và khu
Hồng Gai)
Ngày 30-10-1963, tỉnh Hải Ninh và khu Quảng Hồng hợp nhất thành tỉnhQuảng Ninh, từ đó thị xã Hồng Gai trở thành thủ phủ của tỉnh Quảng Ninh và được
mở rộng địa bàn thị xã về phía Đông và phía Tây
Trước ngày 10-9-1981, thị xã Hòn Gai có 6 thị trấn, 3 xã và 6 tiểu khu2
Ngày 10-9-1981, một số thị trấn và tiểu khu thuộc thị xã Hồng Gai giải thểvà một
số phường được thành lập như: Phường Hà Tu và phường Hà Phong trên cơ sở thịtrấn Hà Tu Phường Hà Lầm, Hà Trung và Hà Khánh từ thị trấn Hà Lầm Phường
1 Theo Nghị định số 142-NV/3 ngày 17-9-1949 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
2 Thị trấn Giếng Đáy, Bãi Cháy, Cao Thắng, Hà Lầm, Hà Tu, Cọc 5; 3 xã: Thành Công, Hùng Thắng, Tuần Châu; 6 tiểu khu: Vựng Đâng, Công Nhân, Phố Mới, Bạch Đằng, Ba Đèo, Hạ Long.
10
Trang 11Hồng Hà, Hồng Hải từ thị trấn Cọc 5 Phường Cao Thắng, Cao Xanh từ thị trấnCao Thắng Phường Giếng Đáy, Hà Khẩu từ thị trấn Giếng Đáy Thành lập phườngBãi Cháy từ thị trấn Bãi Cháy.
Sau khi thành lập các phường mới, thị xã Hồng Gai gồm 16 phường (BạchĐằng, Hạ Long, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Hà Phong, Hà Tu, Hà Trung, Hà Lầm,
Hà Khánh, Hồng Hà, Hồng Hải, Cao Thắng, Cao Xanh, Giếng Đáy, Hà Khẩu, BãiCháy) và ba xã (Thành Công, Hùng Thắng, Tuần Châu) Năm 1992 sáp nhập xãThành Công vào phường Cao Xanh
Ngày 27-12-1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số TTg, đổi thị xã Hồng Gai thành thành phố Hạ Long Thực hiện Nghị định số
102/NĐ-51/2001-NĐ/CP ngày 16-8-2001 của Chính phủ Về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hoành Bồ để mở rộng thành phố Hạ Long và thành lập phường thuộc thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, hai xã Việt Hưng và Đại Yên của huyện Hoành
Bồ được sáp nhập vào thành phố Hạ Long
Ngày 26-9-2003, theo Quyết định số 199/2003/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ, thành phố Hạ Long được công nhận là thành phố đô thị loại II, đãkhẳng định sự phát triển mạnh mẽ của thành phố Hạ Long trong tiến trình pháttriển của lịch sử
Ngày 5-2-2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 07/NQ-CP
Về việc thành lập các phường thuộc thành phố Hạ Long và thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Nghị quyết nêu rõ: Thành lập phường Đại Yên và Việt Hưng trên
cơ sở toàn bộ diện tích, nhân khẩu của xã Đại Yên và Việt Hưng Thành phố HạLong trải dài từ Yên Lập (sát với địa phận huyện thị xã Quảng Yên) tới Đèo Bụt(giáp ranh với thành phố Cẩm Phả) như ngày nay
Sau khi thành lập các phường Đại Yên và Việt Hưng, thành phố Hạ Long
có 20 phường, đó là các phường Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu,
Hồng Hà, Hồng Hải, Cao Thắng, Cao Xanh, Yết Kiêu, Trần Hưng Đạo, BạchĐằng, Hồng Gai, Bãi Cháy, Hà Khẩu, Giếng Đáy, Hùng Thắng, Tuần Châu, ViệtHưng, Đại Yên
11
Trang 12III TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG TRƯỚC NĂM 1930
Hạ Long là nơi có vị trí chiến lược về kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninhcủa tỉnh Quảng Ninh và vùng Đông Bắc Tổ quốc Trong các thời kỳ lịch sử của dântộc, con đường tiến quân xâm lược nước ta bằng đường thủy của các triều đại phongkiến phương Bắc đều đi qua vịnh Hạ Long, ngược sông Bạch Đằng đến Thăng Long.Ngoài ra, Hạ Long còn có các mỏ than với trữ lượng lớn, nên ngay từ rất sớm, nơiđây đã trở thành miếng mồi béo bở đối với các thế lực ngoại xâm Tất cả bọn thựcdân, đế quốc, điển hình là Pháp, Nhật, Mỹ mỗi khi đánh chiếm vùng Đông Bắc ViệtNam đều coi Hạ Long là mục tiêu số một, hàng đầu của chúng1 Do đó, lịch sử HạLong gắn bó hữu cơ với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
Trước sự xâm lược và thống trị của các thế lực ngoại xâm, nhân dân cácdân tộc Hòn Gai đoàn kết một lòng đấu tranh chống giặc ngoại xâm Ngay từ buổiđầu dựng nước và trong suốt thời phong kiến, nhân dân Hòn Gai đã cùng nhân dân
cả nước vùng lên đấu tranh đánh bại nhiều đội quân xâm lược, làm nên thiên anhhùng ca bất diệt trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng),chính thức xâm lược nước ta Sau khi đánh ra Bắc Kỳ lần thứ nhất (1874), trongcác năm 1880-1881, thực dân Pháp đã đưa các đoàn kỹ thuật Pyuystxơ, Xalađanh,Xărăng đến khu mỏ Hòn Gai thăm dò, khảo sát
Đầu tháng 3-1883, thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai Sau khi hạthành Hà Nội, ngày 12-3-1883, thực dân Pháp đưa tàu chiến vào vịnh Hạ Long, tiến sâuvào vũng Cửa Lục, đổ quân lên đóng đồn trên đỉnh đồi Bãi Cháy Mở đầu 72 nămchiếm đóng vùng mỏ, chúng đem 500 quân đánh chiếm Hòn Gai, dựng trại tại BãiCháy
Ngày 24-1-1884, thực dân Pháp ép triều đình nhà Nguyễn làm khế ước bánvùng mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả cho Baviê Sôphua với giá 10 vạn đồng Đông Dương.Ngày 24-4-1888, chúng lập Công ty khai thác than Bắc Kỳ thuộc Pháp (S.F.C.T);
1 Tháng 3-1883, tên đại tá Pháp Henri Rivie đem quân đánh chiếm Hòn Gai, hắn đã thừa nhận: “Ngày 12-3, tôi chiếm vịnh Hạ Long, đây là nơi có phong cảnh đẹp lạ lùng Sự chiếm đoạt phía Tây Hòn Gai (tức Bãi Cháy) cho chúng ta (Pháp) cái chủ quyền trên vùng mỏ và cái chìa khóa để mở cả mặt bể Bắc Kỳ” (dẫn theo Trần Văn Giàu: Giai cấp công nhân Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội 1963, tr 53).
12
Trang 13cùng ngày, toàn quyền Đông Dương ký văn bản chính thức nhường quyền sở hữuvùng mỏ mà Baviêsô Phua đã mua của triều đình nhà Nguyễn, do đó Hòn Gai trở
thành “đất nhượng” thuộc quyền của chủ mỏ, có bộ máy cai trị riêng Vì thế, HònGai tồn tại song song hai bộ máy cai trị, đó là bộ máy cai trị của thực dân chủ mỏ
và bộ máy cai trị của chính quyền thực dân
Hòn Gai là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng,đặc biệt là than, nên là một trong những mục tiêu quan trọng trong chính sách khaithác thuộc địa của thực dân Pháp và bọn chủ mỏ Dựa vào chế độ cai trị hà khắc,bọn chủ mỏ thực dân ra sức vơ vét tài nguyên thiên nhiên và bóc lột sức lao động rẻmạt của nhân dân với quy mô và mức độ ngày càng lớn, nhất là việc đẩy mạnh khaithác than Hàng nghìn nông dân từ đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Thanh - Nghệ -Tĩnh bị bần cùng hóa được mộ ra làm phu mỏ Cùng với Cẩm Phả, Đông Triều,Uông Bí, Hòn Gai trở thành nơi ra đời sớm nhất và tập trung đông đảo nhất giai cấpcông nhân Việt Nam1
Dưới sự thống trị hà khắc, tàn bạo của thực dân Pháp, phong kiến tay sai vàchủ mỏ, nhân dân Hòn Gai, nhất là công nhân mỏ bị bóc lột thậm tệ Họ phải làm10-12 giờ/ngày, nhưng chỉ nhận được đồng lương rẻ mạt, lại luôn bị chủ thầu, cai
mỏ, giám thị đánh đập, cúp phạt tiền lương Công nhân mỏ trở thành những người
“lao động khổ sai”, bị đẩy vào đường cùng không lối thoát với nghèo đói và bệnh
tật Hòn Gai trở thành địa ngục trần gian Mâu thuẫn giữa công nhân mỏ, nhân dânHòn Gai với bọn thực dân chủ mỏ, phong kiến tay sai vô cùng gay gắt Phong tràođấu tranh liên tiếp nổ ra, lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia
Ngay khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam nói chung, Quảng Ninh nóiriêng, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, nhân dân Hòn Gai nêu cao ý chíquật cường, bất khuất, đoàn kết một lòng cùng nhân dân cả nước nổi dậy chốngxâm lược
Từ năm 1885 đến năm 1895, hưởng ứng phong trào Cần Vương, trên vùngbiển Hạ Long, sát khu mỏ, nhân dân Hòn Gai tham gia cuộc khởi nghĩa chống thực
1 Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng ninh: Địa chí Quảng Ninh, tập 1, Nxb Thế giới, Hà Nội 2001, tr 71.
13
Trang 14dân Pháp do Lãnh Pha lãnh đạo, lập căn cứ ở đảo Vạn Hoa Nghĩa quân tiến nhiềulần công vào các cơ sở của thực dân Pháp ở mỏ Kế Bào, Hà Lầm… và giành thắnglợi Trước sự lớn mạnh của nghĩa quân, thực dân Pháp điều binh đoàn thủy quânlục chiến Cờlamoocgăng đến Vịnh Hạ Long để bao vây, càn quét, khủng bố, nhưngkhông tiêu diệt được nghĩa quân.
Đầu thế kỷ XX, phong trào Đông Du và Đông Kinh nghĩa thục do các sĩphu yêu nước nổ ra mạnh mẽ, lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia Ở QuảngNinh, một số nhà nho và thương gia có tinh thần yêu nước chống Pháp đã thành lập
Hội Công thương ái hữu, đặt trụ sở tại Hòn Gai và đã kết nạp được 100 hội viên,gồm những thương gia, công chức lớp dưới, học sinh, công nhân mỏ Hoạt độngchính của Hội là cổ động cho hàng nội hóa, tổ chức thanh niên học tập, quyên tiềnủng hộ phong trào Đông Du Từ khi Hội Công thương ái hữu thành lập, những bàivăn, bài thơ cổ động lòng yêu nước và chí căm thù giặc như bài “Hải ngoại huyếtthư” của Phan Bội Châu được truyền bá rộng rãi trong công nhân và nhân dân HònGai
Ngay từ khi mới ra đời, công nhân mỏ Hòn Gai đã sớm được giác ngộ cáchmạng, nên vùng lên đấu tranh quyết liệt chống thực dân Pháp và tay sai Năm 1906,công nhân mỏ Hà Tu đình công vì bọn cai mỏ cắt xén tiền ăn đường của họ Chủ
mỏ đối phó bằng cách không bán lương thực cho những người đấu tranh, đẩy họvào cảnh đói khát buộc phải đi làm Được sự giúp đỡ của những người thợ cũ ở Hà
Tu, cuộc đấu tranh giành được thắng lợi
Năm 1909, công nhân mỏ Hà Tu-Cẩm Phả đấu tranh phản đối chủ mỏ trảtiền công thấp, nhưng không được chấp nhận Công nhân căm phẫn đốt chòi, chặtmai cuốc, rồi rủ nhau bỏ về
Năm 1916, khoảng 10 công nhân đề pô xe lửa Hà Tu chặn đánh lính khốxanh, vì chúng trắng trợn cướp giật hàng hóa, trêu ghẹo, hãm hiếp phụ nữ Năm
1918, công nhân Hà Tu đấu tranh đòi chủ mỏ thả một công nhân bị bắt vô cớ; 700công nhân Lán Phục, Lán Nghệ (Hà Tu) phối hợp cùng công nhân xe lửa kéo đếnđốt nhà tên Bang Sâm, vì tên này thường hống hách, dọa nạt, áp bức công nhân
14
Trang 15Năm 1919, một số nữ công nhân nhà sàng Hòn Gai nghỉ việc một ngày để phản đốitên đốc công Valuy và cai nhà máy thường trêu ghẹo, làm nhục họ.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân và phong trào yêu
nước, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đặc biệt chú ý đến việc phát huy ảnhhưởng và gây dựng cơ sở ở Hòn Gai Các hội viên Hội Việt Nam cách mạng thanhniên đẩy mạnh tuyên truyền, giác ngộ công nhân mỏ và coi đó là nhiệm vụ trọngtâm Hình thức tuyên truyền linh hoạt, sáng tạo, phù hợp hoàn cảnh lịch sử như tổchức những cuộc gặp gỡ trong xưởng máy, tầng lò lúc làm việc hay tổ chức họp kín
để tuyên truyền, giác ngộ cách mạng Các hội viên Hội Việt Nam cách mạng thanh
niên đã nhanh chóng “bắt rễ” được vào những công nhân bị bóc lột dã man, có tinhthần đấu tranh cách mạng cao để tuyên truyền, giáo dục và gây dựng cơ sở cáchmạng
Từ năm 1928, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên thực hiện phong trào
“vô sản hóa” Một loạt cán bộ của Hội được Kỳ bộ Bắc Kỳ cử đi vô sản hóa và
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước
ở Hòn Gai, Hà Tu, Hà Lầm, Cọc 5, Cẩm Phả, Cửa Ông, Mạo Khê, Vàng Danh,Uông Bí…, trong đó có các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Xứng (tức LêThanh Nghị), Đặng Châu Tuệ, Vũ Thị Mai, Nguyễn Văn Lịch (tức Mẫn), Vũ VănHiếu, Trần Văn Nghệ
Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, các hội viên Hội Việt Namcách mạng thanh niên đã giác ngộ được nhiều công nhân và dẫn dắt họ vào conđường đấu tranh cách mạng Trên cơ sở đó, nhiều Chi bộ Hội Việt Nam cách mạngthanh niên lần lượt được thành lập
Đầu năm 1929, Chi bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Hòn Gaiđược thành lập Phong trào yêu nước và phong trào công nhân mỏ Hòn Gai ngàycàng phát triển, nhất là từ khi đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Ủy viên Trung ươngĐông Dương Cộng sản Đảng cử đồng chí Đỗ Huy Liêm ra khu mỏ Hòn Gai-CẩmPhả xây dựng tổ chức Đảng (cuối tháng 7-1929) Đồng chí Đỗ Huy Liêm đã triệutập Hội nghị cán bộ, hội viên thanh niên ở Cẩm Phả, Cửa Ông để truyền đạt chủ
15
Trang 16trương của Đông Dương Cộng sản Đảng, giải tán các Chi bộ Hội Việt Nam cáchmạng thanh niên, để thành lập các Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng.
Thực hiện chủ trương của cấp trên, tháng 9-1929, đồng chí Phạm Văn Cát(tức Cao) từ Cao Bằng về vô sản hóa ở Cái Đá, đã thực hiện nhiệm vụ giải thể cácChi bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và thành lập Chi bộ Đông DươngCộng sản Đảng đầu tiên ở Hòn Gai, gồm các đồng chí Phạm Văn Cát (tức Cao), ĐỗVăn Hợp (tức xếp Hiên), Nguyễn Thành (tức Tuất), do đồng chí Phạm Văn Cát làm
Bí thư Trụ sở liên lạc của Chi bộ được đặt tại nhà số 3, phố Paris (nay là nhà số 11,phố Cây Tháp, phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long)
Ngay sau khi thành lập, Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Hòn Gai đã
lãnh đạo công nhân mỏ Hòn Gai phối hợp với các Chi bộ Đông Dương Cộng sảnĐảng mỏ Cửa Ông, Cẩm Phả, Uông Bí, Vàng Danh… tổ chức rải truyền đơn, treo
cờ, dán áp phích kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917 - 7/11/1929)
Để thúc đẩy phong trào các mạng ở khu mỏ Hòn Gai phát triển hơn, tháng2-1930, Trung ương Đông Dương Cộng sản Đảng tiếp tục cử nhiều cán bộ về HònGai hoạt động, trong đó có đồng chí Nguyễn Thị Lưu (tức Nguyễn Thị Nhâm, tứcPhan Thị Khương, Cả Khương)
Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Cộng sản, phong trào yêu nước và phongtrào công nhân ở Hòn Gai ngày càng lớn mạnh, đã thúc đẩy sự ra đời của nhiều chi
bộ Cộng sản Cuối năm 1929, đầu năm 1930, các Chi bộ Đảng ở Hà Tu, Cọc 5 lầnlượt được thành lập Nhiệm vụ đặt ra của cách mạng Hòn Gai lúc này là phải thànhlập được Chi bộ Cộng sản thống nhất và duy nhất để lãnh đạo cách mạng tiến tớithắng lợi hoàn toàn
16
Trang 17Chương I
17
Trang 18ĐẢNG ỦY MỎ HÒN GAI THÀNH LẬP, LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930-1945)
I CHI BỘ ĐẢNG, ĐẢNG BỘ MỎ HÒN GAI THÀNH LẬP
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03-2-1930) đánh dấu bước ngoặt vĩ đại
của cách mạng Việt Nam “chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành
và đủ sức lãnh đạo cách mạng” 1 Đảng thành lập là biểu hiện sự xác lập vai trò
lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng nước ta, mở ra một thời đạimới-thời đại giai cấp công nhân đứng ở trung tâm kết hợp các trào lưu cách mạng
và quyết định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam
Cuối tháng 2-1930, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Hòn Gai thành lập,gồm các đồng chí Nguyễn Khắc Khang (tức Lê Quốc Trọng), Vũ Văn Hiếu, TrầnVăn Nghệ (tức Nguyễn Viết Lục), Nguyễn Văn Xứng (tức Lê Thanh Nghị), dođồng chí Nguyễn Khắc Khang làm Bí thư Chi bộ Đảng lập ra các tổ chức kinh tế,giao thông, ấn loát… để làm công tác chuyên môn của Đảng
Chi bộ Đảng ở Hòn Gai thành lập là một bước ngoặt lịch sử quan trọng,thúc đẩy phong trào cách mạng ngày càng phát triển Trong các xí nghiệp lớn vàhầu hết các cơ sở sản xuất quan trọng như bến cảng, nhà máy điện Cọc 5, mỏ Hà
Tu, Hà Lầm, Cái Đá… đều có đảng viên hoạt động
Trước sự phát triển của phong trào cách mạng, để kịp thời chỉ đạo được sâusát, Chi bộ Hòn Gai tách ra và phát triển thành nhiều chi bộ, đó là Chi bộ mỏ Hà
Tu, Chi bộ Nhà máy điện Cọc 5, Chi bộ mỏ Cái Đá, Chi bộ nhà máy cơ khí HònGai Nhờ đó, phong trào đấu tranh của công nhân mỏ và quần chúng nhân dân HònGai ngày càng có bước tiến rõ rệt
Do sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức Đảng, tháng 3-1930, Ban cán sự
mỏ Hòn Gai được thành lập, gồm các đồng chí Nguyễn Khắc Khang, Vũ Văn Hiếu,
Trần Văn Nghệ, do đồng chí Nguyễn Khắc Khang làm Bí thư Tính đến tháng
4-1930, các tổ chức cơ sở Đảng và tổ chức quần chúng được tổ chức rộng khắp khu
mỏ Yêu cầu lịch sử đặt ra lúc này là phải có sự lãnh đạo tập trung thống nhất đểđưa phong trào cách mạng tiến lên
1 Hồ Chí Minh: Ba mươi năm hoạt động của Đảng, tuyển tập, tập II, Nxb Sự thật, Hà Nội ,1980, tr 52.
18
Trang 19Trước tình hình đó, tháng 4-1930, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định thành lập
“Đảng ủy mỏ Hòn Gai-Cẩm Phả”, gồm các đồng chí Vũ Văn Hiếu, Trần Văn
Nghệ, Nguyễn Công Hòa, do đồng chí Vũ Văn Hiếu làm Bí thư
Đến tháng 9-1930, để đáp ứng với tình hình mới, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết địnhtách Đảng ủy Hòn Gai-Cẩm Phả thành Đảng ủy mỏ Hòn Gai và Đảng ủy mỏ CẩmPhả-Cửa Ông Đồng chí Trần Văn Nghệ được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy mỏ HònGai, trụ sở đặt tại Ba Đèo
Sự thành lập Đảng ủy mỏ Hòn Gai và các tổ chức quần chúng chứng tỏ sựlớn mạnh nhanh chóng của phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạonền tảng, tiền đề quan trọng cho thắng lợi của cách mạng trong những giai đoạn sau
và góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng cả nước
Ngay sau khi được thành lập, Đảng ủy mỏ Hòn Gai đẩy mạnh công táctuyên truyền chủ trương của Đảng ủy, vạch trần tội ác của bọn thực dân chủ mỏ,đồng thời vận động công nhân đấu tranh từ hình thức thấp đến hình thức cao, từ qui
mô nhỏ đến quy mô lớn với khẩu hiệu đấu tranh phù hợp
Đảng ủy mỏ Hòn Gai quan tâm tới việc xây dựng, phát triển cơ sở Đảng,
cơ sở quần chúng, nhất là ở những vùng kinh tế quan trọng của địch Dưới sự lãnhđạo trực tiếp của Đảng ủy mỏ Hòn Gai, những đảng viên Cộng sản đã lăn lộn trongphong trào, xây dựng và phát triển các tổ chức quần chúng, lấy việc hoạt độngtrong quần chúng làm việc chính và nhân sự tranh đấu mà tổ chức cho thêm đông1
Với nhiệm vụ “Đảng phải làm cho Công hội nhiều và rộng ra”2, Đảng ủy mỏ HònGai phân công đảng viên vận động quần chúng theo từng khối (như khối thợ thủcông, khối viên chức, khối tiểu thương, khối trường học…) dưới hình thức các lớphọc văn hóa, các hội ái hữu, hội phụ nữ, hội tương tế, hội hiếu hỉ, hội đá bóng.Những người tích cực nhất trong các hội được kết nạp vào Công hội đỏ, làm nòngcốt cho phong trào đấu tranh của quần chúng
1, 2 Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Văn kiện Đảng 1930-1945, tập I, Hà Nội, 1977, tr 88-89.
2
19
Trang 21Cuối năm 1930, tổ chức Công hội đỏ ở Hòn Gai được thành lập Với chủtrương đúng đắn của Đảng ủy và tinh thần chịu đựng gian khổ, cố gắng của đảngviên, các tổ chức Đảng và quần chúng phát triển khá mạnh Tháng 10-1930, HònGai mới chỉ có 15 đảng viên, 8 hội viên Công hội đỏ, thì đến tháng 12-1930, đãphát triển lên 24 đảng viên, 17 hội viên Công hội đỏ.
Sự ra đời của Chi bộ Đảng Hòn Gai, rồi phát triển thành Đảng ủy mỏ HònGai và sự hình thành các cơ sở quần chúng khẳng định sự trưởng thành nhanhchóng, vượt bậc của cách mạng, tạo nền tảng, tiền đề quan trọng để cán bộ, đảngviên và nhân dân Hòn Gai đạt được những thắng lợi to lớn trong những giai đoạnsau
II HÒN GAI TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1930-1931 VÀ CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN SINH, DÂN CHỦ 1936-1939
Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, một làn sóng cách mạngtrong cả nước đã dâng lên, lôi cuốn hàng triệu người tham gia, làm nên phong tràocách mạng những năm 1930-1931 với đỉnh cao là Xô Viết-Nghệ Tĩnh
Hòa trong không khí đấu tranh mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, dưới sựlãnh đạo của Đảng ủy mỏ Hòn Gai và các tổ chức cơ sở Đảng, toàn khu mỏ bướcvào thời kỳ đấu tranh mới, dưới nhiều hình thức và phương pháp phong phú Hàngloạt cuộc đấu tranh liên tiếp nổ ra, mở đầu là các cuộc đấu tranh của giai cấp côngnhân với chủ mỏ
Tháng 4-1930, công nhân nhà máy luyện than Hòn Gai, công nhân mỏ Cái
Đá, Nhà sàng đình công đòi tăng lương, chống đánh đập, cúp phạt vô lý, đòi trảlương giờ làm thêm… Hưởng ứng phong trào đấu tranh của công nhân, chị em tiểuthương chợ Hòn Gai, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Thị Lưu, đãbãi thị đòi chính quyền thực dân giảm thuế môn bài
Đặc biệt, trong khí thế cách mạng sôi sục, Đảng Cộng sản Việt Nam chủtrương phát động một đợt đấu tranh rộng lớn trong cả nước nhân ngày Quốc tế Lao
động 1-5-1930 Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Đảng ủy mỏ Hòn Gai mở mộtđợt tuyên truyền đấu tranh rộng lớn như treo cờ trên núi Bài Thơ, rải truyền đơn,
21
Trang 22dán áp phích để tuyên truyền về Đảng, chào mừng ngày hội của lao động thế giới,
cổ vũ tinh thần hăng hái đấu tranh của công nhân
Đảng ủy mỏ Hòn Gai phân công đồng chí Nguyễn Thị Lưu chịu tráchnhiệm đi Hải Phòng chuyển tài liệu và mua vải về may cờ; đồng chí Trần VănNghệ (tức Nguyễn Viết Lục) trực tiếp chỉ huy một số anh em cắt điện khu vực nộithị; đồng chí Đào Văn Tuất (tức Nguyễn Thành) được giao nhiệm vụ cắm cờ trênnúi Bài Thơ 8 giờ tối ngày 30-4-1930, tại cầu Kênh Liêm, đồng chí Trần VănNghệ cùng một số đồng chí thực hiện nhiệm vụ cắt điện trong nội thị Hòn Gai, tạođiều kiện cho lực lượng của ta ở các nơi hành động, đặc biệt là việc treo cờ trên núiBài Thơ
Lợi dụng lúc cả thị xã mất điện, ngay trong đêm 30-4-1930, đồng chí ĐàoVăn Tuất bí mật cắm cờ Đảng trên núi Bài Thơ Sự kiện làm chấn động Hòn Gai,
cổ vũ tinh thần đấu tranh của công nhân và nhân dân toàn khu mỏ Cũng trong đêm30-4-1930, cán bộ, đảng viên ở Hòn Gai lãnh đạo quần chúng nhân dân rải truyềnđơn, treo băng, biển, khẩu hiệu ở khắp nơi kêu gọi đấu tranh
Việc lá cờ Đảng được cắm ngay thị xã Hòn Gai-trung tâm kinh tế, chính trịcủa cả khu mỏ, nơi được chúng bảo vệ cẩn mật, đã làm cho bọn chủ mỏ và chínhquyền thực dân ở đây vô cùng tức tối, hoảng sợ Chúng phải huy động lực lượngcảnh sát, mật thám để lùng sục hòng uy hiếp tinh thần đấu tranh của quần chúng.Nhưng công nhân mỏ và quần chúng lao động vẫn một lòng tin vào cách mạng, tinvào sự dẫn dắt của Đảng, đấu tranh giành quyền sống, quyền tự do
Ở Hà Tu, khẩu hiệu, băng đỏ được treo ngay lối công nhân đi làm về ở mỏSạc Lồ Truyền đơn được rải dọc đường từ tầng than đến phố, trong nhà máy và cả
ở quanh đồn lính khố xanh
Tại Hà Lầm, áp phích vẽ hình búa liềm được dán khắp nơi công cộng,truyền đơn được rải ở những nơi đông người qua lại, công nhân đi làm về, nhặtđược truyền tay nhau đọc Khí thế cách mạng ngày càng cao
22
Trang 23Một số đảng viên và hội viên Công hội đỏ ở Hòn Gai còn dùng thuốc nổphá hoại một đoạn đường sắt chạy từ Hà Tu ra bến than, làm đổ toa than, gây đượctiếng vang lớn trong khu mỏ.
Sự kiện ngày Quốc tế Lao động 1-5-1930 khích lệ tinh thần đấu tranh củacán bộ, đảng viên và quần chúng nhân nhân Hòn Gai; là một bước ngoặt đối vớiphong trào cách mạng năm 1930 và năm 1931 ở khu mỏ Nó chứng minh rằng, khiĐảng ra đời, người công nhân mỏ được tập hợp dưới lá cờ của Đảng đã tiến lên đấutranh có tổ chức và liên tiếp giành được nhiều thắng lợi
Kết hợp chặt chẽ với phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân laođộng cả nước, Đảng ủy mỏ Hòn Gai tiếp tục vận động công nhân và nhân dân ủng
hộ cuộc đấu tranh của công nhân Vinh-Bến Thủy và nông dân 18 làng xã thuộchuyện Tiên Hưng, Tiền Hải tỉnh Thái Bình (10-5-1930) Truyền đơn được rải ởnhiều nơi trong thị xã Hòn Gai, Hà Tu, Hà Lầm… Nội dung truyền đơn kêu gọi:
“… Các đồng chí bị áp bức! Hãy đứng dậy đấu tranh Các đồng chí không được quên rằng, bọn thực dân Pháp dã man, chính bọn chúng đã áp bức và sát hại dân nghèo Các đồng chí hãy luôn nhớ rằng, ngày 1-5 là ngày mà thực dân Pháp đã sát hại dã man thợ thuyền và nông dân Các đồng chí hãy noi gương các đồng chí Bến Thủy và Thái Bình để đấu tranh đòi giảm thuế, phải có cơm ăn và phản đối sự tăng cường bóc lột Sự tàn sát thợ thuyền và nông dân sẽ làm sụp đổ bọn thực dân Pháp
dã man, tàn bạo” 1
Công nhân Hòn Gai không chỉ đấu tranh vì quyền lợi của giai cấp mình, màcòn phối hợp chặt chẽ với phong trào đấu tranh vì lợi ích chung của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động trong cả nước Những cuộc đấu tranh mang sắc tháichính trị rõ rệt, không chỉ giành quyền lợi thiết thực trước mắt mà còn mang tínhchất giai cấp sâu sắc
Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của công nhân mỏ Hòn Gai, chínhquyền thực dân và bọn chủ mỏ vô cùng hoảng sợ Chúng tăng cường khủng bố, đàn
áp dữ dội hòng nhanh chóng dập tắt ngọn lửa cách mạng Mật thám chia nhau
1 Dẫn theo Công văn mật số 63-14/S ngày 15-5-1930 của Chánh mật thám Bắc Kỳ, tài liệu lưu trữ tại Phòng Lịch sử
Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Ninh.
23
Trang 24khám xét các ngả đường vào khu mỏ, lùng bắt những người mà chúng khả nghi.Nhiều đồng chí bị bắt, bị tra tấn dã man nhưng vẫn kiên quyết không chịu cungkhai Nhờ đó, phong trào đấu tranh của công nhân được duy trì và phát triển.
Tháng 10-1930, hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng, Khu mỏ,
công nhân và nhân dân lao động Hòn Gai dấy lên phong trào ủng hộ Nghệ Tĩnh đỏ,
để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của công nhân Nghệ-Tĩnh đang bị thực dânPháp đàn áp dã man Truyền đơn kêu gọi công nhân đấu tranh được rải ở nhiều nơitrong thị xã và các xưởng máy, trên tầng than nơi đông người qua lại
Hưởng ứng đợt đấu tranh kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga do Đặc khu
ủy phát động, từ ngày 4-11-1930, Đảng ủy mỏ Hòn Gai và các Chi bộ Đảng lãnhđạo công nhân và nhân dân biểu tình kỷ niệm ngày Cách mạng Tháng Mười Nga.Trong ngày kỷ niệm, pháo nổ ngay cửa ra vào nhà máy cơ khí Hòn Gai Công nhâncắt điện ở thị xã làm ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của bọn chủ mỏ
Sau đợt kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào đấu tranh củacông nhân Hòn Gai tiếp tục phát triển Ngày 18-1-1931, truyền đơn được rải ở khắpnơi trong thị xã, lên án bọn chủ mỏ coi rẻ mạng sống của công nhân
Cùng với phong trào đấu tranh toàn khu mỏ, phong trào cách mạng
1930-1931 ở Hòn Gai là một đòn giáng mạnh mẽ vào thực dân Pháp và tay sai; chứng tỏsức mạnh của đội ngũ công nhân mỏ và quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạocủa Đảng, đồng thời cổ vũ, động viên và góp phần to lớn vào thắng lợi chung củaphong trào cách mạng ở toàn khu mỏ, cũng như trong cả nước Trong tất cả cáccuộc đấu tranh, đội ngũ công nhân mỏ luôn đi đầu và đứng ở mũi nhọn của cuộcđấu tranh Đây là một trong những cơ sở thực tiễn giúp đồng chí Trần Phú dự thảoLuận cương chính trị (10-1930) của Đảng1
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân, thực dân Pháp vàbọn chủ mỏ điên cuồng khủng bố, đàn áp hòng dìm phong trào cách mạng trongbiển máu
1 Trước khi dự hảo Luận cương Chính trị (10-1930) của Đảng, đồng chí Trần Phú đã đến khảo sát phong trào công nhân ở Hồng Gai,Nam Định và phong trào nông dân Thái Bình
24
Trang 25Do sơ hở về công tác tổ chức và cán bộ, nên tên Bùi Huy Toại (tức Vương,tức Văn) đã chui vào Đảng, phản bội cách mạng, báo tin cho mật thám Pháp đếnvây bắt hầu hết các đồng chí trong Đặc khu ủy và Đảng ủy mỏ Hòn Gai Đồng chí
Vũ Văn Hiếu-Bí thư Đảng bộ đầu tiên của Đặc khu mỏ và một số đồng chí khác bịbắt ngay tại cơ quan Đảng ủy Cẩm Phả-Cửa Ông Đây là tổn thất lớn nhất củaĐảng ủy mỏ Hòn Gai và Đặc khu ủy Tính đến tháng 4-1931, sau đợt khủng bố củađịch, ở Hòn Gai chỉ còn 8 đảng viên và 10 hội viên Công hội đỏ (so với tháng 12-
1930 là 24 đảng viên và 17 hội viên Công hội đỏ)
Các đồng chí bị địch bắt, giam cầm trong nhà tù đế quốc Kẻ địch dùng mọicực hình tra tấn dã man, tìm mọi cách dụ dỗ nhằm mua chuộc hòng phát hiện cơ sởĐảng, nhưng các đồng chí vẫn một lòng kiên trung với Đảng, với cách mạng, tiêubiểu là các đồng chí Vũ Văn Hiếu-Bí thư Đảng bộ đầu tiên của Đặc khu mỏ, TrầnVăn Nghệ (tức Nguyễn Viết Lục)-Bí thư Đảng ủy mỏ Hòn Gai, Nguyễn Thị Lưu-cán bộ của Đảng ủy mỏ Hòn Gai… Trong thời gian bị bắt, giam giữ, bị tra tấn dãman, tàn bạo nhưng các đồng chí không một lời khai báo để bảo vệ bí mật củaĐảng, dũng cảm lên án tội ác của giặc và tìm mọi cách tuyên truyền, giác ngộ,động viên đồng chí, quần chúng tiếp tục đấu tranh Trong nhà tù thực dân, trước khimất, đồng chí Vũ Văn Hiếu đưa chiếc áo của mình cho đồng chí Lê Duẩn và nói:
“Tôi sắp chết rồi, tôi nghĩ mãi mà không biết làm cái gì để phục vụ Đảng đến phút cuối cùng Tôi có chết trần truồng cũng không sao Áo đây, đồng chí mặc lấy để sống và làm việc cho Đảng” Đồng chí Trần Văn Nghệ lấy máu của mình viết lên
tường xà lim, kêu gọi anh em đấu tranh và luôn tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự tấtthắng của cách mạng
Tinh thần bất khuất của các chiến sỹ cộng sản thể hiện cả ở tòa án đế quốc;ngày 26-1-1931, thực dân Pháp mở phiên tòa đặc biệt (Hội đồng đề hình) tại Kiến
An, xử 72 chiến sỹ cộng sản Với khí phách hiên ngang, kiên cường, bất khuất,cùng với các chiến sỹ cách mạng trong cả nước, các đồng chí hoạt động ở Hòn Gaibiến phiên tòa thành nơi kết tội kẻ thù, tuyên truyền cho lý tưởng cộng sản cao đẹp.Các đồng chí Ngô Kim Tài, Nguyễn Huy Sán hoạt động cách mạng ở Hồng Gai từ
25
Trang 26năm 1929 đến 1930, trước tòa án đế quốc cũng khảng khái nói: Tôi vào Đảng để đấu tranh cho hạnh phúc của nhân dân Tôi là công nhân, tôi theo Đảng để bênh vực quyền lợi cho vô sản 1
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đánh giá cao tinh thần cách mạng của các chiến
sỹ cộng sản hoạt động ở khu mỏ: “Khủng bố trắng không thể làm giảm sút tinh thần cách mạng của các chiến sỹ Những câu trả lời của anh chị em trước tòa án
đã chứng tỏ điều đó, mặc dù những người này không được nói nhiều” 2
Cùng với việc vây bắt các đảng viên, quần chúng cách mạng, thực dânPháp và tay sai còn ra sức lục soát và lấy đi nhiều tài liệu, vũ khí, phương tiện in
ấn, truyền đơn của Đảng ủy mỏ HònGai3
Cuối tháng 3-1931, trong lúc phong trào cách mạng cả nước đang bị thựcdân Pháp khủng bố trắng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Sài Gòn, do
Tổng Bí thư Trần Phú chủ trì Hội nghị đề ra nhiệm vụ cấp thiết trước mắt là “đi sâu vào các tổ chức cơ sở của Đảng và các đoàn thể cách mạng trong công nhân”.
Trong những năm 1932-1935, thực dân Pháp và tay sai điên cuồng khủng
bố, đàn áp dã man phong trào cách mạng, nhiều cơ quan lãnh đạo của Đảng bị phá
vỡ, hàng vạn cán bộ, đảng viên, quần chúng bị bắt hoặc bị tù đày, phong trào cáchmạng tạm thời lắng xuống nhưng quần chúng nhân dân vẫn hướng về Đảng, đấutranh dưới hình thức phá hoại sản xuất, gây thiệt hại cho chủ mỏ
Năm 1932-1933, công nhân các mỏ Hà Tu, Hà Lầm… thường trộn đất đálàm cho chất lượng than bị giảm Thợ mỏ Hà Lầm còn bí mật cưa đứt dây gầu, pháhỏng một cần trục…, gây đình trệ sản xuất trong mấy ngày liền Tuy nhiên, cáccuộc đấu tranh thời kỳ này vẫn còn lẻ tẻ, thiếu tổ chức chặt chẽ do không có sựlãnh đạo trực tiếp của các cơ sở Đảng
1, 2 Dẫn theo Báo cáo ngày 19-12-1931 của đồng chí Nguyễn Ái Quốc gửi Đông phương Bộ.
3 Trong bản kiểm kê những đồ vật, tài liệu tìm thấy ở số nhà 32, lán Bản xứ (phố Mới) có: Một bàn đá in; một quyển
sách nhan đề “Máy in bằng trục lăn”; hai súng lục, 1 dao găm; một quyển sách in thạch nhan đề “Thuyết duy vật sử quan”; Một quyển Kinh tế học tiền sử; một quyển in thạch bản “Kỷ niệm Xô Nga lần thứ 1”; 160 tờ có 4 trang in bằng thạch bản nhan đề “Thư của Trung ương gửi cho các cấp ủy Đảng bộ”; 144 truyền đơn in thành bản chưa gấp
và truyền tin tên Đảng Việt Nam cộng sản Đảng từ đây có đổi tên là Đông Dương cộng sản Đảng; một tờ truyền đơn
chưa gấp đã rải ở Hồng Gai, ngày 18-1-1931; hai số nhật báo “Người lao khổ” đề ngày 3-10-1930; ba bản của tờ thông tin “Thông báo của Ban lâm thời cấp ủy Uông Bí”; Bản viết bằng tay mực xanh một tờ thông tin đề là “Tuyên truyền đại hưởng kỷ niệm Quảng Châu vận động lần thứ 3” gửi ngày 11-12-1930.
26
Trang 27Để khắc phục tình trạng trên, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc củaĐảng lần thứ I (3-1935) nhấn mạnh đến việc phát triển cơ sở Đảng ở các trung tâmcông nghiệp, các đồn điền, hầm mỏ tập trung đông công nhân, trong đó có khu mỏHòn Gai.
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội, giữa năm 1935, đồng chí Hoàng ĐìnhGiong, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được Trung ương cử về khu mỏHòn Gai, Cẩm Phả để củng cố, xây dựng lại phong trào Đồng chí chắp nối liên lạcvới những đảng viên ở vùng nông thôn Nam Định bị địch khủng bố chuyển ra khu
mỏ làm phu để hoạt động; tuyên truyền, vận động công nhân, lập hội ái hữu để tậphợp quần chúng Những hoạt động của đồng chí Hoàng Đình Giong góp phần phụchồi phong trào công nhân khu mỏ trong những năm có nhiều khó khăn
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Đảng ủy Hòn Gai,nhiều cán bộ, đảng viên ở nơi khác bị địch khủng bố đã tìm cách vào khu mỏ hoạtđộng, như đồng chí Hàm (Giáo Hàn) hoạt động ở Cái Đá, đồng chí Long hoạt động
ở mỏ Sạc Lồ, đồng chí Nguyễn Trọng Tám hoạt động ở mỏ Công Kêu… Nhữngcán bộ, đảng viên đã kiên trì bám trụ, chịu đựng mọi gian khổ, không sợ hy sinh,bắt rễ sâu trong phong trào quần chúng, xây dựng và củng cố cơ sở, đưa phong tràotiến lên với nhiều hình thức hoạt động phong phú, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả.Cuối năm 1935, nhiều cơ sở Đảng ở Hòn Gai được phục hồi, phong trào cách mạngbước sang một thời kỳ đấu tranh mới
27
Trang 28Đồng chí Hoàng Đình Giong - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
năm 1935 đã về khu mỏ Hồng Gai-Cẩm Phả để phục hồi và xây dựng phong trào công nhân
28
Trang 29Tháng 7-1935, Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản họp, chỉ đạo kịpthời, sắc bén phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dânlao động trên toàn thế giới Đại hội giúp Đảng ta xác định phương hướng và mụctiêu đấu tranh cụ thể của cách mạng phù hợp với tình hình mới Tháng 5-1936, Mặttrận nhân dân Pháp chống phát xít được thành lập, đã thi hành các chính sách tiến
bộ như đòi thả hết tù chính trị, giải tán và tước vũ khí của phát xít, thực hiện tuầnlàm việc 40 giờ, tăng trợ cấp cho người thất nghiệp Những sự kiện đó có tác độngsâu sắc đến cách mạng Việt Nam nói chung, Hòn Gai nói riêng
Trước sự thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, tháng 7-1936, BanChấp hành Trung ương Đảng họp ở Thượng Hải, do đồng chí Lê Hồng Phong chủtrì Trên cơ sở phân tích tình hình, Hội nghị xác định nhiệm vụ trước mắt của cáchmạng là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh,đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình; quyết định thành lập Mặt trận thống nhấtnhân dân phản đế Đông Dương, chuyển hình thức đấu tranh từ bí mật, không hợppháp sang hợp pháp và nửa hợp pháp nhằm tập hợp đông đảo quần chúng đấu tranh
Thực hiện chủ trương trên, phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ pháttriển mạnh mẽ, sôi nổi trong cả nước dưới nhiều hình thức phong phú như mít tinh,hội thảo, đưa yêu cầu dân sinh, dân chủ tới phái đoàn điều tra Pháp, đòi giải quyếtnhững yêu sách hợp lý Cuộc vận động dân chủ Đông Dương làm dấy lên phongtrào đấu tranh mạnh mẽ ở khắp các thành phố lớn, các khu công nhân, đồn điền,hầm mỏ… Khí thế của các cuộc đấu tranh lan tỏa khắp nơi, cổ vũ công nhân, nôngdân vùng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột
Ở Hòn Gai, do ảnh hưởng to lớn của phong trào cách mạng khu mỏ và cảnước, cán bộ, đảng viên, công nhân và quần chúng cách mạng vùng lên với khí thếsôi sục, tấn công vào trung tâm kinh tế-chính trị của thực dân Pháp ở khu mỏ
Ngày 23-11-1936, công nhân nhà máy cơ khí Hòn Gai bãi công đòi tănglương, đòi chủ phải sửa chữa nhà ở hư hỏng, dột nát; đòi lập nhà thương, phòngphát thuốc cho thợ và vợ con thợ được điều trị không mất tiền… Bọn chủ ngoan cố,không chịu chấp nhận yêu sách trên, lập tức toàn bộ công nhân nhà máy đình công
29
Trang 30Tin công nhân nhà máy chính thức nghỉ việc, đòi tăng lương nhanh chónglan đi khắp các cơ sở sản xuất ở Hòn Gai Toàn bộ công nhân Nhà sàng, Thanluyện, Bến cảng nghỉ việc và nhập vào đoàn người đấu tranh.
Ở nhà máy điện Cọc 5, bọn chủ điều lính đến canh cổng và xung quanh nhàmáy, không cho công nhân ra ngoài hòng ngăn chặn họ đấu tranh Đoàn đại biểucông nhân Hòn Gai vào đến cổng nhà máy điện nhưng bị lính gác cản lại Bất chấpthái độ hung hăng của chúng, đoàn người vẫn tiếp tục tiến vào nhà máy Công nhânnhà máy điện nhất loạt nghỉ việc hưởng ứng đấu tranh
Cùng với phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy cơ khí Hòn Gai,công nhân các mỏ Hà Tu, Hà Lầm cũng bãi công Toàn bộ hệ thống sản xuất thancủa khu vực Hòn Gai bị ngừng trệ
Ngày 25-11-1936, phong trào bãi công như một vết dầu loang lan rộng tớiCửa Ông, Kế Bào, Cái Đá, Đồng Đăng…, tạo thành một cuộc tổng bãi công toànkhu mỏ, thu hút toàn bộ công nhân thuộc Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ tham gia
Để đối phó với cuộc đấu tranh của công nhân, bọn chủ mỏ vội vã cầu cứuchính quyền thực dân điều hàng trăm lính thợ về lò giếng Hà Tu, trung tâm khaithác than của khu vực Hòn Gai Ngày 24-11-1936, nhiều tên thực dân đầu sỏ cáogià từ Hà Nội, Quảng Yên được điều về Hòn Gai như: Thống sứ Bắc Kỳ Tôlăngxơ,Thanh tra chính trị Bắc Kỳ Đenxanlơ, Thanh tra mật thám Bắc Kỳ Cútxô, Trung tá
tư lệnh lê dương Rôlêlan, Công sứ Quảng Yên Mátximi, Tuần phủ Quảng YênNguyễn Văn Đào và Bố chánh Hải Dương Cung Đình Vận; thực dân Pháp còn điềuhàng trăm lính lê dương, lính khố xanh, cảnh binh, mật thám từ Hải Phòng, Kiến
An, Quảng Yên về Hòn Gai hỗ trợ cho chủ mỏ đàn áp bãi công Thị xã Hòn Gai lúc này như một khu vực có chiến tranh, lính Pháp lăm lăm súng trong tay rầm rập vây ráp các ngả đường1 Chúng đàn áp thẳng tay, nhiều người thợ bị đánh đập dãman, sưng mặt đổ máu Nhiều tên lính đánh thợ đến nỗi gãy cả báng súng, thực dânPháp bắt đi 11 người giải về Hải Phòng2
1 Dẫn theo Báo Le Travail (Báo Lao động) ra ngày 16-12-1936.
2 Dẫn theo Báo Đông Pháp số 3405 ngày 30-11-1936.
30
Trang 31Ngày 27-11-1936, tại sân bóng đá, công nhân Hòn Gai biểu tình, biểu dươnglực lượng Để đối phó với cuộc biểu tình của công nhân, thực dân Pháp điều thêmlực lượng quân đội và hai tàu quân sự từ Kiến An ra áp sát bến Hòn Gai Chúng đánhđập làm bị thương và bắt đi một số anh em hăng hái đấu tranh Quần chúng phẫn nộ,
từ các ngả kéo đến thành một lực lượng rất đông vây quanh đồn lính, đòi thả người
bị bắt, phản đối khủng bố… Phong trào đấu tranh lên đến đỉnh cao Để uy hiếpphong trào, địch vội vã tổ chức tập trận ở Đồng Đăng Chúng dọa nếu ai còn đấutranh sẽ bị bắt cả gia đình xuống tàu đưa đi nơi khác, không cho sinh sống ở đất mỏ.Ngoài ra, thực dân Pháp còn cho tay sai vơ vét lương thực, thực phẩm, làm cho côngnhân và quần chúng cách mạng không còn gì để ăn, phải bỏ dở cuộc bãi công.Nhưng với truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, đồng bào dân tộc Sán Dìumang lương thực, thực phẩm đến tiếp tế cho công nhân đấu tranh Kẻ địch không uyhiếp được tinh thần đấu tranh của công nhân và quần chúng cách mạng
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy mỏ Hòn Gai và các Chi bộ Đảng, phong tràocách mạng ngày càng dâng cao, làm cho kẻ thù khiếp sợ Chiều ngày 28-11-1936,nhà cầm quyền Pháp và bọn chủ mỏ ở Hòn Gai buộc phải chấp nhận tất cả các yêusách của công nhân, hứa thả 11 người bị bắt, cứu chữa những người bị thương,
đồng thời công bố “Điều lệ quy định cho thợ thuyền”, nhằm xoa dịu dư luận phản
đối của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới, xoa dịu tinh thần đấutranh cách mạng của nhân dân Đông Dương
Sau sáu ngày đêm đấu tranh quyết liệt, cuộc bãi công của công nhân mỏHòn Gai giành thắng lợi, khẳng định đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng và
sự vận dụng sáng tạo của đảng viên, quần chúng cách mạng vào điều kiện cụ thểcủa địa phương; là kết quả của sức mạnh đoàn kết, của truyền thống yêu nước vàđấu tranh bất khuất, kiên cường của công nhân và quần chúng cách mạng thị xã
Hòn Gai Nếu cuộc bãi công ở mỏ Cẩm Phả đã tiêu biểu cho tinh thần kỷ luật của giai cấp vô sản, thì cuộc bãi công ở Hòn Gai lại chứng tỏ rằng giai cấp vô sản đã
có một sức mạnh rõ rệt1 Thắng lợi đó còn là một đòn chí mạng vào cơ quan đầu
1 Báo Lơ rravai (Báo Lao động) ra ngày 16-12-1936.
31
Trang 32não của bọn thực dân đế quốc ở ngay tại trung tâm kinh tế, chính trị của chúng; gópphần quan trọng vào thành công của cuộc tổng bãi công tháng 11-1936 của đội ngũcông nhân toàn khu mỏ và cả nước; đánh dấu sự trưởng thành về chất của côngnhân Việt Nam nói chung, công nhân mỏ nói riêng; tạo tiền đề cho những trậnchiến đấu quyết liệt trong thời kỳ mới
Sau cuộc tổng bãi công tháng 11-1936, chính quyền thực dân và bọn chủ
mỏ nhượng bộ một số quyền lợi cho công nhân, song vẫn tìm mọi cách khủng bốhòng dập tắt phong trào, nhất là ở khu mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả Chúng tăng cườnglực lượng bảo vệ mỏ, mở rộng mạng lưới mật thám, chỉ điểm Chúng kiểm soátchặt chẽ các bến tàu, bến xe không cho người lạ mặt lui tới đất mỏ để ngăn chặn
làn sóng đấu tranh của toàn quốc vào “vương quốc nhượng địa” của chúng Vì thế,
việc gây cơ sở cách mạng của ta gặp nhiều khó khăn Ở Bắc Kỳ, Đảng chưa vàođược các cơ sở vận tải và các xí nghiệp lớn, mà nhất là vùng mỏ lớn như Hòn Gai1
Để thúc đẩy phong trào cách mạng tiếp tục phát triển, giữa năm 1938, Xứ
ủy Bắc Kỳ cử đồng chí Nguyễn Đức Du (tức Lê Viên) và một số đồng chí khác vềHòn Gai gây dựng cơ sở và chắp mối liên lạc Các đồng chí được cử về Hòn Gaihoạt động đã được đồng chí Lương Khánh Thiện, Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, trựctiếp giao nhiệm vụ: Trước hết phải bám cho được đất Hòn Gai, dùng những hìnhthức tổ chức thấp như tương tế, chơi họ, đá bóng, ái hữu, dùng sách báo công khaicủa Đảng để tuyên truyền, giáo dục, tổ chức xây dựng cơ sở trong quần chúng,chuẩn bị cho việc xây dựng cơ sở Đảng
Được sự giúp đỡ của anh chị em công nhân, các cán bộ của Đảng nhanhchóng bám được đất Hòn Gai, tìm cách phân phát báo chí công khai của Đảng đểtuyên truyền và tổ chức quần chúng vào những tổ chức ái hữu, tương tế, chơi họ,học chữ quốc ngữ, đọc báo, đá bóng; chuẩn bị cơ sở cho Xứ ủy đưa thêm cán bộvào vùng mỏ hoạt động
1 Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Văn kiện Đảng (từ 10-8-1935 đến 1939), Hà Nội.1964, tr 161.
32
Trang 33Đồng chí Hoàng Văn Thụ
Tháng 8-1938, được Xứ ủy Bắc Kỳ cử về Hòn Gai gây dựng cơ sở cách mạng
33
Trang 34Tháng 8-1938, Xứ ủy Bắc Kỳ cử đồng chí Hoàng Văn Thụ về Hòn Gai gâydựng cơ sở cách mạng Tháng 9-1938, đồng chí Hoàng Văn Thụ vào mỏ Hà Lầmxây dựng cơ sở cách mạng Để tránh sự theo dõi của bọn mật thám, đồng chí vàolàm phu đun máng than và nhanh chóng hòa mình vào cuộc sống của công nhân.Trong gần hai tháng ở đất mỏ, đồng chí tổ chức được nhiều nhóm quần chúng trungkiên, lập ra những tổ học văn hóa, tổ đọc báo… Thông qua những tổ chức này,đồng chí Hoàng Văn Thụ giác ngộ công nhân mỏ và gây dựng cơ sở Đảng ở HàLầm.
Cuối năm 1938, đồng chí Hoàng Văn Thụ được điều về Hà Nội nhận nhiệm
vụ mới Trước khi rời khỏi Hà Lầm, đồng chí đã góp nhiều ý kiến với các đồng chíhoạt động ở mỏ về công tác vận động, giáo dục tổ chức công nhân và hướng dẫncon đường liên lạc về Xứ ủy Bắc Kỳ Nhờ đó, tổ chức cơ sở Đảng và phong tràocách mạng ở Hòn Gai có điều kiện phát triển hơn
Từ năm 1936 đến năm 1939, nhiều cán bộ cách mạng bị thực dân Pháp bắt
và giam trong các nhà tù đế quốc được trả tự do, đã tìm đường đến Hồng Gai hoạtđộng, xây dựng cơ sở bí mật và trở thành hạt nhân lãnh đạo phong trào đấu tranhtại địa phương Bên cạnh đó, Hòn Gai được Xứ ủy Bắc Kỳ và Ban cán sự liên tỉnh
B cử cán bộ về xây dựng cơ sở cách mạng Phong trào đấu tranh tiếp tục nổ ramạnh mẽ, sôi nổi toàn thị xã và thu được nhiều kết quả Đây là bước chuẩn bị quantrọng để Đảng bộ và nhân dân Hòn Gai bước vào thời kỳ cùng nhân dân cả nướcđấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng
III ĐẢNG ỦY MỎ HÒN GAI LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG (1939-1945)
Ngày 01-9-1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ Sau khi thamchiến, chính phủ phản động Pháp thi hành chính sách phát xít, giải tán Đảng Cộngsản Pháp và các tổ chức dân chủ, tiến bộ ở Pháp cũng như ở các nước thuộc địa,phụ thuộc Ở Việt Nam, thực dân Pháp đàn áp, khủng bố các cơ sở đảng và phongtrào cách mạng; những quyền lợi của quần chúng nhân dân giành được đều bị thủtiêu
34
Trang 35Ở Hòn Gai, thực dân Pháp và tay sai thẳng tay đàn áp phong trào cáchmạng Chúng huy động lực lượng cảnh sát, mật thám kiểm soát chặt chẽ các conđường vào nội thị, hòng ngăn chặn cán bộ của ta từ bên ngoài vào hoạt động, gâydựng cơ sở cách mạng Các cán bộ, đảng viên, quần chúng cách mạng luôn phảichống trả với sự khủng bố thâm độc, tàn bạo của thực dân Pháp và bọn chủ mỏ.Cuộc khủng bố trắng trong tháng 9 và 10-1939 của địch gây ra tổn thất nặng nề,làm cho đường dây liên lạc giữa cơ sở Đảng ở Hòn Gai với bên ngoài gặp nhiềukhó khăn, nhiều cơ sở Đảng bị vỡ, nhiều cán bộ cách mạng bị địch bắt Nhưng quathực tiễn đấu tranh quyết liệt, một lần nữa khẳng định tinh thần cách mạng kiêncường của những đảng viên và quần chúng cách mạng Nhiều người dũng cảm chịumọi cực hình, không cho kẻ thù phá hoại tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúngcách mạng Song do bị kẻ thù truy nã gắt gao, một số quần chúng hoang mang,nhưng được những đảng viên còn lại đi sâu tuyên truyền đường lối của Đảng, kêugọi quần chúng đấu tranh Việc làm đó đã củng cố niềm tin, thức tỉnh nhân dânHòn Gai đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù.
Trước sự biến đổi nhanh chóng của tình hình, ngày 29-9-1939, Trung ươngĐảng gửi Thông báo cho các cấp bộ Đảng, vạch ra một số phương hướng, nhiệm
vụ cần kíp trước mắt, nhằm chuyển hướng các mặt hoạt động của Đảng Thông cáo
nhận định: Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng1.Trung ương Đảng chỉ thị cho các cấp bộ Đảng và các tổ chức quần chúng tiếp tụcrút vào hoạt động bí mật
Tháng 11-1939 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, xác định mục tiêuchiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai,giải phóng các dân tộc, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Để tập trung lựclượng đánh đổ đế quốc, Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộngđất, chỉ đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyềnlợi dân tộc, chống tô cao, thuế nặng; tạm gác khẩu hiệu lập chính quyền Xô viếtcông-nông-binh, thay bằng khẩu hiệu lập chính quyền cộng hòa dân chủ; quyết
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng 1939-1945, Nxb Sự thật, Hà Nội 1963, tr 24.
35
Trang 36định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trậndân chủ Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 đánh dấu bước chuyển hướngquan trọng về đường lối và phương pháp cách mạng trong thời kỳ cách mạngchuyển từ đấu tranh dân chủ, dân sinh sang trực tiếp đánh đổ chính quyền đế quốc
và tay sai, từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật, không hợppháp và khởi nghĩa vũ trang
Với quyết tâm nối lại bằng được đường liên lạc với cơ sở Đảng ở Hòn Cẩm Phả, Xứ ủy Bắc Kỳ và Khu ủy B quyết định xây dựng lại đường dây liên lạcvới cơ sở cách mạng ở Hòn Gai-Cẩm Phả
Gai-Tháng 12-1939, Ban cán sự liên tỉnh B đã cử đồng chí Hoàng Văn Thành
về Hòn Gai-Cẩm Phả chắp nối liên lạc Đồng chí Hoàng Văn Thành liên lạc đượcvới một số cơ sở ở Hà Lầm và những cơ sở mà đồng chí Hoàng Văn Thụ gây dựngđược trước đó Đầu năm 1940, đồng chí Hoàng Văn Thành bị thực dân Pháp bắt
Không để đường dây liên lạc bị đứt, cơ sở bị vỡ, Khu ủy B tiếp tục cử đồngchí Trần Văn Mùi (tức Mùi Đen) và một số đồng chí khác về Hòn Gai hoạt động;các đồng chí đã gây cơ sở trong công nhân trên các tàu thủy chạy từ Hải Phòng-Hòn Gai-Móng Cái và được đồng bào đánh cá ven biển hết lòng giúp đỡ, đã tìmđường vào khu mỏ hoạt động
Tuy nhiên, do ta thiếu cán bộ và chưa có phương thức hoạt động phù hợp,lại bị thực dân Pháp và tay sai đàn áp, khủng bố ác liệt, kiểm soát gắt gao, nên ởHòn Gai vẫn chưa gây dựng lại được cơ sở Đảng và cơ sở Việt Minh Cuộc chiếnđấu đầy gian khổ nhằm lập lại tổ chức cơ sở Đảng ở Hòn Gai tuy chưa đạt nhiềukết quả, nhưng đã tạo điều kiện để phong trào cách mạng phát triển đúng phươnghướng Trong điều kiện còn có nhiều khó khăn, nhưng do ảnh hưởng, tác động củaphong trào cách mạng ở Quảng Yên, Hải Ninh và phong trào đấu tranh cách mạngtrong cả nước, Đảng bộ và quần chúng nhân dân thị xã Hòn Gai vẫn một lònghướng về Đảng, về Mặt trận Việt Minh, chờ thời cơ thuận lợi cướp chính quyền
Đầu năm 1940, phong trào cách mạng trong cả nước và Hòn Gai đã cóbước phát triển mới Căn cứ vào tinh thần Nghị quyết Trung ương Đảng tháng 11-
36
Trang 371939 và tình hình cách mạng ở khu mỏ, Khu ủy B đề ra những nhiệm vụ trước mắtcho phong trào cách mạng khu mỏ Khu ủy nhấn mạnh: Phải nắm chắc đầu mối liênlạc để phục hồi và phát triển cơ sở cách mạng vùng Hòn Gai-Cẩm Phả, nơi tậptrung đông công nhân và có truyền thống cách mạng Muốn vậy phải phát triển cơ
sở cách mạng ở Quảng Yên và Uông Bí trước để làm bàn đạp tiến vào Hòn Gai vàCẩm Phả
Trong lúc phong trào cách mạng cả nước cũng như ở Hòn Gai đang cónhiều chuyển biến, ngày 22-9-1940, phát xít Nhật tiến vào Lạng Sơn, Hải Phòng;thực dân Pháp hèn nhát đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, rồi qùy gối dâng
nước ta cho phát xít Nhật, đẩy nhân dân Việt Nam vào tình cảnh “một cổ hai tròng” với chính sách cai trị vô cùng hà khắc.
Sau khi chiếm đóng nước ta, phát xít Nhật cấu kết với thực dân Pháp vơvét, bóc lột nhân dân Việt Nam Tại Hòn Gai, chúng cho binh lính, mật thám đilùng sục các xóm làng, khu phố, nhà máy để bắt bớ những người mà chúng tìnhnghi là hoạt động cách mạng Bên cạnh đó, bọn Việt quốc, Việt cách đẩy mạnh
hoạt động chống phá cách mạng nhằm chuẩn bị cho kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”, âm mưu xâm lược lâu dài Việt Nam Các tổ chức phản động đã đưa ra khẩu hiệu cách mạng giả hiệu “đánh Pháp, đuổi Nhật” để lừa bịp, lôi kéo quần chúng,
đẩy mạnh hoạt động chia rẽ dân tộc ở Hòn Gai
Trước sự áp bức, bóc lột của Pháp-Nhật và tay sai, từ tháng 9-1940 đến đầunăm 1941, trên khắp cả nước nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra như khởi nghĩa Bắc Sơn,khởi nghĩa Nam Kỳ và binh biến Đô Lương đã khẳng định phong trào đánh Pháp,đuổi Nhật của nhân dân ta có bước phát triển mới Tình hình khẩn trương đòi hỏiĐảng ta chỉ đạo sát sao, nhạy bén, tập trung hơn
Tháng 11-1940, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị tại ĐìnhBảng (Bắc Ninh) Hội nghị khẳng định chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiếnlược của Đảng tại Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 là hoàn toàn đúngđắn Tiếp đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước và triệu tập Hội nghị Ban Chấphành Trung ương Đảng lần thứ VIII tại Pắc Pó, Cao Bằng (5-1941) Trên cơ sở
37
Trang 38phân tích tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị khẳng định: Nhiệm vụ chủ yếutrước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, Pháp-Nhật không chỉ là
kẻ thù của công-nông mà còn là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương Hội nghị quyếtđịnh thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận ViệtMinh); coi việc chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân tatrong giai đoạn hiện tại
Quán triệt Nghị quyết của Trung ương Đảng, đảng viên và nhân dân thị xãHòn Gai xây dựng tổ chức Việt Minh ở các cơ sở, tích cực chuẩn bị lực lượng chớpthời cơ giành chính quyền
Từ cuối năm 1944, chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kếtthúc theo chiều hướng có lợi cho cách mạng Việt Nam Đầu năm 1945, phát xít Ý
bị lật đổ, phát xít Đức ngày càng lún sâu vào thế thất bại trước sự tấn công như vũbão của Hồng quân Liên Xô và quân Đồng minh Nhiều nước Trung và Đông Âulần lượt được giải phóng
Ngày 12-3-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” với khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” trong
hoàn cảnh chính quyền địch ở cơ sở đang hoang mang rệu rã; nạn đói đang hoànhhành, hàng triệu người nghèo khổ chết vì đói và dịch bệnh Chỉ thị thể hiện sự sángsuốt, kiên quyết, kịp thời, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là kim chỉnam cho mọi hành động của Đảng trong cao trào kháng Nhật, cứu nước và nhanhchóng được triển khai thực hiện Phong trào phá kho thóc, giải quyết nạn đói diễn
ra mạnh mẽ trong cả nước
Ở Hòn Gai, khi thực dân Pháp đầu hàng, phát xít Nhật kéo vào chiếm đóngHòn Gai, Bãi Cháy và một số nơi khác Chúng bắt đầu củng cố bộ máy thống trị,xây dựng và củng cố ngụy quyền tay sai, tăng cường mạng lưới mật thám, chỉđiểm, nhằm đàn áp phong trào cách mạng Chúng lập Hội đồng an dân thay chobang phố, bắt thanh niên vào tổ chức nghĩa dũng binh để canh gác, tuần tra chống
phá cách mạng Chúng còn cho bọn Việt gian đi tuyên truyền thuyết “Đại Đông Á” kêu gọi, lừa phỉnh nhân dân ta Phát xít Nhật cũng đưa ra nhiều thứ thuế nặng
38
Trang 39nề và vô lý, vơ vét thóc gạo, sử dụng chủ mỏ người Pháp tiếp tục khai thác thandưới sự chỉ huy của phát xít Nhật Một số nhà tư sản Nhật đầu tư cùng chủ mỏtrong Công ty than Bắc Kỳ (SFCT) khai thác than, bòn rút của cải và sức lao động
rẻ mạt của công nhân Chính sách vơ vét, bóc lột của Nhật, Pháp và tay sai làm chohai triệu dân Việt Nam chết đói, hàng triệu người khác bị thiếu ăn Riêng thị xãHòn Gai mỗi buổi sáng đều có vài xe bò chở xác người chết đói đi chôn
Cơ sở cách mạng ở Hòn Gai đang rất mỏng, phong trào Việt Minh chưamạnh, chưa đáp ứng được tình hình chung trong phong trào cách mạng chung của
cả nước Sau khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), thay mặt Xứ ủy Bắc Kỳ, đồngchí Lê Thanh Nghị cử đồng chí Trịnh Tam Tỉnh và một số đảng viên về xây dựngphong trào ở Hòn Gai và khu mỏ Các đồng chí tìm cách liên lạc với số quần chúngtốt, lợi dụng tổ chức thanh niên thân Nhật để tập hợp, giáo dục, giác ngộ họ Ở BãiCháy, ta đã giác ngộ được người lãnh đạo của tổ chức thân Nhật và nắm được lựclượng thanh niên (có đến 40 người), hướng dẫn họ làm những việc có lợi cho cáchmạng như tổ chức cứu đói cho dân chạy phỉ từ Hoành Bồ ra, giữ gìn trật tự; vậnđộng binh lính chạy sang hàng ngũ cách mạng; lựa chọn, huấn luyện những quầnchúng tốt trong tổ chức thanh niên thân Nhật để chuẩn bị xây dựng lực lượng vũtrang sau này
Sau một thời gian, cơ sở Việt Minh được xây dựng và phát triển nhanhchóng ở nhà máy cơ khí Hòn Gai, mỏ than Hà Tu, Hà Lầm, phố Ba Đèo, VựngĐâng… Uy tín của Mặt trận Việt Minh ngày càng cao, có ảnh hưởng ngày càng lớntrong công nhân và các tầng lớp nhân dân Cao trào kháng Nhật, cứu nước ở HònGai ngày càng phát triển Việt Minh lãnh đạo quần chúng nổi dậy chống Nhật cướpthóc, thu thuế, bắt tổng lý phải trả lại tiền thuế và không được thu thóc tạ Côngnhân mỏ và nhân dân Hòn Gai sôi sục khí thế cách mạng, náo nức chờ ngày khởinghĩa giành chính quyền
Trước những đòn tấn công của quân Đồng minh, phát xít Nhật ngày cànglúng túng Lợi dụng cơ hội đó, đội quân ô hợp Quốc dân Đảng từ Trung Quốc kéo
sang, tự xưng “Hoa quân nhập Việt” vào giúp Việt Nam giải giáp vũ khí quân đội
39
Trang 40Nhật nhưng thực chất là chống phá cách mạng nước ta Chúng xây dựng căn cứ ở
Ba Chẽ, đưa quân về Hoành Bồ áp sát khu mỏ với âm mưu chuẩn bị lực lượngcướp chính quyền của ta ở Hòn Gai Bọn Việt Nam quốc dân Đảng (Việt quốc) từ
Hà Nội cũng kéo đến Hòn Gai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền gây thanh thế.Ngoài ra, ở Hòn Gai lúc này còn có khoảng 500 tàn quân Pháp đang đóng quân ở
Cô Tô và Vạn Hoa chờ thời cơ đánh chiếm đất liền Cùng một lúc Hòn Gai phảichống trả với nhiều kẻ thù, mà kẻ thù nào cũng nguy hiểm và đầy dã tâm NhưngĐảng bộ và nhân dân Hòn Gai vẫn một lòng tin theo Đảng và sự thắng lợi của cáchmạng
Giữa năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kếtthúc với những chuyển biến mau lẹ có lợi cho cách mạng Việt Nam Công cuộcchuẩn bị cho tổng khởi nghĩa được Đảng ta chuẩn bị hết sức khẩn trương Căn cứvào quyết định của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ (do Ban Thường vụ Trung ương triệutập ngày 15-5-1945), ngày 8-6-1945, lực lượng vũ trang của ta và nhân dân vùngChí Linh-Đông Triều nổi dậy, tiêu diệt các đồn Đông Triều, Chí Linh, Mạo Khê,Tràng Bạch, làm chủ một vùng rộng lớn dọc đường 18, tuyên bố thành lập Chiếnkhu Trần Hưng Đạo (tức Đệ tứ Chiến khu, tức Chiến khu Đông Triều) Việc thànhlập Chiến khu Trần Hưng Đạo có ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào cách mạng vàgiành chính quyền ở Hòn Gai
Tháng 8-1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện.Thời cơ cách mạng đã đến
Từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở TânTrào (Tuyên Quang) Ngay trong đêm 13-8-1945, Trung ương Đảng và Tổng bộViệt Minh thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc và ra Bản quân lệnh số 1, kêu gọi
toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền: Giờ tổng khởi nghĩa đã đến!
Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà Chúng ta phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô
40