LỜI NÓI ĐẦUĐắk Nông là tỉnh có vị trí quan trọng nằm ở cửa ngõ Nam Tây Nguyên, là căn cứ địa vững chắc, hậu cứ quan trọng, địa bàn trọng yếu của hành lang chiến lược Bắc Nam. Qua dòng chảy của lịch sử dân tộc, nông dân các đồng bào dân tộc trên vùng đất Đắk Nông vừa giàu lòng yêu nước, vừa cần cù thông minh sáng tạo trong lao động sản xuất và trong chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước. Từ phong trào yêu nước trước khi có Đảng, như anh hùng dân tộc N’TrangLơng, đến những cơ sở cách mạng chở che cho các chiến sĩ cộng sản vượt ngục Đắk Mil trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và hàng ngàn nông dân xây dựng tuyến hành lang chiến lược nối liền đường dây liên lạc giữa miền Bắc với các tỉnh Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ… góp phần quan trọng trong thắng lợi mùa Xuân năm 1975. Tinh thần bất khuất, kiên cường ấy được nông dân các đồng bào dân tộc tiếp nối trong các phong trào xóa đói giảm nghèo, xây dựng quê hương trong công cuộc đổi mới đất nước. Đó cũng chính là thành quả của quá trình lãnh đạo đúng đắn của Đảng đã khơi dậy được phong trào rộng lớn của nông dân trên vùng đất này, khẳng định trong thực tế ngay từ khi Đảng ra đời, đã thể hiện là tổ chức tiên phong không chỉ của công nhân mà của toàn thể nhân dân lao động trong đó đa số là nông dân.Vì vậy, ghi lại những trang sử hào hùng của phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Đắk Nông, không chỉ khẳng định công lao, sự đóng góp, tôn vinh, tri ân đối với các thế hệ nông dân đã phấn đấu, hy sinh để xây dựng và bảo vệ vùng đất Đắk Nông, mà còn là nguyện vọng của các thế hệ cán bộ, hội viên Hội nông dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Nông. Đồng thời, góp phần giáo dục truyền thống cần cù sáng tạo, bất khuất kiên cường của nông dân các dân tộc trên vùng đất này, từ đó động viên, khích lệ đồng bào, đặc biệt là thế hệ trẻ, phát huy tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực tự cường, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức để xứng đáng với các thế hệ ông, cha đã bảo vệ và xây dựng vùng đất quê hương trung kiên, anh dũng này. Với ý nghĩa ấy, Tỉnh ủy Đắk Nông đồng ý chủ trương và chỉ đạo Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh Đắk Nông thực hiện công tác nghiên cứu sưu tầm, biên soạn và xuất bản cuốn Lịch sử phong trào Nông dân và Hội nông dân tỉnh Đắk Nông, giai đoạn 1930 2013.Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, bố cục cuốn sách được chia làm 8 chương với ba phần lớn:Phần thứ nhất: Đặc điểm, truyền thống phong trào nông dân trên vùng đất Đắk Nông trong cách mạng giải phóng dân tộc và kháng chiến chống ngoại xâm.Phần thứ hai: Nông dân vùng đất Đắk Nông trong quá trình cùng cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và từng bước tiến hành đổi mới (19752003)Phần thứ ba: Tỉnh Đắk Nông được thành lập, Hội Nông dân tỉnh ra đời – quá trình xây dựng và phát triển (20042013) Cuốn sách phản ánh chân thực quá trình hình thành và phát triển của phong trào nông dân từ khi chưa có Đảng gắn với sự hình thành và phát triển của tổ chức Hội Nông dân trên địa bàn tỉnh Đắk Nông qua các thời kỳ, các giai đoạn cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Đức và tỉnh Đắk Lăk (cũ) trước đây và tỉnh mới Đắk Nông ngày nay trong dòng chảy lịch sử của đất nước.
Trang 1LỊCH SỬ PHONG TRÀO NÔNG DÂN
VÀ HỘI NÔNG DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
GIAI ĐOẠN 1930-2013
Trang 2BAN BIÊN SOẠN
PGS,TS Trần Thị Thu Hương (chủ biên)
PGS,TS Nguyễn Ngọc Hà
TS Phạm Đức Kiên ThS Vũ Thái Dũng
LỜI NÓI ĐẦU
Đắk Nông là tỉnh có vị trí quan trọng nằm ở cửa ngõ Nam Tây Nguyên, là căn
cứ địa vững chắc, hậu cứ quan trọng, địa bàn trọng yếu của hành lang chiến lược Bắc - Nam Qua dòng chảy của lịch sử dân tộc, nông dân các đồng bào dân tộc
Trang 3trên vùng đất Đắk Nông vừa giàu lòng yêu nước, vừa cần cù thông minh sáng tạo trong lao động sản xuất và trong chiến đấu bảo vệ quê hương đất nước
Từ phong trào yêu nước trước khi có Đảng, như anh hùng dân tộc N’TrangLơng, đến những cơ sở cách mạng chở che cho các chiến sĩ cộng sản vượt ngục Đắk Mil trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và hàng ngàn nông dân xây dựng tuyến hành lang chiến lược nối liền đường dây liên lạc giữa miền Bắc với các tỉnh Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ… góp phần quan trọng trong thắng lợi mùa Xuân năm 1975 Tinh thần bất khuất, kiên cường ấy được nông dân các đồng bào dân tộc tiếp nối trong các phong trào xóa đói giảm nghèo, xây dựng quê hương trong công cuộc đổi mới đất nước Đó cũng chính là thành quả của quá trình lãnh đạo đúng đắn của Đảng đã khơi dậy được phong trào rộng lớn của nông dân trên vùng đất này, khẳng định trong thực tế ngay từ khi Đảng ra đời, đã thể hiện là tổ chức tiên phong không chỉ của công nhân mà của toàn thể nhân dân lao động - trong đó đa số là nông dân
Vì vậy, ghi lại những trang sử hào hùng của phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Đắk Nông, không chỉ khẳng định công lao, sự đóng góp, tôn vinh, tri ân đối với các thế hệ nông dân đã phấn đấu, hy sinh để xây dựng và bảo vệ vùng đất Đắk Nông, mà còn là nguyện vọng của các thế hệ cán bộ, hội viên Hội nông dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Nông Đồng thời, góp phần giáo dục truyền thống cần cù sáng tạo, bất khuất kiên cường của nông dân các dân tộc trên vùng đất này, từ đó động viên, khích lệ đồng bào, đặc biệt là thế hệ trẻ, phát huy tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực tự cường, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức để xứng đáng với các thế hệ ông, cha đã bảo vệ và xây dựng vùng đất quê hương trung kiên, anh dũng này Với ý nghĩa ấy, Tỉnh ủy Đắk Nông đồng ý chủ trương và chỉ đạo Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh Đắk Nông thực hiện
công tác nghiên cứu sưu tầm, biên soạn và xuất bản cuốn "Lịch sử phong trào
Nông dân và Hội nông dân tỉnh Đắk Nông, giai đoạn 1930 - 2013".
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, bố cục cuốn sách được chia làm 8 chương với ba phần lớn:
Phần thứ nhất: Đặc điểm, truyền thống phong trào nông dân trên vùng đất Đắk Nông trong cách mạng giải phóng dân tộc và kháng chiến chống ngoại xâm Phần thứ hai: Nông dân vùng đất Đắk Nông trong quá trình cùng cả nước
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và từng bước tiến hành đổi mới (1975-2003)
Trang 4Phần thứ ba: Tỉnh Đắk Nông được thành lập, Hội Nông dân tỉnh ra đời – quá trình xây dựng và phát triển (2004-2013)
Cuốn sách phản ánh chân thực quá trình hình thành và phát triển của phong trào nông dân từ khi chưa có Đảng gắn với sự hình thành và phát triển của tổ chức Hội Nông dân trên địa bàn tỉnh Đắk Nông qua các thời kỳ, các giai đoạn cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Đức và tỉnh Đắk Lăk (cũ) trước đây và tỉnh mới Đắk Nông ngày nay trong dòng chảy lịch sử của đất nước
Cuốn sách góp thêm tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, giáo dục truyền thống trong hệ thống tổ chức Hội và phong trào nông dân các dân tộc trong tỉnh, góp phần phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau, xóa đói - giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, giữ vững an ninh quốc phòng trên vùng đất phía Tây Nam của Tổ quốc
Đồng thời, triển khai công trình này cũng là một bước quan trọng trong công tác tổng kết thực tiễn sinh động của tổ chức Hội và phong trào nông dân trên địa bàn tỉnh Đắk Nông trong một giai đoạn cách mạng nhất định, góp phần cùng các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách phát hiện quy luật của sự vận động và phát triển trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn, nhưng do địa bàn có nhiều sự thay đổi về địa giới hành chính qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt khó khăn trong việc khai thác tài liệu lưu trữ và gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, do vậy, cuốn sách không tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết nhất định Ban Chỉ đạo mong muốn nhận được những đóng góp của các độc giả, các nhà khoa học và nhân dân các dân tộc trong và ngoài tỉnh, để tái bản lần sau cuốn sách được hoàn chỉnh hơn
Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh Đắk Nông
Phần thứ nhất ĐẶC ĐIỂM, TRUYỀN THỐNG PHONG TRÀO NÔNG DÂN TRÊN VÙNG ĐẤT ĐẮK NÔNG TRONG CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ
KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGOẠI XÂM
Trang 5Chương 1 ĐẶC ĐIỂM, TRUYỀN THỐNG VÀ CON NGƯỜI VÙNG ĐẤT ĐẮK NÔNG
I Quá trình hình thành và phát triển vùng đất, con người Đắk Nông
Vùng đất Đắk Nông – quá trình hình thành và phát triển
Đến những năm cuối thế kỷ XIX, vùng đất Đắk Nông vẫn là nơi xa xôi, hẻo lánh, dân cư thưa thớt, là nơi cư trú chủ yếu của đồng bào dân tộc người thiểu số bản địa, sống theo cộng đồng, thị tộc, bộ lạc, trải trên một địa bàn rộng lớn Tuy vậy, ngay từ lúc đó, Đắk Nông đã được xác định là vùng đất giàu tiềm năng phát triển kinh tế và có vị trí chiến lược về quân sự đối với cả khu vực Do có vị trí quan trọng về nhiều mặt, Đắk Nông đã sớm trở thành mục tiêu mà thực dân Pháp đặc biệt chú ý Những người Pháp đầu tiên đặt chân lên vùng đất Đắk Nông là những tên gián điệp khoác áo giáo sĩ như Ta be, Phông ten… hoặc là những tên gián điệp được ngụy trang dưới danh nghĩa nhà nghiên cứu như HăngriMét Trong quá trình thị sát Đông Dương, các giáo sĩ phương Tây đã tổ chức khảo cứu,
vẽ bản đồ thổ nhưỡng và dân cư tại địa phương phục vụ cho việc truyền giáo, chinh phục và khai thác của thực dân Pháp Sau khi xâm lược Việt Nam, Pháp nhanh chóng đưa quân đến vùng Tây Nguyên nói chung và Đắk Nông nói riêng, thiết lập bộ máy cai trị của chính quyền thực dân Pháp thành lập một số đồn điền
ở vùng này để kiểm soát dân chúng và khai thác tài nguyên, tập trung ở Đắk Mil, Đắk Song
Sau khi Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết (21-7-1954), đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam, dựng nên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, thực hiện âm mưu thôn tính miền Nam Việt Nam Với mưu đồ đó, ngày 23-1-1959, chính quyền Ngô Đình Diệm ra Sắc lệnh số 24-NV thành lập tỉnh Quảng Đức1 Theo Sắc lệnh này, tỉnh Quảng Đức hình thành trên cơ sở cắt một phần tổng Đắk Đam, một phần tổng Đắk Mâm và toàn bộ tổng Đắk Mil nguyên thuộc quận Đắk Song của tỉnh Đắk Lắk và một phần tổng Nam Ka nguyên thuộc quận Lắk tỉnh Đắk Lắk từ phía Nam cầu 14 vào đến Đắk Song gọi
là quận Đức Lập; cắt tổng Đắk Bút So, tổng Đắk Rtih, nguyên thuộc quận Đắk
1 Theo quyết định của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, chiếu Sắc lệnh số 4-TTP ngày 29-10-1955 và các văn kiện kế tiếp ấn định thành phần Chính phủ, chiếu Sắc lệnh số 4-aTTP ngày 23-10-1956 về đổi danh hiệu các phần, chiếu dụ số 57a ngày 24-10-1956 cải tổ nền hành chính Việt Nam, Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh số 24-
Trang 6Song tỉnh Đắk Lắk và hai xã Bu Prăng, Du Diên Vir nguyên thuộc quận Phước Hòa tỉnh Phước Long thành lập quận Kiến Đức; lấy tổng Đắk N’Drung, nguyên thuộc quận Đắk Song tỉnh Đắk Lắk và xã Bích Khê nguyên thuộc quận Di Linh, tỉnh Lâm Đồng gồm cả Kiến Đức thành lập quận Khiêm Đức Tỉnh lỵ Quảng Đức đặt tại thị trấn Gia Nghĩa, huyện Đắk Nông (nay là thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông) Dân số Quảng Đức lúc bấy giờ khoảng 37.000 người, phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó chủ yếu là người M’Nông
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phạm vi hành chính của tỉnh Quảng Đức cũng được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ chiến lược và điều kiện chiến tranh Tháng 12 năm 1960, Trung ương Đảng quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức thuộc Liên tỉnh 4, do Liên khu 5 chỉ đạo, dựa trên
sự phân chia địa giới hành chính của chính quyền Ngô Đình Diệm (lấy mật danh
là B4); đồng thời, chỉ định đồng chí Vũ Anh Ba (tức Hồng Ưng) làm Bí thư Ban Cán sự tỉnh để lãnh đạo phong trào cách mạng Do yêu cầu, nhiệm vụ chiến đấu
và xây dựng trong từng thời kỳ lịch sử, nên tỉnh Quảng Đức (cũ) có sự chia tách nhiều lần cho phù hợp với tình hình thực tế Đến giữa năm 1961, khu 6 được thành lập, tỉnh Quảng Đức thuộc về sự chỉ đạo của khu 6 Đến cuối năm 1961, khi Khu 10 được thành lập, tỉnh Quảng Đức lại chuyển từ khu 6 về trực thuộc Khu
10 Thời kỳ này địch mở những cuộc càn quét lớn vào vùng căn cứ để bắt lính, chúng dồn dân, lập ấp chiến lược, thọc sâu vào đánh phá căn cứ và bao vây, phong toả kinh tế của ta Xuất phát từ nhiệm vụ, yêu cầu của cách mạng, đầu năm
1962, tỉnh Quảng Đức giải thể; cắt huyện Khiêm Đức về tỉnh Lâm Đồng, thành lập Ban Cán sự B7; huyện Đức Lập và Đức Xuyên nhập về Đắk Lắk; huyện Kiến Đức nhập về Phước Long Tháng 10-1962, cắt huyện Khiêm Đức và xã Đãng Gia của huyện Đức Trọng thành lập huyện mới, mang mật danh E25, các huyện khác được giữ nguyên như cũ
Năm 1963, tỉnh Quảng Đức được tái lập Huyện E25 giải thể và trở lại mang tên Khiêm Đức như trước Thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên, nhiệm vụ của
ta là giữ vững căn cứ, phát triển thực lực cách mạng, chống càn quét, gom dân, lập ấp, đồng thời phá kìm, đưa dân từ ấp chiến lược về vùng căn cứ cách mạng Lúc này lại có sự điều chỉnh, tỉnh Quảng Đức thuộc sự chỉ đạo của khu 10 Tháng
10 - 1963, Trung ương quyết định giải thể khu 10, cũng đồng thời giải thể luôn tỉnh Quảng Đức Huyện Đức Lập, Đức Xuyên về lại tỉnh Đắk Lắk, Khiêm Đức về Lâm Đồng, Kiến Đức lúc này là một huyện nhỏ vẫn tiếp tục đặt dưới sự lãnh đạo
Trang 7của Tỉnh uỷ Phước Long Đến đầu năm 1965, tỉnh Quảng Đức được tái lập lần thứ hai, nhưng đến đầu năm 1966 lại giải thể một lần nữa và chia thành hai đơn vị là Tiền phương A và Tiền phương B Tiền phương A gồm: Huyện Đức Lập và Đức Xuyên, do đồng chí Trần Phòng (Bảy Biên) làm Bí thư, đồng chí Phùng Đình Ấm (Ba Cung) làm Phó Bí thư Tiền phương B gồm huyện Khiêm Đức, Kiến Đức và thị xã Gia Nghĩa (huyện Đắk Nông), do đồng chí Nguyễn Xuân Khanh (Năm Khanh) làm Bí thư Đầu tháng 01 - 1967, do nhiệm vụ chiến trường đặt ra, hai cơ quan Tiền phương A và B hợp nhất thành tỉnh Quảng Đức như cũ.
Tháng 5 - 1971, Trung ương quyết định giải thể tỉnh Quảng Đức lần thứ tư; giao Khiêm Đức, Kiến Đức về Lâm Đồng dưới sự chỉ đạo của khu 6; Đức Xuyên, Đức Lập được chuyển về Đắk Lắk thuộc khu 5 chỉ đạo Đến tháng 8 - 1974, tiếp tục giao Kiến Đức về Phước Long; còn Khiêm Đức, thị trấn Gia Nghĩa vẫn thuộc Lâm Đồng Sự chỉ đạo theo đơn vị mới này kéo dài cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng
Tháng 5-1975, tỉnh được tái thành lập và đến tháng 11-1975, tỉnh Quảng Đức sáp nhập vào tỉnh Đắk Lắk
Từ ngày 01-01-2004, tỉnh Đắk Nông được thành lập theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26-11-2003 của Quốc hội khóa XI, trên cơ sở tách 06 huyện phía Nam của tỉnh Đắk Lắk (cũ), gồm: Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk Nông, Đắk R’Lấp và Krông Nô, với diện tích tự nhiên là 651.438 hécta, dân số 362.118 người với 31 dân tộc anh em sinh sống Trung tâm tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Gia Nghĩa, huyện Đắk Nông (nay là thị xã Gia Nghĩa) Đến tháng 8-2005, thành lập huyện mới Đắk GLong (huyện Đắk Nông cũ tách ra thành lập thị xã Gia Nghĩa và huyện Đắk GLong); tháng 11-2006, thành lập huyện Tuy Đức (tách ra từ huyện Đắk R’Lấp) Tính đến ngày 31-12-2010, toàn tỉnh có 1 thị xã, 7 huyện, 71 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 5 phường, 5 thị trấn và 61 xã)
Vị trí địa lý, địa hình và tài nguyên
Tỉnh Đắk Nông hiện nay là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên, thuộc biên giới Tây Nam của Tổ quốc, nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây Nguyên, đoạn cuối dãy Trường Sơn; được xác định trong khoảng tọa độ địa lý: 11045’ đến 12050’ vĩ
độ Bắc, 107013’đến 108010’ kinh độ Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia
Trang 8Nằm ở cửa ngõ Tây Nguyên, Đắk Nông có Quốc lộ 14 nối thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền Đông Nam bộ với các tỉnh Tây Nguyên, cách Thành phố Hồ Chí Minh 250 km về phía Bắc và cách Thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lăk) 120 km về phía Tây Nam; có Quốc lộ 28 nối Đắk Nông với Lâm Đồng, Bình Thuận và các tỉnh Duyên hải miền Trung, cách Thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng)
170 km và Thành phố Phan Thiết (Bình Thuận) 160 km về phía Đông
Đắk Nông có 130 km đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Mondulkiri, có 02 cửa khẩu Bu Prăng và Dak Per nối thông với các tỉnh Mondulkiri, Kratie, Kandal, Pnom Penh, Siem Reap, v.v của nước bạn Campuchia
Vị trí địa lý của Đắk Nông là điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu với các tỉnh trong khu vực Tây nguyên; vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; Duyên hải miền Trung và nước bạn Campuchia, là cơ sở để Đắk Nông thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội để trở thành trung tâm phát triển kinh tế năng động của khu vực Tây Nguyên
Địa hình Đắk Nông nằm trọn trên cao nguyên M’Nông, độ cao trung bình khoảng 600 m đến 700m so với mặt nước biển, nơi cao nhất lên tới 1.982m (Tà Đùng) Nhìn tổng thể, địa hình Đắk Nông như hai mái của một ngôi nhà mà đường nóc là dãy núi Nâm Nung, chạy dài từ Đông sang Tây, có độ cao trung bình khoảng 800m, có nơi cao đến hơn 1.500m Địa hình có hướng thấp dần từ Đông sang Tây Các huyện Đắk Song, Đắk Mil, Cư Jut, Krông Nô thuộc lưu vực sông Krông Nô, sông Srêpốk nên thấp dần từ Nam xuống Bắc Các huyện Tuy Đức, Đắk R’lấp, Đắk Glong và thị xã Gia Nghĩa thuộc thượng nguồn lưu vực sông Đồng Nai nên thấp dần từ Bắc xuống Nam
Vì vậy, Đắk Nông có địa hình đa dạng và phong phú, bị chia cắt mạnh, có
sự xen kẽ giữa các núi cao hùng vĩ, hiểm trở với các cao nguyên rộng lớn, dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng Địa hình thung lũng thấp, có độ dốc từ 0-30 chủ yếu phân bố dọc sông Krông Nô, Sêrêpôk, thuộc các huyện Cư Jút, Krông Nô Địa hình cao nguyên đất đỏ Bazan chủ yếu ở Đắk Mil, Đắk Song, độ cao trung bình 600 - 800m, độ dốc khoảng 5-100 Địa hình chia cắt mạnh và có độ dốc lớn > 150 phân bố chủ yếu trên địa bàn các huyện Đắk Glong, Đắk R'Lấp
Theo Niên giám thống kê tỉnh Đắk Nông năm 2012: Tỉnh có diện tích 651.438 hécta đất tự nhiên, đất đai khá phong phú và đa dạng, nhưng chủ yếu
Trang 9gồm 05 nhóm chính: Nhóm đất xám trên nền đá macma axit và đá cát chiếm khoảng 40% tổng diện tích đất và được phân bổ đều toàn tỉnh Đất đỏ Bazan trên nền đá Bazan phong hóa chiếm khoảng 35% diện tích, có tầng dày bình quân 120
cm, phân bổ chủ yếu ở Đắk Mil, Đắk Song Còn lại là đất đen bồi tụ trên nền đá Bazan, đất Gley và đất phù sa bồi tụ dọc các dòng sông, suối Về giá trị sử dụng,
đất nông nghiệp có diện tích là 306.749 ha, chiếm 47% tổng diện tích tự nhiên; đất lâm nghiệp có rừng diện tích là 279.510 ha, tỉ lệ che phủ rừng toàn tỉnh là
42,9%; đất phi nông nghiệp có diện tích 43.953,30 ha Đất chưa sử dụng còn
21.025,36 ha, trong đó đất sông suối và núi đá không có cây rừng là 17.994 ha
Với thế mạnh về tài nguyên đất đai, Đắk Nông rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như: Cà phê, cao su, chè, tiêu, điều trên nền đất xám, đất đỏ Bazan; đồng thời phát triển một diện tích lớn cây hàng năm như lúa, ngô và các loại cây công nghiệp ngắn ngày khác trên đất đen bồi tụ, đất Gley và đất phù sa ven sông suối
Rừng tự nhiên ở Đắk Nông nằm trong vùng hội tụ của hai luồng thực vật với hai loại hình rừng: Rừng thường xanh phân bố chủ yếu ở các vùng đất có lượng mưa lớn, độ ẩm cao, tầng đất sâu như Krông Nô, Đắk Song, Đắk Glong, Tuy Đức Rừng khộp phân bố chủ yếu ở các vùng đất có lượng mưa thấp, điều kiện khắc nghiệt, các vùng lập địa xấu như bắc Đắk Mil, Cư Jút
Rừng Đắk Nông có nhiều hệ động vật và thực vật phong phú và đa dạng, những khu rừng nguyên sinh có nhiều loại gỗ qúy và cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học Trong rừng còn nhiều động vật quý hiếm như voi, gấu, hổ v.v được ghi trong sách đỏ của nước ta và sách đỏ thế giới; có nhiều loại dược liệu qúy là nguồn nguyên liệu dồi dào để bào chế thuốc chữa bệnh trong y học dân tộc
Lượng mưa trung bình hàng năm của Đắk Nông là 2.513 mm, lượng mưa cao nhất là 3.000 mm, độ ẩm không khí trung bình 84% Với địa hình chia cắt và lượng mưa lớn, nên mật độ sông suối của Đắk Nông khá dày và có nhiều ghềnh thác Phía Bắc và phía Tây có sông Sêrêpốk (ranh giới tự nhiên với tỉnh Đắk Lắk), sông Prêktê và sông Prêk Clong đổ ra sông Mê Kông; phía Đông Nam có sông Đa Dâng (thượng nguồn sông Đồng Nai, ranh giới tự nhiên với tỉnh Lâm Đồng) Sông suối ở Đắk Nông không chỉ cung cấp nguồn nước ngọt phục vụ đời sống của nhân dân mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp
Trang 10của những người nông dân trên địa bàn tỉnh Mặt khác, sông suối trên địa bàn tỉnh Đắk Nông có tiềm năng thủy điện dồi dào Hệ thống suối đầu nguồn của các sông Đồng Nai, Krông Nô, Sêrêpôk có thể xây dựng nhiều công trình thủy điện lớn với tổng công suất khoảng 1500 MW như thuỷ điện Buôn Kuôp 280 MW, Đức Xuyên
92 MW, Buôn TuaSrah 85 MW, Đắk Tih 140 MW, Đồng Nai 3-180 MW, Đồng Nai 4 – 340MW, Đồng Nai 5A v.v đang từng bước được đầu tư xây dựng
Trên địa bàn tỉnh Đắk Nông có 178 mỏ khoáng sản với 16 loại khoáng sản chủ yếu: bauxit, wolfram, antimoal, bazan bọt; bazan cột, bazan khối, cát xây dựng, đá bazan, đá granit, sét gạch ngói, than bùn, opal, thiếc sa khoáng, kaolin, nước khoáng thiên nhiên, saphir Trong đó, bauxite là nguồn khoáng sản có trữ lượng lớn, phân bố ở thị xã Gia Nghĩa, các huyện Đắk GLong, Đắk R'Lấp, Đắk Song, Tuy Đức, trữ lượng dự đoán 5,4 tỉ tấn, trữ lượng thăm dò 2,6 tỉ tấn, hàm lượng Al2O3 từ 35-40% Ngoài ra còn có các tài nguyên khá phong phú là nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng như đất sét phân bố rải rác trên địa bàn một số huyện, có thể khai thác công nghiệp, sản xuất gạch, ngói phục vụ nhu cầu xây dựng các công trình kinh tế-xã hội cũng như xây dựng dân dụng cho khu vực dân
cư trên địa bàn tỉnh Sét cao lanh làm gốm sứ cao cấp phân bố tập trung ở huyện
Đắk Glong, thị xã Gia Nghĩa; puzơlan làm nguyên liệu cho xi măng, gạch ceramic; đá bazan bọt làm nguyên liệu sản xuất gạch ốp lát cách âm, cách nhiệt, sợi chịu nhiệt v.v
Cũng với lợi thế nằm trên cao nguyên M’Nông mênh mông, là thượng nguồn của 02 dòng sông lớn là sông Sêrêpôk và sông Đồng Nai, Đắk Nông có nhiều thắng cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp Các thác nước đẹp, hùng vĩ, còn nguyên
sơ nằm giữa rừng già như thác Trinh Nữ, thác Dray H'Linh, Dray Sáp, thác Gia Long, thác Dray Nur, thác Gấu, thác Chuông, thác Diệu Thanh, thác Ngầm, thác Lưu Ly, thác Liêng Nung, thác Đắk Glun, thác Ba tầng, v.v
Những khu rừng nguyên sinh có thể xây dựng các khu du lịch sinh thái, dã ngoại, cưỡi ngựa, cắm trại trong các khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung (25.000 ha), bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng (28.000 ha) Những hồ nước mênh mông có thể xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng, đua thuyền như Hồ Tây, EaSnô, Đắk Rông, Đak Đier, Đắk R’tih,
Các bon làng đồng bào dân M’Nông, Mạ, Ê đê… là những vùng đất ẩn chứa nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể quý báu, trong đó nổi bật hơn cả
Trang 11là cồng chiêng và các bộ sử thi; với những nét sinh hoạt văn hóa truyền thống như
Lễ hội cồng chiêng, uống rượu cần, lễ hội đâm trâu là những tiềm năng cho phát triển du lịch văn hóa, dân tộc, nhân văn
Về dân cư, dân tộc, tôn giáo - tín ngưỡng
Theo Niên giám thống kê tỉnh Đắk Nông năm 2012, tính đến ngày
31-12-2010, dân số toàn tỉnh là 538.034 người, trong đó dân số đô thị chiếm 14,9%, dân
số nông thôn 85,1% Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,57% Mật độ dân số trung bình là 78,39 người/km2
Do địa hình khá phong phú và phức tạp, nên dân cư phân bố không đều trên địa bàn các huyện Nơi đông dân cư chủ yếu tập trung ở các trung tâm xã, thị trấn huyện lỵ, ven các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ; trong khi đó, có những vùng dân cư thưa thớt như một số xã của huyện Đắk Glong, Tuy Đức
Dân số Đắk Nông là dân số trẻ Số dân trong độ tuổi còn đi học khoảng 165.000 người, chiếm 32%; trong độ tuổi lao động có 325.000 người, chiếm 63%;
độ tuổi trên 60 chỉ có hơn 20.000 người Đây cũng là điều kiện thuận lợi để Đắk Nông phát huy ưu thế, tiềm năng của nguồn nhân lực trẻ trong phát triển kinh tế -
xã hội
Đắk Nông là tỉnh có cộng đồng dân cư gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống Cộng đồng dân cư Đắk Nông được hình thành từ: Đồng bào các dân tộc tại chỗ như M’Nông, Mạ, Ê đê, Khmer…; đồng bào Kinh sinh sống lâu đời trên Tây Nguyên và đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc mới di cư vào lập nghiệp như Tày, Thái, Mường, Nùng, Dao.v.v Cơ cấu dân tộc đa dạng, chủ yếu là dân tộc Kinh, M'Nông, Nùng, Mông v.v Dân tộc Kinh chiếm tỉ lệ 67,9%, M'Nông chiếm 8,2%, Nùng chiếm 5,6%, Mông chiếm 4,5%, các dân tộc khác chiếm tỉ lệ thấp
Đắk Nông là vùng đất sinh sống từ hàng ngàn đời của đồng bào các dân tộc tại chỗ, đồng thời cũng là vùng đất quần tụ của cư dân từ nhiều vùng miền về sinh
cơ, lập nghiệp nên đời sống tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng cũng vô cùng phong phú
Đến nay, Đắk Nông có nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng chủ yếu là Công giáo, Tin lành và Phật giáo Ngoài ra, đồng bào các dân tộc Đắk Nông còn có rất nhiều tín ngưỡng để tôn thờ, đặc biệt là đồng bào các dân tộc tại chỗ thờ cúng Yàng (Trời), thần Núi, thần Sông v.v và rất nhiều lễ hội như: Lễ hội Đâm trâu (ăn trâu), Lễ mừng nhà mới, Lễ mừng mùa, Lễ bỏ mả.v.v phong phú và đặc sắc
Trang 12Tình hình kinh tế, văn hóa- xã hội
Trước khi thực dân đến xâm lược, Đắk Nông là vùng hoang sơ, nông dân các dân tộc thiểu số ở đây chủ yếu dựa vào nương rẫy, du canh du cư, trong đó săn bắn hái lượm còn đóng vai trò chủ yếu trong việc đảm bảo cuộc sống hàng ngày Đây là nguồn sống của hầu hết dân cư Phương thức và trình độ sản xuất của nông dân còn rất đơn giản, họ vẫn sử dụng những công cụ thô sơ và lạc hậu Công cụ sản xuất là dùng xà gạt, rìu để chặt cây, cuốc để xới đất, gậy chọc lỗ tra hạt, dùng vằng và cào để làm cỏ, liềm để cắt lúa và tuốt lúa bằng tay, lấy chân vò hạt Chỉ đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tây Nguyên được hoàn toàn giải phóng, các cấp Hội Nông dân chuyển từ chỉ đạo phong trào đấu trang cách mạng sang tập trung chỉ đạo phong trào phát triển sản xuất, làm kinh tế, nông dân Đắk Nông mới từng bước tiến hành trồng lúa nước trên quy mô rộng lớn, đồng thời tìm kiếm những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao để sản xuất nhằm từng bước xóa đói, giảm nghèo
Nông dân sống trên địa bàn Đắk Nông chủ yếu là đồng bào dân tộc M’Nông và một số đồng bào người Ê Đê, Mạ Từ lâu, dân tộc M’Nông được phân chia theo từng nhóm địa phương và mỗi nhóm mang sắc thái văn hoá riêng: M’Nông Gar, M’Nông Chil, M’Nông Biệt, M’Nông Preh, M’Nông R’lam, M’Nông Noong Bên cạnh đó còn có M’Nông Tibiri ở bắc đường 14 thuộc huyện Cư Jút, đến nay vẫn ở nhà sàn, nếp sống văn hoá gần giống với người Êđê Ngoài ra, còn có một số dân tộc thiểu số các tỉnh phía Bắc chuyển vào làm ăn sinh sống ở Đắk Nông Một số nghề thủ công đã đạt tới trình độ tinh tế như nghề dệt sợi, thêu nhuộm hoa văn trên nền vải, nghề đan lát đồ dùng trong gia đình bằng tre mây, nghề rèn để sửa chữa, cải tiến và sáng chế ra những công cụ lao động và
cả vũ khí
Nhìn chung, tỉnh Đắk Nông cũng giống như một số tỉnh Tây Nguyên khác, nông dân còn thưa thớt, họ chủ yếu sống bằng nghề nông, ít có các nghề phụ để sản xuất ở những thời điểm nông nhàn Đa số các dân tộc thiểu số đều sống ở khu vực nông thôn, còn ở khu vực trung tâm thị trấn phần lớn là người Kinh, làm nghề buôn bán Hầu hết là lao động phổ thông, số lao động chuyên môn còn thấp Đây
là trở ngại khá rõ nét trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cho người nông dân; hơn nữa nền kinh tế phát triển chậm, những mối quan
hệ truyền thống của các dân tộc còn tồn tại lâu dài, cũng là những rào cản nhất định đối với nông dân Đắk Nông trong quá trình vươn lên thoát nghèo
Trang 13Cũng như nhiều dân tộc khác ở vùng Tây Nguyên, người dân tộc M’Nông trong quá trình lao động sản xuất, đấu tranh để tồn tại và phát triển, đã hình thành một nền văn hoá rất phong phú và giàu bản sắc dân tộc Việt Nam.
Tuy chữ viết xuất hiện muộn, nhưng đồng bào bản địa trên địa bàn Đắk Nông có một kho tàng văn học dân gian truyền miệng rất phong phú, bao gồm cả
ca dao, tục ngữ, truyện cổ, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn, trường ca Đồng bào M’Nông ở Đắk Nông còn lưu giữ khá nhiều di sản văn hoá quý giá, bước đầu được khai thác, công bố trong một số công trình Nhiều nghệ nhân người M’Nông
có những đóng góp lớn vào sưu tầm, biên soạn, dịch thuật các loại văn học dân gian ở Đắk Nông và một số huyện lân cận: Tiêu biểu như hát kể chuyện trường ca
Ốt N’rông, ngoài ra còn có hàng vạn câu ca dao, tục ngữ được lưu truyền từ thế
nữ Ngoài ra, trong đồng bào dân tộc M’Nông còn lưu giữ một số hình thức dân
ca như: Ru con (chiêng con), hát đố (tăm hôr), hát khóc (M’im bôk, M’im khít), hát kể gia phả (Nkok yao)
Để phục vụ cho đời sống sinh hoạt hàng ngày và sản xuất nông nghiệp, Người M’Nông có một hệ thống nghi lễ khá phong phú Họ không có một ngày lễ nào chính thức, chỉ đón lễ bằng các ngày hội vui mùa gặt, lễ trừ sâu bọ, lễ cúng lúa sắp trổ đòng Trong nhóm nghi lễ đó có cả nghi lễ gia đình, như lễ làm nhà mới, lễ cho người sắp đi xa hay ở đâu về Cộng đồng người M’Nông còn lưu giữ một kho tàng luật tục dưới hình thức văn vần, truyền miệng Nội dung của luật tục hầu hết đề cập đến các mối quan hệ xã hội như: Hôn nhân gia đình, phong tục tín ngưỡng Luật tục cũng quy định rõ những việc được làm và những việc không được làm, nếu một khi vi phạm sẽ bị xử phạt theo luật tục của buôn, bon Xã hội truyền thống được vận hành theo một quy luật và cũng từ luật tục này mà dân tộc M’Nông còn tồn tại dai dẳng các tập tục lạc hậu, ví dụ như lấy nhau cùng huyết thống, mê tín dị đoan
Trang 14Trong trang phục hàng ngày, nghệ thuật tạo hình được thể hiện rất sinh động Hoa văn trên nền vải của người dân tộc M’Nông chủ yếu tạo hình theo một
mô típ truyền thống được cách điệu bằng nhiều hình thức khác nhau Đàn ông, đàn bà M’Nông đều đóng khố, rộng chừng 20 phân và dài trên 1 thước, đàn bà ở những vùng như thị xã Gia Nghĩa, dọc theo quốc lộ 14 họ còn biết quấn Yêng, lấy khăn che ngực Trong những dịp lễ tết, đàn ông còn mặc thêm một cái áo ngắn không cổ, hở bụng và đàn bà thường quấn yêng màu tím đỏ Cộng thêm vào đó là những trang sức đi cùng trang phục rất đa dạng Họ thường đeo những vòng đồng, đeo chồng chất ở cổ tay, cổ chân, càng đeo nhiều bao nhiêu càng thể hiện sự giàu sang đến đó Đặc biệt người M’Nông còn có tập tục là đến tuổi trưởng thành họ
cà răng, căng tai cho to để đeo những miếng ngà voi hay miếng gỗ quý
Cùng với quá trình phát triển của đất nước và Tây Nguyên, từ sau năm
1975, tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội của tỉnh Đắk Nông đã có nhiều đổi mới
Cơ cấu các dân tộc ở Đắk Nông thay đổi nhanh chóng, tỷ lệ người dân tộc thiểu
số thấp hơn so với sự gia tăng của người Kinh từ các tỉnh đồng bằng di cư lên Từ
đó kéo theo nhiều biến động trong phương thức, kinh nghiệm canh tác, sản xuất nông nghiệp, sự chuyển biến trong đời sống văn hóa, tôn giáo… Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, sự vào cuộc mạnh mẽ của các ngành, các cấp, đặc biệt là các cấp Hội nông dân trên địa bàn Đắk Nông, hiện nay, trình độ dân trí của người nông dân ở Đắk Nông được nâng cao và đặc biệt có sự giao thoa giữa các nền văn hoá, giữa các vùng với nhau Trong quá trình giao tiếp, nông dân các dân tộc đã biết sàng lọc, học hỏi những cái hay, cái đẹp của các nền văn hoá tiên tiến,
từ đó bồi đắp làm phong phú thêm những nét văn hóa của Tây Nguyên, đồng thời xóa bỏ dần các tập tục, nghi lễ phiền toái, lạc hậu Nhờ đó, lực lượng nông dân Đắk Nông không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, họ không ngừng đổi mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, góp phần to lớn vào quá trình xây dựng Hội Nông dân Đắk Nông nói riêng và xây dựng quê hương Đắk Nông nói chung
II Truyền thống lịch sử nông dân các đồng bào dân tộc trên vùng đất Đắk Nông
Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời của dân tộc Việt Nam nói chung và Đắk Nông nói riêng với những chiến tích và dấu ấn tự hào đã tạo nên những truyền thống quý báu Truyền thống dân tộc nổi bật của quê hương Đắk Nông
Trang 15được thể hiện ở hai mặt chủ yếu: Xây dựng cuộc sống và bảo vệ quê hương, đất nước
Nói đến Tây Nguyên là nói đến lịch sử đấu tranh của các dân tộc chống các thế lực áp bức, bảo vệ hạnh phúc và cuộc sống của con người Trải qua hàng thế
kỉ trên vùng đất núi rừng hiểm trở, nơi mà sự chi phối và tác động của tự nhiên còn rất lớn, ngay từ đầu những người dân nơi đây đã sát cánh bên nhau trong cuộc chiến đấu với tự nhiên để sinh tồn và phát triển
Trong cuộc sống người dân không chỉ phải đối mặt với vấn đề cải tạo tự nhiên mà chính bản thân các dân tộc trên cao nguyên cũng liên tục phải đứng dậy đấu tranh chống áp bức, cường quyền Đây là một quy luật đấu tranh tất yếu của một xã hội có giai cấp Trong quá trình đấu tranh nói riêng và trong cuộc sống lao động sản xuất nói chung, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái đối với họ cũng trở thành một nét đẹp đạo lý được lưu truyền và phát huy từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác
Nổi bật nhất trong truyền thống của các dân tộc trên địa bàn Đắk Nông là truyền thống yêu quê hương, yêu đất nước, chống áp bức bóc lột, chống xâm lược
đô hộ Mảnh đất trên cao nguyên núi rừng đại ngàn đã hun đúc nên khí phách kiên cường, tinh thần chiến đấu dũng cảm và đặc biệt đã gây dựng một truyền thống yêu quê hương, yêu đất nước, yếu tố vốn là sức mạnh của dân tộc Việt Nam Trong lịch sử, các dân tộc Đắk Nông đã nêu cao một truyền thống đấu tranh kiên quyết chống áp bức, chống xâm lược, chống đô hộ Phong trào đấu tranh của Ama Sao (1889 - 1895), N’Trang Gưh (1900 - 1914) và đặc biệt là cuộc đấu tranh dưới
sự lãnh đạo của anh hùng N’Trang Lơng kéo dài gần 1/4 thế kỉ (1912 - 1936) đã cho thấy truyền thống đấu tranh bất khuất của người dân Đắk Nông Truyền thống bất khuất đó còn được phát huy mạnh mẽ trong cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện của dân tộc trong 30 năm chống Pháp và chống Mỹ (1945 - 1975) Sau ngày giải phóng, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, một lần nữa nhân dân các dân tộc Đắk Nông lại chứng tỏ sức mạnh của truyền thống
đó trong việc đập tan, ngăn chặn mọi thế lực xâm lược, thù địch chống phá cách mạng
Tất cả những truyền thống quý báu trên, chúng ta còn bắt gặp trong những truyền thuyết lịch sử, truyện kể dân gian và đặc biệt là những bộ sử thi của những dân tộc anh em trên địa bàn Tây Nguyên phản ảnh về công cuộc đấu tranh dựng
Trang 16nước và giữ nước Truyền thống lao động, hòa nhập với thiên nhiên, lấy núi rừng làm không gian sinh tồn; tạo lập những giá trị tri thức bản địa phong phú, quý báu Trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Đắk Nông ngày nay, việc bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống đó là điều hết sức cần thiết Đây là yếu tố tiền đề cho phát triển của Đắk Nông nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.
Trang 17Đến cuối thế kỷ XIX, cùng với quá trình thôn tính toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, thực dân Pháp bắt đầu đưa đội quân viễn chinh lên xâm chiếm vùng đất giàu có nhưng hoang sơ này Năm 1894, khi thực dân Pháp đưa hai toán quân đi theo thung lũng sông Ba và sông H'Năng lên cao nguyên M'Nông đã gặp sự kháng cự mãnh liệt của đồng bào Đến năm 1896, Pôn Đume (Paul Dourme) sang làm toàn quyền Đông Dương đã phát động cuộc chinh phạt vùng đất Tây Nguyên
và đưa ra một loạt chính sách nô dịch và thống trị các dân tộc Đông Dương nói chung và đồng bào Tây Nguyên nói riêng, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa và quân sự Năm 1898, quân Pháp từ Kratiê (Campuchia) tập trung lực lượng tấn công chiếm Buôn Đôn, sau đó tiến đánh các vùng Mê Khul, Mê Wan, Buôn Trấp, Buôn Chóa và lần lượt đưa quân chinh phục người Bih và đánh chiếm cao nguyên M'Nông Cũng trong năm 1898, Pôn Đume ra lệnh xóa bỏ chế độ sơn phòng của triều đình Huế đặt ở Nam-Ngãi-Bình, thay thế vào đó là việc thành lập các đồn, với nhiệm vụ nắm toàn quyền chỉ huy khu vực cả về quân sự, chính trị và hành chính Bộ máy sơn phòng cũ của triều đình Huế bị bãi bỏ phần lớn, bộ phận nhỏ còn lại trở thành thuộc hạ của bọn quan lại đồn Pháp Năm 1898, được coi là năm
mở đầu nền thống trị của Pháp ở Tây Nguyên
Đến những năm đầu thế kỷ XX, hàng loạt đồn lính của thực dân Pháp tiếp tục mọc lên bao vây lấy miền sơn nguyên Nam Đông Dương Chính từ các đồn trên vòng vây này, Đume và tay chân đã tung các phái bộ khoa học, quân sự-chính trị của chúng để điều tra, do thám, lấn chiếm dần miền sơn nguyên theo kiểu vết dầu loang Âm mưu của thực dân Pháp là tách miền sơn nguyên này thành một xứ, ở đó chúng sẽ thực hiện trực trị và độc quyền bóc lột các dân tộc Tuy nhiên, trên thực tế, khi thực dân Pháp về cơ bản đánh chiếm được Đắk Lắk
và bắt đầu áp đặt bộ máy cai trị, thì vùng cao nguyên M'Nông rộng lớn ở phía Nam vẫn là vùng quân Pháp chưa kiểm soát được và chúng gọi đây là Resgion Insoumis (vùng không khuất phục) Năm 1907, dưới thời Bernard (Bê Nanh) làm công sứ, chúng ước lượng chỉ "quy thuận" được 300 làng từ Buôn Ma Thuột đến M'Drak, còn khoảng 200-250 làng ở phía Bắc Buôn Hồ, phía nam sông Sêrêpôk chúng không thể "quy thuận" được2
Nếu như năm 1898 được coi là năm mở đầu nền thống trị của Pháp ở Tây Nguyên, thì đến năm 1908, thực dân Pháp chính thức đưa quân vào đánh chiếm cao nguyên Nam Tây Nguyên (cao nguyên M'Nông) và tại Đắk Lắk chúng xây
Trang 18dựng Nhà đày Buôn Ma Thuột Cho đến những năm 1909-1911, thực dân Pháp mới bình định được một số vùng cư trú của đồng bào M'Nông và thiết lập quận Đắk Song (một trong năm quận của tỉnh Đắk Lắk)
Cũng như ở Tây Nguyên, sau khi áp đặt được ách thống trị ở vùng cao nguyên M'Nông, thực dân Pháp bắt tay vào thực thi chính sách cai trị
Về kinh tế, để giải quyết khó khăn thiếu nguồn nhân lực cần thiết phục vụ
cho việc khai thác đồn điền, xây dựng đường sá, đồn bót trong điều kiện miền sơn nguyên đất rộng, người thưa, toàn quyền Đume đã thực hiện một cuộc cải cách chế độ thuế thân và chế độ xâu có sẵn Chúng tiến hành hủy bỏ chế độ thu thuế và hiện vật của triều đình nhà Nguyễn, thay vào đó là chế độ thu thuế bằng tiền, với nhiều thứ thuế vô lý như thuế trâu, thuế voi; bắt dân đi phu làm đường 14, khai hoang lập đồn điền, làm sở trà không công cho bọn chủ Pháp Xâu trước đây quy định bằng 10 ngày công ích, Đume cho tăng thêm một số ngày dành cho tư ích Thực tế lịch sử chứng minh rằng, chính sách xâu thuế thâm độc của Đume vẫn không đáp ứng được nhu cầu to lớn của thực dân Pháp về nhân lực, tuy vậy những chính sách ấy đã trở thành một trong những xiềng xích cột chân người dân miền núi Đắk Nông vào các đồn điền, công trình làm đường sá và đồn bót của bọn thực dân, dẫn đến cảnh nghèo đói, lạc hậu, bệnh tật và dân số ngày càng giảm Sau khi tiến hành xâm chiếm Tây Nguyên, số đồn điền trên địa bàn tăng lên nhanh chóng
Từ một vài đồn điền đầu thế kỷ XX đã tăng lên hàng trăm đồn điền vào những năm 30 Riêng năm 1926, có 27 đơn xin lập đồn điền, với diện tích chiếm đoạt lên tới 17 vạn hécta trên địa bàn Đắk Lắk, nơi có đất đai màu mỡ ở Nam Tây Nguyên
Về quân sự, âm mưu của Đume là thành lập những lực lượng vũ trang
người bản địa miền núi, dùng làm công cụ đàn áp phong trào cách mạng và làm bia đỡ đạn cho chúng khi chiến tranh xảy ra Theo lệnh của Đume, một đội lính khố xanh - bảo an (viết tắt là GM) được thành lập với 1.500 tên, được bố trí ở các đồn; đồng thời tuyển mộ cho quân đội thuộc địa Pháp 5.000 lính khố đỏ người Ê
đê, Giarai và Bana3
Với mưu đồ thâm độc, thực dân Pháp thẳng tay dùng vũ lực đàn áp đồng bào các dân tộc; mặt khác, chúng dùng chính sách mua chuộc, lôi kéo một số tộc trưởng, tù trưởng để khống chế dân chúng
3 Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Nông (1930-2005), Đắk Nông, 2006, tr 22.
Trang 19Ở những nơi hiểm yếu và ở các đầu mối giao thông quan trọng Chính quyền thực dân xây dựng một hệ thống đồn bót Như các đồn Di Linh, Đắk Mil, BuMêra (còn gọi là đồn Hăng Ri Mét), đồn Poupasra, đồn BùĐôp, Bujeng Drơm
Để bình định vùng Tây Nguyên, thực dân Pháp cử nhiều quan chức có kinh nghiệm: Năm 1931, Toàn quyền Patxkiê và chỉ huy quân đội Pháp Billotta nghiên cứu kế hoạch bình định vùng M'Nông; từ năm 1932 đến 1934, thực dân Pháp liên tiếp đưa các tên quan ba Maillard, Quillot, Séré de Riirere, Ledgrine Loeur và thiếu tá Nyo chỉ huy các đội quân bình định Cao nguyên M'Nông
Nhằm dập tắt sự chống đối của nhân dân, thực dân Pháp tiến hành nhiều cuộc càn quét quy mô lớn với sự yểm trợ của máy bay, pháo binh đồng thời thực
hiện chính sách "đốt sạch, giết sạch, phá sạch", đàn áp, khủng bố dã man đối với
các cuộc đấu tranh của công nhân trong đồn điền, tù chính trị trong nhà đày Buôn
Ma Thuột
Về chính trị, thực dân Pháp thực hiện chế độ "trực trị", tách vùng Tây
Nguyên ra khỏi sự quản lý của triều đình nhà Nguyễn, dùng quân đội và bộ máy hành chính của Pháp trực tiếp cai trị đồng bào Tây Nguyên Cùng với việc xây dựng bộ máy hành chính, chính quyền thuộc địa còn ban bố những luật lệ để ngăn cản mọi sự giao lưu giữa đồng bào các dân tộc với đồng bào Kinh; kích động chủ nghĩa bài Kinh, ngăn trở mọi ảnh hưởng tư tưởng cách mạng tiến bộ vào Đắk Lắk
và vùng Tây Nguyên Đối với nhân dân ở Tây Nguyên, ngoài việc thực hiện chính sách “chia để trị”, thực dân Pháp còn thực thi chính sách “đóng cửa”, hạn chế đến mức tối thiểu việc đưa người Kinh, người Kh’me, người Lào vào Tây Nguyên; đồng thời tìm cách chia rẽ, cô lập giữa đồng bào dân tộc với nhân dân từ nơi khác tới, chia rẽ sâu sắc giữa đồng bào các dân tộc Tây Nguyên; Bộ máy tuyên truyền của chúng đẩy mạnh hoạt động kích động tư tưởng bài Kinh, gây sự nghi kị, thù
hằn giữa các dân tộc Đặc biệt là "biệt đãi" hai dân tộc Êđê và Giarai, nhất là
Êđê; bạc đãi khinh miệt các dân tộc khác Bên cạnh đó, để lôi kéo, mị dân đồng bào dân tộc, chúng còn mở một số trường đào tạo văn hóa theo hình thức nội trú với chế độ bao cấp của chính quyền thực dân Đối tượng được đi học tại đây phần lớn là con em viên chức, tổng lý và người dân tộc Êđê và Giarai
Cùng với âm mưu nham hiểm, mua chuộc dụ dỗ, chính quyền thuộc địa tập trung xây dựng và cải tạo nhà tù, trại giam ở Tây Nguyên để giam cầm, lực lượng chống đối Đặc biệt sau cao trào cách mạng 1930 - 1931, thực dân Pháp đã bắt và đày lên nhà lao Buôn Ma Thuột trên 30 chiến sĩ cộng sản Từ tháng 5 đến tháng
Trang 2011-1931, thực dân Pháp mở rộng, xây dựng kiên cố nhà đày Buôn Ma Thuột Cùng với việc xây dựng nhà đày Buôn Ma Thuột chúng còn xây dựng trại giam trên các công trường làm đường ở km 5, 24, 27, 33 Các trại giam, nhất là Nhà đày Buôn Ma Thuột nơi đày biệt xứ và giam giữ tù nhân trong những điều kiện khắc nghiệt nhằm hành hạ họ về cả thể xác lẫn tinh thần, làm cho tù nhân kiệt sức, không còn ý chí đấu tranh, từ bỏ lý tưởng cách mạng.
Tuy nhiên, khi buôn làng bị quân xâm lược giày xéo, đồng bào không chỉ bị mất nương rẫy, bị bóc lột đến tận cùng, mà phong tục tập quán bị chà đạp, thì sự tàn bạo, dã man của thực dân xâm lược không những không khuất phục được người dân nơi đây, mà càng thúc đẩy quá trình giác ngộ ý thức đấu tranh vì lợi ích sống còn của buôn làng, của dân tộc thêm mạnh mẽ và sâu sắc
Các phong trào nông dân Đắk Nông tham gia phong trào yêu nước chống thực dân Pháp trước khi có Đảng
Trước sự xâm lược, thống trị, áp bức hà khắc của thực dân Pháp và trước sự bạc nhược của triều đình phong kiến, từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trên khắp đất nước Việt Nam đã nổ ra hàng loạt phong trào đấu tranh bảo vệ quê hương, xóm làng, thôn bản của các dân tộc, các giai cấp và tầng lớp trong xã hội, trong đó có cuộc đấu tranh kiên cường của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung và Đắk Nông nói riêng
Dưới sự lãnh đạo của các vị tù trưởng, tộc trưởng, tiếng súng chiến đấu của nông dân trên cao nguyên M'Nông đã diễn ra liên tục và ngày càng phát triển mạnh mẽ Bắt đầu bằng cuộc nổi dậy của Mơ Thua (chi nhánh tộc Ê Đê ở M'Drak năm 1894), kế đó là cuộc nổi dậy của tù trưởng Ama Sao, người Buôn Tung, cách thị xã Buôn Ma Thuột 16km (1889-1905); cuộc nổi dậy của Oi H'Mai (tên thật là
Y Tòng) ở huyện M'Drak (1901-1909); cuộc nổi dậy của Ama Lai (1901-1907) Nét đặc sắc là hầu hết các cuộc nổi dậy của nông dân các dân tộc Tây Nguyên ngay từ đầu đều có sự tham gia của người Kinh ở dưới đồng bằng Đây là hình ảnh tiêu biểu cho sự đoàn kết chiến đấu trong cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, đó là chất keo được kết tinh từ máu lửa tạo nên truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam anh hùng
Sau khi liên tiếp đàn áp các cuộc khởi nghĩa của đồng bào Tây Nguyên, thực dân Pháp cử Hăng ri mét (Henri Maitre) lên cao nguyên M'Nông, chuẩn bị cho việc xây dựng một "tỉnh M'Nông, S'Tiêng tự trị" Từ đầu năm 1909, Hăng ri
Trang 21mét tung quân càn quét, uy hiếp tinh thần đồng bào sinh sống trên cao nguyên M'Nông, bắt dân làng phải bỏ nương rẫy đi phu dài ngày, gùi lương thực hàng hóa, mở đường sá, xây đồn trại Nhưng ngay từ khi đặt chân lên cao nguyên M’Nông, đội quân viễn chinh Pháp đã gặp phải cuộc chiến đấu kiên cường của đồng bào các dân tộc M’Nông, với tinh thần:
"Dân M'Nông ơi! Vùng lên đi!
Con gái đánh bằng chày giã gạo
Con trai đánh bằng dao găm, giáo mác
Tất cả giơ lên như bông lau lách
Giết bằng được thằng Hăng ri mét
Thì ta mới yên cái bụng làm rẫy xây làng "
Trong phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc trên cao nguyên M'Nông, tiêu biểu là hai cuộc chiến đấu do những người nông dân lãnh đạo: N’Trang Gưh và N’Trang Lơng lãnh đạo
N’Trang Gưh sinh ra ở Buôn Chóa, là tù trưởng có uy tín trong nhân dân M’Nông sống ở hạ lưu sông Krông Na Ông sớm nhận thấy ý đồ xâm lược và thôn tính của thực dân Pháp qua các toán trinh sát vào thăm dò vùng đất của người Bih, từ đó ông tự đứng ra tổ chức tập hợp thanh niên của 25 làng buôn trong khu vực để chuẩn bị chiến đấu giữ làng Đầu năm 1887, lính Pháp đóng đồn
ở Buôn Tour, có sự hỗ trợ của bọn lính đánh thuê Xiêm (Thái Lan), Miến Điện (Mianma) theo lệnh của tên công sứ Bourgios mở cuộc hành quân đánh vào căn
cứ của nghĩa quân tại Buôn Phok (vùng Buôn Trấp ngày nay) Cuộc hành quân này mang tham vọng vừa chinh phục đất đai vừa bình định, thôn tính một vùng đồng bào M’Nông chống đối nhằm mở đầu cho cuộc tiến quân sâu vào cao nguyên, đồng thời dập tắt hoàn toàn các cuộc nổi dậy đang âm ỉ khắp vùng đồng bào dân tộc Đây là một cuộc chiến không cân sức, so sánh lực lượng giữa nghĩa quân và thực dân Pháp quá chênh lệch, không có lợi cho cuộc đấu tranh của đồng bào dân tộc Tuy vũ khí thô sơ, nhưng với lòng quả cảm, với quyết tâm bảo vệ đất đai và buôn làng, 600 người trong hàng ngũ của nghĩa quân đã hát vang bài ca ra trận của dân tộc M’Nông Dưới sự chỉ huy của N’Trang Gưh, họ chiến đấu vô cùng dũng cảm, chặn đứng bước tiến của quân đội Pháp tại lưu vực sông Krông
Na, tiêu diệt gần hết một cánh quân địch trên cánh đồng Buôn Phok Bị thất bại,
Trang 22quân địch tiến hành chiến thuật vết dầu loang, đánh chiếm từng buôn và tiến hành bao vây rộng lớn nghĩa quân, đốt phá nương rẫy, vườn tược của họ Nghĩa quân phải chuyển sang thế phòng ngự, bảo vệ buôn làng và chuẩn bị lực lượng
Tháng 3-1900, quân Pháp lại mở cuộc càn quét lớn vào căn cứ của nghĩa quân, tên chỉ huy cuộc càn quét bị nghĩa quân chặn đánh, bỏ chạy thoát thân Nghĩa quân đã bao vây và tiêu diệt toàn bộ lính Pháp trong đồn Tour, diệt tên đồn trưởng Caniey, đồng thời giải phóng các Buôn Dfiêng, Dyou, Phety, Buôn Tinh, các bốt kẹp dân của chúng cũng bị tiêu diệt Cuộc chiến đấu kiên cường của đồng bào M’Nông chỉ kết thúc khi người lãnh đạo nghĩa quân N’Trang Gưh mất năm
1914
Kế tiếp cuộc chiến đấu của tù trưởng N’Trang Gưh là cuộc khởi nghĩa rất tiêu biểu của người M’Nông Biệt do N’Trang Lơng lãnh đạo kéo dài gần ¼ thế kỷ (1912-1936)
N’Trang Lơng sinh vào khoảng năm 1870 tại làng Bu Nơ Trang, là người M’Nông gốc Biệt Ông lớn lên trong hoàn cảnh quê hương, buôn làng bị thực dân Pháp nhòm ngó và xâm lược Trong một trận càn vào khu vực Pruxa, lính Pháp bắt được vợ và con gái của ông, sau đó hành hạ đến chết Để trà thù nhà và đòi nợ nước, ở tuổi 40 ông chính thức nhận vai trò lãnh đạo quân khởi nghĩa của người M’Nông vùng hạ lưu sông Krông Nô và Krông Na Ngoài lực lượng nghĩa quân
do ông trực tiếp chỉ huy, còn có nhiều lực lượng chiến đấu khắp nơi phối hợp đánh phá hậu phương của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại
Năm 1912, dưới sự chỉ huy trực tiếp của N'Trang Lơng, khoảng 300 nghĩa quân4 đã tiến hành đánh trận mở màn vào đồn Pu Sra, tiêu diệt hoàn toàn quân Pháp trong đồn Trận đánh đầu tiên này có sự tham gia đông đảo của nhân dân nhiều làng trong khu vực Sau trận đánh mở màn, nghĩa quân còn đánh nhiều trận tập kích vào các đoàn tiếp tế của Pháp trên đường Kra Chê đến Pujiu xra
Những năm 1912-1913, quân đội Pháp trở lại trả thù nghĩa quân của N'Trang Lơng Trước hành động dã man của thực dân, nghĩa quân N'Trang Lơng
đã rút vào rừng sâu để bảo toàn lực lượng Từ đầu năm 1914, nghĩa quân giành thế chủ động trong trận chiến với địch; nghĩa quân tập kích vào Bu Mtum đánh cánh quân dẫn đường của địch Trên cao nguyên M'Nông, thực dân Pháp xây dựng đồn Bu Mêra với hai trung đội lính khố xanh do Hăng ri mét trực tiếp chỉ
4 Gồm 150 quân Biệt của N'Trang Lơng và khoảng 150 quân Bunor của B'Heng Reng.
Trang 23huy Đây là đồn bót lớn nhất của thực dân Pháp trên cao nguyên M'Nông và là căn cứ xuất phát của các cuộc hành quân khủng bố trong hai năm 1912-1913 Quân khởi nghĩa của N'Trang Lơng đã tập kích tiêu diệt đồn Bu Mêra, khiến cho bọn Pháp khiếp sợ.
Để đánh đồn, N'Trang Lơng cùng nghĩa quân lập kế hoạch "trá hàng" Ngày 30-7-1914, một lễ kết minh được tổ chức có Hăng ri mét tham dự Nghĩa quân đã giết chết tên này tại làng Bu Nơr Ngày 31-7-1914, N'Trang Lơng cùng nghĩa quân cải trang thành lính Pháp đột nhập tiêu diệt đồn Bu Mêra, đốt trụi đồn địch, Y Linh và 6 tên lính bị tiêu diệt, nghĩa quân tịch thu toàn bộ kho tàng Sau chiến thắng Bu Nơr, Bu Mê ra, uy tín và ảnh hưởng của nghĩa quân lan rộng khắp vùng đất Tây Nguyên và miền rừng núi Đông Nam Bộ, các bộ lạc M'Nông, S'Tiêng nguyện đi theo nghĩa quân N'Trang Lơng
Đầu năm 1915, tên phó sứ tỉnh Kra Chê dẫn một toán quân đi đàn áp đồng bào M'Nông Nghĩa quân theo dõi và quấy phá chúng suốt dọc đường Đến ngày 14-1-1915, nghĩa quân bất ngờ tấn công vào bon Pu Tiêng, giết chết tên Mác găng (Margand) và một phần lớn quân lính, thu nhiều vũ khí Trận đánh này buộc thực dân Pháp rút hết số đồn còn lại, co hẳn vào vùng châu thổ Kra Chê, chúng lập một hành lang an toàn bằng một hệ thống đồn bốt, mỗi đồn có hai trung đội khố xanh đóng giữ Một mặt chúng tăng cường các cuộc càn quét, mặt khác thực hiện âm mưu bao vây kinh tế của nghĩa quân N'Trang Lơng, triệt để cấm đưa muối vào vùng cao nguyên M'Nông, gây cho nghĩa quân rất nhiều khó khăn với nạn thiếu muối, thiếu lương thực nghiêm trọng, nhưng nghĩa quân vẫn giữ được đội hình chiến đấu, mặc dù cũng có một số tù trưởng dao động, chạy theo địch
Cuộc hành quân tháng 10-1922 của tên Balat Ly Nek ở Chlong Phlas có thể xem là bước thăm dò lấn chiếm đầu tiên của Pháp ở sườn phía Tây cao nguyên M’Nông sau 5 năm chúng nằm im Cuộc hành quân đó đã bị nghĩa quân M’Nông Biêt tiêu diệt gọn ở Xrây Lovi
Sau vụ Lu Nek, phải đến năm 1926, Pháp mới lại mở một cuộc càn quét về phía này Lần này chúng tiến quân theo thượng lưu sông Prêk Chlong với mục đích ngoài việc dọn đường để chuẩn bị đưa lỵ sở đại lý Chlong Phlas sâu xuống phía Đông để còn bảo vệ sườn phía Tây cho các chiến dịch của chúng lúc này đang tiến hành trong vùng S’Tiêng Bù Đốp - Bà Rá ở Nam Kỳ năm 1927, sau nhiều khó khăn, lỵ sở đại lý Chlong Phlas cuối cùng đã dời xuống một địa điểm
Trang 24cách phòng tuyến phòng vệ 40km về phía Đông, sâu trong vùng người M’Nông Biêt Tuy nhiên, như Nyô đã nhận xét, ở vị trí này, “cho đến thậm chí năm 1935, đồn đại lý Chlong Phlas vẫn chỉ là một trung tâm có sức hút rất tồi”, có nghĩa là chúng không kiểm soát được bao nhiêu đối với dân người M’Nông Biêt5
Từ năm 1928 đến những năm 1930-1931 là thời kỳ Pháp mở đầu lấn chiếm trở lại Cao nguyên M'Nông, âm mưu này đã từng bước bị nghĩa quân của N'Trang Lơng làm thất bại hoàn toàn
Ngày 26-01-1931, Nghĩa quân N'Trang Lơng tổ chức một cuộc phục kích mưu trí tiêu diệt tên Gattin (Galtille) trên đường chúng tuần tiễu từ Bù Đốp đi Phale Khê (cách Srey Ktum khoảng 17km) Ngày 06-01-1931, N'Trang Lơng chỉ huy khoảng 200 nghĩa quân được trang bị súng và cung nỏ, tập kích đồn 65 của Pháp – một cứ điểm kiên cố, có hầm ngầm và dây thép gai bao quanh Sau một ngày chiến đấu, quân Pháp phải rút chạy Nghĩa quân tiếp tục chiếm giữ đồn và đánh tan quân tiếp viện, giết chết tên chỉ huy Lơcôngtơ (Leconte), đánh dấu việc nghĩa quân quét sạch bóng dáng quân đội Pháp khỏi cao nguyên M'Nông Sau sự kiện đó một phong trào chống Pháp bùng lên mạnh mẽ ở vùng ba ranh giới Từ tháng 2 đến tháng 12-1931, Pátxkia (Pasquier) toàn quyền Đông Dương và Bilốt (Billôte) tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương chuẩn bị một kế hoạch để đối phó với những cuộc nổi dậy của đồng bào M'Nông Theo đó, chúng quyết định một kế hoạch chiến lược là tập trung lực lượng bao vây khu vực có phong trào nổi dậy của đồng bào Mặt khác, chúng liên tục càn quét vùng trung tâm phong trào với lực lượng áp đảo Bắt đầu từ năm 1932, chúng thực hiện chiến dịch càn quét quy mô lớn Dưới sự lãnh đạo của nghĩa quân N'Trang Lơng, đồng bào M'Nông thực hiện phương thức "vườn không nhà trống", dời làng vào rừng sâu chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu Do sự chống trả quyết liệt của nghĩa quân, thực dân Pháp không đạt được mục đích, mà chỉ dựng thêm được hai đồn trong khu vực M'Nông
đó là đồn Budengrom (Bujengdrom) và Lơrôlăng (Lerolland), thuộc Campuchia (sát biên giới Việt Nam)
Từ năm 1931-1932 đến giữa mùa khô 1933-1934, bọn chỉ huy Pháp ở Đông Dương, mở đường tiếp tục xâm lược cao nguyên M'Nông Đây là thời kỳ thứ hai nghĩa quân N'Trang Lơng cùng nghĩa quân S'Tiêng đã đánh trả quân Pháp
5 Xem Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Nông, Phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng (1912-1936), Nxb Chính trị
quốc gia, H.2012, Tr.163.
Trang 25một cách quyết liệt Cuộc kháng chiến trên cao nguyên không chỉ được giữ vững
mà còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ
Trong tháng 02 và tháng 3-1933, thực dân Pháp huy động một lực lượng đông đảo, có pháo binh yểm trợ, từ nhiều hướng mở cuộc càn quét với quy mô lớn, tiến công vào căn cứ Nâm Nung – một trong những căn cứ quan trọng của N'Trang Lơng Cánh quân thứ nhất, xuất phát từ BuĐengrrum tiến đánh vào phía Đông núi Nâm Nung, do Gerber chỉ huy; cánh quân thứ hai, xuất phát từ căn cứ
Lơ rô lăng của Pháp (bên kia biên giới Campuchia) đánh vào hướng Tây Nam núi Nâm Nung; cánh quân thứ ba, xuất phát từ Bù Đốp (Đông Nam Bộ) tiến đánh vào phía Nam núi Nâm Nung Trong cuộc càn quét này, quân Pháp vừa tiến công quân sự, vừa đốt phá nương rẫy, buôn, bon và rừng núi của người M'Nông tại vùng căn cứ Nâm Nung để triệt nguồn lương thực, dồn người M'Nông và nghĩa quân N'Trang Lơng vào tình cảnh thiếu đói Tuy nhiên, nghĩa quân M'Nông đã chiến đấu kiên cường Nhiều trận đánh ác liệt, giằng co đã diễn ra tại vùng căn cứ Nâm Nung, nghĩa quân tiêu diệt được một lực lượng lớn quân Pháp
Ngày 20-10-1933, nghĩa quân N'Trang Lơng phục kích ở núi Bàrá, giết chết tên đại úy Morére; ngày 1-1-1934, tiến công đồn Căngrôlăng; ngày 2-1-1934, tiến đánh đồn Bukoh ở Bù Đốp
Vào mùa khô 1934-1935, thực dân Pháp đẩy mạnh việc rào làng, kìm kẹp nhân dân trên khắp cao nguyên M'Nông, do đó các cuộc nổi dậy của người Biệt càng trở nên sôi sục
Ngày 4-3-1935, đồn Đêhay của thực dân Pháp được dựng lên ở vùng Biệt
xa xôi, cách Căngrôlăng 82km Nhưng đồn vừa được dựng lên hôm trước thì hôm sau nghĩa quân N'Trang Lơng lập tức tiến công Lực lượng của nghĩa quân lúc này khoảng 300 người đã làm cho bọn chỉ huy và lính Pháp không kịp trở tay, đồn trưởng Căng rô lăng bị tiêu diệt cùng với một phần lớn binh lính Pháp Trận đánh làm kinh động đến bọn cầm quyền Pháp trong khu vực
Sau trận tập kích của nghĩa quân, Pháp tăng cường đàn áp phong trào đấu tranh của đồng bào Tây Nguyên, trong đó đặc biệt là phong trào của nghĩa quân N'Trang Lơng Tuy lực lượng của địch ngày càng mạnh, song dưới sự lãnh đạo của N'Trang Lơng cùng với hàng chục thủ lĩnh tài giỏi, nghĩa quân không hề bị suy giảm quyết tâm đánh giặc Từ ngày 20-3-1935, thực dân Pháp liên tiếp càn
Trang 26quét nhằm tiêu diệt nghĩa quân với hy vọng dập tắt được phong trào khời nghĩa của đồng bào các dân tộc trên cao nguyên M'Nông
Với lực lượng nghĩa quân tăng nhanh từ cuối tháng 3 sang tháng 4-1935, N'Trang Lơng đã chỉ huy tấn công liên tiếp quân Pháp Đặc biệt là hai trận đánh ngày 24 và ngày 29-4 tiến đánh vào đồn Gati Trong trận đánh ngày 29-4, một bộ phận nghĩa quân đã lọt được vào bên trong đồn địch, nhưng trước sự chống trả rất mạnh của quân Pháp, đợt tấn công của nghĩa quân đã bị Pháp đẩy lùi
Giữa tháng 5-1935, quân Pháp tập trung lực lượng, từ ba hướng: Nam Bộ đánh lên, từ Campuchia đánh sang, từ Đắk Lắk đánh xuống, tập trung tiến công đại bản doanh của nghĩa quân N'Trang Lơng Lxing R'ding - một vị chỉ huy đầy mưu lược và là cánh tay đắc lực nhất của N'Trang Lơng bị sa vào tay giặc Lương thực, thực phẩm, vũ khí và thuốc men của nghĩa quân tại vùng căn cứ Nâm Nung thiếu thốn nghiêm trọng Sau trận càn này, quân Pháp lập thêm nhiều đồn bốt, như đồn Hăng ri mét, đồn Boukok và nhiều căn cứ vệ tinh bao vây vùng căn cứ Nâm Nung, tiếp tục siết chặt vòng vây đối với nghĩa quân N'Trang Lơng Đến đầu mùa mưa năm 1935, trong một trận chiến đấu không cân sức, thủ lĩnh N'Trang Lơng bị trọng thương, cùng một số thủ lĩnh khác rơi vào tay giặc Ông hy sinh vào đêm ngày 23-5-1935 Sau khi N’Trang Lơng hy sinh, nghĩa quân vẫn tiếp tục chiến đấu, sang năm 1936 thì phong trào đấu tranh của nghĩa quân mới chấm dứt
Cuộc khởi nghĩa của N'Trang Lơng và phong trào chống Pháp của người nông dân các dân tộc trên cao nguyên M'Nông đã minh chứng cho lòng dũng cảm, tinh thần đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất nước Cuộc khởi nghĩa kéo dài hơn hai thập kỷ đã ghi một dấu mốc có ý nghĩa to lớn trong trang sử hào hùng của đại gia đình các dân tộc Việt Nam nói chung và các dân tộc Tây Nguyên nói riêng Phong trào đã khích lệ, cổ vũ các thế hệ nông dân người M'Nông, S'Tiêng, Ê đê, Mạ, Kinh, K'ho ở Đắk Mil và Đắk Nông nối tiếp nhau đứng lên chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai của chúng
Cùng với cuộc khởi nghĩa của N'Trang Lơng, phong trào đấu tranh chống bắt phu, bắt xâu, chống nộp thuế, nộp sản vật của nông dân các dân tộc trên Tây Nguyên đã diễn ra sôi nổi Năm 1933, phong trào đấu tranh của nông dân người ÊĐê đòi được tự do đi mua muối, chống nộp lúa, chống đi phu làm đường, không nộp trâu, phá đồn điền làm cho chính quyền thuộc địa hết sức lo ngại
Trang 27Cuộc chiến đấu chống quân xâm lược của nghĩa quân N'Trang Lơng và nông dân trên cao nguyên M’Nông bền bỉ, dũng cảm nhưng do những hạn chế của điều kiện lịch sử nên phong trào không tránh khỏi thất bại Cũng như các phong trào đấu tranh khác, cuộc khởi nghĩa đó còn thiếu một đường lối chính trị, một phương hướng lãnh đạo đúng đắn, lực lượng nhỏ yếu và bị phân tán, chưa phối hợp được với phong trào chung trong cả nước, nên bị cô lập và từng bước bị thực dân Pháp đàn áp Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa mãi mãi là niềm tự hào của nông dân các dân tộc Tây Nguyên, của nông dân Đắk Nông, là biểu tượng về sức mạnh
to lớn, của tinh thần yêu nước và tinh thần đoàn kết chiến đấu của đồng bào các dân tộc ít người ở Tây Nguyên cũng như ở Đắk Nông trước họa xâm lăng của thực dân Pháp Đó cũng là tiền đề để phát triển phong trào đấu tranh cách mạng của nông dân Đắk Nông dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cách mạng tháng Tám
1945 và trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
II Nông dân Đắk Nông tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng
Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta Ngay từ khi ra đời, Đảng đã quan tâm đặc biệt đến công tác vận động cách mạng trong vùng dân tộc thiểu số và vấn đề tổ chức vận động cách mạng đối với nông dân theo tư tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
Đường lối chiến lược và sách lược cách mạng được thể hiện trong Chánh
cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
soạn thảo, là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phù hợp và đáp ứng đúng nguyện vọng đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đắk Nông, Tây Nguyên nói riêng, của giai cấp công nhân, nông dân, các tầng lớp nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam nói chung
Dưới sự lãnh đạo của Đảng với một đường lối chính trị đúng đắn, từ đầu năm 1930 phong trào đấu tranh cách mạng của các giai tầng trong xã hội Việt Nam diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ từ Nam chí Bắc, từ đồng bằng đến miền núi Cuộc đấu tranh ngày 01-5-1930 là bước ngoặt, đánh dấu sự mở đầu phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển thành cao trào cách mạng mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh (tháng 8 và 9-1930) Mặc dù ảnh hưởng của cao trào hầu như chưa lan tới đồng bào, nông dân các dân tộc thiểu số trên địa bàn Ðắk Nông, nhưng
Trang 28phong trào cách mạng từ miền xuôi ít nhiều ảnh hưởng đến vùng Tây Nguyên và cuộc đấu tranh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vẫn kiên cường bất khuất làm cho thực dân Pháp chưa bao giờ rảnh tay kết thúc công cuộc bình định Tây Nguyên có vị trí chiến lược về quân sự, chính trị và giàu tiềm năng kinh tế.
Tháng 10 năm 1930, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Hương Cảng (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Phú,
đã thông qua Luận cương Chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương Đối với
giai cấp nông dân, Luận cương xác định rõ: “Dân cày là hạng người chiếm đại đa
số ở Đông Dương, họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền” Với nhận định ấy, Hội nghị đã ra Nghị quyết về việc chuẩn bị để tổ chức Tổng Nông hội Đông Dương, thông qua Điều lệ Tổng Nông hội và chủ trương thành lập các Đội tự vệ của nông dân
Cao trào đấu tranh của quần chúng nhân dân tiếp tục phát triển trong thời gian cuối năm 1930, đầu năm 1931 Trước sức mạnh đấu tranh của công nhân và nông dân Việt Nam, thực dân Pháp và tay sai tiến hành khủng bố trắng Hàng nghìn người yêu nước bị giết hại, bắt bớ, giam cầm Phong trào cách mạng bị dìm trong bể máu Hệ thống tổ chức Đảng bị phá vỡ, nhiều đảng viên cộng sản và quần chúng yêu nước bị bắt, bị giết Phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân tạm thời lâm vào thoái trào Để vượt ra khỏi khó khăn của tình hình, Đảng Cộng sản Đông Dương tập trung lãnh đạo khôi phục lại hệ thống tổ chức Đảng và qua đó khôi phục phong trào đấu tranh cách mạng; tháng 6-1932, Đảng công
bố Chương trình hành động Các tổ chức Đảng ở các miền, các vùng từng bước
phục hồi, trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh với nhiều hình thức và mức độ khác nhau Quá trình đấu tranh khôi phục tổ chức và lực lượng của Đảng diễn ra hết sức quyết liệt Địa bàn miền núi trở thành một trong những nơi các chiến sĩ cách mạng tạm lánh và việc giác ngộ cách mạng cho đồng bào dân tộc thiểu số được đẩy mạnh Tuy nhiên, do đặc điểm địa lý, phong trào cách mạng theo khuynh hướng vô sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn Ở khu vực Tây Nguyên, cuộc khởi nghĩa N'Trang Lơng bước vào giai đoạn kết thúc, sau đó, phong trào đấu tranh của nhân dân chống bắt phu, bắt xâu, chống nộp thuế nộp sản vật của đồng bào các dân tộc thiểu số diễn ra ở nhiều nơi Năm 1933, phong trào đấu tranh của đồng bào Ê
Đê đòi được tự do đi mua muối, chống nộp lúa, chống đi phu làm đường, không
Trang 29nộp trâu, phá đồn điền làm cho chính quyền thuộc địa ở Tây Nguyên hết sức lo ngại.
Tháng 3 năm 1935, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Ma Cao (Trung Quốc) đã thông qua “Nghị quyết về vận động nông dân” và “Nghị quyết về công tác trong các dân tộc thiểu số” Trong bản Nghị quyết về vận động nông dân đã chỉ rõ: Mục tiêu tranh đấu của giai cấp nông dân là đòi quyền lợi kinh tế hàng ngày, nông dân ở các vùng đồng bằng, miền núi và trung du phải đoàn kết và ủng hộ lẫn nhau trong phong trào đấu tranh chống đế quốc và phong kiến, về tổ chức tập hợp nông dân, Nghị quyết khẳng định: “Nông hội không phải là hình thức tổ chức duy nhất của nông dân Muốn thâu phục quảng đại quần chúng, phải tổ chức ra các Ban nông dân cách mạng ủy viên cho cả làng (xã) cả khu vực, những hợp tác xã tiêu thụ và buôn bán"
Tại Đại hội này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã đề ra những nội dung quan trọng về công tác trong vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong đó có
đề cập tới tình hình ở Tây Nguyên: "Nông dân bị sưu cao (ở Kon Tum, Buôn Ma Thuột con nít 14 tuổi đã chịu sưu), thuế nặng, công ích bề bộn, nợ nần đầy đầu đầy cổ Cuộc kinh tế khủng hoảng lại làm cho phần nhiều nông dân bị phá sản, công nhân kỹ nghệ và nông dân hoàn toàn theo lối tiền tư bản, không có giờ nghỉ ngơi Các lớp tiểu tư sản và các lớp trí thức nghèo cũng bần cùng hóa" Đồng thời, ca ngợi ý chí đấu tranh kiên cường của đồng bào các dân tộc ở Đồng Nai Thượng, Kon Tum, Cao Bằng, Lạng Sơn chống sưu cao, thuế nặng, chống đế quốc xâm chiếm đất và quyền tự trị
Đại hội cho rằng: “Lực lượng đấu tranh của các dân tộc thiểu số là một lực lượng lớn Cuộc giải phóng dân tộc của họ là một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương” và nhận định "chắc chắn rằng ở các xứ và các miền dân tộc thiểu số đã có điều kiện khách quan sẵn sàng cho sự phát triển cách mạng vận động"
Đại hội nhấn mạnh phải tăng cường cán bộ dân tộc thiểu số trong những cơ quan lãnh đạo của Đảng và các đoàn thể quần chúng: "Các cơ quan chỉ đạo của Đảng, của các đoàn thể cách mạng ở Ai Lao, Cao Miên, các tỉnh (như Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Cao Bằng, Lạng Sơn,v.v ), các phủ, huyện, châu, quận , các tổng, xã của các dân tộc thiểu số, thì phải thiết pháp đem các phần tử hăng hái hơn hết trong đám người dân tộc thiểu số vào choán đại đa số"
Trang 30Như vậy, thực tế cho thấy vấn đề vận động nông dân và vận động đồng bào dân tộc thiểu số đã được Đảng đề ra từ rất sớm trong các văn kiện Tuy nhiên, sau khi Đảng ra đời, do điều kiện chính trị - xã hội cụ thể, do trình độ nhận thức đường lối cách mạng của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế, đặc biệt là
do vị trí địa lý, địa hình có nhiều khó khăn, vì vậy phong trào đấu tranh của nông dân Đắk Nông trong thời gian đầu chưa tiếp nhận được ánh sáng cách mạng của Đảng Chỉ đến khi thực dân Pháp tiến hành xây dựng nhà đày Buôn Ma Thuột và sau đó là nhà ngục Đắk Mil để giam cầm các chiến sỹ cộng sản và khi nhà đày trở thành trường học cách mạng, nơi gieo mầm tư tưởng cách mạng vào trong quần chúng nhân dân, thì việc tổ chức vận động cách mạng trong quần chúng nông dân Tây Nguyên nói chung và Ðắk Nông mới được bắt đầu và từng bước phát triển
Cuộc đấu tranh bền bỉ và quyết liệt của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên chống chế độ thuộc địa đã bị thực dân Pháp tìm mọi cách đàn áp dã man Chúng
sử dụng mọi biện pháp tàn bạo và thâm độc để tiêu diệt lực lượng yêu nước và cách mạng, nhất là tiêu diệt những chiến sĩ cách mạng, những người tổ chức và lãnh đạo các phong trào đấu tranh Để giam cầm và tra tấn những người yêu nước, chính quyền thực dân đã dựng lên hệ thống nhà tù, trại giam với quy mô và tính chất khác nhau theo tổ chức hành chính, trong đó ở khu vực Tây Nguyên có nhà
tù Kon Tum, nhà đày Buôn Ma Thuột, trong đó có nhà ngục Đắk Mil6
Những năm 1931-1932, mặc dù thực dân Pháp thực hiện chế độ lao tù khắc nghiệt, nhưng các chiến sỹ cộng sản đã tranh thủ tìm mọi cơ hội để tổ chức móc nối với bên ngoài; bắt đầu bằng việc giáo dục, tuyên truyền một số binh lính và nhân viên y tế phục vụ tại nhà đày Thấy được sự thống trị hà khắc, tàn bạo của thực dân Pháp đối với đồng bào mình, số anh em này từ chỗ cảm phục các chiến
sỹ cộng sản đã tự nguyện làm những việc thiết thực như chăm sóc, cứu chữa tù nhân mỗi khi các đồng chí trong tù bị đau ốm; tạo điều kiện cho các chiến sỹ cộng
6 Từ khi thực dân Pháp dời tỉnh lỵ Đắk Lắk từ Buôn Đôn về Buôn Ma Thuột, chúng đã cho xây dựng một nhà lao tại Buôn Ma Thuột Trong khoảng ba thập kỷ đầu thế kỷ XX, nhà lao Buôn Ma Thuột chỉ là một nhà lao có quy mô nhỏ hẹp, dùng để giam những người dân địa phương "can tội "chống bắt xâu, nộp thuế, chống cuộc xâm chiếm và cai trị của thực dân Pháp tại Đắk Lắk Sau đó nhà lao còn là nơi giam cầm những tù nhân từ nơi khác đến.Từ năm 1930-1931, các tù nhân bị đày lên Buôn Ma Thuột chủ yếu là những người yêu nước, những đảng viên cộng sản bị bắt và xử án nặng Họ bị chính quyền thực dân coi là những phần tử nguy hiểm Thực dân Pháp
đã biến nơi đây thành địa ngục đày ải các chiến sĩ cách mạng bị bắt trong phong trào cách mạng của cả nước
Trang 31sản gặp nhau trao đổi tin tức và dần dần trở thành những người giác ngộ cách mạng.
Năm 1932, nhờ sự giúp đỡ của các nhân viên y tế, các chiến sỹ trong nhà đày đã lập ra Hội Tương tế Để giúp nhau học tập, giữ vững khí tiết cách mạng, các chiến sỹ Cộng sản còn viết một số tờ báo chép tay (như tờ Yuan - Êđê, Tù nhân, Xiềng xích, Xích sắt ) và tìm cách bí mật chuyển ra ngoài cho học sinh, công nhân đồn điền và nông dân người dân tộc thiểu số chuyền tay nhau đọc để hiểu về Đảng, hiểu về cách mạng
Những năm 1936-1937, Mặt trận Bình dân thắng thế ở Pháp; trong nước Đảng chủ trương vận động thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương Tháng 3-
1937, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương lãnh đạo công nhân, nông dân
và các tầng lớp nhân dân khác tổ chức phong trào đấu tranh công khai
Về công tác vận động nông dân, Đảng chỉ đạo thành lập các tổ chức phù hợp với thực tế ở từng vùng, từng địa phương, dưới các hình thức như Nông hội, Hội tương tế, Hội ái hữu, Hợp tác xã Cùng với vận động cách mạng công khai, nhiều tài liệu hướng dẫn phong trào nông dân đã ra đời, trong đó có cuốn “Vấn đề dân cày” của Qua Ninh và Vân Đình, chỉ rõ: Vấn đề dân cày và vấn đề ruộng đất
là hai trong những vấn đề cốt tử của cách mạng
Chính trong thời điểm này, việc truyền bá ảnh hưởng cách mạng từ trong nhà đày Buôn Ma Thuột ra bên ngoài đã trở nên vô cùng cấp thiết Các chiến sỹ cộng sản vận động thành lập ra một số tổ chức để tăng cường tập hợp tù nhân như: Ban Vận động cách mạng, Nhóm Trung kiên, Cách mạng chiến sỹ đoàn Đồng thời, tích cực móc nối, giác ngộ thêm một số công chức, binh lính đang làm việc cho Pháp tại Buôn Ma Thuột, như Y Som, Y Blih, Y Wang Nhiều binh lính, công chức, viên chức, học sinh và cả một số nông dân đồng bào dân tộc bước đầu được tiếp thu ánh sáng cách mạng của Đảng
Từ tháng 7-1937 đến giữa năm 1938, đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đắk Nông và Tây Nguyên hưởng ứng phong trào Mộ Cộ (Bằng Trắng) Phong trào do hai thủ lĩnh người dân tộc K'ho tên là K'Voai và K'Mhòi khởi xướng từ buôn Đông Đò, xã Đinh Lạc, huyện Di Linh, tỉnh Đồng Nai Thượng Phong trào thành lập các tổ chức bí mật tới các buôn ấp, vận động đồng bào Thượng, Chăm, Kinh đoàn kết cùng nhau đánh Pháp, đóng góp tiền bạc, sắm vũ khí Từ Di Linh,
Trang 32phong trào nhanh chóng lan ra nhiều huyện ở Lâm Đồng và Bình Thuận, thu hút hàng vạn nông dân tham gia.
Trước sự phát triển nhanh chóng của phong trào, thực dân Pháp đã tiến hành đàn áp dã man, bắt hai thủ lĩnh Ngày 13-12-1938, chúng lập tòa án Di Linh, kết án 14 người về tội “âm mưu làm loạn chống chính quyền”, với án từ 7 đến 20 năm tù khổ sai
Không run sợ trước sự khủng bố của kẻ thù, ở nhiều nơi đồng bào các dân tộc vẫn đoàn kết tiếp tục đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột của chính quyền thuộc địa và tay sai của chúng
Từ cuối năm 1939 đầu năm 1940, thực dân Pháp phát xít hoá bộ máy cai trị, ra sức khủng bố phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo; thẳng tay đàn áp, bắt bớ các chiến sĩ yêu nước và cách mạng Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1940, tháng 5-1941 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xúc tiến chuẩn bị khởi
nghĩa vũ trang giành chính quyền Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: “Trong lúc này,
quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong các quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”7 Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, đấu tranh giải phóng dân tộc Chương trình Việt Minh, điều lệ các tổ chức quần chúng được phổ biến rộng khắp trong cả nước, tạo nên bước phát triển vượt bậc trong quá trình vận động giải phóng dân tộc Tại Hội nghị, Đảng cũng xác định: “Nông hội từ nay gọi tên
là Việt Nam Nông dân Cứu quốc hội” và trở thành một bộ phận của Mặt trận Việt Minh, có nhiệm vụ tập hợp đông đảo nông dân đứng lên đấu tranh giành độc lập, gắn với mục tiêu sung công ruộng đất của thực dân phong kiến, xóa bỏ thuế thân, xóa bỏ địa tô của địa chủ
Địa bàn Đắk Nông và Tây Nguyên tuy chưa có tổ chức Đảng, nhưng ảnh hưởng
và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đến với phong trào đấu tranh của các dân tộc
7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 7, tr 113.
Trang 33Tây Nguyên, đến với nông dân Đắk Nông bằng một con đường riêng, qua nhà đày Buôn Ma Thuột và sau đó là nhà ngục Đắk Mil8 Nhà ngục Đắk Mil được xây dựng trên một khoảnh đất cách tỉnh lỵ Buôn Ma Thuột gần 50km, được bao quanh bằng một hàng rào gỗ chồng khít nhau và hai lớp rào thép gai bên ngoài Chúng muốn biến Nhà ngục Đắk Mil thành một địa ngục trần gian ở cao nguyên M’Nông Nhà ngục Đắk Mil là một “biệt giam” nằm trong cụm nhà tù của Nhà đày Buôn Ma Thuột, nhưng đây là nơi chính quyền thực dân giam giữ những tù nhân chính trị nguy hiểm ở Nhà đày Buôn Ma Thuột, mà theo chúng có ảnh hưởng nguy hại đến việc giam giữ và cải huấn các phạm nhân khác Bị đày lên Buôn Ma Thuột là những người bị kết án tù lâu năm (từ 7 năm trở lên), đó là những đồng chí lãnh đạo các phong trào đấu tranh trong cả nước như các đồng chí
Hồ Tùng Mậu, Phan Đăng Lưu, Tôn Quang Phiệt, Trương Vân Lĩnh, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Tạo, Lê Nam Thắng, Đoàn Khuê Bị đày xuống Đắk Mil lại là những đồng chí mà cai ngục cho là nguy hiểm nhất đối với chúng như các đồng chí lãnh đạo các cuộc đấu tranh trong nhà đày Buôn Ma Thuột
Thực dân Pháp đặt nhà ngục tại Đắk Mil còn nhằm khai thác, bóc lột sức lao động của tù nhân phục vụ cho việc xây dựng Đại lý Đắk Mil, khai thác thuộc địa Đồng thời, Nhà ngục Đắk Mil là nơi trừng trị những người “phản nghịch”, đặc biệt là những tù nhân chính trị Mọi chế độ vật chất, đồ dùng cho Nhà ngục Đắk Mil hàng ngày đều được chuyển về từ Nhà đày Buôn Ma Thuột9 Để phục vụ cho việc quản lý tù nhân nguy hiểm trong nhà ngục giữa cánh rừng hoang vắng, chính quyền thực dân thực thi chính sách thâm độc là chia rẽ, gây thù hằn giữa người Kinh và đồng bào các dân tộc, để khi tù nhân trốn trại chúng có thể qua người dân địa phương bắt lại
Một thắng lợi to lớn trong phong trào đấu tranh của những tù nhân chính trị nơi đây là quá trình chuẩn bị và thành lập Chi bộ Cộng sản trong nhà ngục Sau sự
8 S au khi Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ (năm 1939) hàng loạt nhà ngục ra đời ở những nơi rừng thiêng nước độc Để phục vụ ý đồ mở rộng và củng cố bộ máy cai trị ở cao nguyên M’Nông, cai quản đồng bào M’Nông, chính quyền thực dân Pháp lập Đại lý Đắk Mil, do người Pháp làm Đốc lý Khi Đại lý Đắk Mil chuẩn bị được xây dựng, năm 1940 thực dân Pháp lập thêm một nhà giam tại Đắk Mil, để đưa tù nhân từ nhà đày Buôn Ma Thuột xuống nhằm lợi dụng công sức và giết hại những người tù cộng sản bằng những công việc lao dịch nặng nhọc trên vùng đất cao nguyên M’Nông Hơn nữa, để trực tiếp phục vụ cho việc xây dựng tuyến đường xuyên qua cao nguyên M’Nông
9 Xem: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Nông, Lịch sử Di tích cách mạng Nhà ngục Đắk Mil (1941-1943), Nxb
Trang 34kiện thành lập Chi bộ Cộng sản trong nhà đày Buôn Ma Thuột vào cuối năm 1941 đầu năm 1942, năm 1943 một chi bộ cộng sản được thành lập trong ngục Đắk Mil Đồng chí Nguyễn Tạo được bầu làm Bí thư Chi bộ.
Hoạt động trong điều kiện lao tù nên nội dung trọng yếu của Chi bộ và mỗi đảng viên là giữ vững khí tiết người cộng sản, trung thành với Đảng, không dao động, cầu an, phải tham gia hoạt động trong tù, đi đầu trong hoạt động đấu tranh, vận động tù thường phạm, tuyên truyền binh lính, giám ngục
Chi bộ Cộng sản trong nhà ngục Đắk Mil xác định nhiệm vụ cụ thể là: Tổ chức và lãnh đạo các cuộc đấu tranh trong tù để bảo vệ quyền lợi vật chất và tinh thần cho tù nhân; Giáo dục, bồi dưỡng đảng viên và tù nhân về lý tưởng cách mạng, phương pháp hoạt động nhằm giữ vững khí tiết cộng sản và chuẩn bị hoạt động sau khi ra tù; Tiến hành móc nối, xây dựng cơ sở cách mạng trong tù và xung quanh; Tổ chức các cuộc vượt ngục, đưa cán bộ về cho Đảng và phong trào cách mạng
Chi bộ Cộng sản ra đời trong Nhà ngục Đắk Mil cùng với các tổ chức khác của nhà ngục như Hội tương trợ, lực lượng trung kiên đã tổ chức đấu tranh kiên cường chống chế độ lao tù hà khắc, chống đàn áp, giữ vững khí tiết cộng sản
Sự ra đời của Chi bộ trong Nhà ngục Đắk Mil là một thành công vô cùng to lớn trong phong trào đấu tranh của tù nhân tại Nhà ngục Đắk Mil Có thể nói, từ đây cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Nông có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam10
Qua hai lần vượt ngục: Lần thứ nhất, ngày 5-12-1942, cuộc vượt ngục lần thứ nhất được tổ chức, tham gia nhóm vượt ngục gồm bốn đồng chí: Trương Vân Lĩnh, Nguyễn Tạo, Trần Doanh, Chu Huệ Cuộc vượt ngục đầu tiên của tù chính trị trong Nhà ngục Đắk Mil thành công, đánh dấu một bước tiến mới trong việc tổ chức bộ máy lãnh đạo của các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù đế quốc, khích lệ tinh thần đấu tranh và để lại những kinh nghiệm cho cuộc đấu tranh và vượt ngục của các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù đế quốc Cuộc vượt ngục lần thứ hai: diễn
ra trong tháng 6-1943, gồm ba đồng chí: Nguyễn Khải, Trần Tống và Vũ Nhân11
Bị thất bại liên tiếp trong việc cai quản và lợi dụng công sức của tù chính trị vào
10 Xem: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Nông, Lịch sử Di tích cách mạng Nhà ngục Đắk Mil (1941-1943), Nxb
CTQG, H.2013, Tr.66-67.
11
Trang 35xây dựng Đại lý Đắk Mil, trọng tâm là khai thác sức tù vào làm lò gạch, nhận thấy không thể đày ải tù nhân, những chiến sĩ cộng sản kiên cường tại ngục Đắk Mil được lâu hơn nữa, Pháp đã chuyển toàn bộ số tù nhân ở đây về Nhà đày Buôn Ma Thuột và cho phá Nhà ngục Đắk Mil.Thất bại ở Đắk Mil của thực dân Pháp chứng
tỏ rằng, chính sách khủng bố cực kỳ dã man của kẻ thù không thể ngăn trở được bước tiến của cách mạng mà trái lại, như lửa thử vàng, bền gan quyết chí đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng.
Là vùng nằm ở Nam Tây Nguyên, địa bàn rộng, dân cư thưa thớt, trình độ dân trí thấp, cán bộ thiếu, sự ra đời và lãnh đạo của các tổ chức Đảng trong những hoàn cảnh đặc biệt, ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
ở Ðắk Nông.Trong quá trình hoạt động đấu tranh trong tù cũng như việc phải đi lao dịch, các tù nhân luôn tranh thủ mọi cơ hội, tiến hành tuyên truyền, vận động, giác ngộ trước hết là binh lính người Thượng - một đối tượng được thực dân Pháp nhồi sọ và tin tưởng giao cho việc cai quản và đàn áp tù nhân, khi có điều kiện tranh thủ vận động nông dân quanh nhà lao và đồng bào trong vùng
Qua công tác tuyên truyền vận động và đặc biệt là những tấm gương đấu tranh kiên cường, bất khuất của những chiến sĩ cộng sản đã ra sức cảm hoá và giáo dục to lớn đối với những người trực tiếp tiếp xúc với tù nhân, và khi điều kiện cho phép, họ đã có tác động đối với nhân dân, đối với nông dân các dân tộc thiểu số trong vùng Chính vì thế, từ chỗ bị thực dân Pháp chia rẽ, các dân tộc Kinh - Thượng đã dần hiểu nhau và cùng ý thức được rằng, chỉ có đoàn kết làm cách mạng đánh đổ thực dân Pháp, phát xít Nhật và chế độ phong kiến tay sai, cuộc sống của họ mới thực sự sung sướng, tự do Từ nhận thức đúng đắn về vai trò của đấu tranh cách mạng, những đơn vị lính khố xanh người Ê Đê, M’Nông,
từ chỗ là công cụ bạo lực của thực dân Pháp để đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân, đã dần giác ngộ tinh thần yêu nước, độc lập dân tộc, đoàn kết Kinh - Thượng Cuối năm 1944, những chiến sĩ cộng sản vận động, xây dựng được những cơ sở cách mạng trong hàng ngũ lính khố xanh, giác ngộ tinh thần cách mạng cho họ để rồi sau này, trong Cách mạng tháng Tám, chính lực lượng này đã ngả về phía cách mạng, theo tiếng gọi chính nghĩa, tiếng gọi của độc lập dân tộc, tiếng gọi của Đảng, đứng lên làm chủ vận mệnh của mình
Trong những năm 1943-1944, dưới ánh sáng của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, ảnh hưởng của Đảng ngày càng lan rộng trên địa bàn Tây Nguyên nói chung và Đắk Nông nói riêng Điều đó ảnh hưởng tích cực đến sự chuyển
Trang 36biến về nhận thức tư tưởng của nông dân các dân tộc trên địa bàn Do vậy, phong trào đấu tranh cách mạng của nông dân nơi đây tiếp tục phát triển khá mạnh mẽ, qua đó chuẩn bị những điều kiện cần thiết để cùng với các giai tầng khác trên địa bàn vùng lên giành chính quyền khi thời cơ đến.
Những chiến sĩ cách mạng từ Nhà ngục Đắk Mil bị thực dân Pháp đưa về giam ở Nhà đày Buôn Ma Thuột, phát huy kinh nghiệm, truyền thống đấu tranh
và bản lĩnh cách mạng kiên cường đã được “thử lửa” ở địa ngục trần gian Đắk Mil, tiếp tục tổ chức các hình thức đấu tranh, toả sáng trong cuộc đấu tranh của các tù nhân trong Nhà đày Buôn Ma Thuột, góp phần tạo nên một đội ngũ cán bộ cốt cán, kiên trung, được trải nghiệm trong đấu tranh cách mạng, để cùng toàn dân tộc làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 vĩ đại12
III Nông dân Đắk Nông tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945
Năm 1945 tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến thuận lợi cho phong trào cách mạng ở Đông Dương Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, ngày 9-3-1945, phát xít Nhật tiến hành đảo chính, thay thế thực dân Pháp cai trị Đông Dương Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản
Đông Dương ra Chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, trong đó
Đảng ta xác định kẻ thù trực tiếp, trước mắt của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật và tay sai, đồng thời phát động cao trào kháng Nhật cứu nước trên cả nước làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa
Theo chủ trương của Trung ương Đảng, cũng như các địa phương trong cả nước, phong trào cách mạng ở Tây Nguyên nói chung, trên địa bàn Đắk Nông nói riêng bước vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, đẩy mạnh cao trào kháng Nhật cứu nước, chuẩn bị mọi điều kiện tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền
Trước tình hình mới, chi bộ và các tổ chức cách mạng trên địa bàn Tây Nguyên chủ trương tăng cường công tác tuyên truyền, giải thích đường lối, nhiệm
vụ cách mạng, tiếp tục xây dựng cơ sở cách mạng, chống lại những luận điệu tuyên truyền phản động của phát xít Nhật và tay sai Đồng thời, các đồng chí tìm mọi cách đưa chủ trương của Đảng vào sâu trong quần chúng nông dân Đắk Nông
để nông dân cùng với các giai cấp khác chuẩn bị lực lượng, tiến hành tranh đấu tiến tới giành chính quyền trên địa bàn
12 Xem: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Nông, Lịch sử Di tích cách mạng Nhà ngục Đắk Mil (1941-1943), Nxb
CTQG, H.2013, Tr.93-94.
Trang 37Tháng Tám năm 1945, sau khi đánh bại phát xít Đức, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật và trong vòng một tuần lễ, đánh tan đạo quân Quan Đông thiện chiến hơn một triệu tên của Nhật Ngày 14-8-1945, Nhật hoàng phải tuyên bố đầu hàng Đồng Minh và Liên Xô không điều kiện Tại Đông Dương, tinh thần lực lượng quân đội Nhật suy sụp, chính quyền tay sai hoang mang cực độ Thời cơ tổng khởi nghĩa đã đến Trung ương Đảng và Uỷ ban Mặt trận dân tộc giải phóng
ra lệnh tổng khởi nghĩa toàn quốc, giành chính quyền về tay nhân dân
Ngày 14-8-1945, mặc dù chưa nhận được chỉ thị của cấp trên, Ban Lãnh đạo lâm thời tỉnh triệu tập Hội nghị tại thị xã Buôn Ma Thuột chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền trong tỉnh Để bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi chắc chắn và không đổ máu, Hội nghị nêu ra 2 vấn đề lớn là tăng cường tuyên truyền, giác ngộ nhằm nắm chắc lực lượng bảo an binh, gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa trên địa bàn Đắk Lắk, Đắk Nông, trước hết là ở những vùng trọng điểm, những đồn điền có phong trào cách mạng phát triển mạnh và cử người liên lạc đi Khánh Hoà xin cán bộ tăng cường cho Đắk Lắk, Đắk Nông và bàn cách phối hợp hành động
Được tin nhân dân huyện Vạn Ninh và một số xã miền Tây huyện Ninh Hoà, Khánh Hoà khởi nghĩa giành chính quyền, tỉnh bộ Việt Minh Đắk Lắk quyết định và tiến hành thắng lợi cuộc khởi nghĩa mở màn tại đồn điền Ca Đa tối 17-8-
1945 Đây là cuộc khởi nghĩa từng phần giành thắng lợi đầu tiên ở Đắk Lắk
Tiếp đó, tại một số đồn điền khác trong tỉnh như đồn điền ở km 7, 17, 24,
29, các cơ sở Việt Minh lãnh đạo công nhân và nông dân đứng lên khởi nghĩa giành quyền làm chủ, ra mắt Uỷ ban Việt Minh Đó là những cơ sở đầu tiên trong tỉnh giành chính quyền về tay nhân dân lao động
Ngày 19-8-1945, đoàn cán bộ miền xuôi tăng cường cho Đắk Lắk gồm các đồng chí Huỳnh Bá Vân, Đào Xuân Quý đã về tới đồn điền Ca Đa và tin Khánh Hoà khởi nghĩa thắng lợi cổ vũ nhân dân các đồn điền và các buôn trong tỉnh tiếp tục đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân Chỉ trong ngày 19-8, được công nhân đồn điền Ca Đa hỗ trợ, nông dân Đắk Nông đã vùng lên giành chính quyền,
vì vậy chính quyền cách mạng được thành lập ở nhiều đồn điền và buôn ấp từ km
49 đến km 3 trên đường số 21 và dọc tỉnh lộ số 8 từ Buôn Ma Thuột đi Mê Wal Đồn điền Ca Đa được chọn làm nơi đặt cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo tổng khởi nghĩa trong toàn tỉnh
Trang 38Hội nghị bầu Ban Lãnh đạo khởi nghĩa, phân công cán bộ phụ trách công tác công vận, nông vận, binh vận và chờ đoàn cán bộ từ Nha Trang tăng cường
để tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền tại thị xã
Hội nghị cử Ủy ban khởi nghĩa do đồng chí Phan Kiệm làm Trưởng ban Hội nghị cũng đề cử người đứng đầu Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời do Phạm Sĩ Vịnh làm Chủ tịch
Tối 21-8-1945, đoàn cán bộ từ Khánh Hòa do đồng chí Bùi San dẫn đầu tăng cường cho Đắk Lắk về tới Buôn Ma Thuột lập tức cùng Ủy ban khởi nghĩa xây dựng kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh lỵ Đắk Lắk
15 giờ ngày 24-8-1945, cuộc mít tinh giành chính quyền diễn ra tại sân vận động thị xã Buôn Ma Thuột, quy tụ hơn 3.000 nông dân các dân tộc Êđê, Gia Rai, M’Nông và 500 lính bảo an binh, những người bỏ hàng ngũ địch đi theo cách mạng Đại biểu Mặt trận Việt Minh tuyên bố xoá bỏ chính quyền tay sai phản động của phát xít Nhật và thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân lao động, kêu gọi các tầng lớp nhân dân trong tỉnh ủng hộ chính quyền, tham gia xây
dựng cuộc sống mới Quần chúng hô vang các khẩu hiệu cách mạng: “Việt Nam
hoàn toàn độc lập”, “Ủng hộ Việt Minh”, “Đả đảo phát xít Nhật” Cuộc khởi
nghĩa giành chính quyền tại thị xã thành công rực rỡ
Tại các huyện và buôn trong tỉnh Đắk Lắk, trong đó có nhiều địa phương nay thuộc tỉnh Đắk Nông như Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’lấp, Krông Nô , dưới
sự lãnh đạo của cán bộ, hội viên Việt Minh, quần chúng nhân dân trong đó đa số
là nông dân đã đứng lên giành chính quyền thắng lợi
Ngày 23-8-1945, tại huyện lỵ Đắk Mil, trước cuộc mít tinh của đông đảo nông dân, đại diện Mặt trận Việt Minh huyện tuyên bố xoá bỏ chính quyền tay sai
bù nhìn, thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời huyện
Tại Đắk R’Lấp, nông dân các buôn khu vực Ba Biên Giới nổi dậy tham gia mít tinh lớn tại buôn Bu Prăng, do đồng chí Nguyễn Trọng Ba tổ chức chào cờ đỏ sao vàng và ảnh Bác Hồ, mừng cách mạng thành công Sau đó lần lượt mít tinh, thành lập chính quyền cách mạng ở các tổng, đập phá tượng đài Hăngrimet và dựng bia kỷ niệm N'Trang Lơng tại ngã ba biên giới
Tại huyện Đắk Nông, lúc này thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng, diễn biến cuộc đấu tranh giành chính quyền gặp nhiều khó khăn Đến 28-8-1945, được sự hỗ trợ của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Lâm Viên, tổng khởi nghĩa mới giành thắng lợi
Trang 39Mặc dù gặp nhiều khó khăn về khách quan và chủ quan, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại các địa phương trong địa bàn Đắk Nông đã diễn ra đúng thời điểm
và giành thắng lợi, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trong cả nước
Cách mạng tháng Tám thành công trên địa bàn Đắk Nông, nông dân các dân tộc trên địa bàn dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh đã vùng lên làm chủ vận mệnh của mình, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nông dân Tây Nguyên anh hùng nói chung và Đắk Nông nói riêng
Chương 3 NÔNG DÂN ĐẮK NÔNG THAM GIA KHÁNG CHIẾN CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP VÀ CAN THIỆP MỸ (1945-1954)
I Tình hình Tây Nguyên nói chung và vùng đất Đắk Nông nói riêng trước mưu đồ tái chiếm Việt Nam của thực dân Pháp
Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân vừa mới được
thành lập đã phải đương đầu với những khó khăn, thử thách của thù trong giặc ngoài Đất nước bị các thế lực đế quốc, phản động trong và ngoài nước bao vây và chống phá quyết liệt
Tháng 8-1945, theo thoả thuận của Đồng minh ở Hội nghị Pốtxđam (Posdam), gần 20 vạn quân của Chính phủ Tưởng Giới Thạch ồ ạt kéo vào nước
ta từ vĩ tuyến 16 trở ra làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật Theo chúng là lực lượng tay sai phản động trong hai tổ chức “Việt quốc” (Việt Nam quốc dân Đảng)
và “Việt cách” (Việt Nam cách mạng đồng minh hội) Phía Nam vĩ tuyến 16, quân đội Anh với danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp quân đội Nhật đã đồng lõa và tiếp tay cho thực dân Pháp quay lại Đông Dương Mặc dù bị thất bại ở Việt Nam, nhưng thực dân Pháp vẫn không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta Được các thế lực phản động tạo điều kiện, Pháp nhanh chóng triển khai kế hoạch tái chiếm Việt Nam Ngày 23-9-1945, chúng nổ súng gây chiến ở Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai Một số quân Nhật đã thực hiện lệnh của quân Anh, cầm súng cùng với quân Anh dọn đường cho quân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng ở miền Nam
Trang 40Nắm rõ vị trí và địa hình của khu vực quan trọng thuộc địa bàn Đắk Nông nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung, địch âm mưu dốc sức tái chiếm địa bàn này để giữ thế trận phòng thủ Tây Nguyên và bảo vệ Nam Đông Dương Biết rằng muốn chiếm được miền Nam thì phải kiểm soát được vùng cao nguyên có tầm chiến lược này, ngày 19-10-1945 quân Pháp đánh thành phố Nha Trang hòng chia cắt các tỉnh miền Trung và khống chế các tỉnh Nam Trung Bộ Ngày 11-11-
1945, có 40 chiếc xe chở trên 300 lính Nhật từ Sài Gòn theo quốc lộ 20 lên đánh chiếm B’Lao, Di Linh - thủ phủ tỉnh Đồng Nai Thượng và thành phố Đà Lạt (15-11-1945) Cùng thời gian trên Pháp đã kiểm soát được vùng Đông Bắc Campuchia và cả vùng Hạ Lào
Vào cuối tháng 11-1945, Pháp tập trung gần một vạn quân, có sự yểm trợ của xe tăng, máy bay và tàu chiến, tấn công vào các tỉnh Nam Trung Bộ theo hai hướng: hướng Đông, hướng quốc lộ 1 đánh chiếm các tỉnh ven biển miền Trung; hướng tây theo đường 14, đánh chiếm các tỉnh Nam Tây Nguyên, trong đó có vùng đất Đắk Nông
Sáng ngày 30-11-1945, lúc 9 giờ, quân Pháp có đại bác, súng cối bắn dẫn đường, từ Camrulăng, thuộc Campuchia, tiến vào vùng Ba ranh giới Khi đến phòng tuyến của ta, chúng dùng xe ủi đất để phá phòng tuyến, rồi đưa bộ binh ồ ạt xông lên sau để chiếm lĩnh trận địa Quân ta dựa vào công sự đã chiến đấu hết sức dũng cảm Nhưng do giặc còn khá mạnh mà ta thiếu kinh nghiệm chỉ huy, chiến đấu, nên Ban Chỉ huy mặt trận ra lệnh rút lui để bảo toàn lực lượng Đồng bào các dân tộc trong huyện sẵn sàng cung cấp lương thực và đưa dẫn bộ đội về tỉnh Đến đây, vùng Ba ranh giới bị rơi vào tay giặc
Mặc dù bị thất bại nhưng cuộc chiến đấu ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ đã
“cống hiến những kinh nghiệm đầu tiên nóng hổi hết sức quý báu cho nhân dân cả nước kháng chiến”13 Đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đắk Nông có vinh dự là một trong những địa phương anh dũng đánh Pháp đầu tiên Vì thế quân và dân huyện Đắk Nông, cũng nhưg quân và dân các vùng dân tộc Nam Tây Nguyên, rất
tự hào và phấn khởi được đón Thư khen của Bác Hồ kính yêu (12-1945).
Sau khi Pháp chiếm được vùng Ba ranh giới, ngày 1-12-1945, quân Pháp theo đường 14 chiếm thị xã Buôn Ma Thuột Cho đến cuối tháng 6-1946, thực dân
13 Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp -
Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 72