Thông qua đánh giá hiện trạng sử dụng đất giúp cho người lập quy hoạch lắm rõ đầy đủ và chính xác hiện trạng sử dụng đất cũng như các biến động về đất đai từ đó đưa ra những nhận định sử
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư sản xuất đặc biệt không có gì thay thế được, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình văn hoá, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, là yếu tố cấu thành lên lãnh thổ của mỗi quốc gia Vì vậy, việc sử dụng tài nguyên đất một cách hợp lý và có hiệu quả là hết sức cần thiết cho sự phát triển bền vững
Ngày nay, cùng với sự gia tăng dân số là sự phát triển kinh tế - xã hội
đã gây áp lực lớn đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đối với đất đai Cùng với đó là sự ô nhiễm môi trường ngày càng tăng cao làm cho tài nguyên đất đang ngày càng bị thoái hoá Vì vậy, để khai thác sử dụng đất đai lâu dài cần phải hiểu biết một cách đầy đủ các thuộc tính và nguồn gốc của đất, trong mối quan hệ tổng hoà với các điều kiên tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn
Xã Chiềng Sơ là một xã thuộc huyện Sông Mã, nằm ở phía Tây Bắc của huyện, cách trung tâm huyện 22km Trong những năm gần đây nền kinh
tế của xã có những bước phát triển nhảy vọt và hội nhập nhanh chóng với nền kinh tế của cả nước Tuy nhiên chính do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh
tế cùng với đó là sự gia tăng về dân số đã gây áp lực lớn về đất đai Vấn đề đặt ra là làm thế nào để sử dụng nguồn tài nguyên đất có hạn đạt hiệu quả tốt nhất nhằm nâng cao đời sống cho người dân, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội, phù hợp với thế mạnh của địa phương đồng thời đảm bảo được môi trường sinh thái để phát triển bền vững
Xuất phát từ thực tế nêu trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài có tên : “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất xã Chiềng Sơ – Huyện Sông Mã năm 2012”
1.2 Mục đích, ý nghĩa, yêu cầu
1.2.1 Mục đích
- Củng cố kiến thức đã học trên lớp và tiếp cân với công tác sử dụng đất cấp xã
Trang 2- Đánh giá được hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn xã Chiềng Sơ
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất phục vụ cho công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn xã trong thời gian tới
- Tìm ra xu thế và nguyên nhân gây biến động trong quá trình sử dụng đất của xã Chiềng Sơ, tạo ra cơ sở cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp nhằm khai thác thác tiềm năng đất đai, nâng cao thu nhập cho người dân của xã
- Tạo ra cơ sở cho việc định hướng sử dụng đất dài hạn phù hợp với tình hình và xu thế phát triển hiện nay
1.2.2 Yêu cầu
- Các số liệu tài liệu thu thập được phải có giá trị thực tiễn và pháp lý
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất phải đầy đủ, chính xác, đúng hiện
Trang 3PHẦN II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận của đánh giá hiện trạng sử dụng đất
2.1.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm về đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp, là đối tượng sản xuất đồng thời cũng là nơi sản xuất ra lương thực, thực phẩm và là nhân tố quan trọng hợp thành môi trường sống
Đất đai là một nhân tố sinh thái bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học
và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất (Theo FAO, 1976) Hiện nay, sự gia tăng dân số cũng như
sự phát triển của nền kinh tế xã hội đã gây ra một áp lực lớn tới đất đai Trong khi đó tài nguyên đất lại có hạn, vì vậy cần phải sử dụng hợp lý, đảm bảo được sự hiệu quả cũng như sử dụng lâu dài Để làm được như vậy chúng
ta phải đánh giá được tài nguyên đất
2.1.1.2 Khái niệm về đánh giá hiện trạng sử dụng đất
Đánh giá hiện trạng sử dụng đất là một bộ phận quan trọng trong việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên được sử dụng trong nền kinh tế quốc dân Đánh giá hiện trạng sử dụng đất là mô tả hiện trạng sử dụng từng quỹ đất như: nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở và đất chưa sử dụng
Để từ đó rút ra những nhận định, kết luận về tính hợp lý hay chưa hợp lý trong sử dụng đất, làm cơ sở để đề ra những hướng sử dụng đất sao cho hợp
lý, mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời nó cũng là cơ sở cho việc định
hướng sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
2.1.2 Mối quan hệ giữa đánh giá hiện trạng sử dụng đất với quy hoạch sử dụng đất và quản lý nhà nước về đất đai
2.1.2.1 Mối quan hệ giữa đánh giá hiện trạng sử dụng đất với quy hoạch sử dụng đất
Hiện nay việc sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch là rất quan trọng
Nó không chỉ góp phần làm cho đất đai được sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững mà còn giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai được tốt
Trang 4hơn Nhưng để có một phương án quy hoạch sử dụng đất hợp lý, có tính khả thi thì người lập phương án quy hoạch phải có sự hiểu biết sâu về hiện trạng
sử dụng đất cũng như điều kiện và nguồn lực của vùng lập quy hoạch Để đáp ứng được điều đó thì phải thông qua các bước đánh giá hiện trạng sử dụng đất Thông qua đánh giá hiện trạng sử dụng đất giúp cho người lập quy hoạch lắm rõ đầy đủ và chính xác hiện trạng sử dụng đất cũng như các biến động về đất đai từ đó đưa ra những nhận định sử dụng đất hợp lý với điều kiện hiện tại và trong tương lai Từ đó nói đánh giá hiện trạng sử dụng đất là cơ sở khoa học cho việc đề xuất những phương hướng sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả Vì vậy giữa đánh giá hiện trạng sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất có mối quan hệ khăng khít với nhau
2.1.2.2 Mối quan hệ giữa đánh giá hiện trạng sử dụng đất và công tác quản
lý Nhà nước về đất đai
Trong những năm gần đây do nhu cầu đất đai về các ngành đã làm cho quỹ đất có nhiều thay đổi, việc chuyển mục đích sử dụng đất, hiện tượng lấn chiếm tranh chấp đất đai xẩy ra thường xuyên đã làm cho công tác quản lý đất đai gặp nhiều khó khăn Vì vậy để quản lý chặt chẽ quỹ đất cần phải lắm bắt được các thông tin, dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất Công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất giúp cho các nhà quản lý đất đai cập nhật, nắm chác các thông tin về hiện trạng sử dụng đất một cách chính xác nhất, giúp cho các nhà quản lý chỉnh sửa bổ sung những thay đổi trong quá trình sử dụng đất Vì vậy có thể nói công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất có vai trò hết sức quan trọng đối với công tác quản lý Nhà nước về đất đai
2.2 Tình hình nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất trên thế giới
và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất trên thế giới
Trong những thập kỷ gần đây sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới và cùng với đó là sự bùng nổ về dân số đã gây áp lực rất lớn đối với tài nguyên đất Để giảm thiểu một cách tối đa sự suy thoái tài nguyên đất do thiếu trách nhiệm, sự thiếu nhận thức của con người, đồng thời tạo cơ sở cho
Trang 5những định hướng sử dụng đất theo quy hoạch và bền vững trong tương lai Công tác nghiên cứu về đất và đánh giá đất đã được thực hiện khá lâu và ngày càng được chú trọng hơn, đặc biệt đối với các nước phát triển
Từ những năm 50 của thế kỷ XX việc đánh giá khả năng sử dụng đất được xem như là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất Công tác nghiên cứu đánh giá về đất ngày càng thu hút các nhà khoa học trên thế giới đầu tư về thời gian lẫn chất xám, nó trở thành một trong những chuyên ngành nghiên cứu không thể thiếu đối với các nhà quy hoạch, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý trong lĩnh vực đất đai
- Cách đây hơn 4 nghìn năm, người trung quốc đã có sơ đồ thổ nhưỡng
và đã biết sử dụng đất cho việc đánh thuế (Nycle C.Brady, 1974) Nhưng mãi đến thế kỷ XIV sau Công nguyên việc đânhs giá đất mơi được đi sâu, nghiên cứu và ứng dụng ở châu Âu, đến giữa thế kỷ XIX, Đocutraiev đã đưa
ra cơ sở phân hạng đất theo quan ddiemr phát sinh, từ đó nhiều nhà thổ nhưỡng học trên thế giới đã đưa ra nhiều quan điểm và phương pháp đánh giá đất khác nhau Vì vậy có các luận điểm đánh giá đất của một số nước và tổ chức trên thế giớ như sau:
♦ Luận điểm đánh giá đât của Đocutraiev
- Đánh giá đất đai của Đocutraiev cho rằng để đánh giá đất đai có hiệu quả cần nghiên cứu khả năng tự nhiên của đất Theo ông khả năng tự nhiên của đất là yếu tố quyết định của đất và sự thu nhập từ đất
♦ Luận điểm đánh giá đất của Rozop và cộng sự
- Tại hội nghị Quốc tế về đánh giá đất lần thứ 10 tổ chức tại Matscơva năm 1974 luận điểm đánh giá đất của Rozop và cộng sự đã được trình bày tại đây và được nhất trí cao Nội dung luận ddiemr bao gồm những ddiemr sau:
+ Đánh giá đất phải phải dựa vào các vùng địa lý, thổ nhưỡng khác nhau có các yếu tố đánh gia khác nhau
+ Đánh giá đất phải phụ thuộc vào đặc điểm cây trồng
+ Đánh giá đất phải phụ thuộc vào trình độ thâm canh
+ Có mối quan hệ tương quan chặt chẽ giữa chất lượng đất và năng
Trang 6suất cây trồng
♦ Phân loại khả năng thích nghi đất đai có tưới (Inrrigation Land Suitabiliti Classification) của Cục cải tạo đất đai - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ năm 1951 Sau một thời gian nghiên cứu người ta đã phân loại bao gồm 6 lớp, từ lớp có thể trồng được đến lớp có thể trồng được một cách có giới hạn
và lớp không thể trồng được Mặc dù chưa được nghiên cứu một cách cụ thể chi tiết nhưng những kết quả của công trình nghiên cứu này đã có những ý nghĩa lớn trong việc sử dụng đất và công tác quản lý về đất đai Bên cạnh đó yếu tố khả năng của đất cũng được chú trọng trong công tác đánh giá đất ở Hoa Kỳ, do đó Kligebeil và Montgomery Vụ bảo tồn đất đai Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đề nghị năm 1964 Ở đây đơn vị bản đồ đất đai được nhóm lại đưa vào khả năng sản xuất của một loại cây trồng hay một loại cây tự nhiên nào
đó, chỉ tiêu cơ bản để đánh giá là các hạn chế của lớp phủ thổ nhưỡng với mục tiêu canh tác dự định áp dụng
♦ Luận điểm đánh giá đất của Pháp
Theo Đôlômông khả năng ảnh hưởng của đất rất lớn đến đặc tính dinh dưỡng của cây trồng và ở mức độ nhất định, sinh trưởng và phát triển và khả
năng cho năng suất cây trồng đã thể hiện được tính chất đất ( Luận điểm này
đánh giá đất theo độ phì)
♦ Liên Xô (cũ) có lịch sử hình thành và phát triển công tác đánh giá đất
từ lâu đời Năm 1917 việc đánh giá đất gắn liền với công tác địa chính mà tiên phong là hoạt động của Hội đồng địa chính thuộc Bộ tài sản Từ năm
1960 việc phân hạng và đánh giá đất được thực hiện theo 3 bước
Trang 7hành nghiên cứu và đưa ra dự thảo đầu tiên vào năm 1972, sau đó được Brinkiman và Smyth soạn lại và cho xuất bản năm 1973
Từ bản dự thảo này cùng với các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học hàng đầu của tổ chức FAO đã xây dựng nội dung phương pháp đánh giá đất đầu tiên (A Framewok For Land Evaluation), công bố năm 1976 Phương pháp đánh giá đất của FAO dựa trên cơ sở phân hạng thích hợp đất đai được thử nghiệm thực tế trên nhiều nước và nhiều khu vực trên thế giới đã có hiệu quả Qua nhiều năm sửa đổi bổ sung và đúc rút từ kinh nghiệm thực tế FAO
đã đưa ra nhiều tài liệu hướng dẫn cho các đối tượng cụ thể trong công tác đánh giá đất như sau:
+ Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa năm 1983
+ Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp có tưới năm 1985
+ Đánh giá đất đai cho trồng trọt đồng cỏ quảng canh năm 1989
+ Đánh giá đất đai cho mục tiêu phát triển năm 1990
+ Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất đai năm 1992
Hiện nay con người dần ý thức được tầm quan trọng của công tác đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất một cách bền vững, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái Do đó công tác đánh giá đất đai được thực hiện ở hầu hết các quốc gia và trở thành khâu trọng yếu trong hoạt động đánh giá tài nguyên đất hay trong quy hoạch sử dụng đất, là công cụ cho việc quản lý sử dụng đất bền vững ở mỗi quốc gia
2.2.2 Tình hình nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển lâu đời, từ thế
kỷ XV những hiểu biết về đất đai đã được chú trọng và đã được tổng hợp
thành nhiều tài liệu quốc gia như: “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, các tài liệu
của các nhà khoa học Lê Quý Đôn, Lê Tắc, Nguyễn Khiêm…
Trong thời kỳ Pháp thuộc cũng có nhiều nghiên cứu như:
- Công trình nghiên cứu: “Đất Đông Dương” do E.Mcastagnol thực
hiện và ấn hành năm 1842 ở Hà Nội
Trang 8- Công trình nghiên cứu ở miền nam Việt Nam do Tkatchenko thực hiện nhằm phát triển các đồn điền cao su ở Việt Nam
- Công trình nghiên cứu: “Vấn đề đất và sử dụng đất ở Đông Dương”
do E.Mcastagnol thực hiện và ấn hành năm 1950 ở Sài Gòn
Từ sau năm 1950 rất nhiều các nhà khoa học Việt Nam như: Tôn Thất Chiểu, Vũ Ngọc Tuyên, Lê Duy Thước, Cao Liêm, Trương Đình Phú, Thái Công Tụng … và các nhà khoa học nước ngoài như: V.M Fidland, F.E MoOrman, cùng hợp tác nghiên cứu xây dựng bản đồ thổ những Miền Bắc Việt Nam (Tỷ lệ 1:1.000.000), phân vùng địa lý - Thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam, bản đồ đất tổng quát miền Nam Việt Nam Ngoài ra còn có các nghiên cứu về tính chất vật lý, hoá học đất ở vùng đồng bằng sông Cứu Long, các nghiên cứu về đất sét, đất phèn ở Việt Nam, bước đầu đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc, từng bước nghiên cứu và áp dụng phương pháp đánh giá đất của FAO đưa ra
- Trong nghiên cứu và đánh giá quy hoạch sử dụng đất khai hoang ở
Việt Nam ( Bùi Quang Toản và nhóm nghiên cứu năm 1985), phân loại khả năng của FAO đã được áp dụng trên cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên, phân lớp thích nghi cho từng loại hình sử dụng đất
- Năm 1993 Tổng Cục Địa chính đã xây dựng báo cáo đánh giá hiện trạng sử dụng đất Nội dung của báo cáo này chủ yếu đề cập đến khả năng sản xuất thông qua hệ thống thuỷ lợi Bên cạnh đó Tổng Cục Địa chính đã thực hiện từng bước việc xây dựng các mô hình thử nghiệm lập quy hoạch sử dụng đất theo các cấp lãnh thổ hành chính khác nhau
- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất (Viện quy hoạch và thiết kế Bộ nông nghiệp năm 1994)
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất ở nước ta theo quan điểm sinh thái
và phát triển lâu bền là nội dung của đề tài “ KT 02 – 09” (do PSG.TS Trần
An Phong làm chủ nhiệm năm 1995) Nghiên cứu này được xây dựng trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững để đánh giá hiện trạng và khả năng sử dụng đất
Trang 9Trong giai đoạn 2001 – 2005 các đề tài cấp bộ, các đề tài hợp tác Quốc
tế Viện thổ nhưỡng – Nông hoá đã tập trung nghiên cứu, ứng dụng đem lại hiệu quả cao Viện đã nghiên cứu bổ sung hệ phân loại đất Việt Nam dựa trên phân loại đất tiên tiến trên thế giới như: FAO – UNESCO, Soil Taxolomy…
2.2.3 Tình hình nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất ở địa phương
- Hàng năm đều có đều có số liệu thống đất đai, 5 năm thì thống kê đất đai đo đạc và biên tập lại bản đồ Quy trình này được thực hiện đều đặn, đúng thủ tục và tuân theo pháp luật Tuy nhiên, hiện nay chưa có dự án, công trình
cụ thể nào tại địa phương nghiên cứu về hiện trạng sử dụng đất để phục vụ cho quy hoạch
Trang 10PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Toàn bộ diện tích đất trên địa bàn xã xã Chiềng Sơ - huyện Sông Mã
- Thời gian thực hiện: năm 2012
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Đánh giá, nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Điều kiện tự nhiên: xác định vị trí địa lý, địa hình vùng nghiên cứu,
xem xét các điều kiện khí hậu thời tiết, chế độ thuỷ văn cũng như các đặc điểm đất đai, thảm thực vật
- Điều kiện kinh tế - xã hội: nghiên cứu các đặc điểm về dân số, lao
động, cơ sở hạ tầng, tình hình sản xuất và sử dụng đất đai của xã
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội
3.3.2 Đánh giá tình hình quản lý nhà nước về đất đai giai đoạn 2005 - 2012
- Đánh giá tình hình quản lý đất đai
- Biến động đất Nông nghiệp
- Biến động đất phi nông nghiệp
- Biến động đất chưa sử dụng
3.3.4 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện xã Chiềng Sơ - huyện Sông
Mã
- Hiện trạng đất nông nghiệp
- Hiện trạng đất phi nông nghiệp
- Hiện trạng đất chưa sử dụng
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo bản đồ hiện trạng
Trang 11- Đề xuất phương hướng sử dụng đất cho xã trong thời gian tới
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập
- Thu thập số liệu thống kê, kiểm kê đất đai
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2012
- Các số liệu về định hướng phát triển kinh tế - xã hội ( trong nghị quyết Đại hội Đảng khóa X)
- Thu thập số liệu báo cáo phát triển kinh tế - xã hội hàng năm
Trong quá trình nghiên cứu tôi tiến hành điều tra nội nghiệp và ngoại nghiệp nhằm thu thập tài liệu, số liệu, thông tin cần thiết phụ vụ cho mục đích và yêu cầu nghiên cứu Bên cạnh các tài liệu thu thập được từ các phòng ban, tôi còn tiến hành điều tra và bổ sung thêm số liệu từ thực tế của địa phương
3.4.2 Phương pháp thống kê
Để thuận lợi cho công tác nghiên cứu thì sau khi thu thập được các số liệu cần phải thống kê lại cho phù hợp với mục đích và yêu cầu của đề tài Phương pháp này dùng để thống kê toàn bộ diện tích đất đai của huyện theo
sự hướng dẫn thống nhất của Bộ Tài nguyên & Môi trường, phân nhóm các
số liệu điều tra để xử lý và tìm ra xu thế biến động đất đai trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay
3.4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu
Sau khi thu thập được các tài liệu, số liệu, thông tin tiến hành phân tích, tổng hợp theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu của đề tài Số liệu được phân tích và tổng hợp bằng phần mềm Excel
3.4.4 Phương pháp minh hoạ bằng bản đồ
Dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật quy định về việc hướng dẫn
công tác xây dựng bản đồ và chỉnh lý biến động để xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Chiềng Sơ năm 2012 Qua nghiên cứu tôi tiến hành xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện bằng phần mềm Microstation
để số hoá và chỉnh lý
Trang 123.4.5.Phương pháp chọn lọc các tài liệu đã có
Thu thập, đánh giá các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã có
từ trước và lựa chọn các thông tin cần thiết phục vụ cho mục đích nghiên cứu Kế thừa các tài liệu như: số liệu thống kê, kiểm kê đất đai, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, số liệu báo cáo phát triển kinh tế - xã hội hàng năm , các số liệu
về định hướng phát triển kinh tế - xã hội
Trang 13PHẦN IV DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đánh giá, nghiên cứu điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Chiềng Sơ
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Chiềng Sơ là xã vùng II của huyện Sông Mã, cách trung tâm huyện 22km, với tổng diện tích tự nhiên là 6.073 ha, gồm 23 bản Có vị trí giáp ranh nhƣ sau:
- Phía Đông giáp xã Nà Nghịu
- Phía Tây giáp xã Yên Hƣng
- Phia Nam giáp xã Nậm Mằn
- Phía Bắc giáp xã Nậm Ty
- Có tọa độ địa lý là :
+ Vĩ độ: 270 07’30’’ vĩ độ Bắc
+ Kinh độ: 1030 30’48’’ kinh độ Đông
Hình 1 Sơ đồ vị trí xã Chiềng Sơ
Trang 14- Xã Chiềng Sơ có địa hình khá phức tạp có độ cao từ 320m đến 1300m so với mực nuớc biển, bao gồm hai dạng địa hình chính:
- Địa hình núi cao và dốc: có độ cao từ 650 – 1300m so với mực nuớc biển, dạng địa hình này phân bố ở phía Nam của xã giáp xã Nậm Mằn, điểm cao nhất là đỉnh Pu Luông và đỉnh Pu Chả có độ cao 1300m so với mực nuớc biển
- Địa hình núi trung bình: có độ cao trung bình từ 320- 650m so với mực nước biển, địa hình phổ biến nhất là núi trung bình, xen kẽ các phiêng bãi Dạng địa hình này phân bố ở các bản dọc tuyến tỉnh lộ 115 đi xã Nậm Ty
và xã Yên Hưng và tập trung ở các bản Nà Sặng, Nà Cần, Bản Luấn, Bản Mâm, Bản Bon, Phiêng Pé
4.1.1.3 Khí hậu, thời tiết
Hình 2 Diễn biến khí hậu thủy văn xã Chiềng Sơ
Độ ẩm không khí (%)
( Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn huyện Sông Mã)
- Mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền núi phía Bắc đuợc chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mưa tập trung vào các 6, 7, 8 với lượng mưa chiếm khoảng 87% tổng lượng mưa cả năm và
là thời kỳ thuận lợi cho sinh truởng và phát triển của nhiều loại cây trồng Tuy nhiên rong thời kỳ này do lượng mưa lớn, tập trung cùng với địa hình
Trang 15dốc, độ che phủ của rừng thấp dễ gây ra hiện tuợng xói mòn, rửa trôi, lũ quét… làm hư hỏng các công trình giao thông, thuỷ lợi gây thiệt hại cho sản xuất và tài sản của nhân dân Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, luợng mưa nhỏ chỉ chiếm khoảng 13% tổng luợng mưa cả năm Vì vậy thuờng gây khô hạn thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân nhất
là các bản Huổi Hịa, Sài Lương, Ten Ư
- Nhiệt độ không khí:
+ Cao nhất 380
C + Trung bình 200 C
- Mưa: số ngày mưa 140, lượng mưa trung bình 133.33 mm
4.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
a) Tài nguyên đất
- Theo kết quả từ bản đồ thổ nhuỡng tỉnh Sơn La tỷ lệ 1/100.000
Trên địa bàn xã Chiềng Sơ có các loại đất chính sau:
- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): diện tích khoảng 2.500 ha, chiếm 41.32% diện tích tự nhiên, diện tích này phân bố chủ yếu ở các bản Nà Tọ, bản Thắng Lợi, bản Phiêng Xa, bản Huổi Hịa
- Đất feralit mùn vàng trên đá axit (FHa): có diện tích khoảng 1200 ha, chiếm khoảng 19,83% diện tích tự nhiên, diện tích này phân bố chủ yếu ở các bản Sài Lương I, bản Sài Lương II, bản Nà Tọ, bản Phiêng Xa
- Đất nâu đỏ trên đá mác ma trung tính và Bazic (Fk ): diện tích khoảng
100 ha, chiếm 16,53% diện tích tự nhiên, diện tích này phân bố chủ yếu ở các bản Nà Sặng, Tân Tiến, Nà Luồng
Trang 16- Đất feralit mùn vàng trên đá cát (FHk): có diện tích khoảng 800 ha, chiếm 13,22% diện tích tự nhiên, diện tích này phân bố chủ yếu ở các bản Ten Ư, Phiêng Pe
- Đất đỏ vàng trên đá biến chất ( Fj ) có diện tích khoảng 551 ha, chiếm 9,11% diện tích tự nhiên, diện tích này phân bố chủ yếu ở các bản Nà Luồng, bản Luấn II
b) Tài nguyên nuớc
- Nguồn nước mặt: nguồn nước mặt khá phong phú như Sông Mã và hệ thống các con sông suối lớn như Nậm Ty, Nậm Khoa và các con suối nhỏ, phân bố khắp trên địa bàn xã là nguồn cung cấp nuớc phục vụ cho sản xuất
và sinh hoạt chủ yếu của nhân dân trong xã Việc khai thác nguồn nuớc mặt phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã chủ yếu là đập dâng trên suối Nậm Khoa để cung cấp nuớc tuới cho các cánh đồng như: đập bản Bon, bản Phiêng Pe, bản Nà Sặng, nuớc sinh hoạt của nhân dân chủ yếu khai thác thông qua hệ thốg nuớc tự chảy
- Nước ngầm : nguồn nuớc ngầm hiện tại chưa có điều kiện thăm dò, khảo sát đầy đủ, song thực tế ở một số bản dọc theo Sông Mã như: bản Phiêng Pe, Tân Tiến, Quảng Tiến, bản Mâm, bản Luấn nuớc ngầm đã đuợc nhân dân khai thác tuơng đối hiệu quả để phục vụ sinh hoạt bằng hình thức đào giếng
c) Tài nguyên rừng
- Diện tích rừng hiện có 1.919,20 ha, độ che phủ rừng đạt 31,72% Hiện nay diện tích rừng của xã là rừng phục hồi, rừng nghèo, rừng tre nứa và hỗn giao trữ luợng thấp và phân bố không đồng đều trên địa bàn xã, diện tích rừng tập trung ở các bản Ten Ư, Sài Lương I, bản Sài Lương II
- Hệ động vật rừng của xã với các loài như: trăn, sóc, hoẵng, gà rừng, nhím, báo, mèo rừng, khỉ, lợn rừng, Tuy nhiên do nạn phá rừng làm nương rẫy, săn bắt thú rừng trong thời gian qua làm cho tài nguyên sinh vật và tài nguyên rừng của xã nghèo đi, chất lượng rừng bị suy giảm
Trang 17- Nhìn chung Chiềng Sơ là địa bàn có tài nguyên và thảm thực vật khá phong phú và đa dạng so với các xã lân cận, có ý nghĩa lớn cả vềkinh tế và khoa học - môi trường sinh thái Hiện nay công tác khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng đã và đang đuợc các cấp chính quyền quan tâm
d) Tài nguyên khoáng sản
- Hiện nay trên địa bàn xã chưa có khảo sát về tài nguyên khoáng sản trong lòng đất Song thực tế cho thấy loại khoáng sản chủ yếu là vàng xa khoáng ở Sông Mã
e) Tài nguyên nhân văn
- Xã Chiềng Sơ có 4 dân tộc cùng sinh sống đoàn kết, gắn bó lâu đời với 7.058 nguời, trong đó: Thái 5.630 người chiếm 79,77%, dân tộc Kinh có
573 nguời chiếm 7.88% , dân tộc Sinh Mun có 475 người chiếm 6,73%, dân tộc Mông có 379 ngưòi chiếm 5,62% Mỗi dân tộc có bản sắc đặc trưng và ngành nghề truyền thống riêng biệt Cộng đồng 4 dân tộc đoàn kết, gắn bó chung sống Mỗi dân tộc đến nay vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng trong văn hoá, với những điệu xoè và tài thêu thùa, đan lát của người Thái với “tiếng hát làm dâu” của nguời Mông, đóng góp một phần không nhỏ cho kho tàng văn hoá dân tộc của xã
f) Thực trạng cảnh quan môi trường
- Cảnh quan môi trường xã Chiềng Sơ bị tác động chưa nhiều, mức độ
ô nhiễm môi trường chưa nghiêm trọng, về cơ bản môi trường tự nhiên của
xã vẫn giữ được sắc thái tự nhiên Tuy nhiên, trong quá trình khai thác sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên và tập quán sinh hoạt của người dân chưa hợp lý đã gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Trong một thời gian dài việc bảo vệ rừng không được quan tâm đúng mức dẫn đến diện tích rừng giảm, các loài độg thực vật rừng giảm sút nghiêm trọng đất bị xói mòn rửa trôi, bề mặt nghèo dinh dưỡng , tập quán sinh hoạt không vệ sinh, chăn thả gia súc, gia cầm bừa bãi và các hoạt động trong nông nghiệp như: sử dụng phân bón hoá học, phun thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ,… gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái
Trang 18- Để đạt đuợc sự phát triển bền vững trong tương lai, cần có các biện pháp thích hợp và hiệu quả để bảo vệ môi trường sinh thái, chú trọng phát triển rừng, có chính sách khuyến khích nhân dân thay đổi nếp sống sinh hoạt, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ trong từng thôn bản và cộng đồng dân cư
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội xã chiềng sơ
- Chiềng Sơ là một xã vùng núi, nằm phía Tây của huyện Sông Mã, tổng diện tích tự nhiên là 6073 ha, dân số của xã có 7.058 nhân khẩu với 1.248 hộ gia đình, bình quân 5,7 người/hộ, mật độ dân số bình quân toàn xã
là 117 người/km2 cao hơn với mật độ dân số chung toàn huyện là 66 người/km2 Dân số tập trung chủ yếu ở khu trung tâm xã và dọc theo tỉnh lộ
115
- Những năm qua, kinh tế - xã hội của xã có những bước phát triển, đật được nhiều thành tựu to lớn Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã
được nâng lên đáng kể, các cơ sở hạ tầng như: giao thông, thủy lợi (Giờ đã và
đang khởi công thủy điện Pu Bắc), trường học, trạm xá và các công trình
phúc lợi sức khỏe không ngừng được cải thiện
4.1.2.1.Tăng trưởng kinh tế
Biểu 01: Tình hình tăng trưởng kinh tế xã Chiềng Sơ qua các năm từ
2007 - 2012
TT Chỉ
tiêu
Đơn vị tính
( Nguồn: Niên giám thống kê xã Chiềng Sơ)
- Năm 2012 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11.58%, tổng sản phẩm xã hội đạt 11.61 tỷ đồng
4.1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 19- Cơ cấu kinh tế xã Chiềng sơ trong những năm qua đã có sự chuyển biến tích cực và được thể hiện cụ thể dưới bảng sau đây:
Biểu 02: Cơ cấu kinh tế xã Chiềng Sơ giai đoạn 2007 - 2012
Giá trị
(triệu đồng)
Cơ cấu
( %)
Giá trị
(triệu đồng)
( Nguồn: Niên giám thống kê xã Chiềng Sơ)
- Nhìn vào bảng ta có thể thấy rõ: Tỷ trọng ngành công nghiệp giảm từ 39.59% xuống còn 35.75%, dịch vụ giảm từ 1.05% xuống còn 0.84%, ngược lại tỷ trọng ngành nông nghiệp lại tăng từ từ 59.36% lên 63.41% Như vậy
ta có thể thấy rõ sự chuyển dịch cơ cấu xã Chiềng Sơ đi ngược hướng so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của cả nước
4.1.2.3 Các chủ trương chính sách tác động đến phát triển kinh tế - xã hội
Chiềng Sơ là một xã sản xuất nông nghiệp đặc thù, có lực lượng lao động dồi dào, thuận lợi về điều kiện tự nhiên để phát triển nông nghiệp Trong những năm qua, Chiềng Sơ rất trú trọng đến sản xuất nông nghiệp, điều đó được thể hiện qua đường lối chính sách của Đảng uỷ, chính quyền như: thực hiện kiên cố hoá kênh mương cung cấp nước tưới phục vụ cho việc sản xuất của người dân,
Về xã hội, xã đã có chính sách vay vốn sản xuất với các hộ gia đình khó khăn thông qua quỹ xoá đói giảm nghèo bằng hình thức cho hộ gia đình
nghèo giống cây trồng để phục vụ sản xuất (chủ yếu là giống ngô), cho hộ gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn con vật về nuôi ( chủ yếu là con bò), thực hiện chương trình 167 theo Quyết định 167/2008/QĐ - TTg ngày 12/12/2008
của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ làm nhà ở cho hộ nghèo đã hỗ trợ cho 835 hộ trong địa bàn xã, cho những hộ
Trang 20nghèo vay vốn với suất thấp, hỗ trợ gạo cho những hộ gia đình do lũ lụt thiên tai, hỗ trợ gạo cho những gia đình đói và đói giáp hạt, những chính sách trên
đã giúp cho người dân đã phần nào cải thiện được cuộc sống đã giúp cho cuộc sống của người dân đi vào ổn định
Qua thời gian đã cho thấy hiệu quả của các chính sách này, đó là thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của toàn xã, góp phần khắc phục được tình trạng đói nghèo, tạo thu nhập và nâng cao mức sống cho người dân, tạo cơ sở cho sự phát triển của xã trong thời gian tới
4.1.2.4 Tình hình dân số, lao động, việc làm và thu nhập của xã
a) Dân số
- Dân số năm 2012, dân số của xã có 7.058 nhân khẩu với 1.248 hộ gia
đình, bình quân 5,7 người/hộ, mật độ dân số bình quân toàn xã là 117 người/km2 cao hơn với mật độ dân số chung toàn huyện là 66 người/km2 Dân số tập trung chủ yếu ở khu trung tâm xã và dọc theo tỉnh lộ 115 Số liệu
cụ thể được thể hiện ở bảng dưới đây:
Biểu 03: Biểu dân số xã Chiềng Sơ năm 2012
(Nguồn: Niên giám thống kê xã Chiềng Sơ)
Mỗi dân tộc đến nay vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng trong văn hoá, với những điệu xoè và tài thêu thùa, đan lát của người Thái với “tiếng hát làm dâu” của nguời Mông, đóng góp một phần không nhỏ cho kho tàng văn hoá dân tộc của xã
b) Lao động và việc làm
- Theo thống kê thì tổng lao động toàn xã là 3.035 người chiếm 43%
Trang 21dân số của xã, trong đó chủ yếu là lao động nông nghiệp là chính, nguồn lao động của xã khá dồi dào nhưng trình độ còn thấp, xã còn tồn tại tình trạng không có hoặc thiếu việc làm, nhất là độ tuổi thanh niên, học sinh, sinh viên mới ra trường cũng như lực lượng nông nhàn khi hết thời vụ đang là vấn đề bức xúc cần giải quyết, đặc biệt trong khi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, cơ cấu lao động còn nặng nề về sản xuất nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ chưa đa dạng đã gây hạn chế rất lớn đến khả năng khia thác triệt để nguồn tài nguyên quý giá này
Để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của xã trong những năm tới việc đào tạo nâng cao trình độ lao động cần được quan tâm nhằm đáp ứng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa tránh tình trạng đói kém cho người dân
và nông nhàn khi hết thời vụ
c) Thu nhập
- Mức sống của người dân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nhưng
trước hết là trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội
- Là xã nằm trong vùng kinh tế động lực của huyện, có tỉnh lộ 115 chạy qua với chiều dài khoảng 14km và tuyến đường liên xã Nà Nghịu - Nậm
Ty với chiều dài 17km nền kinh tế của xã tương đối phát triển so với một số
xã trong huyện, sản lượng lương thực có hạt 8,034 tấn, thóc đạt 1992 tấn, hoa màu đạt 5.820 tấn, thu nhập bình quân năm 2012 đạt 5 - 5,5triệu đồng/người/năm
- Thu nhập và mức sống hiện nay được chia thành 2 khu Các bản dọc theo tỉnh lộ 115 và tuyến đường liên xã Nà Nghịu - Nậm Ty do được ưu đãi
về điều kiện tự nhiên, giao thông thuận lợi nên kinh tế phát triển khá mạnh,
cơ cấu thu nhập đa dạng hơn ( ruộng 2 vụ, có cây ăn quả hàng năm), nhờ vậy
mà đời sống ở bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đạt
30 triệu đồng/hộ/năm, trong khi đó một số vùng như: bản Huổi Hịa, Sài Lương, Huổi Cắt thu nhập của người dân chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp độc canh cây lúa nương, giao thông đi lại rất khó khăn, hiệu quả kinh tế thấp, thu nhập chỉ khoảng 12 triệu đồng/hộ/năm
Trang 22Tóm lại, Chiềng Sơ là xã có nguồn lao động dồi dào, tuy nhiên hiện tượng lao động dư thừa trong thời gian nông nhàn vẫn còn phổ biến, vì vậy chưa phát huy hiệu quả nguồn lực này Do đó tình hình thu nhập và mức sống hiện nay của cộng đồng các dân tộc ở xã Chiềng Sơ còn ở mức thấp Chính vì vậy, trong thời gian tới xã cần có những chính sách phát triển các ngành nghề truyền thống và các ngành nghề mới để giải quyết công ăn việc làm tại chỗ cho người dân, giúp cho đời sống nhân dân được nâng cao và đi vào ổn định
4.1.2.5 Thực trạng phát triển các ngành nghề
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của cả huyện, nền kinh tế của xã Chiềng Sơ đã có sự chuyển biến tích cực, các cơ sở trên địa bàn không ngừng phát triển Kinh tế của xã trong những năm gần đây khá phát triển và cụ thể trong từng ngành nghề sau đây:
a) Ngành nông, lâm nghiệp
♦) Trồng trọt:
- Những năm gần đây , tuy xã gặp nhiều khó khăn về thời tiết, sâu bệnh hại, thị trường tiêu thụ, song với việc tích cực chuyển đổi cơ cấu giống lúa, ngô, theo hướng tiến bộ cùng với việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, thực hiện tốt công tác khuyến nông nên năng suất cây trồng tăng nhanh
và diện tích các loại cây trồng đã tăng nhanh chóng
- Tổng diện tích giao trồng năm 2012 la 2.350ha ( không tính diện tích
cây ăn quả), sản lượng ngô đạt 6.043 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt
856kg/người/năm Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng hàng năm được thể hiện dưới bảng sau:
Trang 23Biểu 04: Diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng xã
Chiềng Sơ năm 2012
STT Loại cây trồng Diện tích
(ha)
Năng suất ( tạ/ha )
Sản lượng đạt (tấn)
- Ngành chăn nuôi xã Chiềng Sơ ngày càng được chú trọng phát triển,
góp phần tăng thu nhập của người dân và từng bước trở thành mũi nhọn trong phát triển kinh tế Tổng đàn gia súc, gia cầm tiếp tục giữ vững và phát triển
ổn định Tình hình phát triển chăn nuôi trên địa bàn xã Chiềng Sơ được thể hiện cụ thể ở biểu 05:
Trang 24Biểu 05: Tình hình phát triển chăn nuôi trên địa bàn xã
(Nguồn niên giám thống kê UBND xã Chiềng Sơ)
- Tổng đàn số lượng đàn trâu bò của năm 2012 của xã có 4.012con, trong đó: tổng đàn trâu có 1.716 con, giảm 299 con so với năm 2011, tổng đàn bò có 3.396 con, giảm 567 con so vơi năm 2011, đàn dê có 1.650 con, tăng 407 con so với năm 2011, đàn lợn có 3.224 con, giảm 540 con so vơi năm 2011, gia cầm có 1400 con, tăng 171 con so với năm 2011 Nhìn vào bảng ta có thể thấy rõ chăn nuôi của xã phát triển và số lượng đàn gia súc, gia cầm tăng lên qua các năm, đây là sự phát triển rất tích cực của ngành chăn nuôi của xã, giúp cho các hộ gia đình có thu nhập và đáp ứng cho nhu cầu thị trường tiêu thụ trong xã cũng như các xã lân cận
Hình ảnh 2 Một số vật nuôi trên địa bàn xã Chiềng Sơ
- Đa số gia súc trên địa bàn xã đều chăn thả rông trên đồi núi, trong tình hình đất nông nghiệp ngày càng tăng, không có chỗ để chăn thả các vật
Trang 25nuôi nữa Vì vậy, cần có đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi, với diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều trong thời gian tới có thể lấy quỹ đất chưa sử dụng vào làm đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi
♦ Lâm nghiệp
- Tập trung vào các lĩnh vực trồng rừng, chăm sóc, khoanh nuôi, tái
sinh, tổng diện tích lâm nghiệp của xã hiện có 1.931,28 ha, chiếm 31,92 tổng diện tích tự nhiên, trong đó đất có rừng tự nhiên sản xuất 456,83 ha, đất trồng rừng sản xuất 12,08 ha, đất rừng tự nhiên phòng hộ 1.462,37 ha
- Công tác quản lý bảo vệ rừng trong mấy năm qua được đảy mạnh, tuyên truyền luật bảo vệ rừng, theo chỉ thị 12 của Chính phủ, Nghị định 139 đến nhân dân và các bản xây dựng các tổ tự quản, các chủ rừng ký kết thực hiện
Hình ảnh 3 Một góc rừng sản xuất và rừng phòng hộ ở xã Chiềng
Sơ
b) Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
- Hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong những
năm vừa qua vẫn giữ vững ổn định và duy trì sản xuất ngạch đất nung 1 triệu viên, ngói đất nung 20 nghìn viên khai thác vật liệu xây dựng cát sỏi 600 m3nghề rèn các công cụ sản xuất cầm tay, xay sát nghiền ngô, sắn Các ngành nhề nêu tên đã đi vào ổn định và phát triển
c)Thương mại, dịch vụ
- Hoạt động thương mại, dịch vụ xã trong những năm qua đã có sự
phát triển Chợ Phiêng Đồn đã được hình thành và phát triển mở rộng, phục
vụ kịp thời nhu cầu của nhân dân và 4 xã vùng cao của huyện Sông Mã, đến
Trang 26nay địa bàn đã có 25 cơ sở dịch vụ thương mại, cung cấp lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng
4.1.2.6 Thực trạng phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn
- Các khu dân cư nông thôn trên địa bàn xã Chiền Sơ được hình thành
từ lâu đời ổn định Nhìn chung cơ sở vật chất của các thôn, khu dân cư như: đường giao thông, điện, nước sạch, các thiết chế văn hoá, giáo dục thể thao được quan tâm phát triển và phục vụ có hiệu quả nhu cầu của người dân, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn đổi mới phát triển nông thôn
- Dân cư trong xã phân bố chủ yếu ven theo hai bên Sông Mã và dọc
theo tỉnh lộ 115 và được chia làm 2 khu vực:
+ Khu vực trung tâm xã Chiềng Sơ và dọc tỉnh lộ 115 và tuyến đường
xã Nà Nghịu - Nậm Ty có 17/23 bản sống khá tập trung
+ Khu vực vùng núi cao gồm các bản Sài Lương I, Sài Lương II, Huổi Hịa, Huổi Cắt , bản Đứa, sống theo dọc suối Nậm Khoa và theo các nhánh suối khác dân cư sinh sống chủ yếu là dân tộc Mông và dân tộc Sinh Mun, dân cư các bản trong khu vực này sống rải rác phân thành nhiều nhóm dân cư
và có tập quán làm nhà ở trên núi cao gần nguồn nước và đất sản xuất, vì vậy hình thái và sự phân bố các khu dân cư rất đa dạng, khó xác định ranh giới
- Về cơ sở hạ tầng trong các khu dân cư còn nghèo nàn lạc hậu, giao tthông đi lại còn nhiều khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa, các công trình điện, nước, giáo dục, văn hoá, thể thao còn thiếu
Qua thực trạng phát triển khu dân cư cho thấy: Tuy cơ sở vật chất của các thôn, khu dân cư phát triển và phục vụ có hiệu quả nhu cầu của người dân, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn đổi mới phát triển nông thôn, để đáp ứng được nhu cầu trong giai giai đoạn đổi mới phát triển nông thôn trong tương lai cần mở rộng và phát triển cơ sở vật chất như: giao thông, điện, nước sạch, y tế , giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao
4.1.2.7 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
a) Giao thông
Trang 27- Trong những năm vừa qua, đầu tư cho giao thông của xã được quan
tâm đúng mức và đang phát triển Đường tỉnh lộ 115đã và đang được đầu tư, nâng cấp
- Hiện tại trên địa bàn xã có khoảng 100 km dường giao thông bao
- Tuyến bản Nà Sặng đi bản Ten Ư dài 6 km được nâng cấp, mở rộng
theo chương trình 182 của tỉnh Sơn La ( nền đường đất)
- Tỉnh lộ 115 đi xã Nậm Mằn dài 9 km được nâng cấp theo chương
trình 177 của tỉnh Sơn La Ngoài ra, còn có mạng lưới giao thông liên bản với tổng chiều dài khoảng 50 km cũng đang được nâng cấp giải cấp phối
- Nhìn chung, hệ thống giao thông trên địa bàn xã các tuyến đường tỉnh
lộ 115, liên xã, đang được nâng cấp cải tạo, còn lại các tuyến đường liên bản chưa được làm mới, nâng cấp, cải tạo, chất lượng đường rất thấp chỉ đi được một mùa
Tỉnh lộ 115 chạy qua địa bàn xã với chiều dài khoản 15 km đã được nâng cấp vì thế việc đi lại và kinh doan mua bán lưu thông hàng hóa dễ dàng, tạo thu nhập cho người dân nên người dân tập trung sinh sống ở đây rất đông
có tới 17/23 bản trong toàn xã nên gây sức ép tới việc sử dụng đất đặc biệt là đất ở và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp nên gây khó khăn cho việc phân bổ sử dụng đất của xã Để phục cho nhu cầu phát triển kinh tế và mở rộng điểm dân cư nông thôn diện tích đất dành cho giao thông cần phải tăng lên
b) Thủy lợi
Trang 28- Trong những năm qua, công tác tăng cường củng cố hệ thống phai
đập và hệ thống kênh mươnng nội đồng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng ủy và nhân dân xã Chiềng Sơ
- Toàn xã có 4 phai đập kiên cố và hệ thống mương nội đồng với chiuề
dài 25 km, trong đó 17 km là dự án EU và dự án 135 đầu tư cứng hoá kênh mương đã chủ động nước tưới cho 211,72 ha đất chuyên trồng lúa nước Tuy nhiên do xã có điều kiện khó khăn nên một số kênh mương và phai đập chưa đượuc kiên cố, do chưa được kiên cố hết hệ thống kênh mương nên 77,8 ha đất trồng lúa nước phải phụ thuộc hoàn toàn ào nước mưa
- Các công trình thủy lợi góp phần đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua khai hoang mở rộng diện tích, thâm canh tăng vụ, góp phần giải quyết 1 phần nào đó cho đồng bào còn thiếu nước nghiêm trọng
c) Bưu chính viễn thông
- Xã hiện có 1 trạm chuyển tiếp sóng truyền hình, 1 bưu điện văn hoá
xã phục vụ nhu cầu thôg tin liên lạc của các cấp, các ngành và nhân dân trong
xã
4.1.2.8 Y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng
a) Y tế
- Làm tốt công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, phát hiện và
điều trị kịp thời các trường hợp mắc bệnh, các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được quan tâm chỉ đạo thực hiện, đạt kết quả tích cực, các chỉ tiêu tiêm chủng mở rộng đều đạt 100%, không để xảy ra các dịch bệnh trên địa bàn xã, triển khai tốt khám chữa bệnh, đặc biệt là đối tượng người nghèo, trẻ
em dưới 6 tuổi
- Trạm y tế xã có 5 giường bệnh với 4 cán bộ y tế, trong đó có 2 y sỹ, 1
y tá, 1 nữ hộ sinh, có 23/23 bản đã có cán bộ y tế thôn bản, 100% số bản có túi thuốc sơ cứu, vật chất của trạm y tế còn nghèo nàn, thiếu thốn về trang thiết bị và cơ sở thuốc Công tác khám chữa bệnh, cấp phát thuốc theo quyết định 139 của Chính phủ, năm 2012 đã khám cho 6.167 lượt người, điều trị nội trú cho 3.893 người, ngoại trú 1.341 người, làm thủ tục chuyển tuyến
Trang 29huyện 927 người, tiêm chủng đầy đủ 142 trẻ em, phòng sởi 159 trẻ, phòng bại liệt người, ho gà - uốn ván 484 người, phòng lao 158 người
- Công tác dân số, gia đình – trẻ em, đã chuyển và bàn giao cho trạm y
tế xã quản lý, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động các đối tượng tham
gia thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia
đình
Y tế của xã nhìn chung trong những năm qua đã làm tốt công tác tuyên truyền và điều trị kịp thời các dịch bệnh, thực hiện tốt các chỉ tiêu như về tiêm chủng, khám chữa bệnh đã phần nào đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân trong xã Tuy nhiên mạng lưới y tế chưa phát triển và đầy
đủ để phục vụ sức khỏe nhân dân cho tốt, cơ sở vật chất y tế của xã còn thiếu kém chỉ có 2 phòng khám chữa bệnh, có 5 giường bệnh và 4 cán bộ y tế, trong tương lai cần mở rộng thêm phòng khám, giường bệnh và cán bộ y tế
để đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân trong xã khi ốm đau, việc mở rộng thêm phòng khám của xã sẽ cần thêm quỹ đất để mở rộng,
vì vậy nó sẽ ảnh hưởng đến sử dụng đất, việc mở rộng thêm phòng khám cần các quỹ đất khác chuyển sang, vì vậy cần có quy hoạch, kế hoạch cụ thể để phân bổ đất trong xã hợp lý, hiệu quả
b) Giáo dục
- Quy mô giáo dục được mở rộng, tỷ lệ số trẻ em ra lớp ngày càng tăng
, đặc biệt số trẻ từ 3 đến 5 tuổi ra mẫu giáo tăng 36,5% so với năm 2011
- Trường trung học cơ sở đã được xây dựng kiên cố với 16 phòng học,
689 học sinh và 27 giáo viên trực tiếp giảng dạy
- Trường tiểu học ở trung tâm xã đã được xây dựng kiên cố với 10
phòng ở trung tâm xã tổng số có 35 lớp với 934 học sinh và 46 giáo viên trực tiếp giảng dạy
- Trường mẫu giáo ở bản Luấn 1 đã được xây dựng kiên cố, có 8 lớp
mầm non với 206 học sinh với 14 giáo viên trực tiếp giảng dạy
- Công tác trẻ ra các lớp đầu cấp đạt 98% trở lên, thi chuyển lớp đạt
98,7%
Trang 30+ Xét tốt nghiệp tiểu học đạt 99%
+ Xét tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 100%
Giáo dục của xã trong những năm qua đã được quan tâm cả về quy mô lẫn chất lượng, giáo dục của xã đã có nhiều tích cực, đến nay xã đã được công nhận xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, cơ sở vật chất của giáo dục đã đáp ứng được nhu cầu được đi học của con em người dân trong xã
- Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội trong những năm tới, dân số của xã ngày càng tăng lên keo theo đó số người đi học sẽ ngày càng tăng và cùng với nhu cầu mở rộng trường lớp phục vụ cho chủ trương
xã hội hóa giáo dục học, nâng cao chất lượng giáo dục của xã diện tích phục
vụ cho mục đích này cần được tăng lên vì vậy nó sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của xã nên cần có quy hoạch, kế hoạch cụ thể để phân bổ đất trong
xã hợp lý, hiệu quả
c) An ninh quốc phòng
- Thực hiện tốt Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về chiến lược an ninh quốc gia, Nghị quyết Hội nghị lần 8 Ban chấp hành Trung ương về chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới Thường xuyên duy trì chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, tổ chức tốt công tác hậu phương quân đội, công tác phòng chống cháy nổ, cháy rừng, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người dân
- Công tác quốc phòng an ninh luôn được quan tâm, củng cố, đảm bảo
giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường khối đoàn kết anh em trong các dân tộc
- Làm tốt công tác tuyển quân năm 2012 đảm bảo số lượng chỉ tiêu
giao
- Lực lượng dân quân tự vệ được bổ sung thường xuyên, tập luyện và
luôn trong tư thế sằn sàng chiến đấu cao
- Công tác nắm địa bàn, nắm đối tượng được duy trì có hiệu quả, ngăn
chặn và xử lý kịp thời các tệ nạn như: truyền đạo trái phép chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch, buôn bán ma tuý,… của các thế lực thù địch
Trang 31- Về tội phạm ma tuý đã bắt được 11 vụ với 16 đối tượng và đã lập hồ
sơ cho công an huyện xử lý theo pháp luật
4.1.2.9 Văn hoá, thể dục thể thao
- Các phong trào văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao của xã trong những năm qua đã có sự phát triển, phong trào xây dựng gia đình, bản sắc văn hoá đạt được nhiều kết quả, cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” được nhân dân hưởng ứng tích cực và đạt kết qủa tốt với 560/1.248 hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, 1 bản được công nhận đạt danh hiệu bản văn hoá cấp huyện
- Các phong trào văn nghệ quần chúng chào mừng kỷ niệm các sự kiện trọng đại của đất nước và tuyên truyền các sự kiện trọng đại của đất nước như: ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam 3/2, ngày miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước 30/4, ngày quốc tế lao động 1/5, ngày sinh Chủ Tịch Hồ Chí Minh 19/5 đã phát triển mạnh mẽ
- Phong trào thể dục thể thao khá phát triển, đến nay toàn xã có 1 nhà văn hoá xã, 3 nhà văn hoá bản, 8 sân thể thao, 9 đội bóng đá, 12 đội bóng chuyền, 12 đội văn nghệ, thường xuyên luyện tập và đi giao lưu, thi đấu đạt kết quả cao
4.1.3 Đánh giá chung
♦ Thuận lợi:
- Tình hình kinh tế xã hội của xã đang trên đà phát triển, an ninh chính
trị ổn định, những kinh nghiệm trong chỉ đạo, lãnh đạo những năm qua la tiền
đề và điều kiện thuận lợi để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội của xã, việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp là điều kiện thuận lợi để tâph hợp sức mạnh của toàn đảng, toàn dân cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là Đại hội Đảng bộ xã khoá XXI
- Năng lực và trình độ sản xuất của nhiều hộ gia đình khi bước vào kế
hoạch năm 2012 đã tăng lên đáng kể, tốc độ và chất lượng tăng trưởng trong những năm qua đã có những cải thiện và là những điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế xã hội năm 2012
Trang 32- Là xã có nguồn lực lao động dồi dào, là nguồn lực thúc đẩy các ngành kinh tế của xã phát triển
♦ Khó khăn
- Những diễn biến phức tạp về điều kiện thời tiết, khí hậu, biến động
giá cả gây khó khăn cho sản xuất và đời sống của người dân
- Trình độ dân trí thấp, năng lực của một số cán bộ của một số bộ phận
còn bị hạn chế
- Cơ sở hạ tầng của xã còn yếu kém, đời sống của một bộ phận nhân
dân vùng sâu, vùng cao còn gặp nhiều khó khăn, các loại tội phạm và tệ nạn
xã hội còn diễn biến phức tạp
- Tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, dân số đông và chủ yếu là lao động nông
nghiệp là chính, tình trạng lao động nông nhàn vẫn còn phổ biến
4.2 Đánh giá tình hình quản lý Nhà nước về đất đai
- Từ khi có Luật đất đai năm 1993, công tác quản lý Nhà nước về đất
đai đã từng bước đi vào nề nếp và thu được nhiều kết quả Đặc biệt, Luật đất đai năm 2003 ra đời đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc trong công tác quản
lý Nhà nước về đất đai cũng như việc sử dụng đất đã tồn tại trong nhiều năm qua
4.2.1 Công tác ban hành các văn bản pháp luật về quản lý và sử dụng đất
và tổ chức thực hiện các văn bản đó
- Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực ngày 01/7/2004 được Quốc hội
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 26/11/2003
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về
hướng dẫn thi hành luật đất đai năm 2003
- Chỉ thị 05/2004/CT-TTg ngày 09/2/2004 của Thủ tướng Chính phủ
về việc triển khai thi hành luật đất đai năm 2003
- Công điện 09/CĐ-BTNMT ngày 18/11/2004 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường gửi UBND các tỉnh, thành phố thuộc TƯ về việc triển khai cấp GCNQSDĐ theo luật đất đai năm 2003 và nghị định 181/2004/NĐ-CP
Trang 33- Thông tư 30/2004/BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn lập,
điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/08/2007, hướng dẫn thực
hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
- Thực hiện Chỉ thị 299/1980/CT-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng
Chính Phủ về công tác đo đạc, phân hạng, đăng ký, thống kê đất đai và Quyết định 201/1980/QĐ-CP ngày 01/07/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong
cả nước
- Tổ chức tuyên truyền thực hiện Luật đất đai được Quốc hội khoá VIII
thông qua ngày 29/12/1987 Chỉ thị 60/CT-HĐBT ngày 14/4/1988; Nghị định 30/HĐBT ngày 23/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thi hành Luật đất đai
- Từ khi có luật đất đai sửa đổi năm 1993, đặc biệt là từ khi Tổng cục
Địa chính được thành lập theo Nghị quyết số 12/CP ngày 22/2/1994 Đây được coi là bước ngoặt trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai Với sự ra đời của các văn bản Luật cũng như các tổ chức chuyên môn công tác quản lý Nhà nước về đất đai ngày càng chặt chẽ hơn Tuy vẫn còn nhiều tồn tại nhiều mặt hạn chế và thiếu sót, song công tác quản lý Nhà nước về đất đai của xã vẫn đạt nhiều kết quả tốt ở một số nhiệm vụ như:
- Từng bước đưa công tác quản lý Nhà nước về đất đai theo quy hoạch,
kế hoạch
- Công tác kiểm kê đất đai trong toàn xã vẫn được thực hiện theo định
kỳ, các biến động về đất đai được cập nhật và lưu trữ tốt
- Thực hiện việc giao đất theo Nghị quyết 64/CP của Chính phủ cho tất
cả các bản trong địa bàn xã
- Công tác thanh tra giải quyết tranh chấp khiếu nại tố cáo, xử lý các
sai phạm trong quản lý sử dụng đất được tiến hành có hiệu quả
- Hoạch định ranh giới hành chính cho các bản trên toàn xã theo Chỉ thị 364/HĐBT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Vì
Trang 34vậy đã giải quyết được về ranh giới hành chính cấp xã đã được xác nhận
- Ranh giới giữa xã được xác định rõ ràng và ổn định, không có
tranh chấp mốc giới giữa các xã giáp ranh
4.2.2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
- Thực hiện Chỉ thị 364/CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng ( nay là thủ tướng Chính phủ) xã Chiềng Sơ đã hoàn thành hồ sơ
ranh giới và hoạch định địa giới hành chính ở cấp xã, các tuyến ranh giới với các xã tiếp giáp đã được xác định và thống nhất rõ ràng bằng các yếu tố địa vật cố định hoặc các điểm mốc giới và được chuyển vẽ lên bản đồ
- Bản đồ địa chính cơ sở bay chụp VN – 2000
- Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính trên địa bàn xã đã đo đạc toạ
theo toạ độ địa chính, thành lập bản đồ địa chính có lưới toạ độ cho 49 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/1000 và 8 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/5000
4.2.3 Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất nawm 2005 của xã được lập theo chỉ thi 24/CT-TTg của Thủ Tướng Chính phủ Cho đến nay có bản đồ mới nhất
là bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của xã được lập theo chỉ thị 28/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
- Triển khai xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất của xã với tỷ lệ
1/5000, 1/15000 Bản đồ hiện trạng và quy hoạch 3 loại rừng tỷ lệ 1/10.000
4.2.4 Quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
- Quy hoạch sử dụng đất: Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất trong những năm gần đây đã được những thành tựu đáng kể, nội dung phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp với tình hình địa phương mang tính thực tiễn và khả thi cao.Xã thực hiện quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đều đặn và đúng theo dự án quy hoạch Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, triển khai thực hiện quy hoạch một số điểm còn chưa phù hợp, nhiều chỉ tiêu đưa ra chưa sát với tình hình thực tế, tính khả thi không