1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

43 541 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó những lý luận về quản trị rủi ro trong lĩnh vực thanh toán quốc tế vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu, phòng ngừa và hạn chế rủi ro ngày càng cao của các

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do thực hiện đề tài

Trong xu hướng quốc tế hoá mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế

Việt Nam đang dần từng bước hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới Để quá

trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước thành công, Đảng và nhà nước ta đã

rất chú trọng phát triển hoạt động kinh tế quốc tế, đặc biệt là ngoại thương Chỉ có

thông qua các hoạt động kinh tế quốc tế, chúng ta mới có thể phát huy được tiềm

năng thế mạnh của đất nước, đồng thời tận dụng được vốn và công nghệ hiện đại

của các nước phát triển để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu và đưa nền kinh tế nước ta hoà nhập với nền

kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới

Kinh tế quốc tế mở rộng, dẫn đến sự phát triển của thanh toán quốc tế như

một tất yếu khách quan để đáp ứng nhu cầu thương mại quốc tế của các doanh

nghiệp trong nước

Đứng trước yêu cầu đó, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã tham

gia hoạt động thanh toán quốc tế từ năm 1993 Trải qua 17 năm hoạt động, hoạt

động TTQT tại Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam đã đạt được rất nhiều

thành quả, góp phần đa dạng hoá dịch vụ, nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân

hàng, mở rộng các sản phẩm dịch vụ phục vụ khách hàng, là một nguồn thu phí lớn

cho ngân hàng Tuy nhiên, do còn mới mẻ, hoạt động Thanh toán quốc tế tương đối

phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro nên hoạt động TTQT tại Ngân hàng Đầu Tư và

Phát Triển Việt Nam vẫn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là vấn đề rủi ro trong

TTQT, một vấn đề gây hậu quả nghiêm trọng không chỉ về tài sản vật chất mà cả uy

tín trên trường quốc tế của ngân hàng Bên cạnh đó những lý luận về quản trị rủi ro

trong lĩnh vực thanh toán quốc tế vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu

nghiên cứu, phòng ngừa và hạn chế rủi ro ngày càng cao của các ngân hàng cũng

như doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu

Vì vậy, để đạt được mục tiêu của Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam

là “phát triển bền vững”, một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra là nghiên cứu

và phân tích các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động thanh toán quốc tế và tìm ra các giải pháp để quản trị, hạn chế tối đa các rủi ro trong hoạt động TTQT Xuất phát

từ thực tế đó và với mong muốn tìm ra những hướng mới cho vấn đề quản trị rủi ro

trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

2 Mục tiêu của đề tài:

- Tìm hiểu cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế

- Tìm hiểu thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế và hoạt động quản trị rủi ro Thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam giai đoạn 2006-

2010 Qua đó đánh giá thực trạng quản trị rủi ro thanh toán quốc tế, rút ra những ưu điểm hạn chế, đồng thời phân tích nguyên nhân của các hạn chế đó

- Đề xuất các nhóm giải pháp khả thi đối với ngân hàng nhà nước, ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam và các đơn vị liên quan nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro, hạn chế các rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng: Các rủi ro TTQT và hoạt động quản trị rủi ro TTQT tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam

- Phạm vi nghiên cứu: thực trạng hoạt động TTQT và quản trị rủi ro TTQT của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006-2010

4 Phương pháp thực hiện

- Luận văn sử dụng các phương pháp điều tra, tổng hợp, phân tích, diễn giải, quy nạp, so sánh trên cơ sở số liệu thống kê của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam để nghiên cứu

Trang 2

- Bên cạnh đó, luận văn cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình

nghiên cứu khoa học liên quan

- Sử dụng các công cụ phân tích, phần mềm phân tích Excel,…

- Luận văn sử dụng phương pháp chuyên gia

5 Kết quả đạt được

- Đề tài làm rõ những lý luận cơ bản về hoạt động thanh toán quốc tế, rủi ro

và quản trị rủi ro nói chung, các rủi ro có thể xảy ra và các biện pháp quản trị rủi ro

trong hoạt động thanh toán quốc tế tại các NHTM VN

- Có cái nhìn tổng quan về hoạt động TTQT và công tác quản trị rủi ro TTQT

tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, đánh giá ưu nhược điểm và tìm

nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi và có hiệu quả để hoạt động TTQT

của Ngân hàng ngày càng phát triển bền vững

6 Kết cấu của luận văn:

- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro trong hoạt động Thanh

toán quốc tế

- Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động Thanh toán quốc tế tại

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2006-2010

- Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động Thanh toán

quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT

ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ 1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)

1.1.1 Khái niệm và bản chất hoạt động thanh toán quốc tế

1.1.1.1 Khái niệm:

Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi

về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức,

cá nhân nước này với các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan [2]

1.1.1.2 Bản chất hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM

Nghiệp vụ thanh toán quốc tế chỉ được tiến hành trong những điều kiện và môi trường kinh doanh nhất định

Nghiệp vụ TTQT vận dụng tổng hợp các điều kiện TTQT

Trong quan hệ thanh toán giữa các nước vấn đề quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên phải được giải quyết và quy định thành những điều kiện gọi là điều kiện TTQT: điều kiện về tiền tệ, điều kiện về địa điểm, điều kiện về thời gian, điều kiện

về phương thức thanh toán Các điều kiện trên khi được vận dụng một cách hợp lý

sẽ đạt được hiệu quả về kinh tế, tránh được những rủi ro, tổn thất cho các bên áp dụng

Nghiệp vụ TTQT giữ mối quan hệ mật thiết với các nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế quan trọng khác

- Với nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ: nhằm phục vụ nhu cầu TTQT bằng các loại ngoại tệ khác nhau, hạn chế rủi ro hối đoái trong thanh toán và kinh doanh của khách hàng và cũng nhằm mục đích kinh doanh vì lợi nhuận của ngân hàng

- Với hoạt động tài trợ ngoại thương: nhằm hỗ trợ nguồn tài chính cho khách hàng xuất nhập khẩu trong quá trình thực hiện TTQT

Trang 3

- Với các nghiệp vụ bảo hiểm rủi ro: thông tin tín dụng, bảo lãnh ngân

hàng…

- Chỉ khi mạng lưới các chi nhánh ngân hàng tại nước ngoài và các ngân

hàng đại lý rộng khắp thì hoạt động TTQT của NHTM mới thực sự được tiến hành

và phát triển

Nghiệp vụ TTQT có mối quan hệ với các hoạt động kinh doanh của NHTM

Đó là mối quan hệ chặt chẽ với chính sách tiền tệ tín dụng, chế độ quản lý

ngoại hối của mỗi quốc gia Đồng thời việc tổ chức, quản lý và thực hiện nghiệp vụ

TTQT phải dựa trên cơ sở các luật lệ, tập quán quốc gia, các quy ước quốc tế, hiệp

định thương mại giữa các nước Do vậy ở mỗi giai đoạn lịch sử, sự phát triển kinh

tế thế giới nói chung, của mỗi quốc gia nói riêng, hoạt động TTQT cũng mang sắc

thái và đặc trưng riêng

1.1.2 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế

1.1.2.1 Đối với nền kinh tế

Thanh toán quốc tế là chiếc cầu nối liền giữa các quốc gia trong hoạt động

kinh tế đối ngoại Thanh toán quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại

thương phát triển Đẩy mạnh quá trình sản xuất lưu thông hàng hóa, tăng nhanh tốc

độ chu chuyển của vốn, góp phần phát triển kinh tế

Hoạt động thanh toán quốc tế làm tăng khối lượng thanh toán không dùng

tiền mặt trong nền kinh tế, giảm bớt các chi phí trung gian, đồng thời hoạt động

thanh toán quốc tế đã thu hút một lượng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam bằng các

nghiệp vụ kiều hối, chuyển tiền đến và L/C xuất khẩu

1.1.2.2 Đối với các ngân hàng thương mại

- TTQT giúp các ngân hàng thương mại đẩy mạnh hoạt động tín dụng tài trợ

xuất nhập khẩu, phát triển các nghiệp vụ liên quan như kinh doanh ngoại tệ, bảo

lãnh và các dịch vụ khác

- TTQT đem lại khoản thu phí dịch vụ quan trọng, giúp cho ngân hàng thu

hút thêm khách hàng về giao dịch, từ đó tăng quy mô hoạt động và thị phần trên thị

trường

- TTQT làm tăng tính thanh khoản của ngân hàng: Trong quá trình thực hiện

các giao dịch thanh toán quốc tế cho khách hàng, ngân hàng thương mại luôn có một nguồn tiền tập trung chờ thanh toán Nguồn tiền này tương đối ổn định và phát sinh thường xuyên, là một nguồn nâng cao khả năng thanh khoản cho ngân hàng

- Thực hiện TTQT, ngân hàng thương mại có thể tạo ra được vòng tròn dịch

vụ khép kín, từ đó đảm bảo các nghiệp vụ ngân hàng có liên quan đến nhau như tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ được giám sát, theo dõi kỹ lưỡng bởi nhiều phòng ban khác nhau, hạn chế rủi ro Bên cạnh đó, Ngân hàng còn nắm được tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thực hiện quản lý có hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu trong nước theo đúng chính sách kinh tế đối ngoại mà nhà nước đề ra

- TTQT làm tăng cường quan hệ đối ngoại: thông qua việc bảo lãnh cho

khách hàng trong nước, thanh toán cho ngân hàng nước ngoài, ngân hàng thương mại sẽ có quan hệ đại lý với ngân hàng và đối tác nước ngoài Mối quan hệ này dựa trên cơ sở hợp tác và tương trợ Với thời gian hoạt động nghiệp vụ càng lâu, mối quan hệ ngày càng rộng mở

1.1.2.3 Đối với khách hàng

- Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân

hàng thương mại giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí

- Tham gia hoạt động thanh toán quốc tế, quyền lợi của khách hàng được

đảm bảo hơn, do khách hàng được ngân hàng tư vấn để lựa chọn các phương thức thanh toán, kỹ thuật thanh toán cũng như đồng tiền thanh toán nhằm giảm thiểu rủi

ro, tạo ra sự an tâm cho khách hàng trong giao dịch ngoại thương với đối tác nước ngoài

- Trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế, nếu khách hàng không đủ khả

năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng sẽ cho vay để thanh toán hàng nhập bằng cách bảo lãnh mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu Qua việc thực hiện thanh toán quốc

Trang 4

tế, ngân hàng có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp xuất

nhập khẩu để có những tư vấn cho khách hàng và những điều chỉnh về chiến lược

khách hàng

1.1.3 Các phương thức thanh toán quốc tế

1.1.3.1 Phương thức chuyển tiền (Remittance)

 Khái niệm

Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó khách hàng

(người trả tiền, người mua, người nhập khẩu ) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình

chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu,

người cung ứng dịch vụ ) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền

do khách hàng yêu cầu [2]

 Đặc điểm

Từ khái niệm cho thấy phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán

đơn giản, trong đó người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hành thanh toán với

nhau thông qua dịch vụ ngân hàng, ngân hàng chỉ đóng vai trò là trung gian thực

hiện việc thanh toán theo ủy nhiệm của người mua, chỉ có trách nhiệm chuyển đúng

số tiền cần chuyển một cách khẩn trương, an toàn đến đúng địa chỉ theo yêu cầu khi

nhận được lệnh chuyển tiền, ngoài ta không bị rằng buộc gì

Trong phương thức chuyển tiền, việc có trả tiền hay không phụ thuộc vào

thiện chí của người nhập khẩu Người nhập khẩu sau khi nhận hàng có thể không

tiến hành chuyển tiền, hoặc cố tình kéo dài thời hạn chuyển tiền nhằm chiếm dụng

vốn của người xuất khẩu, do đó, làm cho quyền lợi của người xuất khẩu không

được bảo đảm Chính vì nhược điểm này mà trong ngoại thương phương thức

chuyển tiền thường chỉ được áp dụng trong các trường hợp hai bên mua bán có uy

tín và tin cậy lẫn nhau

 Đặc điểm

Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thu hộ tiền cho người xuất khẩu, ngân hàng không có bất cứ trách nhiệm nào đối với việc trả tiền của người mua Dựa trên cơ sở giấy ủy thác và bộ chứng từ của người bán, ngân hàng tiến hành thu hộ tiền, ngân hàng không chịu trách nhiệm kiểm tra chứng

từ và không liên quan gì đến việc ủy thác đó có được người mua chấp nhận trả tiền hay không

 Phân loại: Có hai loại nhờ thu:

* Nhờ thu phiếu trơn: là nhờ thu theo chứng từ tài chính không kèm theo chứng

từ thương mại, trong đó nhà xuất khẩu nhờ ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn

cứ vào hối phiếu do mình lập ra mà không kèm theo điều kiện nào cả, còn chứng từ

gửi hàng sẽ được gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng

* Nhờ thu kèm chứng từ: là loại nhờ thu có kèm chứng từ thương mại, trong đó

nhà xuất khẩu ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo điều kiện nhà nhập khẩu phải trả tiền ngay hoặc chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn để đổi lấy chứng từ đi nhận hàng Với cách khống chế chứng từ này, quyền lợi của người bán sẽ được đảm bảo hơn phương thức nhờ thu phiếu trơn và chuyển tiền, thời gian thanh toán thì ngắn hơn và chi phí ít hơn so với phương thức thanh toán bằng thư tín dụng Do

Trang 5

vậy, phương thức này được sử dụng trong phương thức xuất nhập khẩu với những

hợp đồng có giá trị nhỏ và thanh toán dịch vụ đối với các khách hàng quen và tin

cậy

1.1.3.4 Phương thức tín dụng chứng từ

 Khái niệm

Tín dụng chứng từ hay còn gọi là thư tín dụng (L/C) là phương thức thanh

toán, trong đó, theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức

thư, gọi là L/C (Letter of Credit –L/C), trong đó ngân hàng phát hành cam kết trả

tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba khi người này xuất trình cho ngân

hàng phát hành bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản

quy định trong L/C [2]

Các loại chứng từ chủ yếu thường được quy định trong L/C:Hóa đơn thương

mại (Commercial invoice), Chứng từ vận tải: Vận đơn đường biển (bill of lading),

vận đơn hàng không (airway bill) hoặc vận đơn đường sắt (railway bill), Chứng từ

bảo hiểm (Insuarance certificate), Chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin), Hối

phiếu (Draft), Phiếu đóng gói (Packing list), Các chứng từ khác như: Giấy chứng

nhận số lượng (Certificate of Quantity), giấy chứng nhận kiểm tra chất lượng

(Inspection certificate), biên lai bưu điện, các chứng nhận của người hưởng lợi

 Đặc điểm

Thư tín dụng hình thành trên cơ sở hợp đồng mua bán, nhưng sau khi ra đời

lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán Người mua căn cứ vào hợp đồng để

làm đề nghị mở thư tín dụng Người bán căn cứ vào các điều kiện của thư tín dụng

tiến hành giao hàng và nếu xuất trình được các chứng từ phù hợp với các điều

khoản, điều kiện của thư tín dụng sẽ nhận được thanh toán từ ngân hàng phát hành

Tính độc lập của thư tín dụng không hủy bỏ trách nhiệm của ngân hàng phát hành

khi hợp đồng mua bán đã được hủy bỏ nhưng thư tín dụng vẫn còn hiệu lực Do đó

người bán khi nhận được thư tín dụng phải kiểm tra kỹ các điều khoản của thư tín

dụng, nếu có điều khoản nào chưa phù hợp phải yêu cầu người mua tiến hành sửa

đổi thư tín dụng cho phù hợp trước khi thực hiện giao hàng

Trong nghiệp vụ tín dụng chứng từ, các ngân hàng chỉ giao dịch căn cứ vào chứng từ, chứ không liên quan đến hàng hóa Ngân hàng cam kết thanh toán cho người hưởng khi họ xuất trình được bộ chứng từ thể hiện trên bề mặt là phù hợp với các điều khoản của thư tín dụng mà hoàn toàn không phụ thuộc vào việc người mua

đã nhận được hàng hóa hay chưa, hàng hóa có đúng quy cách hay không

1.1.3.5 Phương thức bồi hoàn bằng điện:

Hình thức này cũng buộc người mua mở L/C như bình thường, khi người bán xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng thông báo, ngân hàng sẽ kiểm tra, nếu thấy bộ chứng từ phù hợp với L/C thì sẽ trả tiền ngay cho người bán Người xuất khẩu sẽ nhận được tiền hàng sớm, chỉ độ vài ngày Sau đó ngân hàng thông báo sẽ chuyển chứng từ cho ngân hàng mở L/C và ngân hàng này sẽ hoàn tiền bằng điện cho ngân hàng thông báo

1.2 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC NHTM

1.2.1 Rủi ro

1.2.1.1 Khái niệm và bản chất rủi ro

Theo từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm

1995 “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến” Một số từ điển khác đưa ra khái niệm tương tự như “ Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát hư hại” hay “ Rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn”…

Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, tác giả Hồ Diệu cho rằng “ Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến” hoặc “ Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp”…

Qua khái niệm về rủi ro, chúng ta thấy rủi ro có ba tính chất quan trọng:

Trang 6

Một là: Rủi ro là sự kiện bất ngờ đã xảy ra Đó là những sự kiện mà người ta

không lường trước một cách chắc chắn

Hai là: Rủi ro là những sự cố gây ra tổn thất, một khi rủi ro đã xảy ra là để lại

hậu quả cho con người, mặc dù nó có thể nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng

Ba là: Rủi ro là sự kiện ngoài mong đợi Thông thường mọi người đều mong

muốn những sự kiện may mắn, tốt đẹp sẽ đến với mình cho nên rủi ro là sự kiện

ngoài mong đợi

Như vậy, một sự kiện được coi là rủi ro phải đồng thời thỏa mãn ba tính chất

nêu trên Nếu sự kiện đã biết trước chắc chắn xảy ra hoặc xảy ra không gây tổn thất

hoặc theo mong muốn của con người thì không được coi là rủi ro

1.2.1.2 Phân loại rủi ro

Rủi ro, tổn thất tồn tại dưới rất nhiều dạng khác nhau Phân loại rủi ro chỉ

mang tính chất tương đối trong mối quan hệ tác động của rất nhiều yếu tố Sau đây

là một số tiêu thức phân loại rủi ro điển hình nhất:

 Theo tính chất rủi ro

* Rủi ro suy đoán (còn gọi là rủi ro suy tính hay rủi ro đầu cơ) là rủi ro mà

trong đó những cơ hội tạo ra thuận lợi gắn với những nguy cơ gây ra tổn thất Đây

là loại rủi ro luôn gắn liền với khả năng thất bại trong hoạt động kinh doanh, đầu tư,

đầu cơ

* Rủi ro thuần túy (còn được gọi là rủi ro thuần): Là những rủi ro chỉ có thể dẫn

đến những thiệt hại mất mát mà không có cơ hội kiếm lời Rủi ro loại này có

nguyên nhân từ những đe dọa, nguy hiểm luôn rình rập như những hiện tượng tự

nhiên bất lợi hoặc những hành động sơ ý, bất cẩn của con người hoặc là những hành

động xấu của người khác gây ra…và nó làm phát sinh một khoản chi phí (để bù đắp

thiệt hại)

 Theo phạm vi ảnh hưởng của rủi ro

* Rủi ro cơ bản: Là những rủi ro sinh ra từ những nguyên nhân ngoài tầm kiểm

soát của con người Hậu quả của rủi ro cơ bản thường rất nghiêm trọng, khó lường,

có ảnh hưởng tới cộng đồng và toàn bộ xã hội Hầu hết các rủi ro cơ bản đều xuất

phát từ sự tác động tương hỗ thuộc về kinh tế, chính trị, xã hội Nó có thể bao gồm nhiều loại rủi ro như: nạn thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế, tiền tệ, lạm phát, chiến tranh, xung đột chính trị, động đất, núi lửa phun, bão, lụt

* Rủi ro riêng biệt: Là những rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan và khách

quan của từng cá nhân, tổ chức Loại rủi ro này chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của từng

cá nhân hoặc tổ chức Nếu xét về hậu quả, đối với một tổ chức có thể rất nghiêm trọng nhưng ảnh hưởng không nhiều đến xã hội Trong kinh doanh quốc tế thì rủi ro riêng biệt bao gồm: sai lầm trong lựa chọn chiến lược, chính sách kinh doanh, sai lầm trong lựa chọn đối tác, mặt hàng kinh doanh, đổ vỡ, biển thủ, mất tích…

1.2.2 Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM

1.2.2.1 Khái niệm

Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế là những rủi ro về kinh tế phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế, nó do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia TTQT (nhà xuất khẩu, nhập khẩu, ngân hàng, các tổ chức, cá nhân và các tác nhân trung gian ) hoặc những nhân tố khách quan khác gây nên [5]

1.2.2.2 Phân loại rủi ro thanh toán quốc tế theo nguyên nhân

Rủi ro trong TTQT của các NHTM có thể được phân loại theo nguyên nhân phát sinh rủi ro:

 Rủi ro do tác nghiệp

- Khái niệm: Rủi ro trong hoạt động TTQT là những rủi ro xảy ra ngay trong

quá trình thao tác nghiệp vụ TTQT

- Nguyên nhân: Rủi ro này mang tính chất chủ quan, nó do trình độ, năng lực xử

lý tình huống của cán bộ TTQT của NHTM

+ Ngân hàng chuyển tiền: Do nhận chuyển tiền cho những hợp đồng thanh toán

vi phạm chế độ quản lý hạn ngạch nhập khẩu, chế độ quản lý ngoại hối, những hợp đồng thanh toán không có thật được lập để lợi dụng hoạt động phi pháp

Trang 7

+ Ngân hàng uỷ nhiệm và nhận nhờ thu: Do giao bộ chứng từ nhận hàng cho

khách hàng trước khi nhận được thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán hối phiếu,

nhận và gửi chỉ thị thanh toán không rõ ràng

+ Các ngân hàng có liên quan trong phương thức tín dụng chứng từ:

Ngân hàng phát hành: phát hành thư không đúng theo các điều kiện của đơn xin

mở L/C, hoặc có những điều khoản bất lợi, dẫn đến các rủi ro, kiểm tra chứng từ

không phát hiện được sai sót mà thực hiện thanh toán sẽ gặp khả năng rủi ro không

được hoàn lại tiền từ nhà nhập khẩu

Ngân hàng xác nhận : Bằng việc gắn thêm các cam kết thanh toán theo thư tín

dụng khi ngân hàng phát hành không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán

cho ngân hàng thì có rủi ro xảy ra như rủi ro thương mại của ngân hàng phát hành,

họ không có khả năng thanh toán, rủi ro do kiểm tra bộ chứng từ

Ngân hàng thông báo: Ngân hàng thông báo L/C sẽ không có bất cứ một cam

kết nào khi thông báo thư tín dụng nhưng việc xác thực một thư tín dụng hay sửa

đổi thư tín dụng qua các khóa mật hoặc kiểm tra cẩn thận vể tính chân thật của nó sẽ

có những rủi ro do đã thông báo L/C giả mạo không xác thực mà không lưu ý cho

người được thông báo

Ngân hàng chiết khấu, thương lượng: Ngân hàng này bao gồm các rủi ro của

ngân hàng phát hành, ngân hàng hoàn trả tiền của người hưởng và rủi ro kiểm tra

chứng từ Nếu ngân hàng thương lượng không kiểm tra chứng từ giao hàng của nhà

xuất khẩu một cách cẩn thận, thích đáng thì những sai sót của bộ chứng từ đã được

thương lượng sẽ bị ngân hàng phát hành từ chối một cách hợp pháp

 Rủi ro do cho vay tín dụng phục vụ xuất nhập khẩu

- Khái niệm: Rủi ro tín dụng xảy ra khi NHTM cấp tín dụng cho khách hàng để

thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế theo những điều kiện thanh toán đã

thỏa thuận với đối tác nước ngoài

- Nguyên nhân: Rủi ro tín dụng gây ra cho các ngân hàng xuất phát từ các

nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân chủ quan:

+ Khả năng áp dụng quy chế và năng lực của cán bộ trong quá trình thẩm định món vay xuất – nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ trước khi thực hiện các phương thức thanh toán chuyển tiền, nhờ thu, thanh toán theo L/C, thanh toán ứng trước, chiết khấu hối phiếu và chứng từ, đó là các vấn đề như thẩm định phương án vay vốn, phân tích năng lực tài chính, khả năng hoàn trả, hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng, khả năng phân tích các thông tin rủi ro từ phía đối tác của khách hàng, của ngân hàng nước ngoài

+ Sự phối hợp giữa thực hiện nghiệp vụ TTQT và những dịch vụ cung ứng tín dụng của cán bộ, đó là các vấn đề về điều kiện thanh toán, sửa đổi L/C, ký hậu và bảo lãnh vận đơn nhận hàng…

Nguyên nhân khách quan: Đối tác của nhà nhập khẩu không thực hiện hợp đồng đúng, đủ, kịp thời về hàng hóa và điều kiện thanh toán làm phá vỡ kế hoạch tiêu thụ, kế hoạch sản xuất – kinh doanh của nhà nhập khẩu, hàng hóa bị mất mát, hàng kém phẩm chất phát sinh trong quá trình vận chuyển, đối tác không có khả năng thanh toán, ngân hàng nước ngoài đang trong quá trình sát nhập giải thể, phá sản…

 Rủi ro tỷ giá

- Khái niệm: Rủi ro tỷ giá là những rủi ro xảy ra khi việc thanh toán được ấn

định bằng đồng tiền nước ngoài Khi tỷ giá hối đoái biến động so với tỷ giá khi ký kết hợp đồng xuất khẩu sẽ có lợi cho người này và thiệt cho người khác

- Tác động của rủi ro tỷ giá:

+ Đối với nhà xuất khẩu: tỷ giá biến động sẽ phá vỡ kế hoạch đã được tính toán

của nhà xuất khẩu, chẳng hạn khi giá cả đồng tiền trong nước so với đồng ngoại tệ tăng (tỷ giá hối đoái giảm) sẽ bất lợi cho nhà xuất khẩu vì tiền bán hàng thu về bằng ngoại tệ sẽ được ít đồng nội tệ hơn do vậy mua được ít yếu tố đầu vào hơn làm cho kinh doanh xuất khẩu có thể bị thua lỗ Biến động tỷ giá hối đoái giảm còn ảnh hưởng khi nhà xuất khẩu nhận tài trợ xuất khẩu từ ngân hàng bằng nội tệ để phục vụ sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu

Trang 8

+ Đối với nhà nhập khẩu: khi tỷ giá hối đoái biến động tăng (giá cả đồng nội tệ

so với đồng ngoại tệ giảm) sẽ bất lợi cho nhà nhập khẩu vì họ mua ngoại tệ thanh

toán cho hàng hóa nhập khẩu với giá cao nhưng giá cả tiêu thụ hoặc nguyên vật liệu

còn phụ thuộc cung cầu thị trường không thể bù đắp nổi với biến động thay đổi tỷ

giá Những khoản tín dụng bằng ngoại tệ do ngân hàng cung cấp sẽ đến hạn trong

tương lai càng trở nên lớn hơn do cộng thêm tỷ lệ tỷ giá hối đoái tăng

+ Đối với các ngân hàng thương mại: Trong quá trình thực hiện thanh toán cho

khách hàng, vấn đề quản lý nguồn ngoại tệ và hoạt động kinh doanh ngoại tệ để

đảm bảo nhu cầu thanh toán trên cơ sở cân đối tài sản có bằng ngoại tệ là vô cùng

quan trọng, nhằm tránh những rủi ro do biến động tỷ giá gây nên

 Rủi ro quốc gia

- Khái niệm: Rủi ro quốc gia là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi về chính

trị, kinh tế, về chính sách quản lý ngoại hối và chính sách ngoại thương của một

quốc gia khiến cho nhà xuất khẩu không nhận được tiền hàng và nhà nhập khẩu

không nhận được hàng hóa Vì vậy loại rủi ro này là do những nguyên nhân khách

quan gây nên:

+ Xảy ra chiến tranh, đảo chính, biểu tình ở các nước

+ Những cấm vận trong thanh toán: nước nhập khẩu bị phong tỏa tài khoản do

những món nợ nước ngoài chưa trả, hoặc do quan hệ không bình thường giữa hai

nước có quan hệ kinh tế quốc tế làm cho các hợp đồng ngoại thương, hiệp định

thương mại bị hủy bỏ giữa chừng

+ Xảy ra khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính –

tiền tệ gây ra những khó khăn trong thanh toán

+ Xảy ra những thiên tai lớn, nghiêm trọng như động đất, núi lửa, bão lụt…

 Rủi ro do thông tin, truyền tin

- Khái niệm: Đây là những rủi ro xảy ra trong quá trình truyền tin, thực hiện

thanh toán bằng thư, điện hay trong quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin sai lệch

với yêu cầu của khách hàng Ngày nay những rủi ro này rất đáng kể do cả những

nguyên nhân chủ quan và khách quan gây nên

- Nguyên nhân chủ quan: Ngân hàng tiếp nhận và xử lý thông tin sai lệch với

khách hàng, đối tác của khách hàng và ngân hàng nước ngoài, khả năng biến động

tỷ giá Các thao tác trong quá trình truyền tin không đúng quy định, kỹ thuật dẫn đến các sai sót, nhầm lẫn và tổn thất cho ngân hàng

- Nguyên nhân khách quan: Trong quá trình truyền tin, gửi các chứng từ thương

mại giữa các ngân hàng, thực hiện thanh toán bằng thư, điện (thư điện thanh toán, hoàn tiền, sửa đổi, xác nhận, chấp nhận…) có thể bị thất lạc nhầm lẫn, chậm trễ hư hỏng, rách nát gây ra tổn thất cho các bên và cho các ngân hàng

 Rủi ro do lừa đảo trong TTQT: Là các rủi ro xảy ra do một trong hai bên

mua và bán có hành vi lừa đảo Đây là một trong những vấn đề đang được cảnh báo

cho các ngân hàng và ngày càng có xu hướng gia tăng

- Nguyên nhân: Thuộc loại này thì nguyên nhân rủi ro điển hình nhất là một

trong hai bên mua và bán có hành vi lừa đảo:

+ Bên bán: Thực hiện các hoạt động mua bán lòng vòng thông qua môi giới để

lừa đảo người mua thanh toán nhưng không có hàng hoặc để tiêu thụ những hàng hóa rởm, kém phẩm chất

+ Cả hai bên mua và bán cấu kết lập bộ chứng từ giả mạo để được thanh toán

theo phương thức L/C Các hợp đồng ma được thiết lập để thanh toán qua ngân hàng từ nước này sang nước khác của bọn tội phạm thực hiện rửa tiền Ngoài ra các hành vi lừa đảo trong thanh toán séc du lịch, thẻ tín dụng cũng gia tăng

1.2.3 Rủi ro theo các phương thức thanh toán quốc tế ở các NHTM

1.2.3.1 Rủi ro trong phương thức chuyển tiền

 Rủi ro đối với người mua: Sẽ rất bất lợi cho người mua nếu sau khi chuyển

tiền xong, người bán bị phá sản hoặc giao hàng không đúng số lượng, chủng loại, chất lượng kém hay không bảo đảm thời gian giao hàng theo đúng thỏa thuận làm

ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình

 Rủi ro đối với người bán: Nếu người mua thanh toán sau khi xuất hàng thì

việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của người mua, do đó bên bán dễ bị bên

mua chiếm dụng vốn trong thanh toán

Trang 9

 Rủi ro đối với ngân hàng phục vụ người mua: khi Ngân hàng cho vay thanh

toán để người mua nhập hàng, khi hàng về không đúng phẩm chất, quy cách,

thương vụ thua lỗ, người mua mất khả năng thanh toán, gây tổn thất cho ngân hàng

không thu được nợ

 Rủi ro đối với ngân hàng phục vụ người bán: Khi ngân hàng cho vay thu

mua, sản xuất hàng xuất khẩu, người bán không thu hồi được tiền, ảnh hưởng đến

việc thu hồi nợ của Ngân hàng

Rủi ro xảy đến với Ngân hàng trong phương thức thanh toán bằng chuyển

tiền cũng có thể do công nghệ thanh toán lạc hậu, chất lượng đường truyền kém dẫn

đến việc chuyển sai hoặc chuyển nhầm số tiền cần thanh toán Bên cạnh đó, rủi ro

trong phương thức này có thể do sự tắc trách, cẩu thả của cán bộ thanh toán dẫn đến

thanh toán nhầm hoặc chậm thanh toán

1.2.3.2 Rủi ro trong phương thức ứng trước

Phương thức thanh toán ghi sổ thuận lợi cho người bán, rủi ro cho người

mua Sau khi nhận tiền người bán có thể chủ tâm không giao hàng, giao hàng thiếu,

không có khả năng giao hàng như thỏa thuận, hoặc thậm chí bị phá sản Do phải

thanh toán trước nên người mua có thể bị áp lực về tài chính, tình hình có thể trở

nên xấu hơn nếu hàng hóa đến chậm hoặc bị khiếm khuyết

Bên cạnh đó người bán cũng có thể gặp rủi ro nếu sau khi đặt hàng mà người

mua không thực hiện chuyển tiền, trong khi hàng hóa đã được người bán thu mua

Người bán có thể phải chịu chi phí quản lý, chi phí lưu kho…

1.2.3.3 Rủi ro trong phương thức nhờ thu

 Rủi ro chủ yếu thuộc về nhà xuất khẩu

- Đối với phương thức thanh toán bằng nhờ thu trơn không đảm bảo quyền lợi

cho bên bán (thanh toán không bình đẳng) giữa sự trả tiền và nhận hàng tách rời,

không có sự ràng buộc lẫn nhau Người mua có thể nhận hàng mà không chịu trả

tiền hoặc trì hoãn việc trả tiền

- Đối với phương thức thanh toán bằng nhờ thu kèm chứng từ, người bán thông

qua Ngân hàng giữ hộ hồ sơ hàng hóa mới chỉ đảm bảo được quyền sở hữu hàng hóa của mình, chứ chưa khống chế được việc trả tiền của người mua Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hàng hóa (không cần nhận hàng), không thanh toán khi giá cả trên thị trường biến động dẫn đến bất lợi cho người bán trong việc giải tỏa hàng hóa và gặp rủi ro trong tiêu thụ hàng hóa

 Rủi ro đối với nhà nhập khẩu

Trong phương thức nhờ thu, người mua do quy định họ phải có trách nhiệm trả tiền ngay hoặc chấp nhận hối phiếu trước khi nhận hàng vì vậy không có điều kiện kiểm tra hàng hóa trước, người mua có thể gặp trường hợp hàng hóa giao không đúng quy cách, phẩm chất với chứng từ hoặc với hợp đồng

 Rủi ro đối với ngân hàng trung gian thu hộ: Đối với các ngân hàng ngoài

sự cẩn trọng khi thực hiện đúng chỉ thị ủy nhiệm thu thì rủi ro chủ yếu mà ngân

hàng gặp phải là rủi ro tín dụng

1.2.3.4 Rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ

 Rủi ro đối với ngân hàng phát hành

Khi phát hành L/C là ngân hàng phát hành đã cam kết thanh toán cho người thụ hưởng khi người thụ hưởng xuất trình được bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với các điều kiện và điều khản của L/C, do đó khi người mua không thanh toán hay không muốn thanh toán L/C thì lúc này Ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro Rủi ro này không thuộc về mối quan hệ tín dụng, vậy nên khi Ngân hàng nhận được thư yêu cầu mở L/C, Ngân hàng cần xem xét kỹ tình hình tài chính của khách hàng để có thể có các phán quyết chính xác trước khi mở L/C

 Rủi ro đối với ngân hàng thông báo

Đối với ngân hàng thông báo L/C cần thiết phải xác định tình trạng mã khóa của Ngân hàng phát hành L/C, nếu không xác định được điều này phải nêu rõ trong thông báo L/C cho người xuất khẩu và nói rõ không chịu trách nhiệm về tính xác thực của L/C này, nếu trong việc này Ngân hàng thông báo không cẩn trọng sẽ dẫn đến rủi ro cho Ngân hàng thông báo và người xuất khẩu

Trang 10

 Rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu

Trong trường hợp nếu các Ngân hàng tham gia thanh toán, chiết khấu bộ

chứng từ không phát hiện ra sai sót hoặc bỏ qua các lỗi cho là nhỏ, sau khi thực hiện

thanh toán hoặc chiết khấu cho người bán Ngân hàng sẽ phải chịu mọi rủi ro nếu

Ngân hàng phát hành L/C từ chối thanh toán Đặc biệt trong trường hợp Ngân hàng

chiết khấu đồng thời là Ngân hàng xác nhận L/C thì Ngân hàng đó sẽ không có

quyền truy đòi lại người xuất khẩu số tiền đã chiết khấu

 Rủi ro đối với nhà nhập khẩu

Ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ nên nhà nhập khẩu buộc phải

thanh toán bất kể hàng hóa tốt hay xấu, rủi ro thuộc về phía người mua nếu người

bán cố ý lập các chứng từ hàng hóa giả mạo, người mua sẽ phải gánh chịu những

thiệt hại do lừa đảo từ phía người bán

 Rủi ro đối với nhà xuất khẩu: Chi phí cao, đôi khi không đáp ứng được

những quy định của L/C nên việc thanh toán có thể bị trì hoãn, thậm chí bị từ chối

thanh toán

1.2.3.5 Rủi ro trong phương thức bồi hoàn bằng điện

 Rủi ro lớn đến ngân hàng

Tuy phương thức này có bắt buộc mở L/C tức là đã có sự đứng ra bắt đầu

của ngân hàng tuy nhiên một rủi ro không thể tránh khỏi đó là việc ngân hàng thông

báo trả tiền cho người bán và việc ngân hàng mở L/C bồi hoàn tiền cho ngân hàng

thông báo đều dựa trên chứng từ, trong khi tình trạng thật giả của chứng từ (nếu

người bán cố tình làm bộ chứng từ giả) thì không thể kiểm tra được, khi người mua

phát hiện ra và không chịu thanh toán thì thiệt hại sẽ thuộc về ngân hàng Hoặc khi

người mua từ chối nhận hàng vì nhiều lý do khác nhau, không trả tiền cho ngân

hàng thì ngân hàng cũng chịu thiệt

 Rủi ro đối với người nhập khẩu: trong phương thức thanh toán này do

người bán được nhận tiền sớm nên dễ có động cơ tiêu cực như giao hàng không

đúng như trong hợp đồng về chủng loại, số lượng và chất lượng…ảnh hưởng đến

việc kinh danh của người mua

1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ

Ở CÁC NHTM 1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế

Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công [11]

Quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế là:

- Dự kiến trước với chi phí nhỏ nhất các nguồn lực tài chính cần thiết trong trường hợp có rủi ro xảy ra

- Kiểm soát các rủi ro bằng cách loại bỏ, giảm nguy cơ hoặc di chuyển một cách hợp lý rủi ro cho các đối tác kinh tế

- Đo lường những hậu quả của rủi ro gây ra và dự kiến các biện pháp tổ chức nhằm giảm tới mức thấp nhất thiệt hại về người và của đối với ngân hàng Như vậy, quản trị rủi ro trong hoạt động TTQT thực chất là những biện pháp mang tính chủ động nhằm phát hiện, phòng ngừa, loại bớt, khoanh lại rủi ro để giảm nhẹ tổn thất trên cơ sở tính toán và so sánh với chi phí quản trị rủi ro

1.3.2 Nội dung quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế

1.3.2.1 Nhận dạng rủi ro có thế xảy ra trong hoạt động thanh toán quốc tế

Nhận dạng rủi ro là việc xác định một danh sách các rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải khi tiến hành hoạt động thanh toán quốc tế xuất phát từ những nguyên nhân khách quan cũng như các nguyên nhân chủ quan Danh sách các rủi ro càng chi tiết và đầy đủ càng tốt cho hoạt động thanh toán quốc tế của các bên tham gia

Để nhận dạng rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế, các nhà quản trị cần:

* Nghiên cứu nguồn rủi ro từ hoạt động thanh toán quốc tế

Trong quá trình tiến hành các hoạt động thanh toán thông thường các ngân hàng phải đối mặt với các nguồn rủi ro sau đây:

- Rủi ro phát sinh từ phía khách hàng

Trang 11

- Rủi ro phát sinh từ phía ngân hàng

* Nghiên cứu đối tượng gặp rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế

Đối tượng gặp rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế chính là tài sản, tiền

bạc, con người, mất đi cơ hội của các bên ngân hàng tham gia vào hoạt động thanh

toán và của những cá nhân tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu tiến hành thanh

toán qua ngân hàng

* Lập bảng danh mục rủi ro

Thiết kế bảng danh mục rủi ro nhằm liệt kê một cách có hệ thống những rủi

ro có thể gặp phải trong hoạt động thanh toán quốc tế từ đó có kế hoạch theo dõi

giám sát và có biện pháp phòng ngừa cũng như hạn chế rủi ro nếu xảy ra Bảng

danh mục rủi ro đã gặp phải, cũng như chưa gặp phải luôn là điều nhắc nhở cần

thiết để mọi người cảnh giác, cẩn trọng đối với những rủi ro nhất là một số rủi ro có

tính chất, mức độ nghiêm trọng cao Mục đích của việc nhận dạng rủi ro là nhằm

phát hiện kịp thời rủi ro để ứng phó một cách khoa học và đỡ tốn kém nhất cho

ngân hàng và khách hàng mà mình phục vụ Ngân hàng có khả năng nhận biết và

xác định chính xác thì việc phân tích, đo lường ở các bước tiếp theo mới thực sự có

ý nghĩa và hiệu quả

Nhận biết và xác định rủi ro đòi hỏi cán bộ không những phải có trình độ

chuyên môn, tinh thần trách nhiệm mà còn cần có kinh nghiệm và sự thận trọng cần

thiết để tập hợp được tất cả các loại rủi ro có thể xảy ra và phân biệt chúng theo các

tiêu thức khác nhau

1.3.2.2 Đo lường rủi ro, tổn thất trong hoạt động thanh toán quốc tế

Đo lường rủi ro là tính toán, dự đoán mức độ rủi ro mà ngân hàng đang đối

mặt và mức độ thiệt hại nếu rủi ro xảy ra

Phân tích và đo lường rủi ro là điều mà tất cả các nhà quản trị ngân hàng đều

rất quan tâm, vì đo lường chính xác chính là cơ sở cho các quyết định lựa chọn danh

mục tài sản cũng như các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát và chấp nhận rủi ro một

cách chủ động và hiệu quả Đo lường và phân tích rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế phải đạt được hai yếu tố cơ bản:

+ Tính mức độ hay xác suất gặp phải rủi ro + Dự đoán mức độ tổn thất nếu rủi ro xảy ra

Mục đích của việc đo lường rủi ro để giúp cho các cấp điều hành chỉ đạo,

khắc phục kịp thời các tồn tại, đối phó với các rủi ro tiềm ẩn, từ đó giảm thiểu rủi

ro, nâng cao hiệu quả và chất lượng của hoạt động thanh toán quốc tế

1.3.2.3 Giám sát rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế

Giám sát rủi ro trong thanh toán quốc tế là hoạt động giám sát rủi ro sao cho tổn thất xảy ra nằm trong khả năng chấp nhận để đảm bảo rằng việc thực hiện các hoạt động kinh doanh sẽ luôn mang lại hiệu quả và thu nhập cho ngân hàng Nếu không có khả năng quản lý và kiểm soát tốt, tổn thất xảy ra có thể vượt quá khả năng chấp nhận thì ngân hàng vẫn có thể rơi vào tình trạng nguy hiểm

Giám sát rủi ro trong thanh toán quốc tế là thực hiện:

+ Giám sát hàng ngày các hoạt động thanh toán có rủi ro và giá trị cao để kiểm tra tính tuân thủ với các chính sách và chỉ thị của ngân hàng

+ Trao đổi thông tin giữa các bộ phận quản lý rủi ro và ban lãnh đạo để thu thập

ý kiến phản hồi về các chiến lược quản trị rủi ro hoạt động kinh doanh quốc tế + Đảm bảo các hạn mức rủi ro không bị vượt quá

+ Đánh giá các tổn thất tín dụng tiềm tàng và lập đủ dự phòng ngay từ giai đoạn đầu

1.3.2.4 Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong thanh toán quốc tế

Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế là các biện pháp kỹ thuật, công cụ cố gắng né tránh, đề phòng, hạn chế hay nói cách khác là kiểm soát tần suất, độ lớn của những tổn thất và những ảnh hưởng không mong đợi khác của rủi ro

Để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế có thể lựa chọn một

số phương pháp sau đây:

Trang 12

+ Né tránh rủi ro: Là chủ động né tránh trước những rủi ro có thể xảy ra và loại

bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro Trong hoạt động thanh toán quốc tế, né tránh

rủi ro chính là: hạn chế thanh toán cho những khách hàng đến từ những khu vực

nhiều rủi ro về chính trị, pháp lý, không thực hiện thanh toán cho những bộ chứng

từ có sai sót nhỏ

+ Chủ động chấp nhận rủi ro: Chấp nhận rủi ro là dựa trên cơ sở dự báo rủi ro có

thể xảy ra, tìm cách khắc phục sẵn sàng đương đầu khi rủi ro, tổn thất xảy ra

+ Giảm thiểu rủi ro: Khi rủi ro xảy ra thì đương nhiên gây ra tổn thất cho các

nhà đầu tư Do vậy kiểm soát rủi ro còn là biện pháp giảm nhẹ tổn thất bằng cách

khoanh lại rủi ro để tránh các rủi ro, tổn thất khác

+ Chuyển giao rủi ro bằng mua bảo hiểm

+ Áp dụng điều khoản chia sẻ rủi ro

+ Đa dạng các đồng tiền

+ Ứng dụng công nghệ tin học trong các giao dịch của ngân hàng

1.3.2.5 Báo cáo và đánh giá về hoạt động quản trị rủi ro

Đây là bước mang tính chất tổng kết và rút ra những bài học kinh nghiệm sau

mỗi giai đoạn hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng Trên cơ sở xác định tổn

thất xảy ra thực tế, đối chiếu với khả năng chấp nhận của một ngân hàng có thể đưa

ra nhận xét và kết luận về hoạt động quản trị rủi ro thanh toán quốc tế của ngân

hàng đó Báo cáo đánh giá một cách trung thực không chỉ khép kín quy trình quản

trị rủi ro mà còn góp phần hoàn thiện và điều chỉnh các bước phân tích đo lường và

các biện pháp quản lý, kiểm soát rủi ro ở giai đoạn tiếp theo

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán

quốc tế ở các NHTM

1.3.3.1 Nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới quản trị rủi ro trong hoạt động

thanh toán quốc tế ở các NHTM

Thái độ của ngân hàng đối với việc quản trị rủi ro thanh toán quốc tế

Thái độ của ngân hàng rất có thể là một nhân tố quan trọng làm tăng hay giảm rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế Nếu như ngân hàng chủ quan, xem thường, không quan tâm, mất cảnh giác thì rủi ro sẽ xảy ra thường xuyên hơn và hậu quả sẽ nặng nề hơn Ngược lại nếu ngân hàng luôn quan tâm cảnh giác, nghiên cứu và có biện pháp phòng chống tốt hơn, thì có thể hạn chế rủi ro xảy ra Do đó trong quá trình hoạt động thanh toán quốc tế, ngân hàng phải luôn có thái độ coi trọng và đề phòng, cảnh giác với rủi ro, vì rủi ro trong thanh toán quốc tế có thể xảy đến bất cứ khi nào

Năng lực của các nhà quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế

Năng lực của các nhà quản trị được coi là nhân tố quan trọng nhất quyết định đến năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại Năng lực của nhà quản trị bao gồm từ nhận thức và quan điểm cho đến khả năng chuyên môn của ban lãnh đạo, của đội ngũ cán bộ quản trị rủi ro Một số nhà lãnh đạo lại luôn “chạy trốn rủi ro” bởi cho rằng như thế mới là an toàn cho hoạt động của ngân hàng và không bị

cơ quan cấp trên “trách phạt” Nhận thức và quan điểm đúng đắn của ban lãnh đạo ngân hàng là yếu tố tiên quyết để nâng cao năng lực quản trị rủi ro

Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ của ngân hàng

Đây là nhân tố bao hàm những trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ tạo điều kiện cho cán bộ ngân hàng có thể có được hệ thống thông tin, dữ liệu cập nhật cho phép theo dõi thường xuyên, dự báo chính xác và đầy đủ về xu hướng vận động của nền kinh tế Từ đó có thể đo lường về mức độ rủi ro và xây dựng các biện pháp để chủ động và kịp thời xử lý

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ còn tác động lớn đến năng suất lao động và chất lượng của các cán bộ nhân viên ngân hàng Không có trang thiết bị cần thiết và các phần mềm tương ứng, việc áp dụng các mô hình định lượng

để ra quyết định sẽ không thể thực hiện Ngoài ra, công nghệ hiện đại còn góp phần làm tăng tính thông suốt của hệ thống thông tin trong nội bộ ngân hàng và kết nối ngân hàng với thị trường tài chính trong nước và quốc tế, cho phép thực hiện các nghiệp vụ giao dịch kinh doanh và phòng chống rủi ro một cách hiệu quả nhất

Trang 13

1.3.3.2 Nhân tố khách quan ảnh hưởng tới quản trị rủi ro trong hoạt

động thanh toán quốc tế ở các NHTM

Nhận thức của khách hàng

Nhận thức của khách hàng cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến

quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế Bởi lẽ những suy tính và hành vi

giao dịch của khách hàng góp phần nhất định vào rủi ro, chia sẻ rủi ro và đặc biệt là

hành vi phản ứng của khách hàng khi rủi ro xảy đến Ở những nước có trình độ

nhận thức cao, thị trường tài chính phát triển các hoạt động quản trị rủi ro không chỉ

có ý nghĩa mà còn rất được chú trọng phát triển Khách hàng dù là các cá nhân cũng

có thể áp dụng các công cụ phòng chống rủi ro để bảo vệ lợi ích của bản thân và

góp phần bảo đảm an toàn cho thị trường Trái lại, ở những nước nhận thức của

công chúng hạn chế, dễ nảy sinh tâm lý hoảng loạn sẽ tác động không thuận lợi đến

năng lực và hiệu quả quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại

Các rào cản thương mại

Sự thay đổi về cơ chế, chính sách kinh tế đối ngoại của một quốc gia như

những quy định về dự trữ ngoại hối, các quy định về thuế, chính sách thương mại,

các điều kiện về chất lượng hàng hóa, các tiêu chuẩn về kỹ thuật an toàn vệ sinh

thực phẩm…hoặc đơn giản là do môi trường pháp lý, nền kinh tế của một quốc gia

chưa ổn định và thường xuyên thay đổi khiến cho các bên đối tác không dự đoán

trước được, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán

Sự biến động của thị trường tài chính trong nước và quốc tế

Sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và tiền tệ liên ngân hàng nói

riêng là yếu tố quan trọng thứ hai đối với việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro của

ngân hàng thương mại Những hoạt động của thị trường tiền tệ ngày nay trở thành

điều kiện sống còn của các ngân hàng thương mại bởi lẽ thị trường này không chỉ là

cơ sở hình thành lãi suất, tỷ giá mà còn là nơi đáp ứng nhu cầu về khả năng thanh

toán và thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ phái sinh để phòng chống rủi ro Giống như

điều kiện về môi trường pháp lý, nếu thị trường tiền tệ liên ngân hàng không phát

triển, năng lực quản trị rủi ro sẽ không hoàn toàn có ý nghĩa

1.3.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế ở các NHTM

1.3.4.1 Xuất phát từ hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Uy tín của ngân hàng suy giảm đáng kể Khi phát sinh rủi ro thì uy tín của Ngân hàng bị suy giảm đáng kể Cụ thể:

- Uy tín giữa Ngân hàng với các ngân hàng khác: Khi phát sinh rủi ro uy tín của Ngân hàng bị giảm sút nên các Ngân hàng khác hạn chế giao dịch thanh toán với Ngân hàng này để phòng tránh rủi ro dây chuyền có thể xảy đến với Ngân hàng mình nếu vẫn tiếp tục quan hệ giao dịch

- Uy tín của Ngân hàng với khách hàng nước ngoài: Khi ký hợp đồng ngoại thương khách hàng nước ngoài sẽ chỉ định không phát hành và thanh toán giao dịch qua Ngân hàng này Hoạt động Ngân hàng là hoạt động đòi hỏi yếu tố an toàn cao

do vậy khi xảy ra rủi ro, các Ngân hàng nước ngoài và khách hàng đều không muốn thanh toán qua Ngân hàng này do yếu tố tâm lý và quyền lợi của họ

- Uy tín của ngân hàng với khách hàng trong nước: Khi phát sinh rủi ro thì các khách hàng trong nước sẽ chuyển thanh toán và mở L/C sang một Ngân hàng có uy tín hơn, bên cạnh đó các khách hàng không chỉ hạn chế giao dịch các nghiệp vụ quốc tế với Ngân hàng mà còn có xu hướng giảm sút và có thể rút tất cả các giao dịch với Ngân hàng để phòng tránh rủi ro cho chính mình

Thiệt hại về kinh tế:

Khi phát sinh rủi ro, ngoài sự giảm sút uy tín, Ngân hàng còn phải gánh chịu những mất mát về kinh tế từ đó ảnh hưởng đến nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh Đây chỉ là những rủi ro kinh tế trước mắt còn về lâu dài, rủi ro chính là tác nhân lớn làm giảm lợi nhuận trong tương lai của Ngân hàng do rủi ro đã làm các khách hàng và Ngân hàng khác hạn chế giao dịch

Trang 14

1.3.4.2 Năng lực quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao

chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Giữa năng lực quản trị rủi ro và hiệu quả hoạt động kinh doanh có mối quan

hệ tác động thúc đẩy lẫn nhau Hoạt động kinh doanh được mở rộng và phát triển là

điều kiện cần thiết cho việc nâng cao doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng, song

nếu tổn thất xảy ra tương ứng thì lợi nhuận của ngân hàng mãi mãi chỉ là “dự tính”

Do vậy, quản trị rủi ro tốt là điều kiện bảo đảm cho hiệu quả kinh doanh của ngân

hàng và nhờ vào hiệu quả kinh doanh cao, ngân hàng có điều kiện chú trọng và

củng cố năng lực quản trị rủi ro Ngày nay, người ta coi quản trị rủi ro là một nội

dung của quản trị kinh doanh ngân hàng thương mại và là một yêu cầu đối với các

cấp lãnh đạo, những người chịu trách nhiệm quản trị và điều hành ngân hàng Vì

vậy, nâng cao năng lực quản trị rủi ro có ý nghĩa quan trọng đối với nâng cao chất

lượng quản trị kinh doanh của các ngân hàng thương mại

1.3.4.3 Xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đòi hỏi phải tăng cường

quản trị rủi ro

Trong xu thế hội nhập quốc tế, hội nhập về ngân hàng tài chính luôn được

đặt ra như là một vấn đề trọng tâm, hết sức quan trọng và nhạy cảm Khi tham gia

hội nhập, dù được diễn giải như thế nào cuối cùng cũng là 2 vấn đề mà các ngân

hàng phải đương đầu với: (1) Áp lực cạnh tranh ngày càng cao hơn cả về phạm vi

và mức độ, hoạt động kinh doanh trong môi trường tự do bình đẳng song với “luật

chơi” hà khắc hơn; (2) Nguy cơ rủi ro cao hơn với những diễn biến phức tạp hơn

Đặc biệt từ những năm của thập kỷ 80 và 90 trở lại đây, rủi ro trong hoạt động

thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại xuất hiện ngay càng nhiều và mức

độ ngày càng nghiêm trọng Sự hình thành và phát triển của các công cụ tài chính

và các công cụ phái sinh (hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền

chọn, hợp đồng hoán đổi) với tiến bộ khoa học công nghệ, thông tin và kỹ thuật đã

làm tăng khối lượng giao dịch tài chính trên toàn thế giới Không chỉ có vậy, khủng

hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu càng đòi hỏi phải thường xuyên quản trị rủi ro

Bên cạnh đó, sự biến động của các biến kinh tế vĩ mô như thu nhập, thất nghiệp,

lạm phát, tỷ giá hối đoái…và cuối cùng là những biến cố chính trị xã hội trên phạm

vi quốc tế tác động đến hoạt động thanh toán quốc tế và vì vậy cũng là những nguyên nhân gây ra rủi ro Trong bối cảnh đó, việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại không phải chỉ là vấn đề sống còn đối với cá nhân mỗi ngân hàng mà còn là yêu cầu chung để đảm bảo an toàn cho cả hệ thống tài chính mỗi quốc gia, mỗi khu vực và trên toàn cầu

Kết luận chương I: Qua phần trình bày ở chương I phần nào đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận về hoạt động thanh toán quốc tế và các rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế, quản trị rủi ro và những nội dung của quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại Để hiểu sâu sắc hơn về công tác quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế, sau đây Chương II sẽ phân tích và đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG

THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ

PHÁT TRIỂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2010

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và

Phát triển Việt Nam

Ngày 26/04/1957, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 177/Ttg thành

lập “Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam” tại Bộ Tài chính, thay thế cho “Vụ cấp phát

vốn kiến thiết cơ bản” Hoạt động của ngân hàng trong thời kỳ này chủ yếu là kiểm

soát, theo dõi và thanh toán theo tiến độ hoặc theo kế hoạch của các công trình xây

dựng cơ bản

Ngày 24/06/1981, Chính phủ đã có Quyết định số 259/CP về việc chuyển

Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ tài chính thành Ngân hàng Đầu tư và

Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, có nhiệm vụ thu hút và quản

lý các nguồn vốn dành cho đầu tư xây dựng cơ bản các công trình không do ngân

sách cấp hoặc không đủ vốn tự có, đại lý thanh toán và kiểm soát các công trình

thuộc diện ngân sách đầu tư

Ngày 14/10/1990 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 401/CP

thành lập Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) thay thế Ngân hàng

Đầu tư và Xây dựng Việt Nam Ngày 26/11/1990, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

đã có Quyết định số 104NH/QD phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của BIDV

Đến năm 1994, BIDV được thành lập lại theo Quyết định số 90/Ttg ngày

07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ Ngày 23/01/1995, Thống đốc Ngân hàng

Nhà nước ban hành Quyết định số 79 QĐ/NH5 quy định BIDV là ngân hàng thương

mại nhà nước, ngoài chức năng huy động trung, dài hạn trong và ngoài nước để đầu

tư các dự án phát triển kinh tế kỹ thuật, kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân

hàng, chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư, phát triển, còn thực hiện các hoạt động của

ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp trong và ngoài nước thuộc mọi thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và đặc điểm kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, có tư cách pháp nhân, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế tổng hợp, hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng, luật doanh nghiệp nhà nước, luật doanh nghiệp

và các quy định khác của pháp luật Cơ cấu tổ chức của BIDV gồm Hội đồng quản trị (Văn phòng và Ban kiểm soát), Ban Tổng giám đốc (Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Văn phòng, Ban, phòng chức năng) và các đơn vị thành viên Các đơn vị thành viên của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam gồm:

- Các chi nhánh hạch toán phụ thuộc: được chủ động trong kinh doanh, hoạt

động tài chính, tổ chức và nhân sự, được uỷ quyền một phần trong đầu tư phát triển

và huy động vốn đầu tư, thành lập các đơn vị trực thuộc Hiện nay, BIDV có 112 chi nhánh cấp 1 với hơn 500 điểm giao dịch, hơn 1.000 máy ATM và hàng ngàn điểm POS trên toàn phạm vi lãnh thổ

- Các thành viên hạch toán độc lập: là các đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ kinh

doanh Các doanh nghiệp này vừa có sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với Tổng công ty, vừa có quyền tự chủ kinh doanh và hoạt động tài chính với tư cách pháp nhân kinh tế độc lập, gồm Cty thuê mua tài chính, Cty chứng khoán, Cty bảo hiểm, Cty Quản lý nợ và khai thác tài sản, Cty đầu tư tài chính…

- Các đơn vị liên doanh: Công ty Quản lý Đầu tư BVIM, Ngân hàng Liên doanh

VID Public (VID Public Bank), Ngân hàng Liên doanh Lào Việt (LVB), Ngân hàng Liên doanh Việt Nga (VRB), Công ty liên doanh Tháp BIDV

- Các đơn vị sự nghiệp: gồm Trung tâm đào tạo, Trung tâm công nghệ thông tin

Trang 16

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Ngân hàng Đầu Tư

và Phát Triển Việt Nam 2.1.3 Hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

Việt Nam giai đoạn 2006-2010

2.1.3.1 Mô hình tổ chức:

Từ tháng 3 năm 1993, phòng Kinh tế đối ngoại tại Hội sở chính bắt đầu thực

hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu thanh toán

quốc tế của các khách hàng có quan hệ tín dụng với BIDV Ngoài việc thực hiện

hoạt động thanh toán quốc tế, phòng Kinh tế đối ngoại còn đảm nhiệm các nghiệp

vụ tài trợ xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, quan hệ quốc tế…Sau này, để đáp ứng

được nhu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ này ngày càng tăng, các nghiệp vụ dần

được tách riêng, và Phòng Kinh tế đối ngoại được đổi tên thành phòng Thanh toán quốc tế và đến năm 2007 đổi tên thành Trung tâm tác nghiệp và tài trợ thương mại, chỉ đảm nhiệm nghiệp vụ thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại Hiện nay mô hình tổ chức trung tâm tác nghiệp và tài trợ thương mại gồm 3 phòng: phòng Tài trợ thương mại 1 và 2 ở Hà nội và phòng Tài trợ thương mại 3 ở TP HCM

Mô hình hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV được tổ chức theo ngành dọc Đầu mối thanh toán với nước ngoài của cả hệ thống là Hội sở chính Chỉ có Hội sở chính mới được phép đặt quan hệ đại lý và mở tài khoản Nostro tại các ngân hàng nước ngoài

Trong hoạt động thanh toán quốc tế, các chi nhánh trong hệ thống BIDV được chia thành 2 loại:

 Loại 1: Các chi nhánh thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp: là các chi nhánh có đủ điều kiện cần thiết để trực tiếp xử lý các nghiệp vụ thanh toán quốc tế Tùy theo trình độ nghiệp vụ và chất lượng giao dịch thanh toán quốc tế của các chi nhánh, Hội sở chính xây dựng hạn mức điện tự động cho từng loại giao dịch của từng chi nhánh Dưới hạn mức đã được xác định, các giao dịch của chi nhánh sẽ

tự động chuyển tới các ngân hàng đại lý qua hệ thống SWIFT Các giao dịch vượt hạn mức sẽ được kiểm soát và duyệt lại tại Hội sở chính Bên cạnh đó cũng tùy theo trình độ nghiệp vụ, doanh số giao dịch phát sinh Hội sở chính sẽ xây dựng hạn mức thanh toán quốc tế cho từng chi nhánh Đối với những giao dịch trong hạn mức thì các chi nhánh trực tiếp tiếp nhận hồ sơ từ khách hàng, kiểm tra hồ sơ, thực hiện

và phê duyệt giao dịch Đối với những giao dịch vượt hạn mức thì chi nhánh chỉ tiếp nhận hồ sơ và gửi lên Hội sở chính để xử lý nghiệp vụ và chuyển tiếp ra nước ngoài

Định kỳ, các chi nhánh thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế trực tiếp phải báo cáo Hội sở chính về doanh số, tình hình hoạt động nghiệp vụ thanh toán quốc tế phát sinh tại chi nhánh và đối chiếu các giao dịch thanh toán quốc tế phát sinh thực

tế tại chi nhánh với số liệu lưu trữ trên chương trình của Hội sở chính

 Loại 2: Các chi nhánh thực hiện thanh toán quốc tế gián tiếp: là các chi

Trang 17

nhánh có thị trường và khách hàng xuất nhập khẩu nhưng chưa đáp ứng đủ các điều

kiện để thực hiện trực tiếp nghiệp vụ thanh toán quốc tế Tại chi nhánh cũng tiếp

nhận và kiểm tra hồ sơ do khách hàng xuất trình Những hồ sơ này sau đó sẽ được

chuyển lên Hội sở chính để xử lý nghiệp vụ và chuyển tiếp ra nước ngoài Chi

nhánh là đầu mối trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, tư vấn và hướng dẫn khách

hàng thực hiện các thủ tục và các chứng từ cần thiết cho giao dịch thanh toán quốc

tế, có trách nhiệm quản lý khách hàng, kiểm tra tính xác thực của các chứng từ do

khách hàng xuất trình Hội sở chính có trách nhiệm kiểm tra nội dung của các loại

giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật, các thông lệ quốc tế, thực hiện giao

dịch theo đúng quy trình đảm bảo an toàn về vốn và uy tín cho Ngân hàng và khách

hàng

Chất lượng giao dịch của các chi nhánh được đánh giá định kỳ 1 lần/năm

theo quy trình quản lý chất lượng ISO để có những điều chỉnh hạn mức cho phù hợp

với hoạt động thanh toán quốc tế của từng chi nhánh, đảm bảo hoạt động thanh toán

quốc tế an toàn trong toàn hệ thống

2.1.3.2 Các hoạt động thanh toán quốc tế chủ yếu:

Qua các năm từ 2006 đến 2010 doanh số thanh toán quốc tế tại Ngân hàng

Đầu Tư và Phát triển Việt Nam tăng trưởng nhanh và bền vững, với việc ký kết các

thoả thuận hợp tác, triển khai nhiều giao dịch thanh toán quốc tế với các ngân hàng

đại lý, cùng với việc chú trọng cung cấp các dịch vụ cho các định chế tài chính

Trong các năm qua, BIDV đã triển khai thỏa thuận hợp tác thanh toán quốc tế với

NHTMCP Bảo Việt tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, triển khai hoạt động thanh

toán quốc tế với Ngân hàng Đại Á tại Hà Nội và Đồng Nai, thỏa thuận hợp tác

thanh toán quốc tế với PG Bank và đang xúc tiến ký thỏa thuận hợp tác với

NHTMCP Đại Dương và Ngân hàng Phát triển VDB Bên cạnh đó, các thỏa thuận

khác tiếp tục được thực hiện: Thỏa thuận hợp tác thanh toán quốc tế với các ngân

hàng Tiên Phong, Sài Gòn, SHB, Petrolimex, Đông Nam Á Giao dịch của các Định

chế tài chính qua BIDV tương đối ổn định, góp phần vào tăng trưởng hoạt động

thanh toán quốc tế nói chung BIDV đang tích cực hướng tới các doanh nghiệp

chuyên doanh xuất nhập khẩu trong các ngành thủy sản, may mặc, xăng dầu… là nhóm khách hàng tiềm năng đối với dịch vụ thanh toán quốc tế

Sản phẩm dịch vụ thanh toán quốc tế của BIDV khá đầy đủ, đa dạng, theo đúng thông lệ, khá hoàn thiện và đầy đủ, dịch vụ BIDV cung cấp đạt chất lượng cao, tuân thủ đúng thông lệ quốc tế, giao dịch nhanh chóng và chính xác Về giá, phí dịch vụ của BIDV được đánh giá là tương đương với các Ngân hàng khác như ngân hàng Ngoại Thương, ngân hàng Công thương, cao hơn mức trung bình khối các NHTMCP nhưng thấp hơn nhiều so với các ngân hàng nước ngoài Biểu phí quy định mức tối đa tối thiểu và cho phép các chi nhánh tự quyết định việc giảm, miễn phí cho các đối tượng khách hàng đặc biệt tùy theo chính sách khách hàng của chi nhánh và cạnh tranh trên địa bàn là rất linh hoạt và chủ động cho các chi nhánh

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động TTQT qua các năm 2006-2010

Doanh số Xuất khẩu (Triệu USD) 598 963 1.578 1.222 1.184 Doanh số Nhập khẩu (Triệu USD) 2.154 3.468 5.244 5.091 4.391 Doanh số TTQT (Triệu USD) 2.752 4.431 6.822 6.313 5.575 Phí dịch vụ (Tỷ VNĐ) 90.56 135 153.4 231.9 226.75

Nguồn: Báo cáo TTQT các năm của BIDV Khó khăn chủ yếu hiện nay là vấn đề cung ứng vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu và nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhập khẩu Đây là điều kiện tiên quyết để khách hàng đẩy mạnh sử dụng sản phẩm thanh toán quốc tế tại BIDV vì việc sử dụng trọn gói các dịch vụ thanh toán quốc tế tương ứng với tỷ trọng cho vay của các ngân hàng trong dư nợ của khách hàng Hiện nay, trong điều kiện thắt chặt tăng trưởng tín dụng theo yêu cầu của Ngân hàng nhà nước và các khó khăn về tính thanh khoản trên thị trường ngoại tệ, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đang gặp rất nhiều khó khăn và việc tìm đến các ngân hàng khác có thể đáp ứng nhu cầu của họ

là điều không thể tránh khỏi Tỷ lệ mua bán ngoại tệ của các doanh nghiệp xuất

Trang 18

khẩu thấp do tỷ giá không cạnh tranh cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến sản phẩm

thanh toán quốc tế, các doanh nghiệp ưu tiên sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế tại

các ngân hàng có nguồn ngoại tệ dồi dào hơn và tỷ giá mua bán ngoại tệ cạnh tranh

hơn

Tuy doanh số thanh toán năm 2009, 2010 có xu hướng giảm nhưng phí thanh

toán quốc tế ròng của toàn hệ thống vẫn tăng trưởng liên tục qua các năm từ năm

2006 đến 2010 với tỷ lệ tăng trưởng cao và đạt vượt mức chỉ tiêu đề ra (năm 2010

giảm so với năm 2009 nhưng mức giảm không đáng kể 2.22% do doanh số thanh

toán quốc tế giảm) Năm 2008 chỉ tiêu thu phí tăng thấp so với tăng doanh số là do

giao dịch có giá trị lớn tăng (doanh số nhập khẩu xăng dầu trung bình 10 triệu

USD/L/C), các mức thu phí đều đạt ngưỡng tối đa Thêm vào đó là chính sách giảm

phí dịch vụ áp dụng cho một số đối tượng khách hàng đặc biệt (phí áp dụng cho các

Tập đoàn lớn, Tổng công ty) làm cho mức thu phí dịch vụ thanh toán quốc tế toàn

hệ thống tăng trưởng không tương ứng với mức tăng trưởng doanh số hoạt động

Hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ

a L/C nhập khẩu: Phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng nhiều nhất

trong hoạt động thanh toán quốc tế của các khách hàng sử đụng dịch vụ thanh toán

quốc tế của BIDV Do vậy, doanh số thanh toán nhập khẩu theo phương thức này

chiếm tỷ trọng lớn nhất trong doanh số hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV

(chiếm hơn 40%- Bảng 2.4)

b L/C xuất khẩu: Hoạt động thanh toán xuất khẩu theo phương thức tín dụng

chứng từ là một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động thanh toán quốc tế của

BIDV Sự tăng trưởng và phát triển trong hoạt động này là kết quả của sự nỗ lực

vượt bậc của Ngân hàng trong hoạt động thanh toán quốc tế Doanh số hoạt động

thanh toán xuất khẩu nói chung và thanh toán xuất khẩu theo phương thức tín dụng

chứng từ nói riêng đã tăng mạnh qua các năm từ 2006-2010 (Bảng 2.4)

Trong phương thức thanh toán này, vấn đề quan trọng nhất là phải xem xét

kỹ các điều khoản, điều kiện của thư tín dụng, về khả năng đòi tiền từ ngân hàng

phát hành thư tín dụng và mức độ hoàn hảo của bộ chứng từ đòi tiền Vì vậy ngay

từ bước thông báo thư tín dụng, BIDV đã tư vấn cho khách hàng để chỉnh sửa những điều khoản bất lợi đảm bảo khả năng lập bộ chứng từ đòi tiền hoàn hảo nhất Nhằm đa dạng hoá dịch vụ cung cấp và hỗ trợ các khách hàng trong hoạt động xuất khẩu, BIDV đã xây dựng cơ chế chiết khấu chứng từ hàng xuất có truy đòi hối phiếu đòi nợ theo LC và nhờ thu, chiết khấu miễn truy đòi theo LC trả ngay Hiện nay BIDV đã thực hiện chiết khấu tối đa 98% trị giá bộ chứng từ đối với thư tín dụng và được nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ này Sản phẩm chiết khấu có truy đòi theo hình thức LC được nâng cấp đã nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đồng thời mang tính hệ thống hóa và linh hoạt hóa trong xử lý nghiệp vụ sản phẩm tại chi nhánh

Cơ cấu hàng xuất thanh toán qua BIDV ngày một đa dạng Trước đây, các mặt hàng xuất khẩu qua BIDV chủ yếu là hàng gia công giầy dép, sản phẩm may mặc, là kết quả của việc đầu tư nhập khẩu dây truyền thiết bị của Ngân hàng thì hiện nay mặt hàng đã thay đổi theo cơ cấu đầu tư của Ngân hàng như thuỷ sản, gạo, cao su, cà phê, than, lâm sản, gốm sứ…

Hoạt động thanh toán theo phương thức nhờ thu Hoạt động thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ được triển khai tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đồng thời với hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ Tuy nhiên do đặc điểm của phương thức nhờ thu là tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn đối với cả nhà xuất khẩu lẫn nhà nhập khẩu nên được các khách hàng sử dụng ít hơn so với phương thức tín dụng chứng từ Trong hoạt động thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ, uy tín của ngân hàng là một yếu tố rất quan trọng để các ngân hàng phục vụ người xuất khẩu lựa chọn làm ngân hàng nhờ thu bộ chứng từ Tuy doanh số thanh toán theo phương thức nhờ thu chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng doanh số thanh toán quốc tế của BIDV nhưng có xu hướng tăng đều qua các năm, cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu (Bảng 2.2) Bên cạnh chiết khấu bộ chứng từ theo hình thức L/C BIDV còn cung cấp sản phẩm chiết khấu bộ chứng từ có truy đòi theo hình thức nhờ thu với tỷ lệ chiết khấu lên tới 95%

Trang 19

Bảng 2.2: Doanh số thanh toán theo phương thức nhờ thu

Đơn vị: Triệu USD

a Chuyển tiền đi

Nghiệp vụ chuyển tiền đi được sử dụng rộng rãi trong hoạt động thanh toán

quốc tế để thanh toán hàng hoá nhập khẩu, chuyển tiền đặt cọc trong các hợp đồng

mua bán thiết bị, thanh toán tiền dịch vụ và các khoản chuyển tiền phi mậu dịch

khác Nghiệp vụ chuyển tiền tại BIDV chiếm một tỷ trọng khá lớn trong doanh số

thanh toán quốc tế và tăng mạnh qua các năm (Bảng 2.3) Chất lượng của nghiệp vụ

chuyển tiền thể hiện ở tốc độ thực hiện giao dịch, tính chính xác và hiểu biết về hệ

thống thanh toán của các loại ngoại tệ để đảm bảo người thụ hưởng nhận được tiền

nhanh nhất với chi phí thấp nhất

Mọi khoản chuyển tiền ra nước ngoài thực hiện tại BIDV đều tuân thủ chặt

chẽ chế độ quản lý ngoại tệ ngoại hối do Nhà nước quy định trong từng thời kỳ

b Chuyển tiền đến:

Tại BIDV, nghiệp vụ chuyển tiền đến được chia thành 3 loại chính, căn cứ

vào mục đích chuyển tiền, gồm: Chuyển tiền thanh toán hàng xuất khẩu, chuyển

tiền phi mậu dịch, Chuyển tiền uỷ thác đầu tư

Doanh số chuyển tiền đến của BIDV đều có xu hướng tăng qua các năm thể hiện trong bảng 2.3, ngoại trừ năm 2010 doanh số chuyển tiền giảm do ảnh hưởng chung của nền kinh tế thế giới dẫn đến doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của cả

hệ thống BIDV giảm sút

Bảng 2.3: Doanh số thanh toán theo phương thức chuyển tiền

Đơn vị: Triệu USD

Trang 20

Bảng 2.4: Doanh số thanh toán các nghiệp vụ TTQT chủ yếu của BIDV

Đơn vị tính: Triệu USD

Nguồn: Báo cáo hoạt động TTQT của BIDV qua các năm

2.1.3.3 Kết quả hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và

Phát triển Việt Nam trong thời gian qua

 Hoạt động thanh toán quốc tế tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng,

các nghiệp vụ thanh toán quốc tế ngày càng được mở rộng

Doanh số hoạt động và phí dịch vụ thanh toán quốc tế tăng mạnh qua các năm thể hiện sự tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng Từ năm 2006 đến nay, mạng lưới thanh toán quốc tế không ngừng được mở rộng, hầu hết các chi nhánh của BIDV đã cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế với các sản phẩm khá hoàn thiện

và đầy đủ, dịch vụ BIDV cung cấp đạt chất lượng cao, tuân thủ đúng thông lệ quốc

tế, giao dịch nhanh chóng và chính xác BIDV cũng không ngừng nghiên cứu mở rộng đa dạng các hình thức thanh toán phù hợp với nhu cầu của khách hàng, đảm bảo tính cạnh tranh Việc phát triển và mở rộng các sản phẩm dịch vụ này đã góp phần thực hiện việc đa dạng hoá sản phẩm và tạo một chu trình phục vụ khách hàng

khép kín, nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV trên thị trường

 Trình độ công nghệ ngân hàng và trình độ cán bộ được nâng cao BIDV đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ thanh toán quốc tế có trình độ chuyên môn cao, ngoại ngữ tốt, có kinh nghiệm và độ nhạy bén tốt trong việc tiếp cận cái mới Do đó BIDV đã đảm nhiệm tốt vai trò tư vấn cho khách hàng trong việc lựa chọn và sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế phù hợp, quy định các điều khoản thanh toán đảm bảo an toàn cho khách hàng và ngân hàng Hàng năm BIDV đều mở các lớp đào tạo về nghiệp vụ thanh toán quốc tế từ cơ bản đến chuyên sâu cho các cán bộ thanh toán quốc tế tại trung tâm tác nghiệp tài trợ thương mại và tại các chi nhánh, đảm bảo tất cả cán bộ đều được trang bị những kiến thức

và kỹ năng xử lý nghiệp vụ cập nhật và đầy đủ nhất

Công nghệ phục vụ hoạt động thanh toán quốc tế cũng đã được BIDV đầu tư rất lớn, tiếp cận với công nghệ tiên tiến trên thế giới như tham gia hệ thống SWIFT với các phiên bản hiện đại nhất được cập nhật thường xuyên, xây dựng và triển khai chương trình tài trợ thương mại nằm trong dự án Hiện đại hoá ngân hàng theo tiêu chuẩn của ngân hàng thương mại hiện đại BIDV luôn chú trọng công tác phát triển

và nâng cấp sản phẩm đi kèm với công nghệ thông tin: thường xuyên có khảo sát và đánh giá các chương trình phần mềm đi kèm với sản phẩm để có định hướng bổ sung tiện ích cho sản phẩm Tuy hệ thống công nghệ của BIDV còn nhiều tồn tại

Trang 21

nhưng nghiệp vụ thanh toán quốc tế là một trong những nghiệp vụ được tiếp xúc và

đầu tư công nghệ tiên tiến nhất

 Quan hệ đại lý ngày càng được mở rộng

Số lượng ngân hàng đại lý và số nước thiết lập quan hệ đại lý của BIDV

ngày càng nhiều Từ chỗ hoàn toàn không có quan hệ với nước ngoài trong những

năm đầu thập kỷ 90, đến nay, BIDV đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 800 ngân

hàng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới trong rất nhiều lĩnh vực, cụ thể là:

- Mở tài khoản ngoại tệ tại 30 ngân hàng nước ngoài với các loại tiền USD,

EUR, JPY, GBP, CAD, SGD, AUD, HKD, KRW…Là ngân hàng giữ tài khoản

Nostro của rất nhiều ngân hàng nước ngoài hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài

tại Việt Nam như LaovietBank, MetropolitantBank của Đài Loan, Citibank Hà Nội,

Standard Chartered Bank Hà Nội…

- Ký kết nhiều hiệp định khung với các ngân hàng nước ngoài phục vụ cho

hoạt động tài trợ thương mại, ký kết nhiều thỏa thuận đại lý thông báo, xác nhận,

chiết khấu L/C với các ngân hàng Citibank, Bank of New york, Hypovereinsbank,

Nova Scotia bank…

- Ký kết các hợp đồng dịch vụ chi trả kiều hối với Metropolitant bank,

Tachung Bank, Malaysia Banking Berhard, Hana Bank….Ký kết nhiều biên bản ghi

nhớ thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực trao đổi thông tin và đào tạo với các ngân

hàng có uy tín trên thế giới

 Uy tín của BIDV ngày càng được nâng cao

Khi hoạt động thanh toán quốc tế được triển khai từ năm 1993 và phát triển

ngày càng lớn mạnh cho đến ngày nay, thương hiệu BIDV mới thực sự được biết

đến trên thị trường quốc tế Trải qua quá trình phát triển, trình độ xử lý nghiệp vụ

ngày càng cao của cán bộ thanh toán quốc tế cùng với sự tuân thủ chặt chẽ các

thông lệ quốc tế đảm bảo an toàn trong giao dịch đã góp phần tạo niềm tin cho các

ngân hàng đối tác nước ngoài cũng như các khách hàng trong và ngoài nước BIDV

đã được các khách hàng và ngân hàng tin tưởng chọn làm đối tác và đầu mối trong

một số dự án đồng tài trợ trị giá lớn, được chỉ định làm ngân hàng phát hành thư tín

dụng, thông báo thư tín dụng, thương lượng và chiết khấu chứng từ, chuyển tiền, nhờ thu…

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2010

2.2.1 Môi trường quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Mỗi giao dịch thanh toán quốc tế do các cán bộ thanh toán quốc tế thực hiện đều được thông qua sự giám sát của ít nhất một kiểm soát viên và phải được sự phê duyệt của trưởng hoặc phó phòng, đối với những giao dịch có giá trị lớn, phức tạp

và có rủi ro tiềm ẩn thì phải có ý kiến chỉ đạo của Ban Gíam đốc trung tâm Cũng như ở Hội sở chính, dù là chi nhánh thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp hay gián tiếp thì mỗi quyết định thanh toán hay không thanh toán đều dưới sự giám sát của trưởng phòng hoặc phó phòng phụ trách nghiệp vụ Do đó các giao dịch thanh toán quốc tế trước khi phê duyệt đều được kiểm tra chặt chẽ, hạn chế tối đa các sai xót

và rủi ro có thể xảy ra

Ngoài ra tại Hội sở chính Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam cũng

đã thành lập Ban Quản lý rủi ro, chịu trách nhiệm quản lý rủi ro toàn hệ thống trong

đó có rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá rủi ro, tổng hợp số liệu các sự cố, dấu hiệu rủi ro, các giao dịch nghi ngờ bất thường toàn hệ thống, tham mưu cho Ban lãnh đạo về công tác quản lý rủi ro Tại các chi nhánh cũng có các Phòng quản lý rủi ro với chức năng tương tự Thời gian qua hoạt động quản trị rủi ro thanh toán quốc tế của BIDV đã đi vào ổn định và dần tiến đến thông lệ quốc tế, góp phần đảm bảo hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV được

an toàn và hiệu quả

Tuy công tác quản trị rủi ro tại Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam được tiến hành một cách tương đối có hệ thống và quy cách nhưng do thanh toán quốc tế là một hoạt động tương đối phức tạp, có sự tham gia của nhiều bên và chịu

Ngày đăng: 03/08/2016, 17:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Ngân hàng Đầu Tư - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Ngân hàng Đầu Tư (Trang 16)
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động TTQT qua các năm 2006-2010 - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động TTQT qua các năm 2006-2010 (Trang 17)
Bảng 2.2: Doanh số thanh toán theo phương thức nhờ thu - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Bảng 2.2 Doanh số thanh toán theo phương thức nhờ thu (Trang 19)
Bảng 2.3: Doanh số thanh toán theo phương thức chuyển tiền - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Bảng 2.3 Doanh số thanh toán theo phương thức chuyển tiền (Trang 19)
Bảng 2.4: Doanh số thanh toán các nghiệp vụ TTQT chủ yếu của BIDV - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Bảng 2.4 Doanh số thanh toán các nghiệp vụ TTQT chủ yếu của BIDV (Trang 20)
Bảng 2.6: Tỷ lệ rủi ro giữa các phương thức thanh toán quốc tế - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Bảng 2.6 Tỷ lệ rủi ro giữa các phương thức thanh toán quốc tế (Trang 24)
Bảng 2.7: Các kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong thanh toán quốc tế tại - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Bảng 2.7 Các kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong thanh toán quốc tế tại (Trang 26)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w