Phương pháp nghiên cứu Dựa vào lý thuyết chuyên ngành Kinh tế tài chính – Ngân hàng cùng với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu giữa hệ thống xếp hạng tín nhiệm d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
BÙI THỊ THANH LONG
DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính – Ngân hàng Mã số : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS LÝ HỒNG ÁNH
TP Hồ Chí Minh- Năm 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung của Luận văn này hoàn toàn được hình thành
và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS Lý Hoàng Ánh Các số liệu và kết quả trong Luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn
trung thực
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thanh Long
TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN NHIỆM DOANH
NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 Xếp hạng tín nhiệm DN của NHTM 1
1.1.1 Hệ thống xếp hạng tín nhiệm 1
1.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 1
1.1.1.2 Khái niệm xếp hạng tín nhiệm 2
1.1.2 Ý nghĩa của việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín nhiệm DN 4
1.1.2.1 Đối với các nhà đầu tư 4
1.1.2.2 Đối với các doanh nghiệp được xếp hạng 5
1.1.2.3 Đối với ngân hàng thương mại 5
1.1.2.4 Đối với thị trường tài chính 6
1.1.3 Các mô hình xếp hạng 7
1.1.3.1 Mô hình chỉ số Z (Z Credit scoring Model) 7
1.1.3.2 Phương pháp ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ IRB 10
Trang 31.1.4.1 Kinh nghiệm tại Malaysia 13
1.1.4.2 Kinh nghiệm tại Thái Lan 14
1.1.4.3 Kinh nghiệm tại Mỹ 14
1.1.4.4 Kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng hệ thống XHTN doanh nghiệp 15
Kết luận chương 1 17
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN NHIỆM DOANH NGHIỆP TẠI BIDV 18
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 18
2.1.1 Giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của BIDV 18
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 19
2.1.2.1 Tại trụ sở chính 19
2.1.2.2 Tại các chi nhánh 20
2.1.3 Tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh 20
2.1.3.1 Về chất lượng tài sản 21
2.1.3.2 Các chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời 23
2.1.3.3 Về xu hướng an toàn vốn 23
2.2 Thực trạng hoạt động cho vay tại BIDV 25
2.3 Hệ thống xếp hạng tín nhiệm DN tại BIDV 28
2.3.1 Mục đích của Hệ thống xếp hạng tín nhiệm DN 28
2.3.2 Căn cứ xây dựng 29
2.3.3 Phương pháp xếp hạng 30
2.3.5 Căn cứ xếp hạng 32
2.3.6 Chấm điểm xếp hạng tại BIDV 32
2.3.7 Các chỉ tiêu dùng trong hệ thống xếp hạng 38
2.3.7.1 Chỉ tiêu tài chính 38
2.3.7.2 Các chỉ tiêu phi tài chính 39
2.3.8 So sánh với các Ngân hàng thương mại khác 43
2.3.9 Những ưu điểm của hệ thống xếp hạng tín nhiệm DN tại BIDV 49
2.3.10 Những hạn chế của hệ thống xếp hạng tín nhiệm DN tại BIDV 53
Kết luận chương 2 56
CHƯƠNG 3 PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN NHIỆM DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 62
3.1 Định hướng chiến lược phát triển của BIDV đến 2015 57
3.2 Các đề xuất hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín nhiệm DN tại BIDV 64
3.2.1 Hoàn thiện quy trình chấm điểm tín nhiệm DN 64
3.2.1.1 Quy trình chấm điểm các DN quy mô nhỏ 67
3.2.1.2 Quy trình chấm điểm các DN mới thành lập 69
3.2.2 Hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu xếp hạng tín nhiệm DN 71
3.2.2.1 Bộ chỉ tiêu chấm điểm hiện hành dành cho nhóm khách hàng là DN lớn và vừa 71
3.2.2.2 Bộ chỉ tiêu dành cho khách hàng là DN quy mô nhỏ 74
3.2.2.3 Bộ chỉ tiêu dành cho khách hàng là DN mới thành lập chưa có đủ báo cáo tài chính 2 năm liên tiếp 78
Trang 4Ký hiệu Diễn giải
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
QĐ Quyết định Quyết định 493 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Moody’s Moody’s Investors Service
VCB Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam Saigon Bank Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Hệ thống quy ước hạng tín nhiệm của các tổ chức đánh giá tín nhiệm
quốc tế 3
Bảng 1.2: Bảng so sánh chỉ số Z’’ điều chỉnh với xếp hạng tín nhiệm của Standard & Poor 10
Bảng 2.1: Danh mục ngành kinh tế 33
Bảng 2.2: Tỷ trọng phần tài chính và phi tài chính của hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại BIDV 36
Bảng 2.3: Bảng đánh giá xếp hạng DN và phân loại nhóm nợ của hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại BIDV 36
Bảng 2.4: Bảng chỉ tiêu đánh giá tài chính DN 39
Bảng 2.5: Bảng tỷ trọng của nhóm chỉ tiêu phi tài chính 42
Bảng 2.6: Bộ chỉ tiêu chấm điểm phi tài chính của NH TMCP Ngoại thương Việt Nam 47
Bảng 2.7: Bộ chỉ tiêu chấm điểm phi tài chính của NH TMCP Sài Gòn Công thương 47
Bảng 3.1: Cơ cấu tỷ trọng điểm tài chính và phi tài chính của bộ chỉ tiêu đánh giá DN quy mô nhỏ 69
Bảng 3.2: Cơ cấu tỷ trọng điểm các nhóm phi tài chính của bộ chỉ tiêu đánh giá DN mới thành lập lập chưa có đủ báo cáo tài chính 2 năm liên tiếp 71
Bảng 3.3: Bộ chỉ tiêu tài chính dành cho các DN quy mô nhỏ 75
Hình 2.1: Mô hình tổ chức toàn hệ thống BIDV 19
Hình 2.2: Mô hình tổ chức trụ sở chính của BIDV 20
Hình 2.3: Quy trình chấm điểm của Hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại BIDV 31
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình xếp hạng tín nhiệm DN đề xuất 66
Hình 3.2: Sơ đồ quy trình chấm điểm dành cho các DN quy mô nhỏ 68
Hình 3.3: Sơ đồ quy trình chấm điểm dành cho các DN mới thành lập chưa có đủ báo cáo tài chính 2 năm liên tiếp 70
Trang 6Hình 2.1: Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn của các khoản vay năm 2008 và dự kiến
năm 2009 của BIDV 22
Hình 2.2: Cơ cấu cho vay theo loại tiền tệ năm 2008 và dự kiến năm 2009 của
Do đó, vấn đề đầu tiên được đặt ra cho các nhà quản trị ngân hàng trong giai đoạn hội nhập của Việt Nam là kiểm soát rủi ro để nâng cao hiệu quả hoạt động, đủ lực để cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài Và hệ thống xếp hạng tín nhiệm là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu này Các ngân hàng thương mại thực hiện xây dựng hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp nội bộ để đánh giá mức độ rủi ro từ khách hàng, cho phép ngân hàng chủ động trong việc lựa chọn khách hàng và xây dựng chính sách trong hoạt động cho vay một cách hợp lý Tuy nhiên việc xây dựng hệ thống đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn
Trang 7mực quốc tế và thực tiễn Với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
rủi ro trong hệ thống ngân hàng, phát triển hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh
nghiệp nên luận văn đã lựa chọn đề tài “Phát triển hệ thống xếp hạng tín
nhiệm doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung vào những vấn đề sau:
- Trình bày lịch sử hình thành xếp hạng tín nhiệm, khái niệm và ý nghĩa của
xếp hạng tín nhiệm, qua đó nêu bật sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hệ
thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp trong quản lý rủi ro tại các ngân
hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
nói riêng
- Trình bày hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam, nêu rõ những ưu điểm và hạn chế của hệ thống, qua
đó đề xuất một số giải pháp để phát triển hệ thống xếp hạng doanh nghiệp,
nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý luận về xếp hạng tín nhiệm, các chỉ tiêu dùng để phân tích
xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp
- Nghiên cứu về xếp hạng tín nhiệm, các mô hình và các kinh nghiệm về xếp
hạng tín nhiệm trên thế giới, từ đó có những nhận định trong việc phát triển
hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại
Việt Nam vốn còn nhiều hạn chế
- Phân tích những chỉ tiêu dùng trong phân tích xếp hạng tín nhiệm doanh
nghiệp, xem xét thực trạng của hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp
tại một số ngân hàng thương mại, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng
thương mại Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa vào lý thuyết chuyên ngành Kinh tế tài chính – Ngân hàng cùng với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu giữa hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại Việt Nam, hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại Việt Nam với kinh nghiệm của các nước và các tổ chức đánh giá chuyên nghiệp trên thế giới,
từ đó làm rõ những ưu điểm và hạn chế của hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại, qua đó đề xuất các giải pháp đối với các ngân hàng thương mại và các cấp quản lý vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả xếp
hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: hệ thống hóa cơ sở lý luận về lịch sử hình thành và khái niệm của xếp hạng tín nhiệm, làm rõ vai trò của hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong hoạt động quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay
Chương 2: phân tích những ưu điểm và hạn chế của hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chương 3: đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm phát triển hiệu quả của hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN NHIỆM DOANH
NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của NHTM
1.1.1 Hệ thống xếp hạng tín nhiệm
1.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Bắt đầu từ thế kỷ XVII, khi các hoạt động giao dịch từ những bạn hàng phương xa
bắt đầu thịnh hành thì nhu cầu về thông tin về nhau giữa những người làm ăn ngày
càng phát triển mạnh Ban đầu, người kinh doanh sẽ tìm hiểu thông tin về đối tác
thông qua những bạn hàng xung quanh hoặc dựa trên giới thiệu của những người
có uy tín Tuy nhiên, những thông tin có được theo cách này có khá nhiều hạn chế
vì không đa dạng và không đầy đủ Do đó người ta bắt đầu nảy ra ý tưởng ghi
chép lại những thông tin về mức độ tín nhiệm của bạn hàng và bán cho những ai
có nhu cầu Khi khối lượng và phạm vi giao dịch dần nhiều hơn, một loại hình
dịch vụ mới đã được hình thành, đó là dịch vụ thông tin tín nhiệm Đối tượng có
nhu cầu về dịch vụ này là nhà bán buôn, xuất nhập khẩu, nhà sản xuất, ngân hàng
và các công ty bảo hiểm
Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm hình thành và phát triển mạnh, hoạt động chủ yếu
tại Mỹ do nhu cầu đánh giá tín nhiệm của các doanh nghiệp ngành đường sắt Đến
năm 1914 thì Công ty Moody’s – tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm đầu tiên trên
thế giới được thành lập bởi ông John Moody dựa vào một công ty được ông thành
lập trước đó vào năm 1909 Năm 1941, tổ chức Standard and Poors được thành lập
dựa trên sự sáp nhập của Poor’s Publishing và Standard Statistics Ngày nay các tổ
chức xếp hạng tín nhiệm ngày càng phát triển mạnh mẽ, mở rộng quy mô và phạm
vi hoạt động ra nhiều nước trên thế giới Điển hình là vào năm 1995, số lượng
nhân viên của S&P là 1.200 nhân viên với hơn 800 chuyên gia phân tích và số
nhân viên của Moody’s là 1.700 nhân viên với 560 chuyên gia phân tích Tới năm
2000, Moody’s đã thực hiện xếp hạng cho 20.000 nhà phát hành tại thị trường vốn
ở Mỹ và 1.200 nhà phát hành tại các thị trường vốn khác với tổng số công cụ nợ trị giá 5.000 tỷ USD
Đối tượng xếp hạng tín nhiệm bao gồm các quốc gia, các công ty, các ngân hàng, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư…và các công cụ nợ do các chủ thể này phát hành
1.1.1.2 Khái niệm xếp hạng tín nhiệm
Xếp hạng tín nhiệm (credit ratings) là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Anh (credit: tín dụng, rating: sự xếp hạng) do John Moody đưa ra vào năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt” khi thực hiện nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín nhiệm lần đầu tiên cho 1.500 trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái ABC được xếp lần lượt theo một thứ tự quy định, và đến nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực của quốc tế
Xếp hạng tín nhiệm được hiểu khái quát là kỹ thuật đánh giá rủi ro tín dụng do
các tổ chức xếp hạng thực hiện và công bố dựa trên các tiêu chí phản ánh khả năng tài chính và uy tín tín dụng của người vay nợ hoặc khả năng thanh toán của các tổ chức đối với các khoản tiền nghĩa vụ, bao gồm gốc và lãi, của các công cụ nợ mà các tổ chức này phát hành Tổ chức phát hành có thể là chính phủ cấp quốc gia, cấp tỉnh, thành phố hay các công ty
Theo Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI): “Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp là đánh giá khả năng của doanh nghiệp thực hiện thanh toán đúng hạn một nghĩa vụ tài chính”
Hiện tại trên thế giới có một số tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm được quốc tế công nhận hoặc được quốc gia của tổ chức đó công nhận Tuy nhiên chỉ có 3 tổ chức được công nhận, có uy tín và thị phần cao nhất trên thế giới là Moody’s, Standard and Poors và Pitch Ratings
Trang 9Phương pháp đánh giá hệ số tín nhiệm của các tổ chức về cơ bản là giống nhau
Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm sẽ lần lượt đánh giá các tổ chức phát hành công cụ
nợ thông qua nhiều yếu tố như:
Quốc gia, môi trường, ngành kinh doanh tổ chức hoạt động, chất lượng, kỹ năng
của ban quản lý, chiến lược marketting, chính sách quản lý…
Các chỉ số tài chính phản ánh tình hình tài chính sẽ được đưa ra phân tích, đánh
AAA Aaa Chất lượng cao nhất, ổn định, độ rủi ro thấp nhất
AA Aa Chất lượng cao, rủi ro thấp Độ rủi ro chỉ cao hơn hạng AAA một bậc
A A Chất lượng khá, tuy vậy có thể bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế
BBB Baa Chất lượng trung bình, an toàn trong thời gian hiện tại Tuy vậy có ẩn chứa một số yếu tố rủi ro
BB Ba Chất lượng trung bình thấp, có thể gặp khó khăn trong việc trả nợ, bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi
của tình hình kinh tế
B B Chất lượng thấp, rủi ro cao, có nguy cơ không thanh toán đúng hạn
Chỉ số tín nhiệm theo S&P
Chỉ số tín nhiệm theo Moody's
Diễn giải
CCC Caa Rủi ro cao, chỉ có khả năng trả nợ nếu tình hình kinh tế khả quan
CC Ca Rủi ro rất cao, rất gần phá sản
C C Rủi ro rất cao, khó có khả năng thực hiện thanh toán các nghĩa vụ nợ
D Xếp hạng hấp nhất, đã phá sản hay hầu như sẽ phá sản
(Nguồn: www.saga.vn)
Đối với chỉ số S&P, ngoài những xếp hạng cơ bản trên, + hay – còn được dùng để chia nhỏ một xếp hạng cơ bản ra thành 3 loại, trong đó + là hạng cao nhất trong hạng đó, không dấu là trung bình, - là thấp nhất Ví dụ: AA+, AA, AA-
Đối với chỉ số Moody’s, hệ số 1, 2, 3 được dùng để chia nhỏ xếp hạng, trong đó 1
là hạng cao nhất trong hạng đó, 2 là trung bình, 3 là thấp nhất Ví dụ: Aa1, Aa2, Aa3
1.1.2 Ý nghĩa của việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp 1.1.2.1 Đối với các nhà đầu tư
Xếp hạng tín nhiệm cung cấp cho các nhà đầu tư trên thị trường vốn một nguồn thông tin đáng tin cậy, đặc biệt khi hầu hết các tổ chức XHTN đều có lịch sử hình thành lâu đời, có uy tín với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm
Kết quả xếp hạng tín nhiệm cho biết mức độ rủi ro khi quyết định thực hiện đầu tư của các nhà đầu tư, đặc biệt là các tổ chức chuyên nghiệp Do đó các doanh nghiệp
có kết quả xếp hạng càng cao, tức là mức tín nhiệm càng cao thì rủi ro càng thấp, càng thu hút được nhiều nhà đầu tư
Trang 101.1.2.2 Đối với các doanh nghiệp được xếp hạng
Kết quả xếp hạng tín nhiệm có sự ảnh hưởng rất lớn đến bản thân các doanh
nghiệp, đặc biệt sự thành công của doanh nghiệp trên thị trường vốn khi thực hiện
huy động vốn Kết quả xếp hạng tín nhiệm sẽ đánh giá mức độ uy tín của doanh
nghiệp trên thị trường Đặc biệt đối với các nhà phát hành lần đầu ra công chúng
hoặc quan hệ tín dụng lần đầu tiên tại các tổ chức tín dụng, uy tín sẽ gia tăng nhiều
lần nếu kết quả xếp hạng cao được công bố từ các tổ chức xếp hạng có danh tiếng
trên thế giới Và trong tình hình kinh tế có nhiều bất ổn, doanh nghiệp nào giữ
vững được vị trí xếp hạng thì sẽ càng thu hút được nhiều nhà đầu tư
Ngoài ra, các công ty có kết quả xếp hạng tín nhiệm càng cao thì càng thu hút
được nhiều nhà đầu tư, tăng khả năng huy động vốn, chi phí vay vốn càng giảm
1.1.2.3 Đối với ngân hàng thương mại
Ngày nay, các ngân hàng thương mại đều sử dụng kết quả xếp hạng tín nhiệm của
một tổ chức XHTN độc lập, có uy tín hoặc tự mình xây dựng một hệ thống xếp
hạng tín nhiệm riêng để làm cơ sở cho các quyết định trong lĩnh vực cho vay:
Xây dựng chính sách khách hàng
Dựa trên những nhóm khách hàng khác nhau được phân loại từ đánh giá xếp hạng
tín nhiệm, các NHTM sẽ có chính sách về lãi suất, tài sản bảo đảm… đồng bộ, rõ
ràng để từ đó thu hút khách hàng, tạo sự gắn kết lâu dài giữa khách hàng với ngân
hàng trên cơ sở có sự tính toán đến rủi ro; tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động
kinh doanh của ngân hàng, từ đó đem lại lợi nhuận tối đa cho các ngân hàng trong
phạm vi mức độ rủi ro cho phép
Lựa chọn khách hàng
Hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp cho phép các ngân hàng nhận diện
được những khách hàng tốt, khách hàng có tiềm năng hoặc những đối tượng khách
hàng có dấu hiệu rủi ro cao Từ đó các NHTM sẽ có những chính sách phù hợp
nhằm vừa thu hút khách hàng vừa đảm bảo quản lý rủi ro hiệu quả Những khách
hàng tốt nhất sẽ được hưởng chính sách về tín dụng, dịch vụ ưu đãi nhất và ngược lại
Ra quyết định cho vay
Kết quả xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp giúp các NHTM giảm thiểu thời gian khi quyết định một khoản vay, theo đó sẽ nâng cao hiệu quả của quy trình cho vay, đồng thời chi phí quản lý cũng được tiết kiệm nhiều hơn
Xây dựng danh mục cho vay
Các khoản vay của những khách hàng khác nhau sẽ có những đặc điểm rủi ro khác nhau Trên cơ sở kết quả xếp hạng tín nhiệm, NHTM sẽ xác định một cách hợp lý, chính xác nhất tổn thất trong cho vay theo từng dòng sản phẩm hoặc lĩnh vực hoặc ngành kinh tế, từ đó phân tích được rủi ro và lợi nhuận thu được Đây là điều kiện quan trọng để NHTM xây dựng danh mục cho vay tối ưu cũng như xây dựng chiến lược cho vay có chất lượng cao
Kiểm soát rủi ro trong hoạt động cho vay
Kiểm soát rủi ro trong hoạt động cho vay sẽ hiệu quả hơn khi kết quả xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp góp phần đo lường hợp lý mức độ rủi ro của danh mục tín dụng Ngoài ra, việc đánh giá xếp hạng định kỳ sẽ có tác dụng giám sát và đánh giá khách hàng tín dụng khi khoản tín dụng đang còn dư nợ, đánh giá những dấu hiệu xấu về chất lượng khoản vay và có những giái pháp kịp thời
Phân loại nợ và quản lý nợ
Kết quả xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp là căn cứ để thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và theo chuẩn mực quốc tế, phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc
tế
1.1.2.4 Đối với thị trường tài chính
Trang 11Theo xu thế phát triển chung của thế giới, ngày nay hầu hết trên các thị trường tài
chính của các nước đều tồn tại các tổ chức xếp hạng tín nhiệm Kết quả xếp hạng
tín nhiệm là nguồn thông tin vô cùng quan trọng để các nhà điều hành vĩ mô có thể
sử dụng như một công cụ giám sát thị trường, giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư
Đồng thời kết qủa xếp hạng cũng là báo hiệu để các cơ quan quản lý kịp thời điều
chỉnh các chính sách, kế hoạch sao cho nền kinh tế đi vào trạng thái phát triển bền
vững
Ngoài ra, xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp cũng đóng vai trò quảng bá hình ảnh
cho các tổ chức, doanh nghiệp; cung cấp thông tin cho đối tác, tạo lập niềm tin cho
thị trường
1.1.3 Các mô hình xếp hạng
1.1.3.1 Mô hình chỉ số Z (Z Credit scoring Model)
Do đặc thù hoạt động trong lĩnh vực rủi ro cao, các ngân hàng thường đặt vấn đề
kiểm soát rủi ro trong hoạt động cho vay lên hàng đầu Để nhận biết tình hình tài
chính một khách hàng là tốt hay xấu, từ đó dẫn đến những khoản vay của khách
hàng được hoàn trả có đầy đủ và đúng hạn hay không, các ngân hàng thường sử
dụng nhiều phương pháp và kỹ thuật khác nhau để kiểm tra và theo dõi thường kỳ
Một trong những tiêu chí để ngân hàng nhận biết sức khỏe tài chính khách hàng đó
là dấu hiệu báo trước sự phá sản Hoạt động của doanh nghiệp được xem như
chấm hết khi phá sản, dẫn đến toàn bộ những khoản vay của khách hàng này sẽ là
khoản nợ khó đòi đối với các ngân hàng Do đó tìm ra công cụ nhận biết dầu hiệu
phá sản được nhiều ngân hàng và nhà nghiên cứu tài chính doanh nghiệp quan
tâm
Trong những năm 1946-1965, Mô hình chỉ số Z đã được giáo sư Redward I
Altman, trường kinh doanh Leonard N Stern, thuộc trường Đại học New York,
phát minh thông qua việc phân tích một số lượng lớn các công ty tại Mỹ Đây là
công cụ nhằm phát hiện nguy cơ phá sản của các công ty, được phát minh tại Mỹ nhưng hầu hết vẫn được các nước áp dụng với độ tin cậy khá cao
Các ngân hàng áp dụng mô hình chỉ số Z để phân loại rủi ro tín dụng và cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn
Chỉ số Z bao gồm 5 chỉ số tài chính với các trị số thể hiện tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay, phân loại theo từng loại hình và ngành doanh nghiệp:
X1 = Tỷ số Vốn lưu động trên Tổng tài sản (Working Capitals/Total Assets) X2 = Tỷ số Lợi nhuận giữ lại trên Tổng tài sản (Retain Earnings/Total Assets) X3 = Tỷ số Lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên Tổng tài sản (EBIT/Total Assets) X4 = Tỷ số Giá trị thị trường của Vốn chủ sở hữu trên Giá trị sổ sách của Tổng nợ (Market Value of Total Equity/Book Values of Total Liabilities)
X5 = Tỷ số Doanh số/Tổng Tài sản (Sales/Total Assets) Chỉ số Z càng cao thì xác suất vỡ nợ càng thấp Khi chỉ số thấp hoặc là số âm sẽ là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao
Chỉ số Z của Altman được mô tả cho các doanh nghiệp cổ phần hóa ngành sản xuất như sau:
Trang 12Chỉ số Z’ của Altman được mô tả cho các doanh nghiệp chưa cổ phần hóa ngành
sản xuất như sau:
Theo mô hình này, bất cứ doanh nghiệp chưa cổ phần hóa thuộc ngành sản xuất
nào có điểm số thấp hơn 1,23 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng
Chỉ số Z’’ được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp nên X5
được loại ra do có sự khác biệt khá lớn giữa các ngành, các hình thức doanh
nghiệp
Ngoài ra, Altman cũng phát minh ra chỉ số Z’’ điều chỉnh bằng chỉ số Z’’+3,25
Công thức của Z’’ điều chỉnh được mô tả như sau:
0-1,75 D
(Nguồn: www.saga.vn)
1.1.3.2 Phương pháp ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ IRB
Mô hình đánh giá khả năng tổn thất tín dụng của khách hàng vay dựa trên hệ thống
cơ sở dữ liệu nội bộ được đề nghị áp dụng tại Hiệp định về tiêu chuẩn vốn quốc tế
Trang 13của Ủy ban Basel, gọi tắt là Basel II Hiệp định này được xây dựng vào tháng 6
năm 2004, theo đó các ngân hàng có thể sử dụng mô hình dựa trên hệ thống dữ
liệu nội bộ để đánh giá rủi ro tín dụng đối với các khách hàng vay vốn
Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất ước tính về tín dụng được tính toán theo công
thức:
EL = PD × EAD × LGD
Tổn thất tín dụng phụ thuộc vào 3 biến số: xác suất khách hàng không trả được nợ
PD (Probability of Default), tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng
không trả được nợ EAD (Exposure at Default) và tỷ trọng tổn thất ước tính LGD
(Loss Given Default)
PD - xác suất không trả được nợ:
Cơ sở để xác định PD là dữ liệu về các khoản nợ trong quá khứ trong vòng 5 năm
trước đó của khách hàng, bao gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và
khoản nợ không thu hồi được Dữ liệu được phân thành 3 nhóm chính:
Dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như đánh
giá của các tổ chức xếp hạng
Dữ liệu phi tài chính (định tính) liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên
cứu, phát triển sản phẩm mới và các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành…
Dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không
trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi
Các dữ liệu này sẽ được đưa vào một mô hình định sẵn để tính xác suất không trả
được nợ của khách hàng Đó có thể là mô hình probit, mô hình tuyến tính…và
thường được các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp xây dựng
EAD - tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được
nợ:
Việc xác định EAD đối với các khoản vay theo hạn mức tín dụng hoặc tín dụng tuần hoàn phức tạp hơn so với các khoản vay có kỳ hạn Theo thống kê của Ủy ban Basel, các khách hàng sẽ có xu hướng rút vốn vay xấp xỉ bằng hạn mức được cấp tại thời điểm khách hàng không trả được nợ Do đó xác định EAD được tính theo công thức sau:
EAD = dư nợ bình quân + LEQ×HMTD chưa sử dụng bình quân
LEQ×HMTD chưa sử dụng bình quân chính là phần dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân, trong đó LEQ là tỷ
trọng phần vốn chưa sử dụng có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ LEQ có vai trò quan trọng trong việc xác định chính xác dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ và được xác định dựa trên dữ liệu quá khứ Tuy nhiên trên thực tế việc xác định LEQ thường gặp khó khăn, đặc biệt đối với những khách hàng có uy tín, trả nợ đầy đủ và hiếm khi rơi vào tình trạng không trả được nợ hoặc đối với những yếu tố khác như loại hình kinh doanh của khách hàng, khả năng tiếp cận thị trường tài chính của khách hàng, quy mô hạn mức tín dụng, tỷ lệ dư nợ đang sử dụng so với hạn mức,…
LGD – tỷ trọng tổn thất ước tính:
Tỷ trọng tổn thất ước tính là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ Phần vốn bị tổn thất này không chỉ bao gồm khoản vay mà gồm cả các tổn thất khác phát sinh khi khách hàng không trả được nợ: lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán, các chi phí hành chính có thể phát sinh như chi phí xử lý tài sản thế chấp, các chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan
LGD = (EAD – số tiền có thể thu hồi)/EAD Theo công thức trên, số tiền có thể thu hồi bao gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố Theo thống kê của
Ủy ban Basel, tỷ lệ thu hồi vốn thường có giá trị hoặc rất cao từ 70% đến 80%
Trang 14hoặc rất thấp từ 20% đến 30% Do đó chúng ta không nên sử dụng tỷ lệ thu hồi
vốn bình quân
Hai yếu tố ảnh hưởng quyết định đến khả năng thu hồi vốn của ngân hàng khi
khách hàng không trả được nợ là tài sản đảm bảo của khoản vay và cơ cấu tài sản
của khách hàng Trong đó cơ cấu tài sản của khách hàng được hiểu là thứ tự ưu
tiên trả nợ khác nhau của các khoản phải trả trong trường hợp doanh nghiệp phá
sản
1.1.4 Kinh nghiệm tại các nước
1.1.4.1 Kinh nghiệm tại Malaysia
Tháng 11 năm 1990, cơ quan định mức tín nhiệm đầu tiên của Malaysia là Rating
Agency of Malaysia, gọi tắt là RAM ra đời Đến năm 1992, ngân hàng trung ương
Malaysia ủy quyền cho RAM xếp hạng tín nhiệm cho tất cả chứng khoàn nợ của
các công ty khi phát hành ra công chúng Cho đến nay, RAM đã xây dựng được
một hệ thống chuyên nghiệp, độc lập, nhất quán trong đánh giá, tuân thủ các chuẩn
mực quốc tế kèm theo hiểu biết về điều kiện riêng biệt trong nước và tiếp cận
mang tính phát triển RAM được Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) xếp hạng là
Công ty định mức tín nhiệm hàng đầu của khu vực Châu Á Thái Bình Dương
Công việc xếp hạng tín nhiệm của RAM chủ yếu tập trung vào rủi ro tín dụng bao
gồm phân tích bao quát về ngành, hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính
• Phân tích ngành
Bắt đầu từ việc việc phân tích, đặc điểm của riêng từng ngành, xem xét ảnh hưởng
của những thay đổi trong chính sách vĩ mô cũng như chu kỳ kinh tế đến hoạt động
của công ty như xu hướng chính sách tiền tệ, cơ hội kinh doanh trong các điều
kiện kinh tế thay đổi,…
• Phân tích hoạt động kinh doanh
Hoạt động kinh doanh của công ty được RAM đánh giá qua các chỉ tiêu như tốc
độ tăng trưởng của công ty so với mức trung bình toàn ngành, khả năng sinh lời, chiến lược tiếp thị và nghiên cứu phát triển….Ngoài ra, việc nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, phân tích mức độ chính sách vĩ mô của Chính phủ ảnh hưởng như thế nào đối với hoạt động của công ty cũng được RAM lưu ý
• Phân tích hoạt động tài chính
Ram tập trung xem xét 2 yếu tố: thực tiễn mang tính kinh tế về các giao dịch cho phép và việc đánh giá về khả năng tạo ra tiền mặt, không phải là giá trị báo cáo mà
là so sánh với chi phí trong tương lai để hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho những người nắm giữ trái phiếu Ngoài ra RAM cũng xem xét độ nhạy cảm của thị trường trong ngắn hạn, xu hướng trong các cam kết của công ty và các yêu cầu về tăng vốn…
1.1.4.2 Kinh nghiệm tại Thái Lan
Năm 1993, Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã cùng Công ty Tài chính Công nghiệp Thái Lan thành lập dịch vụ định mức tín nhiệm và thông tin Thái Lan với tên gọi Thai Rating & Information Services, gọi tắt là TRIS
TRIS xếp hạng tín nhiệm tin dụng dựa trên phương pháp phân tích từ ngành đến hoạt động tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đối với mỗi ngành nghề khác nhau, TRIS sẽ có phương pháp phân tích khác nhau, công thức tính
toán được áp dụng riêng và cân nhắc tùy theo mỗi doanh nghiệp
1.1.4.3 Kinh nghiệm tại Mỹ
Các công ty xếp hạng tín nhiệm ra đời tại Mỹ từ lâu đời và là nơi tập trung nhiều công ty có uy tín và chuyên nghiệp hàng đầu thế giới như Moody’s, Standard & Poor’s, Pitch Ratings và Duff and Phelps…Ở Mỹ, định giá tín nhiệm không bắt buộc cho phát hành chứng khoán nhưng nó được sử dụng rộng rãi để quản lý các tiêu chuẩn luật pháp như yêu cầu vốn của các công ty chứng khoán Do đó hoạt động của các công ty xếp hạng tín nhiệm ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần
Trang 15lớn trong việc đánh giá, xếp hạng cho các công cụ nợ trên thị trường tài chính Mỹ
và thị trường tài chính quốc tế
Phương pháp của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, cụ thể là tại Moody’s và
Standard & Poor’s thì chủ yếu tập trung vào hai loại rủi ro là rủi ro kinh doanh và
rủi ro tài chính Các yếu tố phản ánh rủi ro kinh doanh là ngành nghề, vị thế cạnh
tranh, quy mô doanh nghiệp, năng lực điều hành quản lý… Các yếu tố chính phản
ánh rủi ro tài chính là quy mô doanh nghiệp và rủi ro vốn chủ sở hữu Doanh
nghiệp có quy mô càng lớn thì khả năng đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh càng
cao, rủi ro kinh doanh được phân tán Còn các doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu
càng lớn thì càng có lợi thế cạnh tranh do có đủ nguồn vốn để đổi mới công nghệ,
dễ tiếp cận nhiều nguồn vốn trên thị trường nên rủi ro tài chính sẽ được hạn chế
Đồng thời Moody’s và Standard & Poor’s cũng sử dụng nhiều mô hình xếp hạng
tín dụng khác nhau trong quá trình phân tích: mô hình Probit, mô hình Altman, mô
hình Metron…
Chỉ số S&P 500 là chỉ số đo lường 500 mã cổ phiếu có mức vốn hoá lớn nhất của
Hoa Kỳ được tính toán và công bố bởi Công ty Standard & Poors Đây là chỉ số
đáng tin cậy luôn được các quỹ đầu tư tin dùng cũng như được các nhà đầu tư sử
dụng thường xuyên để lựa chọn và đưa ra quyết định đầu tư nhanh chóng, thay vì
tự khảo sát điều tra một cách không chuyên nghiệp S&P 500 gồm 500 công ty,
trong đó 400 công ty ngành công nghiệp, 20 công ty ngành giao thông vận tải, 40
công ty ngành phục vụ, 40 công ty ngành tài chính
1.1.4.4 Kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng hệ thống XHTN
doanh nghiệp:
• Xây dựng các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập có uy tín
Ngày nay, xếp hạng tín nhiệm ngày càng đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực tài
chính Thông qua kết qua kết quả xếp hạng của các tổ chức độc lập, các doanh
nghiệp có thể mở rộng thị trường vốn trong và ngoài nước, giảm bớt sự phụ thuộc
vào các khoản vay ngân hàng, bảo đảm duy trì sự ổn định nguồn tài trợ cho công
ty Đa số các công ty được xếp hạng cao có thể duy trì được thị trường vốn hầu như trong mọi hoàn cảnh, ngay cả khi thị trường vốn có những biến động bất lợi Chính kết quả xếp hạng của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm có một ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động vốn của các doanh nghiệp, do đó việc xây dựng các tổ chức xếp hạng độc lập tại Việt Nam phải được thực hiện cẩn trọng Kinh nghiệm từ các nước trên thế giới cho thấy tổ chức xếp hạng tín nhiệm phải là một tổ chức độc lập, có nhiều cổ đông tham gia góp vốn và không một cổ đông nào có quyền chi phối tổ chức để đảm bảo sự khách quan, tính chính xác, từ đó tạo nên sự tín nhiệm trên thị trường
• Xây dựng hệ thống XHTN riêng tại các ngân hàng thương mại
Đối với riêng các ngân hàng thương mại, hê thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp còn là cơ sở để quản trị tín dụng nhằm giới hạn rủi ro ở mức mục tiêu và
hỗ trợ trong việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, tiến tới mục đích tối đa hóa lợi nhuận Chính sách khách hàng của các ngân hàng thương mại cũng được xây dựng dựa trên kết quả xếp hạng của hệ thống xếp hạng
Mục đích của việc xây dựng hệ thống XHTN tại các NHTM tương đối khác so với các tổ chức xếp hạng độc lập: nhằm phòng ngừa và quản lý rủi ro trong cho vay, kiểm soát thường xuyên chất lượng tín dụng trong suất thời gian vay vốn của DN Tuy nhiên các chỉ tiêu đánh giá của hệ thống XHTN tại các NHTM cũng phải thực hiện đầy đủ như các tổ chức xếp hạng độc lập, bao gồm đánh giá môi trường ngành, đánh giá tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, đánh giá khả năng quản lý và các yếu tố tác động khác… Kết quả xếp hạng doanh nghiệp của hệ thống XHTN tại các NHTM sẽ được phục vụ cho hoạt động của ngân hàng, tuy nhiên các ngân hàng cũng có thể tham khảo thêm kết quả từ các tổ chức XHTN độc lập để làm cơ sở cho các quyết định cho vay, theo dõi đánh giá chất lượng tín dụng của các khoản vay
Trang 16Kết luận các vấn đề nghiên cứu của chương 1:
Trong chương 1, đề tài đã cố gắng trình bày khái quát về lịch sử hình thành của
xếp hạng tín nhiệm, khái niệm và ý nghĩa của xếp hạng tín nhiệm, từ đó đưa ra sự
cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp
trong hoạt động của các NHTM Bên cạnh đó, việc tiếp cận những hướng dẫn,
nghiên cứu và kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc áp dụng sử dụng
hệ thống đánh giá tín nhiệm để kiểm soát rủi ro sẽ là cơ sở để luận văn nghiên cứu
thực trạng hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam tại Chương 2
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN NHIỆM DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 2.1.1 Giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của BIDV
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có tên tiếng Anh là Bank for Investment and Development of Vietnam, tên viết tắt là BIDV được thành lập theo Nghị định
số 177/TTg ngày 26 tháng 4 năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ Trải qua một thời gian dài hoạt động, BIDV đã hoạt động qua nhiều giai đoạn với những tên gọi khác nhau:
- Giai đọan 1957 – 1980: Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam được thành lập
vào ngày 26/04/1957 (tiền thân của BIDV), trực thuộc Bộ Tài Chính với quy mô ban đầu gồm 11 chi nhánh, 200 nhân viên với nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội
- Giai đoạn 1981 – 1989: được đổi tên Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt
Nam từ ngày 24/06/1981, trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu
tư xây dựng cơ bản thuộc kế hoạch nhà nước tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế
- Giai đoạn 1990 – 1994: được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam (BIDV) từ ngày 14/11/1990 với nhiệm vụ được thay đổi về cơ bản: ngoài việc tiếp tục nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nước thì BIDV đã thực hiện huy động các nguồn vốn
Trang 17trung dài hạn để cho vay đầu tư phát triển, kinh doanh tiền tệ tín dụng và
dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển
- Giai đoạn 1995 – 2000: BIDV được phép kinh doanh đa năng tổng hợp
như một ngân hàng thương mại, phục vụ chủ yếu cho đầu tư phát triển của
đất nước Đây là thời kỳ BIDV đã khẳng định được vị trí, vai trò là ngân
hàng thương mại hàng đầu tại Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước với danh hiệu Đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi
mới
- Giai đoạn từ 2001 đến nay: BIDV đã triển khai đồng bộ Đề án cơ cấu lại
được Chính phủ phê duyệt và Dự án hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống
thanh toán do Ngân hàng thế giới (World Bank) tài trợ, tiến tới phát triển
trở thành một ngân hàng đa năng hàng đầu của Việt Nam, hoạt động ngang
tầm với các ngân hàng khu vực vào năm 2010
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong 5 ngân hàng thương mại
quốc doanh tại Việt Nam, có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời Từ những
ngày đầu thành lập với chỉ 11 chi nhánh thì đến nay BIDV đã phát triển mở rộng
hệ thống đến hơn 108 chi nhánh trên khắp cả nước
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Trong năm 2008, BIDV tiếp tục thực hiện các nội dung của Đề án hỗ trợ kỹ thuật
do Ngân hàng Thế giới (Word Bank) tài trợ nhằm chuyển đổi mô hình tổ chức
hoạt động giai đoạn 2007-2010 Theo đó BIDV thực hiện cơ cấu lại toàn diện, sâu
sắc trên tất cả các mặt hoạt động của ngân hàng Từ ngày 01/10/2008, BIDV chính
thức vận hành mô hình tổ chức mới tại Trụ sở chính
Mô hình tổ chức toàn hệ thống của BIDV được trình bày tại Hình 2.1 tại Phụ lục 1
2.1.2.1 Tại trụ sở chính
Trụ sở chính của BIDV gồm 34 ban và trung tâm được phân thành 7 khối chức
năng: Khối Ngân hàng bán buôn (4 ban), Khối Ngân hàng bán lẻ và mạng lưới (3
ban), Khối vốn và kinh doanh vốn (1 ban), Khối quản lý rủi ro (3 ban), Khối tác nghiệp (3 ban), Khối Tài chính – Kế toán (3 ban) và Khối hỗ trợ (16 ban)
Mô hình tổ chức trụ sở chính của BIDV được trình bày tại Hình 2.2 tại Phụ lục 1
2.1.2.2 Tại các chi nhánh
Các đơn vị thành viên gồm 108 Chi nhánh sắp xếp, điều chỉnh chức năng, nhiệm
vụ các phòng/Tổ theo mô hình mẫu được thiết kế gồm 5 khối:
• Khối quan hệ khách hàng gồm: các Phòng Quan hệ khách hàng; Phòng/Tổ tài trợ dự án
• Khối Quản lý rủi ro: Phòng Quản lý rủi ro
• Khối Tác nghiệp gồm: Phòng Quản trị Tín dụng, Phòng Dịch vụ khách hàng, Phòng/Tổ Quản lý và dịch vụ kho quỹ, Phòng/Tổ Thanh toán quốc tế
• Khối Quản lý nội bộ gồm: Phòng Kế hoạch – Tổng hợp, Phòng/Tổ Điện toán, Phòng Tài chính – Kế toán, Phòng Tổ chức – Nhân sự, Văn phòng
• Khối trực thuộc gồm: các Phòng giao dịch, Quỹ Tiết kiệm
2.1.3 Tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh
Năm 2008 là một năm với nhiều biến động của nền kinh tế, những khó khăn nối tiếp sau năm 2007 đối với các NHTM vẫn chưa kết thúc Tuy nhiên, cùng với sự
nỗ lực của toàn hệ thống, BIDV vẫn đạt được những thành tựu nhất định trong kết quả hoạt động kinh doanh năm 2008 và nâng cao năng lực tài chính, chuẩn bị các điều kiện tiên quyết cho việc cổ phần hóa ngân hàng vào năm 2010
Đơn vị tính: tỷ đồng
9 tháng đầu năm 2009
Trang 18Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
9 tháng đầu năm 2009 Chất lượng tài sản
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2006, 2007, 2008 và Báo cáo kết quả hoạt
động 9 tháng đầu năm của BIDV)
2.1.3.1 Về chất lượng tài sản
Đến 31/12/2008, tổng tài sản của BIDV đạt 242,316 tỷ (tương đương 14.3 tỷ đô la
Mỹ), tăng trưởng 20.3% so với năm 2007 Với quy mô tổng tài sản như trên,
BIDV tiếp tục giữ vị trí thứ hai trên thị trường nội địa sau Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nam Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản là 20.3% so
với năm 2007, tăng nhẹ so với tốc độ tăng trưởng của những năm trước đó,
nguyên nhân chủ yếu do quy mô tổng tài sản ngày một tăng cao
Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản vẫn là hoạt động tín dụng với 64% Đây
là hoạt động truyền thống, mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Cơ
cấu tín dụng ngày càng được cải thiện theo hướng tích cực nhằm nâng cao hiệu
Hình 2.1: Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn của các khoản vay năm 2008 và dự kiến năm 2009 của BIDV
(Nguồn: Báo cáo thường niên của BIDV năm 2008 và kế hoạch kinh doanh năm
Trang 19Ngoài ra, BIDV còn thực hiện đa dạng hóa danh mục cho vay trong nhiều lĩnh vực
khác nhau như cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế biến, thương nghiệp, dịch vụ, nông
2.1.3.2 Các chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời
ROA, ROE của BIDV giảm nhẹ so với năm trước do khó khăn từ môi trường kinh
doanh, mặt bằng lãi suất tăng cao và biến động bất thường trong năm 2008 Tuy
nhiên với việc kiểm soát tốt chất lượng tài sản (tỷ lệ nợ xấu giảm từ 3.98% năm
2007 xuống còn 2.75% năm 2008) nên BIDV vẫn duy trì được hiệu quả kinh
doanh của toàn hệ thống
2.1.3.3 Về xu hướng an toàn vốn
Năm 2008 là một năm rất khó khăn đối với hoạt động ngân hàng, đặc biệt là môi
trường kinh doanh có nhiều biến động mạnh: mặt bằng lãi suất tăng cao và biến
động bất thường, hiệu quả toàn ngành ảnh hưởng nặng nề do đánh giá lại chứng
khoán kinh doanh của công ty con theo chuẩn mực quốc tế Do đó để đảm bảo an
tổ chức tín dụng như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển
Năm 2008, vốn cấp 1 của BIDV đạt 13,109 tỷ đồng, tăng 28% so với năm 2007 và tăng 97% so với năm 2006 Nguồn vốn phòng vệ rủi ro cấp 1 này được ngân hàng củng cố đều qua các năm, giúp ngân hàng đảm bảo an toàn trước những rủi ro ngoài dự kiến có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh
Mặc dù vai trò và độ tin cậy của vốn cấp 2 thấp hơn vốn cấp 1 nhưng vẫn là tường rào phòng vệ an toàn vốn cho ngân hàng Vốn cấp 2 của BIDV đạt 4,709 tỷ đồng vào năm 2008, tăng 46% so với năm 2007, giúp BIDV củng cố hành lang phòng
vệ an toàn vốn theo xu hướng đáp ứng thông lệ quốc tế
• Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR)
Hệ số an toàn vốn tối thiểu là thước đo khả năng của ngân hàng chống đỡ rủi ro không được dự tính mà không làm ảnh hưởng tới nguồn vốn cơ bản của ngân hàng Theo Quyết Định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005, yêu cầu về hệ
Trang 20số CAR ngày càng tiếp cận đến mức chuẩn quốc tế như Basel I quy định Quyết
định này bắt buộc duy trì hệ số CAR ở mức tối thiểu 8% và có thời gian ân hạn 3
năm (tới tháng 5/2008) cho các tổ chức tín dụng thực hiện để đáp ứng mức tối
thiểu này Theo báo cáo tài chính quốc tế năm 2008, hệ số CAR của BIDV đạt
mức trên 6.5% và phấn đấu tiến tới chuẩn tối thiểu về an toàn vốn theo Quy định
của NHNN và tiêu chuẩn quốc tế là 8%
Bên cạnh hệ số CAR, với sự tăng trưởng 20% của tổng tài sản, tăng 19% của vốn
chủ sở hữu đã giúp hệ số an toàn vốn cơ bản (Vốn CSH/Tổng tài sản) cũng tăng
đáng kể trong năm 2008, góp phần đảm bảo an toàn vốn cho hệ thống BIDV trong
những năm qua
2.2 Thực trạng hoạt động cho vay tại BIDV
Hoạt động cho vay tại BIDV chiếm vai trò khá quan trọng, chiếm 64% trong tổng
tài sản và mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Trong những năm gần đây,
hoạt động cho vay luôn phát triển theo chiều hướng tích cực về cả chất lượng lẫn
2009
Tổng dư nợ 67,244 79,383 93,453 126,616 154,176 186,874
Tỷ lệ cho vay trung dài hạn 45.7% 42% 41.10% 39.80% 40.50% 37.63%
Tỷ lệ cho vay có tài sản đảm
Cơ cấu cho vay được ngân hàng điều chỉnh theo hướng bền vững qua các năm: tỷ
lệ cho vay trung dài hạn được giữ ở mức cân đối hợp lý, cho vay có tài sản đảm bảo dần được đẩy mạnh, nợ xấu giảm xuống dưới mức 3%
Tỷ lệ nợ xấu thời điểm 31/12/2008 theo báo cáo kiểm toán là 2.75% So sánh tỷ lệ
nợ xấu của năm 2008 với tỷ lệ nợ xấu năm 2007 (3.98%) và năm 2006 (9.6%) cho thấy nỗ lực cũng như hiệu quả trong việc kiểm soát chất lượng cho vay của ngân hàng Như vậy, bước đầu ngân hàng đã đạt được kết quả khả quan trong công tác quản lý tín dụng theo thông lệ quốc tế
Năm 2006, BIDV triển khai thực hiện hệ thống xếp hạng tín nhiệm nhằm kiểm soát chặt chẽ danh mục cho vay và phân loại nợ theo thông lệ quốc tế
Trang 21
(*) Tổng dư nợ được phân loại không bao gồm cho vay ODA, cho vay theo các
hợp đồng mua bán lại chứng khoán được hạch toán trong các khoản cho vay chiết
khấu thương phiếu và giấy tờ có giá
(Nguồn: Báo cáo thường niên của BIDV năm 2006, 2007, 2008 và 9 tháng đầu
năm 2009)
Tính đến cuối năm 2008: nợ nhóm 1 tăng từ 72.6% lên 76.6% tổng dư nợ; nợ
nhóm 2 giảm từ 23.4% xuống còn 20.7%; nợ không thu hồi được cũng giảm đáng
kể từ 0.9% xuống 0.6% Đặc biệt nợ xấu giảm còn 2.75%, dưới 3% theo chuẩn
quốc tế Bên cạnh đó, tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/tổng nợ xấu của BIDV phản ánh
khả năng bù đắp rủi ro của BIDV tăng từ 134% lên 199% cho thấy khả năng tự bù
đắp rủi ro ngày càng được nâng cao
Cơ cấu tín dụng và chất lượng tín dụng nêu trên đã cho thấy hướng đi đúng đắn
của ngân hàng trong việc thực thi chính sách tín dụng gắn liền với đánh giá định
hạng DN: kiểm soát chất lượng, đa dạng hoá khách hàng, nâng cao quản lý rủi ro
tín dụng, vừa đảm bảo tăng trưởng vừa kiểm soát tốt chất lượng tín dụng
2.3 Hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại BIDV 2.3.1 Mục đích của Hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp
Hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại BIDV được xây dựng với mục đích phục vụ quản lý chất lượng tín dụng trong toàn bộ hệ thống BIDV cũng như nhằm phục vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo các quy định được ban hành:
Trang 22- Ra quyết định cho vay, bao gồm: phê duyệt hay không phê duyệt, xác định
hạn mức tín dụng, mức lãi suất, áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay và các
chính sách khách hàng khác
- Giám sát và đánh giá khách hàng tín dụng khi khoản vay đang còn dư nợ,
đánh giá những dấu hiệu xấu về chất lượng khoản vay và có những giải
pháp kịp thời
- Làm cơ sở để phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước
2.3.2 Căn cứ xây dựng
Hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại BIDV được xây dựng với mục đích
phục vụ quản lý chất lượng tín dụng trong toàn bộ hệ thống BIDV cũng như nhằm
phục vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo các quy định được
ban hành:
- Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng; Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005,Quyết định số
783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/05/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về
việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối
với khách hàng đã được ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN
ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
- Quyết định số 57/2002/QĐ-NHNN ngày 24/01/2002 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước về việc triển khai thí điểm đề án phân tích, xếp loại tín dụng doanh
nghiệp
- Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước về việc ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng
- Các văn bản khác có liên quan đến nghiệp vụ tín dụng và thực tiễn trong công tác tín dụng tại BIDV
2.3.3 Phương pháp xếp hạng
Hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp tại BIDV là phương pháp lượng hóa mức độ rủi ro trong cho vay của khách hàng thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm Hệ thống thực hiện chấm điểm dựa trên các nhóm chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính, kết hợp với phương pháp chuyên gia và phương pháp thống
kê để xếp hạng khách hàng
Trong mỗi nhóm chỉ tiêu tài chính hoặc phi tài chính sẽ bao gồm nhiều chỉ tiêu nhỏ Các chỉ tiêu nhỏ này được xác định dựa vào thang điểm được xây dựng sẵn, thông thường có tối đa 5 mức điểm là 20, 40, 60, 80, 100, gọi là điểm ban đầu Tùy theo mức độ quan trọng, giữa các chỉ tiêu và nhóm chỉ tiêu sẽ có trọng số khác nhau Trọng số của mỗi chỉ tiêu/nhóm chỉ tiêu phụ thuộc vào đặc thù riêng của mỗi loại hình khách hàng, ngành kinh tế, tính chất sở hữu và quy mô hoạt động của DN Do đó điểm tổng hợp dùng để xếp hạng khách hàng sẽ là tích số giữa điểm ban đầu và trọng số
Kết quả xếp hạng: dựa trên số điểm cuối cùng đạt được mà mỗi khách hàng sẽ được xếp loại vào 10 thứ hạng theo thứ tự thấp dần: AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, D Theo đó khách hàng xếp hạng ở mức càng thấp thì độ rủi ro càng cao, khả năng thu hồi nợ càng thấp
Trang 23KHÁCH HÀNG
NGÀNH KINH TẾ
CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH CHỈ TIÊU PHÍ TÀI CHÍNH
TỔNG HỢP ĐIỂM TÍN DỤNG VÀ XẾP HẠNG KHÁCH HÀNG
Hình 2.3: Quy trình chấm điểm của Hệ thống xếp hạng tín nhiệm DN tại BIDV
(Nguồn: Hệ thống xếp hạng tín nhiệm DN nội bộ của BIDV)
2.3.4 Đối tượng xếp hạng
Hệ thống xếp hạng tín nhiệm được xây dựng thành 3 bộ chấm điểm khác nhau để
áp dụng cho 3 loại khách hàng chính: khách hàng là DN; khách hàng là cá nhân,
hộ gia đình và khách hàng là các tổ chức tín dụng Tuy nhiên trong đề tài này chỉ
giới hạn xem xét nghiên cứu hệ thống chấm điểm áp dụng riêng cho nhóm khách
hàng là các doanh nghiệp
Theo quy định tại hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của BIDV, các khách hàng doanh nghiệp không được coi là đối tượng để BIDV thực hiện chấm điểm tín dụng thuộc một trong các trường hợp sau:
- Khách hàng là doanh nghiệp mới thành lập, hoạt động chưa đủ năm, chưa
có báo cáo tài chính hoặc báo cáo tài chính không có số đầu kỳ
- Khách hàng là doanh nghiệp mới thành lập, hoạt động chưa đủ năm hoặc có báo cáo tài chính nhưng không có số đầu kỳ
- Khách hàng chỉ có các khoản vay bằng nguồn vốn tài trợ uỷ thác của Bên thứ ba mà Bên thứ ba cam kết chịu toàn bộ trách nhiệm xử lý rủi ro khi xảy
- Báo cáo tài chính gần nhất của khách hàng;
- Hồ sơ pháp lý và ngành nghề kinh doanh của khách hàng;
- Mức độ tín nhiệm của khách hàng trong các giao dịch với BIDV và các tổ chức tín dụng khác trong hiện tại và trong quá khứ;
- Các thông tin thu thập liên quan đến khách hàng bao gồm các nhân tố môi trường nội bộ, môi trường bên ngoài, xu hướng phát triển của khách hàng…
2.3.6 Chấm điểm xếp hạng tại BIDV
Trình tự thực hiện xếp hạng tín nhiệm các khách hàng là doanh nghiệp tại BIDV được thực hiện bao gồm 6 bước:
Bước 1: Xác định ngành kinh tế
Trang 24Đây là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong quy trình xếp hạng Việc phân loại
các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề khác nhau sẽ giúp xác định tỷ
trọng của từng chỉ tiêu đánh giá sao cho phù hợp với ngành nghề đó, từ đó đem lại
kết quả xếp hạng đáng tin cậy nhất
Ngành nghề kinh tế được xác định dựa trên hoạt động sản xuất kinh doanh chính
của khách hàng, là hoạt động đem lại doanh thu chính cho khách hàng
Trường hợp khách hàng hoạt động trong nhiều lĩnh vực thì ngành nào đem lại
doanh thu chiếm từ 50% trở lên tổng doanh thu hàng năm của khách hàng thì sẽ
được xem là ngành chính
Trường hợp khách hàng hoạt động trong nhiều lĩnh vực và không có ngành nào
đem lại doanh thu chiếm từ 50% trở lên tổng doanh thu hàng năm của khách hàng
thì BIDV có thể xem xét, lựa chọn ngành có tiềm năng phát triển nhất để thực hiện
chấm điểm
BIDV xác định có tổng cộng 35 ngành kinh tế chính, được phân loại thành 7 nhóm
ngành, phù hợp với các ngành nghề hoạt động của các khách hàng là DN hiện
đang có quan hệ tín dụng tại BIDV Danh mục 35 ngành kinh tế do BIDV xác định
được trình bày tại Bảng 2.1 tại Phụ lục 2 đính kèm đề tài nghiên cứu này
Bước 2: Xác định quy mô
Quy mô hoạt động của khách hàng, tùy theo mỗi ngành kinh tế khác nhau, được
xác định trên cơ sở các chỉ tiêu sau:
Tương ứng với 35 ngành kinh tế khác nhau sẽ có 35 bộ chỉ tiêu để xác định quy
mô Theo đó quy mô khách hàng sẽ được chia làm 3 loại:
Quy mô doanh nghiệp Khung điểm tương ứng
Lớn từ 22 điểm đến 32 điểm Vừa từ 12 điểm đến 21 điểm
(Nguồn: Hệ thống xếp hạng tín nhiệm DN nội bộ của BIDV)
Bước 3: Xác định loại sở hữu của khách hàng:
BIDV chia các hình thức sở hữu của DN thành 3 loại chính sau:
- Khách hàng là doanh nghiệp Nhà nước
- Khách hàng là doanh nghiệp có từ 50% vốn nước ngoài trở lên
- Khách hàng khác Ngoài ra, hệ thống xếp hạng doanh nghiệp cũng phân biệt khách hàng đang có quan hệ tín dụng tại BIDV hoặc là khách hàng mới, chưa từng quan hệ tín dụng tại BIDV
Bước 4: Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính:
Đây là một trong hai hệ thống chỉ tiêu đánh giá chính của bộ xếp hạng Trong hệ thống chỉ tiêu này, BIDV sử dụng 14 chỉ tiêu tài chính, được chia thành 4 nhóm khác nhau để đánh giá uy tín của khách hàng trên phương diện tài chính, bao gồm:
- Nhóm chỉ tiêu thanh khoản
- Nhóm chỉ tiêu hoạt động
- Nhóm chỉ tiêu đòn cân nợ
Trang 25- Nhóm chỉ tiêu thu nhập
Điểm tài chính là tổng điểm của từng chỉ tiêu tài chính (điểm ban đầu) nhân với
tỷ trọng của từng chỉ tiêu Tỷ trọng các chỉ tiêu tài chính sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào
ngành nghề hoạt động kinh doanh của khách hàng
Bước 5: Chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính
Các chỉ tiêu phi tài chính dùng để đánh giá uy tín của khách hàng trên phương
diện phi tài chính, được sắp xếp thành 5 nhóm chính:
- Khả năng trả nợ từ lưu chuyển tiền tệ
- Trình độ quản lý và môi trường nội bộ
- Quan hệ với Ngân hàng
- Các nhân tố bên ngoài
- Các đặc điểm hoạt động khác
Điểm phi tài chính là tổng điểm của từng chỉ tiêu phi tài chính (điểm ban đầu)
nhân với tỷ trọng của từng chỉ tiêu Tỷ trọng các chỉ tiêu phi tài chính sẽ thay đổi
tuỳ theo mỗi ngành nghề và loại hình sở hữu DN của khách hàng
Bước 6: tổng hợp điểm và xếp hạng:
Tổng điểm của khách hàng = điểm tài chính × trọng số tài chính
+ điểm phi tài chính × trọng số phi tài chính
Trọng số tài chính và phi tài chính bị ảnh hưởng bởi yếu tố báo cáo tài chính có
được kiểm toán hay không được kiểm toán, từ đó dẫn đến có thể thay đổi kết quả
(Nguồn: Hệ thống xếp hạng tín nhiệm DN nội bộ của BIDV)
Tổng hợp điểm tài chính tỷ trọng và điểm phi tài chính tỷ trọng gọi là tổng điểm
Mức xếp hạng Đặc điểm nhóm khách hàng
Phân loại nhóm nợ
90-100 AAA
Là khách hàng đặc biệt tốt Hoạt động kinh doanh có hiệu quả rất cao và liên tục tăng trưởng mạnh, tiềm lực tài chính đặc biệt mạnh đáp ứng được tốt mọi nghĩa vụ trả nợ
Cho vay đối với các khách hàng này có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi vay đúng hạn
83-90 AA
Là khách hàng rất tốt Hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao và tăng trưởng vững chắc, tình hình tài chính tốt đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa
nợ
Cho vay đối với các khách hàng này có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi vay đúng hạn
Nợ nhóm 1
Trang 26Cho vay đối với các khách hàng này có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi vay đúng hạn
65-71 BB
Là khách hàng bình thường Hoạt động kinh doanh có hiệu quả tuy nhiên huy quả không cao
và rất nhạy cảm với các điều kiện ngoại cảnh
Khách hàng này có một số yếu điểm về tài chính,
về khả năng quản lý
Cho vay đối với các khách hàng này có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi vay nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
Nợ nhóm 2
59-65 B
Là khách hàng cần chú ý Hoạt động kinh doanh hầu như không hiệu quả, năng lực tài chính suy giảm, trình độ quản lý còn nhiều bất cập
Dư nợ vay của các khách hàng này có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
53-59 CCC
Là khách hàng yếu Hoạt động kinh doanh cầm chừng, năng lực quản trị không tốt, tài chính mất cân đối và chịu tác động lớn khi có các thay đổi
về môi trường kinh doanh
Dư nợ vay của các khách hàng này có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
44-53 CC
Là khách hàng yếu kém Hoạt động kinh doanh cầm chừng, không thực hiện đúng các cam kết về trả nợ
Dư nợ vay của các khách hàng này có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
Dư nợ vay của các khách hàng này không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Nợ nhóm 5
(Nguồn: Hệ thống xếp hạng tín nhiệm DN nội bộ của BIDV)
Dựa trên kết quả xếp hạng của Hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, các khoản nợ của từng nhóm khách hàng khác nhau sẽ được phân loại để xác định mức độ rủi ro của những khoản vay, là căn cứ để trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định tại điều 7 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước, tiến gần đến với thông lệ quốc tế
2.3.7 Các chỉ tiêu dùng trong hệ thống xếp hạng
Hệ thống xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của BIDV sử dụng chủ yếu 2 bộ chỉ tiêu chấm điểm chính, kết hợp giữa phương pháp chuyên gia và phương pháp phân tích, để xếp hạng khách hàng là chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính
2.3.7.1 Chỉ tiêu tài chính
Có tổng cộng 14 chỉ tiêu tài chính để đánh giá khách hàng, được chia thành 4 nhóm: nhóm chỉ tiêu thanh khoản, nhóm chỉ tiêu hoạt động, nhóm chỉ tiêu cân nợ, nhóm chỉ tiêu thu nhập
Các chỉ tiêu tài chính được đánh giá theo 5 mức điểm khác nhau, trong đó điểm tối
đa mỗi chỉ tiêu là 100 điểm, điểm thấp nhất là 20 điểm Điểm này được gọi là điểm tài chính ban đầu Tổng số điểm tài chính ban đầu tối đa có thể đạt được là 140
điểm
Điểm tài chính ban đầu nhân với tỷ trọng của từng chỉ tiêu sẽ cho ra điểm số của từng chỉ tiêu Giá trị chuẩn và tỷ trọng của từng chỉ tiêu tài chính sẽ thay đổi tùy theo từng ngành kinh tế khác nhau sao cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của các DN trong mỗi ngành nghề kinh tế, đảm bảo tính hợp lý cho các chỉ tiêu này
Tổng điểm số các chỉ tiêu tài chính này được gọi là điểm tài chính
Điểm tài chính sẽ được nhân với trọng số phần tài chính, tùy theo báo cáo có được
kiểm toán hay không, sẽ cho ra điểm tài chính tỷ trọng của DN Nếu báo cáo tài chính của DN không được kiểm toán thì điểm tài chính tỷ trọng của DN sẽ giảm
do tỷ trọng cho phần tài chính không có kiểm toán thấp hơn có kiểm toán là 5%
Trang 27Bảng 2.4: Bảng chỉ tiêu đánh giá tài chính DN
I Nhóm chỉ tiêu thanh khoản
1 Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn
2 Khả năng thanh toán nhanh = (Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạn
3 Khả năng thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền/Nợ ngắn hạn
II Nhóm chỉ tiêu hoạt động
4 Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần/Tài sản ngắn hạn bình quân
5 Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán/Hàng tồn kho bình quân
6 Vòng quay các khoản phải thu quân = Doanh thu thuần/ Các khoản phải thu bình
7 Hiệu suất sử dụng tài sản cố định (TSCĐ) = Doanh thu thuần/ Giá trị còn lại của TSBĐ bình quân
III Nhóm chỉ tiêu đòn cân nợ
8 Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản = Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản
9 Nợ dài hạn/Vốn chủ sở hữu = Nợ dài hạn/Vốn chủ sở hữu
IV Nhóm chỉ tiêu thu nhập
10 Lợi nhuận gộp/Doanh thu thuần = Lợi nhuận gộp từ bán hàng và cung cấp dịch vụ/Doanh thu thuần
11 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh/Doanh thu thuần = Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh/Doanh thu thuần
12 Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu bình quân = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu bình quân
13 Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản bình quân = Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản bình quân
14 EBIT/Chi phí lãi vay vay = (Lợi nhuận trước thuế và lãi vay)/Chi phí lãi
(Nguồn: Hệ thống xếp hạng tín nhiệm DN nội bộ của BIDV)
2.3.7.2 Các chỉ tiêu phi tài chính:
Có tổng cộng 40 chỉ tiêu phi tài chính để đánh giá khách hàng, được chia thành 5
nhóm:
• Khả năng trả nợ từ lưu chuyển tiền tệ (2 chỉ tiêu):
- Khả năng trả nợ trung dài hạn
- Nguồn trả nợ của khách hàng theo đánh giá của cán bộ tín dụng
• Trình độ quản lý và môi trường nội bộ (9 chỉ tiêu):
- Nhân thân của người đứng đầu doanh nghiệp và kế toán trưởng
- Kinh nghiệm chuyên môn của người đứng đầu doanh nghiệp
- Học vấn của người đứng đầu doanh nghiệp
- Năng lực điều hành của người đứng đầu doanh nghiệp theo đánh giá giá của cán
bộ tín dụng
- Quan hệ của ban lãnh đạo DN với các cơ quan hữu quan
- Tính năng động và độ nhạy bén của ban lãnh đạo DN với sự thay đổi của thị trường theo đánh giá của cán bộ tín dụng
- Môi trường kiểm soát nội bộ, cơ cấu tổ chức của DN theo đánh giá của cán bộ tín dụng
- Môi trường nhân sự nội bộ của DN theo đánh giá của cán bộ tín dụng
- Tầm nhìn, chiến lược kinh doanh của DN trong từ 2 đến 5 năm tới
• Quan hệ với Ngân hàng (11 chỉ tiêu):
- Lịch sử trả nợ của khách hàng trong vòng 12 tháng qua
- Số lần cơ cấu lại trong 12 tháng qua
- Tỷ trọng nợ cơ cấu lại trên tổng dư nợ
- Tình hình nợ quá hạn của dư nợ hiện tại
- Lịch sử quan hệ các cam kết ngoại bảng
- Tình hình cung cấp thông tin của khách hàng theo yêu cầu của BIDV trong 12 tháng qua