Trong quá trình thực hiện phản ứng, có thể có trường hợp một tác chất mới được đưa vào để thực hiện một công đoạn nào đó mà lại tác dụng không mong muốn với một nhóm chức khác sẵn có tro
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ VẤN ĐỀ
Trang 22
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1 Họ và tên: TRẦN TUYẾT NHUNG
2 Ngày tháng năm sinh: 25 – 08 – 1982
8 Đơn vị công tác: THPT chuyên Lương Thế Vinh
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ
- Năm nhận bằng: 2009
- Chuyên ngành đào tạo: Lý luận và phương pháp dạy học hóa học
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Hóa học
Số năm có kinh nghiệm: 9 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+ Sử dụng multimedia trong dạy học hóa học
+ Cân bằng axit – bazơ
+ Cân bằng oxi hóa khử
+ Cân bằng trong dung dịch tạo phức
+ Lý luận và phương pháp giải bài tập aminoaxit
Trang 33
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỔNG HỢP HỮU CƠ
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhân tài có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội Vì vậy,
để thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đạt được mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh”, và đưa nước ta “sánh ngang với các cường quốc năm châu trên thế giới”, bên cạnh nâng cao dân trí, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến bồi dưỡng và phát triển nhân tài
Trong đó, việc phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu về các môn học ngay ở bậc phổ thông là bước khởi đầu quan trọng để xây dựng nguồn nhân tài tương lai cho đất nước Nhiệm vụ này phải được thực hiện thường xuyên trong quá trình dạy học, qua các kỳ thi chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp
Hàng năm, chúng ta luôn tổ chức các cuộc thi học sinh giỏi môn hoá học để phát hiện những em có năng khiếu nên việc tổng kết, đúc rút kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi hoá học là rất cần thiết và mang tính thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Trong giảng dạy cũng như trong bồi dưỡng học sinh giỏi, bài tập tổng hợp hữu cơ có vị trí hết sức quan trọng Nó không những góp phần giúp học sinh hiểu
rõ về lý thuyết hoá hữu cơ, về thực tế tổng hợp và sản xuất các chất hữu cơ mà hơn hết là khi giải loại bài tập này, các năng lực tư duy cũng như trí tuệ của học sinh được nâng cao
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỔNG HỢP HỮU CƠ”
Trang 44
II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Ngày nay trong tổng hợp hữu cơ mỗi dây chuyền phản ứng cho ra sản phẩm thường bao gồm khoảng 15-20 công đoạn hoặc hơn thế nữa Trong quá trình thực hiện phản ứng, có thể có trường hợp một tác chất mới được đưa vào để thực hiện một công đoạn nào đó mà lại tác dụng không mong muốn với một nhóm chức khác sẵn có trong phân tử, làm biến đổi cấu trúc của chất nền Như thế, người ta nhận thấy cần thiết phải bảo vệ những nhóm chức nào có khả năng bị tác chất mới đưa vào tác dụng và sau đó, khi phản ứng kết thúc, nhóm bảo vệ được tách ra để tái sinh lại nhóm chức ban đầu Ví dụ alcohol thường được bảo vệ dưới dạng một silyl ether tứ cấp và aldehyde dưới dạng một acetal
R – OH + R’3SiX → R– O – SiR’3
RCH=O + 2R’OH → RCH(OR’)2
Việc gắn nhóm bảo vệ vào một nhóm chức và sau đó tách nhóm bảo vệ ra làm tăng thêm công đoạn của dây chuyền tổng hợp, và do đó làm giảm hiệu suất phản ứng chung, tuy nhiên các phản ứng này có hiệu suất rất cao
Để chọn nhóm bảo vệ cần phải xét ba vấn đề :
- Tính chất của nhóm chức cần phải bảo vệ
- Các điều kiện phản ứng để nhóm bảo vệ được bền
Các điều kiện cần thiết để tách nhóm bảo vệ
1 BẢO VỆ NHÓM HYĐROXYL
Nhóm hydroxyl được bảo vệ bằng cách chuyển thành dẫn xuất không còn chứa nguyên tử hydrogen của nhóm hydroxyl, để khi đưa tác chất Grignard hay hợp chất cơ nguyên tố vào môi trường phản ứng, thì nguyên tử hydrogen này không còn phân hủy anion do các tác chất trên sinh ra Phương pháp thông thường dùng để bảo vệ OH là chuyển nhóm OH thành alkyl hoặc silyl ether Việc chọn nhóm ether thích hợp tùy thuộc vào khả năng tách nhóm bảo vệ
Một phương pháp quan trọng để bảo vệ OH là cho nhóm OH tác dụng với đihydropyran tạo thành tetrahydropyranyl ether (THP) với xúc tác aciđ và sau
Trang 55
đó thủy giải ether trong môi trường acid yếu để tái sinh lại nhóm OH Nhiều chất xúc tác khác cũng được sử dụng như p-toluensulfonic acid hoặc dẫn xuất pyridinium
+
O RO
+ H+
Tách nhóm bảo vệ :
H+
O RO H
+
O HO O
RO
H2O
ROH +
Nhóm THP giống như các ketal và acetal khác, bảo vệ được nhóm OH đối
với các tác nhân thân hạch, các hợp chất cơ nguyên tố,các tác chất khử hydride,
các phản ứng oxy hóa và các phản ứng trong môi trường kiềm
Khi thay 2-propenyl ether cho dihydropyran, phản ứng thủy phân tách nhóm bảo vệ xảy ra trong điều kiện êm dịu hơn
Trang 6ra ion methylthiomethylium do sự ion hóa của acyloxysulfonium
RO-M+ + CH3SCH2Cl CHCl- 3SCH2OR + MCl
ROH + CH3SOCH3 CH3COOH
(CH3CO)2O CH3SCH2OR
ROH + (CH3)2S + (PhCO2)2 CH3SCH2OR
Nhóm MTM được tách ra một cách chọn lọc trong dung dịch nước muối
Ag+ hoặc Hg2+ Trong điều kiện này, các nhóm THP và MOM khá bền Nhóm MTM cũng được tách ra do phản ứng với methyl iodide và sau đó thủy giải muối sulfonium với acetone loãng
Trang 77
Nhóm alkyl đơn giản ít được đùng để bảo vệ alcohol mặc dù nhóm này được đưa vào khá dễ dàng để bảo vệ, nhưng để tách nó ra cần phải có các tác chất thân điện tử mạnh như BBr3 Nhóm t-butyl thường được đưa vào do phản ứng của alcohol với isobutylene có xúc tác acid
để tách nhóm trityl
Nhóm benzyl cũng được sử dụng để bảo vệ OH vì để cắt đứt C-O ether để tách nhóm bảo vệ chỉ cần hydrogen giải xúc tác hoặc khử với Na trong dung dịch NH4OH Nhóm benzyl được gắn vào alcohol do phản ứng của benzyl alcohol với trichloroacetonitril cho ra trichloroacetinate để hợp chất này tác dụng với alcohol
Trang 88
Những nhóm kềnh càng hơn và bền hơn TBDMS cũng được sử dụng như nhóm triisopropylsilyl (TIPS), triphenylsilyi (TPS) và t-butyldiphenylsiìyl (TBDPS)
Để bảo vệ các diol như 1,2 và 1,3-diol, phản ứng với aldehyde hoặc xeton tạo
ra axetal vòng thường được áp dụng
Thí dụ:
R CH
OH
CH OH
R' + CH3COCH3 H+ O O
Nhóm ketal có thể kháng lại các tác nhân thân hạch và tác nhân kiềm nhưng
dễ bị tách ra do dung dịch acid.
Bảo vệ alcohol do nhóm ester đôi khi thuận lợi hơn acetal hoặc ether, đặc biệt đối với các phản ứng oxy hóa Acetate và benzoate thông thường được sử dụng và đưa vào alcohol do phản ứng của alcohol với acetic anhydride và benzoyl chloride
có sự hiện diện của pyridine hoặc một amine tam cấp làm xúc tác Dùng acylimidazolide có thể acyl hóa nhóm OH trực tiếp không cần xúc tác và do có tính chọn lọc cao nên được dùng cho những hợp chất có chứa nhiều nhóm OH
N-O
O
O O Ph
O O Ph
OCH3Ph O
(78%)
Nhóm ester có thể tách ra dễ dàng do phản ứng thủy giải kiềm Nhưng nếu phản ứng thủy giải kiềm không thích hợp, một số acyl đặc biệt khác cần được đưa
Trang 99
vào để sau đó tách ra mà không qua phản ứng thủy giải kiềm Thí dụ trichloroethyl
carbonate ester được đưa vào và sau đó tách ra do phản ứng khử với Zn
RO C O OCH2CCl3 Zn ROH + CH2 = CCl2 + CO2
2 BẢO VỆ NHÓM AMINO
Nhóm amino nhất và nhị có tính thân hạch và bị oxy hóa dễ dàng Nếu các
tính chất này của nhóm amino làm cản trở phần nào quá trình tổng hợp, thì nó cần
phải được bảo vệ
Phương pháp thông thường là dùng phản ứng acyl hóa, tác chất
carbobenzyloxy (Cbz) được sử dụng rất rộng rãi vì nối C-O của benzyloxy rất dễ
bị cắt đứt trong quá trình hydrogen hóa
CH2OCNR2O
H2 / Pd
[HOCNR2] CO2 + R2NHO
Nhóm Cbz cũng có thể được tách ra do sự phối hợp của một Lewis acid như
BF3 và chất thân hạch như dimethyl sulfide hoặc ethyl sulfide
Nhóm t-butoxycarbonyl (t-Boc) cũng là nhóm bảo vệ amine hữu hiệu
Nhóm bảo vệ được tách ra với trifluoroacetic acid hoặc p-toluensulfonic acid
Nhóm t-butoxycarbonyl được đưa vào do phản ứng của amine với
t- butoxypyrocarbonate hay hỗn hợp carbonate ester
Trang 10Phản ứng khử với NaBH4 trong ethanol loãng cũng tách được phthalimide Phản ứng bao gồm sự tạo thành một o-hydroxymethylbenzamide trong giai đoạn khử
O
O
NHR O
CHO
BH4
-NHR
CH2OH O
O
Do khả năng hút điện tử mạnh của nhóm trifluoromethyl, trifluoroacetamide được thủy giải dưới điều kiện nhẹ nhàng Điều này giúp cho nhóm trifluoroacetyl được sử dụng để bảo vệ amine trong một vài trường hợp
Ar CH2 CH COOCH2CH3
NHCCF3O
Ba(OH)2
Ar CH2 CH COOH
NH2
Amide cũng có thể tách ra do phản ứng khử từng phần Nếu phản ứng khử dừng lại ở giai đoạn carbinolamine, phản ứng thủy giải kế tiếp có thể tách nhóm bảo vệ để giải phóng amine
R2NCPh
O
R2AlH
R2NCPh OAlR2
H
H+
H2O RNH2 + PhCHO
Trang 1111
Trichloroacetamide có thể tách ra do NaBH4 trong alcohol theo cơ chế trên Benzamide và các amide đơn giản có thể tách ra do phản ứng khử từng phần của diisobutyl nhôm hydride
Các đẫn xuất bis-silyl đang được sử đụng rộng rải để bảo vệ amine nhất Thí
dụ aniline được chuyển thành disilylazolidine
ArNH2 + (CH3)2SiCH2CH2Si(CH3)2
CsF, HMPA
100oC
Si N Si
CH3
H3C
CH3
H3C Ar
(CH3)2SiH
(PPh3)3RHCl
Thí dụ : Bảo vệ amine trong dãy tổng hợp peptide
Polypeptide được tạo thành do nhiều aminoacid giống nhau hoặc khác nhau qua phản ứng tạo nối peptide -NH-CO-
H2N CH
R1
C NH O
CH
R2
C NH O
CH
R3
C O
NH CH
Rn COOH
Theo phương pháp mới tổng hợp polypeptide, nguyên liệu đầu là chloride acid của một aminoacid hoặc một nhóm chức khác có khả năng acyl hóa cao mà
đầu amino đã được bảo vệ
Nhóm amino của chloride acid cần phải được bảo vệ để tránh cho nhóm chloride acid acyl hóa vào chính đuôi amino của nó mà phải acyl hóa phân tử aminoacid mới được đưa vào Trong trường hợp này, người ta không thể sử dụng nhóm acyl để bảo vệ amine, vì sau đó khi khử nhóm bảo vệ acyl bằng phản ứng thủy giải thì các nối peptide của polypeptide cũng bị đứt
Người ta thường dùng các nhóm bảo vệ như CF3CO- do nhóm này dễ bị khử với acid yếu, hoặc nhóm C6H5CH2OCO- vì nhóm này dễ bị khử do phản ứng hydrogen hóa xúc tác, hoặc đẫn xuất nhóm phthalyl C6H4(CO)2N- vì nhóm
Trang 1212
này dễ bị khử bởi hydrazine
Sau đây là một số thí dụ của sự bảo vệ nhóm chức amino trong quá trình tổng hợp peptide và sau đó khử nhóm bảo vệ
O
OH CH
H 2 N C
O
OH + CH
R'
CH 2 O C O
HN C
O
CH R
HN C
O OH CH
O
OH CH
O
OH CH
R' Dipeptide
CH3 + CO2
Tiếp tục giống như trên để cho ra dipeptide và polypeptide
Trang 13C O
HN C
O
OH CH
-R
+ C
O
HN C
O
O CH
O OCH 2 CH(CH 3 ) 2
O
OH CH
O
OH CH
O
OH CH
OH CH
R
+ H2O
Trang 14OH CH
O CH
R
NHC6H11
NC6H11Dicyclohexylcarbodiimid
c) Ghép thành một dipeptide:
+ C
N O
O
C O
O CH
CH R
HN C
O
OH CH
O
O
C O
R'
NH2NH2 NH
NH O
O
H2N C
O
CH R
HN C
O
OH CH
R' Dipeptide
Tiếp tục giống như trên để cho ra tripeptide, tetrapeptide và polypeptide
Trong trường hợp dây polypeptide chỉ do một aminoacid tạo thành, phương pháp sau nay được áp dụng:
Trang 15HN C
O
CH R
2 Một số polypeptide có tác dụng sinh lý quan trọng đến cơ thể sống
Thí dụ : Glutathion đóng vai trò quan trọng trong sự oxy hóa - khử trong
cơ thể là một tripeptide có chứa ba aminoacid là glycine, glutamic acid và cysteine
C O
Thí dụ : Glutathion được viết là:Glu - Cys - Gly
Gramicidine là một chất kháng sinh được ghi là :
ValOrn
LeuPhe
ProTrong đó Val chỉ valine, Orn chỉ ornitine, Leu chỉ leucine, Phe chỉ phenylalanine và Pro chỉ praline
Trang 1616
3 BẢO VỆ NHÓM CARBONYL
Phương pháp tổng quát bảo vệ aldehyde và ketone đốì với phản ứng cộng thân hạch và phản ứng khử là chuyển các nhóm carbonyl này thành acetal và ketal với ethylene glycol
C R R'
O + HOCH 2 CH2OH H
C O
R R'
OCH3
+ HCOOCH3Orthoester
OCH3
+ (CH3)2C = O
Acetal và ketal được điều chế một cách rất êm dịu do tác dụng của hợp chất carbonyl với alkoxytrimethylsilane, sử dụng trimethylsilyl triflate làm xúc tác
R2C = O + 2R'OSi(CH3)3 (CH3)3SiO2SCF3 R2C(OR')2 + (CH3)3SiOSi(CH3)3
Dioxolane và các ketal acetal khác thường rất bền đối với các tác nhân thân hạch mạnh bao gồm các tác nhân cơ - kim và các phản ứng chuyển nhượng
hydride Nhóm bảo vệ carbonyl được khử dễ dàng do phản ứng thủy phân acid
giống như phản ứng thủy phân acetal
Nếu nhóm bảo vệ carbonyl cần được tách ra mà không phải qua phản ứng thủy giải acid, người ta thường sử dụng một β-haloalcohol như 3-bromo-l,2- dihydroxypropane hoặc 2,2,2-trichloroethanol để tạo ra acetal Các nhóm bảo vệ này có thể tách ra do phản ứng khử với Zn theo cơ chế khử β
Trang 1717
O
O BrCH2 R
O
+ CH2 = CCl2
Nhóm bảo vệ carbonyl khác là dẫn xuất 1,3-oxathiolane được điều chế do tác dụng của carbonyl với mercaptoethanol, xúc tác acid hoặc BF3 Nhóm bảo vệ này được tách ra do tác dụng của Ni Raney trong alcohol hoặc do tác nhân halogen hóa nhẹ như chloramines T Tác nhân này oxy hóa S thành muối chlorosulfonium nhằm để hoạt hóa vòng cho phản ứng thủy phân mở vòng kế tiếp
S
O C
+
H2O
R2C = O
Dithioketal, đặc biệt dithiolane và dithiane vòng, cũng rất hữu hiệu để bảo
vệ carbonyl Các hợp chất này được điều chế do tác dụng của dithiol tương ứng với
xúc tác Lewis acid như BF3 hoặc (CF3SO3)2Mg hay (CF3SO3)2Zn trimethylsilyl sulfate với sự hiện diện của SiO2 cũng được sử dụng để điều chế dithiolane
Bis-Các nhóm bảo vệ dithioacetal hoặc ketal có thể tách ra do các tác chất oxy hóa x+ để hoạt hóa cho phản ứng thủy giải
R2C(SR')2 + X+ R2C SR'
+ SR' X
R2C = S+R' H2O R2C SR'
OH
R2C = O
Trang 1818
4 BẢO VỆ NHÓM ACID
Nếu chỉ có OH của COOH cần được bảo vệ thì có thể sử dụng phản ứng ester hóa, sau đó thủy giải trong môi trường kiềm để tái sinh lại acid Nếu cần phải tránh các điều kiện của phản ứng thủy giải trong môi trường kiềm, có thể sử dụng t-butyl ester, vì ester này thủy giải dễ dàng trong môi ưường acid, hoặc 2,2,2-
trichloroethyl ester, vì ester này bị phân tích do tác dụng khử của Zn Một số ester
khác có thể bị khử do TBAF khan
Để bảo vệ phần carbonyl của COOH, người ta có thể chuyển nhóm chức này thành dẫn xuất oxazoline, thông thường nhất là dẫn xuất 4,4-dimethyl được điều chế do tác dụng của acid với 2-amino-2-methylpropanol hoặc 2,2- dimethy
laziridine
RCOOH + HOCH2C(CH3)2
NH22-Amino-2-methylpropanol
N C O R
N
H3C C O
C N R
Các orthoester nhị hoàn này có thể được điều chế do phản ứng trao đổi với một số orthoester khác, hoặc do phản ứng với iminoether, hay do phản ứng chuyển
vị của ester dẫn xuất từ 3-hydroxymethyl-3-methyloxetane
Trang 19Các phương pháp bảo vệ và khử nhóm bảo vệ của acid không thuận lợi bằng của alcohol và aldehyde Như thế, nếu cần phải bảo vệ acid, người ta thường chuyển acid này thành aldehyde hoặc keton hay alcohol, và sau khi phản ứng kêt thúc thì tiến hành oxy hóa để tái sinh acid trở lại
BÀI TẬP
Bài 1: Hãy chọn phương pháp tốt nhất để bảo vệ nhóm OH của các chất trong các
chuyển hóa sau :
Bài 2: Từ 1,3-propandithiol, formaldehyde, các tác chất hữu cơ cần thiết, cùng
với n-BuLi làm xúc tác base, hãy tổng hợp các chất sau :
Trang 20Bài 5: Hãy tổng hợp cyclohexancarbaldehyde từ các hợp chất mạch thẳng
Bài 6: Hãy tiến hành monobrom hóa và mononitro hóa aniline
Bài 7: Một học sinh tiến hành tổng hợp o-methoxybenzyl alcohol từ o-cresol
theo chuỗi phản ứng sau:
CH2N2 du ether
COOCH3OCH3
1 LiAlH4 / ether
2 H+
CH2OH OCH3
nhưng lại không đạt được kết quả Bạn hãy nêu điểm sai trong chuỗi tổng hợp trên