Với mong muốn làm thế nào để cho một bài giảng lịch sử có hồn, học sinh hiểu sâu sắc hơn về lịch sử dân tộc đã đề cập trong sách và hiểu rằng lịch sử là một môn khoa học xã hội mang tính
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị TRƯỜNG THPT LONG THÀNH
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DÂN TỘC DÂN CHỦ
TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
TỪ 1930-1945
Người thực hiện: Phạm Thị Nhung
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Lịch sử
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2013-2014
Trang 2SƠ YẾU LÝ LỊCH KHOA HỌC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1.Họ và tên : Phạm Thị Nhung
2.Sinh ngày : 13 tháng 8 năm 1960
3.Nam , nữ: : Nữ
4.Địa chỉ: Khu Bàu Cá Xã An Phước H Long Thành T Đồng Nai
5.Điện Thoại: CQ 061 3844281 NR: 061.3844790
6.Chức vụ : Giáo viên- kiêm tổ phó chuyên môn
7.Đơn vị công tác: Trường THPT Long Thành
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
1.Học vị: ĐH sư phạm
2.Năm nhận bằng : 1982
3.Chuyên ngành đào tạo: Lịch Sử
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC
1.Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy Lịch sử
2.Số năm có kinh nghiệm: 32 năm
3.Sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
3.1 Đổi mới kiểm tra đánh giá môn lịch sử- Cấp sở
3.2 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực: (Dạy học nêu vấn đề)
Cấp Bộ( đĩa được dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông phát hành trong toàn quốc)
3.3 Sử dụng ý kiến và tài liệu từ tác phẩm của Hồ Chí Minh vào bài dạy lich sử góp phần giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho học sinh ở bậc trung học phổ thông”cấp sơ- loại xuất sắc
3.4 Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản khi làm bài thi tốt nghiệp và thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn lịc sử ( Phần lịch sử Việt Nam từ 1919-1930)- Báo cáo cấp sở- Loại xuất sắc.
3.5.Những bài học kinh nghiệm trong cách mạng Việt Nam từ 1945-2000 Cấp Sở- Loại Xuất sắc
Trang 3SKKN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DÂN TỘC DÂN CHỦ TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ 1930-1945
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước và xã hội ta đang đổi mới Vì thế, việc dạy học lịch sử cũng phải đổi mới Đổi mới để có kết quả tốt hơn, cao hơn, đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội
Đổi mới không phải là phủ nhận quá khứ, trái lại phải bảo vệ cương quyết hơn những giá trị đúng đắn của quá khứ Đổi mới cũng là bổ sung những gì chưa đầy đủ chưa hoàn thiện hơn
Phương hướng để đổi mới lịch sử là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh để hiểu đúng lịch sử, không rơi vào giáo điều, minh họa
Là một người có khá nhiều năm trong công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi cảm nhận được có nhiều điều học sinh chỉ nói và đọc được như trong sách mà không giải thích được nhiều vấn đề:
Thực trạng xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là xã hội gì Mâu thuẫn cơ bản cần giải quyết ?
Vấn đề dân tộc và dân chủ được Đảng giải quyết như thế nào trong cương lĩnh chính tháng 2/1930 và luận cương chính trị (tháng 10/1930)
Đảng cộng sản Việt Nam đã giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ như thế nào trong thời kì 1939-1945?
Sự kiện Bảo Đại thoái vị ( 30/8/1945) có ý nghĩa gì? Có quan hệ như thế nào với tuyên ngôn độc lập( ngày 2/9/1945)
Cách mạng tháng 8/1945 thành công có ý nghiã gì và tác động như thế nào đến phong trào cách mạng thế giới?
Còn rất nhiều điều khác mà học sinh lớp 12 cần hiểu về lịch sử dân tộc, những vấn đề có trong sách giáo khoa và học sinh cũng mong hiểu được thông qua bài giảng của giáo viên
Giảng cho học sinh hiểu hoàn toàn là một công việc đòi hỏi giáo viên phải
cố gắng và đó cũng chính là niềm vui của mỗi thầy cô giáo
Với mong muốn làm thế nào để cho một bài giảng lịch sử có hồn, học sinh hiểu sâu sắc hơn về lịch sử dân tộc đã đề cập trong sách và hiểu rằng lịch sử là một môn khoa học xã hội mang tính nhân văn và để giúp các em có kiến thức làm bài thi
tốt hơn, nên tôi mạnh dạn chọn đề tài : MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DÂN TỘC DÂN
CHỦ TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ 1930-1945
II.THỰC TRẠNG KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1.Thuận lợi
Cá nhân có nhiều năm dạy lớp 12 và bồi dưỡng học sinh giỏi, luyện thi đại học khối C khá tâm huyết và yêu nghề
Được giới lãnh đạo quan tâm, chú trọng đến bộ môn
Trang 4Nhiều học sinh còn yêu thích môn lịch sử
2.Khó khăn
Do quan niệm chưa đúng về bộ môn, một số giáo viên, phụ huynh và học
sinh coi lịch sử là môn phụ.
Do tác động của cơ chế thị trường hiện nay ngay từ khi bước vào trường trung học phổ thông học sinh đã xác định khối thi vào đại học Đa số các em lao vào khối A,B, D, còn rất ít hướng vào khối C (Văn- Sử- Địa) Bởi vì vào khối A,B&D sau này sẽ dễ tìm được công việc có thu nhập cao Còn khối C không chỉ số lượng trường đại học ít mà sau khi tốt nghiệp rất khó tìm được công việc phù hợp Chính
vì vậy nhiều người đã đặt ra câu hỏi: học sử để làm gì?
Do yếu tố chủ quan, khách quan nên một số giáo viên trong giảng dạy lịch sử còn qua loa, gượng ép cho xong chuyện, dẫn đến học sinh không yêu sử và thích học sử
III CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lí luận
Tôi đã học sử và dạy sử và đi dự giờ sử nhiều năm, tôi càng hiểu rằng yếu tố đầu tiên đảm bảo cho giờ sử thành công và có hồn,đó là tâm huyết của người thầy,
khi bước vào giờ dạy trước hết là nên suy nghĩ bài học hôm nay “ dạy cái gì, dạy ra sao”, cần cho học sinh hiểu được điều gì trong một tiết học, đừng để một giờ dạy
sử thành một giờ kể chuyện sáo rỗng
Để giáo dục tư tưởng, chính trị đạo đức, giáo viên bắt đầu từ việc giúp học sinh hiểu biết lịch sử cụ thể, nắm được kiến thức lịch sử Đó là mối quan hệ giữa nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng
Bài giảng lịch sử trên lớp không thể tách rời nhưng cũng không hoàn toàn lệ thuộc vào sách giáo khoa Trong mỗi giáo án chuẩn bị cho một bài giảng nhất định phải có những nội dung kiến thức trong sách giáo khoa, vì đó là những kiến thức cơ bản được chương trình quy định, những kiến thức góp phần tích cực vào nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng Tuy nhiên có những câu, chữ trong sách giáo khoa không nên đưa vào giáo án của bài giảng,bởi vì nó đã lạc hậu và không phù hợp Và như thế trong bài giảng, giáo án lịch sử có những kiến thức, những thông tin không có trong sách giáo khoa: đó là những tri thức mới do tiến bộ của khoa học kĩ thuật cung cấp.Cho nên trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải giải thích cho học sinh hiểu sâu hơn,kỹ hơn những vấn đề đã nêu ra trong sách giáo khoa
2 Cơ sở thực tiễn
Sách giáo khoa lớp 12, theo chương trình chuẩn đã viết sử Việt Nam từ
1919-2000 với 5 giai đoạn: 1919-1930; 1930-1945; 1946-1954; 1954- 1975; 1975-1919-2000 Trong mỗi giai đoạn có rất nhiều vấn đề tôi cảm nhận học sinh chỉ đọc những kiến thức ghi trong sách mà chưa hiểu được vì sao lại như vậy
Thực tế trong kì thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 12 môn lịch sử năm học 2013-2014, trường THPT Long Thành, có 8 học sinh dự thi chỉ đạt đước 3 giải khuyến khích ( các giải khuyến khích này cũng chưa đạt điểm 10/20)
Trang 5Trong kì chọn môn thi tốt nghiệp THPT trường THPT Long Thành chỉ có 16/412 học sinh chọn thi môn sử ( Tỉ lệ 3,88%) Tỉ lệ này làm cho những người đang dạy sử phải suy nghĩ và không khỏi day dứt băn khoăn
3 Phạm vi đề tài
Để giải quyết đề tài “Một số vấn đề dân tộc dân chủ trong cách mạng Việt Nam thời kì 1939-1945” cần tập trung vào những vấn đề sau:
1.Tại sao vấn đề dân tộc dân chủ được đặt ra trong cách mạng Việt Nam? 2.Vấn đề dân tộc dân chủ được đề cập trong cương lĩnh chính trị tháng 2/1930
và luận cương chính trị tháng 10/1930.
3 Đảng giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong thời kì 1930-1945 như thế nào?
4 Mục đích đề tài
Giúp học sinh hiểu rõ hơn những kiến thức đã nêu ra trong sách giao khoa, học sinh vận dụng tốt hơn trong bài thi tốt nghiệp trung học phổ thông, đại học và thi học sinh giỏi các cấp
IV NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1.Tại sao vấn đề dân tộc dân chủ được đặt ra trong cách mạng Việt Nam.
Xã hội Việt Nam trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp là một xã hội phong kiến độc lập Khi Pháp vào xâm lược, nước ta trở thành một nước thuộc địa nửa
phong kiến
Cả hai lần khai thác: lần 1( 1897-1914), lần 2( 1919-1929) Pháp đều dựa vào phong kiến thực hiện mục đích vơ vét tài nguyên, nhân công, đàn áp nhân dân vì vậy mâu thuẫn của dân tộc Việt Nam với Pháp và phong kiến phản cách mạng trở thành chủ đạo, yêu cầu thực hiện vấn đề giải phóng dân tộc trở thành cấp thiết Còn phong kiến Việt Nam lại nhờ vào Pháp để duy trì địa vị của mình Những hình thức
áp bức, bóc lột dã man của phong kiến với nông dân trở nên trầm trọng hơn Tình trạng đó dẫn đến mâu thuẫn giữa nông dân với phong kiến trở nên gay gắt, vấn đề dân chủ được đặt ra
Như vậy do thực tiễn khách quan của cách mạng Việt Nam tồn tại hai mâu
thuẫn cơ bản đó là: dân tộc Việt Nam với Pháp và phong kiến phản cách mạng; giữa nông dân với phong kiến Việc giải quyết hai mâu thuẫn trên tức là yêu cầu
dân tộc và dân chủ được đặt ra và trở thành một nhu cầu của cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Việt Nam
Ngay từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng đã giải quyết rất linh hoạt mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược này Điều đó được thể hiện rất cụ thể trong thời kì 1930-1945
2 Vấn đề dân tộc dân chủ được đề cập trong cương lĩnh chính trị tháng 2/1930 và luận cương chính trị tháng 10/1930.
2.1 Vấn đề dân tộc dân chủ được đề cập trong cương lĩnh chính trị tháng 2/1930
Trang 6Qua quá trình bôn ba, tìm hiểu ở nước ngoài, đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc quyết định thành lập Đảng cộng sản Việt Nam và thông qua “ Cương lĩnh vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ vắn tắt”, gọi là cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cương lĩnh xác định:
Mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là: tiến hành cách mạng tư sản
dân quyền và thổ địa cách mạng đi tới xã hội cộng sản
Nhiệm vụ cách mạng:
Đánh đổ đế quốc Pháp, bọn phong kiến và tư sản phản cách mạng, làm cho nước Việt Nam được độc lập, tự do; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội
công nông ( nhiệm vụ dân tộc)
Tịch thu ruộng đất của đế quốc và bọn phong kiến phản cách mạng chia cho
dân cày nghèo, tiến hành cách mạng ruộng đất ( nhiệm vụ dân chủ).
Lực lượng cách mạng, cương lĩnh chủ trương đoàn kết tất các các giai cấp,
công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức Còn phú nông, trung tiểu điạ chủ và tư bản thì lợi dụng hoặc trung lập, đồng thời phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và
vô sản thế giới
Lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản Việt Nam lấy lí luận chủ Nghĩa
Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động
Quan hệ quốc tế, Cương lĩnh khẳng định cách mạng Việt Nam là một bộ phận
của cách mạng thế giới
Phương pháp cách mạng, Cương lĩnh khẳng định phải sử dụng con đường bạo
lực cách mạng, chứ không thỏa hiệp, cải lương với kẻ thù Đảng có sách lược Đảng cách mạng thích hợp để lôi kéo các tầng lớp trung gian về phía vô sản, còn bộ phân nào ra mặt phản cách mạng thì kiên quyết đánh đổ
Cương lĩnh cho thấy ngay từ đầu Đảng đã xác định con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thuộc phạm trù cách mạng vô sản; gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, gắn giải phóng xã hội; gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Cuộc cách mạng này hoàn toàn khác với cuộc cách mạng tư sản kiểu cũ do tư sản lãnh đạo như cách mạng Pháp 1789 Do giai cấp vô sản lãnh đạo, các tầng lớp nhân dân đấu tranh đánh đế quốc và phong kiến giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng Đây là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhưng không phải lúc nào cũng diễn ra đồng thời mà tùy vào từng thời kì, hai nhiệm vụ này sẽ được thực hiện ở mức độ khác nhau
2.2.Vấn đề dân tộc dân chủ được đề cập trong Luận cương chính trị tháng 10/1930.
a Nội dung
Luận cương xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng Đông Dương là: Cách
mạng tư sản dân quyền, sau đó tiến thắng lên xã hội chủ nghĩa bỏ qua thời kì tư bản chủ nghĩa
Nhiệm vụ cách mạng: là đánh đổ phong kiến và đế quốc, hai nhiệm vụ có quan hệ
khăng khít nhau
Lực lượng cách mạng Giai cấp công nhân và nông dân.
Lãnh đạo cách mạng Đảng Cộng Sản Động Dương.
Trang 7Quan hệ quốc tế : Quan hệ mật thiết với cách mạng và giai cấp vô sản thế giới Phương pháp cách mạng là: Tập hợp lãnh đạo quần chúng đấu tranh để giành chính quyền Phải sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để giành chính quyền: Võ trang bạo động không phải là việc thường mà tuân theo khuôn phép nhà binh.
b Ý nghĩa: Luận cương chính trị có sự nối tiếp những vấn đề cơ bản của cương
lĩnh chính trị và xác định được những vấn đề cơ bản của cuộc cách mạng Đông Dương
c Hạn chế:
Luận cương không đưa nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu, không nêu ra mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Pháp
Đánh giá không đúng khả năng cách mạng của tiểu tư sản, tư sản dân tộc, khả
năng lôi kéo bộ phận trung tiểu địa chủ Do đó Luận cương không đề ra được một liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong đấu tranh chống đế quốc và tay sai Nguyên nhân của hạn chế trên là do nhận thức giáo điều và máy móc mối quan
hệ dân tộc và giai cấp trong cách mạng ở nước thuộc địa Những người cộng sản lúc bấy giờ chưa hiểu đầy đủ đặc điểm tình hình kinh tế xã hội và yêu cầu của cách mạng Đông Dương Ít nhiều chịu sự chi phối khuynh hướng tả trong quốc tế 3
3 Đảng giải quyết vấn đề dân tộc và dân chủ trong thời kì 1930-1945
3.1 Trong thời kì 1930-1935.
Trong thời kì 1930-1935, vấn đề dân tộc dân chủ được chú trọng, gắn liền và
có mối quan hệ biện chứng với nhau
a Thời kì cao trào 1930-1931
Khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời phong trào cách mạng diễn ra theo xu hướng vô sản diễn ra mạnh mẽ và phát triển thành cao trào rộng lớn, tiêu biểu là phong trào chống đế quốc và phong kiến thời kì 1930-1931
Đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh diễn ra từ tháng 9/1930 đến giữa
1931, hàng nghìn nông dân biểu tình có vũ trang tự vệ, kéo đến phá huyện lị, đòi
giảm sưu thuế, được công nhân Vinh- Bến Thủy hưởng ứng Trong đó phải kể đến
sự kiện ngày 12-9-1930, cuộc biểu tình của 8000 nông dân huyện Hưng Nguyên,
kéo đến phá huyện lị với khẩu hiệu “ Đả đảo chủ nghĩa đế quốc”; “ nhà máy về tay thợ thuyền”; “ ruộng đất về tay dân cày”, họ kéo về Vinh số người tham gia lên gần
3 vạn người, Pháp đàn áp dã man, nhưng không ngăn được khởi nghĩa, quần chúng phá huyện đường, nhà lao, xung đột với lính khố xanh
Cuộc đấu tranh này làm cho hệ thống chính quyền thực dân, phong kiến tê
liệt, tan rã ở nhiều thôn, xã Nhiều cấp ủy Đảng địa phương lãnh đạo nhân dân đứng
lên tự quản lí đời sống xã hội gọi là “Xô viết” Như vậy đến tháng 9&10 chính
quyền Xô viết ra đời ở nhiều nới tại Nghệ An, Hà Tĩnh Chính quyền Xô Viết thực
hiện quyền làm chủ và mang lại quyền lợi cho nhân dân :
Chính trị, Thành lập chính quyền Xô Viết do công nhân lãnh đạo Thực hiện
quyền tự do dân chủ Nhu cầu dân chủ ngày càng tăng lên quần chúng nhân dân đã lập ra các tổ chức quần chúng công khai như : Đội tự vệ đỏ, hội tương tế, Công hội, Nông hội, hội phụ nữ giải phóng toà án nhân dân
Trang 8Kinh tế, chia ruộng đất cho dân cày nghèo, bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, xóa nợ,
lập tổ chức để nông dân giúp đỡ nhau sản xuất
Văn hóa – xã hội, mở lớp dạy chữ Quốc ngữ, xóa bỏ tệ nạn mê tín, xây dựng
nếp sống mới
Phong trào này chứng tỏ, Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công nhiệm
vụ dân tộc ở Nghệ An, Hà Tĩnh Cao trào 1930-1931 đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, thắng lợi này có ý nghĩa quyết định đầu tiên đối với toàn bộ tiến trình phát triển tiếp theo của cách mạng Việt Nam
b Thời kì 1932-1935
Sợ ảnh hưởng của Xô Viết nghệ Tĩnh với phong trào cách mạng cả nước, Pháp tiến hành khủng bố dã man phong trào đấu tranh cách mạng, phong trào cách mạng bị tổn thất: hâu hết ủy viên ban chấp hành Trung ương, Xứ ủy Bắc kì, Trung kì, Nam kì
bị bắt, cơ sở đảng bị phá vỡ, hàng ngàn người bị bắt và cầm tù Phong trào cách mạng tạm lắng xuống
Trong hoàn cảnh đó, những người cộng sản vẫn kiên trì đấu tranh Trong tù bảo
vệ quan điểm lập trường chỉ đạo đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù Ở ngoài nhà tù, đảng viên bám dân xây dựng lại tổ chức Đảng và quần chúng
Trong bối cảnh đó Đảng ra chương trình hành động ( 6/1932), nêu rõ chủ
trương đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ cho nhân dân lao động, thả tù chính trị, bãi bỏ các thứ thuế bất công, củng cố phát triển các đoàn thể quần chúng
Có sự chỉ đạo của Đảng, phong trào cách mạng bắt đầu phục hồi, tổ chức Đảng được xây dựng và phục hồi trở lại Phong trào đấu tranh của quần chúng diễn ra nhiều nơi với những hình thức như mít tinh, biểu tình, bãi công Trong cuộc đấu tranh
đó công nông giữ vai trò chủ đạo Tiêu biểu công nhân ở các địa phương Quảng Nam, Quảng Ngãi, Sài Gòn Nông dân Gia Định, Khánh Hòa, Cao Bằng, Lạng Sơn
Phong trào đấu tranh đó đã chuẩn bị tiền đề cho một thời kì đấu tranh mới của cách mạng
Như vậy, phong trào dân tộc dân chủ theo con đường cách mạng vô sản đã được kiểm nghiệm, khảo sát trong thực tiễn thời kì 1930-1935 Phong trào khẳng định Đảng giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ (nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội) là yếu tố quyết định sự thành công của cuộc cách mạng
3.2 Trong thời kì 1936-1939
a.Bối cảnh
*Thế giới.
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế ( 1929-1933), chủ nghĩa phát xít xuất hiện ở Đức- Ialia, Nhật, các nước phát xít tích cực chạy đua vũ trang, chuẩn bị chiến tranh Trở thành nguy cơ đe dọa hòa bình an ninh thế giới
Đại hội lần VII (7–1935) của Quốc tế Cộng sản, xác định kẻ thù và nhiệm vụ của nhân của nhân dân thế giới là chủ nghĩa phát xít nhằm mục tiêu đấu tranh giành dân chủ, bảo vệ hòa bình, thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi
6 – 1936, Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp thành lập, ban hành một số chính
Trang 9sách tiến bộ với thuộc địa.
*Đông Dương
Chính phủ Pháp cử phái viên sang điều tra tình hình, cử toàn quyền mới, ân xá
một số tù chính trị, nới rộng quyền tự do báo chí
ở Việt Nam, nhiều đảng phái chính trị ra hoạt động, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng, trong đó Đảng cộng sản Đông Dương là mạnh nhất vì có tổ chức, chủ trương rõ ràng
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã tác động sâu sắc đến mọi tầng lớp và giai cấp trong xã hội
Bọn cầm quyền phản động ở Đông Dương tăng cường vơ vét làm cho kinh tế tiêu điều: Nông dân không đủ ruộng cày, lại tô cao thuế năng; công nhân thất nghiệp ngày càng nhiều, người việc làm thì lương thấp: tiểu tư sản trí thức thất nghiệp…Tư sản dân tộc có vốn ít nên chỉ lập các công ty nhỏ, chịu thếu cao
Đời sống các tầng lớp nhân dân vẫn gặp nhiều khó khăn, cực khổ Chính vì thế
họ hăng hái tham gia phong trào đấu tranh đòi tự do, cơm áo dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương
b Chủ trương mới của Đảng
( Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng
7-1936- Họp ở Thượng Hải Trung Quốc )
Hội nghị xác định: nhiệm vụ chiến lược của cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương là chống đế quốc và phong kiến
Nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt là: trước mắt là chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chiến tranh, đòi tự do, dân sinh dân chủ, cơm áo và hoà bình.( Tạm gác nhiệm vụ đánh đế quốc Pháp, tịch thu ruộng đất của đế quốc chia cho dân cày)
Phương pháp đấu tranh là kết hợp các hình thức công khai, bí mật, hợp pháp
và bất hợp pháp
Chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương.
Đến hội nghị Trung Ương tháng 3/1938, đổi thành Mặt trận thống nhất dân chủ
Đông Dương (gọi tắt là MTDC Đông Dương) nhằm tập hợp các giai cấp, đảng phái
và nhân dân thực hiện các nhiệm vụ trên
c Thực hiện nhiệm vụ dân tộc dân chủ trong thời kì 1936-1939.
Chủ trương của Đảng đáp ứng nguyện vọng của nhân dân làm dấy lên phong
trào đấu đòi tự do, dân sinh dân chủ, cơm áo và hoà bình tranh sôi nổi:
Tiêu biểu, Phong trào Đông Dương Đại hội( 6-1936)
Giữa năm 1936 được tin chính phủ mặt trận nhân dân Pháp cử phái đoàn qua điều tra tình hình thực tế Đông Dương, Đảng chủ trương vận động thành lập Các
ủy ban hành động và tổ chức các tầng lớp nhân dân, hội họp, thảo bản “dân nguyện” tiến tới đại hội của nhân dân ĐD( 8-1936).
Các ủy ban hành động nối tiếp nhau ra đời ở 3 kì, tổ chức phát truyền đơn, ra
báo chí, tổ chức mít tinh, hội họp, đưa ra yêu cầu đòi dân sinh dân chủ, buộc chính quyền thực dân phải nới rộng quyền xuất bản báo chí,tự do đi lại, thả một số tù
chính trị Giữa tháng 9-1936, Pháp giải tán các ủy ban hành động, phong trào Đông
Dương đại hội bị cấm hoạt động, song đông đảo quần chúng được giác ngộ, Đảng tích lũy được kinh nghiệm lãnh đạo đấu tranh công khai hợp pháp
Trong phong trào công nhân thể hiện vai trò tiên phong, trên cơ sở liên minh
công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, phong trào công nhân phát triển cả
Trang 10về số lượng lẫn chất lượng, có nhiều cuộc đấu tranh của công nhân ở các đồn điền,
xí nghiệp, đòi tự do dân chủ, đòi tăng lương, lập nghiệp đoàn Năm 1936 có 242 cuộc đấu tranh ( tổng bãi công tiêu biểu nhất là công nhân Than Hòn Gai( 11/1936)), năm 1937 cả nước có 400 cuộc bãi công của công nhân( công nhân xe lửa Trường thi( 7/1937))
Trong đấu tranh nông dân liên minh chặt chẽ với công nhân.Năm 1937 có 150 cuộc đấu tranh của nông dân, đặc biệt là nông dân Nam Bộ đấu tranh đòi tự do dân chủ
Phong trào còn thu hút các tầng lớp khác tham gia như: tiểu thương, tiểu chủ, học sinh, sinh viên và lôi kéo cả người Pháp có tư tưởng dân chủ ở Việt Nam tham gia, tiêu biểu cuộc mít tinh của 25.000 người, ngày 1-8-1938, tại đấu Xảo Hà Nội Phong trào đấu tranh tuy có chứa đựng nội dung cải cách dân chủ trong khuôn khổ chính sách cai trị của chính quyền thực dân, nhưng do Đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo, phong trào được thực hiện bằng chính sức mạnh của quần chúng nhân dân, trong đó công nông là gốc, đã buộc chính quyền thực dân chấp nhận những yêu sách cụ thể trước mắt và trên cơ sở đó, trong điều kiện thuận lợi mới, tiếp tục đẩy phong trào lên mức cao hơn, triệt để hơn để giành thắng lợi cuối cùng Cuộc đấu tranh được đặt trong một giai đoạn cách mạng cụ thể là thời kì
1936-1939, thể hiện nhiệm vụ chiến lược của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Khác với phong trào cải lương của tư sản và địa chủ khởi xướng đầu thế kỉ là xin chính quyền thực dân ban hành một số quyền lợi hàng ngày và xem đây là mục tiêu cuối cùng Nên phong trào cách mạng 1936-1939 vẫn chứa đưng nội dung dân tộc Tóm lại chủ trương mới của Đảng đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn
đề dân tộc và dân chủ, xác định được mục tiêu trước mắt của cách mạng, từ đó đề ra các hình thức, tổ chức đấu tranh linh hoạt, thích hợp nên đạt được mục tiêu của cách mạng
3.3 Thời kì 1939-1945
a.Bối cảnh
Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới bùng nổ Pháp hàng Đức (6-1940), thực
hiện chính sách thù địch với phong trào CM thuộc địa
Ở Đông Dương : Pháp tăng cường vơ vét và đàn áp CMĐD: Ra lệnh tổng động
viên nhằm cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương về quân sự ,
nhân lực và sản phẩm , nguyên liệu
Thi hành chính sách “ kinh tế chỉ huy” tăng thuế cũ, đặt thuế mới, cưỡng bức
thu mua lương thực theo giá quy định
Tháng 9-1940, Nhật vào miền Bắc Việt Nam, Pháp hàng Nhật giữ nguyên bộ
máy cai của Pháp, dùng nó để vơ vét bóc lột kinh tế phục vụ cho chiến tranh
Ở Việt Nam: Đảng phái thân Nhật ra sức tuyên truyền và lừa bịp cho văn minh và sức mạnh của Nhật, chuẩn bị hất cẳng Pháp Nhật cướp đất của nông dân, bắt nhân dân nhổ lúa, hoa màu, trồng cây thầu dầu, đay Nhật yêu cầu Pháp xuất nguyên liệu chiến tranh sang Nhật với giá rẻ Nhật đưa vốn vào đầu tư những ngành phục vụ cho nhu cầu quân sự như măng gan, sắt Nhân dân Dông Dương một cổ hai tròng, mâu thuẫn của nhân dân Việt Nam với Nhật- Pháp trở nên gay gắt