1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn hướng dẫn HS lớp 5 giải bài toán chuyển động thẳng đều có hai động tử

33 741 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 278 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên sáng kiến: Hướng dẫn học sinh lớp 5 giải bài toán chuyển động đều có hai động tử.. Xác định tầm quan trọng của việc dạy giải toán ở tiểu học và cụ thể dạng toán chuyển động thẳng đều

Trang 1

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Hướng dẫn học sinh lớp 5 giải bài toán chuyển động đều có hai động tử

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy toán chuyển động lớp 5

3 Tác giả:

Họ và tên: Trần Thị Dịu Nữ

Ngày tháng năm sinh: 17/9/1979

Trình độ chuyên môn: Đại học tiểu học

Chức vụ, đơn vị công tác: Tổ trưởng tổ 4,5 trường Tiểu học Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

Giáo viên dạy lớp 5

Học sinh lớp 5

7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2012 - 2013

VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

Trang 2

Xác định tầm quan trọng của việc dạy giải toán ở tiểu học và cụ thể dạng toán chuyển động thẳng đều là tiền đề cho học sinh học ở cấp 2 Khi học dạng toán này, các em được củng cố nhiều kiến thức kĩ năng khác như: Các đại lượng quan hệ tỉ lệ; kĩ năng tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng; kĩ năng tính toán….Từ đó tôi luôn tìm ra giải pháp hữu hiệu để dạy các em nắm được chắc các kiến thức liên quan

Thời gian áp dụng sáng kiến: Năm học 2012 – 2013 và Năm học 2013 - 2014

Đối tượng áp dụng sáng kiến: Việc dạy và học loại toán chuyển động thẳng đều có hai động tử của học sinh và giáo viên lớp 5

Nội dung sáng kiến: Đi sâu nghiên cứu việc Hướng dẫn học sinh lớp 5 giải bài toán chuyển động thẳng đều có hai động tử

+ Tính mới so với những giải pháp cũ là gợi cho HS có hứng thú với toán chuyển động đều; không sợ và nản khi nhắc đến loại toán này Đồng thời giúp HS có khả năng ghi nhớ lâu, dễ thuộc công thức tính của hai chuyển động thẳng đều có hai động tử đi cùng chiều hoặc ngược chiều

Để thực hiện nhiệm vụ này, tôi tìm hiểu thực trạng của công tác dạy và học của GV và HS rút ra những tồn tại, khó khăn để tìm ra phương pháp hướng dẫn giải có ưu điểm trong công tác giảng dạy

Tôi đã chủ động nghiên cứu và đưa ra 4 biện pháp hướng dẫn giải bài toán chuyển động thẳng đều có hai động tử đó là:

- Hướng dẫn HS nhận dạng toán

- Hướng dẫn HS giải toán

- Mở rộng, khai thác phát triển bài toán chuyển động thẳng đều có hai động tử dành cho HS khá, giỏi

- Khắc phục những sai lầm dễ mắc phải khi giải toán chuyển động thẳng đều có hai động tử

Kết quả đạt được: Trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng đổi mới các phương pháp dạy học toán và nhận thấy rằng:

Trang 3

- Hầu hết học sinh có năng lực, hứng thú học tập môn toán, kĩ năng tính toán nhanh, chính xác, hiểu bài, đạt yêu cầu với tỉ lệ khá cao Tỉ lệ giỏi toán cao hơn các môn học khác.

- Trong tiết học, học sinh thường thể hiện năng lực sáng tạo, ham học, tự tin, hứng thú khi tự mình tìm ra kiến thức mới, có tinh thần tích cực xây dựng bài

- Giáo viên áp dụng kiểu dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” khá tích cực, sinh động và hiệu quả

Sáng kiến Hướng dẫn học sinh lớp 5 giải bài toán chuyển động thẳng

đều có hai động tử là sáng kiến mà tôi đã áp dụng đối với HS lớp 5 tôi trực

tiếp giảng dạy và đã đem lại kết quả khích lệ Sáng kiến có khả năng áp dụng với mọi đối tượng HS lớp 5 trong trường Tiểu học

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.

Trang 4

1.2 Lí do chọn đề tài:

Thế kỷ XXI - thế kỷ của nền văn minh trí tuệ, tri thức và kĩ năng của con người quyết định năng suất lao động, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước Muốn tiếp cận được những tiến bộ vượt bậc của kỉ nguyên mới thì các quốc gia phải không ngừng đổi mới Hòa trong xu thế đó, Việt Nam đã

và đang đổi mới một cách toàn diện và mạnh mẽ, mau chóng tiến kịp với các quốc gia khác, hội nhập với quốc tế, nhằm nắm bắt kịp thời những tiến bộ khoa học công nghệ trong sự nghiệp phát triển của đất nước Để những bước

đi ngày một vững chắc thì giáo dục đóng vai trò đặc biệt quan trọng vì:

“ Giáo dục đào tạo là chìa khóa để mở cửa tiến vào tương lai”.

Thực hiện nghị quyết số 29 – NQ/TW, Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.”

Trong các môn học ở bậc tiểu học, Toán học có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống và trong khoa học kĩ thuật hiện đại, là cơ sở bước đầu hình thành và phát triển nhân cách con người, góp phần đào tạo con người, phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo và đáp ứng được yêu cầu xã hội đang đổi mới

Trong nội dung chương trình Toán 5 - Giải toán là một trong những nội dung của chương trình, trang bị cách giải các dạng toán điển hình, cơ bản nhất Việc giải toán có thể xem là một khả năng riêng biệt, một trong những biểu hiện đặc trưng nhất của hoạt động trí tuệ của con người Vì vậy việc giải toán cần được coi là một trong những mục tiêu cao của việc dạy và học toán ngay từ Tiểu học

Trong chương trình Toán lớp 5, một trong những nội dung mới mà các

em được học đó là toán chuyển động đều Đây là loại toán khó, nhờ có các tình huống chuyển động hết sức đa dạng trong đời sống nên nội dung của nó rất phong phú Đồng thời các bài toán chuyển động đều có rất nhiều kiến

Trang 5

thức được áp dụng trong cuộc sống, cung cấp vốn sống hết sức cần thiết cho học sinh.

Khi dạy học toán chuyển động đều, nhiều giáo viên và học sinh vẫn còn lúng túng Trong thời gian qua cũng đã có nhiều nhà giáo nghiên cứu tìm tòi phương pháp nâng cao hiệu quả giờ học toán chuyển động đều nhưng khi áp dụng tôi thấy chưa phù hợp với học sinh của tôi Vì vậy tôi đã trăn trở, suy nghĩ và đổi mới cách dạy học bài toán chuyển động đều và bước đầu có kết quả

Trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ xin mạnh dạn nghiên cứu và đưa

ra sáng kiến: Hướng dẫn học sinh lớp 5 giải bài toán chuyển động thẳng

đều có hai động tử.

1.2 Mục đích nghiên cứu:

- Nghiên cứu việc dạy giải dạng toán chuyển động thẳng đều có hai động tử

cho học sinh lớp 5 trong trường tiểu học nhằm khắc phục khó khăn trong giảng dạy và nâng cao chất lượng dạy học

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng: Việc dạy và học loại toán chuyển động thẳng đều có hai động

tử của giáo viên - học sinh lớp 5

- Phạm vi nghiên cứu: GV – HS lớp 5 trường Tiểu học nơi tôi công tác 1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu các cơ sở lí luận

- Đọc tài liệu

- Thực tế công việc đã làm của bản thân

- Thực tiễn trong công việc dạy Toán chuyển động thẳng đều có hai động

tử cho học sinh lớp 5

- Dự giờ thăm lớp – trao đổi về việc giảng dạy Toán chuyển động thẳng đều có hai động tử cho học sinh lớp 5

- Dạy thực nghiệm để so sánh, đối chứng

1.5 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp tổng hợp và ứng dụng lí luận

Trang 6

- Phương pháp dự giờ thăm lớp, thống kê phân loại học sinh.

- Phương pháp dạy thực nghiệm

2 Cơ sở lý luận :

2.1 Cơ sở khoa học:

Như chúng ta đã biết, nhà trường các cấp nói chung và trường Tiểu học nói riêng là nơi trang bị và nâng cao kiến thức, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Ngoài việc đào tạo con người phát triển toàn diện về tri thức, sức khoẻ và tâm hồn, nhà trường còn là nơi đầu tiên phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, những nhà khoa học, nhà tri thức, bác sĩ, kĩ sư tương lai Đó chính là những học sinh có khả năng tiếp thu kiến thức một cách nhanh nhạy

và thông minh nhất Trong 9 môn học ở Tiểu học thì môn Toán là một trong hai môn chiếm nhiều thời lượng nhất và tích hợp được nhiều kiến thức nhất Trong môn Toán 5 thì các bài toán chuyển động đều có nhiều kiến thức được áp dụng trong cuộc sống, chúng cung cấp lượng vốn sống hết sức cần thiết cho học sinh Khi học dạng toán này các em còn được củng cố nhiều kiến thức kỹ năng khác như: bồi dưỡng vốn hiểu biết, vốn thực tế, các đại lượng có quan hệ tỉ lệ; kỹ năng tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng; kỹ năng tính toán…

2.2 Cơ sở thực tiễn:

Qua một vài năm gần đây, tôi thấy việc dạy giải toán có đạt được kết quả nhất định song vẫn còn những tồn tại, còn gặp khó khăn, chất lượng chưa cao Nguyên nhân chính là:

Một số giáo viên chưa xác định được kiến thức trọng tâm, mục tiêu cần đạt của chương trình, chưa nắm được ý đồ soạn sách giáo khoa, cho nên chưa cân đối chương trình dạy Giáo viên chỉ dạy học sinh làm được từng bài mà chưa khái quát phương pháp giải theo từng dạng chứ chưa nói đến mở rộng, phát triển bài toán, đào sâu suy nghĩ để rèn luyện tư duy cho học sinh

Mặt khác, học sinh còn hổng kiến thức, kĩ năng giải toán chưa tốt Học sinh tiếp thu kiến thức như một cái gì đó “phong bao”, “đóng gói” Ghi nhớ giản đơn, không có hứng thú gợi mở các bài tập tương tự

Trang 7

Học sinh chưa làm chủ kiến thức mà phải ậpcông nhận một cách tự nhiên, áp đặt Đặt biệt giáo viên chưa chú trọng việc dạy học cá nhân, nhóm chưa phát triển năng khiếu cho học sinh khá giỏi, và phương pháp dạy chưa phù hợp với quy trình, nhận thức của học sinh lớp 5.

Xét riêng về loại toán chuyển động đều ở lớp 5, ta thấy đây là loại toán khó rất phức tạp, phong phú đa dạng và có rất nhiều kiến thức áp dụng vào thực tế cuộc sống Mặt khác việc hình thành, rèn luyện củng cố các kĩ năng giải toán chuyển động đều gần như là chưa có nên các em không thể tránh khỏi những khó khăn, sai lầm khi giải loại toán này Vì thế rất cần phải có phương pháp cụ thể để dạy giải các bài toán chuyển động đều nhằm đáp ứng các nội dung bồi dưỡng nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, bồi dưỡng nâng cao khả năng tư duy linh hoạt và óc sáng tạo của học sinh

3 Thực trạng công tác dạy và học

3.1 Đặc điểm tình hình

Qua nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, đối chiếu với việc giảng dạy trên lớp, qua trao đổi với đồng nghiệp trong khối lớp mình dạy và qua bài làm của học sinh tôi nhận định chung như sau:

- Hầu hết giáo viên đã nắm vững nội dung, phương pháp dạy giải toán 5 nói chung và dạy toán dạng chuyển động đều nói riêng

- Việc hướng dẫn khai thác, mở rộng dạng toán chuyển động đều có hai động tử còn hạn chế, nhất là đối với đối tượng học sinh có năng khiếu Toán

- Học sinh xác định dạng toán còn chậm, biết thực hiện được các bước cơ bản của dạng toán như sách giáo khoa với những bài toán đơn giản Nhưng khi thay đổi dữ liệu hoặc lật ngược vấn đề thì học sinh còn lúng túng

Trong chương trình Tiểu học, toán chuyển động đều được học ở lớp 5 là loại toán mới, lần đầu tiên học sinh được học Tuy nhiên thời lượng chương trình dành cho loại toán này không nhiều: 3 tiết bài mới, 3 tiết luyện tập sau mỗi bài mới, 3 tiết luyện tập chung Sau đó phần ôn tập cuối năm một số tiết

có bài toán nội dung chuyển động đều đan xen với các nội dung ôn tập khác

Trang 8

Với loại toán khó, đa dạng, phức tạp như loại toán chuyển động đều

mà thời lượng dành cho ít như vậy, nên học sinh chưa được củng cố và rèn luyện kĩ năng nhiều chắc chắn không tránh khỏi những vướng mắc, sai lầm khi làm bài

3.2 Những tồn tại, khó khăn:

Sau nhiều năm thực dạy lớp 5 Qua dự giờ, tham khảo ý kiến đồng nghiệp, xem bài làm của học sinh phần toán chuyển động đều, bản thân thấy trong dạy và học toán chuyển động đều giáo viên và học sinh có những tồn tại vướng mắc như sau:

3.2.1 Đối với giáo viên:

- Đa số giáo viên chưa nghiên cứu để khai thác hết kiến thức, dạy máy móc, chưa chú trọng làm rõ bản chất toán học, nên học sinh chỉ nhớ công thức và vận dụng công thức làm bài, chứ chưa có sự sáng tạo trong từng bài toán tình huống chuyển động cụ thể có trong cuộc sống

3.2.1 Đối với học sinh:

- Do thời gian phân bố cho loại toán chuyển động đều ít nên học sinh không được củng cố rèn luyện kĩ năng giải loại toán này một cách hệ thống, sâu sắc, việc mở rộng hiểu biết và phát triển khả năng tư duy, trí thông minh,

óc sáng tạo cho học sinh còn hạn chế

- Khi làm bài nhiều em không đọc kĩ đề bài, suy nghĩ thiếu cẩn thận, hấp tấp nên bỏ sót dữ kiện đề bài cho Hoặc không chú ý đến sự tương ứng giữa các đơn vị đo của các đại lượng khi thay vào công thức tính dẫn đến sai

- Học sinh chưa được rèn luyện giải theo dạng bài nên khả năng nhận dạng bài, và vận dụng phương pháp giải cho từng dạng bài chưa có Dẫn đến học sinh lúng túng, chán nản khi gặp loại toán này

Từ thực trạng trên, sau khi dạy xong phần lí thuyết dạng toán này theo chương trình SGK và gợi ý trong SGV, tôi đã đưa ra đề khảo sát cho 2 lớp

5A và 5B ở trường Tiểu học nơi tôi công tác nhằm thu thập kết quả, nắm

bắt thực tế để có hướng đi đúng trong quá trình hướng dẫn học sinh giải toán dạng toán chuyển động đều dạng có hai động tử chuyển động

Trang 9

3.3.Đề khảo sát ( tháng 3/2013)

Thời gian: 20 phút

Câu 1: (5 điểm)

Quãng đường A B dài 276 km Hai ô tô khởi hành cùng một lúc.1 ô tô đi

từ A đến B với vận tốc 42 km/giờ Một xe đi từ B về A với vận tốc 50km/giờ Hỏi sau mấy giờ hai xe gặp nhau?

Câu 2: ( 5 điểm ) 1 xe máy đi từ A lúc 8 giờ 37 phút với vận tốc 36 km/giờ

Đến 11 giờ 7 phút, một ô tô cũng xuất phát từ A với vận tốc 54 km/giờ Hỏi ô

tô đuổi kịp xe máy lúc mấy giờ?

Qua khảo sát với đề bài như trên, tôi thu được kết quả như sau:

- Khả năng phân loại, xác định dạng toán của học sinh chưa nhanh

- Kĩ năng giải toán chưa vững vàng

- Kĩ năng phân tích đề bài, thiết lập mối quan hệ giữa các yếu tố trong bài toán chưa linh hoạt

- Khả năng tư duy chưa linh hoạt: áp dụng máy móc cách giải theo phạm

vi kiến thức cơ bản trong SGK

Từ việc nắm bắt được những nguyên nhân trên, tôi quyết định thử nghiệm dạy học sinh lớp 5B đi sâu vào giải bài toán có lời văn dạng toán

Trang 10

" Chuyển động thẳng đều có hai động tử" trong các tiết dạy.

4 Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 giải bài toán chuyển động thẳng đều có hai động tử.

4.1 Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh nhận dạng toán.

4.1.1 Các dạng bài toán có nội dung chuyển động đều:

- Bài toán có nội dung chuyển động tham gia

- Bài toán về 2 động tử chuyển động cùng chiều

- Bài toán về 2 động tử chuyển động ngược chiều

- Bài toán có 1 chuyển động nhưng lại chuyển động cả xuôi lẫn ngược

mà vận tốc của nó còn phụ thuộc vào vận tốc thứ hai: (vận tốc dòng nước, vận tốc gió)

- Bài toán chuyển động kết hợp với loại toán tìm 2 số biết tổng và tích, tổng và tỉ, hiệu và tỉ số, bài toán tỉ lệ, trồng cây…

Nhìn chung toán chuyển động rất đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức, nhưng thực chất có thể đưa về các dạng chủ yếu như trên

4.1.2 Phân loại dạng bài toán có nội dung chuyển động đều:

Mỗi bài toán có một nội dung khác nhau, được thể hiện ở các dạng khác nhau Nếu không hướng dẫn học sinh nhận dạng toán tốt thì các em dễ bị nhầm lẫn giữa dạng toán này với dạng toán khác Do đó, trước khi hướng dẫn học sinh nhận dạng toán tôi đã cho học sinh đọc kĩ đầu bài toán, thiết lập mối quan hệ giữa các dữ kiện bài toán

- Giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản, làm rõ bản chất mối quan hệ giữa các đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian

- Phân dạng bài tập, giúp học sinh nhận dạng các bài tập và phương pháp giải các bài tập của từng dạng

- Hướng dẫn học sinh nắm chắc các bước giải toán

- Giáo viên tự học tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức, tìm tòi phương pháp giải, phương pháp truyền đạt dễ hiểu để học sinh tiếp thu kiến thức tốt nhất Với bài toán chuyển động đều có hai động tử có 2 dạng :

Trang 11

+ 2 chuyển động ngược chiều gặp nhau:

Ví dụ 1: Quãng đường AB dài 276km Hai ô tô khởi hành cùng một lúc, một

xe đi từ A đến B với vận tốc 42km/giờ, một xe đi từ B đến A với vận tốc 50km/giờ Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ hai ô tô gặp nhau

+ 2 chuyển động cùng chiều đuổi kịp nhau:

Ví dụ 2: Một người đi xe đạp từ A đến B với vận tốc 12km/giờ Sau 3 giờ

một xe máy cũng đi từ A đến B với vận tốc 36km/giờ Hỏi kể từ lúc bắt đầu

đi, sau bao lâu xe máy đuổi kịp xe đạp?

4.2 Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh giải bài toán

4.2.1 Hoạt động giải toán nói chung thường tiến hành theo 4 bước:

- Hướng dẫn học sinh nhận dạng toán

- Hướng dẫn học sinh giải bài toán

- Thực hiện trình bày bài giải toán

- Kiểm tra lại cách giải toán.

* Cụ thể các bước giải toán như sau:

+ Bước 1 : Tìm hiểu đề để nhận dạng loại toán

- Yêu cầu học sinh đọc thật kĩ đề toán, xác định đâu là cái đã cho, đâu là cái phải tìm

- Hướng dẫn học sinh tập trung suy nghĩ vào những từ quan trọng của đề toán, từ nào chưa hiểu ý nghĩa phải tìm hiểu ý nghĩa của nó

- Hướng dẫn học sinh cần phát hiện rõ những gì thuộc về bản chất của đề toán, những gì không thuộc về bản chất của đề toán để hướng học sinh vào chỗ cần thiết

- Hướng dẫn học sinh tóm tắt đề bằng sơ đồ, hình vẽ, kí hiệu, ngôn ngữ ngắn gọn Sau đó yêu cầu học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại nội dung đề toán

+ Bước 2 : Hướng dẫn HS giải bài toán

Từ tóm tắt đề, thông qua đó giúp học sinh thiết lập mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm Cần suy nghĩ xem: Bài toán cho biết những gì?

Trang 12

Bài toán hỏi gì? Để đi tìm đáp số bài toán em cần phải làm gì trước? Cần phải làm những phép tính gì? Trong những điều ấy cái gì đã biết, cái gì chưa biết? Muốn tìm cái chưa biết ấy thì lại phải làm thế nào?…Cứ như thế ta đi dần đến những điều đã cho trong đề toán Từ những suy nghĩ trên, học sinh

sẽ tìm ra cách làm hoặc suy luận đi từ những điều đã cho đến đáp số của bài toán

Đây là một bước rất quan trọng và vai trò của người giáo viên là người hướng dẫn, gợi mở Để phát huy được tính tích cực, khả năng sáng tạo của học sinh tôi đã tổ chức, hướng dẫn, gợi cho học sinh những nút thắt quan trọng để học sinh thảo luận, tìm cách giải quyết tháo những nút thắt đó

+ Bước 3 : Thực hiện trình bày bài giải

Dựa vào kết quả phân tích bài toán ở bước hai, xuất phát từ những điều

đã cho trong đề toán học sinh lần lượt thực hiện giải bài toán

Lưu ý học sinh trình bày bài giải khoa học, câu lời giải ngắn gọn phù hợp phép tính, lập luận chặt chẽ, đủ ý …

+ Bước 4 : Kiểm tra lại kết quả.

Học sinh thực hiện thử lại từng phép tính cũng như đáp số xem có phù hợp với đề toán không Cũng cần soát lại câu lời giải cho các phép tính, các câu lập luận đã chặt chẽ đủ ý chưa

4.2.2 Hướng dẫn giải dạng toán chuyển động đều: Bài toán về chuyển động

thẳng đều ( của hai vật chuyển động hay của hai động tử ) có hai dạng:

Dạng 1: Hai động tử chuyển động ngược chiều với vận tốc là v1 , v 2 trên một quãng đường

Bài toán 1( Trang 144/SGK Toán 5): Quãng đường AB dài 180 km Một ô

tô đi từ A đến B với vận tốc 54 km/giờ, cùng lúc đó một xe máy đi từ B đến A với vận tốc 36 km/giờ Hỏi từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ ô tô gặp xe máy? Giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ biểu thị hai xe đi ngược chiều nhau trên quãng đường 180 km

ô tô( 54km/h) xe máy( 36km/h)

Trang 13

A B

180 km Học sinh quan sát sơ đồ trả lời câu hỏi xem bài toán đã cho biết những gì? Bài toán hỏi gì?

- Quãng đường AB dài bao nhiêu km? ( 180 km)

- Ô tô đi từ đâu đến đâu? ( từ A đến B )

- Xe máy đi từ đâu đến đâu? ( từ B đến A )

- Vận tốc của mỗi xe là bao nhiêu?

Theo bài toán thì đoạn đường AB có hai xe đi ngược chiều nhau khởi hành cùng lúc Học sinh nêu vận tốc của hai xe ( vận tốc ô tô là 54 km/giờ; vận tốc

Như vậy GV hướng dẫn HS áp dụng công thức sau:

- Cả hai xe đi được quãng đường trong 1 giờ chính là tìm tổng vận tốc của

Dẫu có xa xôi chẳng ngại chi

Tôi - bạn hai kẻ ngược chiều đi

Vận tốc đôi bên tìm tổng số

Đường dài chia tổng chẳng khó chi

Trang 14

Dạng 2: Hai động tử chuyển động cùng chiều với vận tốc là v1 , v 2 (v 2 > v 1 ) trên một quãng đường để đuổi kịp nhau.

Bài toán 2: ( trang 145/SGK Toán 5) Một người đi xe đạp từ B đến C với

vận tốc 12 km/giờ, cùng lúc đó một người đi xe máy từ A cách B là 48 km với vận tốc 36 km/ giờ và đuổi theo xe đạp ( xem hình) Hỏi kể từ lúc bắt đầu

đi, sau mấy giờ xe máy đuổi kịp xe đạp ?

- Quãng đường từ A cách B dài bao nhiêu km?

- Xe đạp đi từ đâu đến đâu? Vận tốc?( từ B đến C vận tốc v 1 = 12 km/h )

- Xe máy đi từ đâu đến đâu? Vận tốc?(từ A đến C với vận tốc v 2 = 36 km/h )

Theo bài toán thì đoạn đường AC có hai xe đi cùng chiều nhau: v 2 > v 1

- Tìm thời gian hai xe gặp nhau?

- Chuyển động cùng chiều hay ngược chiều? ( cùng chiều )

- Khoảng cách ban đầu giữa hai xe là bao nhiêu? ( 48 km )

Trang 15

- Sau mỗi giờ, xe máy gần xe đạp chính là tìm hiệu vận tốc của 2 xe ở

Trên đường kẻ trước với người sau

Hai kẻ cùng chiều muốn gặp nhau

Vận tốc đôi bên tìm hiệu số

Đường dài chia hiệu khó chi đâu

Như vậy để HS giải tốt dạng toán chuyển động đều có hai động tử này chúng ta cần hướng dẫn HS thực hiện như sau:

- Học sinh xác định hai chuyển động cùng chiều hay ngược chiều

- Nếu là hai động tử chuyển động ngược chiều gặp nhau:

Tìm quãng đường sau mỗi giờ hai xe đi được ( Tổng vận tốc hai xe)

- Nếu là hai động tử chuyển động cùng chiều đuổi nhau:

Tìm quãng đường sau mỗi giờ hai xe gần nhau ( Hiệu vận tốc hai xe)

- Tìm thời gian hai xe gặp nhau: t gn = s : ( v 1 + v 2 )

hoặc đuổi kịp nhau: t gn = s : ( v 2 – v 1 )

Lưu ý: Khi giải các dạng toán này cần có cách giải linh hoạt, không áp đặt,

để học sinh lựa chọn cách giải, lời giải và các phép tính phù hợp với yêu cầu đặt ra của mỗi bài toán ( nhất là khi giải các bài toán chuyển động gắn liền với những tình huống thực tế )

Ngoài các bước giải trên, trong dạy học nhất là dạy đối tượng học sinh khá, giỏi cần giúp học sinh khai thác bài toán như:

- Có thể giải bài toán bằng cách khác không?

- Từ bài toán có thể rút ra nhận xét gì? Rút ra kinh nghiệm gì?

- Từ bài toán này có thể đặt đề toán khác như thế nào? Giải chúng ra sao?

4.3 Biện pháp 3: Mở rộng, khai thác phát triển bài toán chuyển động thẳng đều có hai động tử ( Đối với học sinh khá, giỏi)

Trang 16

Sau khi học sinh được làm quen với 3 đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian Học sinh biết cách tính một trong 3 đại lượng khi biết 2 đại lượng còn lại Sách giáo khoa có giới thiệu bài toán về 2 động tử chuyển động

ngược chiều gặp nhau, cùng chiều đuổi nhau ở 2 tiết luyện tập chung (Bài 1

-trang 144; Bài 1 - trang 145) Khi hướng dẫn học sinh giải 2 bài toán này

tôi đã giúp học sinh giúp học sinh rút ra các nhận xét quan trọng như sau:

quãng đường và khởi hành cùng một lúc thì cách tính thời gian gặp nhau là:

t gn = s : (v 1 + v 2 ) ( t gn : Thời gian để 2 động tử gặp nhau)

A C B

v 1 S ¬ v 2

Để củng cố sâu cho đối tượng học sinh khá giỏi tôi cho các em tự suy ra

các công thức tính dựa trên công thức tính thời gian: t gn = s : (v 1 + v 2 )

Ví dụ : + Tổng vận tốc: v 1 + v 2 = s : t

+ Quãng đường: s = (v 1 + v 2 ) x t

Ví dụ 1: An và Bình khởi hành cùng một lúc An đi từ A đến B Bình đi từ B

về A Quãng đường AB dài 30 km Tính vận tốc của mỗi người biết rằng họ gặp nhau sau lúc khởi hành 30 phút và vận tốc của An nhanh gấp rưỡi vận tốc của Bình

Ví dụ 2: Lúc 5 giờ 15 phút, An đi xe máy từ Hà Nội vào Thanh Hóa với vận

tốc 45 km/h Bình đi xe máy từ Thanh Hóa ra Hà Nội bắt đầu cùng giờ với

An với vận tốc 40 km/h Hai người gặp nhau lúc 7 giờ 15 phút tại Ninh Bình Tính khoảng cách từ Hà Nội – Thanh Hóa?

* Đối với các bài toán loại toán này cần hướng dẫn học sinh nhận dạng được bài toán rồi vận dụng công thức suy luận được rút ra ở trên để giải

Tôi đã hướng dẫn học sinh nhận dạng bằng cách:

- Xác định xem bài toán có mấy chuyển động

- Biểu diễn các chuyển động trên sơ đồ đoạn thẳng

Ngày đăng: 26/07/2016, 14:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w