1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số kinh nghiệm dạy các bài toán chuyển động đều môn toán lớp 5 đạt hiệu quả cao

20 418 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 252,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vì thế cần phải có phương pháp cụ thể đề ra để dạy giải các bài toán chuyển động đều nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, phát triển khả năng tư duy linh hoạt và óc sáng tạo

Trang 1

MỤC LỤC

I PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 Lí do chọn đề tài 2

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

II PHẦN NỘI DUNG 3

1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3

1.1 Mục tiêu dạy học môn toán lớp 5 3

1.2 Yêu cầu về kiến thức – kỹ năng của môn toán lớp 5 4

1.3 Yêu cầu về kiến thức – kỹ năng cần đạt về số đo thời gian và chuyển động đều của môn toán lớp 5 4

1.4 Một số dạng toán về toán chuyển động được dạy ở toán 5 5

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 6

2.1 Khảo sát học sinh 6

2.2 Kêt quả: 7

2.3 Kết luận: 8

3 Các giải pháp giải quyết vấn đề 8

3.1 Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo cho học sinh 8

3.2 Cung cấp cho học sinh nắm vững các hệ thống công thức 10

3.3 Giúp học sinh có thể tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng 10

3.4 Giúp học sinh giải các bài tập theo từng dạng bài cụ thể 10

4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 18

III PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 19

1 Kết luận 19

2 Kiến nghị 19

Trang 2

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn, đó cũng

là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp cho học sinh nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong mọi lĩnh vực

Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn: Nó phát triển tư duy, trí tuệ, có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tính suy luận, tính khoa học toàn diện, chính xác, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt, góp phần giáo dục tính nhẫn nại, ý chí vượt khó khăn

Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán, vấn đề đặt ra cho người thầy là làm thế nào để giờ dạy – học toán có hiệu quả cao, học sinh phát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học Theo tôi, các phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ vị trí, mục đích và nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục của bài học môn toán Nó không phải là cách thức truyền thụ kiến thức, cách giải toán đơn thuần mà là phương tiện tinh

vi để tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, độc lập và giáo dục phong cách làm việc một cách khoa học, hiệu quả

Hiện nay, giáo dục tiểu học đang thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, làm cho hoạt động dạy học trên lớp “nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả” Để đạt được yêu cầu đó, giáo viên phải có phương pháp và hình thức dạy học để vừa nâng cao hiệu quả cho học sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi tiểu học và trình độ nhận thức của học sinh, để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước nói chung và của ngành giáo dục tiểu học nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu

Xét riêng về loại toán chuyển động đều ở lớp 5, ta thấy đây là loại toán khó, nội dung phong phú, đa dạng vì thế cần phải có phương pháp cụ thể đề ra

để dạy giải các bài toán chuyển động đều nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, phát triển khả năng tư duy linh hoạt và óc sáng tạo của học sinh tiểu học

Bên cạnh đó ta còn thấy các bài toán chuyển động đều có rất nhiều kiến thức được áp dụng vào thực tế cuộc sống, bài toán chuyển động đều cung cấp một lượng vốn sống hết sức cần thiết cho một bộ phận các em học sinh không có điều kiện học tiếp bậc phổ thông cơ sở mà phải nghỉ học để bước vào cuộc sống lao động sản xuất

Từ nhiều lí do nêu trên, tôi chọn đề tài “Một số kinh nghiệm dạy các bài toán chuyển động đều môn Toán lớp 5 đạt hiệu quả cao" với mong muốn đưa

ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học các bài toán chuyển động đều lớp 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

a Đối tượng nghiên cứu:

Lớp thực nghiệm: Lớp 5B Trường Tiểu học Minh Khôi

b Phạm vi nghiên cứu:

Trang 3

Chương trình Toán 5 (hiện hành), Chương bốn, phần II - Vận tốc, Quãng đường, Thời gian

4 Phương pháp nghiên cứu.

Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp như sau:

+ Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề

+ Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm

+ Phương pháp vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học

+ Phương pháp trực quan

II PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

1.1 Mục tiêu dạy học môn toán lớp 5

-Bổ sung những hiểu biết cần thiết về phân số thập phân, hỗn số để chuẩn bị học

số thập phân

-Biết khái niệm ban đầu về số thập phân; đọc, viết, so sánh, sắp thứ tự các số thập phân

*Lớp 5 là lớp cuối cùng ở tiểu học Nội dung môn toán lớp 5 đã được chỉnh lý theo tinh thần đổi mới giáo dục tiểu học Sách giáo khoa toán 5 được biên soạn theo nội dung đó được thể hiện theo chủ đề lớn sau đây :

- Ôn tập và bổ sung về số tự nhiên

- Phân số Các phép tính về phân số

-Số thập phân các phép tính về số thập phân

- Hình học, chu vi, diện tích và thể tích

- Số đo thời gian, toán chuyển động đều

- Ôn tập cuối năm

*Với nội dung trên toán 5 có vị trí:

- Hệ thống hóa và khái quát hóa ở mức độ hoàn chỉnh hơn lớp 4 đối với các kiến thức về số tự nhiên (đặc điểm cấu trúc của số tự nhiên, hệ thập phân các phép tính, tính chất các phép tính và quy tắc tính, bổ sung kiến thức về dấu hiệu chia hết cho 2, 5, 3, 9) nó mở rộng khái niệm số tự nhiên sang phân số và số thập phân, cách đọc và viết bốn phép tính trên phân số, số thập phân

- Bổ sung và hệ thống hóa các bảng đơn vị đo đại lượng thông thường, trong đó các bảng đơn vị đo thời gian Bảng đơn vị đo khối lượng, đo độ dài, đo diện tích,

đo thể tích Các đơn vị đo đại lượng dược viết dưới dạng số tự nhiên, phân số và

số thập phân Do đó các phép tính trên số đo đại kượng, về thực chất là đưa về các phép tính trên số tự nhiên, phân số và số thập phân

- Tiếp tục sử dụng các biểu thức chữ để khái quát hóa bằng công thức chữ tất cả các tính chất phép tính Các quy tắc tính chu vi, diện tích và thể tích các hình đã học Giúp học sinh tiếp tục thực hiện giải phương trình và bất phương trình đơn giản trên phân số và số thập phân

Trang 4

- Tiếp tục củng cố kỹ năng giải toán và trình bày bài giải càc bài toán đơn toán hợp với các số tự nhiên, phân số, số thập phân, số đo đại lượng bổ sung các bài toán về vận tốc, quãng đường, thời gian trong chuyển động đều.

- Giới thiệu những biểu tượng về chu vi và diện tích hình tròn, về thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ, giới thiệu quy tắc tính diện tích và thể tích các hình đã học

1.2 Yêu cầu về kiến thức – kỹ năng của môn toán lớp 5

- Nắm được khái niệm về phân số và số thập phân biết đọc viết các số đó, biết cách rút gọn phân số và qui đồng mẫu số các phân số, biết so sánh các phân số

và số thập phân

- Biết thực hiện phép tính cộng, trừ, nhân, chia các phân số, số thập phân và tính được các biểu thức số

- Biết đổi đơn vị các số đo thời gian biết thực hiện cộng, trừ, nhân, chia số đo thời gian trong những trường hợp đơn giản

- Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn và hợp với phân số, số thập phân Biết giải các bài toán đơn giản về chuyển động đều

- Biết giải một số phương trình và bất phương trình đơn giản với phân số số thập phân

- Nắm được các đơn vị đo thể tích (cm3, dm3, m3) và mối quan hệ giữa chúng Biết vận dụng công thức để tính diện tích hình chữ nhật, hình lập phương, hình trụ

1.3 Yêu cầu về kiến thức – kỹ năng cần đạt về số đo thời gian và chuyển động đều của môn toán lớp 5

1.3.1 Về số đo thời gian

- Biết mối quan hệ giữa một số đơn vị đo thời gian thông dụng :

Ví dụ: 1 thế kỉ = 100 năm 1tuần lễ = 7 ngày

1 năm = 12 tháng 1 ngày = 24 giờ

1 năm có 365 ngày 1 giờ = 60 phút

1 năm nhuận có 366ngày 1 phút có 60 giây

-Biết đổi đơn vị đo thời gian

Ví dụ: Viết số thích hợp vào chỗ chấm :

a) 6 năm = …… tháng;

4

3 giờ = ……….phút;

3 năm rưỡi = ………….tháng; 0,5 ngày = ……… giờ

2 giờ 15 phút =………phút

b) 60 giờ =…… ngày……….giờ; 182 phút = ……… giờ………phút

75 giây = …… phút ……… giây

- Biết cách thực hiện :

* Phép cộng, phép trừ các số đo thời gian (có đến hai tên đơn vị đo)

Ví dụ: Tính :

a)12 phút 43 giây + 5 phút 37 giây

b)5 giờ 20 phút – 2 giờ 45 phút

Trang 5

* Phép nhân, phép chia số đo thời gian (có đến hai tên đơn vị đo) với (cho) một

số tự nhiên khác 0

Ví dụ: Tính :

a) 12 phút 25 giây  5

b) 7 giờ 40 phút : 4

1.3.2 Vận tốc

Bước đầu nhận biết được vận tốc của một chuyển động

Biết tên gọi, kí hiệu của một số đơn vị đo vận tốc (km/giờ; m/phút; m/giây)

Ví dụ: Một ô tô đi quãng đường 170 km hết 4 giờ Như vậy, trung bình mỗi giờ

ô tô đi được là : 170 : 4 = 42,5 (km) Ta nói vận tốc trung bình, hay nói vắn tắt vận tốc của ô tô là bốn mươi hai phẩy năm kilômét giờ, viết tắt là 42,5 km/giờ (Bài toán 1, SGK Toán 5, trang 138)

1.4 Một số dạng toán về toán chuyển động được dạy ở toán 5

Ví dụ 1: Một máy bay bay được 1800km trong 2 giờ Tính vận tốc của máy bay (Bài 2, SGK Toán 5, trang 139)

-Giáo viên hướng dẫn học sinh giải

Trung bình mỗi giờ máy bay bay được :

1800 : 2 = 900 (km)

Đáp số : 900 km -Giáo viên : Trung bình mỗi giờ máy bay bay được 900km Ta nói vận tốc trung bình hay nói vắn tắt vận tốc của máy bay là chín trăm ki-lô-mét giờ, viết tắt là

900km/giờ

Vậy vận tốc của máy bay là :

1800 : 2 = 900 (km/giờ)

-Giáo viên rút ra kết luận (qui tắc) : Muốn tính vận tốc ta lấy quãng đường chia cho thời gian.

Gọi v là vận tốc, S là quãng đường, t là thời gian, ta có qui tắc sau để tính vận tốc (v)

v = S : t

Ví dụ 2: Một người đi xe đạp trong 15 phút với vận tốc 12,6 km/giờ Tính quãng

đường đi được của người đó

(Bài 2, SGK Toán 5, trang 141)

Giải:

15 phút = 41 giờ

Quãng đường đi được của người đó là.

12,6  14 = 3,15 (km)

Đáp số : 3,15 km.

-Từ đó rút ra qui tắc : muốn tìm quãng đường ta lấy vận tốc nhân với thời gian

Ví dụ 3: Một ca nô đi với vận tốc 36 km/giờ trên quãng đường sông dài 42 km.

Tính thời gian đi của ca nô trên quãng đường đó

(Bài toán 2, SGK Toán 5, trang 142)

Trang 6

Giải :

Thời gian đi của ca nô là :

42 : 36 =

6

7

(giờ)

6

7

giờ =

6

1

1 giờ = 1 giờ 10 phút.

Đáp số : 1 giờ 10 phút.

-Từ đó rút ra qui tắc : muốn tìm thời gian ta lấy quãng đường chia cho vận tốc.

Ví dụ 4: Quãng đường AB dài 180km Một ô tô đi từ A đến B với vận tốc 54km/

giờ, cùng lúc đó một xe máy đi từ B đến A với vận tốc 36 km/giờ Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ ô tô gặp xe máy?

(Bài 1, SGK Toán 5, trang 144)

ô tô xe máy

A 180km B Hướng dẫn :

Sau mỗi giờ, cả ô tô và xe máy đi được quãng đường là :

54 + 36 = 90 (km) Thời gian đi để ô tô gặp xe máy là :

180 : 90 = 2 (giờ)

Đáp số 2 giờ.

Ví dụ 5: Một người đi xe đạp từ B đến C với vận tốc 12 km/giờ Cùng lúc đó

một người đi xe máy từ A cách B là 48 km với vận tốc 36 giờ và đuổi theo xe đạp (xem hình dưới đây) Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ xe máy đuổi kịp

xe đạp ?

(Bài 1, SGK Toán 5, trang 145)

xe máy xe đạp

48 km

Hướng dẫn : Sau mỗi giờ xe máy gần xe đạp là :

36 – 12 = 24 (km) Thời gian đi để xe máy đuổi kịp xe đạp là :

48 : 24 = 2 (giờ)

Đáp số : 2 giờ

Trang 7

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Khảo sát học sinh.

Ví dụ 1:

Một máy bay bay được 1800km trong 2,5 giờ Tính vận tốc của máy bay

(Bài 2 – SGK toán 5, Trang 139)

Ví dụ 2:

Một ôtô đi từ Hà Nội lúc 6 giờ 15 phút và đến Hải phòng lúc 8 giờ 56 phút Giữa đường ô tô nghỉ 25 phút Vận tốc của ôtô là 45 km/giờ Tính quãng đường

từ Hà Nội đến Hải Phòng

(Bài 4- SGK Toán lớp 5, trang 166)

Ví dụ 3:

Một người đi bộ trong 2 giờ 30 phút được quãng đường dài 15 km

a.Tính vận tốc của người đó theo km/giờ

b Tính vận tốc của người đó theo m/phút

Ví dụ 4:

Một tàu thuỷ khi xuôi dòng có vận tốc 28,4 km/giờ Khi ngược dòng có vận tốc 18,6 km/giờ Tính vận tốc của tàu thuỷ khi nước lặng và vận tốc của dòng nước

(Bài 5 – Trang 178, SGK Toán 5)

2.2 Kêt quả:

Trong chương trình toán lớp 5, phần toán chuyển động đều được gói gọn

trong 3 tiết: Vận tốc, Quãng đường, Thời gian và một số tiết luyện tập, rải rác

một số bài toán chuyển động đều trong các tiết ôn tập Để học sinh biết được:

v = S t ; S = v t ; t = S v thì hầu như giáo viên nào cũng làm được, nhưng khi áp dụng vào thực tế để giải bài tập thì học sinh lại lúng túng, ngay cả trong bài tập trong SGK ở phần này rất nhiều học sinh chưa làm được chứ chưa nói đến bài tập nâng cao Tôi thấy phần lớn học sinh lúng túng khi giải loại toán này và kết quả thường không cao

Kết quả khảo sát

Trang 8

Câu b 12% 48% 40%

2.3 Kết luận:

Đa số học sinh giải các loại toán này còn sai nhiều (đặc biệt là ví dụ 2, ví

dụ 3 phần câu b và ví dụ 4)

2.4 Nguyên nhân:

- Do lý thuyết đến bài tập có khoảng cách xa (Bởi vì toán chuyển động đều

đa dạng, phong phú, ẩn hiện dưới nhiều hình thức) mà học sinh chưa chuẩn bị cho khoảng cách đó

- Học sinh chưa hiểu được kiến thức cơ bản một cách sâu sắc và trọn vẹn nên khi giải các bài tập chưa linh động, chẳng hạn khi tính vận tốc theo km/giờ thì tính được nhưng tính theo m/phút thì lại sai do không biết đổi như thế nào là đúng

3 Các giải pháp giải quyết vấn đề.

Qua thực tế giảng dạy và dự giờ, tôi nhận thấy vấn đề cần giải quyết đặt ra

là giáo viên phải tìm cách khắc phục yếu kém cho học sinh, kiên trì rèn kĩ năng cho các em từ đơn giản đến phức tạp

Chú trọng thực hiện một số yêu cầu cơ bản sau:

+ Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo thời gian cho học sinh

+ Giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về dạng toán chuyển động đều, hệ thống các công thức cần ghi nhớ

+ Giúp học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng

+ Giúp các em vận dụng các kiến thức cơ bản để giải tốt các bài toán chuyển động đều theo từng dạng bài

Để giải quyết vấn đề đã nêu ra ở trên, trước tiên, tôi quan tâm đến việc tạo tâm thế hứng khởi cho các em khi tham gia học toán Giúp các em tích cực tham gia vào quá trình học tập, tạo điều kiện cho các em phát triển tư duy óc sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp Sau đó tôi tiến hành theo các bước sau:

3.1 Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo cho học sinh.

Tôi nhận thấy một sai lầm mà nhiều học sinh mắc phải khi giải toán chuyển động đều đó là các em chưa nắm vững cách đổi đơn vị đo thời gian Hầu hết các bài toán chuyển động đều yêu cầu phải đổi đơn vị đo trước khi tính toán Tôi chủ động cung cấp cho học sinh cách đổi như sau:

3.1.1 Giúp học sinh nắm vững bảng đơn vị đo thời gian, mối liên hệ giữa các đơn vị đo cơ bản.

1 ngày = 24 giờ

1 giờ = 60 phút

1 phút = 60 giây

Trang 9

- Hướng dẫn học sinh tìm " tỉ số giữa 2 đơn vị " Ta quy ước " Tỉ số của 2 đơn vị

" là giá trị của đơn vị lớn chia cho đơn vị nhỏ

a Cách đổi đơn vị đo thời gian từ đơn vị bé ra đơn vị lớn

Ví dụ 1: 30 phút = … giờ

Ở ví dụ trên, tỉ số của 2 đơn vị là: = 60.

Ta chia số phải đổi cho tỉ số của 2 đơn vị.

Ở ví dụ 1, ta thực hiện như sau: 30 : 60 = 21 = 0,5.

Vậy 30 phút = 21 giờ = 0,5 giờ.

Ví dụ 2: 3giờ 30 phút = ….giờ

Từ ví dụ 1, ta đổi: 30 phút =

2

1

giờ = 0,5 giờ

Vậy : 3giờ 30 phút = 3 + 0,5 = 3,5 giờ.

b Cách đổi đơn vị đo thời gian từ đơn vị lớn ra đơn vị bé

Ví dụ 1: 54 giờ = … phút

+ Tìm tỉ số giữa 2 đơn vị.

Ở ví dụ 1, tỉ số của 2 đơn vị là: = 60

+ Ta nhân số phải đổi với tỉ số của 2 đơn vị: 54  60 = 48.

Vậy

5

4

giờ = 48 phút.

Ví dụ 2 : 4 giờ 30 phút = …phút

Đổi : 3 giờ = 4 60 = 240 phút.

Vậy : 4giờ 30 phút = 240 + 30 = 270 phút.

3.1.2 Giúp học sinh đổi đơn vị đo vận tốc :

a Cách đổi từ km/giờ sang km/phút và m/phút

Ví dụ : 180 km/ giờ = … km/ phút = ……m/ phút.

Bước 1: Thực hiện đổi từ km/giờ sang km/phút

- Thực hiện đổi 180km/giờ = …….km/phút.

- Tỉ số 2 đơn vị giờ và phút là 60.

180 : 60 = 3

* Vậy 180km/giờ = 3 km/phút.

Ghi nhớ cách đổi: Muốn đổi từ km/giờ sang km/phút ta lấy số phải đổi chia cho 60.

Bước 2: Thực hiện đổi từ km/phút sang m/phút

- Đổi 3 km/phút = ….m/phút

Tỉ số giữa 2 đơn vị km và m là 1000 (Vì 1km = 1000 m).

3 1000 = 3000.

* Vậy 3 km/phút = 3000 m/phút.

Ghi nhớ cách đổi: Muốn đổi từ km/phút sang m/phút ta lấy số phải đổi nhân với 1000.

Vậy 180km/giờ = 3 km/phút = 3000 m/phút

1giờ 1phút 1giờ 1phút

Trang 10

b Cách đổi từ m/phút sang km/phút, sangkm/giờ.

Ta tiến hành ngược với cách đổi trên

Ví dụ: 3000 m/phút = … km/phút = ….km/giờ.

- Tỉ số 2 đơn vị giữa km và m là: 1000

Ta có: 3000 : 1000 = 3

Vậy 3000 m/phút = 3 km/phút.

- Đổi 3km/phút = km/giờ

Tỉ số 2 đơn vị giờ và phút là 60.

Ta có: 3 60 = 180.

Vậy 3 km/phút = 180km/giờ.

Vậy 3000 m/phút = 3 km/phút = 180km/giờ.

3.2 Cung cấp cho học sinh nắm vững các hệ thống công thức.

Trong phần này tôi khắc sâu cho học sinh một số cách tính và công thức sau:

* Muốn tính vận tốc ta lấy quãng đường chia cho thời gian.

Công thức: v = S t ( v: Vận tốc, S: Quãng đường, t: Thời gian)

* Muốn tính quãng đường ta lấy vận tốc nhân với thời gian.

Công thức: S = v t (S: Quãng đường, v: Vận tốc, t: Thời gian)

* Muốn tính thời gian ta lấy quãng đường chia cho vận tốc.

Công thức: t = S v ( t: Thời gian, v: Vận tốc, S: Quãng đường)

Đồng thời tôi giúp học sinh nắm vững mối quan hệ giữa các đại lượng vận tốc quãng đường, thời gian:

- Khi đi cùng vận tốc thì quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian

(Quãng đường càng dài thì thời gian đi càng lâu và ngược lại)

- Khi thời gian bằng nhau thì quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc

(Quãng đường càng dài thì vận tốc càng lớn và ngược lại )

- Khi đi cùng quãng đường thì thời gian tỉ lệ nghịch với vận tốc

(Thời gian ngắn thì vận tốc nhanh, thời gian dài thì vận tốc chậm)

3.3 Giúp học sinh có thể tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng.

Sơ đồ đoạn thẳng giúp các em hiểu bài toán một cách trực quan và nhanh chóng, sơ đồ sẽ giúp các em nắm rõ mối tương quan giữa các đại lượng, mối liên hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết từ đó tìm ra hướng giải quyết yêu cầu của bài toán

3.4 Giúp học sinh giải các bài tập theo từng dạng bài cụ thể.

Dạng 1: Những bài toán áp dụng công thức, các yếu tố đề cho đã tường minh.

Đây là dạng toán đơn giản nhất Học sinh dễ dàng vận dụng hệ thống công thức để giải

Ví dụ 1 (Bài tập 1 trang 139 Toán 5) : Một người đi xe máy trong 3 giờ được

105 km Tính vận tốc của người đi xe máy

- Với đề bài trên tôi hướng dẫn cho học sinh như sau:

Ngày đăng: 01/01/2020, 21:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w