SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓAPHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 GIẢI TỐT TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU Người thực hiện:
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 GIẢI TỐT TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU
Người thực hiện: Trịnh Thị Phòng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Đông Hương
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán
Trang 2THANH HÓA NĂM 2020
2.1.1.Mục đích dạy giải toán có lời văn ở lớp 5 3
2.1.2 Các dạng toán chuyển động đều lớp 5 42.2 Thực trạng của dạy học chuyển động đều trước khi áp dụng sáng kiến 5
2.3 Biện pháp giúp học sinh giải toán chuyển động đều lớp 5 7
Biện pháp 1: Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo cho học sinh 8
Biện pháp 2: Cung cấp cho học sinh nắm vững các hệ thống công thức 9
Biện pháp 3: Giúp học sinh giải các bài tập theo từng dạng bài cụ thể 9
Dạng 1: Những bài toán áp dụng công thức các yếu tố đề cho đã tường minh. 11
Dạng 2: Các bài toán áp dụng công thức có các yếu tố đề cho chưa tường minh. 12
Dạng 3: Bài toán dựa vào mối quan hệ giữa quãng đường, vận tốc và thời gian. 12
Dạng 4: Bài toán về 2 động tử chuyển động ngược chiều nhau 12
Dạng 5: Hai động tử chuyển động cùng chiều đuổi nhau. 13
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường
Trang 33.2.2 Đối với nhà trường 19
Trang 41 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong nhà trường tiểu học, mỗi môn học đều góp phần vào việc hìnhthành và phát triển những cơ sở ban đầu quan trọng của nhân cách con ngườiViệt Nam Trong đó môn Toán giữ vai trò quan trọng, thời gian dành cho việchọc Toán chiếm tỉ lệ khá cao Thực tế những năm gần đây, việc dạy học Toántrong các nhà trường tiểu học đã có những bước cải tiến về phương pháp, nộidung và hình thức dạy học
Môn Toán là môn học có vai trò hết sức quan trọng trong việc rènphương pháp suy luận, phát triển năng lực tư duy, rèn trí thông minh, óc sángtạo của học sinh tiểu học, là môn học có rất nhiều học sinh thích học
Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy học sinh tiểu học, bản thân tôicũng đã suy nghĩ tìm tòi cho mình những vấn đề khó trong giảng dạy Thực tếcho thấy khi giảng dạy có rất nhiều học sinh nắm lí thuyết một cách máy mócnhưng khi vận dụng vào thực hành thì gặp nhiều lúng túng khó khăn
Trong chương trình toán lớp 5, một trong những nội dung mới mà các
em được học đó là toán chuyển động đều Đây là loại toán khó, nhờ có các tình
huống chuyển động hết sức đa dạng trong đời sống nên nội dung của nó rấtphong phú Đồng thời các bài toán chuyển động đều có rất nhiều kiến thứcđược áp dụng trong cuộc sống, chúng cung cấp lượng vốn sống hết sức cầnthiết cho học sinh Khi học dạng toán này các em còn được củng cố nhiều kiếnthức kỹ năng khác như: Các đại lượng có quan hệ tỉ lệ; kỹ năng tóm tắt bài toánbằng sơ đồ đoạn thẳng; kỹ năng tính toán, …
Vậy dạy và học như thế nào để học sinh nắm chắc kiến thức, vận dụngkiến thức đã học để làm toán từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp một cáchlinh hoạt, chủ động, bồi dưỡng vốn hiểu biết, vốn thực tế Và một điều quantrọng nữa là tạo cho học sinh lòng đam mê học toán Từ ý nghĩa và thực tiễn của
vấn đề trên, tôi đã tập trung nghiên cứu nội dung: “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 5 giải tốt toán chuyển động đều.”.
1.2 Mục đích nghiên cứu:
1 Tìm hiểu phương pháp và thực trạng dạy học toán ở lớp 5
2 Cơ sở lý luận của các dạng toán lớp 5 nói chung và các toán Dạng toán chuyển động đều trong chương trình lớp 5.
3 Tìm ra một số giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả dạy phần toánchuyển động đều ở lớp 5
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 5a) Đối tượng nghiên cứu “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 5 giải tốt toán chuyển động đều.”
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình tiến hành đề tài nghiên cứu đã lựa chọn và sử dụng cácphương pháp sau:
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc sách và tài liệu để tìm hiểu, tham
khảo những nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu
2 Phương pháp vấn đáp: Trực tiếp trò chuyện với cá nhân các giáo viên,
học sinh nhằm thu thập những thông tin liên quan đến đề tài
3 Phương pháp điều tra: Qua điều tra bằng văn bản và cả bằng phỏng vấn
hoặc trao đổi ngẫu nhiên trong giao tiếp, phương pháp này giúp tôi có cơ sở thựctiễn về thực trạng dạy giải toán có lời văn ở lớp 5 trong trường Tiểu học ĐôngHương
4 Phương pháp tích luỹ, thống kê: Trong suốt hơn 20 năm dạy học, hay đi
dự giờ đồng nghiệp, tôi đã vận dụng phương pháp này để tích hợp kinh nghiệmthực tiễn
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
- Sáng kiến đã được áp dụng 4 năm và có sự chỉnh sửa phù hợp với từng đốitượng học sinh:
+ Học sinh Chưa hoàn thành, Hoàn thành chậm cần tăng cường rèn kỹnăng đổi đơn vị đo, vận dụng trực tiếp công thức
+ Học sinh hoàn thành tốt bổ sung thêm phần toán dạng bài tập phức tạp,nâng cao ứng dụng trong thực tế cuộc sống
Trang 62 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
2.1.1 Mục đích dạy giải toán có lời văn ở lớp 5:
Mục đích giải toán có lời văn ở lớp 5 là:
- Hết lớp 5 học sinh phải biết tóm tắt bài toán (bằng lời hoặc bằng sơ đồ)
và lựa chọn lời giải chính xác
- Đối với học sinh có năng khiếu toán phải giải tốt các dạng toán khó củadạng toán cơ bản
- So với những chương trình giáo dục trước, mức độ giải toán có lời văncủa Toán 5 hiện nay có một điểm đặc biệt: Số lượng các bài toán có lời văntrong SGK giảm đi đáng kể (nhìn chung sau mỗi tiết lí thuyết không quá 3 bàitập, trong đó thường có không quá một bài toán có lời văn; trong mỗi tiết thựchành có không quá 4 đến 5 bài tập, trong đó thường có không quá 2 bài toán cólời văn (trừ một số tiết giải toán có lời văn)
+ Các bài toán khó có cách giải phức tạp (mang tính chất đánh đố) hầunhư không có Thay vào đó, có một số bài (số lượng không nhiều) mang tínhchất “phát triển” đòi hỏi học sinh phải “suy nghĩ” độc lập để giải
+ Nội dung các bài toán có tính “cập nhật” hơn trước, gần với đời sốngxung quanh của trẻ, gắn liền với các “tình huống” cần giải quyết trong thực tế
Chẳng hạn: * Các bài toán về quan hệ tỉ lệ gắn với mức tăng dân số hằng năm
(bài 3 trang 19; bài 2 trang 21)
* Các bài toán có nội dung hình học thường liên quan đến tính diện tíchruộng đất với các “tình huống” có thực trong thực tế (bài1 trang 105;bài 2 trang106) hoặc tính diện tích, thể tích các hộp, bể cá, khối gỗ có trong thực tế (bài 3trang 121;bài 3 trang 122 ;bài 1 trang 128)
* Các bài toán về tỉ số phần trăm thường gắn liền với “tiền lãi gửi tiếtkiệm” (bài 2 trang 77), liên quan đến “lỗ lãi” trong buôn bán (bài 3 trang 76; bài
4 trang 80), liên quan đến “dân số” (bài 3 trang 79), liên quan đến “tăng năngsuất vượt mức kế hoạch” (bài 2 trang 76)…
* Các bài toán về chuyển động đều liên quan đến việc tính vận tốc của ô
tô, xe máy, người đi xe đạp, ca nô, … của đà điểu, ong mật, ốc sên, kăng-gu-ru,
cá heo, … với những “hình ảnh” minh hoạ hấp dẫn, sinh động tạo hứng thú họctập cho học sinh và gần gũi với các em (bài 2 trang 146; bài 4 trang 144; bài 2trang 143; bài 4 trang 142; bài 1 trang 139,…)
Toán 5 mới đã tăng cường các bài toán với hình thức thể hiện đa dạng,phong phú hơn trước Chẳng hạn ngoài các dạng bài toán có tính chất quenthuộc, truyền thống (như bài toán đơn, bài toán hợp về các quan hệ số học, đolường, hình học), trong Toán 5 mới còn có các bài toán “Trắc nghiệm 4 lựachọn” (bài 1,2,3 trang 89; bài 4 trang 99 …), bài toán điền “Đúng, sai” (bài 3
Trang 7trang110; bài 3 trang112…), bài toán “Điền thế” (bài 1 trang 156…), bài toánliên quan đến “biểu đồ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng cần giải quyết”, …
Tóm lại: Trong môn Toán 5, nội dung dạy giải toán có lời văn được sắp
xếp hợp lí, đan xen phù hợp với quá trình học tập các mạch kiến thức Số học,Các yếu tố hình học, Đại lượng và đo đại lượng của học sinh Chẳng hạn, khihọc tới số thập phân, trong sách có nhiều bài toán có lời văn liên quan đến cácphép tính với số thập phân; khi học các đơn vị đo khối lượng, diện tích, thờigian, thể tích, vận tốc trong SGK Toán 5 có nhiều bài toán thực tế liên quan đếncác đơn vị đo đại lượng đó; khi học về hình tam giác, hình thang, hình tròn, hìnhhộp chữ nhật, hình lập phương trong sách có những bài toán liên quan đến tínhchu vi, diện tích, …
2.1.2 Các dạng toán chuyển động đều lớp 5:
Dạng 1: Các bài toán có một chuyển động tham gia.
Dạng 2: Các bài toán có hai chuyển động tham gia Dạng này gồm 2 loại:
Loại 1: Hai chuyển động cùng chiều
Loại 2: Hai chuyển động ngược chiều
Dạng 3: Vật chuyển động trên dòng nước.
Dạng 4: Vật chuyển động có chiều dài đáng kể.
2.2 THỰC TRẠNG CỦA DẠY HỌC CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN:
2.2.1 Giáo viên dạy:
Trong chương trình Tiểu học, toán chuyển động đều được học ở lớp 5 làloại toán mới, lần đầu tiên học sinh được học Nhưng thời lượng chương trìnhdành cho loại toán này nói chung là ít: 3 tiết bài mới, 3 tiết luyện tập sau mỗibài mới, 3 tiết luyện tập chung Sau đó phần ôn tập cuối năm một số tiết có bàitoán nội dung chuyển động đều đan xen với các nội dung ôn tập khác
Với loại toán khó, đa dạng, phức tạp như loại toán chuyển động đều màthời lượng dành cho ít như vậy, nên học sinh không được củng cố và rèn luyện
kĩ năng nhiều chắc chắn không tránh khỏi những vướng mắc, sai lầm khi làmbài
Qua nhiêu năm thực dạy lớp 5 Qua dự giờ, tham khảo ý kiến đồng nghiệp,xem bài làm của học sinh phần toán chuyển động đều, bản thân thấy trong dạy vàhọc toán chuyển động đều giáo viên và học sinh có những tồn tại vướng mắc nhưsau:
- Do thời gian phân bố cho loại toán chuyển động đều ít nên học sinhkhông được củng cố rèn luyện kĩ năng giải loại toán này một cách hệ thống, sâusắc, việc mở rộng hiểu biết và phát triển khả năng tư duy, trí thông minh, ócsáng tạo cho học sinh còn hạn chế
Trang 8- Đa số giáo viên chưa nghiên cứu để khai thác hết kiến thức, dạy máymóc, chưa chú trọng làm rõ bản chất toán học, nên học sinh chỉ nhớ công thức
và vận dụng công thức làm bài, chứ chưa có sự sáng tạo trong từng bài toántình huống chuyển động cụ thể có trong cuộc sống
2.2.2 Học sinh học:
- Do thời gian phân bố cho loại toán chuyển động đều ít nên học sinhkhông được củng cố rèn luyện kĩ năng giải loại toán này một cách hệ thống, sâusắc, việc mở rộng hiểu biết và phát triển khả năng tư duy, trí thông minh, ócsáng tạo cho học sinh còn hạn chế
- Học sinh chưa được rèn luyện giải theo dạng bài nên khả năng nhậndạng bài và vận dụng phương pháp giải cho từng dạng bài chưa có Dẫn đếnhọc sinh lúng túng, chán nản khi gặp loại toán này
- Khi làm bài nhiều em không đọc kĩ đề bài, suy nghĩ thiếu cẩn thận, hấptấp nên bỏ sót dữ kiện đề bài cho Hoặc không chú ý đến sự tương ứng giữa cácđơn vị đo của các đại lượng khi thay vào công thức tính dẫn đến sai
- Nhiều học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản, tiếp thu bài máymóc, chỉ làm theo mẫu chứ chưa tự suy nghĩ để tìm cách giải
- Khả năng phân tích đề bài về mặt ý nghĩa của học sinh chưa tốt cũng nhưcác em còn yếu khả năng tính toán
- Thực tế trong một tiết dạy 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mấtnhiều - Phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câutrả lời không được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán
Trong chương trình giảng dạy tôi nhận thấy một thực tế như sau:
- Về phía học sinh: Học sinh tiếp cận với toán chuyển động đều còn bỡngỡ gặp nhiều khó khăn Các em chưa nắm vững hệ thống công thức, chưa nắmđược phương pháp giải theo từng dạng bài khác nhau Trong quá trình giải toánhọc sinh còn sai lầm khi đổi đơn vị đo thời gian Học sinh trình bày lời giải bàitoán không chặt chẽ, thiếu lôgíc
- Về phía giáo viên: Chưa chú trọng hướng dẫn học sinh cách giải theo từngdạng bài; không chú ý quan tâm rèn kĩ năng giải toán một cách toàn diện cho họcsinh
Để thấy rõ tình hình thực trạng của việc dạy và học toán chuyển động đềucũng như những sai lầm mà học sinh thường mắc phải, tôi đã tiến hành khảo sáttrên 2 lớp 5A và 5B Tôi chọn lớp 5A là lớp tiến hành dạy thực nghiệm, lớp 5B làlớp đối chứng
Đề kiểm tra có nội dung như sau:
Câu 1 (4 điểm): (Tương tự bài tập 3 - Trang 140_SGK)
Trang 9Quãng đường từ nhà bác An đến quê nội dài 25 km Trên đường đi từ nhà
về quê, bác An đi bộ 5 km rồi mới đi ô tô trong nửa giờ thì tới nơi Tính vận tốc
ô tô?
Câu 2 (6 điểm): (Bài toán 3 - Trang 141_SGK)
Một xe máy đi từ A lúc 8 giờ 20 phút với vận tốc 42 km /giờ, đến B lúc
11 giờ Tính độ dài quãng đường AB?
Với đề bài trên tôi thu được kết quả như sau:
Lớp Sĩsố
Hoàn thànhtốt
* Những tồn tại cụ thể trong bài làm của học sinh:
Câu 1: Học sinh làm sai do không đọc kĩ đề bài, bỏ sót dữ kiện cho của
bài toán “Bác An đi bộ 5km rồi mới đi ô tô” nên đã vận dụng công thức tính
ngay vận tốc ô tô là: 25 : = 50 (km/giờ)
Câu 2: Học sinh sai vì một số em khi tìm ra thời gian đi là:
11 giờ - 8 giờ 20 phút = 2 giờ 40 phút
Vì vận tốc cho được tính bằng đơn vị km /giờ, thì thời gian tương ứngphải là giờ Nhưng do không chú ý đến điều này đã đổi:
Đổi: 2 giờ 40 phút = 160 phútRồi vận dụng công thức tính quãng đường là:
42 x 160 = 6720 (km)
2.2.3 Thực trạng của lớp
a) Năm học 2019 - 2020, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5B
Tổng số học sinh lớp chủ nhiệm: 36 em
Trong đó:
Trang 10Hoàn thành 27 75%
(Mức đánh giá khảo sát đầu năm theo đề của trường và cá nhân)
Đặc điểm của lớp là 100% các em là con gia đình nông nghiệp và lao động
tự do (không làm ổn định một nghề hoặc không có nghề mà chủ yếu là lao độngchân tay) nên sự quan tâm đến việc học của các em có hạn chế
Qua thực tế dạy học giải toán chuyển động đều lớp 5 này tôi tìm ra đượcnhững nguyên nhân sau (Thực nghiệm với 20 em ngẫu nhiên):
a) 50% Học sinh chưa xác định được dạng toán nên làm tính sai Nguyên
nhân là do các em chưa nắm chắc được tín hiệu ngôn ngữ biểu hiện và dấu hiệu bảnchất của dạng toán
b) 15% Học sinh chưa biết tóm tắt hay chưa lựa chọn cách tóm tắt phù hợp c) 15% Học sinh ghi lời giải chưa phù hợp.
d) 10% Học sinh không ghi đúng tên đơn vị vào sau kết quả của phép tính và
ở đáp số
Từ thực tế trên tôi nhận thấy vấn đề cần giải quyết đặt ra là giáo viên phảitìm cách khắc phục yếu kém cho học sinh, kiên trì rèn kĩ năng cho các em từđơn giản đến phức tạp Chú trọng thực hiện một số yêu cầu cơ bản sau:
+ Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo thời gian cho học sinh
+ Giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về dạng toán chuyển độngđều, hệ thống các công thức cần ghi nhớ
+ Giúp các em vận dụng các kiến thức cơ bản để giải tốt các bài toán chuyển động đều theo từng dạng bài
2.3.3 GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH GIẢI TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU LỚP 5
Để giải quyết vấn đề đã nêu ra ở trên trước tiên tôi quan tâm đến việc tạotâm thế hứng khởi cho các em khi tham gia học toán Giúp các em tích cực thamgia vào quá trình học tập, tạo điều kiện cho các em phát triển tư duy óc sáng tạo,khả năng phân tích, tổng hợp Sau đó tôi tiến hành theo các bước sau:
Biện pháp 1: Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo cho học sinh
Tôi nhận thấy một sai lầm mà nhiều học sinh mắc phải khi giải toánchuyển động đều đó là các em chưa nắm vững cách đổi đơn vị đo thời gian Hầuhết các bài toán chuyển động đều yêu cầu phải đổi đơn vị đo trước khi tính toán.Tôi chủ động cung cấp cho học sinh cách đổi như sau:
* Giúp học sinh nắm vững bảng đơn vị đo thời gian, mối liên hệ giữa các đơn vị đo cơ bản
1 ngày = 24 giờ 1 giờ = 60 phút 1 phút = 60 giây
* Cách đổi từ đơn vị nhỏ ra đơn vị lớn
Ví dụ: 30 phút = … giờ
Trang 11- Hướng dẫn học sinh tìm “tỉ số giữa 2 đơn vị” Ta quy ước “Tỉ số của 2 đơn vị”
là giá trị của đơn vị lớn chia cho đơn vị nhỏ
Ở ví dụ trên, tỉ số của 2 đơn vị là: giờ/phút = 60
- Ta chia số phải đổi cho tỉ số của 2 đơn vị Ở ví dụ trên ta thực hiện
30 : 60 = = 0,5 Vậy 30 phút = giờ = 0,5 giờ
* Cách đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị nhỏ
Ví dụ: Đổi giờ = … phút
- Tìm tỉ số giữa 2 đơn vị Ở ví dụ này 1 giờ = 60 phút
- Ta nhân số phải đổi với tỉ số của 2 đơn vị
Ở ví dụ trên ta thực hiện như sau: x 60 = 45 Vậy giờ = 45 phút
Hoặc đổi 2 ngày = …… giờ Tỉ số của 2 đơn vị là 1 ngày = 24 giờ
Ta thực hiện: 2 x 24 = 48 Vậy 2 ngày = 48 giờ
* Cách đổi từ km/giờ sang km/phút sang m/phút
Ví dụ: 120 km/ giờ = … km/ phút = ……m/ phút
Ta làm theo 2 bước như sau:
Bước 1: Thực hiện đổi từ km/giờ sang km/phút
- Thực hiện đổi 120 km/giờ = …… km/phút
- Tỉ số 2 đơn vị giờ và phút là 60 120 : 60 = 2 Vậy 120 km/giờ = 2 km/phút
Ghi nhớ cách đổi: Muốn đổi từ km/giờ sang km/phút ta lấy số phải đổi chia cho
Ghi nhớ cách đổi: Muốn đổi từ km/phút sang m/phút ta lấy số phải đổi
nhân với 1000 Vậy 120 km/giờ = 2 km/phút = 2000 m/phút
* Cách đổi từ m/phút sang km/phút, sang km/giờ Ta tiến hành ngược với cách đổi trên Ví dụ: 2000 m/phút = … km/phút = … km/giờ
- Tỉ số 2 đơn vị giữa km và m là: 1000 Ta có: 2000 : 1000 = 2 Vậy 2000m/phút = 2 km/phút
- Tỉ số 2 đơn vị giờ và phút là 60
Ta có: 2 x 60 = 120 Vậy 2 km/phút = 120 km/giờ
Vậy 2000 m/phút = 2 km/phút = 120 km/giờ
Biện pháp 2: Cung cấp cho học sinh nắm vững các hệ thống công thức.
Trong phần này tôi khắc sâu cho học sinh một số cách tính và công thức sau:
Trang 12* Muốn tính vận tốc ta lấy quãng đường chia cho thời gian.
Công thức: v = S : t
(v: Vận tốc; S: Quãng đường; t: Thời gian.)
* Muốn tính quãng đường ta lấy vận tốc nhân với thời gian
S = v x t (S: Quãng đường; v: Vận tốc; t: Thời gian.)
* Muốn tính thời gian ta lấy quãng đường chia cho vận tốc
t = S : v (t: Thời gian; S: Quãng đường; v: Vận tốc.)
Đồng thời tôi giúp học sinh nắm vững mối quan hệ giữa các đại lượng vậntốc quãng đường, thời gian
- Khi đi cùng vận tốc thì quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian (Quãngđường càng dài thì thời gian đi càng lâu.)
- Khi đi cùng thời gian thì quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc (Quãngđường càng dài thì vận tốc càng lớn.)
- Khi đi cùng quãng đường thì thời gian tỉ lệ nghịch với vận tốc (Thờigian ngắn thì vận tốc nhanh, thời gian dài thì vận tốc chậm)
Biện pháp 3: Giúp học sinh giải các bài tập theo từng dạng bài cụ thể
Dạng 1: Những bài toán áp dụng công thức các yếu tố đề cho đã tường minh
- Đây là dạng toán đơn giản nhất Học sinh dễ dàng vận dụng hệ thống công thức đểgiải
Ví dụ: (Bài tập 3/139 Toán 5): Một người chạy được 400m trong 1phút
20giây Tính vận tốc chạy của người đó với đơn vị đo là m/giây?
- Với đề bài trên tôi hướng dẫn cho học sinh như sau:
* Đọc kĩ yêu cầu của đầu bài
* Phân tích bài toán: + Đề bài cho biết gì ? Hỏi gì ?
+ Tính vận tốc theo đơn vị nào ?
Ví dụ 2: (Bài tập 2/141 Toán 5): Một người đi xe đạp trong 15phút với vận
tốc 12,6 km/giờ Tính quãng đường đi được của người đó?
- Với ví dụ 2 tương tự ví dụ 1, chúng ta chỉ cần lưu ý học sinh đơn vị thời gian bàicho là phút, đơn vị vận tốc là km/giờ Chính vì vậy cần phải đổi 15phút = giờ =0,25 giờ
- Học sinh trình bày bài giải: