1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bai giang lam nghiep dai cuong

125 391 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong một thời gian dài, phát triển lâm nghiệp dựa vào lợi dụng vốn tự nhiên sẵn có của rừng đã hình thành quan điểm truyền thống cho rằng chức năng chủ yếu của lâm nghiệp là sản xuất gỗ

Trang 1

1

MỤC LỤC

Trang

BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ LÂM NGHIỆP 5

1.1 Lịch sử hình thành ngành Lâm nghiệp 6

1.2 Khái niệm về Lâm nghiệp 8

1.3 Đặc trưng của sản xuất Lâm nghiệp 9

1.4 Vai trò của ngành Lâm nghiệp với đời sống xã hội và nền kinh tế quốc dân 13

1.5 Các giai đoạn phát triển của Lâm nghiệp 15

1.6 Rừng và nghề rừng Việt Nam 16

BÀI 2: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG LÂM NGHIỆP 23

2.1 Giải thích một số thuật ngữ 23

2.2 Rừng là một hệ sinh thái 25

2.3 Rừng là một quần lạc sinh địa 27

2.4 Các đặc trưng của rừng 31

BÀI 3: TÁI SINH, SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ DIỄN THẾ RỪNG 33

3.1 Tái sinh rừng 33

3.2 Sinh trưởng, phát triển ở cây rừng 34

BÀI 4: MỐI QUAN HỆ GIỮA RỪNG VỚI KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG 44

4.1 Quan hệ giữa rừng với nền kinh tế quốc dân 44

4.2 Mối quan hệ giữa rừng và môi trường sinh thái 45

4.3 Quan hệ giữa rừng và xã hội 50 BÀI 5: MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGHÀNH LÂM NGHIỆP 57

Trang 2

2

5.1 Điều tra rừng, quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng 57

5.2 Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng 61

5.3 Một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh chủ yếu 64

5.4 Khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng 73

BÀI 6: TỔNG QUAN VỀ LNXH 77

6.1 Đặc điểm chủ yếu của Lâm nghiệp truyền thống có liên quan đến phát triển LNXH 77

6.2 Xu thế phát triển và nguyên nhân ra đời của LNXH 78

6.3 Khái niệm LNXH 80

6.5 Các nhận thức và quan điểm về LNXH 84

6.6 Mục tiêu, chức năng của LNXH 89

6.7 Các đối tượng tham gia vào hoạt động LNXH 90

6.8 Vị trí, nhiệm vụ và quyền lợi của người dân trong LNXH 92

6.9 Phân biệt LNXH và lâm nghiệp truyền thống 94

6.10 Các hình thức hoạt động LNXH 98

BÀI 7: PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG LÂM NGHIỆP XÃ HỘI 102

7.1 Khái niệm “Phát triển bền vững” trong LNXH 102

7.2 Suy thoái và mất rừng tác động lên phát triển lâm nghiệp bền vững và là chỉ báo của tình trạng phát triển không bền vững 109

7.3 Phát triển lâm nghiệp xã hội bền vững 112

BÀI 8: QUY TRÌNH TRỒNG MỘT SỐ LOÀI CÂY RỪNG CHỦ YẾU 116

8.1 Muồng đen (Cassia siamea Lam, Họ Vang (Caesalpiniaceae)) 116

8.2 Quế (Cinnamomum cassia Nees ex Blume) 117

8.3 Xoan ta (Melia azedarach L) 119

Trang 3

3

8.4 Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus Kurz) 120 8.5 Căm xe (Xylia xylocarpa Taub) 122 8.6 Bời lời nhớt (Litsea glutinosa Rob (Lour)) 123

Trang 4

4

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH

Sơ đồ 3.1: Diễn thế rừng Lim xanh ở Hữu Lũng và Sông Thương 42

Sơ đồ 3.2: Quá trình diễn thế rừng lim xanh ở Vĩnh Phú và Hà Tuyên 43

Sơ đồ 5.1: Các loại nuôi dưỡng rừng và mối liên hệ qua lại giữa chúng 66

Sơ đồ 5.2: Các loại chặt nuôi dưỡng rừng 67

Sơ đồ 5.3: Các phương thức khai thác chính 70

Sơ đồ 5.4: Các kiểu tái sinh tự nhiên của rừng trên khu khai thác tập trung 71

Sơ đồ 6.1: Các hoạt động của hai nhóm đối tượng trong LNXH 91

Sơ đồ 7.1: Không gian phát triển bền vững của LNXH 104

Trang 5

5

BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ LÂM NGHIỆP

Lâm nghiệp thường được hiểu như là một "Khoa học quản lý các loại rừng nhằm sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ một cách ổn định, bền vững" (P.S Baker, 1979) Theo cách hiểu này, "Khoa học quản lý các loại rừng" đều xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội và phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ phát triển của khoa học công nghệ Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, cách hiểu trên chưa làm rõ được cả 2 đặc tính kinh tế và đặc tính sinh thái của lâm nghiệp Hai đặc tính này, mặc dù luôn phải thống nhất với nhau nhưng cũng lại luôn mâu thuẫn với nhau Với mâu thuẫn không bao giờ kết thúc đó, lâm sinh học được coi là "Chiếc chìa khoá vàng" trong việc giải quyết các xung đột giữa những lợi ích kinh tế và lợi ích sinh thái trong Lâm nghiệp

Vào nửa cuối thế kỷ XX đã có những thay đổi lớn trong cuộc cách mạng về chuyên môn lâm nghiệp Thay đổi lớn nhất, sâu sắc nhất là những thay đổi về mặt

xã hội trong đó Lâm nghiệp là một bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân Các nhà lâm nghiệp cũng như toàn xã hội đã có những mối quan tâm sâu sắc hơn đến sự suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên Đây là một thách thức đòi hỏi người ta phải tìm ra cách "Sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khôn ngoan hơn" Thay đổi thứ 2 có tính toàn cầu là con người có những mong muốn, đòi hỏi to lớn ở rừng là: rừng phải cung cấp nhiều hơn những giá trị không chỉ là các sản phẩm gỗ mà còn cung cấp nguồn nước sạch, nơi vui chơi giải trí, bảo vệ đa dạng sinh học và bảo

vệ môi trường sống Sử dụng tài nguyên rừng một cách có hiệu quả và bền vững luôn được xác định là mục tiêu hàng đầu của Lâm nghiệp

Nói một cách tổng quát: Lâm nghiệp bao gồm tất cả những mục tiêu và biện pháp mà xã hội loài người (và nền kinh tế tương ứng với mỗi nhà nước của xã hội đó) đặt ra và tác động vào đối tượng rừng Nó bao gồm hai lĩnh vực thống nhất với

nhau: xây dựng rừng và sử dụng rừng Lâm nghiệp là một khoa học tổng hợp của sự

nhất thể về sinh thái kinh tế kỹ thuật dựa trên nền tảng đạo lý và các chuẩn mực của

xã hội Bằng cách xem xét rừng như là một hệ sinh thái, một nhân tố cảnh quan, một nhân tố kinh tế và cũng là một nhân tố tâm linh, lâm nghiệp còn là hoạt động ứng dụng của con người nhằm đáp ứng các nhu cầu của xã hội và của nền kinh tế Thông qua các mục tiêu và biện pháp thích hợp của việc bảo vệ, tái tạo rừng để hướng sự phát triển của rừng theo những mong muốn của con người và do đó đạt

được sự tối ưu về lợi ích đối với con người và đối với thiên nhiên Có nghĩa là

hướng tới một hệ thống rừng bền vững và đa chức năng

Tầm quan trọng của việc xây dựng phát triển rừng ngày nay không chỉ là để duy trì việc kinh doanh rừng, mà còn nhiều hơn, quan trọng hơn là việc nhất thể hoá

Trang 6

hoảng trong quan niệm về ngành lâm nghiệp hiện nay: Thứ nhất, rừng ngày càng bị

suy giảm kéo theo các hậu quả nghiêm trọng về môi trường sinh thái, lũ lụt, hạn hán, sa mạc hoá gia tăng; đa dạng sinh học suy giảm; xói mòn đất đai; thay đổi

khí hậu theo chiều hướng không có lợi cho sự tồn tại của con người Thứ hai, cơ chế

chính sách của nhà nước thiếu đồng bộ, không nhất quán, thậm chí không minh bạch tạo ra sự lộn xộn trong quản lý đất đai giữa các cộng đồng dân cư bản địa, các

nông, lâm trường và đất đai cá nhân Thứ ba, những thử nghiệm mới trong quản lý

tài nguyên rừng như quản lý rừng dựa vào cộng đồng, nhất thể hoá thực tiễn bảo tồn

đa dạng sinh học trong quản lý rừng phòng hộ và rừng sản xuất và thực hiện quản lý

có sự tham gia trong các lưu vực đầu nguồn đã mang lại nhiều hứa hẹn và thuyết phục được nhiều đối tác

1.1 Lịch sử hình thành ngành Lâm nghiệp

Ngay từ buổi bình minh của lịch sử, con người đã lấy từ rừng những thức ăn, chất đốt, vật liệu phục vụ cuộc sống rừng được coi là cái nôi sinh ra và là môi trường sống của con người Đến thế kỷ 17, hệ thống quản lý rừng được ra đời tại Châu Âu, đánh dấu một xu hướng mới trong việc khai thác và tái tạo tài nguyên rừng Khai thác, lợi dụng và tái tạo tài nguyên rừng ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, luôn đòi hỏi phải có một hệ thống quản lý rừng thích hợp Hai quá trình này phát triển ngày càng cao và dần dần hình thành ngành lâm nghiệp Ngành lâm nghiệp ra đời ngày càng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia Như vậy, lâm nghiệp ra đời xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của xã hội đối với rừng và vai trò của xã hội đối với rừng thông qua chức năng quản lý, gìn giữ và phát triển rừng Với mỗi giai đoạn lịch sử, nhu cầu của xã hội và vai trò của xã hội đối với rừng khác nhau nên nhận thức và phát triển rừng cũng khác nhau, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử

Trong một thời gian dài, phát triển lâm nghiệp dựa vào lợi dụng vốn tự nhiên sẵn có của rừng đã hình thành quan điểm truyền thống cho rằng chức năng chủ yếu của lâm nghiệp là sản xuất gỗ để cung cấp cho xã hội, do vậy nhiệm vụ chính của lâm nghiệp được xem là quản lý rừng để sản xuất gỗ Đây chính là con đường dẫn đến hình thành loại hình lâm nghiệp hiện đại mà đặc trưng của nó là độc canh, sản xuất tập trung, đầu tư cao, công nghệ và kỹ thuật tiên tiến Loại hình lâm nghiệp này được hình thành ở nhiều nước nhiệt đới trong những thập kỷ gần đây và được xem như là lâm nghiệp truyền thống để phân biệt với các trào lưu lâm nghiệp khác

Trang 7

 Lâm nghiệp dựa trên một phương thức quản lý rừng nhằm mục đích phục

vụ nhu cầu xã hội về sản phẩm gỗ ngày càng cao

 Phương thức quản lý rừng dựa trên nền tảng của khoa học tự nhiên thể hiện bằng các kỹ thuật lâm sinh thuần túy

 Phương thức quản lý rừng truyền thống chỉ phù hợp với những nơi không

có tranh chấp đất đai, có nhiều cơ hội việc làm và thu nhập khác cho cộng đồng dân cư Phương thức quản lý này khó phù hợp với những nơi dân cư đông và hoàn cảnh xã hội như các nước đang phát triển nhiệt đới hiện nay

 Phương thức quản lý rừng chỉ thực hiện trong một môi trường thống nhất

về pháp luật và thể chế nhà nước, ít bị chi phối bởi các yếu tố cộng đồng, phong tục tập quán và luật lệ địa phương

Theo Rao (1990) lâm nghiệp truyền thống có nguồn gốc châu Âu được áp dụng tại các nước đang phát triển đang đi theo chiều hướng sau:

 Thiết lập quyền hợp pháp của các chủ thể nhà nước và tư nhân trong quản

lý và sử dụng tài nguyên rừng Dẫn đến nhà nước quản lý rừng với quyền bất khả kháng đã trở thành một nỗi ám ảnh lâu dài đối với người dân gần rừng và phụ thuộc vào rừng

 Quy định các chỉ tiêu khai thác gỗ hàng hóa và tăng số lâm sản lấy từ

rừng mà không cần hỏi “Vì quyền lợi của ai”?

 Bòn rút cạn kiệt tài nguyên rừng mặc dù vẫn nêu khẩu hiệu duy trì ổn định năng suất rừng, dẫn đến giảm sút nguồn tài nguyên rừng

 Thực hiện quản lý rừng bằng các chiến lược, chương trình do các cơ quan nhà nước vạch ra mà không cần có sự tham gia của người dân

 Sử dụng sức dân như người làm công ăn lương, phủ nhận vai trò bảo vệ rừng và quyền hưởng lợi của họ

Lâm nghiệp truyền thống có một lịch sử lâu dài, có những mặt mạnh, mặt yếu

và được coi là tiền đề, khởi nguyên cho phát triển Lâm nghiệp xã hội, là sự tiếp tục của chiến lược lâm nghiệp ở các nước nhiệt đới đang phát triển

Trang 8

8

1.2 Khái niệm về Lâm nghiệp

Lâm nghiệp là một nghành sản xuất vật chất đã được hình thành từ lâu đời, tuy vậy cho đến nay nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam vẫn tồn tại một

số quan điểm khác nhau về khái niệm lâm nghiệp, cụ thể là:

Quan điểm thứ nhất: Lâm nghiệp là một nghành sản xuất vật chất trong nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng và quản lý bảo vệ rừng

Theo quan điểm này thì lâm nghiệp chỉ bao gồm các hoạt động về trồng cây gây rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý bảo vệ rừng nhằm cung cấp lâm đặc sản, phòng hộ và bảo vệ môi trường sống cho xã hội Sản phẩm cuối cùng của nghành lâm nghiệp tạo ra là rừng thành thục công nghệ, đó là những sản phẩm tiềm năng chưa thành sản phẩm hàng hoá cuối cùng được trao đổi trên thị trường Vì vậy, quan điểm này còn bộc lộ những tồn tại mà chúng ta cần quan tâm:

- Khi sản phẩm của nghành lâm nghiệp không phải là sản phẩm được trao đổi, mua bán trên thị trường thì vấn đề thu hồi vốn không thực hiện được, muốn tái sản xuất cho chu kỳ sau thì phải trích tiền vốn từ các nghành khác cho nên nghành lâm nghiệp theo quan điểm này thì rõ ràng tính chủ động trong hoạt động của nghành là không có Sản phẩm được khai thác, chế biến từ rừng lại được thống kê, hạch toán vào tổng sản phẩm nghành công nghiệp

- Xét từ góc độ kỹ thuật lâm sinh thì khai thác và tái sinh rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau là hai giai đoạn của một quá trình tái sản xuất tài nguyên rừng Khai thác là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng trong công tác phục hồi, tái sinh rừng Nhưng theo quan điểm này thì lâm nghiệp chỉ bao gồm xây dựng rừng chứ chưa bao gồm quá trình khai thác Điều này bộc lộ khuyết điểm về phương diện quản lý thì lâm nghiệp chỉ quan tâm đến việc trồng rừng mà không quan tâm đến vấn đề sử dụng, còn khai thác rừng thì lại chỉ quan tâm đến việc sử dụng rừng mà không chú ý đến xây dựng và phát triển rừng Thực tế hiện nay nghành lâm nghiệp đang quản lý các hoạt động không chỉ thuộc lĩnh vực lâm sinh

mà còn cả lĩnh vực khai thác, chế biến lâm sản

- Xét về phương diện kinh tế-xã hội thì mục đích cuối cùng của xây dựng rừng

là để khai thác, sử dụng và chỉ có khai thác, sử dụng mới thu hồi được vốn để tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng

Quan điểm thứ hai: Lâm nghiệp là một nghành sản xuất vật chất đặc biệt không chỉ có chức năng xây dựng và quản lý bảo vệ rừng mà còn có chức năng khai thác sử dụng rừng

Theo quan điểm này thì khái niệm lâm nghiệp đã được mở rộng hơn so với quan điểm thứ nhất Lâm nghiệp vừa có chức năng xây dựng, quản lý bảo vệ rừng vừa có chức năng sử dụng rừng tức là chức năng khai thác, tiêu thụ sản phẩm rừng

Trang 9

Quan điểm thứ ba: Lâm nghiệp là nghành sản xuất vật chất trong nền kinh tế quốc dân bao gồm ba lĩnh vực: Lâm sinh, khai thác vận chuyển và chế biến lâm sản Như vậy, quan điểm này so với quan điểm thứ hai thì lâm nghiệp đã được mở rộng bao gồm cả lĩnh vực chế biến lâm sản, thực hiện chức năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cuối cùng về sản phẩm từ rừng cho nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên với quan điểm này thì đã ghép toàn bộ các hoạt động có chu kỳ sản xuất, đối tượng sản xuất, công nghệ sản xuất hoàn toàn khác biệt nhau vào một nghành Từ đó đặt ra hàng loạt vấn đề cần được giải quyết như: đầu tư, tổ chức sản xuất, ứng dụng tiến

bộ khoa học, công nghệ, đánh giá hiệu quả lâm nghiệp, chính sách phát triển lâm nghiệp

Mặt khác theo nghĩa rộng thì lâm nghiệp có thể hiểu là một lĩnh vực sản xuất trong nghành nông nghiệp và phát triển nông thôn Tuy vậy, mặc dù có những quan điểm khác nhau song điều đó không hề làm suy giảm vị trí, vai trò của lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội

Từ những quan điểm trên người ta đã thống nhất đưa ra khái niệm về lâm nghiệp:

Lâm nghiệp là một lĩnh vực của nền kinh tế thực hiện các chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản, phát huy chức năng phòng hộ của rừng

Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hoá và dịch vụ từ rừng như gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến lâm sản và cung cấp các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng; ngành Lâm nghiệp có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, xoá đói, giảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và an ninh quốc phòng

1.3 Đặc trƣng của sản xuất Lâm nghiệp

Mỗi sự vật hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan đều tồn tại một thuộc tính chung nhất đó là thuộc tính phản ánh Lâm nghiệp là một nghành sản xuất vật chất độc lập trong nền kinh tế quốc dân, cũng như các ngành kinh tế khác, mỗi nghành đều có những đặc điểm phản ánh tính đặc thù của mình, đó là tất yếu khách

Trang 10

10

quan Tính đặc thù đó mang ý nghĩa quyết định đến việc tổ chức sản xuất, quản lý

sử dụng các nguồn lực của nghành Nghiên cứu các đặc điểm sản xuất nhằm hoạch định chiến lược phát triển, phương án đầu tư, đề xuất những giải pháp quản lý, khai thác triệt để các nguồn lực từ đó hướng tới mục tiêu hiệu quả kinh tế-xã hội cao nhất Trong sản xuất lâm nghiệp có những đặc điểm chủ yếu sau:

1.3.1 Chu kỳ sản xuất dài

Đây là đặc điểm quan trọng mang tính đặc thù của nghành Chu kỳ sản xuất được tính là khoảng thời gian kể từ khi chuẩn bị đưa các yếu tố vào sản xuất đến khi tạo ra sản phẩm sẵn sàng trao đổi, tiêu thụ Chu kỳ sản xuất là tiêu thức phản ánh đặc điểm sản xuất của nghành sản xuất và chủ yếu là do đối tượng sản xuất quyết định Đối với lâm nghiệp khác với nghành nghề khác, đối tượng sản xuất lâm nghiệp là rừng, hệ sinh thái trong đó quần xã cây rừng đóng vai trò chủ đạo và chúng khác biệt so với các loại thực vật khác là chu kỳ sinh trưởng kéo dài và phát triển chậm Nếu tính chu kỳ thành thục tự nhiên thì có thể đến vài trăm năm, còn thành thục công nghệ cũng phải vài chục năm trong khi đó chu kỳ sản xuất của một

số nghành công nghiệp chỉ tính bằng giờ, phút và ngay nghành nông nghiệp (trừ một số cây ăn quả, công nghiệp dài ngày), chu kỳ sản xuất cũng chỉ được tính bằng ngày, tháng

Do chu kỳ sản xuất dài đã ảnh hưởng đến tình hình tổ chức sản xuất, tình hình quản lý, sử dụng các yếu tố nguồn lực trong lâm nghiệp Vốn đầu tư lớn nhưng thời hạn thu hồi vốn lại rất dài, tốc độ chu chuyển vốn chậm, do đó hiệu quả đầu tư thường không cao Mặt khác sản xuất lâm nghiệp là một nghành thường chịu những rủi ro do điều kiện tự nhiên gây nên song thời gian sản xuất lại kéo dài, điều này cũng ảnh hưởng tiêu cực đến thành quả lao động Đặc biệt trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường hiện nay, hầu hết giá cả hàng hoá nào cũng đều ảnh hưởng bởi các yếu tố thời gian, chi phí cơ hội, vấn đề dự đoán xu thế biến động của thị trường thiếu chính xác, cơ chế chính sách thường thay đổi Vì vậy, sản xuất kinh doanh lâm nghiệp không hấp dẫn được nhiều nhà đầu tư Đối với công tác nghiên cứu khoa học cũng gặp phải những khó khăn không nhỏ đó là công trình nghiên cứu phải trải qua thời gian thử nghiệm rất dài mới có kết quả, do đó các nhà khoa học ít có cơ hội để tự đánh giá tổng kết công trình nghiên cứu của mình

Từ những hạn chế như trên, vấn đề đặt ra đối với Nhà nước nói chung và những nhà quản lý, khoa học lâm nghiệp nói riêng cần phải quan tâm đúng mực đối với nghành lâm nghiệp Trước hết về phía Nhà nước cần có chính sách kinh tế xã hội vĩ mô, định hướng nhằm ưu đãi, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển rừng như: chính sách cho vay vốn dài hạn với lãi suất ưu đãi, thực hiện các chương trình dự án phù hợp với tình hình chung của nghành và từng địa

Trang 11

11

phương cụ thể, hỗ trợ nhân dân sống bằng nghề rừng, xây dựng cơ sở hạ tầng tạo tiền đề phát triển kinh tế, ổn định xã hội vùng rừng núi Đối với các nhà quản lý, trong sản xuất lâm nghiệp phải xây dựng kế hoạch dài hạn, thận trọng chọn các loài cây trồng phù hợp với từng vùng sinh thái Xác định các hình thức tổ chức quản lý phù hợp với chu kỳ sản xuất lâm nghiệp dài Đối với các nhà khoa học cần tập trung nghiên cứu tạo ra những lời cây cho năng suất cao, chu kỳ sinh trưởng, phát triển ngắn bằng những tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất

1.3.2 Trong sản xuất lâm nghiệp quá trình sản xuất kinh tế diễn ra xen kẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên

Tái sản xuất là quá trình lặp đi lặp lại của hoạt động sản xuất mang tính chu

kỳ Tái sản xuất tự nhiên là quá trình sinh trưởng, phát triển của cây rừng bắt đầu từ quá trình gieo hạt tự nhiên, cây rừng nảy mầm, lớn lên, ra hoa kết quả rồi lại tiếp tục lặp đi lặp lại quá trình đó và tuân thủ theo quy luật sinh học Như vậy tái sản xuất tự nhiên là quá trình tái sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và tuân thủ theo quy luật sinh học mà không có sự can thiệp của con người Tái sản xuất kinh tế trong lâm nghiệp được hiểu là quá trình lặp đi lặp lại sự phát triển của cây rừng dưới sự tác động của con người thông qua các biện pháp kỹ thuật như: tỉa thưa, bón phân, làm cỏ nhằm thoả mãn mục đích cuả con người

Do quá trình sinh trưởng và phát triển của cây rừng chịu ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc bởi điều kiện tự nhiên nên trong quá trình tái sản xuất tự nhiên luôn giữ vai trò quyết định Điều này đòi hỏi nhà quản lý khi đưa ra các giải pháp kỹ thuật phải tôn trọng quy luật tự nhiên để lợi dụng tối đa các ưu thế do tự nhiên mang lại, đồng thời qua đó né tránh khó khăn cản trở do tự nhiên gây nên Tuy vậy, trong sản xuất lâm nghiệp không hoàn toàn trông chờ vào điều kiện tự nhiên mà phải có những tác động kinh tế nhất định để đẩy nhanh quá trình phát triển Do những khó khăn của đặc điểm này như tính chủ động trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp bị hạn chế, thường gặp rủi ro khách quan bởi các yếu tố tự nhiên, nên về phía Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ như: bảo hiểm cây trồng, trợ giá lâm sản, chính sách khoa học công nghệ, đối với các nhà quản lý, khoa học cần tập trung nghiên cứu giống cây trồng có khả năng chống chịu cao, các biện pháp bảo quản giống, lâm sản

1.3.3 Trong sản xuất lâm nghiệp hoạt động khai thác gắn liền với tái sinh rừng

Tái sinh là quá trình xây dựng rừng bao gồm tái sinh tự nhiên và tái sinh nhân tạo Khai thác rừng là quá trình lợi dụng rừng, quá trình thu hoạch thành quả của quá trình xây dựng rừng Xét về mặt hình thức thì đây là hai mặt đối lập nhau, song

về nội dung thì lại có sự thống nhất và liên quan chặt chẽ với nhau Mục đích của

Trang 12

12

xây dựng rừng là xây dựng để lợi dụng và có lợi dụng Nếu đứng trên góc độ kỹ thuật thì khai thác là một trong những giải pháp kỹ thuật quan trọng của tái sinh rừng Từ đặc điểm này đòi hỏi khi tiến hành khai thác lợi dụng rừng phải tuân thủ các biện pháp kỹ thuật đúng đắn và cân đối giữa khai thác và tái sinh nhằm tạo điều kiện tốt nhất để quá trình tái sinh rừng diễn ra hiệu quả, kinh tế cao

1.3.4 Sản xuất lâm nghiệp mang tính thời vụ rất rõ nét

Tính thời vụ được hiểu là tình hình sản xuất được tập trung vào một khoảng thời gian nào đó trong năm và được lặp đi lặp lại có tính quy luật Do đặc tính sinh thái, sinh lý của cây rừng, sự biến đổi về thời tiết, khí hậu đã làm cho mỗi loài cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó Vì vậy, khi canh tác một hay một

số loài cây trồng nào đó thì tình hình sản xuất thường được diễn ra một số tháng trong năm Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức sản xuất, đặc biệt là

tổ chức lao động gặp phải những khó khăn nhất định

Nhằm khắc phục tính thời vụ trong sản xuất lâm nghiệp chúng ta cần nghiên cứu các mô hình sản xuất chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp, thực hiện nông lâm kết hợp nhằm tận dụng tối đa các nguồn lực về lao động, năng lực máy móc thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn… Chọn loài cây trồng có biên độ sinh thái thích hợp rộng với điều kiện sản xuất

1.3.5 Sản xuất Lâm nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, phức tạp

Đây là một đặc thù rõ nét của hoạt động sản xuất lâm nghiệp được tiến hành trên quy mô rộng, chủ yếu hoạt động ngoài trời và trên địa bàn có những điều kiện

tự nhiên phức tạp, điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn Hiện nay, ở Việt Nam diện tích đất lâm nghiệp trên 19 triệu héc ta, chiếm gần 60% diện tích tự nhiên, trong diện tích đất lâm nghiệp thì khoảng 75% diện tích là đồi núi, dốc cao, địa hình phức tạp, hiểm trở, đất đai thường bị xói mòn và ngay vùng ven biển thì đất lâm nghiệp cũng là những loại đất cát hoặc chua mặn không đủ khả năng canh tác nông nghiệp

Về mặt xã hội vì điều kiện phức tạp, cơ sở hạ tầng kém phát triển nên điều kiện kinh tế, giáo dục cũng bị hạn chế Mặt khác, nguồn lao động trong lâm nghiệp thường là nguồn lao động tại chỗ và nguồn du canh du cư của một số đồng bào dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp, trình độ lao động thấp, tập quán canh tác, sinh hoạt lạc hậu Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của nghành lâm nghiệp Đối với nhà quản lý do điều kiện sản xuất tiến hành trên quy mô rộng lớn, thêm vào đó điều kiện kinh tế xã hội nghèo nàn, lạc hậu như vậy rõ ràng gây khó khăn, cản trở lớn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng Xuất phát từ đặc điểm đó đòi hỏi Nhà nước cần có chính sách nhằm gắn lợi ích với kết quả lao động của người

Trang 13

13

làm nghề rừng, phát triển lâm nghiệp theo hướng lâm nghiệp xã hội Cần nhận thức được vấn đề đầu tư cho Lâm nghiệp là đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội vùng trung du miền núi nhằm rút ngắn sự phân hoá giàu – nghèo giữa nông thôn và thành thị, miền núi – đồng bằng, đây là một nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân

1.3.6 Sản xuất lâm nghiệp có tính xã hội sâu sắc và nhiều thành phần kinh

tế tham gia

Với địa bàn hoạt động rộng lớn của nghành lâm nghiệp, là nơi sinh sống của nhiều cộng đồng dân cư khác nhau mà đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người nên giữa phát triển lâm nghiệp và hoạt động của dân cư địa phương đều có ảnh hưởng, tác động qua lại, có mối quan hệ mật thiết

Xuất phát từ đặc thù trên, vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý khi áp dụng những biện pháp kỹ thuật quản lý phải hết sức tôn trọng các phong tục, tập quán địa phương và tìm hiểu nhằm tạo điều kiện cho những kiến thức bản địa có lợi được phát huy Sản xuất lâm nghiệp luôn luôn phải tính đến lợi ích và bảo vệ lợi ích của cộng đồng dân tộc địa phương Về phía Nhà nước cần có những chính sách kinh tế-

xã hội hấp dẫn để thu hút các thành phần kinh tế tham gia, đặc biệt là đồng bào, cư dân địa phương vào công tác bảo vệ và phát triển rừng Mặt khác khi đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh lâm nghiệp không chỉ đề cập đến các lợi ích kinh tế mà còn phải quan tâm đến các mục tiêu xã hội khác Vì vậy, có thể nói sự phát triển của nghành lâm nghiệp không thể tách rời sự phát triển tổng hợp về kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng của vùng trung du, miền núi

1.3.7 Sản phẩm dở dang trong lâm nghiệp rất lớn

Do đặc tính sinh học của cây rừng có chu kỳ sinh trưởng, phát triển dài nên khi hạch toán kinh tế trong năm tài chính thì chỉ một bộ phận chuyển thành hàng hoá, còn lại đa số là sản phẩm dở dang đó là rừng chưa thành thục Vì vậy, trong quá trình hạch toán để đánh giá hiệu quả một cách chính xác của hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đòi hỏi phải tính đúng, đủ sản phẩm dở dang, bộ phận đã chuyển hoá thành hàng hoá

Sản xuất lâm nghiệp có tác động nhiều mặt đối với đời sống kinh tế –xã hội của hàng hoá lâm sản cho nhu cầu kinh tế; đảm bảo quá trình ổn định và phát triển kinh tế –xã hội ở các địa phương; tác dụng phòng hộ-bảo tồn-văn hoá (du lịch sinh thái, cảnh quan)

1.4 Vai trò của ngành Lâm nghiệp với đời sống xã hội và nền kinh tế quốc dân

Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, sản phẩm của lâm nghiệp

có tác dụng nhiều mặt trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội Trong

Trang 14

14

luật Bảo vệ phát triển rừng có ghi: "Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền đời sống của nhân dân với sự sống của dân tộc"

Cụ thể chúng ta nghiên cứu một số vai trò quan trọng của ngành lâm nghiệp như sau:

1.4.1 Vai trò cung cấp lâm, đặc sản phục vụ các nhu cầu của xã hội

Trong quá trình phát triển của xã hội mặc dù có nhiều tiến bộ khoa học ứng dụng sản xuất ra một số lâm sản thay thế gỗ Tuy nhiên, nhu cầu về gỗ và các sản phẩm được chế biến từ gỗ vẫn không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng

- Cung cấp lâm, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội

- Cung cấp gỗ nguyên liệu cho công nghiệp

- Cung cấp gỗ các loại cho xây dựng, trụ mỏ, toa xe, tàu thuyền…

- Cung cấp nhiên liệu: than, củi đun…

- Cung cấp các loại đặc sản quý, các động vật quí hiếm…

- Cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men, dược liệu…

1.4.2 Tác dụng phòng hộ, duy trì cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường

 Rừng giữ đất, bảo vệ và cải tạo đất

- Bảo vệ môi trường sinh thái:

 Chống ô nhiễm môi trường, giữ được cân bằng sinh thái

 Rừng còn là tấm màn xanh lọc nước để ta có được dòng nước sạch cho sản xuất và đời sống Xã hội càng phát triển, vai trò của rừng càng trở nên quý giá

 Bảo vệ khu di tích lịch sử, văn hoá, môi trường, nâng cao giá trị cảnh quan và du lịch…

1.4.3 Vai trò giải quyết công ăn việc làm và tạo thu nhập cho nhân dân đặc biệt là đồng bào thuộc vùng trung du, miền núi

Tài nguyên rừng là cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu, quan trọng quyết định đến

sự phát triển lâm nghiệp Thông qua các chính sách kinh tế-xã hội như giao đất giao rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng liên kết người dân khi tham gia vào

Trang 15

15

các hoạt động trồng rừng, nuôi dưỡng rừng, bảo vệ rừng, khai thác và chế biến lâm sản thì họ sẽ được hưởng lợi ích từ những hoạt động đó Mặt khác do diện tích đất lâm nghiệp chủ yếu thuộc vùng trung du, miền núi xen lẫn với địa bàn sinh sống của nhân dân, vì vậy sản xuất lâm nghiệp dễ thu hút lực lượng lao động tại chỗ tham gia Ngoài ra, rừng còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với quốc phòng, an ninh

1.4.4 Vai trò nghiên cứu khoa học

Đối tượng sản xuất của lâm nghiệp là rừng, rừng luôn chứa đựng nhiều vấn đề

bí ẩn của tự nhiên cần được bảo tồn và nghiên cứu Đặc biệt là tính đa dạng sinh học của rừng không chỉ có giá trị trước mắt mà còn có giá trị với thế hệ tương lai nếu chúng ta biết bảo vệ, gìn giữ, sử dụng và phát triển rừng bền vững

1.5 Các giai đoạn phát triển của Lâm nghiệp

Theo Wiersum (1994), quá trình phát triển Lâm nghiệp trên thế giới trải qua các thời kì với các cách tiếp cận khác nhau nhưng rất đặc trưng cho quá trình chuyển từ lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội Quá trình phát triển lâm nghiệp xã hội ở châu Á được tiến triển theo các mốc của các giai được khái quát trong bảng 1.1

Bảng 1.1: Quá trình phát triển lâm nghiệp

- Lâm nghiệp tư nhân

- Lâm nghiệp xã hội

- Lâm nghiệp nhà nước

- Lâm nghiệp tư nhân

- Lâm nghiệp cộng đồng

- Lâm nghiệp cộng đồng

- Lâm nghiệp nhà nước

- Lâm nghiệp hộ gia đình

- Lâm nghiệp tư nhân

- Lâm nghiệp cộng quản

Nguồn: Đinh Đức Thuận (2002)

- Giai đoạn trước năm 1950

Đặc trưng của giai đoạn này là lâm nghiệp thuộc địa và phong kiến Quyền sở hữu đất đai và rừng thuộc về các nhà tư sản nước ngoài, các chủ đồn điền, một phần đất đai thuộc về quyền tự quản của các cộng đồng hoạt động chủ yếu của lâm nghiệp là khai thác vơ vét tài nguyên rừng phục vụ cho “Mẫu Quốc” và giai cấp thống trị

- Giai đoạn từ 1950 – 1970

Trang 16

16

Các nước thực hiện quốc hữu hoá rừng và quyền sở hữu, quản lý đất rừng thuộc nhà nước Lâm nghiệp nhà nước chiếm vị trí chủ đạo Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu vẫn dựa vào khai thác gỗ nhưng tập trung nhiều cho xuất khẩu sang các nước phát triền Ở giai đoạn này, tài nguyên rừng ở hầu hết các nước bị tàn phá nghiêm trọng, tỷ lệ che phủ của rừng bị giảm sút nhanh chóng

- Giai đoạn từ 1971- 1990

Chính phủ huy động nhân dân địa phương vào bảo vệ và phát triển rừng Một phần rừng và đất rừng được giao cho các hộ gia đình quản lý Các chương trình LNXH ra đời với mục tiêu trợ giúp cho sự phát triển và thoả mãn các nhu cầu về lâm sản của người dân Các nước giảm dần lượng khai thác gỗ Hoạt động lâm nghiệp đã hướng vào khai thác, lợi dụng tổng hợp theo hình thức nông lâm kết hợp, phát triển nhiều loại sản phẩm khác nhau, chuyển từ sản xuất đơn ngành sang đa ngành

- Giai đoạn từ 1991 đến nay

Các chính phủ tiếp tục phân cấp quản lý theo hướng phi tập hoá, gia tăng quyền hạn tự quản cho chính quyền địa phương Một phần rừng và đất rừng được giao cho các cộng đồng địa phương theo hướng lâm nghiệp cộng đồng Chính phủ các nước và các nhà tài trợ đầu tư cho các dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng

Xu hướng cộng quản giữa chính phủ và các cộng đồng tăng lên Nông lâm kết hợp, phát triển tổng hợp theo hướng đa ngành đã trở thành phương thức hoạt động phổ biến của ngành Lâm nghiệp

Qua các giai đoạn phát triển lâm nghiệp trên, ta thấy bắt đầu từ những năm

1970 có thêm các hình thức quản lý bảo vệ và phát triển rừng mới, đó là lâm nghiệp

hộ gia đình và lâm nghiệp cộng đồng Những năm 1990 xuất hiện thêm hình thức lâm nghiệp cộng quản, lâm nghiệp cộng đồng Các hình thức quản lý rừng mới này

là dấu hiệu xuất hiện và phát triển của LNXH

1.6 Rừng và nghề rừng Việt Nam

1.6.1 Rừng nhiệt đới Việt Nam

Diện tích rừng của nước ta còn khoảng 9.3 triệu ha Tổng trữ lượng gỗ cây đứng hiện có là 603 triệu m3, 5 tỷ cây tre nứa các loại và nhiều loại cây đặc sản quý hiếm khác

Riêng ở Tây nguyên còn 3.2 triệu ha rừng với 289 triệu m3, 2.1 tỷ cây tre nứa, trong đó có 0.9 triệu ha rừng gỗ giàu và trung bình

- Các kiểu rừng ở Việt Nam hiện nay:

 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

 Rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới

Trang 17

17

 Rừng kín nửa rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới

 Rừng thưa cây lá rộng, hơi khô nhiêt đới

 Rừng thưa cây lá kim, hơi khô nhiệt đới

 Rừng thưa cây lá rộng, hơi khô á nhiệt đới núi thấp

 Rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp

 Rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp

 Rừng kín cây lá kim, ẩm ôn đới ấm núi vừa

- Phân loại rừng theo trữ lượng

Rừng giàu: Trữ lượng rừng trên 150 m³/ha

Rừng trung bình: Trữ lượng rừng nằm trong khoảng (100-150) m³/ha

Rừng nghèo: Trữ lượng rừng nằm trong khoảng (80-100) m³/ha

Rừng kiệt: Trữ lượng rừng thấp hơn 50 m³/ha

- Phân loại rừng dựa vào tác động của con người

Trang 18

18

- Tập quán canh tác lạc hậu, du canh, du cư và phụ thuộc nặng nề vào tài nguyên rừng để sinh tồn Bên cạnh đó, việc di dân từ vùng đồng bằng lên các vùng cao và từ miền núi phía bắc vào Tây Nguyên đã góp phần vào tỷ lệ tăng dân số và tạo áp lực lên những diện tích rừng hiện có

- Chưa có biện pháp quản lý và khai thác rừng hợp lý, nạn khai thác gỗ lậu vẫn xảy ra ở nhiều địa phương Hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện, năng lực thực thi pháp luật còn hạn chế, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan thực thi pháp luật Quá trình giao đất, giao rừng cùng với việc cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất chậm, quyền sử dụng rừng chưa rõ ràng

- Nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội như: xây dựng hệ thống thủy lợi, thủy điện,

hệ thống đường giao thông; bố trí tái định cư; xây dựng các khu công nghiệp; khai thác khoáng sản; nhu cầu cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu

gỗ và lâm sản

- Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác: Do hậu quả chiến tranh; bùng nổ dân số; chưa có chế độ chính sách hợp lý và trình độ khoa học kỹ thuật thích đáng cho cán bộ và công nhân lâm nghiệp

1.6.3 Nghề rừng Việt Nam

Nhận thức rõ về nghề rừng như sau:

 Nghề rừng Việt Nam có truyền thống lâu đời (từ đầu thế kỷ 20)

 Nghề rừng là một ngành quan trọng trong nền kinh tế

 Ngành lâm nghiệp đã được củng cố bộ máy tổ chức

- Phân chia ra 9 vùng phát triển kinh tế lâm nghiệp như sau:

Vùng 1: Vùng Tây Bắc (Lai châu, Điện Biên, Sơn La)

Vùng 2: Vùng trung tâm (Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây cũ, Hoà Bình)

Vùng 3: Vùng Đông Bắc (Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh)

Vùng 4: Vùng đồng bằng Sông Hồng (Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên)

Vùng 5: Vùng Bắc Trung bộ (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế)

Vùng 6: Vùng ven biển miền trung (Đà nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận)

Vùng 7: Vùng Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng)

Trang 19

19

Vùng 8: Vùng Đông Nam bộ (Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh,

Tp HCM, Bà rịa – Vũng tàu)

Vùng 9: Vùng đồng bằng sông Cửu long (Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang,

An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long và Cà Mau)

1.6.4 Các tính chất của sản xuất lâm nghiệp

- Chu kỳ sản xuất, kinh doanh dài

- Sản xuất lâm nghiệp mang tính xã hội, vừa có tính chất nông nghiệp vừa có tính công nghiệp

- Địa bàn sản xuất lâm nghiệp rộng lớn, cơ sở sản xuất phân tán, di động; Diện tích rừng chiếm nhiều/tổng diện tích, phân bố chủ ở trung du và miền núi; Cơ sở sản xuất không cố định, xa xôi, hẻo lánh, đi lại khó khăn

- Rừng là một nguồn tài nguyên đặc biệt có tác dụng nhiều mặt

- Rừng có khả năng tái sinh và tăng trưởng

- Lực lượng lao động của ngành lâm nghiệp không ổn định, các chế độ chính sách chưa đáp ứng được nhu cầu người lao động…

1.6.5 Các giai đoạn phát triển Lâm nghiệp Việt Nam

- Thời kỳ trước 1945

Đơn vị quản lý rừng trong thời kỳ này được gọi là Hạt lâm nghiệp có quy mô tương đương với cấp tỉnh Nội dung hoạt động lâm nghiệp trong thời kỳ này chủ yếu là quản lý tài nguyên rừng nhằm để thu thuế là chính Để thực hiện mục tiêu khai thác tài nguyên rừng, người ta đã chia rừng thành ba loại:

Rừng không thuộc quản lý của Nhà nước Đây là những khu rừng ở vùng

sâu, vùng xa với mật độ dân cư địa phương rất thấp, khó tiếp cận và kiểm soát Ở những khu rừng này dân địa phương có quyền tự do khai thác gỗ, lâm sản và phát nương làm rẫy để đáp ứng nhu cầu hàng ngày của họ

Rừng khai thác là những khu rừng tự nhiên nằm gần các khu dân cư và có

điều kiện giao thông thuận lợi Rừng được phân chia thành các đơn vị quản lý, được kiểm kê tài nguyên, điều tra thông tin cơ bản phục vụ quản

lý Các đơn vị rừng được chia thành các coupe (cúp) khai thác và Nhà nước quy định cấp kính tối thiểu được phép khai thác Kiểm lâm đặt các trạm kiểm soát ở cửa rừng, tất cả các gỗ khai thác ra được chấp nhận, đóng búa, nộp thuế và cho phép lưu thông

Trang 20

20

Rừng quan trọng là những khu rừng có vị trí quan trọng về kinh tế được

khai thác và bảo vệ trong suốt luân kỳ hoặc những khu rừng có chức năng quan trọng khác như rừng đầu nguồn cần bảo vệ nghiêm ngặt

 Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng

 Khai thác gỗ và lâm sản phục vụ yêu cầu kháng chiến

 Vận động nhân dân trồng cây

 Đóng góp các nguồn thu của lâm nghiệp vào ngân sách

 Đào tạo cán bộ lâm nghiệp

 Công tác nghiên cứu lâm nghiệp

Đến giai đoạn 1956-1975 được đánh dấu bởi sự thành lập Tổng cục Lâm nghiệp (1960) Ở cấp tỉnh có các ty lâm nghiệp để quản lý nhà nước về lâm nghiệp Hoạt động lâm nghiệp trong thời kỳ này chủ yếu vẫn là khai thác và bảo vệ rừng tự nhiên Lượng gỗ khai thác thời kỳ này trung bình khoảng 1.5 triệu m3/năm Nhiệm

vụ trồng rừng tuy có được chú ý nhưng quy mô nhỏ (50000ha/năm) và tỷ lệ thành rừng rất thấp (khoảng 30%)

Giai đoạn 1976-1990 là những năm có nhiều thay đổi trong hệ thống tổ chức

và chính sách quản lý lâm nghiệp được đánh dấu bằng sự thành lập Bộ lâm nghiệp năm 1976 Năm 1986 rừng được quy hoạch thành ba loại theo chức năng đó là: rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Rừng được giải thửa thành nhiều tiểu khu có diện tích bình quân khoảng 1000ha để làm đơn vị quản lý Các hoạt động quản lý và sản xuất lâm nghiệp của ba loại rừng nói trên được nghiên cứu phát

Trang 21

21

triển và có nhiều đổi mới trong giai đoạn này Tổ chức của các hệ thống quản lý ba loại rừng có thể được tóm lược như sau:

Đối với rừng sản xuất: được quản lý bởi các Liên hiệp lâm nông công

nghiệp và các lâm trường quốc doanh

Đối với rừng phòng hộ: các vùng đầu nguồn trọng yếu như Sông Đà, Dầu

Tiếng, Trị An, Thạch Nham có các ban quản lý rừng phòng hộ trực thuộc

Bộ lâm nghiệp, các khu rừng phòng hộ khác do lâm trường quản lý hoặc các ban quản lý rừng phòng hộ trực thuộc tỉnh, liên hiệp…

Đối với rừng đặc dụng: thành lập các vườn quốc gia và các khu bảo tồn

thiên nhiên có ban quản lý để bảo vệ nghiêm ngặt theo quy chế riêng

 Chuyển Lâm nghiệp từ một ngành kinh tế chỉ có Nhà nước và tập thể sang một nền LNXH, thu hút nhiều thành phần kinh tế trong đó có cả hộ gia đình, cá nhân và các lực lượng xã hội tham gia xây dựng rừng và kinh doanh rừng

 Chuyển Lâm nghiệp từ một nền kinh tế chuyên khai thác gỗ tự nhiên sang một ngành kinh tế kinh doanh nhiều sản phẩm, phát triển nhiều ngành nghề

 Chuyển Lâm nghiệp từ trạng thái quảng canh, trình độ khoa học kỹ thuật thấp sang xây dựng một ngành lâm nghiệp, thâm canh, có trình độ khoa học kỹ thuật cao

Để thực hiện định hướng chiến lược có 4 chương trình: chương trình quản lý rừng, bảo vệ rừng và tổ chức sản xuất lâm nghiệp; chương trình trồng rừng, sử dụng đất trống đồi núi trọc và phát triển lâm nghiệp theo phương thức nông lâm kết hợp; chương trình khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng; chương trình đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý lâm nghiệp theo cơ chế thị trường

Trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách có liên quan đến quản lý rừng bền vững đó là: Luật đất đai và các chính sách giao đất lâm nghiệp; Luật bảo vệ và phát triển rừng và các thể chế tăng cường quản lý bảo vệ rừng; quy

Trang 22

22 chế quản lý ba loại rừng: sản xuất, phòng hộ, đặc dụng Nghị định của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp

Trang 23

23

BÀI 2: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG LÂM

NGHIỆP

2.1 Giải thích một số thuật ngữ

- Cộng đồng dân tộc: Hiện nước ta có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những

đặc điểm riêng về văn hoá, tổ chức xã hội, tiếng nói, tập quán truyền thống và hệ thống sản xuất

- Cộng đồng làng, bản: Hiện cả nước có khoảng 50.000 làng, bản tập hợp lại

trong khoảng gần 9.000 xã Từ xa xưa, mỗi làng bản được coi là một tổ chức cộng đồng chặt chẽ với những đặc điểm rất riêng, như làng xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng lâu đời được hình thành trên cơ sở của phương thức canh tác lúa nước, trong khi đó thôn bản làng ở miền núi là hình thức cộng đồng được hình thành trên

cơ sở quan hệ sắc tộc và nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc, ít đầu tư và sử dụng các sản phẩm tự nhiên, có ảnh hưởng sâu sắc đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Ngoài hai loại hình chủ yếu này, còn có các loại hình cộng đồng khác như: cộng đồng tôn giáo, cộng đồng họ tộc, cộng đồng giới tính, và một số tổ chức đoàn thể cùng có mối quan tâm hay cùng tầng lớp xã hội như: Hội nông dân, đoàn thanh niên, hội phụ nữ Như vậy với việc thống kê và nêu đặc điểm các tác giả cho thấy khái niệm cộng đồng sử dụng trong phương thức quản lý rừng cộng đồng ở nước ta

là cộng đồng làng, bản

- Cộng đồng: Là cộng đồng thôn, làng đây là cộng đồng dân tộc thiểu số bản

địa cùng nhau cư trú lâu đời Khái niệm này còn có thể hiểu mở rộng là các nhóm hộ/dòng họ cùng chung sống trong một thôn làng, có các quan hệ huyết thống hoặc

có truyền thống, tập quán quản lý chung một phần tài nguyên đất, rừng Khái niệm

cộng đồng này tuân theo định nghĩa cộng đồng dân cư trong điều 9 của Luật Đất Đai (2003): Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng một địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất

- Quản lý rừng: Bao gồm các khía cạnh sau

+ Chủ thể quản lý được giao quyền sử dụng đất và có trách nhiệm quản lý và hưởng lợi từ nguồn tài nguyên đất, rừng theo luật đất đai

+ Tổ chức các giải pháp để quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng và đất rừng

+ Quản lý và sử dụng có kế hoạch, bảo đảm sự bền vững của nguồn tài nguyên rừng có thể tái tạo được

Trang 24

24

- Quản lý rừng dựa vào cộng đồng: Cũng bao gồm các yêu cầu chung của

quản lý rừng, nhưng được cụ thể cho điều kiện cộng đồng dân tộc thiểu số như sau:

+ Chủ thể quản lý là cộng đồng thôn làng hoặc nhóm hộ/dòng họ được giao quyền sử dụng đất và có trách nhiệm quản lý và hưởng lợi từ nguồn tài nguyên đất đai, rừng theo luật đất đai

+ Các giải pháp quản lý kinh doanh rừng cần kết hợp giữa kiến thức sinh thái địa phương và kiến thức kỹ thuật lâm nghiệp

+ Phương pháp giám sát tài nguyên rừng đơn giản, kế hoạch quản lý kinh doanh rừng được lập phù hợp với năng lực, nguồn lực, trình độ của cộng đồng và cơ

sở hạ tầng ở địa phương

- Rừng: là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi

sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc

hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng

- Độ che phủ của tán rừng: là mức độ che kín của tán cây rừng đối với đất

rừng, được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng và diện tích đất rừng

- Phát triển rừng: là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh

nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng

- Chủ rừng: là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho

thuê rừng, giao đất để trồng rừng, cho thuê đất để trồng rừng, công nhận quyền sử dụng rừng, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; nhận chuyển nhượng rừng từ chủ rừng khác

- Quyền sử dụng rừng: là quyền của chủ rừng được khai thác công dụng,

hưởng hoa lợi, lợi tức từ rừng; được cho thuê quyền sử dụng rừng thông qua hợp đồng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và pháp luật dân sự

- Công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng: là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận quyền sử dụng rừng,

quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng bằng hình thức ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của chủ

rừng

- Giá trị quyền sử dụng rừng: là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng rừng đối

với một diện tích rừng xác định trong thời hạn sử dụng rừng xác định

Trang 25

25

- Cộng đồng dân cư thôn: là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng

một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương

"Hệ sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển trong một môi trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó"

Như vậy có thể hiểu: Hệ sinh thái là một hệ thống bao gồm các sinh vật tác động qua lại với môi trường bằng các dòng năng lượng tạo nên cấu trúc dinh dưỡng nhất định, sự đa dạng về loài và chu trình tuần hoàn về vật chất (tức là trao đổi chất giữa các phần tử hữu sinh và vô sinh) gọi là chu trình sinh địa hoá học

Năm 1957, C.Vili đã dùng khái niệm hệ sinh thái để chỉ "một đơn vị tự nhiên bao gồm tập hợp các yếu tố sống và không sống, do kết quả tương tác của các yếu

tố ấy tạo nên một hệ thống ổn định, tại đây có chu trình vật chất giữa thành phần sống và không sống"

Như vậy, hệ sinh thái là một đơn vị chức năng cơ bản của sinh thái học, bởi vì đây là một đơn vị tự nhiên bao gồm môi trường và sinh vật luôn luôn có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau để tạo nên một hệ thống ổn định Hệ sinh thái có khả năng tự duy trì và tự điều hoà Nhờ có khả năng này mà hệ sinh thái có khả năng chống chọi đối với những biến đổi của môi trường, đó là cơ chế cân bằng của hệ sinh thái Bằng những hoạt động có ý thức của mình, con người càng ngày càng có xu hướng can thiệp sâu hơn vào cơ chế điều chỉnh tự nhiên của hệ sinh thái bằng cơ chế điều chỉnh nhân tạo Hệ sinh thái có tính ổn định càng cao thì khả năng sử dụng tiềm năng của môi trường càng lớn, sức chống đỡ của hệ sinh thái đối với sâu, bệnh, lửa,

gió, bão càng cao

Hệ sinh thái là một khái niệm rộng có quy mô khác nhau: gốc cây, ao hồ, đồng

cỏ, đại dương… thậm chí con tàu vũ trụ cũng được coi là một hệ sinh thái Rừng là

Trang 26

26

một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật và môi trường

2.2.2 Thành phần của hệ sinh thái

Môi trường vô sinh + Quần xã sinh vật = Hệ sinh thái

- Môi trường vô sinh:

+ Các chất vô cơ: C, N, CO2, H2O…

+ Các chất hữu cơ: Protein, Gluxit, Lipit, mùn…

+ Chế độ khí hậu: Nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, hướng gió, lượng mưa…

- Quần xã sinh vật: Là thành phần sống của hệ sinh thái Xét về quan hệ dinh

dưỡng, sinh vật có 2 nhóm:

+ Sinh vật tự dƣỡng: Chủ yếu là cây xanh chuyển hoá quang năng thành hoá

năng nhờ quá trình quang hợp Ngoài ra, có vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn hoá tổng hợp cũng thuộc sinh vật sản xuất

+ Sinh vật dị dƣỡng: Chức năng cơ bản của chúng là sử dụng, sắp xếp lại và

phân huỷ các chất hữu cơ phức tạp Sinh vật dị dưỡng chia làm 2 nhóm nhỏ:

+ Sinh vật tiêu thụ: Là sinh vật ăn các sinh vật khác, có 3 loại sinh vật tiêu

thụ:

Sinh vật tiêu thụ bậc 1: Là sinh vật ăn trực tiếp sinh vật sản xuất, trước hết là

động vật ăn thực vật Ngoài ra, các động vật và cả thực vật ký sinh trên cây xanh cũng thuộc loại này Chúng sống ký sinh trên cây chủ nhưng không có khả năng tiêu diệt cây chủ

Sinh vật tiêu thụ bậc 2: Là sinh vật ăn sinh vật tiêu thụ bâc 1 Đó là các động

vật ăn thịt các động vật ăn thực vật

Sinh vật tiêu thụ bậc 3: Là sinh vật ăn sinh vật tiêu thụ bậc 2 Đó là các động

vật ăn thịt các động vật ăn thịt khác

Sinh vật phân huỷ: Nhóm sinh vật này phân huỷ các hợp chất phức tạp của

chất nguyên sinh, hấp thu một phần sản phẩm phân huỷ và giải phóng các chất vô

cơ trả lại cho đất và cung cấp cho sinh vật sản xuất Cung cấp chủ yếu của nhóm sinh vật này là sinh vật hoại sinh, vi khuẩn và nấm

Thành phần đặc trưng của hệ sinh thái rừng là quần xã thực vật rừng với sinh vật sản xuất chủ yếu là cây rừng và sinh vật tiêu thụ là động vật rừng, vi sinh vật rừng Đất rừng là tấm gương phản chiếu quá trình chuyển hoá năng lượng và chu trình sinh địa hoá học diễn ra trong hệ sinh thái rừng

Trang 27

27

2.2.3 Dòng năng lượng trong hệ sinh thái

Dòng năng lượng bên ngoài đi vào hệ sinh thái chủ yếu là bức xạ ánh sáng mặt trời Ngoài ra còn có bức xạ nhiệt sóng dài từ các vật thể ở cự ly gần và các nguồn năng lượng bổ sung từ các nguồn thiên nhiên của môi sinh như hiện tượng bồi đắp phù sa của các hệ sinh thái ven biển, hiện tượng bồi tụ ở vùng trũng và chân đồi bón phân cho hệ sinh thái là nguồn năng lượng bổ sung nhân tạo

Lượng bức mặt trời này tuy lớn nhưng thực vật chỉ sử dụng được 1% cho quá trình quang hợp Phần bức xạ còn lại phản xạ lại trong khí quyển, duy trì nhiệt độ và xúc tiến quá trình thoát hơi nước của thực vật

Thực vật màu xanh tích luỹ năng lượng mặt trời dưới dạng hoá năng đảm nhiệm vai trò của sinh vật sản xuất Năng lượng này được vận chuyển qua hàng loạt sinh vật dưới dạng sinh vật này dùng những sinh vật khác làm thức ăn và tạo thành chuỗi thức ăn

Sinh vật tiêu thụ dùng sinh vật sản xuất làm thức ăn thông qua sinh vật tiêu thụ bậc 1, 2, 3 tạo nên chuỗi thức ăn Mỗi loại sinh vật tiêu thụ trong một chuỗi thức

ăn tạo nên một bậc dinh dưỡng Số lượng bậc dinh dưỡng của mỗi chuỗi thức ăn không thể vô tận mà rất hạn chế

- Có hai loại chuỗi thức ăn:

Chuỗi chăn nuôi: Bắt đầu từ thực vật màu xanh-sinh vật tiêu thụ bậc 1-sinh vật tiêu thụ bậc 2-sinh vật tiêu thụ bậc 3

Chuỗi vật phế thải (còn gọi là chuỗi thức ăn hữu cơ vụn nát): Bắt đầu từ chất hữu cơ chết-vi sinh vật sử dụng chất hữu cơ chết làm thức ăn-thực khuẩn phế vật-sinh vật ăn thịt thực khuẩn phế vật

Mỗi loài sinh vật có nhiều nguồn thức ăn khác nhau nên các chuỗi thức ăn liên kết chặt chẽ với nhau và tạo nên một mạng lưới thức ăn trong hệ sinh thái

2.3 Rừng là một quần lạc sinh địa

Kế thừa và phát triển "Học thuyết về rừng" của G.F Môdôrôp (1912), V.N Sukasop (1944) đề xướng học thuyết về sinh địa quần lạc Theo ông, quần lạc sinh địa là "tổng hợp trên một bề mặt đất nhất định các hiện tượng tự nhiên đồng nhất (Khí quyển, đá mẹ, thảm thực vật, thế giới động vật, thế giới vi sinh vật, đất và điều kiện thuỷ văn), có đặc thù riêng về tác động tương hỗ của các bộ phận tổ thành và

có kiểu trao đổi vật chất và năng lượng xác định giữa chúng với nhau và với các hiện tượng tự nhiên khác và là một thể thống nhất biện chứng có mâu thuẫn nội tại đang ở trong sự vận động phát triển không ngừng" (V.N Sukasop- 1964)

Trang 28

28

Như vậy, quần lạc sinh địa là một khái niệm rộng bao gồm quần lạc sinh địa hoang mạc, quần lạc sinh địa dưới nước, quần lạc sinh địa rừng, quần lạc sinh địa đồng cỏ

Quần lạc sinh địa có các thành phần:

Sinh cảnh: Ánh sáng, khí quyển, đất

Quần lạc sinh vật: thực vật, động vật, vi sinh vật

Ánh sáng, khí quyển và đất đai tạo nên sinh cảnh hay là môi trường sinh thái; quần lạc thực vật, quần lạc động vật và quần lạc vi sinh vật tạo nên quần lạc sinh vật Các thành phần của quần lạc sinh địa tác động qua lại chặt chẽ với nhau, chỉ cần 1 trong thành phần trên thay đổi thì toàn bộ mối quan hệ qua lại trong quần lạc sinh địa sẽ thay đổi theo Xét về bản chất, mối quan hệ qua lại giữa các thành phần của quần lạc sinh địa là quá trình tích luỹ, chuyển hoá vật chất và năng lượng V.N Sukasôp gọi đó là quá trình sinh địa quần lạc, nó quyết định mọi quy luật phát sinh, sinh trưởng, phát triển và diễn thế Mỗi quần lạc sinh địa có một quá trình sinh địa quần lạc đặc trưng Mâu thuẫn thống nhất biện chứng giữa các thành phần cấu tạo nên quần lạc sinh địa quyết định trạng thái vận động biến đổi không ngừng

Rừng là một quần lạc sinh địa mà trong đó quần lạc thực vật cây gỗ chiếm ưu thế Quần lạc sinh địa rừng có quá trình sinh địa quần học đặc trưng, trong đó quần lạc thực vật-nhất là tổ thành tầng cây cao giữ vai trò quyết định trong việc tích luỹ

và chuyển hoá vật chất năng lượng Trong tổ thành loài cây cao thì loài cây lập quần

là loài cây có vai trò chủ đạo trong việc sáng lập nên hoàn cảnh bên trong của quần thể (tiểu hoàn cảnh rừng) Chỉ có quần lạc sinh địa rừng mới có khả năng tạo nên một "nội cảnh" riêng biệt khác với môi trường bên ngoài Như vậy, một nhóm cây trong công viên, hàng cây bên đường phố chưa được coi là rừng Đặc trừng cơ bản của rừng là trong tổ thành thực vật, loài cây cao phải chiếm ưu thế, chúng có một mật độ nhất định, mọc chung với nhau trên một diện tích nhất định; giữa sinh vật rừng với sinh cảnh và giữa các sinh vật rừng với nhau có mối quan hệ qua lại tác động với nhau

V.N Sukasop (1964) đã định nghĩa: "Quần lạc sinh địa rừng nên hiểu là một khoảnh rừng sinh trưởng trên một khoảnh đất đai nhất định, có sự thuần nhất về tổ thành, cấu trúc và đặc tính của các thành phần hợp thành, cả về mối quan hệ lẫn nhau, nghĩa là thuần nhất về thảm thực vật, thế giới động vật, vi sinh vật, lớp đá mẹ

và về điều kiện thuỷ văn, tiểu khí hậu (khí quyển) và đất, về sự tác động lẫn nhau giữa chúng, về kiểu trao đổi vật chất và năng lượng giữa các thành phần hợp thành

và với các hiện tượng tự nhiên khác"

Hệ sinh thái rừng luôn vận động theo những quy luật tất yếu của hệ sinh thái

và sẽ hình thành nên những quần lạc có tính ổn định cao Trong rừng không ngừng diễn ra các quá trình chức năng để đảm bảo duy trì tính ổn định của hệ sinh thái

Trang 29

29

2.3.1 Quá trình tổng hợp và phân huỷ các chất hữu cơ trong hệ sinh thái rừng

Trong hệ sinh thái luôn diễn ra quá trình tổng hợp và phân huỷ các chất hữu

cơ Đó là hai quá trình liên quan chặt chẽ với nhau, tương quan của hai quá trình này quyết định năng suất sinh học của hệ sinh thái Hai quá trình này diễn ra đồng thời cùng một lúc, quá trình tổng hợp tạo ra tiền đề vật chất và năng lượng cho quá trình phân huỷ và ngược lại quá trình phân huỷ tạo tiền đề cho quá trình tổng hợp

2.3.1.1 Quá trình tổng hợp chất hữu cơ

Sinh vật sản xuất bao gồm thực vật màu xanh, vi khuẩn quang hợp và vi khuẩn hoá tổng hợp đảm nhận chức năng tổng hợp các chất hữu cơ trong hệ sinh thái

- Thực vật màu xanh: Giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong việc tổng hợp

các chất hữu cơ từ các chất vô cơ có trong môi trường vật lý xung quanh, dưới ánh sáng mặt trời thông qua tác dụng sinh học của chất diệp lục Đây là quá trình chuyển hoá năng lượng từ dạng quang năng của ánh sáng mặt trời thành dạng hoá năng tồn tại trong các hợp chất hữu cơ phức tạp

n

Xét về bản chất hoá học, đây là phản ứng oxy hóa nước giải phóng oxy và phản ứng khử dioxyt cacbon thành hydrat cacbon và giải phóng nước

- Vi khuẩn quang hợp: Cũng tiến hành tổng hợp các chất hữu cơ nhưng

không giải phóng oxy và nước mà giải phóng hợp chất lưu huỳnh vô cơ như H2S

Vi khuẩn quang hợp sống trong môi trường nước Chúng không có vai trò lớn trong quá trình tổng hợp các hợp chất hữu cơ nhưng vì chúng có thể sống được trong các môi trường hoàn toàn không thích hợp với thực vật màu xanh nên cũng có vai trò nhất định trong tuần hoàn một số nguyên tố trầm tích ở nước

- Vi khuẩn hoá tổng hợp: (hoá tự dưỡng) Cũng được coi là sinh vật sản xuất,

chúng lấy năng lượng cần thiết để đưa diôxit cacbon vào trong thành phần của tế bào không phải bằng quang hợp mà bằng oxy hoá học những hợp chất vô cơ đơn giản như amoni, nitrit, sunfit, sắt (II) oxyt Chúng có thể sống trong bóng tối nhưng vẫn cần có ôxi Như vậy, đứng trên quan điểm dinh dưỡng nên coi vi khuẩn hoá tổng hợp là nhóm chuyển tiếp giữa sinh vật tự dưỡng và dị dưỡng Một trong những đại diện quen thuộc của vi khuẩn hoá tổng hợp là vi khuẩn cố định đạm, chúng giữ vai trò quan trọng trong chu kỳ tuần hoàn Nitơ

Tốc độ đồng hoá năng lượng ánh sáng của sinh vật tự dưỡng trong quá trình quang hợp hoặc hoá tổng hợp được coi là năng suất cơ sở, hay là năng suất sơ cấp của hệ sinh thái

2.3.1.2 Quá trình phân huỷ các chất hữu cơ

Trang 30

30

Bên cạnh quá trình tổng hợp chất hữu cơ trong hệ sinh thái còn diễn ra quá trình phân huỷ các chất hữu cơ thông qua hiện tượng hô hấp Đó là quá trình oxy hoá sinh học, giải phóng năng lượng để duy trì sự sống Có 3 loại hô hấp: Hô hấp hiếu khí, hô hấp kỵ khí và lên men

- Hô hấp hiếu khí: Chất oxy hoá là khí oxy (phân tử) liên kết với hydro đây

là quá trình ngược lại với quá trình quang hợp Thực vật, động vật bậc cao và cả vi khuẩn đều sử dụng quá trình hô hấp để lấy năng lượng để duy trì các hoạt động sống và cấu trúc của tế bào

- Hô hấp kỵ khí: Chất oxy hoá là chất vô cơ, khí oxy không tham gia phản

ứng Hô hấp kỵ khí là cơ sở hoạt động chủ yếu của sinh vật hoại sinh, chất nhận điện tử cuối cùng không phải là oxi mà là các chất vô cơ khác Các vi khuẩn nhóm này không có hệ thống Cytocrom và các men peroxidase, deoxidase để phân hủy O2 cho nên O2 độc với chúng

- Lên men: là quá trình hô hấp kỵ khí, trong đó chất nhận điện tử cuối cùng là

một phần chất hữu cơ sinh năng lượng, chất oxy hoá là chất hữu cơ Đại diện tiêu biểu cho loại hô hấp này là nấm men, chúng có nhiều trong đất và giữ vai trò quan trọng trong quá trình phân huỷ cặn bã thực vật

Quá trình tổng hợp và phân huỷ chất hữu cơ làm tiền đề cho nhau, diễn ra đồng thời cùng một lúc trong hệ sinh thái Hệ số đồng hoá là tốc độ tích luỹ chất hữu cơ của sinh vật mà trong thời gian đó phải chi phí cho quá trình hô hấp

2.3.2 Chu trình sinh địa hoá học

Chu trình sinh địa hoá học là chu trình tuần hoàn vật chất theo các con đường đặc trưng từ môi trường bên ngoài vào sinh vật rồi lại trở về môi trường bên ngoài Trong các chu trình này, các nguyên tố khoáng xâm nhập vào cơ thể sinh vật trong quá trình sinh trưởng và đi vào thành phần các chất hữu cơ Khi sinh vật chết đi, chúng lại trở về môi trường xung quanh, chúng được phân phối lại, chuyển hoá phức tạp và cuối cùng lại đi vào cơ thể mới

- Chu trình C

Trong thiên nhiên, C tồn tại dưới dạng khí CO, CO2 hoặc dạng hoà tan trong nước Thực vật màu xanh sử dụng CO2 trong quá trình quang hợp để tạo nên chất hữu cơ dưới tác dụng của năng lượng ánh sáng mặt trời nhằm duy trì sự tồn tại và cung cấp thức ăn cho các sinh vật khác

Ngược lại, khi sinh vật hô hấp, lại thải ra CO2 vào trong khí quyển Khi sinh vật chết đi, cơ thể chúng bị phân huỷ cũng giải phóng CO2 vào trong khí quyển Nếu gặp môi trường chua và thiếu không khí, cơ thể sinh vật chết không phân giải được thì sản phẩm hữu cơ được tích luỹ dưới dạng than bùn, đến đây chu trình C bị ngừng lại Những mỏ than đá và dầu mỏ hiện nay mà loài người đang khai thác là

Trang 31

31

kết quả của sự tích luỹ các hợp chất hữu cơ bị chôn vùi trong các niên đại địa chất năm xưa Khi con người khai thác than bùn, than đá, dầu hoả làm nguồn năng lượng đốt cháy thì CO2 lại được trả về khí quyển

Ở trong môi trường nước cũng diễn ra quá trình ngưng đọng Các bon Ở đây Các bon được tích luỹ dưới dạng CaCO3 (đá vôi, san hô ) Khi đá vôi, san hô còn ngập trong môi trường nước thì chu trình Các bon vẫn còn bị ngưng lại Khi con người khai thác đá vôi để nung vôi thì CO2 lại được trả về khí quyển Lúc này Các bon lại tham gia vào chu trình

- Chu trình các chất lắng đọng nằm trong vỏ trái đất

 Chu trình Phốt pho

Sinh vật hấp thụ phốt pho từ môi trường bên ngoài để xây dựng cơ thể chúng Phốt pho là thành phần rất quan trọng của cơ thể sống Khi sinh vật chết đi, cơ thể sinh vật bị phân huỷ phốt pho có trong cơ thể sinh vật chết được chuyển hoá thành muối phốt phát để rễ cây dễ hấp thụ lại đi vào nuôi sống cơ thể thực vật mới

Phốt pho trong tự nhiên còn được tạo thành trong quá trình phong hoá đá mẹ Trong quá trình này, thực vật hấp thụ một phần nhỏ phốt pho, còn lại phần lớn phốt pho bị nước rửa trôi ra đại dương, lắng đọng dưới đáy biển và làm thức ăn cho các sinh vật biển Khi các sinh vật này chết đi phốt pho lại tiếp tục lắng đọng xuống đáy biển Đến đây một khối lượng lớn phốt pho đã tách ra khỏi chu trình, một phần phốt pho được chim biển mang trả lại đất liền dưới dạng phân Việc khai thác cá biển để phục vụ cho nhu cầu đời sống con người cũng đóng góp vào việc di chuyển một lượng phốt pho từ biển cả vào lục địa Tuy nhiên, cơ chế hoàn lại phốt pho cho chu trình thường kém hiệu quả Do đó, chu trình phốt pho không hoàn toàn khép kín

 Chu trình tuần hoàn dinh dưỡng khoáng

Chu trình tuần hoàn dinh dưỡng khoáng có một ý nghĩa rất quan trọng trong

hệ sinh thái rừng Trong mỗi điều kiện khí hậu nhất định, sự tích luỹ và biến thái chất hữu cơ cũng như cường độ của chu trình sinh học có những đặc điểm, đặc trưng nhất định, chúng khác nhau đó là trong điều kiện nhiệt đới hay ôn đới Trong chu trình này, với rừng ẩm thường xanh hay rừng mưa nhiệt đới, lớp thảm mục rừng (Cành khô, lá rụng ) hàng năm cây rừng trả lại cho đất được vi sinh vật rừng phân huỷ tạo thành các hợp chất hữu cơ, hợp chất mùn để tham gia vào các quá trình cải tạo đất nhằm cung cấp chất khoáng và dinh dưỡng khác cho cây rừng Quần thể cây rừng sinh trưởng, phát triển tốt sẽ tiếp tục hoàn trả lại cho đất một hàm lượng các chất hữu cơ và mùn để tham gia vào quá trình cải tạo đất tiếp theo Chu trình cứ tiếp tục như vậy cho nên ta gọi chu trình tuần hoàn dinh dưỡng là chu trình tuần hoàn khép kín Kết quả của chu trình này chính là sự ổn định của hệ sinh thái rừng

2.4 Các đặc trƣng của rừng

Trang 32

32

 Rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó

 Rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng

 Rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao

 Rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất

từ các hệ sinh thái khác

 Sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng

 Rừng có phân bố địa lý

Trang 33

- Trên quan điểm triết học: Tái sinh rừng là một quá trình phủ định biện chứng Rừng non thay thế rừng già trên cơ sở thừa hưởng hoàn cảnh thuận lợi do thế hệ rừng ban đầu tạo nên

- Trên quan điểm chính trị-kinh tế học: Tái sinh rừng là quá trình tái sản xuất

mở rộng tài nguyên rừng, không có quá trình tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng thì không có quá trình tái sản xuất mở rộng kinh tế trong lâm nghiệp

Nhìn chung, quá trình tái sinh rừng bắt đầu từ khi cây ra hoa, kết quả, quả chín, phân tán hạt giống, hạt nảy mầm cho đến khi cây tái sinh hình thành Quá trình tái sinh kết thúc khi cây tái sinh tham gia vào tầng tán của rừng hoặc khi rừng non bắt đầu khép tán

3.1.2 Hình thức tái sinh rừng

- Tái sinh hạt: Là tái sinh mà cây con sinh ra từ hạt Tái sinh hạt còn gọi là tái sinh hữu tính Tái sinh hạt duy trì được bản chất của cây mẹ, cây tái sinh hạt có đời sống dài, tích luỹ được nhiều sinh khối do đó thường dùng để kinh doanh gỗ lớn

- Tái sinh chồi: Là tái sinh mà cây con sinh ra từ chồi cây mẹ Chồi cây tái sinh có thể là chồi gốc (do cây mẹ bị chặt, bị chết ), chồi cành hoặc chồi rễ Cây tái sinh chồi sinh trưởng nhanh hơn cây tái sinh hạt nhưng phẩm chất gỗ kém hơn, không duy trì được bản chất di truyền của cây mẹ nên không thể kinh doanh rừng chồi liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác Thường cây chồi có đời sống ngắn hơn cây hạt nên chỉ thích hợp kinh doanh gỗ củi, gỗ giấy sợi, trụ mỏ

- Tái sinh thân ngầm: Là hình thức tái sinh mà cây con sinh ra từ thân ngầm Tái sinh thân ngầm có đặc điểm là tốc độ sinh trưởng rất nhanh so với cây hạt, đây

là loại tái sinh vô tính (le, tre, nứa )

Trang 34

34

3.1.3 Phương thức tái sinh rừng

3.1.3.1 Phương thức tái sinh tự nhiên

Đây là phương thức tái sinh mà quá trình tạo thành rừng mới dựa vào tự nhiên,

về cơ bản không có sự tác động của con người Kết quả của phương thức tái sinh này phụ thuộc vào quy luật khách quan của tự nhiên

- Ưu điểm: Lợi dụng được nguồn giống tại chỗ và hoàn cảnh rừng đã có

- Nhược điểm: Không chủ động điều tiết được thành phần của loài cây tái sinh

và mật độ cây tái sinh cho phù hợp với yêu cầu kinh doanh định trước

- Điều kiện áp dụng: Phải có nguồn giống tự nhiên và hoàn cảnh sinh thái ít nhiều thuận lợi cho cây tái sinh, số lượng và thành phần loài của cây tái sinh ít nhiều phải phù hợp với mục đích kinh doanh

3.1.3.2 Phương thức tái sinh nhân tạo

Đây là phương pháp tái sinh có sự tác động của con người từ khâu gieo giống, trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng để tạo nên rừng mới

- Ưu điểm: Chủ động khi chọn loài cây trồng, điều khiển được thành phần loài

và mật độ cây tái sinh để đáp ứng mục đích kinh doanh đã định trước Do hạt giống được tuyển lựa, cây con được nuôi dưỡng trong vườn ươm nên khi trồng cây dễ sống, sinh trưởng nhanh, chất lượng tốt

- Nhược điểm: Đòi hỏi phải có điều kiện kinh tế, kỹ thuật nhất định nên khó triển khai trên diện tích rộng lớn

- Điều kiện áp dụng: Tái sinh nhân tạo thường áp dụng trên đất còn mang tính chất đất rừng

3.1.3.3 Phương thức xúc tiến tái sinh tự nhiên

Đây là phương thức tái sinh trung gian giữa phương thức tái sinh tự nhiên và tái sinh nhân tạo Phương thức này tận dụng năng lực gieo giống của rừng sẵn có nhưng đòi hỏi con người phải tác động theo hướng tích cực, tạo hoàn cảnh thuận lợi cho hạt nẩy mầm, cây tái sinh sinh trưởng, phát triển tốt Nếu thành phần loài cây tái sinh và mật độ cây tái sinh không đáp ứng mục tiêu kinh doanh, con người có thể tiến hành tra dặm hạt, trồng rừng dưới tán để bổ sung mật độ ở những nơi có khoảng trống, thưa cây tái sinh

Thông thường, các phương thức khai thác rừng có ảnh hưởng quyết định đến khả năng tái sinh rừng Bảo đảm tái sinh rừng là yêu cầu bắt buộc đối với bất kì phương thức khai thác rừng nào nhằm tái sản xuất mở rộng nguồn tài nguyên rừng, đảm bảo rừng phát triển bền vững sử dụng rừng hợp lý, lâu dài và liên tục

3.2 Sinh trưởng, phát triển ở cây rừng

Trang 35

35

3.2.1 Khái niệm

Sinh trưởng, phát triển của rừng có ảnh hưởng quyết định đến mục tiêu kinh doanh của ngành lâm nghiệp Muốn nâng cao sản lượng và chất lượng gỗ, nâng cao sản lượng và chất lượng hạt giống, cần phải điều tiết quy luật sinh trưởng, phát triển của rừng

Quy luật sinh trưởng, phát triển của rừng bị chi phối bởi đặc tính di truyền của các loài cây rừng và điều kiện lập địa Nắm vững những quy luật đó, đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác và hợp lý, kịp thời cho từng giai đoạn nhằm đáp ứng được các mục tiêu kinh doanh đã đề ra

- Sinh trưởng: là quá trình tạo mới không thuận nghịch các yếu tố cấu trúc của

tế bào, mô, cơ quan và toàn cây dẫn đến sự tăng lên về số lượng, kích thước, thể tích và trọng lượng của chúng Chiều cao, đường kính, thể tích các bộ phận của cây lớn theo tuổi cây là biểu hiện cụ thể của quá trình sinh trưởng cây rừng

Ở cấp độ tế bào pha giãn của tế bào và sự phân bào nguyên nhiễm là sinh trưởng Ở cấp độ cơ thể sinh trưởng là sự biến đổi từ cây con đến cây trưởng thành,

cả cây con và cây trưởng thành đều có đầy đủ thân, rễ, lá chỉ khác nhau về đường kính, chiều cao, số lượng lá và cành nhánh Quá trình quả non tăng kích thước để tạo nên quả trưởng thành cũng được gọi là sinh trưởng

Sinh trưởng là quá trình tăng về lượng các yếu tố đã có sẵn, nói sinh trưởng là

để nhấn mạnh các yếu tố về lượng của cây Trong chu kỳ sống của cây sinh trưởng chiếm một tỉ lệ thời gian dài chính nó đã tạo cho cây có một hình thái hoàn chỉnh

- Phát triển: là quá trình biến đổi về chất xảy ra trong tế bào, mô, cơ quan và toàn bộ cơ thể dẫn đến sự thay đổi hay phát sinh hình thái mới đưa đến chức năng mới cho cơ quan mới hay toàn cây Hiện tượng nảy mầm, ra hoa, kết quả là một trong những biểu hiện cụ thể của quá trình phát triển cây rừng

Ở mức độ tế bào sự phân hóa tế bào thành các mô chức năng riêng biệt là quá trình phát triển của tế bào Sự nảy mầm của hạt thành cây con được xem là một bước nhảy vọt từ hạt có chức năng và hình thái xác định thành cây con có thân, rễ,

lá và có khả năng thực hiện các chức năng của một cơ thể thực vật

Phát triển nhấn mạnh đến sự biến đổi về chất bên trong cây Kết quả của phát triển là sự xuất hiện các tổ chức cơ quan mới mà trước đây chưa từng có Kết quả thấy bên ngoài thường rất ngắn nhưng thực ra ở trong cây đã diễn ra một quá trình biến đổi lâu dài

Sinh trưởng và phát triển có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất-vừa phủ định; vừa thúc đẩy-vừa ức chế lẫn nhau, không có sinh trưởng sẽ không có phát triển và ngược lại phát triển là tiền đề của sinh trưởng

Trang 36

36

Hình 3.1 Sinh trưởng – Phát triển ở thực vật

Cần nhận rõ: Sinh trưởng cá thể cây rừng khác so với sinh trưởng quần thể cây rừng, nhưng chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau Sinh trưởng cá thể là tiền đề của sinh trưởng quần thể Nếu không có sinh trưởng cá thể thì không có sinh trưởng quần thể, không nắm chắc được quy luật sinh trưởng của cá thể cây rừng thì không thể hiểu được quy luật sinh trưởng của quần thể của cây rừng

3.2.2 Sinh trưởng của cá thể cây rừng

Sinh trưởng là sự tăng lên của một đại lượng nào đó nhờ kết quả đồng hóa của một vật sống (theo V.Bertalanfly) hoặc là sự biến đổi của nhân tố điều tra theo thời gian (Vũ Tiến Hinh – Phạm Ngọc Giao [1997]) Sinh trưởng cây rừng bao gồm sinh trưởng H, D, V, tán cây, hệ rễ là cơ sở hình thành sản lượng rừng

Do sinh trưởng gắn liền với thời gian nên còn được gọi là quá trình sinh trưởng Các đại lượng sinh trưởng được xác định trực tiếp hoặc gián tiếp qua chỉ tiêu nào đó của cây Ví dụ: chiều cao (h); đường kính (d); thể tích (v) Sự biến đổi theo thời gian của các đại lượng này đều có quy luật Khi mô tả quy luật biến đổi theo tuổi của các đại lượng bằng biểu thức toán học thì chúng được gọi là biến số phụ thuộc (y) Sinh trưởng được coi là một hàm của thời gian (t) và yếu tố môi trường (u) Hàm số có dạng:

Y=F(t,u) t: được tính bằng năm (4.1)

Yếu tố môi trường rất đa dạng như đất đai, nhiệt độ, lượng mưa Cho đến nay người ta vẫn chưa đánh giá được ảnh hưởng đầy đủ và cụ thể của những yếu tố này

Trang 37

37

đến sinh trưởng như thế nào Do đó trong những phạm vi nhất định môi trường được coi là hằng số và sinh trưởng chỉ phụ thuộc vào thời gian

Y=F(t) t: được tính bằng năm (4.2)

Đặc điểm chung của phương trình sinh trưởng là: (1) luôn tăng hoặc giảm theo thời gian; (2) ít nhất có một điểm uốn; (3) có các điểm tiệm cận với t = 0 và t = tmax (tmax là tuổi sống cao nhất mà cây đạt được Trong kinh doanh rừng chúng được gọi là tuổi thành thục tự nhiên); (4) không đối xứng và điểm uốn tại vị trí tu< tmax/2

- Thường những năm đầu, cây rừng mới hình thành bộ rễ và tán cây cho nên sinh trưởng còn chậm Khi cây rừng đã hình thành hệ rễ và tán cây đầy đủ thì sinh trưởng tăng dần, đến một giai đoạn nào đó cây rừng sẽ sinh trưởng nhanh nhất và sau đó chậm dần

- Loài cây ưa sáng sinh trưởng nhanh hơn nhưng đời sống ngắn hơn

- Loài cây chịu bóng sinh trưởng chậm hơn nhưng đời sống dài hơn

- Tốc độ sinh trưởng của cây rừng được thể hiện đặc trưng bởi khái niệm tăng trưởng Tăng trưởng là tốc độ sinh trưởng trong một đơn vị thời gian (thường là năm)

Có 2 loại tăng trưởng: tăng trưởng thường xuyên và tăng trưởng bình quân

- Lượng tăng trưởng thường xuyên hàng năm:

Ví dụ:

+ Năm 2008 cây rừng cao 7.20m

+ Năm 2009 cây rừng cao 7.70m

Do đó lượng tăng trưởng là: 7.70 -7.20 = 0.5 m/năm

- Lượng tăng trưởng bình quân

- Tuổi thành thục công nghệ là tuổi mà kích thước của cây đạt tới quy cách công nghệ nhất định

- Tuổi thành thục sinh vật là tuổi mà cây rừng đã bước sang giai đoạn già cỗi, sinh trưởng chiều cao, đường kính, thể tích ngừng lại, cây đã đạt đến kích thước, sinh khối cực đại

3.2.3 Sinh trưởng của quần thể cây rừng

Trang 38

38

Quy luật sinh trưởng của cá thể cây rừng có ảnh hưởng quyết định, chi phối quy luật sinh trưởng của quần thể cây rừng Ngoài ảnh hưởng của tính di truyền và điều kiện môi trường, khi cây rừng chung sống với nhau, chúng còn chịu ảnh hưởng của mối quan hệ qua lại giữa các loài cây (với rừng hỗn loài) hoặc mối quan hệ qua lại giữa các quần thể trong cùng một loài (với rừng thuần loài) Trong đó, mật độ là nhân tố chi phối mối quan hệ này

Trong kỹ thuật Lâm nghiệp, yếu tố mật độ rất được coi trọng khi tiến hành thiết kế kỹ thuật trong trồng rừng và kinh doanh rừng Thường mật độ phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố: Loài cây, loại đất, mục đích kinh doanh, tuổi rừng, điều kiện môi trường Bởi vậy, mật độ được xác định là hợp lý phải dựa trên tổng hợp các yếu tố trên để có thể đảm bảo phát huy hết hiệu quả của công tác trồng và kinh doanh rừng theo hướng phát triển bền vững

3.2.3.1 Phân hoá và tỉa thưa tự nhiên

Phân hoá cây rừng và tỉa thưa tự nhiên là hiện tượng mang tính quy luật phổ biến trong quá trình sinh trưởng của quần thể cây rừng Ngay trong quần thể cây rừng thuần loài đều tuổi, sau một thời gian sinh trưởng sẽ có hiện tượng phân hoá: cây cao, thấp, cây tán to, nhỏ từ đó dẫn đến hiện tượng chèn ép thiếu ánh sáng, lâu dần bị chết và đào thải ra khỏi quần thể gọi là tỉa thưa tự nhiên

Tỉa thưa tự nhiên có thể nói là kết quả của cuộc đấu tranh sinh tồn và là một quá trình chọn lọc tự nhiên

Tuy nhiên, trong kinh doanh và sản xuất lâm nghiệp, con người phải tác động vào rừng, xúc tiến quá trình tỉa thưa tự nhiên và tiến hành chọn lọc nhân tạo để điều khiển quá trình sinh trưởng của rừng phù hợp với mục tiêu kinh doanh đề ra

3.2.3.2 Quy luật biến đổi mật độ cây rừng theo tuổi

- Khi tuổi cây rừng càng lớn, kích thước cây về H, D, tán cây, hệ rễ càng lớn,

cá thể cây rừng đòi hỏi khoảng không gian dinh dưỡng trên mặt đất và dưới mặt đất càng lớn Vì vậy, số lượng cây rừng trên một đơn vị trên cùng một diện tích cũng phải giảm Quy luật biến đổi mật độ cây rừng theo tuổi được biểu hiện bằng một hàm số nghịch: tuổi càng tăng thì mật độ cây rừng càng giảm Song, nó chỉ giảm đến một mức độ nhất định để quần thể cây rừng còn có điều kiện tồn tại Khi mật độ giảm quá thưa, số cây rừng còn lại không còn có ý nghĩa là quần thể nữa

Trang 39

39

- Nên điều tiết mật độ cây rừng hợp lý, có thể căn cứ vào mật độ tối ưu Mật

độ tối ưu là mật độ mà quần thể cây rừng tận dụng tối đa không gian dinh dưỡng để đạt tới sản lượng và lượng tăng trưởng cực đại

- Mật độ tối ưu thay đổi theo loài cây, tuổi cây, điều kiện lập địa

- Mật độ không chỉ ảnh hưởng đến sản lượng rừng mà còn ảnh hưởng đến chất lượng gỗ và giá trị công nghệ gỗ

2.2.3.3 Sinh trưởng và tăng trưởng của rừng

- Sinh trưởng của cây rừng là tiền đề tạo nên sinh trưởng của quần thể cây rừng Sinh trưởng của rừng phụ thuộc nhiều vào mật độ Điều tiết nhân tố mật độ có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và sản lượng, chất lượng rừng

- Tăng trưởng của rừng là kết quả của 2 quá trình trái ngược nhau: Quá trình tăng trưởng của những cây đang sống và quá trình tỉa thưa tự nhiên (kể cả những cây chết vì già cỗi, gió đổ )

2.2.4 Phát triển rừng

Sự phát triển của cây rừng có đặc điểm khác với cây nông nghiệp:

- Cây rừng sống lâu năm, ra hoa, kết quả muộn, quá trình ra hoa, kết quả lặp lại nhiều lần Khi ra hoa, kết quả báo hiệu thời kì sinh trưởng mạnh

- Nếu kinh doanh rừng gỗ thì cần xúc tiến quá trình sinh trưởng và kìm hãm quá trình phát triển Bởi vì, nếu cây rừng ra hoa, kết quả nhiều sẽ tiêu hao nhiều chất hữu cơ => ảnh hưởng đến quá trình hình thành và tạo nên chất lượng gỗ

- Nếu kinh doanh rừng giống thì phải xúc tiến quá trình phát triển để đảm bảo

có sản lượng hạt giống cao và chất lượng tốt

- Một chu kì đời sống của cây rừng có thể phát triển qua 6 giai đoạn: Rừng non, rừng sào, rừng trung niên, rừng gần già, rừng già, và rừng quá già

 Rừng non: Mối quan hệ giữa các cây gỗ là mối quan hệ hỗ trợ Chỉ xuất hiện mối quan hệ cạnh tranh giữ cây gỗ và cây bụi thảm tươi

 Rừng sào: Rừng bắt đầu khép tán, xuất hiện quan hệ cạnh tranh gay gắt về ánh sáng và chiều cao giữa các cá thể cây gỗ Giai đoạn này cây gỗ phát triển mạnh về chiều cao

 Rừng trung niên: Rừng khép tán hoàn toàn, sự phát triển về chiều cao chậm lại, có sự phát triển về đường kính Rừng đã thành thục về tái sinh

 Rừng gần già: Giai đoạn này có sự phân chia không rõ với 2 giai đoạn liền trước và liền sau của nó Trong giai đoạn này cây rừng vẫn có sự ra hoa kết quả và tăng trưởng về đường kính

 Rừng già: Trữ lượng cây gỗ đạt tối đa Có một vài cây gỗ già, chết Tán cây thưa dần, cây rừng vẫn ra hoa kết quả nhưng chất lượng không tốt

Trang 40

hệ sinh thái rừng với các nhân tố ngoại cảnh Nhờ có quá trình tái sinh rừng mà dưới tán rừng xuất hiện một thế hệ cây con

- Nếu thế hệ cây con có tổ thành loài không thay đổi so với rừng cây cũ thì chỉ

có sự thay đổi đời cây này bằng đời cây khác (Không phải là diễn thế rừng)

- Nếu thế hệ cây con có tổ thành loài cơ bản khác với rừng cây cũ thì gọi là

diễn thế rừng

Như vậy: Diễn thế rừng là sự thay đổi thế hệ rừng này bằng thế hệ rừng khác

mà trong đó tổ thành loài cây cao có sự thay đổi cơ bản Diễn thế rừng là một trong những biểu hiện quan trọng của động thái rừng Về bản chất, diễn thế rừng là một quá trình chọn lọc tự nhiên, loài cây nào thích nghi cao thì tồn tại, thích nghi thấp sẽ

bị đào thải khỏi tổ thành rừng Diễn thế rừng tự nhiên là quá trình điển hình nhất của khả năng tự cân bằng, tự điều hoà các thành phần của hệ sinh thái rừng có thể diễn ra theo 2 chiều hướng:

- Diễn thế tiến hoá: Là quá trình diễn thế đi lên Đây là quá trình thay thế hệ sinh thái rừng cũ bằng hệ sinh thái rừng mới có tính ổn định cao hơn, có năng suất cao hơn

- Diễn thế thoái bộ: Là quá trình diễn thế đi xuống Đây là quá trình thay thế

hệ sinh thái rừng cũ bằng hệ sinh thái rừng mới có tính ổn định thấp hơn

- Nguyên nhân gây ra diễn thế:

+ Nguyên nhân bên trong: Sự canh tranh giữa các loài cây sống trong quần thể

+ Nguyên nhân bên ngoài: Khí hậu, đất đai biến đổi

+ Tác động của động vật và con người:

Động vật ăn một loại hạt giống nào đó và thải hạt xuống mặt đất rừng cũng có thể xuất hiện loài cây mới Tuy nhiên, trường hợp này không nhiều

Ngày đăng: 23/07/2016, 07:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Quá trình phát triển lâm nghiệp - bai giang lam nghiep dai cuong
Bảng 1.1 Quá trình phát triển lâm nghiệp (Trang 15)
Hình 3.1. Sinh trưởng – Phát triển ở thực vật - bai giang lam nghiep dai cuong
Hình 3.1. Sinh trưởng – Phát triển ở thực vật (Trang 36)
Sơ đồ 3.1: Diễn thế rừng Lim xanh ở Hữu Lũng và Sông Thương - bai giang lam nghiep dai cuong
Sơ đồ 3.1 Diễn thế rừng Lim xanh ở Hữu Lũng và Sông Thương (Trang 42)
Sơ đồ 3.2: Quá trình diễn thế rừng lim xanh ở Vĩnh Phú và Hà Tuyên - bai giang lam nghiep dai cuong
Sơ đồ 3.2 Quá trình diễn thế rừng lim xanh ở Vĩnh Phú và Hà Tuyên (Trang 43)
Hình 4.1: Mối tương tác giữa hai hệ thống trong hệ sinh thái nhân văn - bai giang lam nghiep dai cuong
Hình 4.1 Mối tương tác giữa hai hệ thống trong hệ sinh thái nhân văn (Trang 54)
Hình 4.2: Tương tác giữa hai hệ thống phụ trong hệ sinh thái nhân văn (Nguồn - bai giang lam nghiep dai cuong
Hình 4.2 Tương tác giữa hai hệ thống phụ trong hệ sinh thái nhân văn (Nguồn (Trang 55)
Sơ đồ 5.1: Các loại nuôi dƣỡng rừng và mối liên hệ qua lại giữa chúng - bai giang lam nghiep dai cuong
Sơ đồ 5.1 Các loại nuôi dƣỡng rừng và mối liên hệ qua lại giữa chúng (Trang 66)
Sơ đồ 5.2: Các loại chặt nuôi dƣỡng rừng  5.3.2.2. Nhiệm vụ và hiệu quả của chặt nuôi dƣỡng - bai giang lam nghiep dai cuong
Sơ đồ 5.2 Các loại chặt nuôi dƣỡng rừng 5.3.2.2. Nhiệm vụ và hiệu quả của chặt nuôi dƣỡng (Trang 67)
Sơ đồ 5.3: Các phương thức khai thác chính - bai giang lam nghiep dai cuong
Sơ đồ 5.3 Các phương thức khai thác chính (Trang 70)
Sơ đồ 5.4: Các kiểu tái sinh tự nhiên của rừng trên khu khai thác tập trung - bai giang lam nghiep dai cuong
Sơ đồ 5.4 Các kiểu tái sinh tự nhiên của rừng trên khu khai thác tập trung (Trang 71)
Sơ đồ 6.1: Các hoạt động của hai nhóm đối tƣợng trong LNXH. - bai giang lam nghiep dai cuong
Sơ đồ 6.1 Các hoạt động của hai nhóm đối tƣợng trong LNXH (Trang 91)
Bảng 6.1. Những đặc trưng chủ yếu của LNXH và LNTT ở các nước nhiệt đới - bai giang lam nghiep dai cuong
Bảng 6.1. Những đặc trưng chủ yếu của LNXH và LNTT ở các nước nhiệt đới (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w