Sau một thời gian chưa được chú ý sưu tầm, nghiên cứu đúng với tầmvóc của nó, mấy thập kỷ gần đây một số hình thức văn hóa dân gian có chứcnăng nghi lễ sinh hoạt thực hành của các dân tộ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tâm của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, người thân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Hằng Phương,
người thầy đã nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa sau đại học và các thầy cô giáo khoa Ngữ văn của trường ĐHSP Thái Nguyên, các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường Đại học KHXH &
NV, Viện Văn học Khoa Sau Đại Học đã giúp em hoàn thành khoá học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới nhà nghiên cứu Văn hoá Dân gian Nguyễn Thiện Tứ và Thư viện tỉnh Cao Bằng đã cung cấp tư liệu và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, người thân đã động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã đọc và chỉ ra những thành công cũng như hạn chế của luận văn.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2009
Tác giảĐÀM THUỲ LINH
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 0
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 6
3.1 Mục đích nghiên cứu 6
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 PHẠM VI ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 6
4.1 Phạm vi nghiên cứu 6
4.2 Đối tượng nghiên cứu 7
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 7
7 BỐ CỤC LUẬN VĂN 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: HÁT QUAN LANG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN - CAO BẰNG 9
1.1 Vài nét về cộng đồng người Tày 9
1.1.1 Cộng đồng người Tày Cao Bằng 9
1.1.2 Cộng đồng người Tày Thạch An - Cao Bằng 10
1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Thạch An 10
1.1.2.2 Xã hội – Văn hoá 11 1.2 Một số vấn đề chung về hát Quan lang 17
1.2.1 Khái niệm hát Quan lang 17
1.2.2 Nguồn gốc của hát Quan lang 20
Trang 31.2.3 Hát Quan lang trong đời sống tinh thần của người Tày ở
Thạch An - Cao Bằng 21
1.3 Nghi lễ đám cưới và trình tự một cuộc hát Quan lang ở Thạch An – Cao Bằng 22
Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG LỜI HÁT QUAN LANG Ở THẠCH AN - CAO BẰNG 36
2.1 Lối thử thách bằng thơ 36
2.2 Bài học về cách ứng xử và đạo lý làm người 51
2.3 Sự trân trọng đối với người phụ nữ 62
2.4 Lời cầu chúc cho lứa đôi hạnh phúc và gia chủ an vui 67
Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG LỜI HÁT QUAN LANG 76
3.1 Nhân vật trữ tình 76
3.2 Thời gian diễn xướng 77
3.3 Không gian diễn xướng 79
3.4 Thể thơ 80
3.2.1 Thể thơ ngũ ngôn 80
3.4.2 Thể thơ thất ngôn 83
3.4.3 Thể thơ tự do 85
3.5 Ngôn ngữ 90
3.5.1 Sự đan xen ngôn ngữ các dân tộc 90
3.5.2 Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, giàu hình ảnh, giàu chất thơ 94
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 113
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
nhất Đó là nền văn hoá được tạo bởi các dân tộc anh em cùng chung
tìm hiểu văn hoá của người Việt cần chú trọng tìm hiểu văn hoá của cácdân tộc thiểu số, những bộ phận văn hoá làm nên vẻ đẹp phong phú đadạng của văn hoá dân tộc
Sau một thời gian chưa được chú ý sưu tầm, nghiên cứu đúng với tầmvóc của nó, mấy thập kỷ gần đây một số hình thức văn hóa dân gian có chứcnăng nghi lễ sinh hoạt thực hành của các dân tộc ít người như: Mo Mường,hát cúng ma của người Mông, Then Tày, Hát Quan lang… đã được ngànhvăn hoá, đặc biệt là ngành văn hoá dân gian chú ý khai thác
Đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu hát Quan Lang về nhiềuphương diện: nguồn gốc, nội dung, hình thức nghệ thuật, phương thức diễnxướng Song chưa có công trình nào nghiên cứu về hát Quan lang ở Thạch
An - Cao Bằng một cách toàn diện hệ thống
quần chúng, nhưng mặt khác nó còn là loại hình sinh hoạt văn hoá phongtục Vì thế để giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Tày ở Thạch An nói riêng
và ở Cao Bằng nói chung, chúng ta cần quan tâm khai thác nghiên cứuphong tục hát Quan lang một cách khoa học, nhằm phát huy thế mạnhcủa nó trong đời sống hiện đại
Hát Quan lang là loại hình dân ca độc đáo được hát trong lễ cưới củangười Tày Thạch An nói riêng và người Tày Cao Bằng nói chung Tìm hiểuhát Quan lang của người Tày ở Thạch An là công việc hữu ích góp phần vào
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 5việc bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Đồng thờicũng là tìm hiểu và phát huy truyền thống nhân văn của dân tộc Tày qua loạihình sinh hoạt văn hoá phong tục này.
văn hoá dân gian của các dân tộc ít người mà còn mang ý nghĩa thiết thựchơn đối với một giáo viên dạy văn được sinh ra và lớn lên ở Cao Bằngnhư tôi, muốn đóng góp một phần công sức rất nhỏ bé cho tỉnh nhà tronglĩnh vực tìm hiểu khám phá các giá trị, văn hoá dân gian độc đáo của dântộc Tày ở Thạch An nói riêng và Cao Bằng nói chung
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nền văn hoá Việt Nam được cấu thành bởi văn hoá của 54 dân tộc, đó lànền văn hoá kết hợp hài hoà những tinh hoa văn hoá có phong cách riêng củacác dân tộc anh em trong đại gia gia đình các dân tộc Việt Nam Trong đó,văn hoá các dân tộc thiểu số góp phần quan trọng làm nên diện mạo phongphú, đa dạng của bức tranh văn hoá Việt Nam Việc nghiên cứu và khai thácvăn hoá Tày ở Việt Bắc sẽ không chỉ nhằm đi sâu khai thác những giá trị tưtưởng và thẩm mỹ về văn hoá của dân tộc, mà phần nào còn làm sáng tỏ diễntrình văn hoá Việt Nam trong lịch sử
Công tác sưu tầm và nghiên cứu văn hoá dân gian Việt Bắc đã được nhennhóm từ sau khi Cách mạng tháng Tám thành công Đặc biệt là từ sau Hội nghịbàn về công tác sưu tầm văn hoá dân gian ở Miền Bắc tháng 12 năm 1964.Nhiều nhà sưu tầm đã đi điền dã điều tra ở khu vực Việt Bắc, kết quả là đã sưutầm được một số thể loại của văn học dân gian như là Then, hát Quan lang củangười Tày, hát cúng ma của người Mông.v.v đóng góp cho kho tàng văn hoádân gian nói chung và văn hoá dân gian các dân tộc thiểu số nói riêng mộtnguồn tài liệu đặc biệt có giá trị Trong thời gian này, công trình nghiên cứu vềhát Quan lang chưa nhiều, chỉ là một số bài viết được đăng trên báo chí
Trang 6Đến năm 1973, trong cuốn “Dân ca đám cưới Tày - Nùng”, Nông Minh
Châu đã tập hợp hơn 100 bài hát đám cưới Tày – Nùng Tác giả sưu tầm vàdịch từ nguyên văn thơ Tày - Nùng ra tiếng Việt Bên cạnh giá trị sưu tầm,cuốn sách đã khá thành công trong việc dịch thơ: lời thơ, hình ảnh khá sátthực, sinh động Bởi vậy gần như không có khoảng cách đáng tiếc giữa thơnguyên bản và thơ tiếng Việt Cuốn sách là tư liệu quý giá cho tất cả những ai
muốn tìm hiểu về “Dân ca đám cưới Tày - Nùng” Tác giả Vi Quốc Bảo đã
viết lời giới thiệu cho cuốn sách này Bài giới thiệu có những nhận xét, đánhgiá, phát hiện xác đáng về diễn xướng, về nội dung và cả nghệ thuật của dân
ca đám cưới Tày - Nùng: “Những bài hát đó kéo dài suốt quá trình đám cưới
và chỉ kết thúc khi các nghi thức đám cưới đã được thực hiện đầy đủ”, “Các bài hát đám cưới là một yêu cầu về sinh hoạt văn hoá văn nghệ”, “giá trị của những bài hát đám cưới là đã phản ánh, miêu tả xã hội và đời sống của dân tộc Tày” [5]
Như vậy, cuốn sách “Dân ca đám cưới Tày - Nùng” của Nông Minh
Châu xuất bản đã cho ta những tư liệu quý giá và những hiểu biết ban đầu rấtcần thiết, đặc biệt là về phương diện diễn xướng dân ca Tày - Nùng
Năm 1974, trong cuốn “Bước đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc”, [33 ] có bài viết của Lường Văn Thắng “Tìm hiểu nội dung của một số bài thơ Quan lang”, của Vi Quốc Bảo “Những bài hát đám cưới - Những bài thơ trữ tình” Trong bài viết của tác giả Lường Văn Thắng có đoạn nhận xét: “Thơ Quan Lang của dân tộc Tày chẳng qua cũng là một phương thức phản ánh một quan niệm sống, một sự biết ơn, một sự ca ngợi, một sự khiêm tốn đáng quý phản ánh truyền thống đạo đức của dân tộc một cách kín đáo, duyên dáng nhưng đậm đà.” [33, tr 83 ] Nhận xét có tính khái quát, nếu triển khai
ta sẽ thấy đúng với nội dung của dân ca đám cưới Tày - Nùng Vi Quốc Bảo
cũng thấy rõ: “Trong dân ca đám cưới Tày - Nùng, đôi bên nam nữ giãi bày
Trang 7tư tưởng, thái độ tình cảm của mình Như vậy, dân ca đám cưới không chỉ là những bài ca nghi lễ khô cứng mà còn bao hàm cả thành phần giao duyên.”
[33, tr.70] Cũng trong sách này, tác giả Vi Hồng trong bài “Nội dung của
lượn” có nhận xét: “Thơ Quan lang vừa cũ lại vừa mới, vừa lạ lại vừa quen, vừa định hình mà lại linh hoạt biến đổi phù hợp như vị khách du lịch nhập gia tùy tục”.
[14, tr 51-61 ], tác giả Vi Hồng đã giới thiệu khái quát về hát Quan lang vànguồn gốc của nó
Như vậy, từ năm 1970 đến 1980, số lượng sách và các bài báo về hátQuan Lang không nhiều nhưng cũng đủ giúp ta hình dung bước đầu về diệnmạo hát Quan Lang
Đến những năm 80 của thế kỷ XX mặc dù trong văn kiện đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã khẳng định vị trí và vai trò của văn hoá dângian các dân tộc ít người trong nền văn hoá Việt Nam, nhưng công tác sưutầm, nghiên cứu lời hát Quan Lang vẫn còn hạn chế
-Hoàng Quyết đã giới thiệu về tục cưới xin và lễ cưới của người Tày; thơQuan Lang, Pả Mẻ được sưu tầm ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, TuyênQuang, Yên Bái, Hà Giang; phương hướng bảo tồn, kế thừa, phát triển hátQuan Lang
Trong cuốn “Văn hóa truyền thống Tày - Nùng” [37], in năm 1996, Nhà
xuất bản Văn hóa Dân tộc cũng dành một chương giới thiệu hát đám cướiTày
- Nùng Cả hai cuốn sách nói trên là nguồn tư liệu cần thiết cho người viết đềtài này
Trang 8Năm 2001, trong cuốn “Thì thầm dân ca nghi lễ” [17], Vi Hồng đã đềcập đến sự chuyển hóa của một số hình tƣợng chính qua ba tiểu loại chínhcủa
Trang 9Sli, Lượn: Lượn Quan Lang; Sli, Lượn lề lối và điệu lượn Phong Slư và một
số yếu tố nghệ thuật tạo ra phong cách riêng của Sli và Lượn nói chung “Đó
là phong cách hài hòa giữa lý trí và tình cảm, giữa cảm xúc thi ca hồn nhiên
và sự thông minh linh hoạt về trí tuệ”.
Năm 2002, Hoàng Thị Cành với đề tài nghiên cứu “Phong tục hôn nhân người Tày Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng” [6] cũng đã giới thiệu khá toàn diện
về phong tục hôn nhân của người Tày Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng và vănbản thơ Quan Lang được ghi chép, sưu tầm bằng chữ Nôm, phiên âm Tày vàdịch ra tiếng Việt
Cũng trong thời gian này, ở Trường đại học sư phạm Thái Nguyên cómột đề tài nghiên cứu khoa học cũng đã bước đầu nghiên cứu về thơ Quanlang ở xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Năm 2004, Lộc Bích Kiệm với luận văn “Đặc điểm dân ca Tày - Nùng
xứ Lạng” [21] đã xác lập được những đặc điểm căn bản của dân ca đám cưới
Tày - Nùng trên các phương diện: diễn xướng, nội dung, thi pháp Đặc biệtngười viết đi sâu vào phần thi pháp để thấy được sự độc đáo của bộ phận dân
ca này
đã giới thiệu trình tự những lời thơ Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng, songchưa nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc nội dung và hình thức nghệthuật của văn bản ngôn từ
Hát Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng hiện nay vẫn chưa được khaithác, nghiên cứu một cách triệt để trong một công trình khoa học nào
Hiện nay, hát Quan lang vẫn còn tồn tại trong đời sống văn hoá tinh thầncủa người Tày ở Việt Bắc nói chung và ở Thạch An - Cao Bằng nói riêng Nótrở thành một nhu cầu sinh hoạt văn hoá của đồng bào dân tộc vào dịp đámcưới Hát Quan lang vẫn tiếp tục được các thế hệ người Tày ở nhiều địa
Trang 10phương tiếp thu, sáng tạo và bổ sung Vì thế, Hát Quan lang ở mỗi địaphương có sắc thái riêng, nên vấn đề nghiên cứu hát Quan lang ở mỗi địaphương, chính là đi khám phá sự đa dạng phong phú của hát Quan lang.
Những bài viết và những công trình nghiên cứu ở trên là tiền đề gợi mởgiúp cho chúng tôi thực hiện đề tài này
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tế liên quan đến đề tài
- Khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích và lý giải những vấn đề liên quan đếnhát Quan lang chủ yếu từ góc độ Văn học dân gian
- Trong điều kiện có thể chúng tôi đi điền dã và sưu tầm thêm được một số lời hátQuan lang ở Thạch An – Cao Bằng chưa được xuất bản
4 PHẠM VI ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4.1 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Đề tài chú trọng vào phần lời hát Quan lang, tuynhiên có chú ý đặt yếu tố ngôn từ trong đặc trưng nguyên hợp của văn họcdân gian, nghĩa là yếu tố ngôn từ được đặt trong môi trường và nghệ thuậtdiễn xướng
Trang 11- Phạm vi tư liệu nghiên cứu, khảo sát: Nguyễn Thiện Tứ, sưu tầm,dịch (2008),
Thơ Quan Lang, Nxb Văn hóa dân tộc, H và những lời hát Quan lang đã sưu
tầm thêm được trong quá trình đi điền dã
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là lời hát Quan lang ở Thạch An – Cao Bằng
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Trên bình diện phương pháp luận là tiếp cận chủ yếu theo quan điểm nghiêncứu ngữ văn (hay ngữ văn học), tức là dựa vào thành tố ngôn từ (lời hát Quanlang) để phân tích
- Tuy nhiên, hát Quan lang là một sinh văn hóa cộng đồng hiện vẫn còn tồn tạitrong đời sống văn hóa của người Tày ở Thạch An - Cao Bằng Vì vậy, việcnghiên cứu hát Quan lang là nghiên cứu một hiện tượng văn hóa dân gianđang tồn tại và phát triển trong môi trường văn hóa Cho nên, nghiên cứu hátQuan lang không phải chỉ là nghiên cứu văn bản đã được sưu tầm mà cònphải đặt văn bản trong môi trường diễn xướng của nó Thực hiện đề tài này,chúng tôi sử dụng các phương pháp cụ thể:
+ Phương pháp điều tra điền dã
+ Phương pháp khảo sát thống kê
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Hệ thống hóa những vấn đề đã được nhiều người nghiên cứu
- Làm sâu sắc hơn một số vấn đề mà người nghiên cứu trước mới bắt đầu tìmhiểu
- Góp phần tìm hiểu những truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Tày qua lờihát Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng
Trang 13Chương
1:
NỘI DUNG
HÁT QUAN LANG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA
NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN - CAO BẰNG
1.1 Vài nét về cộng đồng người Tày
1.1.1 Cộng đồng người Tày Cao Bằng
Cao Bằng là một tỉnh biên giới phía Bắc của Tổ quốc nơi cư trú củanhiều dân tộc: Tày, Nùng, Mông, Dao nhưng số lượng lớn hơn cả là người
Tày, chiếm khoảng 43% dân số toàn tỉnh “Người Tày là dân cư bản địa giữ
vị trí quan trọng trong lích sử cổ đại, trung đại và hiện đại ở vùng biên giới phía Bắc nước ta Người Tày là những cư dân sớm có mặt trong thành phần
cư dân nước Văn Lang xa xưa và là một trong những dân cư sáng lập nên nhà nước Âu Lạc” [53, tr 84].
Người Tày ở Cao Bằng được hình thành từ ba nhánh :
- Nhánh người Tày gốc còn gọi là thổ, có nghĩa là thổ dân, là chủ nhân của địaphương từ lâu đời, nhánh này là con cháu lâu đời của người Tày cổ HátQuan lang là sản phẩm văn hoá của nhánh Tày này
- Nhánh người Ngạn: Có nguồn gốc ở Quý Châu, Trung Quốc Theo “Sơ khảolịch sử Cao Bằng”, trong các cuộc giao tranh giữa các tộc người, người Ngạn
đã dạt sang Cao Bằng sinh sống, sát nhập vào cư dân địa phương trở thànhngười Tày
- Nhánh người Kinh hoá Tày là con cháu các viên quan và binh lính ngườikinh dưới xuôi lên cai quản bảo vệ biên giới, họ lấy vợ người Tày, con cháu
họ lập nghiệp ở địa phương lâu dần chuyển thành người Tày, Kinh dưới xuôilên đồng hoá với người Tày nhiều nhất là khi nhà Mạc lên lập Vương triều ởCao Bằng (1594-1677)
Trang 141.1.2 Cộng đồng người Tày Thạch An - Cao Bằng
1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Thạch An
Huyện Thạch An nằm ở phía Đông nam tỉnh Cao Bằng cách trung tâmthị xã Cao Bằng về hướng Nam theo đường số 4, có toạ độ địa lý:
Từ 22021’,22’’ đến 22036’16’’ vĩ Bắc (Từ bản Nà Vài, xã Trọng Con đếnbản Pác Pẻn, xã Canh Tân)
Từ 106005’40’’ đến 106034’02’’ Kinh Đông (từ Nà Pùng, xã QuangTrọng đến Bản Mới, xã Đức Long)
Phía Nam giáp huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn Phía Bắc giáp huyệnHoà An Phía Tây giáp huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Cạn Phía Đông giáp huyệnLong Châu tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc Huyện Thạch An hiện nay đượcchia thành 16 đơn vị hành chính cấp xã: Kim Đồng, Thái Cường, Vân Trình,
Lê Lai, Thị Ngân, Thụy Hùng, Đức Long, Danh Sỹ, Thượng Pha, Đức Xuân,
Lê Lợi, Trọng Con, Đức Thông, Canh Tân, Minh Khai, Quang Trọng và Thịtrấn Đông Khê
Tổng diện tích tự nhiên: 683,03 km2 tương đương 68303 ha Tổng dân
số hiện nay của huyện Thạch An là 31.777 người (số liệu điều tra tháng 4năm 2009) gồm 6 dân tộc chính cùng chung sống là dân tộc: Tày (43,5%),Nùng (39%), Mông (0,9%), Dao (13,6%), Kinh (2,6%), Hoa (0,12%) Ngoài
ra còn một số ít người dân tộc sống đan xen: Ngài, Chăm, Sán Chỉ, Ê Đê [51,
tr 815-816]
Địa hình có dạng hình cánh cung, xen giữa các cánh cung là những dảitrũng rộng và những dòng sông, dòng suối là điều kiện thuận lợi cho pháttriển nông nghiệp Địa hình đồi thấp, thoải hay lượn đều có khả năng trồngtrọt hoặc chăn nuôi lớn Khí hậu chia làm bốn mùa rõ rệt nên canh tác trồngtrọt theo mùa Giới động thực vật phong phú nhiều chủng loại
Trang 15Từ xa xưa, tộc người Tày chủ yếu sống dựa vào trồng trọt và cày cấymùa màng Là những cư dân với kinh nghiệm trồng trọt lâu đời, đồng bàoTày đã biết khai thác các thung lũng, đồi núi nơi sinh sống thành những cánhđồng, những thềm ruộng bậc thang, những vườn cây ăn trái màu mỡ xanh tốt.Với địa bàn cư trú chủ yếu là ở các thung lũng nhiều đồng ruộng nên ngườiTày ít làm nương.
Cơ cấu kinh tế hiện nay của Thạch An chủ yếu là kinh tế nhiều thànhphần nông lâm kết hợp, chăn nuôi, kinh doanh thương nghiệp và dịch vụ.Tiềm năng khai thác chủ yếu vẫn là sản phẩm nông nghiệp, sản xuất phụthuộc nhiều vào thiên nhiên, do đó tốc độ tăng trưởng của ngành các cây raumàu khác, mức tăng trưởng bình quân hàng năm từ 3 - 6% đời sống của nhândân dần dần được ổn định
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, môi trường tự nhiên cũnggây ra không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống con người Chế độ mưatheo mùa và mưa nhiều dẫn đến tình trạng mưa lớn gây ra quá trình rửa trôixói mòn đất và lũ lụt
Về mùa đông, Thạch An cũng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc,các hiện tượng thời tiết như sương muối, băng giá đều gây ảnh hưởng xấuđến sản xuất và đời sống con người, nhất là ở thời xa xưa khi cuộc sống của
cư dân Tày còn lạc hậu, thiếu thốn
Phải chăng hình thức hát Quan lang ra đời và tồn tại là để đáp ứng nhucầu thưởng thức văn nghệ và gửi gắm những khát vọng tinh thần của họ
1.1.2.2 Xã hội – Văn hoá
* Về xã hội:
Thạch An là huyện có nhiều dân tộc anh em đang định cư và sinh sống,trong đó đông nhất là dân tộc Tày, Nùng, Dao, còn lại là các dân tộc anh emkhác Dân tộc Tày sống thành từng làng, bản có từ 40 - 60 gia đình trở lên
Trang 16sống đoàn kết quy tụ với nhau Nhiều gia đình rất đông, có tới 4 - 5 thế hệ,song phổ biến là 2 - 3 thế hệ trong một mái nhà Hầu hết các gia đình ngườiTày đều được xây dựng theo thể chế và tục lệ hôn nhân một vợ một chồng,mang tính phụ hệ Trong gia đình, vai trò người đàn ông được khẳng định vàđược tôn trọng hơn so với đàn bà Hai chữ “Phua – Mìa” và “ Pỏ - Mẻ” (cónghĩa là chồng vợ và cha mẹ) tồn tại nhiều đời nay trong kho từ vựng cơ bảncủa người Tày, là dấu ấn rõ nét về hiện tượng trên trong các gia đình Tày.
Theo các nhà nghiên cứu “Đây không phải là trật tự hình thức của từ, mà ẩn dấu bên trong một ý nghĩa xã hội âm vang một thời xác nhận vai trò người chồng - người cha trong gia đình người Tày, người Nùng.” [44, tr 2].
Tuy nhiên, nếu đi sâu tìm hiểu mối quan hệ gia đình của người Tày,
chúng ta không thể phủ nhận “ở đó bao trùm một tinh thần tương thân tương
ái, bình đẳng, dân chủ nội bộ khá sâu sắc giữa Chồng và Vợ, giữa Nam và
Nữ Người Tày ( ) trân trọng, yêu quý người đàn bà, người mẹ, người vợ
và con gái Vì lẽ, họ hiểu sâu sa rằng, người đàn bà đảm nhận vai trò vô cùng quan trọng trong lao động sản xuất, quản lý kinh tế gia đình, và lớn lao hơn cả là trong sinh nở con cái, nuôi dưỡng chúng trưởng thành.” [44,
tr 25]
* Về văn hoá:
Nhà người Tày, thường là nhà sàn cao ráo, thoáng mát Người Tày cótập quán cấy lúa nước trên những mảnh ruộng được khai phá dọc các consông, suối, khe, lạch, sản xuất mang tính định canh, định cư lâu dài, sản phẩmchính là: lúa, ngô và một số hoa màu khác
Sinh sống bên cạnh người Nùng và các dân tộc khác, người Tày luôn có
ý thức cộng đồng, quan hệ gắn bó hoà hợp cả về đời sống vật chất và tinhthần Cộng đồng các dân tộc Thạch An với những truyền thống bản sắc vănhoá riêng đã hình thành nên một vùng văn hoá rất đa dạng và phong phú, cónhiều nét độc đáo và giàu bản sắc dân tộc Sự giàu có, đa dạng của kho tàng
Trang 17văn hoá nghệ thuật dân gian về cơ bản vễ được bảo tồn và lưu truyền cho đếnngày nay Những nét độc đáo trong nền văn hoá của cộng đồng các dân tộctrong huyện, được thể hiện qua các truyện cổ tích, thần thoại, ca dao, tục ngữ,câu đối, hát lượn Những làn điệu dân ca trữ tình của dân tộc Tày, Nùngcũng rất phong phú và đa dạng :
“Sli - Lượn” là hai từ mà người Nùng và người Tày dùng để chỉ hầu hết toàn bộ nền dân ca của mình” [22]
Sli là của người Nùng Sli có nghĩa là thơ Điệu Sli - hát Sli nghĩa là hátthơ Người xưa làm thơ để hát và để hát nên làm thơ Người Nùng dùng từSli để chỉ hầu hết nền dân ca của họ Sli là những bài văn vần, mỗi câu 7 chữ,mỗi bài có từ 4 đến 8 câu hoặc dài tới hàng trăm câu Sli là tiếng hát trữ tìnhcủa đồng bào Nùng, được sử dụng phổ biến vào những ngày hội, khi vuichơi, lúc khách vào bản… Người Nùng ai cũng biết Sli bởi đây là tiếng hátgiao duyên, tiếng lòng tiếng gọi tình yêu của họ Sli được cất lên tự nhiênxoáy vào lòng người Hát Sli là hát đối đáp nên tham gia vào cuộc Sli baogồm ít nhất 2 người hoặc đông người (2 đám người), thường là một bên nam
và một bên nữ Sli được ứng tác ngay tại chỗ nhưng phải đảm bảo sự ănkhớp, cô đọng, hàm súc Người hát Sli vừa có thể sử dụng vốn hát truyềnthống của dân tộc vừa có thể tự ứng tác theo cách riêng của mình Những bàiứng tác hay được giữ lại làm phong phú thêm cho kho tàng hát Sli của dântộc mình
Điệu hát Lượn, theo tác giả Vi Hồng, Lượn là luận, là lặp lại, là luyến, làru… Người Tày dùng từ “lượn” để chỉ hầu hết nền dân ca của họ Lượnphong phú cả về nội dung và thể loại Lượn có giai điệu vang xa tha thiết, layđộng lòng người, gợi cảm giác bâng khuâng thương nhớ Người Tày coilượn như một nhu cầu tinh thần không thể thiếu trong đời sống của họ
Trang 18“ Khắp các làng bản của người Tày, Nùng không mấy khi vắng tiếng hát, tiếng Sli, tiếng Lượn Chỉ trừ giấc ngủ và bữa ăn của họ, Sli, lượn vang lên từ
Trang 19mọi nhà, khắp bản mường, ngoài đồng, trên rẫy, ra chợ… Không chỉ có thanh niên nam nữ mà người già, trẻ em đều Sli, Lượn, thích nghe Sli, Lượn.” [15] Quả thực đã có một thời, tiếng Lượn ngập tràn làng bản, đồi núi
và hoà vào tận tâm hồn, huyết mạch đồng bào:
- Nửa đêm Nàng ới cháy lòng
Khiến em dừng đường kim dừng vá Khiến anh vở giữa trang ngừng đọc
- Tiếng Then thành tiếng then phơi phới Tiếng Cọi thành tiếng cọi thiết tha
- Ra chợ được nghe tiếng Hà lều Bát phở không cần mỡ cũng ngon
Phong Slư là những bức thư tình, một thể thơ hết sức đặc sắc của trai gáiTày Những bức thư này được viết bằng chữ Nôm Tày trên nền vải Sla đỏ.Ngày xưa con trai con gái Tày ít được học chữ, không biết chữ bởi thế
thường đến nhờ một người khác gọi là Slấy cá viết thư hộ Slấy cá là một trí thức bình dân sống trong cộng đồng Tày Phong Slư do Slấy cá viết ghi lại
những tâm tình thầm kín của trai gái Tày với giai điệu rất tha thiết Vì vậy,những bức thư đó trở thành một loại dân ca mang tính cộng đồng Tình yêucủa nam nữ trong Phong Slư thường là tình yêu trong xa cách, gặp trắc trở,tan vỡ Bởi vậy, tiếng hát giai điệu Phong Slư thường buồn da diết Tuynhiên không bi lụy, kêu than mà khuyên nhau vươn tới những ước mơ lãngmạn, nhân văn
Phuối pác còn gọi là phuối rọi, là những lời nói có vần có điệu của nam
nữ Tày hằng ngày Đây là lối nói tự do, sáng tạo thường được diễn ra khi gặpnhau trên đường, ra chợ, đi hội… Nó cũng là một hình thức biểu hiện tình
Trang 20cảm, nó là những lời ướm hỏi, trêu ghẹo tình tứ thể hiện những sắc thái tìnhcảm tình yêu Trong quá trình diễn xướng, trong sự lặp lại nhiều lần của tình
Trang 21huống, lời nói tự nhiên đó được gọt giũa cao trở thành cô đọng, bóng bẩy, giàu chất thơ, mang tính xã giao lịch sự.
Sẽ khó có thể kể hết được các loại dân ca Tày - Nùng, nó phong phú vàmuôn hình muôn vẻ Tất cả hợp lại thành một kho tàng dân ca Tày - Nùng đồ
sộ và giàu bản sắc Trong vốn cổ văn hóa quý báu đó có một bộ phận là dân
ca đám cưới Tày – Nùng (Hát Quan lang) Hát Quan lang là bộ phận dân cavừa có chức năng nghi lễ vừa bao hàm cả thành phần giao duyên, vừa theohình thức Lượn vừa theo hình thức Sli và cả Phuối Pác nữa [21, tr 20-21]Hằng năm, đồng bào các dân tộc ở Thạch An tổ chức những ngày hội lớnnhư lễ hội Nàng Hai (Nàng Trăng) vào ngày 2/2 âm lịch, tổ chức biểu diễnvăn nghệ, các hoạt động thể thao như võ cổ truyền, cờ tướng, tung còn tạokhông khí thân tình, đầm ấm gắn bó giữa các dân tộc Trong ngày hội, đồngbào nơi đây ăn mặc theo trang phục truyền thống của dân tộc mình
Trang phục nam giới người Tày cũng như nhiều dân tộc miền núi khác
gồm áo cánh ngắn (slửa cỏm) là trang phục mặc thường ngày của nam giới,
áo dài năm thân bằng vải chàm hay vải lụa đen, gấu áo phủ quá đầu gối, áocài cúc bên ngực trái, loại áo dài này mang tính nghi lễ chỉ mặc trong dịp lễtết, hội hè loại áo này có nguồn gốc từ các tộc người vùng Đông Á, quần
(khoá) khăn đội đầu (khân) được may bằng vải sợi bông hay sợi tơ tằm và tất cả
đều được nhuộm màu chàm
Bộ nữ phục Tày gồm: áo cánh ngắn, áo dài, váy quần, thắt lưng, khănđội đầu, giày vải, và các đồ trang sức khác như nón, ô, vòng cổ, vòng tay, dây
xà tích, túi thổ cẩm về phương diện loại hình, hai loại áo của nữ giới Tày là
áo cánh ngắn và áo dài 5 thân không khác gì mấy so với hai loại áo của namgiới như đã trình bày áo ngắn may từ vải bông nhuộm chàm hay để trắng, xẻtà áo dài dài của phụ nữ may vừa vặn cơ thể hơn: hơi nhấn thêm eo, ống tay
Trang 22cũng nhỏ để sao cho tôn những đường nét của cơ thể phụ nữ, cài khuy bên nách phải như áo dài của người Kinh.
Màu sắc của áo dài Tày là màu vải chàm sậm đen ánh sắc hay màu tím,hồng Xưa kia cũng như hiện nay, một số phụ nữ Tày dùng vải lụa haynhưng đen để may áo dài, càng tôn thêm vẻ đẹp duyên dáng của phụ nữ.Cùng màu sắc với xống áo là chiếc thắt lưng: thắt lưng không phải cắtkhâu từ bất cứ mảnh vải nào, mà đã được phụ nữ Tày dệt nguyên bằng sợibông hay bằng tơ tằm nhuộm chàm phụ nữ Tày thắt lưng ra ngoài áo dài, đểxoã mối ra phía sau [56, tr 66-67]
Người Tày giao tiếp chủ yếu bằng ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tày – Thái.Đây là nhóm ngôn ngữ rất gần với tiếng Việt về hệ thống ngữ pháp và thanh
âm Tuy nhiên, chỉ những từ ngữ về thiên nhiên, về sự vật hiện tượng trongsinh hoạt giao tiếp mới là của người Tày, số còn lại thường vay mượn củatiếng Việt, tiếng Hán hoặc từ Hán Việt
Về chữ viết: Người Tày không có chữ viết riêng nên lịch sử thành văncủa dân tộc Tày rất ít ỏi và gần như không có Có thể chia lịch sử chữ viết củatộc người Tày ra thành ba giai đoạn:
- Giai đoạn cổ đại: Không có chữ viết , chủ yếu giao tiếp bằng phương thứctruyền miệng
- Giai đoạn trung đại: Có chữ Nôm Tày Chữ Nôm Tày là thứ chữ phỏng theochữ Hán của người Trung Quốc mà đặt ra Theo nhiều nhà nghiên cứu, nhìn
từ góc độ văn tự, thứ chữ này cũng có một vài nét khác với chữ Nôm Việt
Theo học giả Nguyễn Văn Huyên “chữ Nôm Tày do ảnh hưởng chữ Nôm Việt mà ra và có cấu tạo tương tự chữ Nôm Việt”.
Chữ Nôm Việt xuất hiện ở khoảng thế kỷ XIII đến XV Đến cuối thế kỷXVI đầu thế kỷ XVII khi Mạc Kính Cung chuyển vương triều lên Cao Bằng
Trang 23đã để lại dấu ấn về chữ Nôm Tày Do đó, có thể khẳng định chữ Nôm Tày ra đời không muộn hơn chữ Nôm Việt thế kỷ XVI.
- Giai đoạn hiện đại: Vừa dùng chữ Nôm vừa dùng chữ Latinh Do vốn từtiếng Tày còn nghèo nàn trong các hoạt động hành chính, cũng như các ngànhkhoa học, thêm nữa do phải sử dụng vốn từ Hán hoặc Nôm khiến cho việc sửdụng chữ viết cũng như ngôn ngữ Tày gặp rất nhiều khó khăn Năm 1954,lớp trí thức mới đã tự sáng tạo ra chữ Latinh Tày nhưng không được phổbiến Năm 1960, nhà nước đã giúp dân tộc Tày xây dựng hệ thống chữ viếtmới theo lối chữ Quốc ngữ bằng chữ cái Latinh điều này thể hiện rõ sự quantâm và chủ trương của nhà nước trong việc gắn kết tính cộng đồng 54 dân
tộc Trong văn kiện Đại hội Đảng bộ toàn quốc cũng ghi rõ: “Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta.” [48, tr.15]
1.2 Một số vấn đề chung về hát Quan lang
1.2.1 Khái niệm hát Quan lang
Trong kho tàng văn nghệ cổ truyền các dân tộc Việt Bắc, “Hát Quanlang” (Hát đám cưới) là loại hình nghệ thuật có từ lâu đời của dân tộc ở huyệnThạch An nói riêng và ở Cao Bằng nói chung, được quần chúng nhân dân ưuthích, hát Quan lang khác với các loại hình dân ca khác như Phong Slư, Sli,Lượn, Then nó cũng có tính chất sinh hoạt văn nghệ quần chúng, nhưng mặtkhác nó cũng là loại hình sinh hoạt theo phong tục nghi lễ cưới xin của ngườiTày Cho đến nay nhiều người vẫn chưa định nghĩa được rõ ràng về loại hìnhnghệ thuật này Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng tất cả các cách giảithích đều đi đến khái niệm chung gần thống nhất về “Hát Quan lang” như sau:
Một là: Thơ Quan lang là loại thơ hôn lễ của dân tộc Tày Theo nghĩa cổ
“Quan” là người con trai đã lớn tuổi mà chưa có vợ “Lang” là con rể Nhưng
Trang 24Quan lang ở đây lại chỉ nhiệm vụ dẫn chàng rể đi đón dâu, Quan lang thườngchỉ người có trách nhiệm chính trong đoàn người đưa chàng rể đến nhà gái.Người này thường được gọi là ông Quan Lang Đi đến nhà gái, ông Quanlang thường phải ngâm các bài thơ làm mọi nghi thức của việc hôn nhân, nêncác bài thơ này được gọi là thơ Quan lang [37, tr 76].
Hai là: Hát Quan lang là hát trong đám cưới, cuộc vui của đám cưới có
say sưa, tưng bừng hay không là nhờ ở tài thơ ca và giọng hát của ông Quanlang Có lẽ chính vì thế mà người ta thường gọi dân ca này là hát Quan lang
và cũng có người gọi là “dân ca đám cưới” hay “thơ lẩu” (thơ đám cưới ),
“lượn lẩu” (lượn rượu, Lượn đám cưới ) [14, tr 203].
Ba là: Thơ vấn đáp hát khi cưới còn gọi là thơ “Quan lang” “Pả Mẻ”
vì người diễn xướng chủ yếu là các vị đại diện cho hai đoàn nhà trai (rể)nhà gái (dâu) hát khi đón dâu, đưa dâu, đó là Quan lang (đàn ông) Pả mẻ(đàn bà) [6, tr 42]
Bốn là: Thơ Quan lang là loại thơ dân gian truyền miệng của đồng bào
Tày được thể hiện qua lối hát đối đáp trong khi xin dâu và đưa dâu giữa haibên: Quan lang (đại diện nhà trai) và Pả mẻ slống lùa (đại diện nhà gái)
“Quan lang” là cách phát âm theo phương ngữ Tày vùng Cao Bằng, cònnhiều vùng Tày khác có cách phát âm là “Quan làng” Thời gian diễn ra thơQuan lang được tính từ khi nhà trai bước chân đến cổng làng nhà gái [49, tr.5]
Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu và qua khảo sátthực tế, chúng tôi thấy có thể hiểu về hát Quan lang như sau:
Hát Quan lang là hệ thống các bài ca được sử dụng trong đám cưới của người Tày Hệ thống những bài ca này có thể kéo dài tới hàng ngàn câu, hàng trăm bài, chia thành các phần cụ thể Trong đó các phần mục tương
Trang 25ứng với từng hành động - lễ thức cụ thể trong đám cưới (Nói cách khác nó là một thể
Trang 26tài riêng dân ca nghi lễ đám cưới) Quan lang (đại diện nhà trai) là người có vai trò chính nên hát Quan lang bắt nguồn từ tên nhân vật này Nội dung chính của các bài hát này là cách chỉ bảo, răn dạy, lối ứng xử tinh tế, tao nhã của con người trong đời sống Trong đám cưới, lời hát thay cho lời chào xã giao, lịch sự và thể hiện tình cảm trân trọng nhau.
Chúng tôi thấy cần phân biệt hai khái niệm “Quan lang” và “Quan làng”.Theo nhân dân và các cụ ở Thạch An và Cao Bằng thì từ “Quan làng” chỉdùng để gọi ông chủ đám ma “Quan làng” là một người đàn ông đứng tuổi,
có uy tín trong vùng Quan làng có nhiệm vụ giúp gia chủ “sai khiến” các concháu trong bản làng tổ chức đám ma cho thật tốt, nhằm đảm bảo hồn ngườichết “đi đến nơi về đến chốn” một cách êm đẹp! Vì vậy ở Cao Bằng có sựphân biệt khá rõ hai từ “Quan lang” và “Quan làng”
Lâu nay có những bài viết thường gọi ông “Chủ hôn” ngày xưa là
“Quan làng” đây là một sự nhầm lẫn khá cơ bản, nhiệm vụ ông Quan langgiao thiệp bằng những lời dịu dàng làm ấm bụng họ hàng cô dâu, để họ đồng
ý cho rước dâu Ông Quan lang không có quyền tối cao quyết định mọi việctrong cuộc hôn lễ Về thực chất ông chỉ là “Nhà ngoại giao” là “cây vănnghệ” của nhà trai - văn nghệ cũng là để thực hiện nhiệm vụ ngoại giao vớimục đích đón được cô dâu về nhà chồng [13, tr 50-51]
Hát Quan lang có cách gọi khác nhau nhưng tựu chung đó là những bàihát dành riêng cho đám cưới, chỉ cất lên trong đám cưới, chủ yếu là ngườiQuan lang (đại diện cho nhà trai) hát đối với người Pả mẻ (đại diện cho nhàgái) nên người ta gọi là hát Quan lang Đây là điểm khác với những bài caxuất hiện ở chợ phiên, trên những con đường vào bản, nương rẫy hoặc trong
lễ hội Những bài hát Quan lang mang chức năng trao đổi tình cảm, lại diễn
Trang 27xướng theo nghi lễ truyền thống nên nó cũng không nằm ngoài nhu cầu về tinh thần, trí tuệ, thẩm mỹ của người Tày [21]
1.2.2 Nguồn gốc của hát Quan lang
Thơ Quan lang là một loại dân ca trữ tình của dân tộc Tày được lưutruyền lâu đời trong dân gian Những bài thơ vấn đáp hát khi cưới lưu truyềnqua nhiều nơi, nhiều thế hệ đã dân gian hoá, đến nay cũng khó nhận bài nào
có tác giả, bài nào của dân gian lưu truyền, bổ sung, sửa chữa
Tương truyền những bài thơ vấn đáp hát khi cưới, được một thầy dạyhọc giỏi tên là Lê Thế Khanh ghi chép lại bằng chữ Nôm biên soạn bổ sungtruyền cho các đời sau, đến ngày nay Lê Thế Khanh người Tày ở Thạch Lâm
- Cao Bằng, khi còn trẻ đã từng về học ở Kinh đô Giao Châu (đất nước ta lúcđó) là Long Biên (nay thuộc Bắc Ninh) Ông mở trường dạy chữ Hán ở nhiềunơi, học trò đến học rất đông, có ảnh hưởng lớn đến mở mang dân trí, nângcao đời sống văn hoá Ông còn dạy cả lễ nghi ma chay, cưới xin, dạy làm thơbảy chữ vốn có của dân tộc
Trong cuốn “Thực lục Cao Bằng” Bế Văn Cung là Đốc trấn tỉnh Cao
Bằng năm 1978 cũng đã ghi tổng hợp đầy đủ về lời hát Quan lang
Nhưng hiện nay, chúng ta chưa thể biết chính xác hát Quan lang xuấthiện vào thời kỳ nào Nhưng qua nội dung và hình thức của các bài thơ,chúng ta có thể phỏng đoán, thơ Quan lang bắt nguồn từ một loại dân ca trữtình của dân tộc Tày, và chỉ có thể xuất hiện vào thời kỳ chế độ kinh tế cá thể
đã phát triển khá cao và chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã thịnh hànhtrong xã hội Ở thời kỳ này, địa bàn hôn nhân của nam nữ thanh niên cùngmột dân tộc đã được mở rộng, tức là một thanh niên nam ở địa phương này
có thể xin cưới một cô gái ở địa phương khác về làm vợ Tất nhiên việc cướixin này chủ yếu là do cha mẹ và họ hàng hai bên thoả thuận, xếp đặt Tươngtruyền thơ Quan
Trang 28lang ở Thạch An - Cao Bằng gồm có 56 bài nhưng hiện nay rất ít nghệ nhân còn biết trọn vẹn về nó.
1.2.3 Hát Quan lang trong đời sống tinh thần của người Tày ở Thạch An - Cao
Bằng
Hát Quan lang là một loại dân ca trữ tình của dân tộc Tày, cho đến nayloại “Dân ca đám cưới” này vẫn được lưu truyền ở hầu hết các xã tronghuyện Thạch An nói riêng và tỉnh Cao Bằng nói chung Trước đây, ở khắpcác làng bản người Tày sinh sống không có đám cưới nào là thiếu được thơQuan lang, không có loại văn hoá đám cưới nào có thể lay chuyển và thay thếđược thơ Quan lang Trong lễ cưới của người Tày nơi đây, thật không saonói hết nỗi vui mừng của họ khi được nghe hát những bài “thơ Quan lang”(thơ lẩu)
Xưa kia, khi đến dự một đám cưới, câu đầu tiên của khách hỏi chủ là: có
“Thơ lẩu” không? Nếu không có “Thơ lẩu” thì rượu sẽ nhạt lắm! Ngày cưới
là ngày vui mừng nhất trong một đời người, cho nên cần phải có lời ca tiếnghát, cần có “Thơ Lẩu” Đám cưới dù đang ồn ào đến đâu, hễ tiếng hát “thơLẩu” cất lên, thì mọi người đều say sưa lắng nghe Nhất là họ nhà trai thườngđến nhà gái vào buổi chạng vạng tối, sau khi khách khứa đã ăn cơm chiều.Mọi người lúc đó đã tương đối rỗi rãi, chỉ chờ họ nhà trai đến Bởi vậy, vừanghe tiếng “Pả mẻ” hoặc phù dâu chất vấn nhà trai ngoài cổng mọi người đã
ùa cả ra, vây kín lấy đoàn người đang hát đối đáp nhau Đối với dân tộc Tày
“Thơ Lẩu” là một hình thức sinh hoạt văn nghệ quần chúng đặc sắc và rộngrãi trong đám cưới: các bài hát ấy quả là chất “muối”, chất “thơ” của đámcưới, đám cưới nào không có thì thật “nhạt” và buồn [2 tr 7]
Có thể nói, hát Quan lang đã in sâu vào đời sống sinh hoạt của ngườidân Thơ Quan lang thuộc loại văn vần nên tất cả mọi người từ cụ già cho đến
em nhỏ đều có thể đọc thuộc lòng vanh vách
Trang 29Người ta mê hát Quan lang vì nhiều lẽ, nhưng trước hết là ở sự hiểubiết, văn minh, trang trọng, lịch sự và đặc biệt là tài đối đáp thơ của ông Quanlang hay bà Pả mẻ Hơn nữa, hát Quan lang phù hợp với phong tục tập quán
và nhu cầu thưởng thức văn nghệ của người dân miền núi Cuộc sống vớinhững lo toan vất vả, thiếu thốn thông tin từ những phương tiện hiện đại, nênđám cưới là ngày vui sướng nhất đời của đôi cô dâu chú rể và cũng là ngàyvui mừng của họ hàng, dân bản, của hai họ nhà trai và nhà gái, là dịp để mọingười có thể xem, nghe và trổ tài văn nghệ của mình, đây là lúc mọi ngườiđược thư giãn vui vẻ nhất Theo phong tục tập quán của người Tày xưatrong lễ cưới, đồng bào thể hiện lòng vui mừng phấn khởi bằng những bàihát Ngay cả việc thực hiện những nghi lễ trang trọng, người ta cũng đem lời
ca tiếng hát thay thế cho những câu đối thoại giữa hai họ Thông qua đó, hátQuan lang gắn kết mối quan hệ cộng đồng, làng bản dòng họ đôi lứa Nhiềuthuần phong mĩ tục của dân tộc được phát huy và đặc biệt là tính giáo dụclòng hiếu khách, sự khiêm tốn, tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ, lòng thànhkính với tổ tiên, tình vợ chồng thuỷ chung …
Vì vậy, những bài Quan lang hát mừng đám cưới đã được đồng bào Tàytập hợp lại thành một kho tàng văn học lưu truyền mãi hết đời này sang đờikhác
1.3 Nghi lễ đám cưới và trình tự một cuộc hát Quan lang ở Thạch An – Cao Bằng
Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, hát Quan lang được lưutruyền theo phương thức truyền miệng trong cộng đồng Tày ở nhiều địaphương khác nhau nên không tránh khỏi những dị bản Trong đó dung lượng
về số bài, về câu chữ… khác nhau song đều tuân thủ theo tiến trình nghi lễcủa một đám cưới cổ truyền từ lúc đoàn nhà trai sang nhà gái cho đến lúcrước dâu về tới nhà
Trang 30Trong đời sống sinh hoạt của đồng bào Tày ở Thạch An – Cao Bằng, hôn
lễ chiếm một vị trí quan trọng Nó liên quan trực tiếp đến đời sống vật chất vàtinh thần của mỗi con người trong cộng đồng Ở mỗi dân tộc, việc cưới xinđược tiến hành theo những nghi lễ, phong tục riêng Cũng như các phong tụckhác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Tày ở Thạch An cũng rấtcoi trọng hôn lễ, vì nó thể hiện ý thức trách nhiệm với tổ tiên giống nòi Cóthể nói, trước đây đám cưới của người Tày không chỉ là công việc riêng củamỗi nhà mà còn được coi là công việc của cộng đồng, làng bản Vì thế mỗikhi có đám cưới, làng bản lại rộn lên như ngày hội Người Tày trước đây tổchức đám cưới với đầy đủ các nghi thức như :
Bước một: Dạm hỏi là khi đôi nam nữ yêu nhau, nguyện xây dựng mái
ấm gia đình với nhau, báo cáo với gia đình bên nhà trai chủ động cho ngườisang dạm ngõ (chạm ngõ), bỏ qua bước thăm dò Bên nhà trai nhờ người thânthuộc trong họ mang theo một lít rượu, một kilôgam thịt lợn đến gia đình nhàgái làm thủ tục dạm hỏi (đó là tục lệ đi hỏi vợ, ngược lại nếu đón rể về nhà thìbên nhà gaí phải làm thủ tục đó) Đại diện nhà trai đặt vấn đề với cha mẹ côgái bằng những lời lẽ rất tế nhị, ví von, tôn trọng Nhà gái cũng đáp lại rất tôntrọng, đại ý là: cha mẹ tuỳ theo ý con, con ưng thì cha mẹ cũng chiều, con
không ưng thì cha mẹ cũng không ép và nói câu ví “Vài bấu kin nhả, pjạ bấu
đé coóc” (Trâu không ăn cỏ, không lấy dao đè sừng ép ăn) Trước những năm
60 của thế kỷ xx, ngoài những đôi lứa tìm hiểu nhau có tình yêu đi đến hônnhân, thành vợ thành chồng thì tình trạng ép duyên, hay cha mẹ đặt đâu conngồi đấy còn rất phổ biến Tình trạng tảo hôn trước những năm 1970 vẫn xảy
ra Ngày nay vấn đề hôn nhân tự do đã được ý thức rõ ràng cho nên việc tự dotìm hiểu và kết hôn đã trở thành phổ biến
Bước hai: Xin tám chữ “Slư mỉnh” là khi đó được sự nhất trí của hai gia
đình và hai họ, người được gia đình nhờ làm thủ tục dạm hỏi (gọi là người
Trang 31bước đường) tiếp tục đi đến gia đình bên cô dâu hoặc chú rể để làm thủ tục
xin tám chữ “Slư mỉnh” (tức họ tên, ngày giờ sinh của đôi nhân duyên) về bên gia đình mình, để xem duyên số đôi nam nữ Thủ tục xin tám chữ “Slư mỉnh” chỉ là ít tiền lệ phong bao giấy đỏ Thủ tục xem số hiện nay đã giảm Bước ba: Ăn ghánh báo mệnh hợp là khi thủ tục sau khi đã xem duyên
số nếu không có gì trở ngại, nhà trai báo cáo cho gia đình nhà gái biết địnhngày ăn gánh báo mệnh hợp Gia đình nhà gái đi mời anh em họ hàng và lánggiềng đến dự bữa cơm thân mật để cùng bàn thống nhất mọi lễ vật, thời gianlàm lễ thành hôn… Lễ vật để tổ chức gồm xôi, hai đôi gà thiến, mười lítrượu, ăn gánh báo mệnh hợp trước đây tổ chức hai lần nay gộp làm một
Bước bốn: Ăn hỏi là khi những bước trước đó cơ bản xong, đến lễ ăn
hỏi vật lễ ăn hỏi do hai bên gia đình họ hàng bàn bạc thống nhất: tiền sắm đồcưới là bao nhiêu, bên nhà trai, nhà gái phải sắm thứ gì, ngày cưới nhà traiphải mang những thứ gì sang, số lượng là bao nhiêu rồi thưa lại cho nhà trai.Riêng tiền mặt thì đưa ngay ngày hôn đó Ngày xưa, mỗi thứ đều tính mộttrăm gồm: Thịt lợn, gạo nửa nếp nửa tẻ, rượu hai chum Trước lễ cưới một
ngày, nhà trai đưa các lễ vật sang và có một người đại diện đi cùng gọi là “đệ đám” (nộp lễ vật) Nhà gái nhận xong nếu còn thiếu thứ nào chưa đủ theo
như đã thách cuới thì đến hôm sau nhà trai phải mang sang đủ
Ngày nay, thực hiện nếp sống văn hoá, các lễ vật kể trên đã giảm nhiều,không còn khắt khe về số lượng Một hình thức mới trong việc tổ chức cưới
là nhà trai lo “giúp” nhà gái bằng tiền mặt rồi mỗi bên lo tổ chức riêng, khôngmang lễ vật sang nữa Đây là một nét mới vừa thuận tiện, vừa văn minh
Bước năm: Tổ chức cưới và các thủ tục khác nhà gái tổ chức vào buổi
tối hôm trước, nhà trai đón dâu vào ngày hôm sau, hoặc là tổ chức cùng mộtngày, nhà gái tổ chức vào buổi sáng, nhà trai đón dâu vào buổi chiều Chú rểphải sang nhà gái trước, đoàn nhà trai đi đón dâu gồm có: Người đại diệnthay
Trang 32mặt gia đình gọi là “Quan lang”, chú rể, phù rể, một bà mối, hai cô thiếu nữ
để gánh đồ lễ Tổng số đoàn đón dâu bao giờ cũng là số chẵn, là tám, mườihoặc mười hai người Người trong đoàn, cả già trẻ, đều có cuộc đời hạnhphúc, êm đẹp, được xóm làng quý mến
Bước sáu: Trở lại nhà gái làm thủ tục trình rể, đón dâu Quan lang
xướng văn trình tổ tiên họ hàng, tổ chức mời nước, rượu, thuốc lá họ hàng vàgiới thiệu quan hệ họ hàng anh em [51, tr 660]
Hiện nay, đám cưới dân tộc Tày được tổ chức giản dị nhưng trangtrọng, ngoài những người thân thích, họ hàng gần đến trước, dùng bữa cơmtiễn con cháu ra cửa gọi là “oóc háp”, khách đến mừng chỉ dự một bữa cơmthân mật, gửi tiền mừng cưới rồi ra về
Về trang phục: cô dâu, chú rể ngày trước mặc áo dài vải chàm Áo côdâu thắt lưng bằng vải màu đen hoặc chàm, bằng tấm vải xếp đôi rộngkhoảng mười phân thắt về phía sau buông xuống đến khoảng giữa ống quầnhoặc chấm gót Cô dâu vấn khăn, chú rể đội mũ hoặc khăn xếp Hiện nayphần lớn cô dâu, phù dâu mặc áo dài, váy kiểu tân thời Chú rể mặc quần áocomplê
Trong đoàn nhà trai, chọn người làm Quan lang là quan trọng Quan langphải biết mọi lễ nghi, phong tục lễ cưới của người Tày và hoạt bát để giảiquyết mọi tình huống trong công việc cưới xin, đặc biệt là phải biết “Lượnlẩu” Ông Quan lang được coi như linh hồn của đám cưới Quan lang (nam),
Pả mẻ (nữ) là trưởng đoàn, phó đoàn cho gia đình hai họ đón dâu, đưa dâu vôcùng quan trọng Các bước đi đứng, trình thưa của trưởng đoàn đại diện đều
phải có thơ Thơ đó có sẵn hoặc gặp tình huống cụ thể là phải ứng tác (Phuối rọi).
Trang 33Khi sang nhà gái làm lễ đón dâu, Quan lang phải hát một số bài ứng xử tình huống như: Nhà gái căng dây ngang đường, đặt một khay rượu trước cửa,
Trang 34đóng cửa lại, túi nhốt mèo và đó đơm cá treo trên cửa, lấy chổi đặt ngang cửa, trải chiếu lệch,…
Sau khi hát ứng xử tình huống xong phải hát trình tổ tiên, họ hàng rồimới được ngồi Sau bữa cơm tối, chú rể phải ra bái lạy tổ tiên, mời rượu, mờithuốc ông bà, bố mẹ vợ và họ hàng nội ngoại Lúc đó Quan lang phải háttrình, hát mời, hát cảm ơn Đến khi cô dâu sắp ra cửa (vu quy) sang nhà traithì Quan lang phải hát báo cáo cha mẹ họ hàng xin được rước dâu và hát giục
cô dâu ra cửa để về đến nhà trai đúng giờ tốt đã chọn Khi qua cầu hoặc lộisuối, bà đón phải đặt tiền xuống trước mặt cô dâu, bà đưa nhận lấy rồi cô dâu
mới đi qua gọi là “Dèn quá cấu” (tiền qua cầu) Khi về nhà trai, Quan lang lại
phải hát một số bài nữa như trình tổ tiên, mời cha mẹ họ hàng ra mừng côdâu, nhưng số lượng bài hát thường ít hơn ở bên nhà gái Những người đượcmời làm Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng hầu như vẫn còn giữ được sách,chép lưu truyền trong dân gian các bài hát này
Đám cưới truyền thống nào của người Tày ở Thạch An - Cao Bằng cũngđều có diễn xướng thơ vấn đáp hát khi cưới Hát Quan lang là hình thức sinhhoạt văn hóa mang tính đặc thù, được hình thành do yêu cầu của cuộc sốngcon người, nó gắn với hôn lễ, phục vụ hôn lễ
Hát Quan lang vừa mang chức năng trao đổi tình cảm, vừa thể hiện chứcnăng nghi lễ trong hình thức truyền thống Hát Quan lang cũng không nằmngoài nhu cầu về tinh thần trí tuệ, thẩm mỹ của người Tày
Cho nên trong dân gian có nhu cầu sưu tầm, ghi chép hoặc sáng tác
sẵn một số bài thơ mẫu về đám cưới, để khi gặp cảnh ngộ có thể “Xuất khẩu thành thơ”.
Lễ đón dâu của người Tày xưa bắt đầu từ ngày hôm trước trải qua đêmđến ngày hôm sau Hát Quan lang trên địa bàn Thạch An - Cao Bằng và ở các
Trang 35tỉnh như Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái thì có tới hơn mườichặng (cuộc) Những chặng (cuộc) so tài thử trí này vừa mang tính sinh hoạtvừa là hình thức nghi lễ được diễn ra từ khi đoàn đón dâu đặt chân tới nhàgái, đến lúc kết thúc xin phép nhà gái đón dâu Ứng với mỗi sự thử thách vàcác nghi thức là những bài ca Các bài ca có thể sắp xếp theo trình tự sau:
* “Giai đoạn thử thách” gồm:
- Những bài ca mở cổng
- Những bài ca chăng dây
- Những bài ca rửa chân
- Những bài ca lên cầu thang
- Những bài ca mời rượu
- Những bài ca mời cơm
Trang 36- Những bài ca mừng phù dâu, phù rể
- Những bài ca chia tay, nhắn gửi
Nội dung, dung lượng của bài ca tuỳ thuộc vào các đề tài, tình huống cụthể và tài ứng đối của người đại diện nhà trai và nhà gái Trong diễn trìnhdiễn xướng của những bài ca đám cưới (Hát Quan lang) nêu trên ta thấy mọi
sự dẫn dắt, giao tiếp giữa hai họ đều được thực hiện bằng thơ ca, do ôngQuan lang là người cầm trịch Đây là đặc điểm độc đáo trong đám cưới củadân tộc Tày Nó cho thấy hình thức tổ chức đã có nề nếp, quy củ tuân theo cácluật tục mang tính chất truyền thống Những lời đối - đáp ở giai đoạn đầu làmtăng thêm không khí vui nhộn của lễ cưới, thu hút mọi người vào cuộc, đồngthời kích thích khả năng ứng tác của các nghệ nhân dân gian, góp phần làmphong phú thêm vốn dân ca đám cưới Tày
Mặc dù diễn xướng những bài ca đám cưới có kéo dài nhưng nó đượcsắp xếp theo trình tự lôgíc, đặt trong không gian rộng, có cảnh huống, gắnchặt với nghi thức hôn lễ nên có sức thuyết phục Tập trung vai trò của ngườidiễn xướng là ông Quan lang và bà Pả mẻ
Lễ hồi ròi, slam nâư (Nhị hỷ): Đây là lễ của người con gái đã đi nhà
chồng bước vào ngày thứ ba nay “hồi ròi” (trở về theo lối cũ) để con rể cùng
con gái về thăm quê, cha mẹ và họ hàng thân thích
Bên cha mẹ vợ tổ chức một bữa cơm sang trọng vui vẻ không kém ngàycưới để tỏ ra vui lần hai (Nhị hỷ) mời đầy đủ các vị thân nhân nội ngoại…Trong bữa tiệc cũng có bình thơ chúc tụng, hát xướng…
Đến đây, một đám cưới được coi là hoàn tất
Dân ca đám cưới Tày thực chất là cuộc đối đáp giữa nhà trai và nhà gái,giữa nam với nữ, giữa những người đến dự đám cưới đều có thể tham gia hátđối đáp Vì thế ngoài những bài ca nghi lễ đã thuộc, Quan lang cũng như mọi
Trang 37người phải ứng đối nhanh, trả lời giỏi Mặc dù vậy nhưng câu hát vẫn đầy chất thơ:
Tôi hỏi người khách là thời
lương Chốn này chốn én ương
mở hội Có hai cây chuối sinh tiêu
Gió quạt đi quạt lại mát mẻ
Xem như bút vẽ văn thư
Xem như bàn cờ cửa trùng
Người ta đem về làm gì?
Xin hỏi khách hiền nhân quân tử
Biết thì nói rõ phân minh
Đem về cửa xinh mà cất
Đem vào vườn hoa mà
trồng Không biết thì hãy đi
đã nhé.
Người đáp lại cũng rất lãng mạn, thể hiện tâm hồn văn chương:
Tôi là khách Châu - Trần thời
trước Bây giờ về kết nghĩa Tường
-Lương Thấy có én ương mở hội
Có hai cây chuối sinh tiêu
Gió quạt đi quạt lại mát mẻ
Hương nó thơm như quế ngàn
sơn Chuối này thật quý nhiều hơn
Từ ngày xưa phân khai vạn
đại Lá chuối gói bánh gai
đường
Lưu truyền khắp bốn phương thiên hạ [27]
Trang 38Đám cưới là dịp để mọi người mang tới những lời đẹp, lời hay gópthêm vào cho ngày vui càng trọn vẹn Sau mỗi tiếng hát là ánh mắt, nụ cười,những lời trầm trồ thán phục Một không khí văn hoá thật hấp dẫn:
Gần chắc lượn gằm đây gằm mjảc
Gần ké thỉnh lùm lẩu tềnh bôm
Dịch: Người biết hát câu hay câu đẹp
Người già nghe quên rượu trên mâm [27]
Có những cặp phù dâu, phù rể đã lấy chén rượu làm đề tài tạo nguồn cảm hứng:
- Thưa cùng các bạn đường
xa Gốc rượu ở đâu ra
Ngọn rượu ở đâu đến
Rượu người ủ gạo nếp mấy đêm
Mới thành rượu thơm ngon đám cưới
( ) Mới chảy thành rượu quý người dùng [27]
Bài ca đám cưới thực sự là bài ca đối - đáp Có những bài ca đối – đáp chia tay giữa kẻ ở người về khi kết thúc đám cưới:
- Bên nam hát:
Giờ đây chúng tôi về quê
bản Bước đi xa chào người
ở lại Bẻ hoa còn cài lên trên
cành
Trang 39Mong hoa mãi tươi xanh chớ héo
Trang 40Mai sau còn được đón tìm hoa
- Bên nữ hát:
Từ nay khó mà gặp được nhau
Mong các bạn đường xa hãy nhận
Gửi bạn hai chén rượu đi đường
Cùng nhau gửi lời thương lời nhớ
Xuân nào hoa mới nở hai lần
Ước gì gặp được nhau hai bận [27]
Cuộc hôn lễ của đôi vợ chồng trẻ đã đánh thức tình yêu đôi lứa, khơi lênkhát vọng xây dựng hạnh phúc của những trai làng, gái bản đến dự cưới,trong đó có tiếng hát yêu thương của cặp phù dâu phù rể Nhân lễ cưới này,
họ có dịp tỏ bày tình cảm và vì thế cuộc hát ra đời:
- Bên nam hát:
Đáng trách lệ đời xưa đã đặt
Đáng trách lệ Bàn Cổ đã ban
Đặt ra lệ cưới xin không hợp
Đặt ra lệ ăn hỏi không minh
Đón riêng mình cô dâu về bản
Đặt ra lệ cưới xin không hợp
Đặt ra lệ ăn hỏi không minh
Đón riêng mình cô dâu về bản