1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN

93 501 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau một thời gian chưa được chú ý sưu tầm, nghiên cứu đúng với tầm vóc của nó, mấy thập kỷ gần đây một số hình thức văn hóa dân gian có chức năng nghi lễ sinh hoạt thực hành của các dân

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN

ĐÀM THÙY LINH

HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN -

CAO BẰNG TIẾP CẬN DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN

GIAN

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Hằng Phương,

người thầy đã nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

đại học và các thầy cô giáo khoa Ngữ văn của trường ĐHSP Thái Nguyên, các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường Đại học KHXH &

NV, Viện Văn học Khoa Sau Đại Học đã giúp em hoàn thành khoá học

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới nhà nghiên cứu Văn hoá Dân gian Nguyễn Thiện Tứ và Thư viện tỉnh Cao Bằng đã cung cấp tư liệu và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, người thân đã động viên

và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã đọc và chỉ ra những thành công cũng như hạn chế của luận văn

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2009

Tác giả

ĐÀM THUỲ LINH

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 0

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 6

3.1 Mục đích nghiên cứu 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 PHẠM VI ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 6

4.1 Phạm vi nghiên cứu 6

4.2 Đối tượng nghiên cứu 7

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 7

7 BỐ CỤC LUẬN VĂN 8

NỘI DUNG 9

Chương 1: HÁT QUAN LANG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN - CAO BẰNG 9

1.1 Vài nét về cộng đồng người Tày 9

1.1.1 Cộng đồng người Tày Cao Bằng 9

1.1.2 Cộng đồng người Tày Thạch An - Cao Bằng 10

1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Thạch An 10

1.1.2.2 Xã hội – Văn hoá 11

1.2 Một số vấn đề chung về hát Quan lang 17

1.2.1 Khái niệm hát Quan lang 17

1.2.2 Nguồn gốc của hát Quan lang 20

1.2.3 Hát Quan lang trong đời sống tinh thần của người Tày ở Thạch An - Cao Bằng 21

1.3 Nghi lễ đám cưới và trình tự một cuộc hát Quan lang ở Thạch An – Cao Bằng 22

Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG LỜI HÁT QUAN LANG

Ở THẠCH AN - CAO BẰNG 36

2.1 Lối thử thách bằng thơ 36

2.2 Bài học về cách ứng xử và đạo lý làm người 51

2.3 Sự trân trọng đối với người phụ nữ 62

2.4 Lời cầu chúc cho lứa đôi hạnh phúc và gia chủ an vui 67

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG LỜI HÁT QUAN LANG 76

3.1 Nhân vật trữ tình 76

3.2 Thời gian diễn xướng 77

3.3 Không gian diễn xướng 79

3.4 Thể thơ 80

3.2.1 Thể thơ ngũ ngôn 80

3.4.2 Thể thơ thất ngôn 83

3.4.3 Thể thơ tự do 85

3.5 Ngôn ngữ 90

3.5.1 Sự đan xen ngôn ngữ các dân tộc 90

3.5.2 Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, giàu hình ảnh, giàu chất thơ 94

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC 113

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá đa dạng phong phú nhưng

thống nhất Đó là nền văn hoá được tạo bởi các dân tộc anh em cùng chung

sống xen kẽ khắp dải đất hình chữ S của Tổ quốc Do vậy, bên cạnh việc tìm

hiểu văn hoá của người Việt cần chú trọng tìm hiểu văn hoá của các dân tộc

thiểu số, những bộ phận văn hoá làm nên vẻ đẹp phong phú đa dạng của văn

hoá dân tộc

Sau một thời gian chưa được chú ý sưu tầm, nghiên cứu đúng với tầm

vóc của nó, mấy thập kỷ gần đây một số hình thức văn hóa dân gian có chức

năng nghi lễ sinh hoạt thực hành của các dân tộc ít người như: Mo Mường,

hát cúng ma của người Mông, Then Tày, Hát Quan lang… đã được ngành văn

hoá, đặc biệt là ngành văn hoá dân gian chú ý khai thác

Đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu hát Quan Lang về nhiều

phương diện: nguồn gốc, nội dung, hình thức nghệ thuật, phương thức diễn

xướng Song chưa có công trình nào nghiên cứu về hát Quan lang ở Thạch

An - Cao Bằng một cách toàn diện hệ thống

1.2 Hát Quan lang là loại hình văn hoá, văn nghệ mang đậm tính sinh

hoạt quần chúng, nhưng mặt khác nó còn là loại hình sinh hoạt văn hoá phong

tục Vì thế để giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Tày ở Thạch An nói riêng và ở

Cao Bằng nói chung, chúng ta cần quan tâm khai thác nghiên cứu phong tục

hát Quan lang một cách khoa học, nhằm phát huy thế mạnh của nó trong đời

sống hiện đại

Hát Quan lang là loại hình dân ca độc đáo được hát trong lễ cưới của

người Tày Thạch An nói riêng và người Tày Cao Bằng nói chung Tìm hiểu

hát Quan lang của người Tày ở Thạch An là công việc hữu ích góp phần vào

việc bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Đồng thời cũng là tìm hiểu và phát huy truyền thống nhân văn của dân tộc Tày qua loại hình sinh hoạt văn hoá phong tục này

1.3 Đề tài này không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực nghiên cứu văn học

và văn hoá dân gian của các dân tộc ít người mà còn mang ý nghĩa thiết thực hơn đối với một giáo viên dạy văn được sinh ra và lớn lên ở Cao Bằng như tôi, muốn đóng góp một phần công sức rất nhỏ bé cho tỉnh nhà trong lĩnh vực tìm hiểu khám phá các giá trị, văn hoá dân gian độc đáo của dân tộc Tày ở Thạch An nói riêng và Cao Bằng nói chung

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Nền văn hoá Việt Nam được cấu thành bởi văn hoá của 54 dân tộc, đó là nền văn hoá kết hợp hài hoà những tinh hoa văn hoá có phong cách riêng của các dân tộc anh em trong đại gia gia đình các dân tộc Việt Nam Trong đó, văn hoá các dân tộc thiểu số góp phần quan trọng làm nên diện mạo phong phú, đa dạng của bức tranh văn hoá Việt Nam Việc nghiên cứu và khai thác văn hoá Tày ở Việt Bắc sẽ không chỉ nhằm đi sâu khai thác những giá trị tư tưởng và thẩm mỹ về văn hoá của dân tộc, mà phần nào còn làm sáng tỏ diễn

trình văn hoá Việt Nam trong lịch sử

Công tác sưu tầm và nghiên cứu văn hoá dân gian Việt Bắc đã được nhen nhóm từ sau khi Cách mạng tháng Tám thành công Đặc biệt là từ sau Hội nghị bàn về công tác sưu tầm văn hoá dân gian ở Miền Bắc tháng 12 năm 1964 Nhiều nhà sưu tầm đã đi điền dã điều tra ở khu vực Việt Bắc, kết quả là đã sưu tầm được một số thể loại của văn học dân gian như là Then, hát Quan lang của người Tày, hát cúng ma của người Mông.v.v đóng góp cho kho tàng văn hoá dân gian nói chung và văn hoá dân gian các dân tộc thiểu số nói riêng một nguồn tài liệu đặc biệt có giá trị Trong thời gian này, công trình nghiên cứu về hát Quan lang chưa nhiều, chỉ là một số bài viết được đăng trên báo chí

Trang 4

Đến năm 1973, trong cuốn “Dân ca đám cưới Tày - Nùng”, Nông Minh

Châu đã tập hợp hơn 100 bài hát đám cưới Tày – Nùng Tác giả sưu tầm và

dịch từ nguyên văn thơ Tày - Nùng ra tiếng Việt Bên cạnh giá trị sưu tầm,

cuốn sách đã khá thành công trong việc dịch thơ: lời thơ, hình ảnh khá sát

thực, sinh động Bởi vậy gần như không có khoảng cách đáng tiếc giữa thơ

nguyên bản và thơ tiếng Việt Cuốn sách là tư liệu quý giá cho tất cả những ai

muốn tìm hiểu về “Dân ca đám cưới Tày - Nùng” Tác giả Vi Quốc Bảo đã

viết lời giới thiệu cho cuốn sách này Bài giới thiệu có những nhận xét, đánh

giá, phát hiện xác đáng về diễn xướng, về nội dung và cả nghệ thuật của dân

ca đám cưới Tày - Nùng: “Những bài hát đó kéo dài suốt quá trình đám cưới

và chỉ kết thúc khi các nghi thức đám cưới đã được thực hiện đầy đủ”, “Các

bài hát đám cưới là một yêu cầu về sinh hoạt văn hoá văn nghệ”, “giá trị của

những bài hát đám cưới là đã phản ánh, miêu tả xã hội và đời sống của dân

tộc Tày” [5]

Như vậy, cuốn sách “Dân ca đám cưới Tày - Nùng” của Nông Minh

Châu xuất bản đã cho ta những tư liệu quý giá và những hiểu biết ban đầu rất

cần thiết, đặc biệt là về phương diện diễn xướng dân ca Tày - Nùng

Năm 1974, trong cuốn “Bước đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc”, [33 ]

có bài viết của Lường Văn Thắng “Tìm hiểu nội dung của một số bài thơ

Quan lang”, của Vi Quốc Bảo “Những bài hát đám cưới - Những bài thơ trữ

tình” Trong bài viết của tác giả Lường Văn Thắng có đoạn nhận xét: “Thơ

Quan Lang của dân tộc Tày chẳng qua cũng là một phương thức phản ánh

một quan niệm sống, một sự biết ơn, một sự ca ngợi, một sự khiêm tốn đáng

quý phản ánh truyền thống đạo đức của dân tộc một cách kín đáo, duyên

dáng nhưng đậm đà.” [33, tr 83] Nhận xét có tính khái quát, nếu triển khai

ta sẽ thấy đúng với nội dung của dân ca đám cưới Tày - Nùng Vi Quốc Bảo

cũng thấy rõ: “Trong dân ca đám cưới Tày - Nùng, đôi bên nam nữ giãi bày

tư tưởng, thái độ tình cảm của mình Như vậy, dân ca đám cưới không chỉ là những bài ca nghi lễ khô cứng mà còn bao hàm cả thành phần giao duyên.”

[33, tr.70] Cũng trong sách này, tác giả Vi Hồng trong bài “Nội dung của

lượn” có nhận xét: “Thơ Quan lang vừa cũ lại vừa mới, vừa lạ lại vừa quen, vừa định hình mà lại linh hoạt biến đổi phù hợp như vị khách du lịch nhập gia tùy tục”

Năm 1973, trong bà i “Và i suy nghĩ về hát Quan lang, lượn, Phong slư” [14, tr 51-61 ], tác giả Vi Hồng đã giới thiệu khái quát về hát Quan lang và nguồn gốc của nó

Như vậy, từ năm 1970 đến 1980, số lượng sách và các bài báo về hát Quan Lang không nhiều nhưng cũng đủ giúp ta hình dung bước đầu về diện mạo hát Quan Lang

Đến những năm 80 của thế kỷ XX mặc dù trong văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã khẳng định vị trí và vai trò của văn hoá dân gian các dân tộc ít người trong nền văn hoá Việt Nam, nhưng công tác sưu tầm, nghiên cứu lời hát Quan Lang vẫn còn hạn chế

Năm 1995, trong cuốn “Tục cưới xin của người Tày” [1], Triều Ân -

Hoàng Quyết đã giới thiệu về tục cưới xin và lễ cưới của người Tày; thơ

Quan Lang, Pả Mẻ được sưu tầm ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, Tuyên Quang, Yên Bái, Hà Giang; phương hướng bảo tồn, kế thừa, phát triển hát Quan Lang

Trong cuốn “Văn hóa truyền thống Tày - Nùng” [37], in năm 1996, Nhà

xuất bản Văn hóa Dân tộc cũng dành một chương giới thiệu hát đám cưới Tày

- Nùng Cả hai cuốn sách nói trên là nguồn tư liệu cần thiết cho người viết đề tài này

Năm 2001, trong cuốn “Thì thầm dân ca nghi lễ” [17], Vi Hồng đã đề

cập đến sự chuyển hóa của một số hình tượng chính qua ba tiểu loại chính của

Trang 5

Sli, Lượn: Lượn Quan Lang; Sli, Lượn lề lối và điệu lượn Phong Slư và một

số yếu tố nghệ thuật tạo ra phong cách riêng của Sli và Lượn nói chung “Đó

là phong cách hài hòa giữa lý trí và tình cảm, giữa cảm xúc thi ca hồn nhiên

và sự thông minh linh hoạt về trí tuệ”

Năm 2002, Hoàng Thị Cành với đề tài nghiên cứu “Phong tục hôn nhân

người Tày Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng” [6] cũng đã giới thiệu khá toàn diện

về phong tục hôn nhân của người Tày Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng và văn bản

thơ Quan Lang được ghi chép, sưu tầm bằng chữ Nôm, phiên âm Tày và dịch

ra tiếng Việt

Cũng trong thời gian này, ở Trường đại học sư phạm Thái Nguyên có

một đề tài nghiên cứu khoa học cũng đã bước đầu nghiên cứu về thơ Quan

lang ở xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Năm 2004, Lộc Bích Kiệm với luận văn “Đặc điểm dân ca Tày - Nùng

xứ Lạng” [21] đã xác lập được những đặc điểm căn bản của dân ca đám cưới

Tày - Nùng trên các phương diện: diễn xướng, nội dung, thi pháp Đặc biệt

người viết đi sâu vào phần thi pháp để thấy được sự độc đáo của bộ phận dân

ca này

Trong sách “Thơ Quan lang” [49] xuất bản năm 2008, Nguyễn Thiện Tứ

đã giới thiệu trình tự những lời thơ Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng, song

chưa nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc nội dung và hình thức nghệ thuật

của văn bản ngôn từ

Hát Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng hiện nay vẫn chưa được khai

thác, nghiên cứu một cách triệt để trong một công trình khoa học nào

Hiện nay, hát Quan lang vẫn còn tồn tại trong đời sống văn hoá tinh thần

của người Tày ở Việt Bắc nói chung và ở Thạch An - Cao Bằng nói riêng Nó

trở thành một nhu cầu sinh hoạt văn hoá của đồng bào dân tộc vào dịp đám

cưới Hát Quan lang vẫn tiếp tục được các thế hệ người Tày ở nhiều địa

phương tiếp thu, sáng tạo và bổ sung Vì thế, Hát Quan lang ở mỗi địa phương có sắc thái riêng, nên vấn đề nghiên cứu hát Quan lang ở mỗi địa phương, chính là đi khám phá sự đa dạng phong phú của hát Quan lang Những bài viết và những công trình nghiên cứu ở trên là tiền đề gợi mở giúp cho chúng tôi thực hiện đề tài này

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tế liên quan đến đề tài

- Khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích và lý giải những vấn đề liên quan đến hát Quan lang chủ yếu từ góc độ Văn học dân gian

- Trong điều kiện có thể chúng tôi đi điền dã và sưu tầm thêm được một

số lời hát Quan lang ở Thạch An – Cao Bằng chưa được xuất bản

4 PHẠM VI ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.1 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Đề tài chú trọng vào phần lời hát Quan lang, tuy nhiên có chú ý đặt yếu tố ngôn từ trong đặc trưng nguyên hợp của văn học dân gian, nghĩa là yếu tố ngôn từ được đặt trong môi trường và nghệ thuật diễn xướng

Trang 6

- Phạm vi tư liệu nghiên cứu, khảo sát: Nguyễn Thiện Tứ, sưu tầm,dịch

(2008), Thơ Quan Lang, Nxb Văn hóa dân tộc, H và những lời hát Quan lang

đã sưu tầm thêm được trong quá trình đi điền dã

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là lời hát Quan lang ở Thạch An – Cao Bằng

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Trên bình diện phương pháp luận là tiếp cận chủ yếu theo quan điểm

nghiên cứu ngữ văn (hay ngữ văn học), tức là dựa vào thành tố ngôn từ (lời

hát Quan lang) để phân tích

- Tuy nhiên, hát Quan lang là một sinh văn hóa cộng đồng hiện vẫn còn

tồn tại trong đời sống văn hóa của người Tày ở Thạch An - Cao Bằng Vì vậy,

việc nghiên cứu hát Quan lang là nghiên cứu một hiện tượng văn hóa dân gian

đang tồn tại và phát triển trong môi trường văn hóa Cho nên, nghiên cứu hát

Quan lang không phải chỉ là nghiên cứu văn bản đã được sưu tầm mà còn

phải đặt văn bản trong môi trường diễn xướng của nó Thực hiện đề tài này,

chúng tôi sử dụng các phương pháp cụ thể:

+ Phương pháp điều tra điền dã

+ Phương pháp khảo sát thống kê

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

- Hệ thống hóa những vấn đề đã được nhiều người nghiên cứu

- Làm sâu sắc hơn một số vấn đề mà người nghiên cứu trước mới bắt đầu

tìm hiểu

- Góp phần tìm hiểu những truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Tày

qua lời hát Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng

Trang 7

NỘI DUNG Chương 1:

HÁT QUAN LANG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA

NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN - CAO BẰNG

1.1 Vài nét về cộng đồng người Tày

1.1.1 Cộng đồng người Tày Cao Bằng

Cao Bằng là một tỉnh biên giới phía Bắc của Tổ quốc nơi cư trú của

nhiều dân tộc: Tày, Nùng, Mông, Dao nhưng số lượng lớn hơn cả là người

Tày, chiếm khoảng 43% dân số toàn tỉnh “Người Tày là dân cư bản địa giữ vị

trí quan trọng trong lích sử cổ đại, trung đại và hiện đại ở vùng biên giới

phía Bắc nước ta Người Tày là những cư dân sớm có mặt trong thành phần

cư dân nước Văn Lang xa xưa và là một trong những dân cư sáng lập nên

nhà nước Âu Lạc” [53, tr 84]

Người Tày ở Cao Bằng được hình thành từ ba nhánh :

- Nhánh người Tày gốc còn gọi là thổ, có nghĩa là thổ dân, là chủ nhân

của địa phương từ lâu đời, nhánh này là con cháu lâu đời của người Tày cổ

Hát Quan lang là sản phẩm văn hoá của nhánh Tày này

- Nhánh người Ngạn: Có nguồn gốc ở Quý Châu, Trung Quốc Theo “Sơ

khảo lịch sử Cao Bằng”, trong các cuộc giao tranh giữa các tộc người, người

Ngạn đã dạt sang Cao Bằng sinh sống, sát nhập vào cư dân địa phương trở

thành người Tày

- Nhánh người Kinh hoá Tày là con cháu các viên quan và binh lính

người kinh dưới xuôi lên cai quản bảo vệ biên giới, họ lấy vợ người Tày, con

cháu họ lập nghiệp ở địa phương lâu dần chuyển thành người Tày, Kinh dưới

xuôi lên đồng hoá với người Tày nhiều nhất là khi nhà Mạc lên lập Vương

triều ở Cao Bằng (1594-1677)

1.1.2 Cộng đồng người Tày Thạch An - Cao Bằng

1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Thạch An

Huyện Thạch An nằm ở phía Đông nam tỉnh Cao Bằng cách trung tâm

thị xã Cao Bằng về hướng Nam theo đường số 4, có toạ độ địa lý:

Từ 22021’,22’’ đến 22036’16’’ vĩ Bắc (Từ bản Nà Vài, xã Trọng Con đến bản Pác Pẻn, xã Canh Tân)

Từ 106005’40’’ đến 106034’02’’ Kinh Đông (từ Nà Pùng, xã Quang Trọng đến Bản Mới, xã Đức Long)

Phía Nam giáp huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn Phía Bắc giáp huyện Hoà An Phía Tây giáp huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Cạn Phía Đông giáp huyện Long Châu tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc Huyện Thạch An hiện nay được chia thành 16 đơn vị hành chính cấp xã: Kim Đồng, Thái Cường, Vân Trình,

Lê Lai, Thị Ngân, Thụy Hùng, Đức Long, Danh Sỹ, Thượng Pha, Đức Xuân,

Lê Lợi, Trọng Con, Đức Thông, Canh Tân, Minh Khai, Quang Trọng và Thị trấn Đông Khê

Tổng diện tích tự nhiên: 683,03 km2 tương đương 68303 ha Tổng dân

số hiện nay của huyện Thạch An là 31.777 người (số liệu điều tra tháng 4 năm 2009) gồm 6 dân tộc chính cùng chung sống là dân tộc: Tày (43,5%), Nùng (39%), Mông (0,9%), Dao (13,6%), Kinh (2,6%), Hoa (0,12%) Ngoài ra còn một số ít người dân tộc sống đan xen: Ngài, Chăm, Sán Chỉ, Ê Đê [51, tr 815-816]

Địa hình có dạng hình cánh cung, xen giữa các cánh cung là những dải trũng rộng và những dòng sông, dòng suối là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Địa hình đồi thấp, thoải hay lượn đều có khả năng trồng trọt hoặc chăn nuôi lớn Khí hậu chia làm bốn mùa rõ rệt nên canh tác trồng trọt theo mùa Giới động thực vật phong phú nhiều chủng loại

Trang 8

Từ xa xưa, tộc người Tày chủ yếu sống dựa vào trồng trọt và cày cấy

mùa màng Là những cư dân với kinh nghiệm trồng trọt lâu đời, đồng bào Tày

đã biết khai thác các thung lũng, đồi núi nơi sinh sống thành những cánh

đồng, những thềm ruộng bậc thang, những vườn cây ăn trái màu mỡ xanh tốt

Với địa bàn cư trú chủ yếu là ở các thung lũng nhiều đồng ruộng nên người

Tày ít làm nương

Cơ cấu kinh tế hiện nay của Thạch An chủ yếu là kinh tế nhiều thành

phần nông lâm kết hợp, chăn nuôi, kinh doanh thương nghiệp và dịch vụ

Tiềm năng khai thác chủ yếu vẫn là sản phẩm nông nghiệp, sản xuất phụ

thuộc nhiều vào thiên nhiên, do đó tốc độ tăng trưởng của ngành các cây rau

màu khác, mức tăng trưởng bình quân hàng năm từ 3 - 6% đời sống của nhân

dân dần dần được ổn định

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, môi trường tự nhiên cũng

gây ra không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống con người Chế độ mưa

theo mùa và mưa nhiều dẫn đến tình trạng mưa lớn gây ra quá trình rửa trôi

xói mòn đất và lũ lụt

Về mùa đông, Thạch An cũng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc,

các hiện tượng thời tiết như sương muối, băng giá đều gây ảnh hưởng xấu đến

sản xuất và đời sống con người, nhất là ở thời xa xưa khi cuộc sống của cư

dân Tày còn lạc hậu, thiếu thốn

Phải chăng hình thức hát Quan lang ra đời và tồn tại là để đáp ứng nhu

cầu thưởng thức văn nghệ và gửi gắm những khát vọng tinh thần của họ

1.1.2.2 Xã hội – Văn hoá

* Về xã hội:

Thạch An là huyện có nhiều dân tộc anh em đang định cư và sinh sống,

trong đó đông nhất là dân tộc Tày, Nùng, Dao, còn lại là các dân tộc anh em

khác Dân tộc Tày sống thành từng làng, bản có từ 40 - 60 gia đình trở lên

sống đoàn kết quy tụ với nhau Nhiều gia đình rất đông, có tới 4 - 5 thế hệ, song phổ biến là 2 - 3 thế hệ trong một mái nhà Hầu hết các gia đình người Tày đều được xây dựng theo thể chế và tục lệ hôn nhân một vợ một chồng, mang tính phụ hệ Trong gia đình, vai trò người đàn ông được khẳng định và được tôn trọng hơn so với đàn bà Hai chữ “Phua – Mìa” và “ Pỏ - Mẻ” (có nghĩa là chồng vợ và cha mẹ) tồn tại nhiều đời nay trong kho từ vựng cơ bản của người Tày, là dấu ấn rõ nét về hiện tượng trên trong các gia đình Tày

Theo các nhà nghiên cứu “Đây không phải là trật tự hình thức của từ, mà ẩn

dấu bên trong một ý nghĩa xã hội âm vang một thời xác nhận vai trò người chồng - người cha trong gia đình người Tày, người Nùng.” [44, tr 2]

Tuy nhiên, nếu đi sâu tìm hiểu mối quan hệ gia đình của người Tày,

chúng ta không thể phủ nhận “ở đó bao trùm một tinh thần tương thân tương

ái, bình đẳng, dân chủ nội bộ khá sâu sắc giữa Chồng và Vợ, giữa Nam và

Nữ Người Tày ( ) trân trọng, yêu quý người đàn bà, người mẹ, người vợ và con gái Vì lẽ, họ hiểu sâu sa rằng, người đàn bà đảm nhận vai trò vô cùng quan trọng trong lao động sản xuất, quản lý kinh tế gia đình, và lớn lao hơn

cả là trong sinh nở con cái, nuôi dưỡng chúng trưởng thành.” [44, tr 25]

* Về văn hoá:

Nhà người Tày, thường là nhà sàn cao ráo, thoáng mát Người Tày có tập quán cấy lúa nước trên những mảnh ruộng được khai phá dọc các con sông, suối, khe, lạch, sản xuất mang tính định canh, định cư lâu dài, sản phẩm chính là: lúa, ngô và một số hoa màu khác

Sinh sống bên cạnh người Nùng và các dân tộc khác, người Tày luôn có

ý thức cộng đồng, quan hệ gắn bó hoà hợp cả về đời sống vật chất và tinh thần Cộng đồng các dân tộc Thạch An với những truyền thống bản sắc văn hoá riêng đã hình thành nên một vùng văn hoá rất đa dạng và phong phú, có nhiều nét độc đáo và giàu bản sắc dân tộc Sự giàu có, đa dạng của kho tàng

Trang 9

văn hoá nghệ thuật dân gian về cơ bản vễ được bảo tồn và lưu truyền cho đến

ngày nay Những nét độc đáo trong nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc

trong huyện, được thể hiện qua các truyện cổ tích, thần thoại, ca dao, tục ngữ,

câu đối, hát lượn Những làn điệu dân ca trữ tình của dân tộc Tày, Nùng

cũng rất phong phú và đa dạng :

“Sli - Lượn” là hai từ mà người Nùng và người Tày dùng để chỉ hầu hết

toàn bộ nền dân ca của mình” [22]

Sli là của người Nùng Sli có nghĩa là thơ Điệu Sli - hát Sli nghĩa là hát

thơ Người xưa làm thơ để hát và để hát nên làm thơ Người Nùng dùng từ Sli

để chỉ hầu hết nền dân ca của họ Sli là những bài văn vần, mỗi câu 7 chữ,

mỗi bài có từ 4 đến 8 câu hoặc dài tới hàng trăm câu Sli là tiếng hát trữ tình

của đồng bào Nùng, được sử dụng phổ biến vào những ngày hội, khi vui chơi,

lúc khách vào bản… Người Nùng ai cũng biết Sli bởi đây là tiếng hát giao

duyên, tiếng lòng tiếng gọi tình yêu của họ Sli được cất lên tự nhiên xoáy vào

lòng người Hát Sli là hát đối đáp nên tham gia vào cuộc Sli bao gồm ít nhất 2

người hoặc đông người (2 đám người), thường là một bên nam và một bên nữ

Sli được ứng tác ngay tại chỗ nhưng phải đảm bảo sự ăn khớp, cô đọng, hàm

súc Người hát Sli vừa có thể sử dụng vốn hát truyền thống của dân tộc vừa có

thể tự ứng tác theo cách riêng của mình Những bài ứng tác hay được giữ lại

làm phong phú thêm cho kho tàng hát Sli của dân tộc mình

Điệu hát Lượn, theo tác giả Vi Hồng, Lượn là luận, là lặp lại, là luyến, là

ru… Người Tày dùng từ “lượn” để chỉ hầu hết nền dân ca của họ Lượn

phong phú cả về nội dung và thể loại Lượn có giai điệu vang xa tha thiết, lay

động lòng người, gợi cảm giác bâng khuâng thương nhớ Người Tày coi lượn

như một nhu cầu tinh thần không thể thiếu trong đời sống của họ

“ Khắp các làng bản của người Tày, Nùng không mấy khi vắng tiếng hát,

tiếng Sli, tiếng Lượn Chỉ trừ giấc ngủ và bữa ăn của họ, Sli, lượn vang lên từ

mọi nhà, khắp bản mường, ngoài đồng, trên rẫy, ra chợ… Không chỉ có thanh niên nam nữ mà người già, trẻ em đều Sli, Lượn, thích nghe Sli, Lượn.” [15]

Quả thực đã có một thời, tiếng Lượn ngập tràn làng bản, đồi núi và hoà vào tận tâm hồn, huyết mạch đồng bào:

- Nửa đêm Nàng ới cháy lòng Khiến em dừng đường kim dừng vá Khiến anh vở giữa trang ngừng đọc

- Tiếng Then thành tiếng then phơi phới Tiếng Cọi thành tiếng cọi thiết tha

- Ra chợ được nghe tiếng Hà lều Bát phở không cần mỡ cũng ngon

Phong Slư là những bức thư tình, một thể thơ hết sức đặc sắc của trai gái Tày Những bức thư này được viết bằng chữ Nôm Tày trên nền vải Sla đỏ Ngày xưa con trai con gái Tày ít được học chữ, không biết chữ bởi thế thường

đến nhờ một người khác gọi là Slấy cá viết thư hộ Slấy cá là một trí thức bình dân sống trong cộng đồng Tày Phong Slư do Slấy cá viết ghi lại những tâm

tình thầm kín của trai gái Tày với giai điệu rất tha thiết Vì vậy, những bức thư đó trở thành một loại dân ca mang tính cộng đồng Tình yêu của nam nữ trong Phong Slư thường là tình yêu trong xa cách, gặp trắc trở, tan vỡ Bởi vậy, tiếng hát giai điệu Phong Slư thường buồn da diết Tuy nhiên không bi lụy, kêu than mà khuyên nhau vươn tới những ước mơ lãng mạn, nhân văn

Phuối pác còn gọi là phuối rọi, là những lời nói có vần có điệu của nam

nữ Tày hằng ngày Đây là lối nói tự do, sáng tạo thường được diễn ra khi gặp nhau trên đường, ra chợ, đi hội… Nó cũng là một hình thức biểu hiện tình cảm, nó là những lời ướm hỏi, trêu ghẹo tình tứ thể hiện những sắc thái tình cảm tình yêu Trong quá trình diễn xướng, trong sự lặp lại nhiều lần của tình

Trang 10

huống, lời nói tự nhiên đó được gọt giũa cao trở thành cô đọng, bóng bẩy,

giàu chất thơ, mang tính xã giao lịch sự

Sẽ khó có thể kể hết được các loại dân ca Tày - Nùng, nó phong phú và

muôn hình muôn vẻ Tất cả hợp lại thành một kho tàng dân ca Tày - Nùng đồ

sộ và giàu bản sắc Trong vốn cổ văn hóa quý báu đó có một bộ phận là dân

ca đám cưới Tày – Nùng (Hát Quan lang) Hát Quan lang là bộ phận dân ca

vừa có chức năng nghi lễ vừa bao hàm cả thành phần giao duyên, vừa theo

hình thức Lượn vừa theo hình thức Sli và cả Phuối Pác nữa [21, tr 20-21]

Hằng năm, đồng bào các dân tộc ở Thạch An tổ chức những ngày hội lớn

như lễ hội Nàng Hai (Nàng Trăng) vào ngày 2/2 âm lịch, tổ chức biểu diễn

văn nghệ, các hoạt động thể thao như võ cổ truyền, cờ tướng, tung còn tạo

không khí thân tình, đầm ấm gắn bó giữa các dân tộc Trong ngày hội, đồng

bào nơi đây ăn mặc theo trang phục truyền thống của dân tộc mình

Trang phục nam giới người Tày cũng như nhiều dân tộc miền núi khác

gồm áo cánh ngắn (slửa cỏm) là trang phục mặc thường ngày của nam giới,

áo dài năm thân bằng vải chàm hay vải lụa đen, gấu áo phủ quá đầu gối, áo

cài cúc bên ngực trái, loại áo dài này mang tính nghi lễ chỉ mặc trong dịp lễ

tết, hội hè loại áo này có nguồn gốc từ các tộc người vùng Đông Á, quần

(khoá) khăn đội đầu (khân) được may bằng vải sợi bông hay sợi tơ tằm và tất cả

đều được nhuộm màu chàm

Bộ nữ phục Tày gồm: áo cánh ngắn, áo dài, váy quần, thắt lưng, khăn

đội đầu, giày vải, và các đồ trang sức khác như nón, ô, vòng cổ, vòng tay, dây

xà tích, túi thổ cẩm về phương diện loại hình, hai loại áo của nữ giới Tày là

áo cánh ngắn và áo dài 5 thân không khác gì mấy so với hai loại áo của nam

giới như đã trình bày áo ngắn may từ vải bông nhuộm chàm hay để trắng, xẻ

tà áo dài dài của phụ nữ may vừa vặn cơ thể hơn: hơi nhấn thêm eo, ống tay

cũng nhỏ để sao cho tôn những đường nét của cơ thể phụ nữ, cài khuy bên nách phải như áo dài của người Kinh

Màu sắc của áo dài Tày là màu vải chàm sậm đen ánh sắc hay màu tím, hồng Xưa kia cũng như hiện nay, một số phụ nữ Tày dùng vải lụa hay nhưng đen để may áo dài, càng tôn thêm vẻ đẹp duyên dáng của phụ nữ

Cùng màu sắc với xống áo là chiếc thắt lưng: thắt lưng không phải cắt khâu từ bất cứ mảnh vải nào, mà đã được phụ nữ Tày dệt nguyên bằng sợi bông hay bằng tơ tằm nhuộm chàm phụ nữ Tày thắt lưng ra ngoài áo dài, để xoã mối ra phía sau [56, tr 66-67]

Người Tày giao tiếp chủ yếu bằng ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tày – Thái Đây là nhóm ngôn ngữ rất gần với tiếng Việt về hệ thống ngữ pháp và thanh

âm Tuy nhiên, chỉ những từ ngữ về thiên nhiên, về sự vật hiện tượng trong sinh hoạt giao tiếp mới là của người Tày, số còn lại thường vay mượn của tiếng Việt, tiếng Hán hoặc từ Hán Việt

Về chữ viết: Người Tày không có chữ viết riêng nên lịch sử thành văn của dân tộc Tày rất ít ỏi và gần như không có Có thể chia lịch sử chữ viết của tộc người Tày ra thành ba giai đoạn:

- Giai đoạn cổ đại: Không có chữ viết , chủ yếu giao tiếp bằng phương thức truyền miệng

- Giai đoạn trung đại: Có chữ Nôm Tày Chữ Nôm Tày là thứ chữ phỏng theo chữ Hán của người Trung Quốc mà đặt ra Theo nhiều nhà nghiên cứu, nhìn từ góc độ văn tự, thứ chữ này cũng có một vài nét khác với chữ Nôm

Việt Theo học giả Nguyễn Văn Huyên “chữ Nôm Tày do ảnh hưởng chữ

Nôm Việt mà ra và có cấu tạo tương tự chữ Nôm Việt”

Chữ Nôm Việt xuất hiện ở khoảng thế kỷ XIII đến XV Đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII khi Mạc Kính Cung chuyển vương triều lên Cao Bằng

Trang 11

đã để lại dấu ấn về chữ Nôm Tày Do đó, có thể khẳng định chữ Nôm Tày ra

đời không muộn hơn chữ Nôm Việt thế kỷ XVI

- Giai đoạn hiện đại: Vừa dùng chữ Nôm vừa dùng chữ Latinh Do vốn

từ tiếng Tày còn nghèo nàn trong các hoạt động hành chính, cũng như các

ngành khoa học, thêm nữa do phải sử dụng vốn từ Hán hoặc Nôm khiến cho

việc sử dụng chữ viết cũng như ngôn ngữ Tày gặp rất nhiều khó khăn Năm

1954, lớp trí thức mới đã tự sáng tạo ra chữ Latinh Tày nhưng không được

phổ biến Năm 1960, nhà nước đã giúp dân tộc Tày xây dựng hệ thống chữ

viết mới theo lối chữ Quốc ngữ bằng chữ cái Latinh điều này thể hiện rõ sự

quan tâm và chủ trương của nhà nước trong việc gắn kết tính cộng đồng 54

dân tộc Trong văn kiện Đại hội Đảng bộ toàn quốc cũng ghi rõ: “Sự phát

triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố phát triển của cộng

đồng các dân tộc trên đất nước ta.” [48, tr.15]

1.2 Một số vấn đề chung về hát Quan lang

1.2.1 Khái niệm hát Quan lang

Trong kho tàng văn nghệ cổ truyền các dân tộc Việt Bắc, “Hát Quan

lang” (Hát đám cưới) là loại hình nghệ thuật có từ lâu đời của dân tộc ở huyện

Thạch An nói riêng và ở Cao Bằng nói chung, được quần chúng nhân dân ưu

thích, hát Quan lang khác với các loại hình dân ca khác như Phong Slư, Sli,

Lượn, Then nó cũng có tính chất sinh hoạt văn nghệ quần chúng, nhưng mặt

khác nó cũng là loại hình sinh hoạt theo phong tục nghi lễ cưới xin của người

Tày Cho đến nay nhiều người vẫn chưa định nghĩa được rõ ràng về loại hình

nghệ thuật này Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng tất cả các cách giải

thích đều đi đến khái niệm chung gần thống nhất về “Hát Quan lang” như sau:

Một là: Thơ Quan lang là loại thơ hôn lễ của dân tộc Tày Theo nghĩa cổ

“Quan” là người con trai đã lớn tuổi mà chưa có vợ “Lang” là con rể Nhưng

Quan lang ở đây lại chỉ nhiệm vụ dẫn chàng rể đi đón dâu, Quan lang thường chỉ người có trách nhiệm chính trong đoàn người đưa chàng rể đến nhà gái Người này thường được gọi là ông Quan Lang Đi đến nhà gái, ông Quan lang thường phải ngâm các bài thơ làm mọi nghi thức của việc hôn nhân, nên các bài thơ này được gọi là thơ Quan lang [37, tr 76]

Hai là: Hát Quan lang là hát trong đám cưới, cuộc vui của đám cưới có

say sưa, tưng bừng hay không là nhờ ở tài thơ ca và giọng hát của ông Quan lang Có lẽ chính vì thế mà người ta thường gọi dân ca này là hát Quan lang

và cũng có người gọi là “dân ca đám cưới” hay “thơ lẩu” (thơ đám cưới ),

“lượn lẩu” (lượn rượu, Lượn đám cưới ) [14, tr 203]

Ba là: Thơ vấn đáp hát khi cưới còn gọi là thơ “Quan lang” “Pả Mẻ”

vì người diễn xướng chủ yếu là các vị đại diện cho hai đoàn nhà trai (rể) nhà gái (dâu) hát khi đón dâu, đưa dâu, đó là Quan lang (đàn ông) Pả mẻ (đàn bà) [6, tr 42]

Bốn là: Thơ Quan lang là loại thơ dân gian truyền miệng của đồng bào

Tày được thể hiện qua lối hát đối đáp trong khi xin dâu và đưa dâu giữa hai bên: Quan lang (đại diện nhà trai) và Pả mẻ slống lùa (đại diện nhà gái)

“Quan lang” là cách phát âm theo phương ngữ Tày vùng Cao Bằng, còn nhiều vùng Tày khác có cách phát âm là “Quan làng” Thời gian diễn ra thơ Quan lang được tính từ khi nhà trai bước chân đến cổng làng nhà gái [49, tr 5] Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu và qua khảo sát thực tế, chúng tôi thấy có thể hiểu về hát Quan lang như sau:

Hát Quan lang là hệ thống các bài ca được sử dụng trong đám cưới của người Tày Hệ thống những bài ca này có thể kéo dài tới hàng ngàn câu, hàng trăm bài, chia thành các phần cụ thể Trong đó các phần mục tương ứng với từng hành động - lễ thức cụ thể trong đám cưới (Nói cách khác nó là một thể

Trang 12

tài riêng dân ca nghi lễ đám cưới) Quan lang (đại diện nhà trai) là người có

vai trò chính nên hát Quan lang bắt nguồn từ tên nhân vật này Nội dung

chính của các bài hát này là cách chỉ bảo, răn dạy, lối ứng xử tinh tế, tao nhã

của con người trong đời sống Trong đám cưới, lời hát thay cho lời chào xã

giao, lịch sự và thể hiện tình cảm trân trọng nhau

Chúng tôi thấy cần phân biệt hai khái niệm “Quan lang” và “Quan làng”

Theo nhân dân và các cụ ở Thạch An và Cao Bằng thì từ “Quan làng” chỉ

dùng để gọi ông chủ đám ma “Quan làng” là một người đàn ông đứng tuổi,

có uy tín trong vùng Quan làng có nhiệm vụ giúp gia chủ “sai khiến” các con

cháu trong bản làng tổ chức đám ma cho thật tốt, nhằm đảm bảo hồn người

chết “đi đến nơi về đến chốn” một cách êm đẹp! Vì vậy ở Cao Bằng có sự

phân biệt khá rõ hai từ “Quan lang” và “Quan làng”

Lâu nay có những bài viết thường gọi ông “Chủ hôn” ngày xưa là

“Quan làng” đây là một sự nhầm lẫn khá cơ bản, nhiệm vụ ông Quan lang

giao thiệp bằng những lời dịu dàng làm ấm bụng họ hàng cô dâu, để họ đồng

ý cho rước dâu Ông Quan lang không có quyền tối cao quyết định mọi việc

trong cuộc hôn lễ Về thực chất ông chỉ là “Nhà ngoại giao” là “cây văn

nghệ” của nhà trai - văn nghệ cũng là để thực hiện nhiệm vụ ngoại giao với

mục đích đón được cô dâu về nhà chồng [13, tr 50-51]

Hát Quan lang có cách gọi khác nhau nhưng tựu chung đó là những bài

hát dành riêng cho đám cưới, chỉ cất lên trong đám cưới, chủ yếu là người

Quan lang (đại diện cho nhà trai) hát đối với người Pả mẻ (đại diện cho nhà

gái) nên người ta gọi là hát Quan lang Đây là điểm khác với những bài ca

xuất hiện ở chợ phiên, trên những con đường vào bản, nương rẫy hoặc trong

lễ hội Những bài hát Quan lang mang chức năng trao đổi tình cảm, lại diễn

xướng theo nghi lễ truyền thống nên nó cũng không nằm ngoài nhu cầu về tinh thần, trí tuệ, thẩm mỹ của người Tày [21]

1.2.2 Nguồn gốc của hát Quan lang

Thơ Quan lang là một loại dân ca trữ tình của dân tộc Tày được lưu truyền lâu đời trong dân gian Những bài thơ vấn đáp hát khi cưới lưu truyền qua nhiều nơi, nhiều thế hệ đã dân gian hoá, đến nay cũng khó nhận bài nào

có tác giả, bài nào của dân gian lưu truyền, bổ sung, sửa chữa

Tương truyền những bài thơ vấn đáp hát khi cưới, được một thầy dạy học giỏi tên là Lê Thế Khanh ghi chép lại bằng chữ Nôm biên soạn bổ sung truyền cho các đời sau, đến ngày nay Lê Thế Khanh người Tày ở Thạch Lâm - Cao Bằng, khi còn trẻ đã từng về học ở Kinh đô Giao Châu (đất nước ta lúc đó) là Long Biên (nay thuộc Bắc Ninh) Ông mở trường dạy chữ Hán ở nhiều nơi, học trò đến học rất đông, có ảnh hưởng lớn đến mở mang dân trí, nâng cao đời sống văn hoá Ông còn dạy cả lễ nghi ma chay, cưới xin, dạy làm thơ bảy chữ vốn có của dân tộc

Trong cuốn “Thực lục Cao Bằng” Bế Văn Cung là Đốc trấn tỉnh Cao

Bằng năm 1978 cũng đã ghi tổng hợp đầy đủ về lời hát Quan lang Nhưng hiện nay, chúng ta chưa thể biết chính xác hát Quan lang xuất hiện vào thời kỳ nào Nhưng qua nội dung và hình thức của các bài thơ, chúng

ta có thể phỏng đoán, thơ Quan lang bắt nguồn từ một loại dân ca trữ tình của dân tộc Tày, và chỉ có thể xuất hiện vào thời kỳ chế độ kinh tế cá thể đã phát triển khá cao và chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã thịnh hành trong xã hội Ở thời kỳ này, địa bàn hôn nhân của nam nữ thanh niên cùng một dân tộc

đã được mở rộng, tức là một thanh niên nam ở địa phương này có thể xin cưới một cô gái ở địa phương khác về làm vợ Tất nhiên việc cưới xin này chủ yếu

là do cha mẹ và họ hàng hai bên thoả thuận, xếp đặt Tương truyền thơ Quan

Trang 13

lang ở Thạch An - Cao Bằng gồm có 56 bài nhưng hiện nay rất ít nghệ nhân

còn biết trọn vẹn về nó

1.2.3 Hát Quan lang trong đời sống tinh thần của người Tày ở Thạch An -

Cao Bằng

Hát Quan lang là một loại dân ca trữ tình của dân tộc Tày, cho đến nay

loại “Dân ca đám cưới” này vẫn được lưu truyền ở hầu hết các xã trong huyện

Thạch An nói riêng và tỉnh Cao Bằng nói chung Trước đây, ở khắp các làng

bản người Tày sinh sống không có đám cưới nào là thiếu được thơ Quan lang,

không có loại văn hoá đám cưới nào có thể lay chuyển và thay thế được thơ

Quan lang Trong lễ cưới của người Tày nơi đây, thật không sao nói hết nỗi

vui mừng của họ khi được nghe hát những bài “thơ Quan lang” (thơ lẩu)

Xưa kia, khi đến dự một đám cưới, câu đầu tiên của khách hỏi chủ là: có

“Thơ lẩu” không? Nếu không có “Thơ lẩu” thì rượu sẽ nhạt lắm! Ngày cưới là

ngày vui mừng nhất trong một đời người, cho nên cần phải có lời ca tiếng hát,

cần có “Thơ Lẩu” Đám cưới dù đang ồn ào đến đâu, hễ tiếng hát “thơ Lẩu”

cất lên, thì mọi người đều say sưa lắng nghe Nhất là họ nhà trai thường đến

nhà gái vào buổi chạng vạng tối, sau khi khách khứa đã ăn cơm chiều Mọi

người lúc đó đã tương đối rỗi rãi, chỉ chờ họ nhà trai đến Bởi vậy, vừa nghe

tiếng “Pả mẻ” hoặc phù dâu chất vấn nhà trai ngoài cổng mọi người đã ùa cả

ra, vây kín lấy đoàn người đang hát đối đáp nhau Đối với dân tộc Tày “Thơ

Lẩu” là một hình thức sinh hoạt văn nghệ quần chúng đặc sắc và rộng rãi

trong đám cưới: các bài hát ấy quả là chất “muối”, chất “thơ” của đám cưới,

đám cưới nào không có thì thật “nhạt” và buồn [2 tr 7]

Có thể nói, hát Quan lang đã in sâu vào đời sống sinh hoạt của người

dân Thơ Quan lang thuộc loại văn vần nên tất cả mọi người từ cụ già cho đến

em nhỏ đều có thể đọc thuộc lòng vanh vách

Người ta mê hát Quan lang vì nhiều lẽ, nhưng trước hết là ở sự hiểu biết, văn minh, trang trọng, lịch sự và đặc biệt là tài đối đáp thơ của ông Quan lang hay bà Pả mẻ Hơn nữa, hát Quan lang phù hợp với phong tục tập quán và nhu cầu thưởng thức văn nghệ của người dân miền núi Cuộc sống với những lo toan vất vả, thiếu thốn thông tin từ những phương tiện hiện đại, nên đám cưới

là ngày vui sướng nhất đời của đôi cô dâu chú rể và cũng là ngày vui mừng của họ hàng, dân bản, của hai họ nhà trai và nhà gái, là dịp để mọi người có thể xem, nghe và trổ tài văn nghệ của mình, đây là lúc mọi người được thư giãn vui vẻ nhất Theo phong tục tập quán của người Tày xưa trong lễ cưới, đồng bào thể hiện lòng vui mừng phấn khởi bằng những bài hát Ngay cả việc thực hiện những nghi lễ trang trọng, người ta cũng đem lời ca tiếng hát thay thế cho những câu đối thoại giữa hai họ Thông qua đó, hát Quan lang gắn kết mối quan hệ cộng đồng, làng bản dòng họ đôi lứa Nhiều thuần phong mĩ tục của dân tộc được phát huy và đặc biệt là tính giáo dục lòng hiếu khách, sự khiêm tốn, tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ, lòng thành kính với tổ tiên, tình vợ chồng thuỷ chung …

Vì vậy, những bài Quan lang hát mừng đám cưới đã được đồng bào Tày tập hợp lại thành một kho tàng văn học lưu truyền mãi hết đời này sang đời khác

1.3 Nghi lễ đám cưới và trình tự một cuộc hát Quan lang ở Thạch An – Cao Bằng

Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, hát Quan lang được lưu truyền theo phương thức truyền miệng trong cộng đồng Tày ở nhiều địa phương khác nhau nên không tránh khỏi những dị bản Trong đó dung lượng

về số bài, về câu chữ… khác nhau song đều tuân thủ theo tiến trình nghi lễ của một đám cưới cổ truyền từ lúc đoàn nhà trai sang nhà gái cho đến lúc rước dâu về tới nhà

Trang 14

Trong đời sống sinh hoạt của đồng bào Tày ở Thạch An – Cao Bằng, hôn

lễ chiếm một vị trí quan trọng Nó liên quan trực tiếp đến đời sống vật chất và

tinh thần của mỗi con người trong cộng đồng Ở mỗi dân tộc, việc cưới xin

được tiến hành theo những nghi lễ, phong tục riêng Cũng như các phong tục

khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Tày ở Thạch An cũng rất

coi trọng hôn lễ, vì nó thể hiện ý thức trách nhiệm với tổ tiên giống nòi Có

thể nói, trước đây đám cưới của người Tày không chỉ là công việc riêng của

mỗi nhà mà còn được coi là công việc của cộng đồng, làng bản Vì thế mỗi

khi có đám cưới, làng bản lại rộn lên như ngày hội Người Tày trước đây tổ

chức đám cưới với đầy đủ các nghi thức như :

Bước một: Dạm hỏi là khi đôi nam nữ yêu nhau, nguyện xây dựng mái

ấm gia đình với nhau, báo cáo với gia đình bên nhà trai chủ động cho người

sang dạm ngõ (chạm ngõ), bỏ qua bước thăm dò Bên nhà trai nhờ người thân

thuộc trong họ mang theo một lít rượu, một kilôgam thịt lợn đến gia đình nhà

gái làm thủ tục dạm hỏi (đó là tục lệ đi hỏi vợ, ngược lại nếu đón rể về nhà thì

bên nhà gaí phải làm thủ tục đó) Đại diện nhà trai đặt vấn đề với cha mẹ cô

gái bằng những lời lẽ rất tế nhị, ví von, tôn trọng Nhà gái cũng đáp lại rất tôn

trọng, đại ý là: cha mẹ tuỳ theo ý con, con ưng thì cha mẹ cũng chiều, con

không ưng thì cha mẹ cũng không ép và nói câu ví “Vài bấu kin nhả, pjạ bấu

đé coóc” (Trâu không ăn cỏ, không lấy dao đè sừng ép ăn) Trước những năm

60 của thế kỷ xx, ngoài những đôi lứa tìm hiểu nhau có tình yêu đi đến hôn

nhân, thành vợ thành chồng thì tình trạng ép duyên, hay cha mẹ đặt đâu con

ngồi đấy còn rất phổ biến Tình trạng tảo hôn trước những năm 1970 vẫn xảy

ra Ngày nay vấn đề hôn nhân tự do đã được ý thức rõ ràng cho nên việc tự do

tìm hiểu và kết hôn đã trở thành phổ biến

Bước hai: Xin tám chữ “Slư mỉnh” là khi đó được sự nhất trí của hai gia

đình và hai họ, người được gia đình nhờ làm thủ tục dạm hỏi (gọi là người

bước đường) tiếp tục đi đến gia đình bên cô dâu hoặc chú rể để làm thủ tục

xin tám chữ “Slư mỉnh” (tức họ tên, ngày giờ sinh của đôi nhân duyên) về bên gia đình mình, để xem duyên số đôi nam nữ Thủ tục xin tám chữ “Slư

mỉnh” chỉ là ít tiền lệ phong bao giấy đỏ Thủ tục xem số hiện nay đã giảm

Bước ba: Ăn ghánh báo mệnh hợp là khi thủ tục sau khi đã xem duyên số

nếu không có gì trở ngại, nhà trai báo cáo cho gia đình nhà gái biết định ngày

ăn gánh báo mệnh hợp Gia đình nhà gái đi mời anh em họ hàng và láng giềng đến dự bữa cơm thân mật để cùng bàn thống nhất mọi lễ vật, thời gian làm lễ thành hôn… Lễ vật để tổ chức gồm xôi, hai đôi gà thiến, mười lít rượu, ăn gánh báo mệnh hợp trước đây tổ chức hai lần nay gộp làm một

Bước bốn: Ăn hỏi là khi những bước trước đó cơ bản xong, đến lễ ăn hỏi

vật lễ ăn hỏi do hai bên gia đình họ hàng bàn bạc thống nhất: tiền sắm đồ cưới

là bao nhiêu, bên nhà trai, nhà gái phải sắm thứ gì, ngày cưới nhà trai phải mang những thứ gì sang, số lượng là bao nhiêu rồi thưa lại cho nhà trai Riêng tiền mặt thì đưa ngay ngày hôn đó Ngày xưa, mỗi thứ đều tính một trăm gồm: Thịt lợn, gạo nửa nếp nửa tẻ, rượu hai chum Trước lễ cưới một ngày,

nhà trai đưa các lễ vật sang và có một người đại diện đi cùng gọi là “đệ đám”

(nộp lễ vật) Nhà gái nhận xong nếu còn thiếu thứ nào chưa đủ theo như đã thách cuới thì đến hôm sau nhà trai phải mang sang đủ

Ngày nay, thực hiện nếp sống văn hoá, các lễ vật kể trên đã giảm nhiều, không còn khắt khe về số lượng Một hình thức mới trong việc tổ chức cưới là nhà trai lo “giúp” nhà gái bằng tiền mặt rồi mỗi bên lo tổ chức riêng, không mang lễ vật sang nữa Đây là một nét mới vừa thuận tiện, vừa văn minh

Bước năm: Tổ chức cưới và các thủ tục khác nhà gái tổ chức vào buổi tối

hôm trước, nhà trai đón dâu vào ngày hôm sau, hoặc là tổ chức cùng một ngày, nhà gái tổ chức vào buổi sáng, nhà trai đón dâu vào buổi chiều Chú rể phải sang nhà gái trước, đoàn nhà trai đi đón dâu gồm có: Người đại diện thay

Trang 15

mặt gia đình gọi là “Quan lang”, chú rể, phù rể, một bà mối, hai cô thiếu nữ

để gánh đồ lễ Tổng số đoàn đón dâu bao giờ cũng là số chẵn, là tám, mười

hoặc mười hai người Người trong đoàn, cả già trẻ, đều có cuộc đời hạnh

phúc, êm đẹp, được xóm làng quý mến

Bước sáu: Trở lại nhà gái làm thủ tục trình rể, đón dâu Quan lang xướng

văn trình tổ tiên họ hàng, tổ chức mời nước, rượu, thuốc lá họ hàng và giới

thiệu quan hệ họ hàng anh em [51, tr 660]

Hiện nay, đám cưới dân tộc Tày được tổ chức giản dị nhưng trang trọng,

ngoài những người thân thích, họ hàng gần đến trước, dùng bữa cơm tiễn con

cháu ra cửa gọi là “oóc háp”, khách đến mừng chỉ dự một bữa cơm thân mật,

gửi tiền mừng cưới rồi ra về

Về trang phục: cô dâu, chú rể ngày trước mặc áo dài vải chàm Áo cô dâu

thắt lưng bằng vải màu đen hoặc chàm, bằng tấm vải xếp đôi rộng khoảng

mười phân thắt về phía sau buông xuống đến khoảng giữa ống quần hoặc

chấm gót Cô dâu vấn khăn, chú rể đội mũ hoặc khăn xếp Hiện nay phần lớn

cô dâu, phù dâu mặc áo dài, váy kiểu tân thời Chú rể mặc quần áo complê

Trong đoàn nhà trai, chọn người làm Quan lang là quan trọng Quan lang

phải biết mọi lễ nghi, phong tục lễ cưới của người Tày và hoạt bát để giải quyết

mọi tình huống trong công việc cưới xin, đặc biệt là phải biết “Lượn lẩu” Ông

Quan lang được coi như linh hồn của đám cưới Quan lang (nam), Pả mẻ (nữ)

là trưởng đoàn, phó đoàn cho gia đình hai họ đón dâu, đưa dâu vô cùng quan

trọng Các bước đi đứng, trình thưa của trưởng đoàn đại diện đều phải có thơ

Thơ đó có sẵn hoặc gặp tình huống cụ thể là phải ứng tác (Phuối rọi)

Khi sang nhà gái làm lễ đón dâu, Quan lang phải hát một số bài ứng xử

tình huống như: Nhà gái căng dây ngang đường, đặt một khay rượu trước cửa,

đóng cửa lại, túi nhốt mèo và đó đơm cá treo trên cửa, lấy chổi đặt ngang cửa, trải chiếu lệch,…

Sau khi hát ứng xử tình huống xong phải hát trình tổ tiên, họ hàng rồi mới được ngồi Sau bữa cơm tối, chú rể phải ra bái lạy tổ tiên, mời rượu, mời thuốc ông bà, bố mẹ vợ và họ hàng nội ngoại Lúc đó Quan lang phải hát trình, hát mời, hát cảm ơn Đến khi cô dâu sắp ra cửa (vu quy) sang nhà trai thì Quan lang phải hát báo cáo cha mẹ họ hàng xin được rước dâu và hát giục

cô dâu ra cửa để về đến nhà trai đúng giờ tốt đã chọn Khi qua cầu hoặc lội suối, bà đón phải đặt tiền xuống trước mặt cô dâu, bà đưa nhận lấy rồi cô dâu

mới đi qua gọi là “Dèn quá cấu” (tiền qua cầu) Khi về nhà trai, Quan lang lại

phải hát một số bài nữa như trình tổ tiên, mời cha mẹ họ hàng ra mừng cô dâu, nhưng số lượng bài hát thường ít hơn ở bên nhà gái Những người được mời làm Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng hầu như vẫn còn giữ được sách, chép lưu truyền trong dân gian các bài hát này

Đám cưới truyền thống nào của người Tày ở Thạch An - Cao Bằng cũng đều có diễn xướng thơ vấn đáp hát khi cưới Hát Quan lang là hình thức sinh hoạt văn hóa mang tính đặc thù, được hình thành do yêu cầu của cuộc sống con người, nó gắn với hôn lễ, phục vụ hôn lễ

Hát Quan lang vừa mang chức năng trao đổi tình cảm, vừa thể hiện chức năng nghi lễ trong hình thức truyền thống Hát Quan lang cũng không nằm ngoài nhu cầu về tinh thần trí tuệ, thẩm mỹ của người Tày

Cho nên trong dân gian có nhu cầu sưu tầm, ghi chép hoặc sáng tác

sẵn một số bài thơ mẫu về đám cưới, để khi gặp cảnh ngộ có thể “Xuất khẩu

thành thơ”

Lễ đón dâu của người Tày xưa bắt đầu từ ngày hôm trước trải qua đêm đến ngày hôm sau Hát Quan lang trên địa bàn Thạch An - Cao Bằng và ở các

Trang 16

tỉnh như Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái thì có tới hơn mười

chặng (cuộc) Những chặng (cuộc) so tài thử trí này vừa mang tính sinh hoạt

vừa là hình thức nghi lễ được diễn ra từ khi đoàn đón dâu đặt chân tới nhà gái,

đến lúc kết thúc xin phép nhà gái đón dâu Ứng với mỗi sự thử thách và các

nghi thức là những bài ca Các bài ca có thể sắp xếp theo trình tự sau:

* “Giai đoạn thử thách” gồm:

- Những bài ca mở cổng

- Những bài ca chăng dây

- Những bài ca rửa chân

- Những bài ca lên cầu thang

- Những bài ca mời rượu

- Những bài ca mời cơm

Mặc dù diễn xướng những bài ca đám cưới có kéo dài nhưng nó được sắp xếp theo trình tự lôgíc, đặt trong không gian rộng, có cảnh huống, gắn chặt với nghi thức hôn lễ nên có sức thuyết phục Tập trung vai trò của người diễn xướng là ông Quan lang và bà Pả mẻ

Lễ hồi ròi, slam nâư (Nhị hỷ): Đây là lễ của người con gái đã đi nhà

chồng bước vào ngày thứ ba nay “hồi ròi” (trở về theo lối cũ) để con rể cùng

con gái về thăm quê, cha mẹ và họ hàng thân thích

Bên cha mẹ vợ tổ chức một bữa cơm sang trọng vui vẻ không kém ngày cưới để tỏ ra vui lần hai (Nhị hỷ) mời đầy đủ các vị thân nhân nội ngoại… Trong bữa tiệc cũng có bình thơ chúc tụng, hát xướng…

Đến đây, một đám cưới được coi là hoàn tất

Dân ca đám cưới Tày thực chất là cuộc đối đáp giữa nhà trai và nhà gái, giữa nam với nữ, giữa những người đến dự đám cưới đều có thể tham gia hát đối đáp Vì thế ngoài những bài ca nghi lễ đã thuộc, Quan lang cũng như mọi

Trang 17

người phải ứng đối nhanh, trả lời giỏi Mặc dù vậy nhưng câu hát vẫn đầy

chất thơ:

Tôi hỏi người khách là thời lương

Chốn này chốn én ương mở hội

Có hai cây chuối sinh tiêu

Gió quạt đi quạt lại mát mẻ

Xem như bút vẽ văn thư

Xem như bàn cờ cửa trùng

Người ta đem về làm gì?

Xin hỏi khách hiền nhân quân tử

Biết thì nói rõ phân minh

Đem về cửa xinh mà cất

Đem vào vườn hoa mà trồng

Không biết thì hãy đi đã nhé

Người đáp lại cũng rất lãng mạn, thể hiện tâm hồn văn chương:

Tôi là khách Châu - Trần thời trước

Bây giờ về kết nghĩa Tường - Lương

Thấy có én ương mở hội

Có hai cây chuối sinh tiêu

Gió quạt đi quạt lại mát mẻ

Hương nó thơm như quế ngàn sơn

Chuối này thật quý nhiều hơn

Từ ngày xưa phân khai vạn đại

Lá chuối gói bánh gai đường

Lưu truyền khắp bốn phương thiên hạ [27]

Đám cưới là dịp để mọi người mang tới những lời đẹp, lời hay góp thêm vào cho ngày vui càng trọn vẹn Sau mỗi tiếng hát là ánh mắt, nụ cười, những lời trầm trồ thán phục Một không khí văn hoá thật hấp dẫn:

Gần chắc lượn gằm đây gằm mjảc Gần ké thỉnh lùm lẩu tềnh bôm

Dịch: Người biết hát câu hay câu đẹp Người già nghe quên rượu trên mâm [27]

Có những cặp phù dâu, phù rể đã lấy chén rượu làm đề tài tạo nguồn cảm hứng:

- Thưa cùng các bạn đường xa Gốc rượu ở đâu ra

Ngọn rượu ở đâu đến Rượu người ủ gạo nếp mấy đêm Mới thành rượu thơm ngon đám cưới

- Thưa cùng các bạn phù dâu Gốc rượu ở gốc rềnh Slá rượu ở quả men Thóc tốt đem phơi sàn Thóc vàng đem phơi nắng

( ) Mới chảy thành rượu quý người dùng [27]

Bài ca đám cưới thực sự là bài ca đối - đáp Có những bài ca đối – đáp chia tay giữa kẻ ở người về khi kết thúc đám cưới:

Trang 18

Mai sau còn được đón tìm hoa

- Bên nữ hát:

Từ nay khó mà gặp được nhau

Mong các bạn đường xa hãy nhận

Gửi bạn hai chén rượu đi đường

Cùng nhau gửi lời thương lời nhớ

Xuân nào hoa mới nở hai lần

Ước gì gặp được nhau hai bận [27]

Cuộc hôn lễ của đôi vợ chồng trẻ đã đánh thức tình yêu đôi lứa, khơi lên

khát vọng xây dựng hạnh phúc của những trai làng, gái bản đến dự cưới, trong

đó có tiếng hát yêu thương của cặp phù dâu phù rể Nhân lễ cưới này, họ có

dịp tỏ bày tình cảm và vì thế cuộc hát ra đời:

- Bên nam hát:

Đáng trách lệ đời xưa đã đặt

Đáng trách lệ Bàn Cổ đã ban

Đặt ra lệ cưới xin không hợp

Đặt ra lệ ăn hỏi không minh

Đón riêng mình cô dâu về bản

Đặt ra lệ cưới xin không hợp

Đặt ra lệ ăn hỏi không minh

Đón riêng mình cô dâu về bản

Sao không đặt thêm ra phép nữa

Đón luôn cả phù dâu - phù rể thành đôi [26]

Những cuộc hát đối đáp trong đám cưới là những dịp tốt nhất để nam nữ Tày chọn bạn đời Tuy không giống như những bài hát tình yêu đôi lứa tổ chức trong những đêm trăng, lúc hội hè… nhưng những bài hát đám cưới vẫn làm nảy nở những cuộc tình duyên Trong lễ cưới trai gái tìm đến nhau, để ý,

để tình Họ yêu nhau về lời ăn tiếng nói, cảm nhau về tiếng hát lời thơ, phục nhau về tài đối đáp

Mọi người đến đám cưới không chỉ “cơm no rượu say” mà còn được

thưởng thức giọng ca của ông Quan lang, bà Pả mẻ và của những trai tài gái sắc Tâm hồn hoà quyện trong những tâm hồn Người già nghe tiếng hát thấy mình như sống lại cái tâm trạng trẻ trung một thời cũng đựợc làm cô dâu chú

rể Người trẻ nghe tiếng ca thì háo hức mong ngày vui nhanh đến với mình

Cô dâu, chú rể e lệ, thẹn thùng nhưng trong lòng họ lại tràn trề hạnh phúc

Bài ca đám cưới như “chất muối”, “chất men”, “chất tình”, thiếu vắng nó

đám cưới sẽ tẻ nhạt biết bao!

Hát đám cưới không chỉ có ở đồng bào Tày mà nó là hình thức ca hát gắn liền với nghi lễ cưới xin của nhiều dân tộc Người Mường có hát Xường, người H’mông có Gầu xống, người Kơtu có Ca lới, người Dáy có Vươn té pầu, người Thái có Cải puông… tuy nhiên về mặt tên gọi và diễn xướng mỗi dân tộc có những điểm khác

Hát đám cưới của ngưòi Mường không gắn trực tiếp với nghi thức đám cưới Trong đám cưới, họ mời một người hát chuyên nghiệp đến để hát những bài hát chúc mừng cô dâu chú rể, chúc mừng hai họ:

Ta nói Xường nói rạng cho vui Trai anh gái em nhà ta nên cửa

Trang 19

Trai anh gái em nhà ta nên nhà

Con gái đánh cá vui cả khoang trong

Săn mong vui cả đồi bãi

Đằng trai gái vui đằng dâu rể vui vào

Những bài hát Xường này mang tính chất tự do ở chỗ lời hát không bắt buộc

gắn liền với nghi thức, có thể thêm bớt câu, đoạn Chẳng hạn trong bài chúc mừng

chung có thể thêm lời cảm ơn sự đón tiếp ân cần chu đáo của gia chủ:

Cảm ơn chú đã ba bề bốn bên

Có lòng thương dọn cỗ ăn trên khung cửa

Có trầu, có nang, có vàng, có bạc

Có rượu cần ngọt, có đọt hương thơm

Có thúng gạo, quan tiền, mâm thau nhắc lên

Đối với dân tộc Kơtu, trong đám cưới, bố vợ và con rể có thể hát đối -

đáp Khi bố vợ cất lời hát:

Tôi có một đứa con gái xinh đẹp

Tôi muốn có trâu to

Tôi muốn có bò lớn

Tôi muốn heo đầy vườn

Tôi muốn đồng la đầy gian

Tôi muốn cái gì cũng có

Lời con rể đáp:

Đời cha tôi rất nghèo

Cho nên tôi phải gieo neo thế này

Lấy đâu ra của được ngay

Lấy đâu đồ kể ra ngay bây giờ

Hát đám cưới của dân tộc Kơtu mang tính chất đối đáp rõ nét Đây là điểm giống với hát đám cưới của người Tày ở Thạch An - Cao Bằng Tuy nhiên, ta cũng nhận thấy điểm khác của dân tộc Tày trong đám cưới là cha

mẹ, cô dâu chú rể không hát mà việc hát do ông Quan lang giữ vai trò trung gian đảm nhiệm

Đối với dân tộc H’mông hát đám cưới gắn liền với nghi lễ thủ tục đám cưới do các ông mối đại diện cho nhà trai và nhà gái đảm nhiệm, cuộc hát cũng mang tính chất ứng đối

Ông mối nhà gái hát :

Mình bảo mình lấy củi lấy nước về nấu Nước chè mới tức khắc về đây Vậy thì chè mẹ chè bố từ đâu tới Chè bố chè mẹ từ đâu ra?

Ông mối nhà trai đáp:

Chè này giồng ở đầu ngõ

Hơ sấy phơi giòn khô

Bố đem chè cho vào siêu đồng…

Sự khác nhau trong phương thức diễn xướng của dân ca đám cưới các dân tộc nói lên tính chất tự nhiên của sự hình thành các hình thức nghệ thuật dân gian, đồng thời nó cho ta thấy quá trình vận động sinh hoạt dân ca từ chỗ

là bộ phận hữu cơ trực tiếp gắn liền với đời sống (nghi lễ phong tục) đến chỗ

Trang 20

trở thành một sinh hoạt văn hoá tinh thần cũng vẫn mục đích là phục vụ đời

sống nhưng đã mang tính nghệ thuật, chuyên nghiệp cao hơn (ở dân tộc Kơtu

bố vợ và con rể cùng hát, đến dân tộc Tày Quan lang là người trung gian hát,

cho đến người Mường đã mời một người có tính chất chuyên nghiệp đến hát)

[21, tr 43-46]

Tiểu kết:

Người Tày là cư dân lâu đời nhất ở Thạch An – Cao Bằng Tự nhiên ưu

đãi đã tạo điều kiện cho cư dân Tày phát triển kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp

lúa nước Họ sống gắn bó bên cạnh một số dân tộc ít người khác: Nùng,

Mông, Dao, Sán Chỉ Với ý thức cộng đồng cao, quan hệ hoà hợp cả về đời

sống vật chất và tinh thần Vì vậy, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng

tôn giáo, văn hoá cũng phần nào bị ảnh hưởng Tuy nhiên, văn hoá Tày vẫn

có những nét riêng, độc đáo Hát Quan lang là loại hình văn hoá, văn nghệ

mang đậm tính sinh hoạt quần chúng, nhưng mặt khác nó còn là loại hình sinh

hoạt văn hoá phong tục độc đáo của người Tày ở Thạch An – Cao Bằng Hát

Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng là bộ phận dân ca tồn tại song hành với

phong tục nghi lễ cưới xin của người Tày Qua tục hát Quan lang ta thấy được

hình thức tổ chức lễ cưới của dân tộc mang tính truyền thống độc đáo, tuân

theo những trật tự nghi thức có tính quy củ, nền nếp, trật tự trước sau

Hát Quan lang là sinh hoạt văn hoá tinh thần lành mạnh Nó in sâu vào

đời sống sinh hoạt và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong lễ cưới

của người dân Tày Thạch An Nhờ đó mà đám cưới thêm vui vẻ, đời sống

tinh thần của đồng bào thêm phong phú Nó còn gắn kết mọi thành viên trong

cộng đồng với nhau Đây chính là môi trường giúp cho hát Quan lang tồn tại

Người Tày xưa quan niệm rằng “Lời nói đẹp”, ấy là thơ ca được dùng

trong lúc trang trọng hoặc khi thổ lộ tâm tình Trong lễ cưới không chỉ trang trọng mà còn vui vẻ và cũng là dịp thử tài ứng xử qua thơ văn của hai họ nhà trai và nhà gái, là thể hiện tình cảm, sự trân trọng của nhà trai đối với nhà gái

vì “Con gái người ta nuôi khó như vậy không bỗng nhiên lại rước đi một

cách dễ dàng được” Vì thế phải chăng nhà trai đón được cô dâu phải trải qua

nhiều thử thách đến như vậy Nhưng cuộc so tài thử trí này vừa mang tính sinh hoạt, vừa là hình thức nghi lễ được diễn ra theo trình tự thời gian từ khi đoàn nhà trai đặt chân tới nhà gái đến lúc kết thúc xin phép đón dâu về Ở mỗi

địa phương sự thử thách có những mức độ và tình huống khác nhau

Theo phong tục tập quán truyền đời, người Tày không bao giờ bước qua một thứ đồ dùng nào ở trong nhà Vì thế nên trong đám cưới hễ thấy vật chướng ngại gì ở giữa đường, giữa cửa, vị Quan lang hát bài xin cất vật ấy

Những bài hát chăng dây, cất chổi, cất đó… thể hiện phong tục này Những bài hát ở phần này còn mang một ý nghĩa khác Ở đây, nhà gái không phải là muốn gây khó dễ, làm phức tạp, rắc rối cho nhà trai, mà cũng không phải thách đố tranh giành thua, được cuộc Người ta bày trò theo tập quán và cũng hát mừng theo tập quán Đám cưới là ngày hội của cả bản, cho nên đồng bào cũng nhân dịp trổ tài hát đối đáp Do vậy việc tạo ra những tình huống có tác dụng kích thích sự say mê, nhiệt tình, hứng khởi, nếu gặp được người hát hay, hát giỏi thì cuộc hát càng vui Kho tàng hát Quan lang nhờ thế mà ngày một

Trang 21

dầy thêm lên, đồng thời là dịp truyền lại vốn hát truyền thống cho mọi người

Lời hát của Quan lang có sức lôi cuốn kỳ lạ:

Người khéo hát câu hay câu đẹp

Người già nghe quên rượu trên mâm

Trai gái nghe quên cất mâm dọn bát

Nghe câu đẹp quên bước đứng nghe

Thử thách bắt đầu từ khi họ nhà trai đến cổng nhà gái, họ phải trải qua

các chặng đường đầy thử thách của nhà gái Đến cổng nhà gái, mọi người tụ

tập rất đông Một người thiếu phụ cất tiếng hát chào đoàn nhà trai:

Xo chiềng thâng mọi gần puôn pản

Khảu bản bấu chắc lượn sắc gằm

Khỏi đảy phép bản mường dú nẩy

Dửc gần lạ bấu đảy quá pây

Dịch:

Thưa các nàng cửa rộng nhà cao

Chân mòn mỏi bước vào đến cổng

Nhìn thấy đủ mọi cánh chắn đường

Nhìn thấy sợi chỉ hồng ngăn lối

[49, tr 14-15]

Muốn nhà gái mở cổng cho vào, Quan lang phải cất lên tiếng hát tuy có

chút lúng túng lúc ban đầu trước sự thử thách của nhà gái:

Khỏi là gần xiên quây bấu rọ

Bấu chắc răng duyên cớ mì răng

Để chú rể vào nhà trình lễ

[49, tr 12-13]

Bài hát quá ngắn, mọi người họ nhà gái vẫn muốn nghe hát và muốn thấy được tài ứng đối thơ của họ nhà trai nên không chịu mở cổng làng, nhà gái lại cất lên tiếng hát:

Mây nẩy làn bấu đảy quá pây Gần rại rụ gần đây xam nỏ

Dử Quan lang mà nẩy rẳp lùa

Gạ chăn khỏi hẩư mừa thâng slóa

Gạ ngày khỏi khay ảng khay tu, gà nỏ!

Dịch:

Chỉ ngang chắn cấm người qua đây Người thật hay người ngay xin hỏi Hỏi hư thực có phải Quan lang?

Nói thật xin mở đường mở lối

Trang 22

Lệ vật mì lai đoạn tháp tham

Lủc khươi pjá công tình vỏ mẻ

Đảy pjom nhở noọng á khay tàng

Dịch:

Hai bên đã hợp ý tâm đồng

Nội ngoại thân họ hàng đồng ý

Hôm nay ngày đại lễ nghinh hôn

Boong khỏi gỏi khay quảng hẩư pây

Dèn tàng nổp đo xày dẳng đảy

Slam pẻng ngần lạy tạ quá tu

Nổp dèn đo là dùa căn quá

Boong noọng rèo tục lệ phép quan

Dịch:

Nếu nói rõ thực thà người tốt

Chúng tôi xin châm trước mở đường

Các nàng Slao ấy không phải là đòi tiền Cái chính là muốn thử tài hát

đối của Quan lang Nếu không biết hát, Quan lang phải nộp phạt ba nén bạc hoặc tiền mãi lộ (nay là phong bao lì xì) theo tục lệ hoặc phạt uống rượu Quan lang một lần nữa lại phải đáp lời để chứng tỏ mình là người hiểu biết:

Boong khỏi dú mường quây páy rụ Boong khỏi mà thông sự hẩư gần Khỏi xo nổp kim ngần khỏi quá

Người Tày thường sống ở nhà sàn, lên bằng cầu thang Theo lệ thường chân cầu thang có máng nước rửa chân Muốn lên sàn nhà phải rửa chân cho sạch, nhưng hôm nay máng nước cạn khô Nhà trai được mấy cô gái mang

khay rượu để mời khách rửa chân Bài hát “Quan lang xo củ lẩu rào kha”

(Quan lang xin cất rượu rửa chân) được ra đời, nói lên điều hay lẽ phải, giá trị quý báu của những giọt rượu, không thể lấy rượu thay nước rửa chân, làm vậy

là trái với lẽ thường, coi thường công lao động và vật phẩm quý là lúa gạo:

Tẻo mì lẩu rào kha boong khỏi Nẳm mà lao thất lội bân đin

Trang 23

Dịch:

Lại có rượu rửa chân chúng tôi

Nghĩ mà thất lỗi với trời đất

Lên được cầu thang thì lại cài cửa kín then cài, chổi ngáng cửa, phía trên

đeo đó đơm cá, trên cánh cửa có cái túi vải chàm nhốt con mèo bên trong, giẻ

lót tay treo bên cánh cửa những vật đó bỗng trở nên những bức tường thành

sừng sững trước mặt ông Quan lang và đoàn phù rể Nếu bước qua sẽ bị nhà

gái chê cười là bất lịch sự Ông Quan lang, lần lượt phải cất tiếng hát, mà phải

thắng các cô gái trẻ bên nhà gái thì họ mới lần lượt cất những vật đó đi bằng

những bài hát: “Quan lang xo củ nhù quét khoáng tu” (Quan lang xin cất chổi

ngáng cửa), “Quan lang xo củ gộc thảng pja” (Quan lang xin cất đó đơm cá),

“Quan lang xo củ tẩy xăng mèo” (Quan lang xin cất túi nhốt mèo), “Quan

lang xo củ táp héc táng tu” (Quan lang xin cất giẻ lót tay canh cửa) Ví dụ

như bài ca xin cất chổi quét ngáng cửa:

Nhù quét hưa chủa rườn tằng tởi

Quét thuổn tằng cung nội rườn chương

Quét thuổn tằng tu rườn đâư slóa

Hẩư chủa rườn đảy dú đàng hoàng

Lăng tả sle hơn tàng vận nẩy

Hẩư boong khỏi nẳm ngậy bấu thông

Khỏi xo thâng gia tung các á

Củ pây boong khỏi quá khảu rườn

Dịch:

Cả đời chổi luôn luôn để quét

Quét cung nội quét hết gia môn

Quét nhà trên nhà dưới sạch sẽ

Nhà cửa được mát mẻ phong quang

Quét cả cung vua quan cửa đại Mọi người được hưởng mát không quên

Cớ sao để chổi ngang ngáng cửa Chúng tôi tự suy nghĩ khó thông Xin gửi cho các nàng các á Cất chổi không ngáng cửa vấn vương [27]

Trong những “vật thử thách” chúng ta để ý đến hai thứ rất có ý nghĩa đó

là con mèo và cái chổi rơm Phải chăng con mèo là biểu tượng của con hổ; chổi rơm là biểu tượng của mùa màng Con hổ tượng trưng cho sức mạnh của núi rừng, sức mạnh tự nhiên Chổi rơm tượng trưng cho sự vất vả cực nhọc trong việc sản xuất lúa gạo Khuất phục và đại thắng được hại biểu tượng trên

là ước mơ của người Tày cổ đại Con người vượt được hai thử thách ấy là con người lý tưởng của thời đại ấy [14, tr 207-208]

Khi Quan lang xin cất từng thứ ở cửa đi thì bên nhà gái đã giải thích có

lý lẽ, nghe có vẻ xuôi tai:

Nhù quét nẩy vằn vằn quét lảng Bấu vửa tầư luổn quẻng xảng tàng Nạy ngám quét hỏng chang náo dá Đếch tầư ke mà tả hơn tàng

Dịch:

Chổi này ngày ngày để quét nhà Không cho phép quẳng bừa mọi chỗ Mới rồi quét gian giữa vừa xong Trẻ nào nghịch để ngang chắn cửa Còn cái đó đơm cá trẻ con đi đánh cá về mải mừng đón chú rể quá nên treo tạm lên ấy Cái túi nhốt con mèo vì nhà hôm nay có cỗ sợ mèo vụng trộm nên phải nhốt lại Từng vật cản được cất đi nhưng cánh cửa nhà chính vẫn

Trang 24

đóng Quan lang một lần nữa trình bày nhiệm vụ quan trọng của mình là đến

nhà gái đón dâu, đề nghị nhà gái cho vào:

Khỏi chiềng mừa gần ké giường nưa

Xo khay tu mạy rầm sloong phắc

Xo khay tu mạy hoắc sloong phương

Boong khỏi cẩn khảu rườn trình lệ

Sle loan phượng tâu tó pần duyên

Khảu rườn tạ gia tiên tông tổ

Khỏi mì gằm cảm tạ phuối ngày

Dịch:

Tôi xin thưa các cụ giường trên

Mở rộng cửa hai bên cho hết

Cánh “mạy hoắc” mở sát áp tường

Cánh “mạy rầm” hai bên giang rộng

Chúng tôi vào yết kiến lễ trình

Sao cho nhanh phượng loan hội ngộ

Xin cho mở rộng cửa giờ này

Tôi có lời cảm tạ biết ơn

[49, tr 34-35]

Bài hát quá ngắn, cửa vấn khép Quan lang phải hát bài nữa cho có đầu

có đuôi cho đúng đạo lý (phép tắc):

Khỏi xo dường quý quan hẩư rọ

Bố dử khỏi hỉn nguyệt du xuân

Thực mì việc hôn nhân giá thú

Đạ hẩư gần thông sự hẩư gần

Xo au dử thuận tình sloong bưởng

Giờ nẩy giờ vượng hội thiên khai

Đương thời qjì vằn đây cao kiến

Mì lệ vật mà hiến quý thân

Bố dử gạ binh quân tầư lạ Dường gần khỏi xo quá khảu mừa

Dịch:

Tôi xin trình xóm làng cùng biết Không phải tôi chơi nguyệt du xuân Thực có việc hôn nhân giá thú

Đã có tin thông sự đến người Xin lấy chữ thuận tình hai họ Giờ này giờ vượng hội thiên khai Đường thì tốt ngày lành cao kiến

Có vật lễ đến biếu quý thân Không phải đâu binh quân xa lạ Trình người xin mở cửa vào nhà

Tất cả các việc diễn ra nằm trong tục lệ gọi là “Lệ thư tu” (lệ giữ cửa)

Thường là sau khi cánh cửa khép nhà gái đặt ra ngổn ngang những chướng ngại vật Với những chướng ngại vật ấy người ta dễ dàng bước qua hoặc len lách mà

đi nhưng không ai làm liều như vậy vì người nhà gái sẽ đánh giá là thiếu văn hoá, kém lịch sự, kém ứng xử đối đáp Gặp cảnh tượng nào Quan lang hát một bài về cảnh tượng đó và đề nghị nhà gái cất bỏ hay tạo thuận lợi cho nhà trai đi

Và cứ mỗi cảnh như vậy, Quan lang nhà trai hát xong, bên đại diện nhà gái hát

tạ lỗi và sai các chị em nhà gái thu dọn cái đó để có lối đi

“Lệ thư tu” đã xong, Quan lang, Pả mẻ cùng đoàn nhà trai vào nhà, lời chào

mời tíu tít, tiếng cười nói vui vẻ, nét mặt ai cũng rạng rỡ Vượt qua ngần nấy

“Thử thách” của nhà gái, nhà trai những tưởng xong chuyện, được ngồi xuống

Trang 25

nghỉ ngơi đàm đạo nào ngờ giường không có chiếu trong khi đó mấy cô chủ lịch

sự mời chào Quan lang lại hát bài “Xo pjái phục” (Xin trải chiếu):

Dám khảu rườn mốc phông bặng bjoóc

Mủng tằng rườn slí coóc phông hoa

Bày lạt lạt như là háng chợ

Giường tả piấu bấu ngộ hất rừ

Dịch:

Được vào nhà vui mừng khôn xiết

Cả sàn nhà trải hết chiếu hoa

Ngỡ ngàng trông như là đình chợ

Giường này sao bỏ ngỏ chiếu không

[49, tr 36-37]

Lúc này nhà gái mới chịu mang chiếu đến trải vào giường nhưng cố tình

trải ngược chiếu hay trải chiếu dúm dó Cả đoàn đón dâu vẫn kiên trì đứng

chờ Quan lang hát bài “Xo pjển phục pjẻ” (Xin lật lại chiếu trái):

Gần tầư hăn tơ hồng mì lảc

Gần tầư hăn phục phạc pjái mai

Gưởng nẳm hăn lai slai lai tái

Nẻp slửa tam bưởng rại nàn hăn

Khỏi xo dường các nàng hẩư lẹo

Vàn gần mà pjái tẻo hẩư đây

Dịch:

Có ai thấy tơ hồng có rễ

Có ai trải chiếu ngược đằng sau

Đi nhiều mới biết nhiều đây đó

Tà áo có ai mở trái chiều

Tôi xin dạ các nàng nghĩ lại

Nhanh chóng hãy trải lại cho ngay

[49, tr 38-39]

Bài ca với đủ mọi lý lẽ hết sức thuyết phục, ý nói mọi vật tồn tại trong

tự nhiên và trong cuộc sống đều tuân theo quy luật phát triển tự nhiên của

nó, lẽ nào nhà gái làm trái quy luật ấy Các cô gái trải lại chiếu nhưng lại bị

chéo góc Quan lang hát bài “Xo Pjái vủc ngày” (Xin trải lại chiếu đang

chiếu góc):

Phục gần đạ pjái tẻo đoạn thôi Thân khỏi dú táng nơi mà lót Bấu hăn phục tả coóc sắc vày

Ả pác xo pjái ngày dường dạn Mọi phưn bjoóc rủng choảng pjái phiêng Mọi phưn mọi mì duyên mì slắc Phưn nẩy pjái tả coóc bố đây

Dịch:

Chiếu đã trải đây đó tưởng xong Người phương xa khác mường thấy lạ Sao chiếu lại lệch vậy khó coi Trải lại thẳng cho tôi đa tạ Mỗi tấm chiếu sáng tỏa văn hoa Tấm này cũng có duyên có sắc Tấm này trải chéo góc khó trông

[49, tr 41-42]

Lời hát rất mộc mạc giản dị mà lại rất sâu sắc Quan lang đã diễn tả rất minh bạch rõ ràng và đầy sức thuyết phục làm cho họ thấy được cái lỗi và xin

đại xá “Bưởng rườn nhình phục chính” (Nhà gái thanh minh):

Slao báo cẩn hung hang bấu váng Phục nẩy ngám mượn tạm bản nưa Lủc tầư ngám inh pha tẳt tạm

Trang 26

May quý khách ngám nhẳm khảu rườn

Pjái phủc páy đảy dằng hẩư chính

Nẳm mà mì lội thuổn đuổi gần

Khách đại xá tăn phằn hẩư nỏ

Dịch:

Gái trai tôi mải mê bếp nước

Chiếu này mới mượn được nhà trên

Mới lấy về dựng bên tựa vách

Vừa may có quý khách bước vào

Khi trải còn bên cao bên thấp

Nghĩ mà có khiếm khuyết lỗi lầm

Khách đại xá một lần cho vậy

[49, tr 42-43]

Chiếu được trải lại, nhà trai mới ngồi yên vị trên chiếc giường dành cho

khách quý Các cô gái bưng chén nước chè đến mời vẫn bằng những lời hát

khiêm tốn:

Chẻn nẩy dú đông luông khuổi lẩc

Ẩm ché lài phoi phóc đản đăm

Ngòi mà bấu thúc slim quý khách

Slương căn là bấu trách đảy pjom

Xo dường thâng chẻn nưng noọng phác

Dịch:

Chén trà này đáy lòng có lễ

Trà này trà hái ở rừng sâu

Ấm chén lại bạc màu nhơ bẩn

Xem ra không được thuận khách sang

Thương nhau hãy trăm phần nhận cả

[49, tr 44-45]

Khi nhận chén nước chè với các cô gái, các bạn phù rể cầm từ từ rồi mới uống, chớ vội vàng đem lên miệng làm luôn một ngụm, lý do là các nàng hay thử các chàng trai, lẫn trong số nước chè ấy là có chén rượu pha mật mía có màu như nước chè, vội vàng quá uống phải chén mật rượu dễ say, nhưng quan trọng là bị mắc cỡ làm trò cười cho mọi người Quan lang đáp lại lời mời của các cô gái bằng những ý thơ rất là tế nhị cảm ơn sự tiếp đón rất chu đáo của

họ nhà gái Những thứ đem mời của các cô gái toàn là những loại hảo hạng và

sang trọng cho dù Quan lang chưa uống mà trong lòng đã “nở hoa”:

Rườn gần pây nặm háng lai pan Khẻo rự đảy chè hom hương bjoóc

Ẩm ché viền ngụ sắc lài hoa Páy kin tọ chang gò slỉnh sloáng Kin lồng pây gần táng khôn ngoan Pjom bại noọng táng mường thiết đại Chứ đâư châư vạn tởi bấu lùm

Dịch:

Nhà ta đi chợ nhiều phiên Khéo mua chè búp hương sen thơm lừng

Ấm chè điểm sắc viền vàng Chưa uống mà đã trong lòng nở hoa Nhờ có chén nước chén trà Con người tỉnh táo trăm bề khôn ngoan Cảm ơn các á lòng thành

Chúng tôi nhớ mãi trăm phần biết ơn [49, tr 46-47]

Đến đây coi như giai đoạn thử thách coi như kết thúc Bước sang giai đoạn 2, nhà trai tiến hành các thủ tục nghi lễ truyền thống Thay mặt nhà trai, ông Quan lang xin thắp hương cho chú rể lễ tổ, ra mắt ông bà, cha mẹ, họ

Trang 27

hàng gắn với nó là những khúc ca Những bài ca ấy mang nội dung ca ngợi

công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và họ hàng nhà cô dâu Công lao to

lớn ấy nhà trai rất biết ơn Tính từ giờ phút này, hai bên chính thức gặp gỡ,

thực hiện các nghi lễ Nhà trai xin phép nhà gái được kết thông gia, nộp đồ

cưới, cho chú rể bái tổ nhận làm con cái, xin nhà gái cho đón dâu về bằng

những bài ca: “Quan lang mởi kiểm lệ” (Quan lang mời kiểm lễ), “Bưởng

rườn nhình kiểm lệ” (Bên nhà gái kiểm lễ), “Quan lang xo trình tổ tiên tứ

đường” (Quan lang xin trình tổ tiên từ đường), “Quan lang mởi tổ tiên chứng

giám” (Quan lang mời tổ tiên chứng giám), “Quan lang trình lệ vạ páo lệ”

(Quan lang trình lễ và báo lễ), “Quan lang xo hẩư khươi dậư phải rằm khấư”

(Quan lang xin cho chú rể dâng vải ướt khô), “Quan lang xo hẩư khươi tẻm

hương lạy tạ” (Quan lang xin cho chú rể thắp hương lạy tạ), “Slống đẳm”

(Đưa tổ tiên), “Lủc khươi mởi nặm họ hàng” (Chú rể mời nước họ hàng),

“Quan lang chúc mửng” (Quan lang chúc mừng), “Quan lang xo phép lùa

lồng lảng” (Quan lang xin phép cho cô dâu được xuất giá)

Mọi thủ tục đã xong, nhà gái giao của hồi môn cũng bằng một khúc ca

“Rườn lùa giao cúa hồi môn” Khi bài hát vừa chấm dứt, có một thiếu nữ

mang ra chai rượu và đặt lên mặt rương năm cái chén ở bốn góc và trung tâm,

đoạn rót đầy rượu Đây là một thử thách của nhà gái với Quan lang nhà trai

Ông Quan lang phải hát giải toả được năm chén rượu đầy thì mới xong lễ bàn

giao “Quan lang xo dò slí chẻn lẩu tềng rương” và hát chào tạm biệt, cảm ơn

tất cả mọi người “Quan lang chào tạm biệt cảm ơn họ hàng, làng xóm”

Mọi công việc của nhà gái coi như xong Các bạn phù rể của nhà trai chia

nhau đón lấy của hồi môn mang về Pả mẻ nhà trai đi hàng đầu

“Hát Quan lang là một hình thức văn nghệ kết hợp khá chặt chẽ giữa

“lý trí ngây thơ” và “tình cảm hồn nhiên” với đạo đức tốt đẹp, và lòng trân

trọng con người một cách thành thật” [13, tr 51]

Những thử thách của nhà gái đưa ra chỉ mang ý nghĩa tượng trưng cho những tục thử thách thực sự của một thời đã khá xa mà thôi Những vật đó lại trở thành vật cản lối trước mặt ông Quan lang

Cứ xét theo “vật thử thách” thì ta thấy đấy là một trò chơi có vẻ “ngây

thơ”, nhưng thực ra hát “Quan lang” vừa mang tính lý trí và sắc thái tình

cảm của một “Người lớn” ở xã hội văn minh, vừa mang sắc thái hồn nhiên thời “Thơ ấu”

Hát Quan lang là loại hát dân gian kết hợp với trò chơi trong môi trường diễn xướng đặc biệt đã được xác định Vì thế sức mạnh của câu hát Quan lang trong môi trường ấy được bộc lộ một cách triệt để nhất Nếu tách lời văn ra khỏi môi trường diễn xướng và trò chơi thì sức mạnh lay động tâm hồn người cảm thụ sẽ bị giảm đi phần lớn [14, tr 51]

Bởi không phải cuộc hôn lễ nào Quan lang cũng phải ngâm các bài thơ như đã nêu ở trên Có cuộc hôn lễ không đủ điều kiện để “vui vẻ” như một trong hai họ có tang chưa ngoài ba năm chẳng hạn thì không có ngâm thơ, và ngược lại, trong cuộc hôn lễ, nếu có nhiều sự thử thách do nhà gái đặt ra mà không nằm trong các bài thơ có sẵn mà Quan lang đã thuộc thì Quan lang lại phải “ứng tác” kịp thời để ngâm Các bài thơ như vậy nếu nội dung tốt, lời hay cũng sẽ được truyền về sau

Tục Hát Quan lang với những trò chơi có tính chất thử thách của nó chắc

có liên quan đến những trò chơi hôn lễ, những điều kiện kén rể của dân tộc Tày thời nguyên thuỷ Nếu tập trung những truyện cổ của người Tày dưới những hình thức khác nhau về đề tài thử thách kén rể thì chúng ta có thể phác hoạ ra một bức tranh khá rõ nét về phong tục cưới xin ngày xưa của các dân tộc Tày cũng là tập tục khá phổ biến ở nhiều dân tộc

Nhà nghiên cứu văn học dân gian Vi Hồng nhận xét xác đáng: “Muốn

hiểu thơ Quan lang trước hết phải hiểu phong tục Quan lang Những bài ca đám cưới Tày và môi trường diễn xướng độc đáo của nó thực sự là một hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần đẹp đẽ của đồng bào Tày” [15]

Trang 28

2.2 Bài học về cách ứng xử và đạo lý làm người

Hát Quan lang từ lâu vẫn được coi là nét văn hoá rất đặc sắc trong các

đám cưới cửa người Tày ở Thạch An - Cao Bằng Bởi nội dung của các bài

hát này là cách chỉ bảo, lối ứng xử tinh tế, tao nhã của con người trong đời

sống, trong đám cưới, khi đoàn nhà trai đón dâu phải trải qua nhiều tình

huống lắt léo, khó khăn, đoàn nhà trai phải trải qua các lần chăng dây chỉ ngũ

sắc ngang ngõ Lúc này, Pả mẻ nhà gái cùng đám đông đón đợi nhà trai với

niềm huân hoan và chuẩn bị thử thách đoàn nhà trai Quan lang nhà trai phải

ứng đối ngay tức khắc để vượt qua những cửa ải mà nhà gái đặt ra Bài hát đối

đáp nào cũng rất đầy đủ, có đầu có cuối, lịch sự và lễ độ Sự quý trọng con

người còn được thể hiện rõ qua những nghi lễ đón tiếp và thái độ cư xử giữa

hai họ Vẫn biết việc đi đón dâu là việc chính của lễ cưới, là trách nhiệm của

hai họ nhưng họ vẫn nói với nhau những lời cảm tạ chân thành, mở đầu câu

nói bao giờ cũng bằng sự thưa gửi Đây là khúc hát của vị Quan lang nhà trai:

Trước khỏi thưa trình mừa nội gia tiên, ngoại gia tiên

Phụ mẫu thêm liền quý họ rườn cần thay thảy nỏ

Dịch:

Trước tôi trình về nội gia tiên, ngoại gia tiên

Phụ mẫu thêm liền quý họ nhà người thay thảy [26]

Nếu dân ca là tiếng nói của tình cảm, của trái tim, thì những bài hát đám

cưới đã biểu hiện rất rõ những đức tính và bản chất cũng như tình cảm của

người dân lao động đồng thời nó cũng là những bài học để răn dạy con người

Đó là bài học ngợi ca lao động, khuyên con người phải biết quý trọng

của cải do sức lao động của mình làm ra:

[49, tr 65-67]

Yêu quý lao động, người Tày yêu quý cả các công cụ lao động đã làm ra biết bao của cải vật chất Nên khi quan lang, phù rể, chàng rể bước lên cầu thang nhà sàn, đến cầu nước (nơi rửa chân trước khi vào nhà) thấy ngay hai

cô gái trẻ cầm chai rượu Cổ chai quấn giấy đỏ Bên cạnh đó là một khay to

đựng bốn chén rượu đầy ắp Đây là một hình thức thăm dò “Tài ngoại giao”, tài ứng xử Quan lang phải hát bài “Xo củ lẩu rào kha” (xin cất rượu rửa chân) Bài thơ không chỉ nói về nghi thức “ngoại giao” đơn thuần, mà chủ

yếu, nêu một quan điểm đúng đắn về giá trị của gạo, của rượu

Đề tài “rượu” là đề tài phổ biến được lặp lại ở nhiều khúc hát Quả thực, trong đám cưới của người Tày xưa cũng như nay, rượu được coi như đồ lễ không thể thiếu được Cho nên trong bài thơ có các câu:

Chiềng mừa bại noọng tàng quây Cốc lẩu dú tầư oóc

Nhỏt lẩu dú tầư mà Lẩu gần ấm khẩu nua kỉ gẳm Dẳng pền lẩu hom oan đảm lẩu

Dịch: Thưa cùng các bạn đường xa Gốc rượu ở đâu ra

Ngọn rượu ở đâu đến Rượu người ủ gạo nếp mấy đêm Mới thành rượu thơm ngon đám cưới [27]

Trang 29

Và còn nhấn mạnh :

- Lẩu hom sle tiếp đại khách sang

Bách vật cúa kim ngần tẳt nưa

Khẩu lẩu sle tiến vua ngai váng

Dịch: Rượu để tiếp khách lạ khách sang

Cố bách vật kim ngân để dưới

Rượu ngon tiếp đãi bề trên

Rượu để tiến dâng vua ngự

[49, tr 20-21]

Rõ ràng gạo, rượu là sản phẩm của một quá trình lao động cần cù, sáng

tạo là thứ nuôi sống con người, không nên phung phí nó Đây là cách suy nghĩ

đúng đắn, thiết thực xuất phát từ ý thức tiết kiệm, ý thức quý trọng của cải do

con người đổi lấy bằng mồ hôi nước mắt Trong đám cưới, họ dùng chén rượu

để dâng lên Ngọc Hoàng, tổ tiên, thết khách tỏ lòng quý trọng

Nếu như phong tục của người Kinh “Miếng trầu là đầu câu chuyện” thì

người Tày dùng chén rượu quý để mở đầu câu chuyện, để tỏ lời thăm hỏi… là

cách ứng xử mà người Tày chọn trong đám cưới Hương vị thơm ngon, cảm

giác hưng phấn do rượu đem lại rất phù hợp với không khí hân hoan của đám

cưới Người Tày gọi lễ cưới (dự lễ cưới) là “kin lẩu” (uống rượu), nhà có cưới

gọi là “Rườn mì lẩu” (nhà có rượu) Cách gọi đó vừa có ý cụ thể, vừa có ý

tượng trưng Hát Quan lang được gọi là “thơ lẩu” (thơ rượu), “lượn lẩu”

(lượn rượu) cũng bao hàm ý nghĩa ấy

Bài ca “xin cất chổi ngáng cửa”,“xin cất đó đơm cá”,“xin cất túi nhốt

mèo” là sự thử tài ứng đối với Quan lang đồng thời nó cũng là những bài ca

ca ngợi những gì xung quanh con người lao động từ cái tầm thường nhất thì

cũng trở nên thân thiết và có ích trong cuộc sống :

- Nhù quét hưa chủa rườn tằng tởi

Dịch: Cả đời chổi luôn luôn để quét

[49, tr 22]

- Mèo tội lăng tẻ hất khỏ mền Mèo pắt nu oóc kin khẩu bố Mèo pang gần dửc cúa chang rườn Mèo là bạn cúa gần vận tởi Pắt chan mèo thúc tội bân đin Pjói mèo pây xa kin dẳng dử

Dịch: Trên đời có việc trái khác thường Cho tôi hỏi căn nguyên đến gốc Tại sao lại phải bắt chú mèo Nhốt vào túi mà treo lên ngược Mèo tội gì phải bắt trở trêu

Có thóc lúa thả mèo bắt chuột Mèo giữ của mèo giúp cho người Mèo với ta suốt đời là bạn Bắt giam mèo lỗi cả đất trời Thả mèo đi rong chơi bắt chuột

[49, tr 30-31]

- Răng au gộc khoang tàng vận nẩy Nẩy bấư dử khuổi sláy, tả luông Gộc là củ tẩư rườn coóc dạn Sle slao báo thảng tỏn pắt pja Pja lài cắp pja nà pja quất Đảy lai mà rẳp khách tàng quây

Trang 30

- Dịch:

Đó đánh cá có ai treo cửa

Đây không có nước cả suối sông

Đó đơm về cất lên xó kín

Để gái trai đơm đón cá tôm

Đơm đón cá ngoài sông đồng ruộng

Có cá tôm tiếp đón khách mời

[49, tr 26-27]

Khá tế nhị, dí dỏm, có ý trách móc nhẹ nhàng người nào đó coi khinh vật

tuy tầm thường nhưng gắn bó với sự sinh hoạt của con người mà dùng nó để

thăm dò sự khôn khéo của Quan lang

Ngâm xong bài thơ, có thể cả nhà gái sẽ cười ầm lên về sự “Thắng lợi”

của Quan lang và sự “thất bại” của các cô gái nghịch ngợm Sự thận trọng, tế

nhị thông minh của nhà trai được các cô gái cảm phục

Lòng mến khách của người Tày ở Thạch An - Cao Bằng đã toát lên trong

hầu khắp các bài hát đám cưới từ những bài ca “xin rải chiếu” đến bài ca “mời

rượu” thì đủ biết tấm lòng của chủ đối với khách đậm đà và chí tình biết bao!

Lòng mời mọc chân thành ấy đã làm cho khách cảm động phải thốt lên:

“Pjom bại noọng táng mường thiết đại!”

(Các bạn thật có lòng mến khách!)

Người dân Tày Thạch An sống hoà mình với thiên nhiên, hồn nhiên chân

thành, yêu mến khách Nên cảm xúc về con người là cội nguồn của mọi cảm

xúc Họ luôn đề cao con người, trân trọng con người Con người được ví với

hoa - biểu tượng tươi đẹp nhất của thiên nhiên Con người có nguồn gốc thanh

cao, do “Mẹ hoa chia lại”, mẹ hoa phân cho những người mẹ trần gian Thân

anh, thân em như “Hoa mạ”, “Hoa rầm”, “Hoa phón”, “Hoa lạ” , “Hoa vặc

viền”… loài hoa nào cũng đẹp Đó là cách mở đầu của nhiều bài hát lượn

Trong hát Quan lang, con người càng đẹp hơn, cái đẹp đó nhân lên nhiều lần

trong con mắt của những người luôn yêu mến quý trọng nhau:

- Slao báo hăn thay thảy rủng roàng Gần nhình gần khao bang mjạc nả Dịch:

Gái trai đều thanh tân thay thảy Người người mặt trắng ngần xinh đẹp [27]

Tình cảm đó được bắt nguồn từ đạo lý cao cả:

Tiền bạc của cải cũng là rất quý Nhưng quý hơn vẫn là nghĩa anh em [27]

Đạo lý đó chi phối cách cư xử của họ:

Có ai hỏi vàng có mấy cân Thường hỏi anh em xa gần nhiều ít [27]

Thơ Quan lang còn cho ta thấy đức tính khiêm tốn của người Tày cũng rất đáng ca ngợi, khi mời rượu nhà gái khiêm tốn hát :

Phân bân păn dú chang khau khuổi Bấu vần thân dẳng nội nhắc nhau

Mì tha bấu mì châư dẳng khổn Bấu chắc gằm lăng cón dưởng rừ

Sự nây khỏi rọ là vô lệ Lượng hải hà xá kể ngu xi Lội nẩy xo dá chê dá kể Roọng gạ mì chẻn ché dường thâng Chẻn nẩy dú đông luông khuổi lẩc

Ẩm chè lài phoi phoóc đản đăm Ngòi mà kấu thúc slim quí khách Slương căn là bấu trách đảy pjom

Xo dường thâng chẻn nưng noọng phác

Trang 31

Dịch: Chúng tôi quê tận cùng khe suối

Người vùng sâu lầm lỗi là thường

Ăn nói còn có phần thô kệch

Tầm nhìn của đôi mắt chưa xa

Lời mời trước sau chưa biết nói

Có vô lễ hay lỗi gì chăng

Lượng hải hà tôi xin lượng thứ

Đừng chê trách lời nói chân thành

Chén trà này đáy lòng có lễ

Trà này trà hái ở rừng sâu

Ấm chén lại bạc màu nhơ bẩn

Xem ra không được thuận khách sang

Thương nhau hãy trăm phần nhận cả

[49, tr 44-45]

Chủ khen chiếc sọt đựng đồ dẫn cưới của khách đẹp :

- Tôi cuôi Slan ngòi sình lai bjoóc

Toong chinh khiêu pao noỏc lụa là

Chỉa đeng chắp thua gàn đeng chỉu

Dịch:

Đôi sọt giang đan cài qua lại

Lá dong xanh lót trải xung quanh

Giấy đỏ dán đầu đòn đỏ chói

[49, tr 55-56]

Trái lại khách cho rằng chiếc sọt đó chỉ “như sọt đựng mạ, như rọ đựng

lợn” tức là không có gì xấu hơn Chủ đã khiêm tốn, khách cũng khiêm tốn

không kém!

Ngày nay theo xu hướng hiện đại, thay cho đôi sọt đòn gánh thì tuỳ từng gia đình, làng bản, địa phương người Tày Thạch An cũng đã sử dụng mâm nhôm hoặc tráp màu đỏ rất đẹp

Bài ca chứng minh thêm sự hiểu biết, sự lễ phép của Quan lang và chàng

rể Bài thơ tưởng như mang tính khách sáo, nhưng không phải Thực ra, ý định của bài thơ chỉ nhằm một mục đích, tỏ ý khiêm tốn và cảm tạ công ơn,

và chúc mừng cha mẹ họ hàng của nhà gái gặp mọi may mắn tốt đẹp trong cuộc sống

Đặc điểm nổi bật trong nội dung của hát Quan lang đều đề cập đến công lao khó nhọc của cha mẹ và tỏ lòng biết ơn, kính trọng hết mực đối với cha mẹ tổ tiên Cũng dễ hiểu, bởi đám cưới gắn liền với nghi lễ đám cưới mà nghi lễ đám cưới Tày chính là nghi lễ đối với tổ tiên, cũng như dân tộc Việt Điều đó nằm

trong ý niệm: “Con người có tổ có tông, như cây có cội như sông có nguồn”

Cái độc đáo của người Tày là cách biểu hiện công lao đó: Khi đứa con

lập gia đình có thể coi là lúc con đã trưởng thành Ngày xưa, theo các cụ “Nữ

thập tam, nam thập lục” (Nữ mười ba, nam mười sáu) Tuổi đó tuy chưa

trưởng thành nhưng ở nông thôn cũng đã thạo việc đồng áng Sau này, khi trai, gái lập gia đình, sớm nhất đối với con gái là mười tám, con trai là hai mươi Tuổi ấy có thể tự lập làm ăn Đối với cha mẹ, những ngày chăm sóc bú mớm, lo lắng từng li từng tí cho con coi như đã qua Đối với con cái từ đây có

thể từ giã “cơm cha áo mẹ” để bước vào cuộc đời Quá trình nuôi con của cha

mẹ từ thủa con mới lọt lòng, đến nay khôn lớn quả là một công trình vất vả không sao kể xiết Khi xây dựng gia đình, đứa con như con chim đủ lông đủ cánh bước vào cuộc đời Đây là thời điểm thiêng liêng nhất khi nghĩ về tình mẫu tử Đồng bào Tày đã chọn lựa thời điểm đó và không khí trang trọng của đám cưới để tiếng hát tình mẹ con, tiếng hát lòng hiếu thảo được cất lên

Trang 32

Người con rể báo đáp công ơn cha mẹ bằng lệ “Rằm khấư” (ướt - khô):

Mảnh vải trắng một phần nhuộm đỏ tượng trưng cho phần tã ướt và một phần

để nguyên tượng trưng cho phần tã khô để dâng lên người mẹ đã có công nuôi

dưỡng vợ chàng:

- “Phải rằm khấư Sloong thước mì đo

Pjá công mẻ vửa xưa gòn gảp

Pạng khấư Sle hẩư lủc đỉ nòn

Pạng rằm mẻ cắt đang dà hốm”

Dịch:

Vải can thiếp xin tỏ bày

Có đủ hai thước lễ này trả ơn

Có người mẹ nào nuôi con lại không vất vả Đối với người mẹ miền núi,

nỗi vất vả càng nhân lên thêm bởi những điều kiện sinh hoạt có phần khắc

nghiệt hơn Người mẹ miền núi khi mang thai vẫn phải “căm thây và phưa”

(Cầm cày giữ bừa), “khỉn pò lồng roỏng” (lên đèo xuống khe) Chín bậc

thang nhà sàn, nơi mẹ đi về với bao nỗi vất vả gian lao “chín tháng đợi chờ

từng bậc lo âu và nhung nhớ, chín tháng mẹ hiền nhà sàn đơn sơ mẹ sinh con,

những bước chân đầu tiên mẹ dìu lên từng bậc, bước ngập ngừng chín bậc

tình yêu” Để khi con lớn lên rồi, nơi đó, người mẹ đã trở thành kỷ niệm

Trong khúc hát “Rằm - khấư” hình ảnh người mẹ nuôi con, chăm chút hi

sinh được khắc hoạ sống động “Bên ướt để mẹ nằm, Bên khô dành con ngủ”

Hình ảnh đó gần gũi, sát thực, gây xúc động lòng người Điều đáng chú ý là

khúc hát “Rằm - khấư” gằn liền với lễ báo đáp cha mẹ do chính người con rể

thực hiện Lễ báo đáp tuy không lớn nhưng nó thể hiện niềm cảm thông và tấm lòng hiếu thảo của con với cha mẹ Trong ngày hạnh phúc nhất chú rể đã không quên người đã tạo dựng, vun đắp hạnh phúc cho mình Có thể nói:

“Rằm - khấư” là khúc hát rất cảm động và nên thơ, khúc hát đó kéo dài, và

không chỉ dừng ở nội dung báo đáp và ca ngợi công lao cha mẹ, nó thể hiện

sự trân trọng và lòng biết ơn đối với cả họ hàng cô dâu, bởi họ nhận thức:

- Nghĩa bố mẹ như núi như sông Nghĩa họ hàng như rừng như suối Một cây sinh ra bao cành lá

Họ hàng đông là quý lắm con ơi [27]

Họ thấy sự thành duyên của đôi trẻ hôm nay là nhờ có công lao của tất cả:

- Thứ nhất công bố mẹ sinh ra Thứ hai công dạy khôn cả họ Thứ ba nhờ có tơ hồng

Se thành nghĩa vợ chồng hợp ý [27]

- Xin dâng chén tạm biệt họ hàng Giúp tôi trọn mọi đường thành đạt Rượu này cất tận gốc nước nguồn Chén ngọc rót đầy tràn bằng miệng Cùng nhau hãy cạn chén cho xong Cạn cho hết mọi phần đừng chối [49, tr 70-71]

- Đã đến giờ nguyệt tiên thiên đức Giờ lành tôi xin phép hồi hương Bát đĩa còn đầy mâm bề bộn Công lao này cả bản góp phần Nửa đêm còn thắp đèn dao thớt

Trang 33

Mới có cỗ bàn sắp đầy mâm

Tôi là khách khác mường khác bản

Vào đến nhà tốn kém mọi đường

Cảm tạ cả hương lân già trẻ [27]

Nói về đạo nghĩa vợ chồng, ca dao chung của ta có câu: “Thuận vợ thuận

chồng tát bể đông cũng cạn” Những bài hát Quan lang Tày ở Thạch An -

Cao Bằng cũng nhấn mạnh về sự thuận hoà, chung thuỷ, trọng đạo nghĩa vợ

chồng:

“Ám mjầu têm hình loan thắp phượng

Tởi đeo lan xo nguyện thuỷ chung”

Dịch:

Miếng trầu cánh phượng cháu dâng

Tình duyên cháu nguyện thuỷ chung đời [49, tr 55]

Có như thế thì :

Căm nặm vần bjoóc

Cóp nặm vần hoa

Phja cải Slinh lủc luồng

Phja luông Slinh én nhạn

Phja đán thảo kỳ lân

cứ ở đâu, trong hoàn cảnh nào, dân tộc ta cũng có thể làm thơ Thơ chẳng qua cũng chỉ là một cách nói cô đọng bằng cảm xúc trong cuộc sống của các dân tộc thiểu số, một đặc điểm trong quan hệ là sự dịu dàng, kín đáo, lễ độ và

khiêm tốn Thơ Quan lang của dân tộc Tày ở Thạch An - Cao Bằng “chẳng

qua cũng chỉ là một phương thức phản ánh một quan niệm sống, một sự biết

ơn, một sự ngợi ca, một sự khiêm tốn đáng quý Nói tóm lại, là phản ánh một truyền thống đạo đức của dân tộc một cách tế nhị, duyên dáng, kín đáo nhưng đậm đà cho nên thơ Quan lang mang tính nhân dân, tính dân tộc rõ ràng.”

[33, tr 83]

Từ ngày xưa dân tộc Tày cũng như các dân tộc khác đã lưu tâm vun xới, giữ gìn cho trọn vẹn một nền đạo đức chân chất, có thuỷ có chung Họ thương yêu, quý trọng và đùm bọc lẫn nhau trên cơ sở cùng chung một cuộc sống lao động cần cù và sáng tạo

Nội dung của thơ Quan lang chủ yếu là phản ánh một nền đạo đức mang

tính nhân dân sâu sắc đó

2.3 Sự trân trọng đối với người phụ nữ

Hát Quan lang về thực chất không phải là hát đối đáp trong lĩnh vực yêu đương, mà là ông Quan lang đã cao tuổi hát với Pả mẻ và các cô phù dâu Nhưng mở đầu tất cả các bài hát Quan lang thì ông Quan lang bao giờ cũng

“kính thưa” hay “Kính trình” Ngày xưa việc xã hội công nhận những cô gái

trẻ có thể hát đối đáp một cách bình đẳng với một ông già như vậy thì có thể

cho phép ta đoán định rằng: Cái quan niệm "trọng nam kinh nữ" chưa xâm

nhập được hoàn toàn vào mảnh đất ấy Ngay bản thân việc ông Quan lang thay mặt nhà trai vượt qua biết bao "cửa ải " mới rước được dâu về cũng đủ

Trang 34

nói lên rằng: Người phụ nữ còn cao giá trị lắm Ý nghĩa cốt yếu trong việc hát

Quan lang là có lẽ nhà gái muốn nói với nhà trai rằng: Con gái chúng tôi quý

như vàng như ngọc các anh không tự dưng mà “rước” đi được đâu

Có người cho rằng, hát Quan lang được bắt nguồn từ chế độ mẫu quyền

Bởi qua tục hát Quan lang ta thấy, người phụ nữ còn được coi trọng và đề cao

thật sự Thêm một thí dụ về dấu ấn đậm đà của chế độ mẫu quyền trong tục

cưới xin sau khi “Pả mẻ” (những bà đã có tuổi đi đưa dâu, những người đi

đưa dâu đều gọi là “Pả mẻ” tức là chị của mẹ) đã “nộp dâu” cho nhà trai thì

“Pả mẻ” và một số cô gái phù dâu ra về Còn lại hai cô hoặc ba cô ở lại với

dâu tại nhà chồng Những cô gái này gọi là “phù dâu ba hôm” vì họ ở nhà rể

đến ngày thứ ba thì cùng với chàng rể lại trở lại nhà vợ, để chàng rể, làm

nghĩa vụ theo tục “lại mặt ba hôm” Sau đó thì rể trở về nhà và cô dâu thì ở lại

nhà bố mẹ đẻ Cô ta ở vậy đằng đẵng năm năm, mười năm, bao giờ có con thì

mới thực sự về ở hẳn nhà chồng Như vậy trong tục hôn nhân người Tày ở

Thạch An - Cao Bằng xưa không có cái gọi là “Tối tân hôn”, ngày nay ở một

số xã vẫn còn gặp hiện tượng này

Lời lẽ trong “thơ lẩu” trang nhã, lịch thiệp, hình tượng người phụ nữ

trong thơ lại càng đẹp đẽ :

Rườn gần mì slao nàng bjoóc quý

Nạy khỏi nhằng dú lẻ đang thân

Bjoóc mì xuân gần mì slí

Bjoóc xuân đang rỉ phông hom

Chỏi chỏi bặng đao bân slíp hả

Dịch:

Nhà ta có Slao á thanh tân

Em tôi còn cô đơn độc mã

Hoa kia đang chờ gió đón xuân

Chói chói như vầng trăng sáng tỏ

Hay : Nhà người có hoa thơm bông quý

Hoa người lại đang xuân nở nhị Hoa người lại đang tuổi nở đều Sáng chói đẹp như sao giữa tháng [27]

Người Tày cổ quan niệm có một đấng trí tôn vô thượng, là Mẻ Bjoóc

(Mẹ Hoa) Mỗi cuộc đời trên thế gian đều phụ thuộc vào Mẹ Hoa định đoạt

Mẻ bjoóc păn mà, mẻ hoa păn lại

(Mẹ hoa sinh ra, mẹ hoa đặt lại) Giữa muôn hàng ngàn tía của sắc hoa rừng có một bông hoa thần tuyệt

mỹ - đó là hoa Vặc viền chính là Hoa Người - tượng trưng cho con người

Người Tày có câu châm ngôn: “Con trai con gái, hoa trái của bản” Tuổi của

hoa là đang độ trưởng thành Cũng như con người ở tuổi thanh xuân Hoa là biểu tượng của lòng tin và bản lĩnh:

Hoa em bốn mùa không héo Hoa này lửa đốt không cháy Hoa này thả suối không trôi [27]

Hoa còn là biểu tượng của sự sinh sôi:

Vườn hoa vàng sinh ra con trai

Vườn hoa bạc sinh ra con gái [27]

Tóm lại, hoa là tinh tuý, là đẹp đẽ nhất, là vui tươi, là sự sinh sôi nảy nở… Trong lời hát Quan lang hình tượng hoa được sử dụng với tất cả những

Trang 35

Đám cưới người Tày thường tổ chức vào mùa xuân - mùa hoa nở Tuy

nhiên “mùa hoa” ở đây còn chỉ con trai, con gái đang độ xuân sắc Có nghĩa

là đám cưới được tổ chức vào thời điểm đẹp nhất, vui nhất Cô dâu cũng được

ví như hoa:

Nhà người có cô nàng hoa quý

Hoa người đang gặp lúc nở thơm

Hoa người đang mùa xuân chúm chím… [27]

Khi đón dâu về nhà, người Tày có tục rửa mặt cho cô dâu khi bước chân

vào cửa, kèm theo lời hát:

Như tháng giêng hoa rầm đua nở [27]

Người phụ nữ ở đây không riêng gì cô dâu mà còn có người mẹ với công

lao sinh thành, dưỡng dục sự hi sinh hết sức cao cả :

Phải rằm khấư sloong thước mì đo

Pjá công mẻ vửa xưa gòn gảp

Pạng khấư sle hẩư lủc đỉ nòn

Pạng rằm mẻ cắt đang là hốm

Dịch:

Vải can thiếp xin tỏ bày

Có đủ hai thước lễ này trả ơn

Công lao to lớn của bà mẹ được điển hình hoá ở tấm vải “Rằm - khấư”

(ướt - khô) nhắc đến những tháng đầu nuôi người con gái bé tý ấy, gặp những ngày u ám tã phơi không khô, bà mẹ đã xoay lại phần tã ướt (nước tiểu) về lót nằm để thân nhiệt bà mẹ sấy cho khô, còn phần tã đã khô thì quấn cho con

Tấm vải dài “Rằm - khấư” được nhuộm hồng một nửa (tượng trưng cho phần

tã ướt) một nửa kia để trắng (tượng trưng phần tã khô)

Sau cuộc hôn lễ, trong cuộc sống của cha mẹ họ hàng nhà gái sẽ thiếu vắng một người con yêu quý Nhưng điều đó sẽ không làm cho họ buồn, vì họ

đã được đáp lại bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, bằng sự tôn kính chân thành của chàng rể và họ hàng nhà trai

Thời gian cuộc hôn lễ bên nhà gái có thể trải qua một đêm và một buổi sáng, giờ xuất giá đã đến Nhưng họ hàng nhà gái thì luyến tiếc con gái đẹp của họ Còn cô gái sắp trở thành cô dâu thì bịn rịn, không muốn rời cha mẹ, anh em và bạn bè Có thể cô trùm khăn kín mặt, nằm khóc sướt mướt, khi bạn

bè, người đưa dâu gỡ chăn, vực cô dậy, mặc lại quần áo mới, chải tóc, đội khăn mới đi về nhà chồng, thì cô quằn quại, bám víu cột nhà, hoặc cánh cửa làm thế nào để cô dâu xuống thang về nhà chồng đúng giờ đã chọn? Đó là

vấn đề nan giải Quan lang lại phải ngâm bài thơ cuối cùng “Xo lùa lồng

lảng” (xin cô dâu xuống nhà) Bài thơ có tính chất “Tổng kết” cuộc hôn lễ bên

nhà gái, và khẳng định: đến đây, mọi nghi thức đã đầy đủ, hợp lệ, hai họ đã

hoàn toàn thoả thuận cô dâu phải về nhà chồng “kế thế tông đường” đó là một

việc hợp với qui định của xã hội Lời của bài thơ rất tha thiết, mang tính chất

an ủi, động viên, thúc giục cô dâu Cô dâu lúc này trở thành một nhân vật cô vùng quan trọng và có danh giá:

Vằn nẩy vằn hỷ hả vjòi đây Giờ nguyệt tiên cát thời thâng giá Thuổn mọi gần vui vẻ dồm khua

Trang 36

Giờ nẩy khỏi xo au lùa lồng lảng

Au mừa Sle họ háng khỏi dồm

Au mừa Sle kế thế phụng thờ

Dịch:

Thời điểm giờ nguyệt tiên đã tới

Cả nhà đang mong đợi dâu hiền

Giờ lành xin gia đình xuất giá

Để họ hàng đông đủ đón dâu

Đón dâu về kế thế phụng thờ [27]

Xuống thang đi về nhà chồng là điều hiển nhiên, cô dâu không thể từ chối

nấn ná được Tuy đó là điều tất yếu, nhưng cô dâu vẫn được chiều chuộng,

không có lời cưỡng bức quá đáng Đó là sự quý trọng con người Con người đó

là cô dâu và cô dâu đó sẽ làm rạng rỡ cả gia đình, họ hàng nhà trai

Như vậy, trong tục hát Quan lang ta thấy địa vị của người phụ nữ được

đề cao thực sự, chứ không phải là vì xã giao lịch sự hay vì “nịnh” gái

2.4 Lời cầu chúc cho lứa đôi hạnh phúc và gia chủ an vui

Nội dung của Hát Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng, không chỉ dừng lại

ở lối thử thách bằng thơ của hát Quan lang, bài học về cách ứng xử và đạo lý

làm người, sự trân trọng đối với người phụ nữ mà chúng ta còn thấy trong đó

là lời cầu chúc cho lứa đôi hạnh phúc và gia chủ an vui Đây là nội dung bao

trùm toàn bộ những bài thơ Quan lang, ngay cả khúc ca nghi lễ cũng bao hàm

nội dung ấy:

Đẳm hợi khỏi cụm mừa sloong bưởng Cụm hẩư mìn thịnh vượng an khang Slinh nữ tằng slinh nam kế thế Slinh nam độ tiến sỵ quốc gia Slinh nữ tằng slư tha quyền chức

Mì phúc táng rộp đức mà thâng

Dịch:

Cầu tổ tiên phù hộ cho hai họ

Để gia thế thịnh vượng an khang Sinh nữ cùng sinh nam kế thế Sinh nam đỗ tiến sỹ quốc gia Sinh nữ cũng quyền cao chức trọng

Có đức sẽ gặp được phúc may [27]

Bài hát vừa dứt thì một người trong gia đình nhà gái đến mở gánh lễ;

dâng tất cả lên bàn thờ tổ tiên và “Quan lang mời tổ tiên chứng giám”:

“Nhất khỏi dường đẳm tổ gia tiên Rườn đẳm đảy bình yên kháng thái Gụm lủc lan đảy cải vần gần Hoằn nẩy mì lệ kết hôn đuổi vậu Mời đẳm lồng tu lẩu giường ngần Hoằn hương hoa bân Slung hom toả Mời đẳm lồng thượng toạ kính dường”

Trang 37

Dịch: Thứ nhất mời tiên tổ gia tiên

Nhà tổ được bình yên khang thái

Phà hộ cháu vạn đại trường tồn

Hôm nay được kết hôn giá thú

Mời tổ tiên xuống ngự giường cao

Hương hoa toả ngạt ngào thơm ngát

Các cháu có lễ bạc kính dâng

Mời tổ tiên kính dâng toạ hưởng [27]

Sau khi mời tổ tiên chứng giám thì Quan lang lại có bài ca “Trình lễ và

báo lễ” Lễ vật tuy nhỏ bé nhưng qua lời thơ Quan lang lại rất có ý nghĩa Nó

tượng trưng cho lời cầu chúc lứa đôi hạnh phúc, tình duyên bền chặt như đôi

chim loan phượng, như đôi én nhạn giang cánh bay, như uyên ương thành đôi

bơi trên mặt nước thủ thỉ, thân thương Sau khi dẫn dắt cho cô dâu, chú rể thắp

hương vái tạ tổ tiên chính thức trở thành vợ chồng, Quan lang có lời chúc:

Chúc hẩư Sloong lan

Căm nặm vần bjoóc

Cóp nặm vần hoa

Phja cải Sling lủc luồng

Phja lương Slinh én nhạn

Phja đán thảo kỳ lân

Đây là lời chúc vô giá cho hạnh phúc lứa đôi trong tương lai làm ăn

“Mát mẻ”, vinh hoa phú quý, con cháu đầy đàn, phúc lộc lớn như quả núi cao

sinh ra rồng, như rừng vàng sinh én nhạn, như vách đá sinh ra con kỳ lân, như núi bạc sinh ra nguồn nước Đây là bốn câu thơ cổ được lưu truyền lại, hiện nay chỉ thấy ở Thạch An và mấy xã lân cận như Chu Trinh, Hà Trì, Quang Trung của huyện Hoà An

Để đạt được hạnh phúc ấy, hát Quan lang còn là lời khuyên răn ân tình đối với đôi vợ chồng trẻ:

- Chúc hử phua mìa kin phuối thuận căn Mìa đá phua nhặn lòng đẹp ý

Phua đá mìa đắc đỉ hất đây Tón ngài au phầy mà tó Tức thì liên tẳng mỏ hung hang Kin dá là lo toan hất việc

Chính slử pần đạo nết phua mìa

Dịch: Chúc cho vợ chồng ý thuận ngôn hoà

Vợ có giận thì chồng dịu đi Chồng có giận thì vợ làm lành Đến bữa nổi lửa lên ấm cúng Cùng nhau gánh vác việc gia đình

Đó mới là đạo nết vợ chồng [27]

- Chúc hử:

Giảo khẩu ngần chèn thêm phít phải Rườn sang lượn ngoạ lại lườn triên Slinh đảy nam giai thông văn bút Slinh đảy nữ tử là mọi á như tiên Phu thê đảy nhở cậy vằn lăng

Trang 38

Chúc đôi duyên cùng thiên ý hợp

Thọ như Bành tổ bát thiên niên

Chúc hử gằm lăng tê đảy nận

Danh tiểng cần lai thiên hạ truyền

Dịch : Chúc cho: Có thóc có tiền, lại thêm vải

Nhà sang nhà ngói lại tường xây

Sinh được con trai thông văn bút

Sinh được con gái đẹp như tiên

Vợ chồng được nhờ cậy ngày sau

Chúc cho đôi duyên thêm hoà hợp

Thọ như Bành Tổ tám trăm năm

Chúc cho câu gì được điều đấy

Danh tiếng còn thơm thiên hạ truyền [27]

Và hạnh phúc không chỉ là vật chất mà còn là những giá trị tinh thần:

Chồng khôn vợ rạng mặt với người

Vợ ngoan vợ cũng vui với bạn

Vạn sự khởi đầu nan, cha mẹ gửi con đi làm dâu thì phải sắm sửa

cho con bước đầu những thứ cần thiết, của hồi môn phải được giao công khai

trước mặt mọi người:

Giờ nẩy khỏi giao cúa hồi môn

Phà loan đo sloong phin chúc chúc

Phà mản gẩm co bjoóc lài sli

Phưn đeo in bách hoa loan phượng

Hoằn nẩy ẻn rẳp nhạn mừa rườn

Mon thua đo tôi nưng bấu lế

Sloong coóc thêu dử hỉ song song

Vạng đeo là phượng loan mai trúc

Bjoóc đáo phông hạnh phúc rùm roà

Dịch:

Tôi giao của hồi môn mọi thứ Chăn hoa hãy nhận cho hai chiếc Một cái đệm gấm vóc khác màu Một chiếc in hạc chầu loan phượng

In con én đón nhạn giao ca Đôi gối thêu bách hoa tứ quý Hai góc thêu chữ hỷ song song Một góc thêu hoa ban đua rộ Thêu cành đào hoa nở xuân sang

[49, tr 64-66]

Của hồi môn được miêu tả rất đẹp, thứ nào cũng chan chứa “Nghĩa nặng tình sâu”, mặt chăn dệt hoa tứ quý, mặt in loan phượng sánh đôi Tất cả những kỷ vật đó đều do cha mẹ, họ hàng, và bạn bè cô dâu ban tặng với lời cầu chúc:

“Phua mìa đảy rèng têm hạnh phúc”

[49, tr 65-67]

Có câu thơ rằng:

Nước trong, trong suốt đáy lòng

Có ai biết dưới sâu nông chừng nào

Trang 39

Tình cảm của đôi vợ chồng này không phải như vậy Chắc chắn là họ sẽ

hạnh phúc suốt đời như lời chúc của Quan lang

Mong giả rặp ben bjoóc au mừa

Dịch: Của tay làm là nguồn vô tận

Của cha mẹ nước cuốn xuôi dòng

Người xưa nói bạc vàng thứ hạng

Mặt mũi mới xứng đáng ngàn vàng

Cha mẹ nghèo giúp con có hạn

Mong bà đón hãy điểm mang về

[49, tr.65-67]

Lời chúc cũng là lời dặn dò hai vợ chồng phải tự tay xây dựng cơ nghiệp là

chính chứ không thể phụ thuộc vào cha mẹ mãi được Lời dặn dò đồng thời cũng

là lời chỉ dẫn hướng đi đúng đắn trong cuộc sống cho đôi vợ chồng mới cưới

Mọi thủ tục đã hoàn thành, “Đã đến giờ nguyệt tiên thiên đức” mà đôi

bên gia đình đã định, Quan lang có bài thơ “Xin cho con dâu xuất giá” với lời

cảm ơn sâu sắc tới:

“Cảm ơn thuổn vỉ noọng họ hàng

Dưa khỏi lẹo mọi tàng công khỏ

Lẩu nẩy lẩu cốc bó hom van

Chẻn ngọc khỏi rìn têm cảm tạ

Dùa căn pây hẩư lẹo hẩư thông

Vạ căn kin gần chang củng dử”

Dịch: Xin dâng chén tạm biệt họ hàng Giúp tôi trọn mọi đường thành đạt Rượu này cất tận gốc nước nguồn Chén ngọc rót đầy tràn bằng miệng Cùng nhau hãy cạn chén cho xong Cạn cho hết mọi phần đừng chối [49, tr 70-71]

Và lời mời rượu làm cho người được mời không thể chối từ lời chúc cho mối tình cảm nhà trai và nhà gái đã có trong ngày hôm nay là vĩnh cửu, mãi mãi bền chặt:

Chúc mọi gần hỷ hả đây vjòi Hất mọi mòn đảy lai hơn vậu Sloong mừng căm chẻn lẩu dẳc dò Kin lồng pây chang gò chứ mại Vjổp tồng nhỏt ỏi

Tỏi tồng nhỏt lỳ Kin lồng pây xiên pi chứ mại Tạm biệt thuổn vỉ noọng mọi gần Dùa căn kin dẳng slương à nỏ

Dịch: Chúc mọi người khang thái tốt lành

Cả nhà được bình an phú quý Chén rượu cầm lưỡng lự hai tay Uống vào không sợ say nhớ mãi Rượu nồng như mía lủi ngọt ngào Uống vào ngọt lịm

Mềm như lá mía

Rũ như ngọn lê Nhớ ngàn năm xuân thu nhớ mãi [49, tr 70-71]

Trang 40

Như vậy hát Quan lang không chỉ cho ta thấy một phong tục thử thách

trong đám cưới người Tày ở Thạch An - Cao Bằng mà Hát Quan lang còn là

bài học về cách ứng xử và đạo lý làm người, là sự trân trọng đối với người

phụ nữ không chỉ phản ánh chân thực và sinh động một đám cưới Hát Quan

lang đã thể hiện khát vọng muôn đời của người Tày xưa về những điều tốt

đẹp cho cuộc sống hơn tất cả là lời cầu chúc cho lứa đôi hạnh phúc và gia chủ

an vui, gia đình có con đàn cháu đống, sống trong cảnh đầm ấm và hạnh phúc

Tiểu kết:

Trong kho tàng văn học dân gian miền núi, thơ không những chỉ là hình

thức kể chuyện đời sống mà còn là những lời hát bằng nhiều làn điệu dân tộc

Những người thích đọc thơ, nghe thơ và cả làm thơ cũng là những người say

sưa nghe hát và tham gia hát Đó cũng là trường hợp hát Quan lang (hát đám

cưới) - một hình thức sinh hoạt văn hoá - văn nghệ trong các đám cưới Tày ở

Thạch An - Cao Bằng Sức hấp dẫn của hát Quan lang là ở lối thử thách bằng

thơ Hát Quan lang có nội dung mang giá trị nhân văn sâu sắc Đó là bài học

về cách ứng xử và đạo lý làm người, là sự trân trọng đối với người phụ nữ, là

lời cầu chúc cho lứa đôi hạnh phúc và gia chủ an vui Nội dung toát lên những

tư tưởng tiến bộ và tính chất hiện thực khá sâu sắc, với những lời thơ lành

mạnh, trang nhã, có phong cách và tính chất dân tộc miền núi đậm đà, các bài

hát đám cưới các bài “thơ lẩu” đã làm giàu thêm nền văn hoá - văn nghệ dân

gian của các dân tộc thiểu số nói riêng cũng như nền văn hoá - văn nghệ cả

Cũng như các dân tộc khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Tày ở Thạch An – Cao Bằng rất coi trọng việc hôn lễvì nó thể hiện ý thức trách nhiệm với tổ tiên giống nòi, là hình thức củng cố và phát triển xã hội Có thể nói, từ trước tới nay đám cưới người Tày nơi đây không chỉ là công việc của mỗi nhà mà còn là công việc của cả làng bản Vì thế, mỗi khi có đám cưới,

cả bản lại rộ lên như hội Điều độc đáo trong đám cưới là đón dâu bằng thơ - hát Đón dâu bằng thơ là một phong tục thể hiện nét đẹp độc đáo mang đậm đà bản sắc dân tộc Trong đám cưới, các thủ tục nghi lễ đều có những bài ca Người tham gia diễn xướng đám cưới cũng là đối tượng vừa xác định vừa không xác định, vừa là con người cụ thể vừa là con người bất kỳ xác định Cụ thể vì đó là ông Quan lang, bà Pả mẻ trong một đám cưới Không xác định, bất kỳ vì mỗi đám cưới có các ông Quan lang, bà Pả mẻ (Pả Slống,

Pả rẳp) khác nhau Đó có thể là ông A hoặc ông B, ông C bà A hoặc bà B,

bà C tuy nhiên họ đều dùng những khúc hát giống nhau họ là những người được gia chủ (nhà trai, nhà gái) tin tưởng chọn làm đại diện cho mình Tuy vậy, những lời hát của họ là những tiếng thơ dân gian mang tính

cộng đồng chứ không phải tiếng thơ bác học mang tính cá thể Nhưng “Quan

lang” giữ một vai trò rất quan trọng, đó là người đại diện cao nhất của họ nhà

trai, có thẩm quyền giải quyết tất cả mọi việc liên quan đến vấn đề nghi lễ với

họ nhà gái Cho nên, một người muốn được mời làm “Quan lang” phải có một số tiêu chuẩn chính sau đây: biết “thơ lẩu” và thuộc lòng nhiều bài “thơ

lẩu” khác nhau, để có thể hát những bài mà bên kia không “đối” lại được,

Ngày đăng: 03/08/2016, 20:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3. Chiều về trên con suối Nà Vàng ở Lê Lai - Thạch An - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 3. Chiều về trên con suối Nà Vàng ở Lê Lai - Thạch An (Trang 88)
Hình 4. Cánh đồng Pác Khoang - xã Đức Xuân - huyện Thạch An - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 4. Cánh đồng Pác Khoang - xã Đức Xuân - huyện Thạch An (Trang 88)
Hình 6. Cọn nước của người Tày ở xóm Nà Cà -  xã Trọng Con - Thạch An - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 6. Cọn nước của người Tày ở xóm Nà Cà - xã Trọng Con - Thạch An (Trang 88)
Hình 5. Làng bản của người Tày ở xã Quang Trọng - Thạch An - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 5. Làng bản của người Tày ở xã Quang Trọng - Thạch An (Trang 88)
Hình 8. Đặc sản khẩu lam (cơm lam)   (Ảnh của Hữu Văn trong “Du lịch Cao Bằng”) - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 8. Đặc sản khẩu lam (cơm lam) (Ảnh của Hữu Văn trong “Du lịch Cao Bằng”) (Trang 89)
Hình 7. Làng bản người Tày ở Thị Ngân - Thạch An - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 7. Làng bản người Tày ở Thị Ngân - Thạch An (Trang 89)
Hình 9. Đặc sản thịt lợn quay   (Ảnh của Hải Triều trong “Du lịch Cao Bằng”) - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 9. Đặc sản thịt lợn quay (Ảnh của Hải Triều trong “Du lịch Cao Bằng”) (Trang 89)
Hình 10. Quan lang dẫn đầu đoàn nhà trai - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 10. Quan lang dẫn đầu đoàn nhà trai (Trang 90)
Hình 14. Nhà gái mời rƣợu rửa chân (Ảnh tác giả đề tài  chụp từ đĩa - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 14. Nhà gái mời rƣợu rửa chân (Ảnh tác giả đề tài chụp từ đĩa (Trang 91)
Hình 15. Vào cửa   (Ảnh tác giả đề tài chụp từ đĩa VCD - Sở Văn hoá thông tin tỉnh Cao Bằng) - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 15. Vào cửa (Ảnh tác giả đề tài chụp từ đĩa VCD - Sở Văn hoá thông tin tỉnh Cao Bằng) (Trang 91)
Hình 19. Trải chiếu   (Ảnh tác giả đề tài chụp từ đĩa VCD - Sở Văn hoá thông tin tỉnh Cao Bằng) - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 19. Trải chiếu (Ảnh tác giả đề tài chụp từ đĩa VCD - Sở Văn hoá thông tin tỉnh Cao Bằng) (Trang 92)
Hình 21. Của hồi môn   (Tác giả đề tài chụp ngày 04/02/2009 tại lễ cưới của anh Lý Văn Thuỷ - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 21. Của hồi môn (Tác giả đề tài chụp ngày 04/02/2009 tại lễ cưới của anh Lý Văn Thuỷ (Trang 92)
Hình 22. Quan lang xin cho cô dâu xuất giá - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 22. Quan lang xin cho cô dâu xuất giá (Trang 93)
Hình 23. Quan lang   (Ảnh tác giả đề tài chụp từ đĩa VCD - Sở Văn hoá thông tin tỉnh Cao Bằng) - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 23. Quan lang (Ảnh tác giả đề tài chụp từ đĩa VCD - Sở Văn hoá thông tin tỉnh Cao Bằng) (Trang 93)
Hình 24. Pả mẻ   (Ảnh tác giả đề tài chụp từ đĩa VCD - Sở Văn hoá thông tin tỉnh Cao Bằng) - HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY Ở THẠCH AN  CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN
Hình 24. Pả mẻ (Ảnh tác giả đề tài chụp từ đĩa VCD - Sở Văn hoá thông tin tỉnh Cao Bằng) (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w