Ấn Độ là một quốc gia tôn giáo, với nhiều tôn giáo trên thế giới. Nhưng có 2 tôn giáo lớn ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội của người dân chính là: Ấn Độ giáo và Phật giáoII.Vài nét chung về đất nước Ấn Độ và tôn giáo Ấn Độ1.Đất nước Ấn Độ:Đất nước cũng như Phong Cảnh Ấn Độ với nhiều nét tương phản trải dài từ những rặng núi, sa mạc tuyết phủ và những bãi biển với hàng cọ xanh cho đến các khu nghĩ mát vùng núi yên tĩnh, những kỳ quan kiến trúc và những cảnh đẹp kỳ lạ. Đền thờ Taj Mahal lãng mạn, chợ mua bán lạc đà Rajast ban đêm màu sắc, những pháo đài cổ và tàn tích đầy ấn tượng, tất cả những nét đẹp đã biến Ấn Độ trở thành xứ sở của những cảnh đẹp và những thanh âm.Đến với Ấn Độ, không chỉ chiêm ngưỡng các khu thánh tích nguy nga, cổ kính ở bên vịnh Bengal mà còn được đắm mình trong không gian yên tĩnh, thần bí của những ngôi làng với các kiến trúc Phật giáo ở Sanchi hay những hang động tuyệt mỹ nằm sâu dưới lòng đất và trong các thung lũng ở Thành Phố Aurangabad. Đến hang động Elephata ở Thành Phố Mumbai có nhiều kiến trúc chạm khắc tinh xảo trong hang đá xuất hiện từ Thế Kỷ thứ 6 đến Thế Kỷ thứ 8.2. Tôn giáo Ấn ĐộẤn Độ là đất nước của tôn giáo, nơi chung sống hòa hợp của hầu hết các tôn giáo trên thế giới .Từ thuở bình minh của lịch sử, tôn giáo đã có vai trò quan trọng trong đời sống, chi phối sâu sắc xã hội Ấn Độ, đặc biệt là đạo Bàlamôn, về sau phát triển thành đạo Hinđu. Ngày nay, ở Ấn Độ có 2 dòng tôn giáo chính :Tôn giáo bản địa: Bàlamôn – Hinđu, Phật, Jain, Síkh.Tôn giáo ngoại nhập: Hồi, Thiên chúa, Do thái, Bái hỏa giáo.Từ những tôn giáo trên lại phát sinh những giáo phái khác khiến Ấn Độ thành quê hương của hang “trăm đạo, mỗi đạo có hình tượng, giáo chủ và nghi lễ riêng” rất phong phú, phức tạp. Tôn giáo thấm vào mọi mặt đời sống, đằng sau đó là chính trị, văn học, nghệ thuật, âm nhạc, lễ hội, những cuộc hành hương, những truyền thuyết, những món ăn đặc trưng. Hiện nay hơn 80% dân số Ấn Độ theo đạo Hinđu, tôn giáo lớn thứ hai ở Ấn Độ là Hồi giáo. Tín đồ Hồi giáo ở Ấn Độ đứng thứ hai trên thế giới, sau Inđônêxia .Ở Ấn Độ có nhiều tôn giáo cùng tồn tại nhưng có 2 tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam là Ấn Độ giáo(đạo Bàlamôn) và Phật giáo.
Trang 1I.Lời mở đầu
Ấn Độ là một quốc gia tôn giáo, với nhiều tôn giáo trên thế giới Nhưng có 2 tôn giáo lớn ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội của người dân chính là: Ấn Độ giáo và Phật giáo
II.Vài nét chung về đất nước Ấn Độ và tôn giáo Ấn Độ
1.Đất nước Ấn Độ:
Đất nước cũng như Phong Cảnh Ấn Độ với nhiều nét tương phản trải dài từ những rặng núi, sa mạc tuyết phủ và những bãi biển với hàng cọ xanh cho đến các khu nghĩ mát vùng núi yên tĩnh, những kỳ quan kiến trúc và những cảnh đẹp kỳ lạ Đền thờ Taj Mahal lãng mạn, chợ mua bán lạc đà Rajast ban đêm màu sắc, những pháo đài cổ và tàn tích đầy ấn tượng, tất cả những nét đẹp đã biến Ấn Độ trở thành
xứ sở của những cảnh đẹp và những thanh âm
Đến với Ấn Độ, không chỉ chiêm ngưỡng các khu thánh tích nguy nga, cổ kính ở bên vịnh Bengal mà còn được đắm mình trong không gian yên tĩnh, thần bí của những ngôi làng với các kiến trúc Phật giáo ở Sanchi hay những hang động tuyệt mỹ nằm sâu dưới lòng đất và trong các thung lũng ở Thành Phố Aurangabad Đến hang động Elephata ở Thành Phố Mumbai có nhiều kiến trúc chạm khắc tinh xảo trong hang đá xuất hiện từ Thế Kỷ thứ 6 đến Thế Kỷ thứ 8
2 Tôn giáo Ấn Độ
Ấn Độ là đất nước của tôn giáo, nơi chung sống hòa hợp của hầu hết các tôn giáo trên thế giới Từ thuở bình minh của lịch sử, tôn giáo đã có vai trò quan trọng trong đời sống, chi phối sâu sắc xã hội Ấn Độ, đặc biệt là đạo Bàlamôn, về sau phát triển thành đạo Hinđu Ngày nay, ở Ấn Độ có 2 dòng tôn giáo chính :
- Tôn giáo bản địa: Bàlamôn – Hinđu, Phật, Jain, Síkh
- Tôn giáo ngoại nhập: Hồi, Thiên chúa, Do thái, Bái hỏa giáo
Từ những tôn giáo trên lại phát sinh những giáo phái khác khiến Ấn Độ thành quê hương của hang “trăm đạo, mỗi đạo có hình tượng, giáo chủ và nghi lễ
Trang 2riêng” rất phong phú, phức tạp Tôn giáo thấm vào mọi mặt đời sống, đằng sau đó
là chính trị, văn học, nghệ thuật, âm nhạc, lễ hội, những cuộc hành hương, những truyền thuyết, những món ăn đặc trưng Hiện nay hơn 80% dân số Ấn Độ theo đạo Hinđu, tôn giáo lớn thứ hai ở Ấn Độ là Hồi giáo Tín đồ Hồi giáo ở Ấn Độ đứng thứ hai trên thế giới, sau Inđônêxia
Ở Ấn Độ có nhiều tôn giáo cùng tồn tại nhưng có 2 tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam là Ấn Độ giáo(đạo Bàlamôn) và Phật giáo
III Ảnh hưởng của các tôn giáo Ấn Độ đến Việt Nam.
1 Ấn Độ giáo
Đạo Bàlamôn (ẤN Độ giáo) khởi nguồn từ tín ngưỡng dân gian, nền móng của tôn giáo lớn nhất này được xây đắp từ thời Vêđa.Vêđa chính là kinh điểm sớm nhất của tôn giáo đa thần này Đạo Bàlamôn là tôn giáo không người sáng lập, không có tổ chức giáo hội chặt chẽ, giáo lý dựa vào chế độ Vacna và luật Manu, thể hieenjqua 3 cặp phạm trù chính: Atman – Brahman, Karna – Samsara, Đharma – Moksha Khái niệm Atman, Brahman là nền tảng vũ trụ quan trọng, đè cập đến mối quan hệ giữa bản ngã và đại ngã vốn đồng nhất nhứng khác nhau về hình thể Phạm trù Karna – Samsara là học thuyết thể hiện nhân sinh quan mang tính triết lý sâu sắc.Đó chính là học thuyết nghiệp báo – luân hồi, điểm tựa của tôn giáo Đharma – Moksha là một thuật ngữ đa nghĩa quan trọng, bị chi phối bởi đẳng cấp
và những giai đoạn đời của con người Con đường dẫn đến giải thoát là tri thức, hành động và sùng tín
Sự ảnh hưởng của đạo Bàlamôn đến Việt Nam: sự ra đời và phát triển của văn hóa Chăm trên các mặt của đời sống nhưng chúng ta có thể thấy rõ nét ở 3 khía cạnh: kiến trúc, điêu khắc, sức mạnh bản địa hóa
3.1Kiến trúc:
- Những đền tháp Chăm đều có đặc điểm chung là một cụm kiến trúc bao gồm một tháp trung tâm hình vuông, mái thôn nhọn “tượng trưng cho ngọn núi
Trang 3Mêru - Ấn Độ, trung tâm vũ trụ nơi ngự trị của thánh thần” Xung quanh tháp chính là những tháp chính là những tháp nhỏ nằm theo vị trí 4 hướng tượng trưng cho các lục địa và ngoài cùng là hào rãnh, biểu tượng của đại dương Sơ đồ kiến trúc đó được xây dựng theo khái niệm vũ trụ luận của Ấn Độ
- Tháp còn có một đặc điểm chung là xây bằng gạch, có 4 mặt hình vuông đối xứng nhau Mặt trước hướng về phía đông có cửa ra vào còn 3 mặt còn lại ở 3 hướng (tây, nam, bắc) có ba cửa giả Tháp Chăm thường có 3 tầng được cấu trúc như nhau, mỗi tầng càng lên cao càng thu nhỏ dần và kết thúc bằng một Linga bằng đá trên nóc tháp Kĩ thuật xây dựng và chất kết dính tháp Chăm như thế nào đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn chưa giải mã được đối với những nhà nghiên cứu Gần một thế kỷ trôi qua, ngày trong những năm đầu thế kỉ XX các nhà nghiên cứu người Pháp như G Maspero (1928), J Clayes, H Pamertier (1948), Wawrenersk
và Skibinski (1937)… đã đưa ra nhiều giải thiết, thể nghiệm về chất kết dính của các viên gạch trong kĩ thuật xây tháp người Chăm Các ý kiến của tác giả nêu trên tựu trung lại thành 4 giả thuyết như sau:
- Trong kĩ thuật xây tháp, người Chăm nung gạch toàn khối hoặc nhiều lần
để các viên gạchtự kết dính với nhau
- Sử dụng chất kết dính (chất keo, phụ gia) trong việc xây gạch
- Mài gạch với mặt tiếp xúc để gạch tự kết dính với nhau
- Dùng kĩ thuật xếp gạch nung sẵn
3.2 Điêu khắc:
Cùng với kiến trúc, điêu khắc Champa cũng thể hiện được vẻ đa dạng, độc đáo.Những đề tài điêu khắc Chăm là những tượng thờ Siva, Vishnu, Brahma.Ngoài những vị thần trên, vật thờ ở tháp Chăm phổ biến vẫn là cặp Linga-Yoni Ngoài
Trang 4tượng thờ các vị thần chính, điêu khắc ở đền tháp Chăm còn trang trí bằng tượng thờ Vũ nữ (apsara), người cưỡi ngựa đánh cầu; những con vật huyền thoại như Garuda, Kala, bò thần Nandin Những cảnh chạm khắc trang trí ở các bệ thờ, điêu khắc Chăm phần lớn ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ Chẳng hạn bệ thờ Trà Kiệu chạm khắc 4 cảnh quanh đài thờ kể chuyện trường ca Ramayana (chủ đề lễ cưới công chúa Sita) Bệ thờ Mỹ Sơn E1 diễn tả cảnh sinh hoạt lễ nghi tôn giáo của đạo sĩ Ấn
và những cảnh trầm tư, giảng đạo múa hát, luyện thuốc chữa bệnh.Điêu khắc Chăm
đã thể hiện nhiều đề tài phong phú, đa dạng.Một số tác phẩm đã trở thành kiệt tác
mà tiêu biểu là tượng Vũ nữ Trà Kiệu (Apsara) được đánh giá là “đỉnh cao của nghệ thuật tạc tượng Champa và của cả miền Đông Nam Á”
Nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc Chăm tuy có những nét ảnh hưởng văn hoá
Ấn Độ, Indonesia, Khơme nhưng họ không tiếp thu, sao chép một cách nguyên vẹn
mà luôn cải biên sáng tạo trên cơ sở văn hoá bản địa Người Chăm một thời tôn thờ, đề cao Siva Ấn Độ nhưng Siva của người Chăm không giống Siva Ấn Độ, Siva Chăm vẫn hướng về nữ tính, gần gũi với tín ngưỡng thờ mẫu (Inư) của người Chăm và luôn kết hợp với Linga – Yoni (tín ngưỡng phồn thực) Về sau tục thờ Siva được gắn với tục thờ Vua - Thần (Mukhalinga) Điều đó thể hiện được tính bản địa - một cá tính riêng trong tục thờ thần của người Chăm Cũng như các mẫu
đề điêu khắc, kiến trúc Chăm luôn dựa vào môtíp của Ấn giáo để rồi biến hoá thành cái riêng mình Chẳng hạn tháp Chăm chỉ xây bằng gạch, chứ không xây bằng đá như tháp Ấn Độ Các tháp Chăm hướng về hình khối đơn giản, không qui
mô bề thế như các tháp ở Ấn Độ, đền tháp Ăngko (Campuchia), tháp Borobudur (Indonesia) Tháp Chăm luôn hướng về tiểu phẩm cân xứng, đẹp mắt, vừa độc đáo vừa có cá tính, kĩ thuật, bí quyết riêng mà đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn Đó là thành tựu rực rỡ, là nét bản sắc riêng biệt, “thể hiện sự sáng tạo, tài ba độc đáo của những nhà kiến trúc, điêu khắc Chăm thời xa xưa”
Trang 5Tôn giáo người Chăm tiếp nhận ở Ấn Độ là tôn giáo Bàlamôn Bàlamôn giáo cảu Ấn Độ đến Chăm trở thành Siva giáo Trên thực tế, thần Siva này cùng các thần khác với lý lịch Ấn Độ xa lạ chỉ còn tồn tại trong ý nghĩ của tầng lớp tri thức và tu sĩ Bàlamôn Đối với số đông người Chăm, thần Siva, tượng Linga…chỉ
là hình thức, còn ước vọng phồn thực và lòng sung kính các nữ thần địa phương, các anh hùng dân tộc mới là nội dung Đạo Bàlamôn xa lạ đã được người Chăm biến cải thành đạo Bà Chăm gần gũi, đạo Bà Chăm đã không còn là Bàlamôn giáo
Ấn Độ nữa mà chỉ có thể xem như một biến thể của nó
2.Phật giáo.
Đạo Phật ban đầu về bản chất là tôn giáo vô thần với quan niệm thế giới do nhân duyên tạo nên chứ không có đấng sang tạo Brahman Người sáng lập đạo Phật là hòng tử Gôtama, sau này trở thành Thích Ca Mâu Ni, mục đích của đạo Phật là tìm ra nguyên nhân và phương thức giải thoát nỗi khổ cho con người Phật giáo ra đời vào thế kỷ VI TCN, chủ trương đề cao đạo đức, tư tưởng bác ái, hướng tới xã hội bình đẳng, hòa đồng.Học thuyết cảu Phật giáo được kết tinh trong “Tứ diệu đế”.Bản chất nỗi khổ trên đời là Khổ đế Sinh,lão, bệnh , tử, không được thỏa mãn ahm muốn… tất thảy đều là đau khổ Phật giáo đưa ra 2 nội dung quan trọng
để hiểu khố đế: thuyết vô ngã, vô thường khống có gì là vĩnh hằng, bất biến Tập
đế là chân lý về nghuyên nhân của nỗi khổ.Vòng quay thập nhị nhân duyên là cơ chế luân hồi Nguyên nhân chủ yếu là dục vọng dẫn đến hành động tạo nghiệp do
vô minh Ham muốn còn khiến nghiệp không dứt, luân hồi mãi mãi.Diệt đế là về chấm dứt nỗi khổ.Phải trừu bỏ gốc rễ nằm ngay trong bản thân con người là ái dục
vô minh, từ bỏ tham – sâm – si để đạt tới niết bàn Chân lý về sự giải thoát, cùng với vô thường - vô ngã tạo nên tam pháp ấn của Phật giáo Đạo đế là chân lý về
Trang 6con đường diệt khổ, đạt tới sự giải thoát Con đường ấy nhiều nghiệt ngã, thường được gọi là bát chính đạo mà chung quy là suy nghĩ, nói năng,hành động đúng đắn, là sự tự tu dưỡng, tự giải thoát cho mình, đạt đến trạng thái tĩnh tâm tuyệt đối Sức mạnh của Phật giáo là ở phương diện đạo đức
Bát chính đạo là con đường đi đến giải pháp gồm 8 điều: chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tịnh tiến, chính niệm, chính định, chính tri kiến, chính
tư duy
Ảnh hưởng cảu Phật giáo đến Việt Nam được chia ra làm 2 giai đoạn: thời xưa và trong điều kiện phát triển hiện nay
2.1 Thời xưa
Ảnh hưởng của Phật giáo đến Việt Nam trong giai đoạn này được thể hiện rõ trên các phương diện: tư tưởng đạo lý, trong quá trình hội nhập văn hóa Việt, nhân văn và xã hội, các laoij hình nghệ thuật
2.1.1 Tư tưởng đạo lý :
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của đạo Phật là đạo lý Duyên Khởi, Tứ Diệu
Đế và Bát chính Đạo Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái Phật giáo, nguyên thủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dân Việt
Đạo lý Duyên Khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới hiện tại.Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà tồn tại Không những các sự kiện thuộc thế giới con người như thành, bại, thịnh, suy mà tất cả những hiện tượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây, hoa, lá cũng điều vâng theo luật duyên khởi
mà sinh thành, tồn tại và tiêu hoại Có 4 loại duyên cần được phân biệt: thứ nhất là Nhân Duyên Có thể gọi là điều kiện gàn gũi nhất, như hạt lúa là nhân duyên cảu cây lúa Thứ hai là Tăng Thượng Duyên tức là những điều kiện có tư liệu cho nhân duyên ví như phân bón và nước là tăng thượng duyên cho hạt lúa Thứ ba là Sở
Trang 7Duyên tức là những điều kiện làm đối tượng nhận thức.Thứ tư là Đẳng Vô Gían Duyên tức là sự lien tục không gián đoán, cần thiết cho sự phát sinh trưởng thành
và tồn tại
Luật nhân quả cần được quan sát và áp dụng theo nguyên tắc duyên sinh mới
có thể gọi là luật nhân quả của Đạo Phật, theo đạo lý duyên sinh, một nhân đơn đọc không bao giờ có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao giờ cũng đóng vai trò quả, cho một nhân khác Cái gì cũng sẽ có hậu quả nó của nó, nếu chúng ta không cử xử một cách đúng đắn “gieo nhân nào gặp quả đấy”, “ác giả ác bảo” Khuyên mọi người tự cố gắng tu thân…
Đạo lý hiếu ân trong ý nghĩa mở rộng có cùng một đợi tượng thực hiện là nhắm vào người thân, cha mẹ, đất nước, nhân dân, chúng sinh, vũ trụ, đó là môi trường sống của chúng sinh gồm cả mặt tâm linh nữa Đạo lý Tứ Ân còn có chung cái động cơ thúc đẩy là Từ Bi, Hỷ Xã khiến cho ta sống hìa hòa với xa hội, với thiên nhiên để tiến đến hạnh phúc chân thực và mien trường Từ cơ sở tư tưởng triết học và đạo lý trên đã giúp cho Phật giáo Việt Nam hình thành được một bản sắc đặc thù rất riêng biệt cảu nó tại Việt Nam, góp phần làm phong phú, góp phần làm phong phú và đa dạng hóa nền văn hóa tinh thần của dân tộc Việt
2.1.2 Trong quá trình hội nhập văn hóa Việt
Khi được truyền vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng bản địa, do vậy đã kết hợp chặt chẽ với các tín ngưỡng này Biểu tượng chùa Tứ Pháp thực ra vẫn chỉ là những đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên Mây, Mưa, Sấm, Chớp và thờ Đá Lối kiến trúc của chùa Việt Nam là tiền Phật hậu Thần cùng với việc thờ trong chùa các vị thần, các vị thánh, các vị anh hùng dân tộc…
Ảnh hưởng Phật giáo qua sự dung hòa với các tôn giáo khác Đó là kết quả của sự phối hợp và kết tinh cảu Đạo Phật với đạo Nho và đạo Lão, được các nhà
Trang 8vau thời Lý công khai hóa và hợp pháp hóa Chính vì đặc tính dung hòa và điều này mà Phật giáo Việt Nam đã trở thành tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Việt
Ảnh hưởng Phật giáo qua sự dung hòa với các quan hệ chính trị xã hội Phật giáo tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng Phật giáo Việt Nam có chủ trương nhập thế, tinh thần nhạp thế sinh động này nổi bật nhất là các thời Đinh, Lê, Lý, Trần Trong các thời kỳ này các vị cao tăng có học thức, có giới hạnh đều được mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những việc quan trọng của quốc gia Đến thế kỷ 20, phật tử Việt Nam rất hăng hái tham gia các hoạt động xã hội như cuộc vạn động đòi ân xá cho Phan Bội Châu Đến thời Diệm, Thiệu (1959-1975) cũng thế, các tăng sĩ và cư sĩ miền Nam tham gia tích cực cho phong trào đấu tranh đòi hòa bình và đọc lập cho dân tộc, nổi bật là những cuộc đối thoại chính trị giữa các tăng sĩ Phật giáo và chính quyền Đến cuối thế kỷ 20, ta thấy tinh thần nhập thế này cũng không ngừng phát huy, đó là sự có mặt cảu thiền sư Việt Nam trong quốc hội của nước nhà
2.1.3 Nhân văn và xã hội
Trong đời sống thường nhật cũng như trong văn học Việt Nam ta thấy có nhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật giáo được nhiều người dung đến kể
cả những người ít học.Tuy nhiên không phải ai cũng biết những từ ngữ này xuất phát từ đạo Phật, chảng hạn như khi ta thấy ai bị hoạn nạn, đau khổ tỏ lòng thương xót, người ta bảo “tội nghiệp quá”.Hai chữ tội nghiệp là từ ngữ chuyên môn của Phật giáo Mọi người đều nói tội nghiệp nhưng không phải nhiều người biết được
đó là một từ ngữ nói lên một chủ thuyết rất căn bản của Phật: “thuyết nhân quả báo ứng” thuyết này cũng đi sâu vào nhận thức dân gian những cách như “ở hiền gặp lành, gieo gió gặp bão” hay là cau thơ bình dân:
Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây dức để đời mai sau
Trang 9Bên cạnh ca dao bình dân, trong các tác phẩm văn học của các nhà thơ, nhà văn chúng ta cũng thấy có nhiều bài thơ, tác phẩm chịu ảnh hưởng nhiều hay ít của Phật giáo Ở đây chúng ta không đề cập đến dòng văn học chính thống cảu phật giáo, tức là tác phẩm do các thiền sư sáng tác trong quá trình tu tập của mình, mà chỉ nói đến các thơ văn Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của triết lý phật giáo Cái ảnh hưởng đó có nagy từ khi phật giáo du nhập vào nước Việt, nghĩa là khi chữ Hán còn thịnh hành , nhưng để thấy rõ rang hơn, ta chỉ đề cập sự ảnh hưởng của phật giáo trong thơ văn từ khi người Việt Nam đã viết chữ Nôm Theo cái nhìn của Phật giáo, khi mô tả nỗi khổ chúng sinh thường được ẩn dụ như khỗ ải Cái khổ ấy từ đâu mà có, vốn chỗ lầm chấp, vô minh của con người mà có, từ chỗ mê lầm ấy mà được hình dung mê tân ( bến mê)
Phong tục tập quán thể hiện đặc sắc và tính đặc thù về văn hóa cảu mỗi dân tộc Thông qua việc tìm hiểu phong tục tập quán, người ta tìm lại được những giá trị văn hóa mang bản chất truyền thống cảu các dân tộc Đối với người Việt Nam, những phong tục tập quán chịu ảnh hưởng phật giáo khá nhiều song ở đay nguwoif Việt chỉ đề cập đến những tập tục phổ biến trong đời sống hằng ngày cảu nguời Việt như: ảnh hưởng qua tập túc ăn chay, thờ Phật, phóng sinh và bố thí; qua tập tục cúng rằm, mồng một và lễ chùa; ảnh hưởng qua nghi thức ma chay, cưới hỏi…
2.1.4 Ảnh hưởng qua các loại hình nghệ thuật
- Qua nghệ thuật sân khấu: Nghệ thuật sân khấu cũng là một loại hình văn hóa, nhất là các chủng loại này thuộc về di sân mang tính bản sắc của văn hóa dân tộc song song với những phần đã nêu ra ở trên Tính triết lý "nhân quả báo ứng" của Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong các bài ca tuồng, vở diễn phù hợp với đạo lý phương đông và nếp sống truyền thống của dân tộc Thứ nhất, loại hát chèo xuất hiện ban đầu chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, thu hút nhiều tinh
Trang 10hoa nghệ thuật dân gian như múa, hát và diễn các vở truyện Nôm truyền thống Đáng kể nhất là vở "Quan Âm Thị Kính" đã đi vào dạng tuồng tiêu biểu chính thống khi nhắc đến môn nghệ thuật này Còn có các vở "Trương Viên", "Lưu Bình Dương Lễ", "Kim Nhan", "Chu Mãi Thần" đều mang tính thưởng thiện phạt ác
và các vở này gọi là tiêu biểu nên có tên gọi là "chèo cổ" Thứ 2, hát bội ban đầu
đi vào nếp sống cung đình, khác với chèo cổ, nghệ thuật này trở nên một loại hình giải trí cao cấp dành cho vua chúa và giới thượng lưu, một phía khác là nó dành cho những ai có trình độ thưởng thức nghệ thuật, tương đối thì mới có thể xem và cảm nhận được chủng loại độc đáo này Các vở "San Hậu"; "Tam Nữ Đồ Vương";
"Diễn Võ Đình", "Nghiêu Sò Ốc Hến" là những vở mang tính chất dân tộc chính thống và chứa đựng toàn vẹn triết lý "nhân quả báo ứng" và hướng thiện một cách cao đẹp Thứ 3, kịch nói, đây là loại hình nghệ thuật được du nhập từ phương Tây sau thế chiến thứ hai (1938 - 1945), ban đầu chủ yếu biểu diễn các vở phóng tác từ các vở tuồng của nước ngoài để phục vụ cho Thực Dân và Quan Lại thừa sai
- Ảnh hưởng qua nghệ thuật tạo hình:
Về kiến trúc : Khi Phật giáo truyền vào Việt Nam, cố nhiên đã đem theo các kiểu kiến trúc chùa tháp, lầu chuông gác trống theo mô hình kiến trúc của Ấn Độ, Miến Điện và Trung Hoa Tuy nhiên theo thời gian, tinh thần khai phóng của Phật giáo phối hợp cung với lối tu duy tổng hợp của dân tộc Việt đã tạo ra một mô hình kiến trúc rất riêng cho Phật giáo ở Việt Nam Chùa tháp ở Việt nam thường được xây dựng với lối kiến trúc đặc biệt, mái chùa bao giờ cũng ẩn dấu sau lũy tre làng, dưới gốc cây đa hay ở một nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp hoặc thanh vắng Theo Nguyễ Quân và Phan Cẩm Thương thì kiến trúc Chùa Tháp ở Việt Nam là "một quần thể kiến trúc có quy mô không lớn, tương xứng với tầm vóc con người, phân
bố lớp kiến trúc theo một trục dọc kéo dài gây cảm giác đi sâu không cùng, đưa tự