Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đối với các nước chậm tiến và tiến trình hội nhập của Việt Nam MỞ ĐẦU Trong phần dẫn nhập của bài này tác giả trình bày những động cơ của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay cũng như nguồn gốc và những đặc điểm của nó so với những lần toàn cầu hóa đã xảy ra trước đây trong lịch sử nhân loại. Mục đích là để nhận diện rõ các cơ cấu và những thế lực chủ động cùng với chiến lược của họ. Những chiến lược này thường nhằm áp đặt các “luật chơi” quốc tế có lợi cho họ nhất trong nền kinh tế thị trường toàn cầu mà thị trường là đấu trường và nhiều khi trở thành chiến trường thương mại với quy luật “cá lớn nuốt cá bé” để giành độc quyền. Phần thứ hai là một tổng hợp những hậu quả xấu và tốt của việc toàn cầu hóa trên kinh tế, tài chính và từ đó xã hội, văn hóa, chính trị... nghiã là trên toàn bộ đời sống của người dân tại những nước chậm tiến. Cho đến nay, số các dân tộc chậm tiến là nạn nhân của việc toàn cầu hóa kinh tế đông hơn nhiều so với số các dân tộc đã biết khôn khéo và nhất là có đủ bản lãnh để biến hiện tượng toàn cầu hóa thành một cơ hội để phát triển kinh tế và đất nước của mình. Tìm hiểu những lý do thất bại và những điều kiện để có thể thành công trong quá trình hội nhập vào trào lưu toàn cầu hóa kinh tế là mục tiêu của phần này. Phần thứ ba nhằm trả lời một số câu hỏi có thể đặt ra trong trường hợp Việt Nam. Khi nào Việt Nam sẽ hội nhập vào kinh tế toàn cầu? Dân tộc ta có đủ khả năng, bản lĩnh để thành công trong việc này hay không? Đâu là những yếu kém cơ bản cần phải khắc phục để không trở thành một nạn nhân mới? Vì đã bỏ lỡ mất nhiều thời cơ nên Việt Nam đã và sẽ phải chịu áp lực ngày một lớn của các thế lực chủ động trong nền kinh tế đã toàn cầu hóa. Nhưng nếu hội nhập vào trào lưu toàn cầu hóa là điều bắt buộc để phát triển thì đâu là những cải tổ cần thiết để có thể thành công khi hội nhập? I. Hiện tượng toàn cầu hóa I.1. Nguồn gốc, đặc tính và mức độ hiện hữu. Tiến trình toàn cầu hóa đã bắt đầu rõ nét và phát triển mạnh từ đầu thập niên 80 của thế kỷ XX. Trái với điều người ta thường nghĩ, đây không phải là lần đầu mà là lần toàn cầu hóa thứ ba trong lịch sử nhân loại: Lần thứ nhất xảy ra vào thế kỷ XVI, lần thứ hai vào thế kỷ XIX. Cả hai đều xuất phát từ tham vọng quyền và lợi của giới lãnh đạo các nước Tây Âu. Từ đó đưa tới phong trào tranh đua đi chinh phục, chiếm đất để làm thuộc địa và sự hình thành của chủ nghiã thực dân. Lần đầu là Bồ Đào Nha, Tây Ba Nha, lần thứ hai chủ yếu là Anh, Pháp. Sự kiện lịch sử có lẽ quan trọng nhất trong hai giai đoạn lịch sử này là việc chinh phục Mỹ châu, Úc châu và Phi châu của các người Tây Âu với những hậu qủa thảm khốc cho các dân tộc bản xứ : bị tiêu diệt như Mayas, Aztèques, Aborigènes (Úc); bị dồn vào một chỗ không khác gì thú vật như trường hợp người da đỏ ở Mỹ Châu, bị bắt làm nô lệ, chuyên chở từ Phi châu sang Mỹ châu để phục vụ cho các địa chủ tư bản như trường hợp những người da đen ở Phi châu. Nhẹ hơn đôi chút là trường hợp các dân tộc bị đô hộ như dân tộc Việt Nam, Ấn Độ, Mã Lai, Nam Dương, Algérie, Tunisie, Maroc...Vào cuối thế kỷ thứ 19, người Anh đã từng tự hào là mặt trời không hề lặn trên đế quốc Anh. Thực ra, ngay từ khởi thủy, sinh hoạt thị trường đã có tính chất xuyên quốc gia. Không kể đến các trao đổi buôn bán từ thời thượng cổ của các dân tộc sinh sống quanh vùng Địa Trung Hải, ngay khoảng thế kỷ thứ XII, XIII đã xuất hiện những tổ chức thương mại có tính chất quốc tế. Hai trung tâm về tài chính tại Gênes và Venise của Ý, các tỉnh chuyên về thương mại như Lyon và Besancon của Pháp hay Thương hội ở miền bắc nước Đức đã hoạt động từ thời Trung cổ. Một trong những học giả đã tìm hiểu và phân tích kỹ quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, Karl Marx đã nhận định rằng “Khuynh hướng tạo dựng một thị trường toàn cầu nằm ngay trong quan niệm về tư bản”.
Trang 1Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đối với các nước chậm tiến và tiến trình hội nhập của Việt Nam
***
MỞ ĐẦUTrong phần dẫn nhập của bài này tác giả trình bày những động cơcủa tiến trình toàn cầu hóa hiện nay cũng như nguồn gốc và những đặcđiểm của nó so với những lần toàn cầu hóa đã xảy ra trước đây trong lịch
sử nhân loại Mục đích là để nhận diện rõ các cơ cấu và những thế lựcchủ động cùng với chiến lược của họ Những chiến lược này thườngnhằm áp đặt các “luật chơi” quốc tế có lợi cho họ nhất trong nền kinh tếthị trường toàn cầu mà thị trường là đấu trường và nhiều khi trở thànhchiến trường thương mại với quy luật “cá lớn nuốt cá bé” để giành độcquyền
Phần thứ hai là một tổng hợp những hậu quả xấu và tốt của việc toàncầu hóa trên kinh tế, tài chính và từ đó xã hội, văn hóa, chính trị nghiã
là trên toàn bộ đời sống của người dân tại những nước chậm tiến Chođến nay, số các dân tộc chậm tiến là nạn nhân của việc toàn cầu hóa kinh
tế đông hơn nhiều so với số các dân tộc đã biết khôn khéo và nhất là có
đủ bản lãnh để biến hiện tượng toàn cầu hóa thành một cơ hội để pháttriển kinh tế và đất nước của mình Tìm hiểu những lý do thất bại vànhững điều kiện để có thể thành công trong quá trình hội nhập vào tràolưu toàn cầu hóa kinh tế là mục tiêu của phần này
Phần thứ ba nhằm trả lời một số câu hỏi có thể đặt ra trong trườnghợp Việt Nam Khi nào Việt Nam sẽ hội nhập vào kinh tế toàn cầu? Dântộc ta có đủ khả năng, bản lĩnh để thành công trong việc này hay không?Đâu là những yếu kém cơ bản cần phải khắc phục để không trở thành mộtnạn nhân mới? Vì đã bỏ lỡ mất nhiều thời cơ nên Việt Nam đã và sẽ phảichịu áp lực ngày một lớn của các thế lực chủ động trong nền kinh tế đãtoàn cầu hóa Nhưng nếu hội nhập vào trào lưu toàn cầu hóa là điều bắt
Trang 2buộc để phát triển thì đâu là những cải tổ cần thiết để có thể thành côngkhi hội nhập?
I Hiện tượng toàn cầu hóa
I.1 Nguồn gốc, đặc tính và mức độ hiện hữu Tiến trình toàn cầuhóa đã bắt đầu rõ nét và phát triển mạnh từ đầu thập niên 80 của thế kỷ
XX Trái với điều người ta thường nghĩ, đây không phải là lần đầu mà làlần toàn cầu hóa thứ ba trong lịch sử nhân loại:
Lần thứ nhất xảy ra vào thế kỷ XVI, lần thứ hai vào thế kỷ XIX Cảhai đều xuất phát từ tham vọng quyền và lợi của giới lãnh đạo các nướcTây Âu Từ đó đưa tới phong trào tranh đua đi chinh phục, chiếm đất đểlàm thuộc địa và sự hình thành của chủ nghiã thực dân Lần đầu là BồĐào Nha, Tây Ba Nha, lần thứ hai chủ yếu là Anh, Pháp Sự kiện lịch sử
có lẽ quan trọng nhất trong hai giai đoạn lịch sử này là việc chinh phục
Mỹ châu, Úc châu và Phi châu của các người Tây Âu với những hậu qủathảm khốc cho các dân tộc bản xứ : bị tiêu diệt như Mayas, Aztèques,Aborigènes (Úc); bị dồn vào một chỗ không khác gì thú vật như trườnghợp người da đỏ ở Mỹ Châu, bị bắt làm nô lệ, chuyên chở từ Phi châusang Mỹ châu để phục vụ cho các địa chủ tư bản như trường hợp nhữngngười da đen ở Phi châu Nhẹ hơn đôi chút là trường hợp các dân tộc bị
đô hộ như dân tộc Việt Nam, Ấn Độ, Mã Lai, Nam Dương, Algérie,Tunisie, Maroc Vào cuối thế kỷ thứ 19, người Anh đã từng tự hào là mặttrời không hề lặn trên đế quốc Anh
Thực ra, ngay từ khởi thủy, sinh hoạt thị trường đã có tính chấtxuyên quốc gia Không kể đến các trao đổi buôn bán từ thời thượng cổcủa các dân tộc sinh sống quanh vùng Địa Trung Hải, ngay khoảng thế kỷthứ XII, XIII đã xuất hiện những tổ chức thương mại có tính chất quốc tế.Hai trung tâm về tài chính tại Gênes và Venise của Ý, các tỉnh chuyên vềthương mại như Lyon và Besancon của Pháp hay Thương hội ở miền bắcnước Đức đã hoạt động từ thời Trung cổ Một trong những học giả đã tìm
Trang 3hiểu và phân tích kỹ quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, Karl Marx
đã nhận định rằng “Khuynh hướng tạo dựng một thị trường toàn cầu nằmngay trong quan niệm về tư bản”
Đầu tầu của toàn cầu hóa kỳ này là Hoa Kỳ Toàn cầu hóa khôngnhững bao trùm các lãnh vực thị trường và tài chính mà còn lan rộng ramọi lãnh vực từ công nghệ đến văn hóa, y tế và giáo dục Đặc điểm là nó
là giành cho thị trường và tài chính ưu thế tuyệt đối trên mọi khía cạnhsinh hoạt của con người Nói cách khác, mọi sự việc liên quan đến conngười đều là hàng hóa, dịch vụ và có thể trao đổi, buôn bán với nhữngquy luật của thị trường tự do Xu hướng này hiện đã phổ biến ở khắp mọinơi, từ Đông sang Tây cũng như từ Bắc xuống Nam địa cầu
Theo một số nhà nghiên cứu, hiện tượng toàn cầu hóa với đặc tínhnói trên đã có thể xảy ra vì tác động cùng hướng của bốn sự kiện lịch sửquan trọng trong hai thập niên cuối của thế kỷ XX Đó là : sự phát triểnrất mạnh của các công ty xuyên quốc gia nhờ những tiến bộ vượt bực củacông nghệ và kỹ thuật, nhất là của tin học và truyền thông; sự giảm sútliên tục vai trò điều hòa của Nhà nước tại các nước Tây phương trong cáchoạt động kinh tế, tài chính; sự phá sản của mô hình kinh tế xã hội chủnghiã; cuối cùng, sự kiện mới và quan trọng hơn cả là tài chính đã lấn áthẳn chính trị tại các nước tiền tiến cùng lúc với sự thống trị của chủ nghiã
“tân tự do” và lối “tư duy độc nhất”
I.1.1 Phát triển rất mạnh của các công ty xuyên quốc gia
Đây là hiện tượng được biết đến nhiều nhất nhờ sự quảng cáo, phổbiến rất rộng rãi của các cơ quan truyền thông đại chúng đã được toàn cầuhóa như Times Warner AOL, Vivendi Universal, Bertelsmann Lý do
dễ hiểu là phần lớn các cơ quan này đã bị những công ty xuyên quốc giakiểm soát Do đó giới lãnh đạo các công ty này có sẵn phương tiện đểbiện minh, quảng cáo cho chiến lược bành trướng của họ Vào nhữngnăm cuối của thế kỷ thứ 20 đã có những cuộc chay đua sáp nhập ngoạn
Trang 4mục giữa những công ty lớn với mục đích làm bá chủ trong ngành của họtrên thị trường toàn cầu Một vài đặc điểm của hiện tượng phát triển nàynhư sau:
Theo thống kê và ước lượng năm 1999, tầm vóc của các công tyxuyên quốc gia trên thế giới có thể tóm lược qua một vài con số:
70 % thương mại trên thế giới do khoảng 500 công ty xuyên quốcgia kiểm soát
50 % đầu tư trực tiếp trên thế giới nằm trong tay 1% các công ty trêntoàn cầu
475 tỷ phú giầu nhất trên thế giới có lợi tức tổng cộng bằng lợi tứcchung của một nửa số nhân loại nghèo
Hàng chục công ty xuyên quốc gia mạnh nhất có sản lượng hơn hẳntổng sản lượng (PNB) của các quốc gia cỡ trung bình như Thái Lan, ThổNhĩ Kỳ, Nam Phi, Na Uy, Mã Lai, Chí Lợi
Hàng chục công ty sau khi phát triển đã giữ vai trò gần như độcquyền, nghĩa là chiếm trên 40 % thị trường toàn cầu trong ngành hànghóa hay dịch vụ của mình
Điều mới so với thời trước là từ khoảng giữa thập niên 70, theo sauvốn thương mại và ngân hàng, vốn kỹ nghệ đã được các công ty xuyênquốc gia toàn cầu hóa một cách hệ thống Vào thời đó, các động cơ xe hơicủa hãng Renault của Pháp chẳng hạn đã được tập trung sản xuất tại Tây
Ba Nha Máy vi tính của IBM đựơc sản xuất tại Nam Dương, lắp ráp tạiPháp và sau đó bán tại Hoa Kỳ Bàn về sự kiện toàn cầu hóa nhiều khi
có vẻ phi lý này, người ta thường kể câu chuyện về những cái tăm xiảrăng tại Florida (Hoa Kỳ): xuất phát từ những cây tre tại vùng này, thântre đã được chở sang Nhật Bản để biến thành tăm xiả răng trước khi vượtbiển trở lại quê hương cũ
Trang 5I.1.2 Giảm sút về vai trò điều hòa của Nhà nước tại các nước Tâyphương.
Sự giảm sút này vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của sự bànhtrướng của các công ty xuyên quốc gia, đặc biệt tại các nước thuộc LiênHiệp Âu Châu Nhà Nước phúc lợi, qua các công ty quốc doanh quantrọng, đã giữ một vai trò tổ chức, điều hòa và quản lý kinh tế từ sau thếchiến thứ hai tại Âu châu và đã cho phép các nước Tây Âu xây dựng lại
và phát triển Giai đoạn dài và tốt đẹp này được gọi là thời kỳ “30 nămhuy hoàng” Nhưng từ năm 1975 trở đi, sau cơn khủng hoảng vì giá dầuhỏa vọt lên cao, mô hình Nhà Nước phúc lợi không còn phù hợp với mức
độ phát triển kinh tế của Tây Âu nữa cho nên đã bị các chính phủ ÂuChâu giảm dần bằng những chính sách tư nhân hóa các xí nghiệp và ngânhàng quốc doanh Chính sách kinh tế của bà Thatcher, thủ tướng nướcAnh, vào thập niên 80 là một thí dụ điển hình
Một điểm đáng lưu ý khác là việc toàn cầu hóa thị trường thươngmại đã buộc các Nhà Nước giữ vai trò liên minh với các công ty lớn củanước mình trên thương trường thế giới Các tổng thống, thủ tướng, bộtrưởng nhiều khi còn phải đảm nhận một cách lộ liễu vai trò đại diệnthương mại để giúp cả các hãng tư trong việc thương lượng những hợpđồng lớn Vai trò của Nhà Nước bị giảm dần vì tính chất xuyên quốc gia
và nhiều khi phi quốc gia của các đại công ty này Từ vai trò chỉ đạo, đạidiện cho quyền lợi chung, Nhà Nước trong hai thập niên gần đây đã đóngvai trò liên minh và trên thực tế, không còn quyền lực gì nhiều trên cáccông ty xuyên quốc gia Mặt khác, sự thống trị của một hệ tư tưởng gọi là
“tư duy độc nhất” đã anh hưởng rất nhiều trên những nhà lãnh đạo chínhtrị tại các nước Tây phương, đưa tới xu hướng không can thịêp, để mặccho thị trường tự điều hòa “Bỏ quy chế, bỏ trung gian, bỏ hàng rào” (3D:déréglementation, désintermédiation, décloison nement) đã là mục tiêudài hạn của những nhà “lãnh đạo toàn cầu” (global leaders) trong các
Trang 6cuộc hội thảo hàng năm tại Davos (Thụy Sĩ) Trong số khoảng hai ngàntham dự viên được mời, ngoài các nguyên thủ quốc gia có trọng lượng,còn có rất đông những ông chủ tịch tổng giám đốc các công ty xuyênquốc gia.
I.1.3 Phá sản của mô hình kinh tế xã hội chủ nghiã
Sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết vào năm 1989 đánh dấu sự phásản hoàn toàn của mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa Sự cáo chung của
mô hình kinh tế chỉ huy này là một yếu tố làm tăng vận tốc của tiến trìnhtoàn cầu hóa Những rủi ro và đe dọa của chiến tranh hạt nhân giữa haicường quốc về vũ khí nguyên tử không còn nữa Các nước trước đây theo
xã hội chủ nghĩa và ba trên bốn nước cộng sản còn lại đua nhau mở cửa,lôi kéo đầu tư, chạy theo mô hình tư bản Hiện tượng này dễ hiểu bởi vì,đối với dân tộc các nước này, xã hội chủ nghĩa hiện thực mà họ đã chịuđựng trong nhiều thập niên, đồng nghĩa với thiếu thốn, tồi dở và buồnchán Trái lại kinh tế thị trường tư bản đồng nghĩa với sung túc, hiệu quả
và năng động Thoát khỏi cùm kẹp của chế độ cũ, họ say mê với mô hình
tự do tư bản và sẵn sàng hội nhập bằng mọi giá vào thị trường toàn cầu.Trước thời cơ đó, đa số những nhà lãnh đạo các công ty xuyên quốc gia
đã đặt trọng tâm chiến lược vào việc tăng mức độ toàn cầu hóa của xínghiệp Họ cạnh tranh sống chết với nhau để bành trướng hầu chế ngự thịtrường vì lần này chỉ còn một thị trường là toàn cầu, không còn có giớihạn do những lý do chính trị nữa Vào những năm cuối của thiên niên kỷthứ hai, cụm từ “toàn cầu hóa” đã trở thành “thời thượng” và là thành ngữ
ở cửa miệng của các doanh nhân, các chính trị gia Nó bị lạm phát tớimức độ là không ít người trong số đó thường dùng cụm từ này một cáchbừa bãi để chỉ cả các sinh hoạt thương mại, ngoại giao thông thường,không có ảnh hưởng, không dính dáng gì đến tiến trình toàn cầu hóa.I.1.4 Chế ngự của tài chính trên các hoạt động kinh tế
Trang 7Đây là điểm nổi bật của hiện tượng toàn cầu hóa hiện nay Tại hộinghị thượng đỉnh Tokyo năm 1986, tổng thống Ronald Reagan và thủtướng Magaret Thatcher đã đề xướng việc bãi bỏ các quy chế và luật lệ vềcác hoạt động tài chính như việc phân biệt các loại ngân hàng, giới hạnvai trò của quỹ tiết kiệm, quỹ tương trợ, ấn định những bắt buộc về dự trữtài chính Bốn năm sau, quan điểm này được đa số các quốc gia chấpnhận vào năm 1990 tại Hoa Thịnh Đốn nên thường được gọi là “Đồngthuận Hoa Thịnh Đốn” Từ thời điểm này, số lượng tiền trao đổi hàngngày trên các thị trường chứng khoán đã tăng lên một cách lũy tiến vàmột thập niên sau, gần như không còn dính dáng gì với thực trạng củaviệc sản xuất hàng hóa hay hoạt động dịch vụ nữa Vào năm 1997 chẳnghạn, số lượng tiền chuyển vận hàng ngày trên các thị trường hối đoái làkhoảng hơn 1 500 tỷ Mỹ kim nghiã là tương đương với tổng sản lượngquốc gia (PNB) của Pháp Trong số tiền này, theo ước lượng của một sốchuyên gia vì không ai có thể biết rõ từ 80% đến 90% là tiền đầu cơ Nhờmạng lưới thông tin rất hiện đại và các máy tính khổng lồ của các trungtâm tài chính thế giới tại New York, London, Tokyo, Hong Kong , thịtrường chứng khoán toàn cầu đã trở thành một sòng bạc “toàn cầu” mởcửa 24 giờ / 24 Khi khu này đóng thì khu kia mở Số người chơi trảikhắp thế giới, từ tay chơi nhà nghề đến kẻ chơi tài tử Họ chỉ cần ấn nút
ra lệnh trên máy tính cá nhân là có thể mua hay bán các cổ phần quamạng lưới truyền thông toàn cầu Giá trị cổ phần xí nghiệp, nhất là các xínghiệp có công nghệ cao (Hi Tech), hoàn toàn dựa trên các tin đồn donhững kẻ đầu cơ đưa ra, không còn dính dáng với thực tế Vốn liếng, tiềnbạc của rất nhiều xí nghiệp trở thành ảo, lên xuống do đầu cơ và mánh lớicủa những tay chơi quốc tế với những số tiền lớn ngoài sức tưởng tượng(hàng trăm triệu hay hàng tỷ Mỹ kim) Một vai trò quan trọng của các ôngchủ tịch tổng giám đốc các xí nghiệp lớn là tạo dư luận thuận lợi cho xínghiệp của mình chứ không phải là công việc điều hành và ấn định chiến
Trang 8lược cho xí nghiệp Vì số tiền ảo quá lớn và vì các đòi hỏi càng ngày càng
“phi kinh tế” của các cổ động viên như lợi nhuận nhanh chóng với mức
độ quá cao nên xu hướng gian lận, che dấu các thua lỗ trở thành phổ biến
“Sức khỏe” của thị trường chứng khoán trở thành mối quan tâm hàng đầukhông những của các xí nghiệp xuyên quốc gia mà còn của các chính phủTây phương Mâu thuẫn giữa chủ thuyết tự do cực đoan (ultra libéral) vềkinh tế và nhu cầu can thiệp của Nhà nước để tránh khủng hoảng càngngày càng lộ rõ Khủng hoảng tài chính của Mễ Tây Cơ vào năm 1994,của các nước Đông và Đông Nam Á châu vào năm 1997, của Á Căn Đìnhvào năm 2001 đã đe dọa hệ thống tài chính thế giới, gây xáo trộn và đaukhổ cho hàng triệu người Cho đến nay, những khủng hoảng kinh tế tàichính mới chỉ xảy ra ở các nước đang phát triển và còn ở tầm vóc trungbình nhưng khủng hoảng tài chính có khả năng xảy ra ngay tại các cườngquốc kinh tế với những hậu quả trầm trọng hơn nhiều
I.2 Chủ thuyết, cơ cấu và động cơ của toàn cầu hóa
Nếu chủ nghiã thực dân, lồng dưới chiêu bài “đem văn minh, ánhsáng cho các dân tộc man rợ”, đã là nền tảng lý thuyết của hai lần toàncầu hóa trước đây (thế kỷ thứ 15 16 và thế kỷ thứ 18 19) thì lần này chủthuyết “tân tự do” với viễn tượng phát triển kinh tế, đem lại ấm no, hạnhphúc cho tất cả mọi người, ở khắp mọi nơi trên thế giới, là căn bản tư duythống trị và “độc nhất” từ hai thập niên vừa qua Cơ cấu của hệ thốngtoàn cầu hóa hiện nay dựa trên các định chế xuất phát từ hội nghị về tàichính của Liên Hiệp Quốc vào tháng 7 năm 1944 tại Bretton Woods ởHoa Kỳ Vào thời điểm ấy, thế chiến thứ hai đang đi vào giai đoạn chót,
đổ bộ của Đồng Minh tại vùng Normandie (Pháp) đã thành công và Hitlerchỉ cầm cự thêm được 10 tháng (Hiến chương của Liên Hiệp Quốc đượcban hành vào cuối năm 1945, ngay sau thế chiến) Ngoài những định chếchính thức được nhiều người biết như Ngân Hàng Thế Giới (WB), QũyTiền Tệ Quốc Tế (IMF), Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), Tổ
Trang 9Chức Tiêu Chuẩn Quốc Tế (ISO), cơ cấu điều hành còn gồm nhiều tổchức “bán chính thức” như hội nghị thượng đỉnh các nước phát triển G7
và mới đây trở thành G8 với sự tham dự của nước Nga, Diễn Đàn Davos
và khá nhiều tổ chức chuyên về tài chính như IOSCO (InternationalOrganisation of Securities Commissions), ISMA (International SecuritiesMarket Association), Club de Paris, Với những cơ cấu đó, động cơchính của TCH hiện nay là các xí nghiệp xuyên quốc gia với sự trợ giúpđắc lực của các ngân hàng lớn và của các chính phủ Chủ yếu là các chínhphủ của Hoa Kỳ, các nước Tây Âu và Nhật Bản vì hầu hết các xí nghiệpxuyên quốc gia xuất phát từ những nước này
I.2.1 Chủ thuyết tân tự do và hiện tượng tư duy “độc nhất”
Chủ thuyết gọi là “tân tự do” về kinh tế thật ra chỉ là sự hiện đại hóanhững tư tưởng đã có trong cuốn “Khảo sát về bản chất và nguyên nhânthịnh vượng của các quốc gia” của Adam Smith, xuất bản vào năm 1776.Chủ thuyết hiện đại hóa này đã được xây dựng một cách hệ thống từ lâutại các ban kinh tế của nhiều đại học Hoa Kỳ Nổi tiếng nhất là trườngphái thuộc đại học Chicago, dưới sự hướng dẫn của các ông MiltonFriedman và Gary Becker Nhiều cố vấn kinh tế của các tổng thống Mỹtrong mấy thập niên qua cũng như một số không nhỏ lãnh đạo cao cấpcủa các xí nghiệp xuyên quốc gia và của các định chế quốc tế (WB, IMF)
đã xuất thân từ trường phái “tân tự do” Chủ thuyết “tân tự do” biện minhcho một hệ thống kinh tế hoàn toàn tự do và cho rằng thị trường có khảnăng tự điều hòa Các luật lệ, quy chế và sự can thiệp của bộ máy NhàNước chỉ là những hàng rào ngăn chặn sự phát triển của kinh tế Mấythập niên sau thế chiến thứ hai, phát triển của kinh tế Hoa Kỳ đã đến mức
độ mà thị trường phải là toàn cầu mới đủ cho tầm vóc xí nghiệp Mỹ.Nhiệm vụ chính của WB, IMF và WTO là loại bỏ từng bước các hàng ràoquan thuế và phi quan thuế trên khắp thế giới hầu tạo môi trường tự docho sự phát triển của mọi nền kinh tế, nhất là kinh tế Mỹ Lợi nhuận, tăng
Trang 10trưởng, thị trường tự do, tiêu thụ là những khẩu hiệu của chủ thuyết tự
do kinh tế cực đoan này Một cách đơn giản hơn, chủ thuyết này đưa ranhững luận đề như sau:
Tự do cạnh tranh kinh tế, thương mại là động lực kích thích sángkiến, đổi mới, nhằm tăng cường phẩm chất và hiệu quả sản xuất để có thểlàm hạ giá thành của hàng hóa cũng như dịch vụ Những xí nghiệp tồi dở
sẽ bị đào thải, hàng hóa sẽ tốt và rẻ, có lợi cho người tiêu thụ và làm kinh
tế phát triển
Chuyên môn hóa và phân chia lao động trên bình diện toàn cầu, dựatrên nguyên tắc về lợi thế so sánh tương đối và tuyệt đối của DavidRicardo (kinh tế gia người Anh thuộc phái tự do, thế kỷ thứ 19) Biệnpháp này cho phép tăng cường hiệu quả của hoạt động kinh tế, làm hạ giáthành của hàng hóa, dịch vụ, như vậy có lợi cho người tiêu thụ và thịtrường
Mở rộng tầm vóc của xí nghiệp Tầm vóc càng lớn và sự chuyênmôn hóa càng cao thì càng tốt vì cho phép sử dụng tối đa các phương tiện
để tiết kiệm, tăng năng xuất và làm giảm giá thành
Áp dụng những nguyên tắc trên, các xí nghiệp xuyên quốc gia đãkhông ngần ngại chuyển các cơ sở sản xuất sang những nơi không cóthuế, nhân công rẻ và có ít hay không có luật bảo vệ lao động và môitrường Mục tiêu là để giảm giá thành và tăng lợi nhuận Vì thế trên thếgiới hiện nay có tới khoảng 800 vùng kinh tế miễn thuế (zones franches)thuộc 40 nước Trước đây vào năm 1986 chỉ có 116 vùng trong đó 48 %
ở châu Mỹ La tinh và 42% ở châu Á Vào những năm cuối của thế kỷ 20,
sự hiện hữu của rất nhiều vùng miễn thuế và cuộc chạy đua tìm liên hợp
để có tầm vóc “toàn cầu” giữa các đại công ty biểu lộ sự toàn thắng củachủ thuyết “tân tự do” trên bình diện tư duy kinh tế Sự toàn thắng đócũng đã được thể hiện trong đường lối kinh tế, trong chương trình hành
Trang 11động hay trong diễn văn tranh cử của hầu hết các chính trị gia, kinh tế giatrên thế giới bằng những khẩu hiệu như “bỏ quy chế”, “giải tư”, “toàn cầuhóa”, “tầm vóc chiến lược”,”xa lộ thông tin”,”phát triển” mặc dầu hoàncảnh kinh tế và xã hội rất khác nhau tại các nước đã phát triển cũng nhưtại các nước đang phát triển hay còn ở trong tình trạng chậm tiến Hiệntượng bắt chước và “độc thoại” này đã khiến một nhà báo Pháp có sángkiến trêu chọc, gọi chung những tư duy kiểu trên bằng thành ngữ “tư duyđộc nhất” vì tính chất nghèo nàn, quá đơn giản của những lý luận đó.Trong một cuộc tranh luận, Alain Minc một nhà kỹ trị (technocrate) theophái tân tự do đã cãi lại rằng “Không phải là tư duy có tính chất độc nhất
mà đó là tính chất của thực tại” (”Réalité”, hiểu theo nghiã là những sựviệc, sự kiện trong cuộc sống) Để khỏi tốn giấy mực, tôi xin không bàn ởđây về lối cãi lấy được “độc nhất” này của Alain Minc
I.2.2 Cơ cấu của công cuộc toàn cầu hóa
Khi nói đến cơ cấu của công cuộc toàn cầu hóa người ta thường nghĩngay tới Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), mới được thành lập từnăm 1995 để thay thế tổ chức Thỏa Uớc Tổng Quát về Thương Mại vàQuan Thuế (GATT) Trước thập niên 80, GATT ít được báo chí nhắc nhởmặc dầu đã được thành lập từ năm 1947 Lúc đầu có 23 nước là thànhviên sáng lập Sau vài thập niên, trước khi đổi thành WTO, số thành viêncủa GATT lên tới 128 nước Báo chí và các cơ quan truyền thông chỉ bắtđầu nói tới GATT vào cuối thập niên 80, khi Vòng thương lượngUruguay (Uruguay Round) gặp khó khăn vì đề cập đến nhiều vấn đề hócbúa như canh nông và vải vóc, văn hóa, sở hữu trí tuệ, cách giải quyếttranh chấp Những mâu thuẫn về quyền lợi dài hạn giữa các nước thànhviên đã đưa đến những bất đồng quan điểm, chủ yếu giữa các cường quốckinh tế với các nước chậm tiến hay đang phát triển Vì vậy vòng thươnglượng gay go này đã phải kéo dài 8 năm khi được kết thúc vào tháng 12năm 1993 GATT đổi tên thành WTO vào tháng giêng năm 1995 và số
Trang 12thành viên hiện nay của tổ chức này là 144 Bản văn kiện chính của WTOdài trên 400 trang giấy, cộng thêm là 20.000 trang của văn kiện phụ, chiathành 4 lãnh vực chính: a) Tự do hóa mậu dịch gồm cả canh nông và vảivóc; b) Quy luật xử thế về hội nhập thị trường, phòng vệ và chống phágiá; c) Những lãnh vực mới về trao đổi dịch vụ, biện pháp đầu tư, quyền
sở hữu trí tuệ; d) Cơ cấu tổ chức và thủ tục giải quyết tranh chấp
Hai nguyên tắc chính của WTO là Tối huệ quốc (MFN MostFavorable Nation) và Quy chế công dân (NT: National Treatment) MFNđòi hỏi các thành viên đều phải được đối xử bình đẳng, không nước nàođược đối xử hậu đãi hơn nước nào NT đòi hỏi các nước thành viên phảiđối xử với người ngoại quốc (công dân nước khác trong WTO) như côngdân của mình trong các hoạt động thương mại Thành công lớn của vòngthương lượng Uruguay là việc thành lập một cơ cấu hành chính và một
“bộ phận” trách nhiệm về việc giải quyết tranh chấp (Dispute Settlementbody DSB), có tầm quan trọng ngang hàng với Hội nghị bộ trưởng (cơquan tối cao của WTO)
Cơ quan xử lý gồm có Hội nghị bộ trưởng, hai năm họp một lần;Hội đồng chung và ba tiểu ban (hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ); Banthư ký đứng đầu là một tổng giám đốc do Hội nghị bộ trưởng bổ nhiệmvới nhiệm kỳ 4 năm Thủ tục giải quyết tranh chấp gồm có các giai đoạntham vấn, chọn và lập hội thẩm đoàn, báo cáo và chấp nhận, kháng án vàphân xử chung quyết Tranh chấp phải được giải quyết trong thời gian tối
đa là 20 tháng Quyết định chung quyết của DSB chỉ bị bác bỏ khi đạtđược nhất trí ở Hội nghị bộ trưởng Điều này rất khó Do đó mặc dầukhông có tên gọi của một tòa án để tránh đụng chạm về vấn đề chủquyền, trong thực tế, cơ quan chuyên trách DSB của WTO đã giữ vai tròcủa một tòa án thương mại siêu quốc gia Điều đáng lưu ý ở đây là cácphiên tòa đều xử kín và các “quan tòa” là những chuyên gia, nhân viêncủa WTO Do đó họ xét sử theo chủ trương “tất cả cho thị trường tự do”
Trang 13vì đó cũng là công việc, là nhiệm vụ thường xuyên của họ tại WTO Chủtrương này cũng là yêu cầu của các tổ hợp xuyên quốc gia để mở rộng thịtrường hầu tăng lợi nhuận.
Ngoài WTO, hai cơ quan chính thức khác được nhiều người biết đến
là WB và IMF do vai trò quan trọng của hai định chế này trong việc giảiquyết các cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính Khủng hoảng về tiền nợcủa các nước chậm tiến năm 1982; phá sản về tài chính của Mễ Tây Cơnăm 1994; khủng hoảng về tài chính tại Á châu năm 1997; phá sản vềkinh tế của Á Căn Đình năm 2001 Chính hai cơ quan này, qua nhữngsách lược cho vay tiền trong vòng hai thập niên, đã tạo môi trường chophép GATT trở thành WTO Nấp dưới cụm từ “chương trình điều chỉnh
cơ cấu” (PAS), những điều kiện để cho vay tiền đã là chìa khóa để WB vàIMF mở cửa các nước chậm tiến hay đang phát triển và buộc họ thay đổiđường lối kinh tế cho phù hợp với chiều hướng toàn cầu hóa Hậu quảcủa những chính sách này (được áp dụng từ năm 1982, nhân cuộc khủnghoảng về tiền nợ của các nước thuộc đệ tam thế giới) trên các nước chậmtiến sẽ được phân tích ở phần sau Điều đáng lưu ý là trong mấy năm gầnđây chính sách của WB và IMF đã bị chính một số không nhỏ các kinh tếgia thuần túy của Hoa Kỳ và Tây Âu lên án gay gắt Báo chí nói tớinhững “xì căng đan” của hai định chế quốc tế nói trên và nhiều tổ chứcngoài chính phủ (NGO) và chống toàn cầu hóa thuộc các nước Âu Mỹ đãkhông ngần ngại đòi hỏi dẹp bỏ hay thay đổi cơ bản đường lối của haiđịnh chế WB và IMF Đó là điều chưa từng xảy ra trong mấy chục nămtrước
Thật ra những chiến lược để thực hiện toàn cầu hóa không phải donhững cơ quan quốc tế chính thức ấn định mà do những câu lạc bộ, ủyban, diễn đàn của Hoa Kỳ mở rộng ra cho Liên Hiệp Âu Châu và NhậtBản Chẳng hạn Ủy ban tay ba do David Rockfeller thành lập từ năm
1973 quy tụ những thành phần ưu tú của Tây phương (cựu tổng thống,
Trang 14thủ tướng, chủ tịch các ngân hàng khổng lồ, các công ty xuyên quốc gia,đại diện nghiệp đoàn, chuyên gia đầu đàn của các đại học lớn ) Các cựutổng thống Hoa Kỳ như Jimmy Carter, George Bush và Bill Clinton đã làthành viên của ủy ban này trước khi là tổng thống Tính chất phi phe pháichính trị (Cộng hòa hay Dân chủ) của ủy ban này cho phép hiểu tại saoHoa Kỳ đã luôn luôn có một chính sách liên tục trong tiến trình toàn cầuhóa đối với các định chế quốc tế (GATT, ALENA, WTO, WB,IMF) mặcdầu hai đảng Cộng hòa và Dân chủ đã thay phiên nhau nắm chính quyềntrong mấy thập niên vừa qua.
I.2.3 Động cơ của tiến trình toàn cầu hóa
Những ngân hàng và công ty xuyên quốc gia là động cơ của tiếntrình toàn cầu hóa Động lực chính của những đầu máy kéo này là lợinhuận Về mức độ tập trung, xin nhắc lại là doanh số và tài sản của nhữngcông ty xuyên quốc gia đứng hàng đầu đã hơn hẳn tổng sản lượng quốcgia của phần đông các nước trên thế giới Hoạt động kinh tế, thương mạicủa những đầu tầu này, do tính chất xuyên quốc gia, đã dần dần vượt rakhỏi vòng kiểm soát của các chính phủ vì mỗi chính phủ chỉ có thể tácđộng trong phạm vi quốc gia của mình Số lượng và tầm vóc của nhữngngân hàng và xí nghiệp xuyên quốc gia là những chỉ dấu chính xác vềmức độ của tiến trình toàn cầu hóa Điều đáng nói ở đây là sự vận hànhcủa các xí nghiệp, nhất là các xí nghiệp xuyên quốc gia càng ngày càng
có vẻ không phụ thuộc vào ngay cả những người cầm đầu Đó là những
bộ máy có những cơ cấu theo một logic tóm tắt như sau : mục tiêu đầutiên của xí nghiệp là kiếm lời vì vậy phải tạo ra những hàng và công nghệmới, phải mở rộng thị trường, phải tăng cường sức mạnh, phải quảng cáo
để cổ võ cho việc tiêu thụ hầu bán hàng mà kiếm lời Nhân viên từ trênxuống dưới đều phải tuân thủ những điều lệ xuất phát từ logic vừa nói.Nếu cưỡng lại họ sẽ bị thay thế bằng những người khác chịu chấp nhận
“luật chơi” hơn Cái “văn hóa xí nghiệp” đó đã ảnh hưởng sâu rộng lên
Trang 15đời sống các dân tộc tiền tiến, đặc biệt là nếp sống của người dân Mỹ, nơi
mà xí nghiệp phát triển nhất Chẳng hạn họ coi tình trạng quảng cáo rấtnhiều trên các cơ quan truyền thông như TiVi, Radio, báo chí là bìnhthường Mỗi năm các hãng Mỹ bỏ ra khoảng 150 tỉ đô la vào quảng cáo,
số tiền này cao hơn ngân sách giáo dục bậc trung học của Hoa Kỳ Mộttrăm hãng Mỹ lớn nhất, trên tổng số khoảng 450 ngàn hãng, có quyền sửdụng 75% thời gian của các đài truyền hình thương mại của Hoa Kỳ vì đó
là hình thức “huấn luyện” người tiêu thụ rất hiệu quả
Một đặc tính nữa của xí nghiệp xuyên quốc gia là tính phi đạo đức
“bắt buộc” của những người có trách nhiệm lãnh đạo Lý do dễ hiểu là họbuộc phải kiếm lợi nhuận nếu không sẽ bị thay thế cho nên, trên nguyêntắc, ít khi nào các ông chủ tịch tổng giám đốc tự nhận lỗi lầm về nhữnghậu quả xã hội và môi sinh do hoạt động của hãng mình tuy rằng với tưcách con người họ có thể có những tình cảm bình thường Phản ứng củaông Warren M.Anderson, chủ tịch hội đồng quản trị hãng Union Carbydetrong tai nạn xảy ra tại Bhopal bên Ấn Độ năm 1986 là một điển hình.Khí độc (isocyanate de méthyle) do tai nạn đã làm 6000 người chết vàkhoảng 200 000 người bị thương nặng Lúc đầu, khi mới biết được tinông tuyên bố là sẽ dùng quãng đời còn lại của mình để sửa chữa lỗi lầmcủa hãng nhưng sau đó chưa được một năm, ông phải tuyên bố lại là đãnói quá lời và sẵn sàng huy động đội ngũ luật sư để không phải trả tiềnbồi thường những thiệt hại do tai nạn đã gây ra Những trường hợp khôngnhận lỗi càng ngày càng nhiều vì ngoài lý do tiền bạc, xí nghiệp xuyênquốc gia không còn phụ thuộc vào một quốc gia, một cộng đồng nào, vàcàng ngày càng có xu hướng bỏ hay chuyển các nhà máy của mình đếnnhững nơi mà họ có lợi nhất Tính “di động” trên thế giới của các nhàmáy là điều mới trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay
II Hậu quả của tiến trình toàn cầu hóa đối với các nước chậm tiến
Trang 16Trước khi trình bày về hậu quả của tiến trình toàn cầu hóa đối vớicác nước chậm tiến xin nói ngay là tiến trình này có ảnh hưởng sâu đậmtrên cả các nước tiền tiến Ngay tại nước thu được nhiều lợi nhất như Hoa
Kỳ, toàn cầu hóa không phải chỉ có những mặt tích cực Một cách tổngquát, từ sau thế chiến thứ hai đến nay, trong thời gian khoảng 50 năm, sảnlượng hàng hóa trên thế giới đã tăng lên 5 lần, thương mại 12 lần, sốlượng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tăng lên khoảng ba chục lần (400 tỉUSD năm 1997) Mặc dầu những tăng trưởng vượt bực đó, theo thống kênăm 1999 của Liên Hiệp Quốc, tình trạng nghèo (dưới 1 USD/1 ngày chomột người) đã lan rộng và khoảng cách giầu nghèo giữa các nước cũngnhư giữa những tầng lớp công dân trong một nước đã càng ngày càngrộng ra một cách nhanh chóng trên khắp thế giới
Theo thống kê năm 1989 của Ngân hàng Liên bang Hoa Kỳ 1% giađình giầu nhất (trên 2,3 triệu USD) có tài sản tổng cộng bằng 40% tài sảnquốc gia; 20% gia đình khá giả (trên 180 000 USD) có tài sản tổng cộngbằng 80% tài sản của quốc gia Hiện tượng tập trung của cải này cũngxuất hiện tại các nước Tây Âu nhưng với một mức độ thấp hơn ở Hoa Kỳ.Nạn thất nghiệp không chỉ dành riêng cho các nước chậm tiến Theo tậpsan Fortune, 500 xí nghiệp lớn nhất trên thế giới đã giảm 4,4 triệu việclàm từ 1980 đến 1993 Trong khi đó doanh số của họ đã được nhân lên1,4 lần, tài sản nhân lên 2,3 lần và lương ông tổng giám đốc, thường rấtlớn, cũng được nhân lên 6,1 lần Việc sa thải nhân viên trong những nămgần đây thường không phải vì hãng bị lỗ mà là cách quản lý “thờithượng” để giảm giá thành, tăng thêm lợi nhuận và gián tiếp buộc nhữngnhân viên còn lại làm việc nhiều hơn vì họ còn may mắn là giữ được việclàm Của cải vật chất của các cường quốc kinh tế càng ngày càng nhiềunhưng việc làm càng ngày càng bấp bênh, “lưu động” nên đe dọa nhữngngười làm công, cấp thấp cũng như cấp cao Kết quả là tại nước giầumạnh nhất là Hoa Kỳ, theo những điều tra và thống kê năm 1988, người
Trang 17Mỹ trung bình phải làm thêm gần nửa ngày mỗi tuần lễ và đồng lươngthực sự của họ năm 1988 lại ít hơn so với năm 1970.
Hậu quả tai hại của tiến trình toàn cầu hóa đối với các nước chậmtiến gồm có những sự kiện như sau: đồng nhất hóa văn hóa; sản xuất gây
ô nhiễm làm hủy hoại môi sinh, khai thác tài nguyên vượt quá mức táisinh của môi trường như nạn phá rừng bừa bãi, nạn đánh cá tới mức làmsông biển kiệt quệ, nạn canh tác hết mức khiến đất đai trở nên cằn cỗi,nạn phí phạm các nguồn năng lượng và nước uống lấy từ trong lòngđất ; cuối cùng là sự phụ thuộc thực phẩm và nạn nông dân thất nghiệp.Nguyên do của những hiện tượng này là nhu cầu tăng trưởng không cógiới hạn của sản xuất và tiêu thụ Tiêu thụ trở thành một thứ ý thức hệthống trị của thời đại Nó được thể hiện qua các chương trình quảng cáocủa các xí nghiệp trên TiVi, radio và gần như ở khắp mọi nơi có ngườiqua lại Nó điều kiện hóa mọi tầng lớp, mọi dân tộc, nhất là giới trẻ, vềnhu cầu tiêu thụ Nó dạy cho mọi người rằng hạnh phúc và sung sướngnằm trong việc tiêu thụ và tiêu thụ ngay cả khi không cần thiết, từ hànghóa đến dịch vụ
II.1 Đồng nhất hóa các lối sống và văn hóa trên thế giới
Trong lý thuyết kinh tế tân tự do, văn hóa được coi như một sảnphẩm của thị trường tiêu thụ vì là một nhu cầu của con người Điểm đánglưu ý là tiến trình toàn cầu hóa trong lãnh vực này đã được thực hiện mộtcách nhanh chóng nhờ những tiến bộ không ngừng của khoa học và côngnghệ trong lãnh vực thông tin đại chúng như vệ tinh truyền thanh, truyềnhình, máy ghi âm, ghi hình, điện ảnh, CD, video Do đó, từ khoảngmười năm nay (sau khi khối xã hội chủ nghiã xụp đổ), nhạc POP và phimảnh của Hoa Kỳ đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới từ đô thị tới thôn quê
Kỹ nghệ giải trí của con người đã nằm trong tay một vài tập hợp xuyênquốc gia Chiến lược của họ nhắm vào giới trẻ dưới 20 tuổi (2/5 dân sốtoàn cầu) vì giới này dễ bị thu hút hơn Thành công rực rỡ của hãng MTV
Trang 18(nhạc trẻ trên TV) là một điển hình Theo ước lượng, vào đầu năm 1993,
có 210 triệu hộ gia đình thuộc 71 nước xem chương trình hàng ngày củaMTV Một thí dụ khác là trường hợp nước Ba Tây Theo nhà sản xuấtphim Luis Carlos Barreto thì trong số 4000 phim dùng cho truyền hình
Ba Tây, 99% là phim của các nước giàu có và phần lớn là từ Holywood.Các ông “thầy giáo” có ảnh hưởng nhiều nhất trên các trẻ em và thanhthiếu niên tại châu Mỹ La tinh, châu Phi và châu Á hiện nay có lẽ là cácnhà sản xuất video của Holywood và các chuyên viên của những hãngquảng cáo lớn tại Hoa Kỳ Hậu quả của sự kiện này là tình trạng thoi thóp
và biến mất dần của những nhạc điệu và lối sống khác biệt tại những xứchậm tiến Một nửa thế kỷ nữa có lẽ sẽ không còn nơi nào trên trái đất đểnhững nhà khảo cứu văn hóa có thể nghe được các âm điệu đặc thù, cóthể nhìn được tận mắt lối sống cá biệt, thể hiện các giá trị nhân bản khác,của nhiều dân tộc “chậm tiến” trên thế giới Tiếp tục tiến trình toàn cầuhóa hiện nay, lối sống Âu Mỹ và văn hóa Tây phương, dưới những dạngsao chép khác nhau, có lẽ sẽ trở thành phổ biến trong cái “làng toàn cầu”của loài người Điều an ủi là có thể người ta sẽ giữ lại di tích của nhữngnền văn hóa khác ở các bảo tàng viện hay ở những nơi có du khách vì đócũng là một “món hàng”
II.2 Hiểm họa ô nhiễm môi sinh và cạn kiệt tài nguyên
Trước đây ba bốn thập niên vấn đề này không được đặt ra vì lúc đóngười ta nghĩ rằng tài nguyên thiên nhiên phong phú vô tận và sức mạnhcủa tạo hóa vô biên Quan điểm này đã được Henry Morgenthau, thứtrưởng bộ tài chính Hoa Kỳ, diễn tả rõ rệt trong diễn văn khai mạc hộinghị các lãnh đạo đồng minh ở Bretton Woods vào tháng 7 năm 1944(hội nghị này đã quyết định sự thành lập các tổ chức như WB, IMF vàGATT) Gần đây, tại các nước tiền tiến, người ta mới ý thức rằng quanđiểm trên không đúng Tài nguyên thiên nhiên có giới hạn và con ngườiđang hủy hoại môi trường sinh sống trên trái đất Từ đó tại các nước này
Trang 19dần dần có những đạo luật để bảo vệ thiên nhiên Trong khi đó vì nghèođói và vì trình độ khoa học, công nghệ cũng như dân trí thấp kém, tại cácnước chậm tiến việc bảo vệ môi sinh không được đặt ra một cách nghiêmtúc Vì nhu cầu phát triển và lợi nhuận các công ty xuyên quốc gia đãkhông ngần ngại chuyển các nhà máy có các chất phế thải, độc hại chocon người và nguy hiểm cho môi sinh, sang các nước chậm tiến Hơn nữalãnh đạo các xứ này còn mời gọi họ bằng cách tạo ra những vùng sản xuấtmiễn thuế và hoàn toàn tự do Trường hợp một vùng miễn thuế(maquyladoras) của Mễ Tây Cơ ngay biên giới với Hoa Kỳ là một điểnhình của hiểm họa ô nhiễm môi sinh Vào năm 1999, đã có khoảng hơn
3000 xí nghiệp ngoại quốc tại các vùng này, phần lớn là các xí nghiệp củaHoa Kỳ Các maquyladoras dùng khoảng 500 ngàn nhân công và đem lạicho Mễ Tây Cơ, năm 1989 chẳng hạn, một số ngoại hối là 3 tỉ USD, đứnghàng thứ hai, sau dầu hỏa “Mặt trái của huy chương” này là tình trạng ônhiễm trầm trọng với một số lớn quái thai, một số lớn trẻ sơ sinh bị tậtnguyền vì các bà mẹ đã bị nhiễm độc Sự kiện này được biết tới vì ônhiễm đã lan sang tỉnh Brownsville (thuộc tiểu bang Texas, Hoa Kỳ) nên
27 gia đình Mỹ đã nộp đơn kiện các xí nghiệp lớn như General Motors,Union Carbide, Fisher Price và Zenith Electronic Sự việc tóm tắt nhưsau Trong ba năm, từ 1990 đến 1992, tại Brownsville, số hài nhi bị chết
vì bệnh anencéphalie (bộ óc bị đầy nước nên không phát triển được nữa)
là 30, cao gấp 4 lần con số trung bình tại Mỹ Đồng thời, tại tỉnhMatamoros, bên kia biên giới thuộc Mễ Tây Cơ, số tử vong cùng loạibệnh là 53 Những gia đình Mỹ đi kiện cho rằng các khí độc từMatamoros, bị gió thổi qua sông Rio Grande tới Brownsville, đã lànguyên nhân tử vong của những hài nhi của họ Điều tra về vụ này chobiết thêm rằng tại Matamoros có 110 trẻ em có cùng một triệu chứng tậtnguyền về hình dạng và tâm thần Những bé trai bị nặng chỉ có một tinhhoàn, bé gái bị nặng thì âm đạo không phát triển Bảy mươi bà mẹ của