A. MỞ ĐẦU. 1. Lý do và mục đích chọn đề tài. Trải qua suốt chiều dài lịch sử gần 20 thế kỉ du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã trở thành một trong những tôn giáo có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt đã chứng minh Phật giáo luôn đồng hành, đồng cam cộng khổ, gắn liền với sự thăng trầm của dân tộc, trở nên thân quen và gần gũi trong cuộc sống mỗi người dân Việt. phật giáo đã thực sự gắn bó với sự phát triển của dân tộc trên nhiều chặng đường lịch sử và có sự đóng góp đáng kể vào công cuộc dựng nước và giữ nước. Trong di sản văn hóa và trong những giá trị truyền thống mà ông cha ta để lại cho chúng ta ngày nay có dấu án rõ nét của Phật giáo. Trong lịch sử Việt Nam, đạo Phật đã ăn sâu, hội nhập vào các mặt sinh hoạt trong đời sống nhân dân từ tư tưởng văn hóa đến chính trị xã hội đặc biệt dưới hai triều đại nhà Lý và nhà Trần… Đạo Phật có lúc được xem là quốc giáo của dân tộc, song hành cũng dân tộc, cùng với dân tộc đạt được những thành tựu nổi bật …Mỗi lần lật ngược trang sử lịch sử, chúng ta không thể không tự hào về các chiến công của hai triều đại nhà Lý Trần, và tự hỏi tư tưởng nào được áp dụng vào việc trị nước, an dân. Ngày nay, thế hệ học sinh, sinh viên là những chủ nhân tương lai của đất nước Việt Nam, kế thừa gia tài sản nghiệp của Tổ tiên, vậy mà với một lý do nào đó họ biết quá ít hoặc biết sơ sài về lịch sử của cha của mình, nhất là lịch sử Phật giáo Việt Nam. Họ đâu biết rằng Phật giáo Việt Nam là bạn song hành với dân tộc, cùng nếm trải gian lao, cùng thịnh suy với đất nước, cùng hát khúc ca khải hoàng. Một lần nữa để khắc sâu kiến thức lịch sử Phật giáo và cũng mong khơi dậy những trang sử vàng son rực rỡ của dân tộc, những nét đặc thù của Phật giáo đời Lý Trần, để thế hệ các bạn trẻ và chúng tôi, thế hệ mai sau cùng có chung niềm tự hào và xúc cảm, cùng thấy rõ những đóng góp tích cực của Phật giáo Việt Nam trong công cuộc trường chinh dựng nước và giữ nước. Đó là lí do và mục đích mà người viết đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của Phật giáo đến chính trị trong hai triều đại Lý Trần ở Việt Nam” để nghiên cứu và trình bày.
Trang 1A MỞ ĐẦU.
1 Lý do và mục đích chọn đề tài.
Trải qua suốt chiều dài lịch sử gần 20 thế kỉ du nhập vào Việt Nam,Phật giáo đã trở thành một trong những tôn giáo có vai trò đặc biệt quantrọng trong đời sống tâm linh của người Việt Lịch sử dựng nước và giữnước của dân tộc Việt đã chứng minh Phật giáo luôn đồng hành, đồngcam cộng khổ, gắn liền với sự thăng trầm của dân tộc, trở nên thân quen
và gần gũi trong cuộc sống mỗi người dân Việt phật giáo đã thực sự gắn
bó với sự phát triển của dân tộc trên nhiều chặng đường lịch sử và có sựđóng góp đáng kể vào công cuộc dựng nước và giữ nước Trong di sảnvăn hóa và trong những giá trị truyền thống mà ông cha ta để lại chochúng ta ngày nay có dấu án rõ nét của Phật giáo
Trong lịch sử Việt Nam, đạo Phật đã ăn sâu, hội nhập vào các mặtsinh hoạt trong đời sống nhân dân từ tư tưởng văn hóa đến chính trị xã hộiđặc biệt dưới hai triều đại nhà Lý và nhà Trần… Đạo Phật có lúc đượcxem là quốc giáo của dân tộc, song hành cũng dân tộc, cùng với dân tộcđạt được những thành tựu nổi bật …Mỗi lần lật ngược trang sử lịch sử,chúng ta không thể không tự hào về các chiến công của hai triều đại nhàLý- Trần, và tự hỏi tư tưởng nào được áp dụng vào việc trị nước, an dân
Ngày nay, thế hệ học sinh, sinh viên là những chủ nhân tương laicủa đất nước Việt Nam, kế thừa gia tài sản nghiệp của Tổ tiên, vậy mà vớimột lý do nào đó họ biết quá ít hoặc biết sơ sài về lịch sử của cha củamình, nhất là lịch sử Phật giáo Việt Nam Họ đâu biết rằng Phật giáo ViệtNam là bạn song hành với dân tộc, cùng nếm trải gian lao, cùng thịnh suyvới đất nước, cùng hát khúc ca khải hoàng Một lần nữa để khắc sâu kiếnthức lịch sử Phật giáo và cũng mong khơi dậy những trang sử vàng sonrực rỡ của dân tộc, những nét đặc thù của Phật giáo đời Lý- Trần, để thế
hệ các bạn trẻ và chúng tôi, thế hệ mai sau cùng có chung niềm tự hào vàxúc cảm, cùng thấy rõ những đóng góp tích cực của Phật giáo Việt Nam
Trang 2trong công cuộc trường chinh dựng nước và giữ nước Đó là lí do và mục
đích mà người viết đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của Phật giáo đến chính trị trong hai triều đại Lý- Trần ở Việt Nam” để nghiên cứu và trình bày.
2 Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Trong triều đại Lý- Trần, Phật giáo cón được xem là quốc giáo, nên
sự phát triển của Phật giáo là đạt tới sự hưng thịnh, vì thế nên ảnh hưởngcủa nó đến toàn bộ kinh tế, chính trị, văn hóa, đời sống của người dân…làrất mạnh mẽ Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, người viếtchỉ đi sâu vào tìm hiểu những ảnh hưởng của Phật giáo trong tư tưởng trịnước của hai triều đại Lý- Trần là như thế nào, đạt được những thành quảtích cực ra sao Và sự vận dụng phát huy tính tích cực ấy của Phật giáotrong yêu cầu phát triển đất nước thời kỳ toàn cầu hóa, cơ chế thị trường
3 Phương pháp nghiên cứu.
Đây là tiểu luận mang tính cách lịch sử, đã gắn liền với Phật giáoViệt Nam trong suốt chiều dài lịch sử trên dưới bốn ngàn năm, đặc biệt làgắn nó với ngay chính hoàn cảnh cụ thể ở hai triều đại nhà Lý- Trần Ởđây người viết sử dụng phương pháp chủ yếu là trích lục, thống kê và đốisánh sử, có dân gian v.v Từ việc tìm hiểu các tài liệu có lien quan đến nộidung đề tài như: Các tạp chí Triết học, Tạp chí nghiên cứu tôn giáo, ViệtNam phật giáo sử luận- Nguyễn Khang, hay Lịch sử Phật giáo ViêtNam… đều là những tài liệu có uy tín và giá trị, từ đó người viết tìm ranhững điểm cơ bản của Phật giáo đời Lý- Trần, và ảnh hưởng của nó đếnchính trị hai triều đại ấy Đồng thời đưa ra các tư tưởng trị nước của cácthiền sư nhà Lý- Trần đóng góp vào sự phát triển của dân tộc ta
4 Kết cấu của đề tài.
Với đề tài này, ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài Trong phần
Trang 3- Chương 1: Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam và đặc điểmPhật giáo Việt Nam.
- Chương 2: Phật giáo Việt Nam thời Lý- Trần và ảnh hưởng của
nó đến chính trị trong hai triều đại ấy
- Chương 3: Tiếp tục phát huy vai trò ảnh hưởng của Phật giáotrong mục tiêu phát triển quốc gia dân tộc Việt Nam trong giai đoạnngày nay
Do trình độ năng lực của người viết còn hạn chế có thể do tư duykhông đúng hướng nghiên cứu đề tài hoặc là hiểu nhưng không thế diễndạt ra hết trong phạm vi một bài tiểu luận được Nên chắc chắn bài nghiêncứu này còn rất nhiều những thiếu sót không đang có Rất mong quý thầy
cô và các bạn đọc góp ý thẳng thắn ý kiến của mình để người viết co thểrút kinh nghiệm và nghiên cứu tốt hơn nữa cho những đề tài sau
Trang 4B NỘI DUNG.
Chương 1:
Sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam và đặc điểm của Phật
giáo Việt Nam.
1 Quá trình du nhập Phật giáo ở Việt Nam
Phật giáo truyền vào Việt Nam từ đầu Công nguyên đến nay đã 2.000 năm Trong suốt chiều dài lịch sử, với nhiều biến động, Phật giáo đã bám
dễ sâu sắc trong đời sống tinh thần, sinh hoạt văn hóa, tư tưởng, tình cảm
và phong tục, tập quán, tín ngưỡng của các thế hệ người dân Việt Nam
Sự du nhập của Phật giáo vào nước ta ở những bước căn bản đầu tiên thật ra không phải xuất phát từ Trung Hoa, mà chính là được truyền sang trực tiếp từ Ấn Độ Dựa trên những chứng liệu lịch sử đáng tin cậy, một sốnhà nghiên cứu chuyên sâu, có uy tín về Phật giáo đã khẳng định điều này Quốc gia Âu Lạc đã bị Nam Việt của Triệu Đà thôn tính vào năm 179 TCN, và lập thành quận Giao Chỉ Năm 110 TCN, Nam Việt trở thành nội thuộc của nhà Hán, Giao Châu theo đó mà cũng quy về, và được chia thành hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân
Trên lãnh thổ của nhà Hậu Hán, sau đó đã tồn tại ba trung tâm Phật giáo là Luy Lâu, Lạc Dương và Bành Thành Sử liệu cổ của Trung Hoa cũng không ghi nhận được rõ ràng sự hình thành của hai trung tâm Lạc Dương và Bành Thành, chỉ có Luy Lâu thuộc Giao Chỉ là được xác định
rõ ràng và sớm nhất, và còn là bàn đạp cho việc hình thành hai trung tâm kia
Từ nửa sau thế kỷ thứ hai, Luy Lâu đã tồn tại như một trung tâm Phật giáoquan trọng và phồn thịnh Điều này cho thấy việc du nhập Phật giáo vào Giao Châu là rất sớm, có lẽ từ đầu công nguyên
Trang 5Vào đầu công nguyên, Ấn Độ đã có được sự giao thương mạnh mẽ với Trung Đông, và gián tiếp với vùng Địa Trung Hải, do đó họ cần có một nguồn cung cấp nguyên vật liệu, vật phẩm cho sự giao thương này Họ giong buồm, theo gió mùa tây nam mà đi về đông Họ đến Giao Chỉ, rồi
có thể từ Giao Chỉ mà lại theo tiếp đường biển hay đường bộ vào trong nộiđịa Trung Hoa Trong khi đợi gió mùa đông bắc để quay về Ấn, sự lưu trú của số thương gia này đã lan truyền dần những nét văn hóa Ấn Độ, trong
đó có việc thờ cúng Phật, tụng kinh… Những tăng sĩ mà các thương nhân đem theo trên thuyền buôn nhằm làm công việc cầu khấn sự phù trợ của đức Phật, là những người đã trực tiếp truyền bá Phật học và lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu Như vậy, từ những năm đầu Công nguyên tại Luy Lâu – Thuận Thành – Bắc Ninh đã có một trung tâm Phật giáo và là trungtâm Phật học phát triển nhất cả nước, đồng thời Phật giáo du nhập vào Việt Nam theo con đường biển cùng với các thương nhân người Ấn đến Việt Nam để buôn bán đưa theo Phật để thuận tiện cho việc sinh hoạt
Từ thế kỉ II đên thế kỉ V, Phật giáo vào Việt Nam gắn với tên tuổi của các nhà sư Ấn Độ và Trung Quốc
Thế kỉ II, Phật giáo vào Việt Nam gắn với tên tuổi của nhà sư: Ma - ha
- kì - vực; Khưu – đà – la ( Ấn Độ); Mâu – bác – cư – sĩ (Trung Quốc )Thế kỉ III Phật giáo vào Việt Nam gắn với tên tuổi các nhà sư :
Khương Tăng Hội và chi – lương – cương ( Ấn Độ )
Thế kỉ IV Phật giáo vào Việt Nam gắn với tên tuổi các nhà sư : Du Pháp Lan và Du Đạo Toái ( Trung Quốc )
Thế kỉ V Phật giáo vào Việt Nam gắn với tên tuổi các nhà sư : Đàm Hoang ( TRung Quốc )
Từ thể kỉ VI đến thế kỉ X, vai trò truyền giáo của các nhà sư Ấn Độ giảm, vai trò của các nhà sư Trung Quốc tăng đặc biệt là trong giai đoạn này có hai phái thiền từ Trung Quốc du nhập vào Việt Nam đó là thiền Tỳ
- na – đa – lưu – chi và thiền Vô ngôn thông
Trang 6Có thể nói đến thế kỉ X xem như qua trình Phật giáo du nhập vào ViệtNam kết thúc, về sau có những Phật giáo vào Việt Nam nhưng chỉ lànhững hiện tượng đơn lẻ
2 Quá trình phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
Quá trình phát triển của Phật giáo ở Việt Nam được chia thành các giai đoạn sau:
2.1 Giai đoạn đầu từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XI
Thế kỉ X, Việt Nam giành độc lập tự chủ sau hàng ngàn năm Bắc thuộc kéo theo sự biến đổi của các tôn giáo trong đó có Phật giáo Phật giáo bước vào giai đoạn phát triển mới Dưới các triều Đinh và Tiền Lê cóchính sách nâng đỡ tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển Thí dụ, Đinh Tiên Hoàng sau khi lên ngôi đã triệu tập các tăng già để định rõ phẩm trật
và mời tham gia triều chính, phong cho sư Ngô Chân Lưu chức tăng thống Lê Đại Hành đã cử phái đoàn sang Trung Quốc thỉnh kinh, mời sư
Đỗ Thuận phụ trách việc đối nội, đối ngoại của triều đình
Như vậy, nếu trong giai đoạn trước Phật giáo chỉ ảnh hưởng tới đời sống tâm linh thì giai đoạn này Phật giáo còn khẳng định vai trò nhập thế của nó tới đời sống chính trị - xã hội của đất nước lúc bấy giờ
2.2 Phật giáo dưới thời Lí – Trần ( thế kỉ XI đến đầu thế kỉ XV)
Là giai đoạn phát triển cực thịnh của Phật giáo ở Việt Nam được ví
là giai đoạn vàng son của Phật giáo Việt Nam, thể hiện dưới hai triều đại
Lí – Trần Ở cả hai triều đại Lí và Trần, phật giáo không chỉ ảnh hưởng tớiđời sống tâm linh của người dân mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của nhiều nhà vua
Triều Lí: Lí Công Uẩn – người sáng lập ra nhà Lí, nguyên là một sadi; Lí Thái Tông được suy tôn làm sư tổ đời thứ 12 của phái thiền vô ngôn thông; Lí Thánh Tông được suy tôn là sư tổ đời thứ 2 của thiền thảo đường
Triều Trần: Trần Nhân Tông; Pháp Loa; Huyền Quang đều là sư tổcủa thiền trúc lâm Yên Tử
Trang 7Các nhà sư thời Lý Trần không chỉ có công lao với đạo pháp, mà còn
có những đóng góp lớn với đất nước Họ đã tham gia triều chính, góp phầnxây dựng nhà nước đương thời và cùng với nhân dân ta thành công trongviệc thắng Tống, bình Nguyên Vạn Hạnh quốc sư đã có công lớn trongviệc rời Hoa Lư ra Thăng Long Viên Chiếu, Thông Biện, Pháp Loa, TuệTrung thương sĩ, Huyền Quan và nhiều nhà sư tiêu biểu khác không chỉcông lao trong công cuộc giữ nước, họ còn là những nhà văn hóa góp côngtạo dựng nền văn hóa Việt Nam với các thành tựu về văn học nghệ thuật,kiến trúc, điêu khắc có giá trị lớn, đồng thời học còn tham gia đào tạonhân tài cho đất nước
Dưới hai triều đại Lí và Trần Phật giáo giữ vai trò là hệ tư tưởng chỉđạo năng động và sâu sắc Hệ tư tưởng phát huy được vai trò dựng nước
và giữ nước
2.3 Phật giáo Hậu Lê và nhà Nguyễn (thế kỉ XV đến XVIII)
Giai đoạn này các triều đại phong kiến Việt Nam đã sử dụng Nho giáolàm chỗ dựa chính trị - tư tưởng – đạo đức, Phật giáo không còn là quốcgiáo, vì thế vị trí, vai trò của Phật giáo giảm dần tuy nhiên Phật giáo còntồn tại trong đời sống tâm linh của người dân Với tinh thần từ bi, Phậtgiáo vẫn tồn tại và chung sống với Nho giáo và Đạo giáo
2.4 Giai đoạn từ thế kỉ XVIII cho đến nay
Dưới triều Nguyễn, Phật giáo tiếp tục suy vi cho đến những năm 30của thế kỉ XX Phật giáo bắt đầu khởi sắc nhờ phong trào chấn hưng Phậtgiáo Một số tổ chức Phật giáo đi vào hoạt động có tổ chức, các cơ sở đàotạo tăng ni ra đời, phong trào này kéo dài đến 1954 thực dân Pháp cũng lôikéo ảnh hưởng của phật giáo tuy nhiên do số tăng ni, phật tử vẫn giữ nếp
tu theo sơn môn của mình ủng hộ cách mạng, ở miền Bắc nhiều chùa trởthành cơ sở cách mạng, ở miền Nam phong trào yêu nước cũng thu hútđược tăng ni, phật tử tham gia
Năm 1954, đất nước ta lúc bấy giờ bị chia cắt thành hai miền lịch sử cónhiều biến động vì thế mà tôn giáo cũng có biến đổi, trong đó có Phật
Trang 8giáo Phật giáo hai miền cũng có sự khác nhau Ỏ miền Bắc 1958 ra đời tổchức “ Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam”, chính với mục đích thốngnhất Việt Nam nên hội đã quy tụ được giới tăng ni, phật tử ở cả miềnNam Ở miền Nam diễn biến Phật giáo diễn biến phức tạp nổi lên hai nétchính:
Một là ra đời nhiều tổ chức hệ phái trong dó dáng nói là sự ra đời của
tổ chức giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ( 1964 ) mang tính chấttập hợp hệ phái Phật giáo trong cả nước đó là mục đích tôn giáo khác miềnBắc ở đây chỉ mang tính chất mục đích tôn giáo Tổ chức này quy tụ được
hệ phái tổ chức, tuy nhiên sau thời gian hoạt động lại có sự phân rẽ một bộphận nhỏ tách ra hoạt động và bị Đế quốc Mỹ lợi dụng đi ngược lại với tổchức tăng ni phật tử trong cả nước
Hai là trong một thời gian dài Phật giáo miền Nam đã triển khai lựclượng mới mở trường đào tạo, tri thức hóa tăng ni, mở rộng những đoànthể Phật tử, xây dựng các cơ sở kinh tế - văn hóa – xã hội, xây dựng đềnchùa tạo ra không khí phát triển rầm rộ đột xuất chưa từng thấy trong suốtmấy thế kỉ phát triển của Phật giáo Việt Nam
Trước xu hướng này Đế quốc mỹ can thiệp tới tôn giáo để lợi dụng tôngiáo kéo các phật tử xa rời phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
Như vây, từ năm 1954 đến năm 1975 một bộ phận nhỏ Phật giáo đã bịchi phối bởi xu hướng tiêu cực, đại bộ phận các tăng ni phật tử thì vẫn tiếptục tham giai ủng hộ cách mạng, do đó mà tầm ảnh hưởng của Phật giáotrong lòng dân tộc luôn được duy trì
Năm 1975, đất nước thống nhất, điều kiện lịch sử xã hội biến động là
cơ duyên cho các tổ chức hệ phái thống nhất trong cả tổ chức chung
Tháng 11/1981, Đại hội đại biểu Phật giáo lần thứ nhất được longtrọng tổ chức tại thủ đô Hà Nội và gần 200 đại biểu cho các tổ chức hệphái phật giáo trong cả nước về dự Đại hội lập ra tổ chức giáo hội Phậtgiáo Việt Nam, bầu ra Hội đồng chứng minh và Hội đồng trị sự là cơ quanlãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Đại hội mang ý nghĩa thống
Trang 9nhất tất cả các hệ phái tổ chức Phật giáo trong cả nước vào một tổ chứcchung đáp ứng nguyện vọng tình cảm của các phật tử trong cả nước, tạotiền đề cho Phật giáo tiếp tục đồng hành cùng dân tộc.
Như vậy, cỏ thể nói rằng Phật giáo có mặt ở Việt Nam từ khá sớm, trên cơ sở tiếp thu ảnh hưởng từ cả hai phía Ấn Độ và Trung Quốc Phật giáo Việt Nam quy tụ cả hai dòng Phật giáo là Đại thừa và Tiểu thừa và chịu ảnh hưởng của ba tông phái lớn là Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông trong đó Thiền tông là sâu sắc hơn cả Đồng thời Phật giáo Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Lão giáo, những phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian, tạo ra những nét riêng biệt Phật giáo Việt Nam có bềdầy lịch sử gần hai chục thế kỉ, trong quá trình đó Phật giáo Việt Nam đã xây dựng cho mình truyền thống yêu nước gắn bó dân tộc góp phần quan trọng trong việc xây dựng văn hóa của dân tộc, những tư tưởng, đạo đức, tâm lí lối sống của nhân dân ta Ngày nay tín đồ, tăng ni phật tử trong cả nước được tụ hội trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động theo
đường hướng tiến bộ “ Đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội” đang có những đóng góp quan trọng trong quá trình đổi mới của đất nước
3 Đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam
Do đạo Phật đến Việt Nam bằng con đường hòa bình, do giáo lí củaPhật giáo về bình đẳng, bác ái, cứu khổ, cứu nạn , gần gũi với tínngưỡng, văn hóa truyền thống của cư dân Việt Nam, nên Phật giáo dễdàng được người dân Việt Nam chấp nhận Trải qua qua trình lịch sửcủa dân tộc Việt Nam, Phật giáo cũng có những bước thăng trầm lúcthịnh, lúc suy, và cũng đã có thời kì được coi là quốc đạo Trong thời
Lí và Trần các nhà sư vừa là nhà tu hành vừa là nhà chính trị, nhà thơ,nhà văn Các vua triều Lí, Trần rất sùng kính đạo Phật, thường traoquyền cho con để đi tu Qua gần 20 thế kỉ, tư tưởng, đạo đức, văn hóaPhật giáo đã bén dễ sâu và trở thành một bộ phận quan trọng trong tưtưởng, văn hóa, đạo đức, hành vi ứng xử của người Việt Nam Đặc
Trang 10điểm Phật giáo Việt Nam từng bước được định hình trong quá trình dunhập và phát triển ở Việt Nam.
3.1 Phật giáo vào Việt Nam mang đậm nét tính chất dân gian.
Từ khi mới du nhập vào Việt Nam, một mặt Phật giáo đồng nguyênvới Nho giáo và Đạo giáo, mặt khác nó còn kết hợp để hòa trộn với các tínngưỡng dân gian của người Việt Phật giáo ở Việt Nam được đặt cạnh vàđồng nhất với các mẫu Nghi lễ thờ cúng và rước sách các bà dâu- với tưcách là Phật là nghi lễ có tính chất dân gian, vừa uy nghi vừa rộn ràng náonhiệt Tín đồ thì có tín đồ thực thụ ( nhà tu hành) và tín đồ quần chúng( các Phật tử) Tư tưởng từ bi của Phật được diến đạt một cách dân gian là
sự cứu khổ cứu nạn
3.2 Phật giáo Việt Nam mang tính thống nhất nhưng không thuần nhất
Ở Ấn Độ và Trung Quốc, các môn phái Phật giáo được xác định rất
rõ ràng vì ở đó nhà tu hành rất chú ý đến giáo lý Trái lại ở Việt Nam, cácnhà tu hành lại chú ý chủ yếu đến hành động và mục đích cứu hộ chúngsinh của phật giáo nên sự phân biệt giữa các môn phái là không rõ ràng.Nhiều nhà nghiên cứu kể cả một số nhà sư cho rằng Phật giáo Việt Namchỉ là một, học còn đồng nhất một cách đơn giản giữa Phật giáo và pháithiền tông Các phật tử thì chỉ tuyên bố quy Phật chứ không quan tâm đếnphái nào
Tuy nhiên Phật giáo không thuần nhất Mỗi giai đoạn lịch sử vớinhững khu vực miền, địa phương khác nhau Phật giáo mang những nếtriêng, đặc thù rất đa dạng
3.3 Phật giáo Việt Nam là tôn giáo nhập thế
Đặc điểm nổi bật của Phật giáo Việt Nam là kết hợp giữa việc đời vàviệc đạo Tuy bản chất của tôn giáo là xuất thế, nhưng Phật giáo ViệtNam là Phật nhập thế Ngay ở thời đầu Phật giáo Việt Nam thì giớităng sĩ là giới trí thức, họ không chỉ hoạt động truyền bá Phật giáo màcòn đi dạy học và chữa bệnh Các cao tăng được Nhà nước tham chínhhoặc cố vấn về các vấn đề đại sự quốc gia Mặt khác, thời Lí, Trần còn
Trang 11có các vua quan quý tộc đi tu Từ truyền thống gắn đạo với đời, nênPhật giáo luôn theo sát lịch sử dân tộc Khi đất nước có ngoại xâm Phậtgiáo Việt Nam luôn góp phần tham gia chống giặc giữ nước Trongthời kì chống Pháp và Mỹ, ở Việt Nam nhiều tăng ni phật tử tham giacầm súng chiến đấu Thực tế này khẳng định thêm rằng, trước kia là
tăng ni, phật tử họ là người Việt Nam yêu nước
Chương 2:
Phật giáo Lý- Trần và ảnh hưởng của nó tới chính trị trong
hai triều đại ấy.
1 Vài nét cơ bản của Phật giáo Việt Nam dưới triều đại Lý- Trần.
Phật giáo có mặt ở Việt Nam trong hơn 20 thế kỷ qua đã có một vaitrò, một vị trí quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc Nhất là Phật giáo
Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ bi sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động
và đa dạng qua tư tưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc sống an vuihạnh phúc của dân tộc Cả hai triều đại Lý – Trần, Phật giáo đã trở thànhquốc giáo Lúc bấy giờ, cả nước từ vua, quan đến thứ dân đều theo Phật,đến chùa quy y, giữ giới, tụng kinh, Thiền định nên mới có được một tinhthần an lạc, hòa hợp
1.1 Thấm nhuần tư tưởng nhân đạo của Phật giáo trong trị nước.
Thâm nhập giáo lý nhà Phật qua chính sách an dân trị nước nên cácvua Lý – Trần đã chinh phục trái tim, khối óc con người bằng đức trị thaypháp trị Đạo đức vô ngã đã tạo cho con người một cuộc sống hòa hợp,giản dị nhưng tạo lực tác động mạnh mẽ vô cùng
Muốn đất nước thái bình, thịnh trị Chính nơi bản thân các vua đã tựtrau dồi bằng đạo đức vị tha, triết lý sống nhập thế trên tinh thần từ, bi, hỷ,
xả của đạo Phật các vua không ngừng học hỏi, tu tập cho đến khi thấu rõgiáo lý Phật Đà, góp phần tạo một sức sống mạnh mẽ, không khép kín màphổ biến khắp nơi trong dân chúng, khiến họ cùng học tập theo và sốngđúng Một đời sống hướng thượng, hướng con người đến Chân – Thiện –
Trang 12Mỹ và đạt được chân lý ngay trong đời sống thực tại này chứ không phảinơi một thế giới xa xăm nào khác Đạo Phật đã tạo cho dân tộc Việt Namđương thời một niềm tin mạnh mẽ vào tự lực, vào khả năng trong sángthuần khiết của bản thân để sống đúng và sống đẹp theo tinh thần Chánhkiến, Chánh tư duy và Chánh mạng Đây chính là nguyên nhân làm chotriều đại Lý – Trần phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử với những chiếncông vẻ vang và sự thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa …Chính đạo Phật đã chan hòa vào lòng dân tộc góp phần hình thành mộtquan niệm, một lối sống tích cực, hữu ích cho con người và cho cuộcsống.
1.2 Những thiền sư là những quốc sư trị nước
Ngay trong Phật giáo đời Lý đã có những Thiền sư nổi tiếng Đặc biệt là Thiền sư Vạn Hạnh – Ngài vì dân vì nước, muốn cứu nước khỏi lâm nguy nên đã làm một cuộc đảo chính năm 1009 phế Lê lập Lý mở ra một trang sử mới cho triều đại nhà Lý Lời nhận xét của Hoàng Xuân Hãn
là một minh chứng triều đại nhà Lý vững chắc và thịnh vượng ngự trị trên
200 năm thực thi nhờ tinh thần Phật giáo: “ Sau các đời vua hung hãn họ Đinh – Lê, ta thấy xuất hiện ra những người cầm quyền có lòng độ lượng khoan dung, những cận thần đức độ trung thành Đời Lý có thể gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta”. Như vậy, Phật giáo đời Lý đã un đúcnên những ông vua Phật tử thuần thành làm cầu nối cho Phật giáo đời Trần đạt đến đỉnh cao trong lịch sử để khẳng định quyền tự chủ tự cường của một đất nước Vì vậy, dân tộc Việt Nam sẵn sàng chống lại bất cứ sức mạnh nào muốn phá hoại nền hòa bình, hạnh phúc của mình Và Phật giáo
Lý – Trần đã đáp ứng nguyện vọng ấy, góp phần vĩ đại vào công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước Chiến công hiển hách còn ghi lại trong lịch sử Nếu
Lý Thái Tông đã đánh giặc Nùng rồi bình được Chiêm Thành Lý ThườngKiệt đem binh đánh Tống thì Trần Thái Tông cũng thu phục được đất Chiêm và cuộc chiến thắng Nguyên Mông vẻ vang này dưới sự lãnh đạo tài tình của vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Vương
Trang 13Xưa nay, các bậc đế vương thâu phục giang sơn bằng con đường gươm đao, chế ngự dân bằng quyền hành, bạo lực Còn thời đại Lý – Trần thì khác, lên ngôi vua không hề có một giọt máu rơi, quần thần trong triều đình đều nhất trí và cũng không nghe dân tình than oán Sức mạnh nào đã tạo nên một quốc gia hưng thịnh hùng cường, có phải chăng chính đức từ,
bi, hỷ, xả của nhà Phật đã thấm nhuần từ vua quan cho đến thứ dân
Các ông vua thời Lý – Trần đã dùng chính sách trị dân có tính khoan hồng kết hợp pháp trị với đức trị Như chúng ta thấy, sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi, là một Phật tử thuần thành, ông liền ra lệnh hủy bỏ hếtmọi hình cụ trong ngục và cho xây dựng nhiều chùa mới trong nước Lý Thánh Tông, vị vua thứ 3 nhà Lý, nổi tiếng là một ông vua nhân từ Một hôm thiết triều, ông chỉ vào công chúa Động Thiên đứng cạnh mà bảo các quan rằng: “Lòng trẫm yêu dân như yêu con trẫm vậy Hiềm vì trăm họ làm càng cho nên phải tội, trẫm lấy làm thương lắm, vậy từ nay về sau tội
gì cũng giảm bớt đi …”
Nói chung, các ông vua Phật tử thuần thành đời Lý và đời Trần đều
có tấm lòng thương yêu dân như vậy là nhờ thấm nhuần tinh thần từ, bi, hỷ, xả, vô ngã vị tha của đạo Phật Đường lối lấy đức trị dân của hai triều đại Lý – Trần đã minh chứng sự hội nhập của Phật giáo vào đời sống văn hóa, chính trị và xã hội của dân tộc Việt Nam
1.3 Tính dân tộc và tính sáng tạo trong phật giáo Lý- Trần.
Đặc điểm nổi bật của Phật giáo Lý – Trần là nó cung cấp một triết
lý sống, chứ không phải là những tín điều chết, các Phật tử Lý – Trần đã quán triệt, đã thực hiện triết lý đó bằng cả cuộc sống của chính mìmh ĐạoPhật đời Lý – Trần không chấp tướng, không giáo điều, không vướng mắcvào hình thức, không bó hẹp trong chùa chiền, tu viện, càng không phải là
sở hữu riêng của giới Tăng, Ni mà là của tất cả mọi người biết lấy nó làm
lẽ sống, dù người đó là vua chúa, Thiền sư, quan lại, hay là người dân bìnhthường Ai cũng học và tu đạo Phật được, ở đâu, làm gì cũng học và tu theo đạo Phật được, miễn là biết nhìn rõ tâm mình, chuyển hóa tâm và sử
Trang 14dụng tâm cho tốt Trong “Khóa Hư Lục”, Trần Thái Tông gọi đó là biện tâm, Trần Thái Tông viết: “Không kể là sống ẩn trên núi hay giữa thành thị, không phân biệt tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều chủ yếu là biệntâm, vốn không có phân biệt nam nữ sao còn chấp tướng” Vì không chấp tướng nên Phật giáo đời Trần mới có được một nhân vật đặc biệt như Tuệ Trung Thượng Sĩ, tuy là một cư sĩ tại gia, nhưng lại được mọi người Tăng cũng như tục tôn kính, học hỏi như là một bậc Thầy lớn trong đạo Thậm chí Trần Nhân Tông và Pháp Loa là hai vị Tổ thứ nhất và thứ hai của Phái Thiền Trúc Lâm cũng suy tôn Tuệ Trung Thượng Sĩ là Thầy của mình Với tinh thần không chấp tướng, vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia, đã không quản gian khổ nhọc nhằn, đi khắp nơi trong nước khuyên mọi người sống theo năm giới, mười thiện là những nguyên lý căn bản của Đạo Đức Phật giáo Nhờ vậy, ngay giữa lòng của xã hội Phong kiến, đạo Phật đời Lý – Trần đã tạo ra những mẫu người tuyệt vời, mà con người ở vào thời đại nào cũng cảm thấy tự hào.
Đạo Phật thời Lý – Trần là đạo Phật của từ bi và trí tuệ, là hai đức hạnh hàng đầu của Phật giáo Tinh thần từ bi của Phật giáo thời Lý – Trần
là đường lối trị nước bằng đức trị còn hạnh trí tuệ là nó không hướng đến giải quyết các vấn đề thuần túy lý luận hay là siêu nghiệm, như chúng ta
có thể thấy ở một số luận sư Phật giáo Ấn Độ, mà hướng tới giải quyết cácvấn đề rất cụ thể, rất bức xúc, có tầm quan trọng đối với đời sống con người và trong công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước
Hai triều đại Lý – Trần đánh dấu đỉnh cao của sự hội nhập Phật giáo vào giòng sống của đất nước và xã hội Việt Nam Một sự hội nhập được trải dài trên mọi bình diện của đời sống Phật giáo thời Lý – Trần đã hình thành một nước Việt Nam thật sự độc lập, tự chủ, có đủ sức mạnh tự thân để đánh đuổi mọi cuộc xâm lăng của ngoại ban
Tóm lại, tính độc đáo và sáng tạo của Phật giáo Lý – Trần chính là
ở chỗ luôn luôn chủ động gạn lọc, tiếp thu cái hay, gạt bỏ cái dở, từ đó sáng tạo ra một xã hội thường xuyên đổi mới, trẻ trung, cập nhật với thời
Trang 15thế, có nhiều sinh khí Đó là điểm nổi bật nhất của Phật giáo thời Lý – Trần trong những thế kỷ đầu xây dựng nền độc lập, tự chủ Qủa thật, Phậtgiáo thời đại Lý – Trần đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nền độc lập quốc gia trong lịch sử nước nhà Các vua trị vì đã thực sự thấm nhuần lời dạy của đức Phật trong kinh Trường A Hàm: “Biết đoàn kết, biết ăn ở hòa hảo cùng nhau và thường hội họp nhau lại để lo bàn việc nước thì không sợ gì sẽ bại vong mà nhất định sẽ được cường thịnh, phongphú thêm” Đây là những nhân tố tư tưởng góp phần tích cực vào sự tồn tại lâu dài của hai triều đại Lý – Trần.khá lâu Triều Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và Triều Trần gần 200 năm (1226 – 1400) Như vậy, hai triều đại Lý – Trần tồn tại gần 400 năm Có thể nói đây là thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam mà cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà Các vua thời đại Lý – Trần được thừa hưởngnhững thành qủa tốt đẹp của thế hệ trước, đồng thời biết phát huy những tinh hoa gạn lọc được từ bên ngoài biến thể sao cho phù hợp với quốc dân thủy thổ mà không đánh mất bản sắc dân tộc.
2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo đến chính trị trong triều đại nhà Lý.
2.2.1 Lấy tư tưởng của Phật giáo làm hướng đi trongchính sách trị nước, an dân.
Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử dân tộc kể từ khi Phật giáo đượctruyền bá vào nước ta, Phật giáo luôn gắn liền với sự phát triển của lịch sửdân tộc, lấy sứ mệnh của dân tộc làm sứ mệnh của mình Đó là tính nhấtquán của lịch sử Phật giáo Việt Nam, được biểu hiện qua những bướcchuyển mình, đáp ứng yêu cầu của từng chặng đường lịch sử cụ thể, vì lợiích chung của dân tộc Tinh thần phóng khoáng, siêu việt trong giáo lýPhật đã được các bậc Tổ đức Thiền sư kết hợp hài hòa với bản sắc Vănhóa dân tộc đã tạo nên những nét tinh hoa rực rỡ, trong đó phải kể đến
“Tinh hoa Phật giáo thời Lý qua văn hóa, chính trị và các nhân vật Phậtgiáo”
Trang 16Với biến cố chính trị năm 1009 chấm dứt thời kỳ rối ren của nhàTiền Lê, nhà Lý (1009 – 1225), bắt đầu với sự kiện vua Lý Thái Tổ ( LýCông Uẩn) lên ngôi tháng 10 âm lịch năm 1009 Sự kiện nổi bật nhất củathời Lý chính là việc rời đô từ Hoa Lư về Đại La, rồi đặt tên mới là ThăngLong theo hình tượng con rồng, một hình tượng đặc thù của thời này, quốchiệu Đại Việt ra đời Từ đây, lịch sử Phật giáo chúng ta bước vào một thời
và tình thương vô lượng cho nhân dân Đại Việt và con người ấy chính làThiền sư Vạn Hạnh
Từ trong lòng những chế độ hà khắc hung dữ của tiên triều, Thiền
sư Vạn Hạnh xuất hiện, thần tốc vung tay, siêu việt chuyển hóa , dũng ,mãnh hành hoạt, đem “trụ tích trấn vương kỳ” (dùng gậy của nhà Phật đểtrấn giữ kinh kỳ của nhà vua), hoàn thành cuộc cách mạng bất bạo động đểđưa Lý Công Uẩn – một Phật tử thấm nhuần tinh thần từ bi, bao dung,nhân bản, khai phóng của đạo Phật – lên nắm chính quyền Để từ đó mở ramột phương trời mới cho Đại Việt, từ bạo trị sang đức trị và thăng hoa đấtnước từ một xã hội bị kìm kẹp, sắt máu sang một xã hội từ bi, thuần hậu
Nền đạo đức Phật giáo không những là nền đạo đức để tu dưỡng nộitâm, để đánh thức giải thoát khổ đau cho con người mà còn là một nền đạođức có tính mỹ học thuần hậu để cải thiện và thăng hoa đời sống xã hội.Chính nền đạo đức có tính nhân bản ấy của đạo Phật chứ không phải
Trang 17nguyên nhân nào khác đã làm cho xã hội Việt Nam thời đại nhà Lý trở nênthuần từ, thái hòa và thịnh trị mà Thăng Long là một tiêu biểu Chính vìthế mà tư tưởng chủ đạo thời Lý là tư tưởng Phật giáo – tư tưởng Từ bi hỷ
xả, vô ngã vị tha Tư tưởng này đã được các vua thời Lý thấm nhuần sâusăc Vì vậy mà các vua thời Lý từ Lý Thái Tổ đến Lý Nhân Tông đều nổitiếng là những ông vua nhân từ, đức độ, yêu thương nhân dân và gần gũidân chúng Đại Việt Sử Ký toàn thư chép : năm 1044 vua Lý Thái Tôngđánh Chiêm Thành, dân Chiêm bị loạn binh giết rất nhiều, vua thương xótxuống chiếu “ Hữu vong sát Chiêm Thành nhân, quả sát vô xá” Nghĩa là aigiết nhầm người Chiêm thì sẽ bị chém không tha Đức hiếu sinh của cácnhà vua Lý thể hiện rõ đức từ bi của đạo Phật, coi trọng sinh mệnh của tất
cả các loài hữu tình, vì vậy mà không xử chém em của Lý Thái Tổ là KhaiQuốc Vương họ Bồ làm phản Vua thân chinh bắt được đem về kinh,không những tha tội không giết mà còn được phục chức cũ Nùng Trí Cao
bị vua Lý Thái Tông thân chinh bắt được nhưng tha tội không giết LýThánh Tông đánh chiêm thành bắt được vua Chiêm là Chế Củ cũng khoanhồng cho về nước Vua Lý Thánh Tông không những thương dân, yêu dân
mà còn quan tâm đến những tội phạm đang ở trong ngục khi vua chỉ vàocông chúa Động Thiên đang đứng bên cạnh mà bảo viên quan coi ngụcrằng: “ lòng ta yêu dân cũng như yêu con ta vậy, dân không biết mà mắcvào hình phạt , ta rất lấy làm thương, từ nay về sau không cứ gì tội nặng,nhẹ đều nhất luật khoan giảm” Do vậy mà nhà Lý đã đoàn kết được dântộc, phát huy được sức mạnh và trí tuệ của toàn dân trong sự nghiệp bảo
vệ và xây dựng đất nước phồn vinh
“ Với những nhà chính trị có từ tâm và những người xuất gia biết lo giáodục sự thực hành đạo từ bi trong dân chúng Đời sống xã hội thời Lý trởthành thuần từ và đẹp đẽ Đạo đức và Từ bi đã không Làm cho dân nghèo,nước yếu Trái lại những yếu tố này tạo nên phú cường Những chiếnthắng Chiêm Thành và Tống quốc, sự vắng mặt của bạo động trong nhân