1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống văn hóa – tinh thần xã hội việt nam hiện nay

51 680 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ lâu và thực sự tư tưởng Phật giáo đã trở thành một góc trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam.Từ đó có thể nói rằng, bên cạnh hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình thì hình ảnh mái chùa cũng là biểu tượng thân quen, thấm sâu vào tiềm thức và trở thành một trong những giá trị văn hóa của mỗi người Việt Nam. Đó là nét chung nhất cho sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với dân tộc Việt Nam, mà chủ yếu là dân tộc Kinh. Khi chọn đề tài này, tôi xuất phát từ ba lý do cơ bản như sau: Thứ nhất, xuất phát từ thực trạng của đời sống văn hóa, tinh thần ở nước ta. Trong những năm gần đây, nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa thì bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ những mặt trái, ảnh hưởng không nhỏ đến các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta hiện nay. Điều này đã được các nghị quyết của Đảng chỉ ra.Thực ra, kinh tế thị trường là sản phẩm của nhân loại, nhưng hiện nay ở nước ta, mặt tiêu cực của nó gắn với chủ nghĩa tư bản đang là một hiện trạng đáng lo ngại. Đó là chưa kể đến sự ảnh hưởng của nếp nghĩ, thói quen, lối sống mang nặng tính chất phong kiến trong một số không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta đang là vấn đề đáng phải quan tâm. Tiếp theo là trong sự nghiệp đào tạo con người, việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay chiếm một vị trí rất quan trọng. Nó không những chỉ ở mặt chiến lược mà còn nhằm mục tiêu trước mắt là ngăn chặn sự thoái hóa, sa đọa về lối sống, đạo đức, trước sự tác động của nền kinh tế thị trường cùng với những mặt tiêu cực của văn hóa ngoại lai. Mục tiêu về công tác giáo dục của Đảng và Nhà nước ta là đào tạo ra những con người có tầm trí tuệ cao, thể chất cường tráng, đời sống tinh thần và đạo đức trong sáng, giàu bản lĩnh và thực sự có ý thức trách nhiệm công dân. Để đạt được mục tiêu đó thì ngoài các nhiệm vụ khác, chúng ta cũng phải coi lại những giá trị đạo đức truyền thống, tìm ra những thành tố nào có thể góp phần cho việc giảng dạy đạo đức trong nhà trường, đi đôi với việc giáo dục đạo đức và lối sống cho toàn xã hội.Đó cũng là một vấn đề cần đặt ra và phải giải quyết. Thứ hai, xuất phát từ nền văn hóa dân tộc.Nhìntừ góc độ văn hóa đã thấy rằng, những bài học lịch sử của nhân loại về chiến tranh để lại cho hậu thế thì có thể gọi chiến tranh văn hóa là nguy hại nhất, mà công cụ phục vụ cho nó khi cần thiết là chiến tranh quân sự. Chiến tranh văn hóa đã từng xóa sổ không ít những quốc gia, thậm chí cả những vùng rộng lớn trên thế giới... Do vậy, chúng ta có thể khẳng định bằng hình ảnh rằng, văn hóa là cái hồn của dân tộc, mất văn hóa là mất dân tộc. Từ đó, chúng ta giữ được nền văn hóa truyền thống của dân tộc là chúng ta giữ được đất nước. Mặt khác, khi đề cập đến đời sống văn hóa của dân tộc thì không thể bỏ qua một bộ phận cấu thành nó, đó là tư tưởng đạo đức của Phật giáo. Từ những ý nghĩa cao cả và thiêng liêng ấy nên khi xây dựng một nền văn hóa hiện đại, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đòi hỏi chúng ta cũng cần phải nghiên cứu những giá trị đạo đức của Phật giáo và tác động biện chứng của nó với nền văn hóa, đạo đức của dân tộc. Thứ ba, xuất phát từ quan điểm đấu tranh giữa chính trị và tôn giáo. ở góc độ tôn giáo mà xét thì tôn giáo là một hệ tư tưởng, một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bởi vì ngoài việc thăng hoa của cuộc sống đời thường thì mục tiêu đi đến hạnh phúc tột cùng của nó không phải ở trần thế. Tôn giáo ra đời rất sớm, sống dai dẳng và tồn tại đến ngày nay. Trong lịch sử loài người đã có những thời kỳ tôn giáo đóng vai trò quan trọng, thậm chí có khi chỉ đạo cả những thể chế chính trị xã hội và hiện nay ảnh hưởng của nó vẫn sâu đậm trong tư tưởng của nhân dân, nhất là niềm tin của họ. Hiện nay, trong cuộc đấu tranh niềm tin thì tôn giáo là một hiện trạng đáng chú ý, nhất là hiện tượng tôn giáo đang chấn hưng, đi đôi với việc xuất hiện nhiều tôn giáo mới trong nước và trên thế giới. Tất cả những lý do và sự thôi thúc như trên, tôi tự đặt cho mình nhiệm vụ phải nghiên cứu đề tài Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa – tinh thần xã hội Việt Nam hiện nay.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ lâu và thực sự tư tưởng Phậtgiáo đã trở thành một góc trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt

Nam.Từ đó có thể nói rằng, bên cạnh hình ảnh "cây đa, bến nước, sân đình" thì hình ảnh mái chùa cũng là biểu tượng thân quen, thấm sâu vào

tiềm thức và trở thành một trong những giá trị văn hóa của mỗi người ViệtNam Đó là nét chung nhất cho sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với dân tộcViệt Nam, mà chủ yếu là dân tộc Kinh Khi chọn đề tài này, tôi xuất phát từ

ba lý do cơ bản như sau:

Thứ nhất, xuất phát từ thực trạng của đời sống văn hóa, tinh thần ởnước ta Trong những năm gần đây, nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường,định hướng xã hội chủ nghĩa thì bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nềnkinh tế thị trường cũng bộc lộ những mặt trái, ảnh hưởng không nhỏ đến cácgiá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta hiện nay Điều này đã được các nghịquyết của Đảng chỉ ra.Thực ra, kinh tế thị trường là sản phẩm của nhân loại,nhưng hiện nay ở nước ta, mặt tiêu cực của nó gắn với chủ nghĩa tư bản đang làmột hiện trạng đáng lo ngại Đó là chưa kể đến sự ảnh hưởng của nếp nghĩ, thóiquen, lối sống mang nặng tính chất phong kiến trong một số không ít cán bộlãnh đạo, quản lý ở nước ta đang là vấn đề đáng phải quan tâm

Tiếp theo là trong sự nghiệp đào tạo con người, việc giáo dục đạođức cho thế hệ trẻ hiện nay chiếm một vị trí rất quan trọng Nó khôngnhững chỉ ở mặt chiến lược mà còn nhằm mục tiêu trước mắt là ngăn chặn

sự thoái hóa, sa đọa về lối sống, đạo đức, trước sự tác động của nền kinh tếthị trường cùng với những mặt tiêu cực của văn hóa ngoại lai Mục tiêu vềcông tác giáo dục của Đảng và Nhà nước ta là đào tạo ra những con người

có tầm trí tuệ cao, thể chất cường tráng, đời sống tinh thần và đạo đức trongsáng, giàu bản lĩnh và thực sự có ý thức trách nhiệm công dân Để đạt đượcmục tiêu đó thì ngoài các nhiệm vụ khác, chúng ta cũng phải coi lại những giá

Trang 2

trị đạo đức truyền thống, tìm ra những thành tố nào có thể góp phần cho việcgiảng dạy đạo đức trong nhà trường, đi đôi với việc giáo dục đạo đức và lốisống cho toàn xã hội.Đó cũng là một vấn đề cần đặt ra và phải giải quyết.

Thứ hai, xuất phát từ nền văn hóa dân tộc.Nhìntừ góc độ văn hóa

đã thấy rằng, những bài học lịch sử của nhân loại về chiến tranh để lại cho hậu thế thì có thể gọi chiến tranh văn hóa là nguy hại nhất, mà công

cụ phục vụ cho nó khi cần thiết là chiến tranh quân sự Chiến tranh văn hóa đã từng xóa sổ không ít những quốc gia, thậm chí cả những vùng rộng lớn trên thế giới

Do vậy, chúng ta có thể khẳng định bằng hình ảnh rằng, văn hóa làcái hồn của dân tộc, mất văn hóa là mất dân tộc Từ đó, chúng ta giữ đượcnền văn hóa truyền thống của dân tộc là chúng ta giữ được đất nước Mặtkhác, khi đề cập đến đời sống văn hóa của dân tộc thì không thể bỏ qua một

bộ phận cấu thành nó, đó là tư tưởng đạo đức của Phật giáo Từ những ýnghĩa cao cả và thiêng liêng ấy nên khi xây dựng một nền văn hóa hiện đại,tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đòi hỏi chúng ta cũng cần phải nghiêncứu những giá trị đạo đức của Phật giáo và tác động biện chứng của nó vớinền văn hóa, đạo đức của dân tộc

Thứ ba, xuất phát từ quan điểm đấu tranh giữa chính trị và tôn giáo.

ở góc độ tôn giáo mà xét thì tôn giáo là một hệ tư tưởng, một hình thái ýthức xã hội đặc biệt, bởi vì ngoài việc thăng hoa của cuộc sống đời thườngthì mục tiêu đi đến hạnh phúc tột cùng của nó không phải ở trần thế Tôngiáo ra đời rất sớm, sống dai dẳng và tồn tại đến ngày nay Trong lịch sửloài người đã có những thời kỳ tôn giáo đóng vai trò quan trọng, thậm chí

có khi chỉ đạo cả những thể chế chính trị xã hội và hiện nay ảnh hưởng của

nó vẫn sâu đậm trong tư tưởng của nhân dân, nhất là niềm tin của họ Hiệnnay, trong cuộc đấu tranh niềm tin thì tôn giáo là một hiện trạng đáng chú

ý, nhất là hiện tượng tôn giáo đang chấn hưng, đi đôi với việc xuất hiện

nhiều "tôn giáo mới" trong nước và trên thế giới.

Trang 3

Tất cả những lý do và sự thôi thúc như trên, tôi tự đặt cho mình

nhiệm vụ phải nghiên cứu đề tài "Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống

văn hóa – tinh thần xã hội Việt Nam hiện nay"

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ngoài số lượng kinh, luật, luận của Phật giáo được tích lũy cả hơn

2500 năm, theo tôi còn có những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tàivào những năm của thế kỷ XX và hiện nay Những công trình này sẽ đượcliệt kê cụ thể trong phần danh mục tài liệu tham khảo, ở đây chỉ xin điểmqua một số tài liệu đáng lưu ý:

Cuốn "Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay" do Giáo sư Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Phần viết về Phật giáo, các tác giả đã

tập trung vào các khái niệm từ, bi, hỉ, xả cùng các giá trị tư tưởng của

Phật giáo với tư tưởng của con người Việt Nam

Cuốn "Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam", tập 1 của Phó Giáo sư

Tiến sĩ Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002 Phần khai thác

ở nội dung cuốn sách là tác giả đã khái quát những nét cơ bản về quá trình dunhập cũng như ảnh hưởng của Phật giáo với dân tộc Việt Nam

Ngoài những công trình nghiên cứu có tính chất chuyên đề thì tưtưởng Phật giáo còn được bàn xen kẽ, rải rác trong các tác phẩm văn học,

mỹ học, sử học và tôn giáo học v.v

Nhận xét chung thì tất cả những tài liệu nghiên cứu mà tôi có dịptham khảo đều mang tính nghiêm túc và rất đáng trân trọng ở khía cạnhnày hay khía cạnh khác, các tác giả đã đề cập những vấn đề cần thiết đểxây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Tuy nhiên, ởtừng góc độ tiếp cận và quan điểm khác nhau nên các tác giả đều cóhướng đi của mình để đến mục đích riêng.Xuất phát từ những suy nghĩ đó

đã chỉ cho tôi những việc cần phải làm

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

Trang 4

Mục đích củađề tài là từ góc độ triết học thâm nhập vào cơ sở và

hệ thống triết lý của Phật giáo để tìm ra sự ảnh hưởng của nó trong đờisống văn hóa-tinh thần của xã hội Việt Nam chủ yếu trong giai đoạn hiệnnay Qua đó, tìm ra đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam và quan điểm ứng

xử với Phật giáo

Theo mục đích trên thì nhiệm vụ trọng tâm của đề tài là tiếp cận

cơ sở, đặc điểm, những phạm trù cơ bản, những mô hình, giá trị phổ quátcủa hệ thống triết lý Phật giáo.Tiếp cận truyền thống, tín ngưỡng, triết

lý, tâm lý, đạo đức cổ truyền của dân tộc Việt Nam Qua đó, góp phần lýgiải cho việc du nhập Phật giáo vào Việt Nam, đồng thời sự dung hợp vàảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội ViệtNam từ truyền thống đến hiện nay Từ cơ sở đó, góp phần đưa ra nhữnggiải pháp định hướng cho việc ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong xãhội Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

a) Cơ sở lý luận

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, tư tưởng HồChí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôngiáo nói chung và Phật giáo nói riêng

b) Cơ sở thực tiễn

Sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo trong quá trìnhđổi mới ở Việt Nam hiện nay

c)Về phương pháp nghiên cứu

Trước hết, chúng ta phải có thái độ khách quan để khi đưa ra nhậnxét, đánh giá đối tượng nghiên cứu được rõ ràng, chính xác hơn Một sốphương pháp phổ biến được áp dụng cho đề tài là: Lịch sử và lôgic;phương pháp so sánh; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp thống

kê v.v

5 Những đóng góp của đề tài

Trang 5

Thông qua việc giải quyết nhiệm vụ để đạt mục đích như trên, đềtài cố gắng đưa ra một số vấn đề mới Tôi khái quát nội dung nghiên cứu đểxây dựng chúng theo hệ thống riêng của mình Từ đó, lý giải về sự ràngbuộc lẫn nhau giữa các phạm trù giáo lý với các phạm trù đạo đức Phậtgiáo Góp phần tìm ra nguyên nhân, đặc điểm của sự dung hợp và ảnhhưởng lẫn nhau giữa tư tưởng Phật giáo với đời sống văn hóa tinh thần ViệtNam từ quá khứ đến hiện tại Qua đó, kiến nghị những giải pháp để pháthuy ưu điểm, khắc phục hạn chế của tư tưởng Phật giáo trong việc ảnhhưởng đến nền văn hóa dân tộc hiện nay.

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Qua việc nghiên cứu đề tài này chúng ta phần nào hiểu thêm được nguồngốc ra đời của Phật giáo, hệ tư tưởng của Phật giáo và ảnh hưởng của nóđến xã hội Viet Nam, đồng thời hiểu thêm về lịch sử nước ta Đặc biệt đềtài này cho chúng ta thấy rõ vấn đề có ý nghĩa quan trọng, đó là vấn đề xâydựng hình thành nhân cách và tư duy con người Việt Nam trong tương laivới sự hỗ trợ của những giá trị đạo đức nhân văn của Phật giáo, cũng nhưmột số tư tưởng tôn giáo khác

7 Giới hạn đề tài

Phạm vi của đề tài là từ góc độ triết học Mác - Lênin để nghiên cứumột hệ thống tu tuong của một tôn giáo cụ thể, du nhập và ảnh hưởng đếndoi song van hoa tinh than của một dân tộc cụ thể Từ đó, tuy nội dung đềtài có sử dụng các tư liệu, luận cứ, luận chứng cho việc chuyển tải ý tưởnghoặc so sánh để làm nổi bật những vấn đề nghiên cứu, nhưng trọng tâm của

đề tài là tuân thủ theo tên gọi của nó

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 2 chương, 6 tiết.

Trang 6

CHƯƠNG I: NGUỒN GỐC VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ

TƯ TƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO

1.1 Nguồn gốc của phật giáo

Đạo Phật mang tên người sáng lập là Đà ( hay buddha ) Đạo phậtchính là giáo lý mà Phật Đà đã thuyết giảng Sau khi ra đời ở Ấn Độ vàothế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ VI TCN với đặc điểm nổi bật về kinh tế xã hộinhư sau: Đó là sự tồn tại bền vững, dai dẳng của chế độ công xã nông thônvới sở hữu nhà nước về đất đai; xã hội được phân hóa thành những đẳngcấp chính: tăng nữ (Brahman), quý tộc (Ksatriya), bình dân (Vaisya) vàtiện nô (Ksudra); bên cạnh đó, sự thống trị của tôn giáo trên tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội

Phật giáo được lưu hành rộng rãi ở các quốc gia trong khu vực á –Phi, gần đây được truyền tới các nước Âu – Mỹ Trong quá trình truyền bácủa minh, đạo Phật đã kết hợp với tín ngưỡng, tập tục, dân gian, văn hoábản địa để hình thành rất nhiều tông phái và học phái, có tác động vô cùngquan trọng với đời sống xã hội và văn hoá của rất nhiều quốc gia

Người sáng lập ra phật giáo là Buddha, vốn là một thái tử tên là TấtĐạt Đa ( Siddharta), con trai của Trịnh Phạn Vương ( Suđhodana) vua nướcTrịnh Phạn, một nước nhỏ thuộc Bắc Ấn Độ ( nay thuộc đất Nê Pan ) ôngsinh ra vào khoảng năm 623 trước công nguyên Cuộc đời của Phật Thích

Ca được kể lại ở trong truyền thuyết như sau:

“ Vào một đêm Mahamaia, người vợ chính của Suđhodana, Vua của ngườiSaia mơ thấy mình được đưa tới hồ thiêng Anavatápta ở Himalaya Sau khicác thiên thần tắm rửa cho bà ở trong hồ thiêng, thì có một con voi trắngkhổng lồ có đoá hoa sen ở vòi bước tới và chui vào sườn bà Ngày hôm saucác nhà thông thái được vời tới để giải mơ của Hoàng hậu Các nhà thôngthái cho rằng giấc mơ là điềm Hoàng hậu đang có mang và sẽ sinh hạ được

Trang 7

một Hoàng tử tuyệt vời, người sau này sẽ trở thành vị chúa tể của thế giớihoặc người thầy của thế giới Đến ngày, đến tháng, Hoàng hậu Mahamaiatrở về nhà cha mình để sinh con Thế nhưng vừa đến khu vườn Lumbini,cách thủ đô Capilavastu của người Sakia không xa, Hoàng hậu trở dạ và vịHoàng tử đã ra đời Vừa ra đời, vị Hoàng tử tí hon đã đứng ngay dậy, đibảy bước và nói: “ Đây là kiếp cuối cùng của ta, từ nay ta không phải luônhồi một kiếp nào nữa!”.

Đến ngày thứ năm một nghi thức trọng thể được tổ chức và Hoàng tửđược đặt tên là Siđhartha Để ngăn cản Hoàng tử không nghĩ tới việc tuhành, đức vua cha đã tìm mọi cách tạo ra quanh người con trai mình mộtcuộc sống vương giả Hoàng tử được học mọi kiến thức để sau này trởthành một vị vua tài ba anh minh trị vì một đất nước ấn Độ bao la Thế rồi,nhà vua và quần thần đã kén cho Hoàng tử một người vợ kiều diễm Nhưngcuộc đời vương giả không cán dỗ được Hoàng tử trẻ tuổi Bốn sự việc docác thần tạo ra đã làm thay đổi hẳn cuộc đời Hoàng tử Siddhartha Đó làmột lần khi đang dạo chơi trong vườn, Hoàng tử thấy một ông già gày còm,

ốm yếu rồi nhận ra một điều rằng mọi người rồi ai cũng phải già yếu nhưthế ít lâu sau Hoàng tử lại được chứng kiến người ốm và người chết Bahoàn cảnh trên làm cho Hoàng tử băn khoăn, lo nghĩ về kiếp người vàmuốn cứu con người khỏi những trầm luôn đau khổ của kiếp luôn hồi:Sinh, lão, bệnh, tử chính sự việc thứ tư đã đem đến cho Hoàng tử niềm hivọng và an ủi Lần đó, Hoàng tử nhìn thấy một vị hành khất dáng vẻ bầnhàn nhưng lại ung dung tự tại Vừa nhìn thấy vị hành khất Hoàng tử nhưbừng tỉnh và quyết định sẽ ra đi trở thành nhà hành khất như thế

Được tin, đức vua Suddhôđana tìm mọi cách ngăn cản Hoàng tử Thếnhưng Hoàng tử không thể nào xua đi được bốn sự kiện mà mình đã chứngkiến khiến lòng dạ của Hoàng tử không lúc nào được thanh thản Ngay cảtin mừng công chúa Yashôdhara sinh cho chàng một Hoàng nam cũngkhông làm cho Hoàng tử Sidhartha vui Ngày đêm khi đứa con ra đời, khi

Trang 8

mọi người ngủ say, Hoàng tử lặng lẽ đến nhìn vợ và con lần cuối rối đánhthức người đánh xe dậy cùng minh cưỡi con ngựa Canthaca yêu quý rờikhỏi cung Khi đã rời khỏi đô thành Hoàng tử trút bộ áo Hoàng tộc và mặclên người bộ quần áo thường dân Hoàng tử dùng kiếm cắt bộ tóc dài củamình và nhờ người đánh xe mang mớ tóc và quần áo về trao lại cho đứcvua Còn con ngựa Canthana vì đau khổ phải chia tay với ông chủ của nónên đã lăn ra chết ngay tại chỗ Rời hoàng cung, dứt áo ra đi, Hoàng tửSidhartha đã trở thành nhà tu hành.

Thoạt đầu, Hoàng tử đi lang thang đây đó, sống theo kiểu khổ hạnh.Sau đó, ngài vào rừng tu Nhà hiền triết Alara Calama dạy cho chàng cácphép thiền định và những triết lý của upanishad Học thuyết và thực hànhgiải thoát cá nhân của Upanishad không hấp dẫn Hoàng tử Chàng đi tiếp

và nhập vào nhóm năm người tu khổ hạnh Suốt sáu năm trường ép xácHoàng tử gần như chỉ còn bộ xương khô mà vẫn chưa tìm ra chân lý của sựgiải thoát Ngài bèn bỏ cuộc sống tu hành khổ hạnh và trở lại ăn uống bìnhthường

Khi Hoàng tử Sidhartha 35 tuổi, một hôm ngài đến ngồi dưới gốccây bồ đề ở ngoại vi thành phố Gaia thuộc vùng đất của vua Bimbisura, vuanước Magadha Cho đến một hôm có nàng Sudjata, con gái của một nôngdân trong vùng đem cho ngài một bát cơm to nấu bằng sữa Ăn xong, ngàixuống sông tắm rửa, rồi trở lại gốc cây bồ đề Ngài ngồi thiền định vànguyện sẽ không đứng dậy nếu không tìm ra sự giải thoát về điều bí ẩn của

sự đau khổ Và Hoàng tử đã ngồi dưới gốc cây bồ đề suốt 49 ngày đêm.Bảy tuần lễ đó là cả một chuỗi ngày đầy thử thách Để phá sự thiền địnhcủa Hoàng tử, con quỹ dữ Mara tìm mọi cách làm chàng nản chí Thoạtđầu, quỷ Mara biến thành một sứ giả đến báo cho Hoàng tử một tin bịa đặt

là em trai Hoàng tử là Đevađatta nổi loạn, bắt nhốt đức vua cha vào ngục

và chiếm nàng Yashodrara làm vợ Thế nhưng tin dữ đó không làm choHoàng tử bận tâm Mara bèn cho gọi các quỷ dữ tới làm ra mưa to, gió lớn

Trang 9

gây ra động đất, lụt lội nhưng Hoàng tử vẫn ngồi bình thản dưới gốc cây bồ

đề, cảm phục trước ý chí kiên định của Hoàng tử, rắn thần Naga dùng thânlàm tán cho mưa gió cho Hoàng tử ngồi Thấy thế quỷ dữ Mara bèn dùngbiện pháp quyết liệt và tinh tế hơn để công phá vào thành trì kiên định củaHoàng tử Sidhartha Nó cho gọi ba cô con gái xinh đẹp của mình là cácnàng Khát vọng, khoái lạc và Dục vọng tới múa nhảy mê hoặc nhà tu hànhtrẻ tuổi Thế nhưng biện pháp cuối cùng của quỷ Mara cũng thất bại và lũquỷ phải dời khỏi gốc cây bồ đề Rạng sáng ngày 49, Siddhartha đã tìm ra

bí mật của sự đau khổ, đã tìm ra được vì sao thế giới lại tràn đầy khổ đau

và đã tìm ra được cách để chiến thắng sự đau khổ Siddhartha đã hoàn toàngiác ngộ và trở thành Buddha (Đấng giác ngộ) Sau khi giác ngộ Đức phậtcòn ngồi tiếp bảy ngày nữa dưới cây bồ đề suy ngẫm về những chân lý diệu

kỳ mà mình đã khám phá Ngài phân vân không biết có nên phổ biến đạopháp của mình cho thế giới không vì có huyền diệu quá khó hiểu quá đốivới mọi người Chính thượng đế Brahma phải giáng trần để khích lệ Đứcphật truyền bá đạo pháp của mình cho thế gian Chỉ khi đó Phật mới dờikhỏi gốc cây bồ đề đi đến khu vườn Lộc Uyển gần Varanasi để giảng bàithuyết pháp đầu tiên cho năm người bạn tu khổ hạnh của mình Sự kiện nàyđược ghi chép lại như một sự kiện quan trọng nhất của Đạo phật và đượcgọi là Phật quay bánh xe Đạo pháp ( chuyển Pháp Luân ) Giáo pháp mớicủa Đạ phật đã gây ấn tượng mạnh đối với năm nhà tu, họ nhanh chóng trởthành những môn đồ đầu tiên của Đức Phật Vài ngày sau số môn đồ củaPhật đã tăng lên 60 người, theo thời gian số môn đồ Đạo Phật ngày càngtăng và các tổ chức tăng gia đã ra đời

Đến năm 80 tuổi, biết mình tuổi cao, sức yếu, Đức Phật cùng cácmôn đồ trở về chân núi Hymalaya nơi ngài sinh ra và lớn lên Trên đườngPhật đã chuẩn bị mọi thứ cho các môn đồ để họ có thể tự lập được sau khingàu viên tịch Và, tại một nơi thuộc ngoại vi thành phố Cusinagara, Phật

đã ra đi Câu nói cuối cùng của Phật là: “ Hỡi các tì kheo tất cả những gì

Trang 10

đang tồn tại rồi sẽ qua đi Vậy các người càng không nên ngừng gắngsức!”.

1.2 Những nội dung cơ bản về thế giới quan và nhân sinh quan phật giáo

1.2.1 Thế giới quan phật giáo

Trước hết, khi bàn đến nguồn gốc của thế giới, phật giáo đưa raquan điểm “vô tạo giả”, nghĩa là không có ai sáng tạo ra thế giới mà đượctạo ra từ những phần vật chất nhỏ bé của vũ trụ Mỗi sự vật, hiện tượng làmột “pháp”; mọi sự vật, hiện tượng của thế giới là “vạn pháp” Phần vậtchất nhỏ bé của vũ trụ được gọi là bản thể vũ trụ hay gọi là “thực tướng”của nó Do vậy, quan niệm này của phật giáo mang tính duy vật sâu sắc

Thứ hai là, quan niệm “vô thường”: Các sự vật, hiện tượng khôngđứng im mà luôn biến đổi, chuyển động không ngừng Phật giáo gọi đó là

vô thường Qúa trình biến đổi đó theo chu trình: Thành –trụ - hoại – không(đối với sự vật không có sự sống) và Sinh – trụ - dị - diệt (đối với sự vật có

sự sống) Như vậy, quan niệm này cho rằng mọi sự vật, hiện tượng ra đời

và phát triển, hư hoại và tan rã ; trong sự sống có sự chết, chết chưa phải đãhết mà lại bắt đầu một cái mới

Thứ ba là, luật “nhân - duyên”: Trong đó, nhân là mầm để tạo quả,duyên là điều kiện để mầm thành quả Phật giáo cho rằng mọi sự vật hiệntượng trong thế giới đều bị chi phối bởi luật nhân duyên.Cả thế giới đượctạo ra bởi nhiều nhiều nhân duyên, gọi là “trùng trùng duyên khởi”

Thứ tư là, “sắc - không”: Trong đó “Sắc” là có, đó là khái niệm màphật giáo chỉ những sự vật, hiện tượng có hình tướng mà con người có thểcảm nhận được; “Không” nghĩa là không có hình tướng mà con ngườikhông cảm nhận được

Mối quan hệ giữa “Sắc – không”: không phải sự vật tồn tại ở dạng cóhình tướng mới là có mà cái gọi là có đã là không và sẽ mãi là không Vì

Trang 11

thế phật giáo nói “sắc sắc không không”, có cũng là không, không cũng làcó.Quan niệm này mang tính biện chứng.

Thứ năm là, “không gian và thời gian” Trong đó, không gian có

“Tam thiên thế giới” gồm: Đại Thiên thế giới, Trung Thiên thế giới, TiểuThiên thế giới; về thời gian co khái niệm “Tam kiếp”: Đại kiếp, Trungkiếp, Tiểu kiếp mỗi kiếp lại có hang chục triệu năm nên thời gian vô cùng

Như vậy, quan niệm của phật giáo về thế giới là những quan niệmmang tính duy vật và biện chứng Nhưng nó vẫn là tôn giáo và đã là tôngiáo thì vẫn rơi vào duy tâm khi quan niệm về con người

1.2.2 Nhân sinh quan Phật giáo

Thuyết Ngũ uẩn (5 yếu tố tích tụ): Phật giáo cho rằng, con người là

một pháp đặc biệt trong vạn pháp và được tạo bởi 5 yếu tố (sắc, thụ, tưởng,hành, thức) Con người được chia làm hai phần tâm lý và sinh lý

Trong đó, phần sinh lý hay thực tướng của con người được tạo bởi bốn yếutố: Địa (tạo nên phần cứng như: tóc Xương Da và ngũ tạng); Thủy (tạonên nước mắt và mồ hôi); Hỏa (tạo nên nhiệt); Phong (tạo nên hơi thở vàchân khí) Tất cả bốn yếu tố trên được giới hạn trong không gian bằngxương, thịt và da

Phần tinh thần hay tâm lý được tạo bởi bốn yếu tố con lại và đượcthể hiện ra bên ngoài qua bẩy trạng thái tâm lý, đó là: ái (yêu mến), ố(ghen), nộ (tức giận), hỉ (vui sướng), lạc (lạc quan), ai (buồn), dục (thamvọng) Phần tinh thần này tồn tại trong vật chất, chứ không tồn tại bênngoài vật chất Đây là quan niệm mang tính chất duy vật của phật giáo

Thuyết Tứ diệu đế (Bốn chân lý diệu kỳ):

Nội dung của thuyết này bàn về nỗi khổ và con đường để thoát khổ của conngười Tứ diệu đế gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế

Trang 12

Khổ đế: Đạo phật quan niệm rằng, đời là một bể khổ Phật chia cái

khổ ra làm 8 loại:

1 Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường chi phối nên khổ

2 Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn

cứ đến Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da, xương tủy thì da nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi Cái già tiến đến đâu thì suy yếu đến ấy làm cho người ta phiền não

3 Bệnh Khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu, thân thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ

4 Tử khổ : Là cái khổ khi người ta chết Chứng sinh do nghiệp báo chịu cáithân nào thì gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khi chết thì phiền não vô cùng

5 Cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích, mong cầu hết cái này đến cái khác Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu được rồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc

6 Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly

7 Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình

8 Ngũ ấm xí thịnh khổ: ngũ ấm ấy là sắc ấm, thụ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức ấm Ngũ ấm ấy che lấp trí tuệ, phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp

Như vậy, tám nỗi khổ trên đã choán hết cuộc đời con người, cuộc đờingoài khổ đau không có gì khác, khổ đau là tuyệt đối Quan niệm này duy tâm vì đã tuyệt đối hóa nỗi khổ của con người, cuộc đời của con người không chỉ có lỗi khổ mà còn có rất nhiều niềm vui sướng, hạnh phúc

Trang 13

Tập đế( Đế nói về nguyên nhân của nỗi khổ)

6 Thân kiến ( tưởng thân thể là thực có là trường tồn)

7 Biên kiến ( sự hiểu biết một mặt như chấp đoạn, chấp thưởng )

8 Tà kiến ( sự hiểu biết không đúng )

9 Kiến thử ( chấp trí hiểu biết của riêng mình là đúng)

10 Giới cấm tu ( tu hành không chính đạo )

Ba nguyên nhân chính ( tham, sân, si) Phật còn gọi là tam độc, là nguồn

gốc của mọi sự khổ Nguyên nhân của tam độc là do ái dục và vô minh được thể hiện trong công thức sau:

Nghiệp

Ái dục + Vô minh ––––> Sự khổ.

Ái dục: là tham ái, yêu thích do cảm thụ đi đến suy đắm trước những

cảnh yêu thích, vừa lòng, chán ghét cảnh trái ý Vì say đắm với những cảnhnên rong ruổi theo cảnh, bám lấy cảnh hình thành nên tham vọng và ước muốn

Vô minh: là mê lầm, không sáng suốt Đối với những hiện tượng trụ

không nhận rõ chân tướng, thực tướng của nó là sự chuyển biến không ngừng, là vô thường mà lại lầm tưởng các hiện tượng đó là thực có, là thường còn Vô minh che lấp ta không nhận thấy được chân tâm mà luôn luôn chạy theo vọng tâm, làm ta thấy có thân, có cảnh, có ta, có người của

ta và thấy quý thân ta, không quan tâm đến người sống quanh ta

Nghiệp là những hoạt động về thân thể, về lời nói ý nên Phật gọi là

thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp

Trang 14

Kết quả của hành động ấy gọi là nghiệp báo.Không phải hoạt động nào của

ta cũng gây nghiệp báo Những việc như : đi, đứng, nhìn, ngồi, thì không gây nghiệp báo

Nghiệp có hai loại: Nghiệp thiện và nghiệp ác.

Nghiệp thiện : là những việc có lợi cho người và đem lại quả báo tốt

cho mình

Nghiệp ác: là những việc làm hại cho ngươi và đem lại quả báo xấu

cho mình

Như vậy, Phật đặt số mệnh của con người trong chính tay họ Tự con

người đã gây nên nỗi khổ cho mình Do đó, Phật đưa ra lý thuyết thập nhị nhân duyên để thấy được nguồn gốc của sự vật trong thế gian 12 nhân

duyên là sợi dây liên tục nối tiếp con người trong vòng sinh tử luân hồi đó là:

Tập đế là một chân lý thể hiện tính biểu chứng sâu sắc trong mối

quan hệ nhân quả và đã tìm tới các nguyên nhân rất đa dạng, phong

phú.Các nguyên nhân ấy quan hệ với nhau, cái nào cũng có thể làm nhân làm duyên cho cái khác, như làn sóng trên mặt biển, lớp trước là lớp nhân

Trang 15

là duyên cho lớp sau và cứ thế tiếp diễn.Nhưng cái hạn chế của tập đế là chưa đề cập đến nguyên nhân từ xã hội.Đặc biệt là chưa nhắc tới quan hệ giai cấp, bóc lột trong xã hội.Luận điểm này thể hiện rõ từ trào hướng nội hướng nội trong nhận thức luận Phật giáo.

Diệt đế (Đế nói về nguyên tắc diệt khổ): muốn diệt được khổ phải

bắt đầu bằng việc diệt trừ vô minh để làm cho trí tuệ bừng sáng và hiểu được bản chất của sự tồn tại, hiểu được thực tướng của vũ trụ, để con ngườikhông còn ham muốn dục vọng tầm thường kéo theo những hành động tạo nghiệp Đến khi nào, con người chấm dứt được luân hồi sinh tử thì mới thoát được nỗi khổ

Đạo đế (Đế nói về con đường thoát khổ): muốn thoát khổ, con

ngwoif vừa phải diệt trừ vô minh để xóa vòng luân hồi sinh tử, vừa tu tập

để chuyển nghiệp, tạo nghiệp lành cho sự giải thoát Trong tu tập quan trọng nhất là “Bát chính đạo” – tám con đường chính:

1 Chính ngữ : là tu nghiệp thanh tịnh, không phát ra lời nói sai trái

2 Chính nghiệp: hành động chân chính, mang lại lợi ích cho mọi người

6 Chính định : Giữ tâm vắng lặng không một vọng niệm khởi lên để trí tuệ xuất hiện, chứng quả tu đà hoàn

7 Chính kiến : kết quả của việc sống, tư duy con người phải có ý biến lấy tiêu biểu là các vị Phật

8 Chính tư duy: Sau khi có niệm khởi, con người sẽ tư duy, suy nghĩmột cách chân chính, làm chủ được dòng tư duy

Trang 16

CHƯƠNG II: PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA, TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM.

2.1 Qúa trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam

Sự du nhập của phật giáo vào nước ta thật ra không phải xuất phát từTrung Hoa, mà được truyền sang trực tiếp từ Ấn Độ Nhiều tư liệu khoahọc cho thấy, vào những năm đầu Công nguyên, quốc gia Âu Lạc bị Triệu

Đà thôn tính vào năm 179 TCN và biến nước ta thành quận Giao Chỉ Đếnnăm 110 TCN, Triệu Đà bị nhà Hán thôn tính Trên lãnh thổ của nhà HậuHán đã tồn tại ba trung tâm phật giáo lớn là Luy Lâu (Bắc Ninh, Việt Nambây giờ), Lạc Dương, Bành Thành (Trung Quốc), chỉ có Luy Lâu được xácđịnh là sớm nhất và là bàn đạp cho việc hình thành hai trung tâm kia Do đó

có thể thấy những điều khẳng định rằng Phật giáo vào nước ta trước tiên vàsau đó là cơ sở để vào Trung Quốc Phật giáo du nhập vào nước ta theo conđường biển cùng với những thương nhân người Ấn Độ đến Việt Nam đểbuôn bán, khi đi họ đem theo các nhà sư để giúp họ tổ chức thực hiện cácnghi lễ tín ngưỡng Và nhân dịp đó, họ còn truyền bá cho cư dân bản địa tạiLuy Lâu

Không bao lâu khi Phật Giáo được truyền vào đất Việt, nhờ sự nổlực hoạt động truyền giáo của các tăng sĩ Ấn Ðộ, tại Luy Lâu, thủ phủ củaGiao Chỉ lúc bấy giờ đã trở thành một trung tâm Phật Giáo lớn nhất trongvùng Tại đây, với những sinh hoạt hoằng pháp của ngài Khâu Ðà La(người Ấn Ðộ đến Luy Lâu khoảng năm 168-169) đã xuất hiện một môhình Phật Giáo Việt Nam hóa đầu tiên qua hình tượng Thạch Quang Phật

và Man Nương Phật Mẫu (hình tượng Phật Nữ) Một chứng liệu lịch sửquan trọng khẳng định Phật Giáo Việt Nam đã bắt rễ sớm ở Giao Châu là

sự việc ngài Mâu Bác (sinh cuối thế kỷ thứ II) theo mẹ từ Trung Quốc sangGiao Châu khi ngài còn rất trẻ, rồi lớn lên, tại đây ngài đã viết bài

"Lý hoặc Luận" và dịch một số kinh sách, chứng tỏ ngài đã học Phật giáo

Trang 17

tại Giao Châu và như thế Phật Giáo Giao Châu đã phát triển khá mạnh, ítnhất là vào nữa đầu thế kỷ thứ III Tây Lịch.

Sang thế kỷ thứ III, có ba nhà truyền giáo nước ngoài đến hoằngPháp tại Giao Châu là các ngài Khương Tăng Hội (gốc người Sogdiane,Khương Cư); ngài Chi Cương Lương Tiếp (người xứ Nhục Chi) và ngài

Ma Ha Kỳ Vực (người Ấn Ðộ)

Ðến thế kỷ thứ V, có hai thiền sư xuất hiện, là Ðạt Ma Ðề Bà(Dharmadeva,) và Huệ Thắng (người Việt) Thiền sư Ðạt Ma Ðề Bà làngười Ấn Ðộ đến Giao Châu vào giữa thế kỷ thứ V để giảng dạy vềphương pháp thiền học Thiền sư Huệ Thắng là người địa phương là mộttrong những học trò của ông

Cũng do được truyền bá trực tiếp từ Ấn Ðộ vào Việt Nam ngay từ đầu kỷnguyên Tây lịch, nên danh xưng Buddha (Bậc Giác Ngộ) tiếng Phạn đãđược phiên âm trực tiếp sang tiếng Việt là Bụt (Trung Hoa dịch là Phật).Ðiều này trùng hợp với danh từ Bụt được xuất hiện trong nhiều truyện cổtích Việt Nam Theo từ điển Phật học Việt Nam, (Minh Châu và Minh Chi,

Hà Nội 1991) có ghi: "Tiếng Bụt phổ biến hơn trong văn học dân gian và là dấu hiệu chứng tỏ Ðạo Phật truyền vào nước ta sớm lắm" Phật Giáo ở Giao

Châu lúc ấy mang màu sắc Nam phương, nhưng trong con mắt của nền vănminh nông nghiệp, người Việt Nam lại hình dung Ðức Phật như là một vị thầntoàn năng có mặt ở khắp nơi, sẵn sàng xuất hiện để cứu độ mọi người

Từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ X, vai trò của các nhà sư Ấn Độgiảm ngược lại vai trò của các nhà sư Trung Quốc tăng lên Đặc biệt cóhai phái thiền Trung Quốc du nhập vào Việt Nam, đó là: Phái thiền Tùy –

ni – đa – lưu – chi (tên một nhà sư người Ấn Độ, sang Trung Quốc và họcthiền của Sư tổ Tăng Xán rồi về chùa Pháp Vân (Bắc Ninh) và ở đây, ônglập ra phái thiền theo tên của ông); phái thiền Vô – ngôn – thông (biệt hiệucủa một nhà sư Trung Quốc người họ Trịnh, ông này là người ít nói nhưng

Trang 18

rất uyên thâm nên đặt là Vô – ngôn – thông, sau đó ông vào chùa Kiến Sơ –Bắc Ninh và lấy tên phái thiền theo tên mình).

2.2 Qúa trình phát triển của Phật giáo Việt Nam

2.2.1 Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ thứ VI đến hết thế kỷ thứ IX, thời kỳ phát triển:

Bước sang thời kỳ này, Phật tử Việt Nam lại tiếp nhận thêm nhữngđoàn truyền giáo của Trung Quốc Không bao lâu sau đó, Phật Giáo Bắcphương (Trung Quốc) đã chiếm ưu thế và đã thay đổi chổ đứng của PhậtGiáo Nam Truyền vốn có từ trước Từ Buddha được dịch thành chữ Phật,

và từ đây Phật dần dần thay thế cho chữ Bụt và chữ Bụt chỉ còn giới hạntrong ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích mà thôi Trong thời gian này, từ TrungHoa có ba tông phái được truyền vào Việt Nam, đó là Thiền Tông, Tịnh ÐộTông và Mật Tông

a Thiền Tông :

Là tông phái hay đúng hơn là một pháp môn tu tập có từ thời ÐứcPhật Thích Ca tại Ấn Ðộ (trong hội Linh Sơn) rồi truyền xuống cho Tôngiả Ca Diếp, lần lượt cho đến Tổ thứ 28 Ấn Ðộ là Bồ Ðề Ðạt Ma(Bodhidharma) Ðến năm 520 Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma, vốn là thái tử thứ ba củavua Kancipura, Nam Ấn, vâng theo lời thầy là Bát Nhã Ða La (Prajnatara),

Bồ Ðề Ðạt Ma đến Trung Hoa để hoằng dương Phật pháp Tại nơi ây,Thiền Tông đã được hình thành và nhanh chóng hưng thịnh

Thiền hay còn gọi là tĩnh lự, chủ trương tập trung trí tuệ để tìm ra chân lý

Tu theo pháp môn này đòi hỏi hành giả phải có nhiều công phu và khảnăng trí tuệ, do vậy chỉ phổ biến ở tầng lớp trí thức và giai cấp thượng lưu,

và cũng chính nhờ họ ghi chép lại mà chúng ta ngày nay mới biết được lịch

sử Thiền Tông ở Việt Nam

- Dòng thiền thứ nhất: được Tổ Tỳ Ni Ða Lưu Chi (Vinitaruci) sáng

lập Ngài là người Nam Thiên Trúc, sang Trung Hoa học đạo và được tổthứ ba thiền tông Trung Hoa là Tổ Tăng Xán khuyên nên "mau đi về

Trang 19

phương nam mà tiếp xúc với thiên hạ, không nên ở lâu tại đây" Ngài từbiệt và đến Việt Nam vào năm 580, ở tại chùa Pháp Vân (nay là ThuậnThành Hà Bắc) để hoằng pháp và truyền cho tổ thứ hai là ngài Pháp Hiền(người Việt Nam) Ðây là dòng thiền có tích cách dân tộc Việt Nam, vừabiểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu việt của Phật Giáo vừa biểu lộ đượcđời sống thực tế và đơn giản của quần chúng nghèo khổ Việt Nam Dòngthiền này truyền được 19 thế hệ.

- Dòng thiền thứ hai: là thiền phái Vô Ngôn Thông, do thiền sư Vô

Ngôn Thông người Trung Hoa sáng lập tại chùa Kiến Sơ (Phù Ðổng, HàBắc) vào năm 280 Người kế nghiệp ngài là thiền sư Cảm Thành Ðây làthiền phái chịu ảnh hưởng Phật Giáo Trung Hoa sâu đậm, tuy nhiên vẫn rấtgần gũi với đời sống xã hội, hòa nhập vào đời sống người dân trong khi vẫnduy trì được sinh hoạt tâm linh độc lập của mình Thieàn phái này truyềnđược 17 thế hệ

- Dòng thiền thứ ba: là thiền phái Thảo Ðường, do thiền sư Thảo

Ðường (người Trung Hoa) sáng lập, ngài vốn là tù binh bị bắt tại ChiêmThành, được vua Lý Thánh Tông (1054-1072) giải phóng khỏi kiếp sống tùđày và vua cho lập đạo tràng tại chùa Khai Quốc ở ngay kinh thành ThăngLong (1069) đệ tử theo học rất đông, trong đó có cả chính vua Lý ThánhTông Thiền phái này có khuynh hướng thiền tông trí thức và văn chương,

do đó không cắm rễ được trong quần chúng mà chỉ ảnh hưởng được tới một

số trí thức và vua quan có khuynh hướng văn học Dòng thiền này truyềnđược 6 đời

- Dòng thiền thứ tư: đó là thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân

Tông (1258-1368) khai sáng Vua Trần Nhân Tông học Phật qua sự hướngdẫn của Tuệ Trung Thượng Sĩ, một thiền sư cư sĩ nổi tiếng đời Trần, saukhi xuất gia vào năm 1299 với đạo hiệu là Trúc Lâm Ðầu Ðà, ngài đã lên tu

ở núi Yên Tử (tỉnh Quãng Ninh) và tại đây, ngài đã lập ra thiền phái TrúcLâm, một dòng thiền Việt Nam đầu tiên, mang tính chất độc lập Việt Nam

Trang 20

với sự kết hợp hài hòa của Phật Giáo Aán-Hoa Lập ra thiền phái Trúc Lâmnày, vua Trần Nhân Tông đã thống nhất được các thiền phái tồn tại trước

đó và toàn bộ Giáo Hội Phật Giáo đời Trần về một mối

Nhìn chung thiền phái Trúc Lâm là một dòng thiền tổng hợp được bayều tố đặc thù của xã hội Trúc Lâm đại diện cho quý tộc, Pháp Loa đạidiện cho nông dân và Huyền Quang đại diện cho nho sĩ, tính cách quý tộc,nông dân và nho sĩ là thể hiện toàn diện trong con người Trúc Lâm Sựtổng hợp đó, đã tạo nên nét đặc thù của thiền phái Trúc Lâm mà các thiềnphái trước đó không có được, kể từ đó đưa Ðạo Phật đi vào xã hội với tinhthần nhập thế cụ thể, giáo hội được tổ chức chặt chẽ, cũng cố tinh thần đạopháp và dân tộc xây dựng phồn vinh cho đất nuớc Sau thời đại Lý Trần cácdòng thiền Việt Nam dường như lu mờ và tàn lụi hẳn, đến cuối thế kỷ thứ

XX, tiếp nối đạo mạch Việt Nam, thiền sư Thích Thanh Từ đã phục hưngnền thiền tông Việt Nam đó là thời điểm đầu những năm 70 tại tu việnChơn Không (1970-1986) rồi đến Thường Viện Thường Chiếu (1974-1994) và hiện nay là thiền viện Trúc Lâm ở Ðà Lạt Ðây có thể nói là mộtdòng thiền khác mang tính cách độc lập của người Việt Nam Thiền sưThanh Từ đã không theo các dòng thiền nào truyền thống mà chỉ tổng hợpchỗ thấy, chỗ ngộ và sự ứng dụng của ba thiền sư nổi tiếng là thiền sư HuệKhả (tổ thứ 2, Trung Hoa) thiền sư Huệ Năng (tổ thứ 6, Trung Hoa) vàthiền sư Trần Nhân Tông (sơ tổ Trúc Lâm, Việt Nam) mà lập thành phươngpháp tu tập cho thiền sinh Việt Nam trong thời hiện đại

b Tịnh Ðộ Tông:

Khác với Thiền Tông, Tịnh Ðộ Tông chủ trương phải dựa vào thalực tức sự giúp đỡ từ bên ngoài Thật ra, Thiền hay Tịnh Ðộ cũng chỉ lànhững pháp môn tu tập thích hợp cho nhiều đối tượng khác nhau do ÐứcPhật truyền giáo ra Chính Ðức Phật Thích Ca đã nhờ vào tự lực của mình

để đến giác ngộ thì cần phải giúp đỡ họ, sự trợ lực hay tha lực này rất quantrọng Ðiều này gợi cho tín đồ liên tưởng đến một cõi Niết Bàn cụ thể đó là

Trang 21

cõi Tịnh Ðộ hay thế giới Cực Lạc do Ðức Phật A Di Ðà làm giáo chủ Sựgiúp đỡ đó còn cho thấy bản thân của người tín đồ cần thường xuyên đichùa dâng hương, cúng dường, bố thí, làm những điều thiện, tránh các điều

ác và thường xuyên niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà để đạt đến nhất tâmbất loạn và muốn đạt đến chỗ nhất tâm bất loạn này, hành giả trong lúcniệm Phật phải hình dung, quán tưởng về thế giới cực lạc để tâm mìnhhướng tới

Nhờ cách thức tu tập đơn giản như vậy nên Tịnh Ðộ Tông là tôngphái phổ biến khắp đất nước Việt Nam Ðâu đâu ta cũng gặp người dântụng Kinh A Di Ðà và niệm danh hiệu của Ðức Phật A Di Ðà Tượng Phật

A Di Ðà cũng thuộc loại tượng Phật lâu đời và phổ biến ở Việt Nam Ðiểnhình là pho tượng Phật A Di Ðà bằng đá, cao gần 2m,thờ tại chùa PhậtTích, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh, được tạo tác dưới triều Lý ThánhTông năm 1057 Ðây là một bằng chứng đánh dấu sự ảnh hưởng Tịnh ÐộTông đầu tiên ở Việt Nam

c Mật tông:

Là một tông phái chủ trương sử dụng hình ảnh cụ thể và những mật ngữ,mật chú để khai mở trí tuệ giác ngộ Tương truyền Mật Tông do Phật Ðại Nhậtchủ xướng và có hai bộ kinh chính là Kinh Ðại Nhật và Kinh Kim Cương Mậttông truyền vào Việt Nam không còn độc lập như một tông phái riêng mànhanh chóng hòa vào tín ngưỡng dân gian, pha trộn với các truyền thống nhưchẩn tế, cầu đồng, dùng pháp thuật, yếm bùa trị tà ma và trị bệnh Mật tôngkhông có dấu hiệu phát triển rõ ràng ở Việt Nam, chỉ tuỳ thuộc vào sự thọ trìcủa từng chùa và của mỗi cá nhân có cơ duyên đến với tông phái này

2.2.2 Phật Giáo Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ thứ XV: thời kỳ cực thịnh

Phật giáo Việt Nam ở thời kỳ này, nhất là giai đoạn Lý – Trần, theođánh giá của nhiều nhà nghiên cứu thì đây là giai đoạn phát triển tới mứctoàn vẹn và cực thịnh của Phật giáo Việt Nam Biểu hiện:

Trang 22

Dưới thời Lý, Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong mọi tầng lớpnhân dân và có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội, in rõ dấu ấn trongmọi lĩnh vực văn hóa Nhà vua và tầng lớp quý tộc rất tôn sùng đạo phật,thậm chí nhà nước và nhân dân cùng bỏ tiền và cấp ruộng đất cho nhàchùa Một số vua nhà Lý như: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý CaoTông, Lý Huệ Tông đã từng đi tu Trong đó đặc biệt là vua Lý Thánh Tôngsáng lập ra một phái Thiền tông mới ở Việt Nam – phái Thảo đường Trongnhân dân, số sư sãi và tín đồ đạo phaatj chiếm tỷ lệ khá đông Theo nhà sửhọc Lê Văn Hưu (đời Trần) thì vào thời Lý: “nhân dân quá một lnwar làmsãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa Các nhà sư trở thành một tầng lớpphong kiến tăng lữ có thế lực trong xã hội” Sư Vạn Hạnh là người đã vậnđộng đưa Lý Công Uẩn lên làm vua, lập ra triều Lý Bản than Lý Công Uẩnxuất thân trong chùa Sa Di, tu tới bậc Sư bác.

Sang đến triều Trần, phật giáo còn thịnh nhưng tầng lớp Tăng lữđang mất dần tác dụng to lớn trong xã hội Tuy nhiên, các vị vua nhà Trầnnhư Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông là những nhà nghiên cứu phật giáolỗi lạc có nhiều tác phẩm thơ văn mang tư tưởng phật giáo Đặc biệt TrầnNhân Tông sau khi dẹp song giặc Nguyên Mông đã xuất gia tu hành và lậpphái thiền mang bản sắc văn hóa Việt Nam mang tên phái Thiền Trúc LâmYên Tử

Có thể thấy được rằng, đây là thời kỳ vàng son của Phật giáo ViệtNam, bởi vì: cả hai triều Lý – Trần đều có nhiều nhà sư danh tiếng, có công

có đạo pháp, có công lớn đối với việc xây dựng đất nước Chẳng hạn như,triều Lý có Vạn Hạnh Quốc sư, sư Thông Biện, sư Viên Chiếu; triều Trần

có Trần Nhân Tông, Pháp Hoa, Huyền Quang đều là Sư tổ của phái ThiềnTrúc Lâm Dưới hai triều đại Lý – Trần, phật giáo giữ vai trò là tư tưởngchỉ đạo, năng động và sâu sắc.Có rất nhiều chùa tháp qui mô to lớn hoặckiến trúc độc đáo đã được xây dựng trong thời Lý Trần như chùa Phật Tích,chùa Ðại Lãm, chùa Linh Xứng, chùa Một Cột, chùa Phổ Minh

Trang 23

2.2.3 Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ XX: thời kỳ phục hưng

Phật Giáo Việt Nam đã trải qua thời cực thịnh nhất dưới hai triều đại

Lý Trần, sang đến đời Hậu Lê rồi Nguyễn Triều thì Phật Giáo phải nhườngbước cho Nho giáo, lúc ấy đang chiếm vai trò độc tôn.Triều đại nhàNguyễn truyền đến đời vua Tự Ðức thì mất chủ quyền, nước ta rơi vàovòng đô hộ của Pháp Phật Giáo Việt Nam vốn đã suy vi nay lại điêu tànhơn Trong bối cảnh đó, Ky Tô giáo đã du nhập vào Việt Nam và dân tộcViệt Nam lại tiếp nhận thêm một tôn giáo mới của phương Tây Tuy tinhthần khai phóng dung hợp của Phật Giáo suốt mấy thế kỷ qua không cònđược thể hiện trong chính sách quốc gia, văn hóa và xã hội vào thế kỷ XXnhưng Phật Giáo vẫn là tôn giáo chính của dân tộc, đóng vai trò hòa giảigiữa các thế lực tranh chấp, góp phần xây dựng tinh thần dân tộc, bảo vệnền độc lập của quốc gia

Dưới triều Nguyễn, phật giáo tiếp tục suy vi Cho đến năm 1830 củathế kỷ XX, phật giáo mới khởi sắc trở lại nhờ phong trào “trấn hưng phậtgiáo” Nhờ phong trào chấn hưng Phật Giáo này mà đội ngũ tăng ni đượcđào tạo qua nhiều trường lớp và phát triển nhiều ở các tỉnh Chùa chiềnđược xây dựng khắp nơi, nhất là hệ thống chùa phật học ở các thành thị.Nhiều ngôi chùa ở làng xã được trùng tu và có chư tăng ni trụ trì.Một số tổchức phật giáo đi vào hoạt động , các cơ sở đào tạo tăng ni ra đời Phongtrào này kéo dài đến năm 1954, thực dân Pháp cũng tìm cách lôi kéo ảnhhưởng của phật giáo Tuy nhiên, đa số tăng ni, phật tử vẫn giữ nét tu sơnmôn của mình tiếp tục đóng góp sức người, sức của cho cách mạng Ởmiền Bắc, nhiều chủa chiền trở thành cơ sở cách mạng Ở miền Nam,phong trào phật giáo yêu nước thu hút được nhiều tăng ni, phật tử tham gia

Đến năm 1954, đất nước bị chia cắt thành hai miền thì Phật giáo haimiền cũng có sự khác nhau Cụ thể:

Năm 1958, ở miền Bắc ra đời tổ chức “Hội Phật giáo thống nhất ViệtNam” Nhờ đó, họ đã quy tụ được giới phật giáo cả miền Bắc vào hoạt

Trang 24

động tôn giáo yêu nước Trong khi đó, do diễn biến của phật giáo phức tạp,nổi lên hai nét chính:

Một là, ra đời nhiều tổ chức, hệ phái đặc biệt ra đời “Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam thống nhất” (1954) nhằm thống nhất, quy tụ các hệ pháiphật giáo trong cả nước Tuy nhiên sau một thời gian hoạt động, tổ chứcnày lại phân rẽ Một bộ phận của tổ chức này tách riêng ra hoạt động bị Mỹlợi dụng đi ngược lại lợi ích, tâm tư, tình cảm của tăng ni, phật tử

Hai là, trong một thời gian dài, Phật giáo Miền Nam bị chi phối bởi

xu hướng hiện đại hóa Các tổ chức phật giáo có nhiều hoạt động từ mởtrường đào tạo nhằm “tri thức hóa” tăng ni, mở rộng đoàn phật tử, xâydựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng chùa, đền tạo không khíphát triển rầm rộ chưa từng thấy trong mấy thập kỷ phát triển của Phật giáoViệt Nam Đế quốc Mỹ càng tìm mọi cách lợi dụng nhằm kéo các tăng ni,phật tử xa rời cách mạng

Sau năm 1975, đất nước thống nhất, là cơ hội để các tổ chức, hệ pháiphật giáo có điều kiện thống nhất Tháng 11 năm 1981, Đại hội Đại biểuPhật giáo toàn quốc là thứ nhất đã được long trọng tổ chức, hệ phái phậtgiáo cả nước Đại hội lập ra tổ chức “ Giáo hội Phật giáo Việt Nam” và bầu

ra Hội đồng Chứng minh và Hội đồng trị sự của Giáo hội Phật giáo ViệtNam Đại hội này có ý nghĩa là đã thống nhất được các tổ chức, hệ pháiphật giáo trong cả nước đáp ứng được tâm tư, tình cảm cho tăng ni, phật tử;tạo tiền đề cho phật giáo tiếp tục đồng hành cùng dân tộc.Như vậy, quanhững nét khái quát nêu trên cho thấy, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng

từ hai phía Trung Quốc và Ấn Độ Trong đó, những tăng ni mặc áo nâu đạidiện cho hệ phái Đại thừa; áo vàng thì đại diện cho hệ phái Tiểu thừa Bêncạnh đó, Phật giáo Việt Nam còn ảnh hưởng khá sâu sắc từ Nho giáo, Đạogiáo, của các phong tục tín ngưỡng dân gian tạo nên những nét riêng có củaPhật giáo Việt Nam mang đậm chất dân gian Phật giáo Việt Nam có bềdầy lịch sử khoảng 20 thế kỷ Trong quá trình đó, phật giáo xây dựng cho

Trang 25

mình truyền thống yêu nước gắn bó cùng với dân tộc, góp phần không nhỏvào việc hình thành bản sắc văn hóa , phong tục tập quán, đạo đức, lối sốngcủa người Việt.

2.3 Những đặc điểm cơ bản của Phật giáo Việt Nam

2.3.1 Tính tổng hợp

Đây là đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp, cũng là đặc trưng nổibật nhất của Phật giáo Việt Nam.Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúcngay với các tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, và do vậy đã được tổnghợp chặt chẽ ngay với chúng Hệ thống chùa “Tứ pháp” thực ra vẫn chỉ lànhững đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên Mây-Mưa-Sấm-Chớp vàthờ đá Lối kiến trúc phổ biến của chùa Việt Nam là “tiền Phật, hậu Thần”với việc đưa các thần, thánh, các thành hoàng, thổ địa, các anh hùng dântộc vào thờ trong chùa Có những chùa còn có cả bàn thờ cụ Hồ Chí Minh

ở Hậu tổ Hầu như không chùa nào là không để bia hậu, bát nhang ho cáclinh hồn, vong hồn đã khuất

Phật giáo Việt Nam là tổng hợp các tông phái lại với nhau Ở ViệtNam, không có tông phái Phật giáo nào thuần khiết Tuy chủ trương củaThiền tông là bất lập ngôn, song ở Việt Nam chính các thiền sư đã để lạinhiều trước tác có giá trị Dòng Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi thì pha trộn với Mẫugiáo, nhiều thiền sư phái này, nhất là những vị sống vào thời Lý như VạnHạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, đều nổi tiếng là giỏi phápthuật, có tài biến hóa thần thông Phật giáo Việt Nam cũng tổng hợp cáccon đường giải thoát bằng tự lực và tha lực, phối hợp Thiền tông với Tịnh

Độ tông

Các chùa phía Bắc là cả một Phật điện vô cùng phong phú với hàngmấy chục pho tượng Phật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau Ởphía Nam, Đại thừa và Tiểu thừa kết hợp mật thiết với nhau: nhiều chùamang hình thức tiểu thừa (thờ Phật Thích Ca, sư mặc áo vàng) nhưng lại

Ngày đăng: 18/08/2017, 13:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w