LỜI MỞ ĐẦU Con người Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo hết sức phong phú, điều đó xuất phát từ Việt Nam là một quốc gia nằm giữa ngã tư trung tâm của Đông Nam Á nên có điều kiện thuận lợi để tiếp nhận và giao lưu của các luồng tư tưởng, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo từ các quốc gia khác nhau, nhất là lại kề bên hai nền văn minh lớn của loài người là Trung Hoa và Ấn Độ nên tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh hưởng sâu đậm từ hai nền văn minh ấy. Ngoài ra, với địa hình phong phú, đa dạng, lại ở vùng nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên vừa ưu đãi, vừa đe dọa cộng đồng người sống ở đây nên trong đời sống tinh thần người Việt thường nảy sinh tâm lý sợ hãi, nhờ cậy vào sự che chở của lực lượng tự nhiên, đó cũng là cơ hội để tín ngưỡng và tôn giáo phát triển mạnh. Lịch sử Việt Nam còn là lịch sử chống ngoại xâm, những người có công lớn trong việc giúp dân, cứu nước được cả cộng đồng tôn sùng và để tưởng nhớ những vị ấy, người Việt đã thờ phụng và thần thánh hóa họ, gắn cho họ những sức mạnh của siêu nhiên. Chính những đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hóa ấy đã có ảnh hưởng lớn đến đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam . Không biết từ bao giờ , bằng nhiều cách khác nhau tôn giáo Ấn Độ đã du nhập và có ảnh hưởng nhất định tới các quốc gia trong khu cũng như trên thế giới (trong đó có Việt Nam ) . Theo dòng chảy của lịch sử tôn giáo Ấn Độ đã mang lại nhiều giá trị phong phú và đặc sắc cho dân tộc ta. Những ảnh hưởng trực tiếp của tôn giáo Ấn Độ từ xa xưa vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay , tác động không nhỏ tới đời sống tâm linh , tín ngưỡng của người dân Việt . VÀI NÉT CHUNG VỀ ẤN ĐỘ VÀ TÔN GIÁO NƠI ĐÂY
Trang 1MÔN: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM ẢNH HƯỞNG CỦA TÔN GIÁO ẤN ĐỘ ĐẾN VIỆT NAM
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Con người Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo hết sức phong phú, điều đó xuất phát từ Việt Nam là một quốc gia nằm giữa ngã tư - trung tâm của Đông Nam Á nên có điều kiện thuận lợi để tiếp nhận và giao lưu của các luồng tư tưởng, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo từ các quốc gia khác nhau, nhất là lại kề bên hai nền văn minh lớn của loài người là Trung Hoa và Ấn Độ nên tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh hưởng sâu đậm từ hai nền văn minh ấy Ngoài ra, với địa hình phong phú, đa dạng, lại ở vùng nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên vừa ưu đãi, vừa đe dọa cộng đồng người sống ở đây nên trong đời sống tinh thần người Việt thường nảy sinh tâm lý sợ hãi, nhờ cậy vào sự che chở của lực lượng tự nhiên, đó cũng là cơ hội để tín ngưỡng và tôn giáo phát triển mạnh Lịch sử Việt Nam còn là lịch sử chống ngoại xâm, những người có công lớn trong việc giúp dân, cứu nước được cả cộng đồng tôn sùng và để tưởng nhớ những vị ấy, người Việt đã thờ phụng và thần thánh hóa họ, gắn cho họ những sức mạnh của siêu nhiên Chính những đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hóa ấy đã có ảnh hưởng lớn đến đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Không biết từ bao giờ , bằng nhiều cách khác nhau tôn giáo Ấn Độ đã du nhập và có ảnh hưởng nhất định tới các quốc gia trong khu cũng như trên thế giới (trong đó có Việt Nam ) Theo dòng chảy của lịch sử tôn giáo Ấn Độ đã mang lại nhiều giá trị phong phú và đặc sắc cho dân tộc ta Những ảnh hưởng trực tiếp của tôn giáo Ấn Độ từ xa xưa vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay , tác động không nhỏ tới đời sống tâm linh , tín ngưỡng của người dân Việt
Trang 3
VÀI NÉT CHUNG VỀ ẤN ĐỘ VÀ TÔN GIÁO NƠI ĐÂY
1) Đất nước Ấn Độ :
Nhắc đến Ấn Độ người ta sẽ nghĩ đến điệu múa quyến rũ của những người phụ nữ , những kiến trúc mang hơi hướng thần thoại và sự huyền bí Đất nước cũng như phong cảnh Ấn Độ với nhiều nét tương phản trải dài từ những rặng núi,
sa mạc tuyết phủ và những bãi biển với hàng cọ xanh cho đến các khu nghĩ mát vùng núi yên tĩnh, những kỳ quan kiến trúc và những cảnh đẹp kỳ lạ Đền thờ Taj Mahal lãng mạn, chợ mua bán lạc đà Rajast ban đêm màu sắc, những pháo đài cổ
và tàn tích đầy ấn tượng, tất cả những nét đẹp đã biến Ấn Độ trở thành xứ sở của những cảnh đẹp và những thanh âm
Đến với Ấn Độ, chúng ta không chỉ tận mắt chiêm ngưỡng các khu thánh tích nguy nga, cổ kính ở bên vịnh Bengal mà còn được đắm mình trong không gian yên tĩnh, thần bí của những ngôi làng với các kiến trúc Phật giáo ở Sanchi hay những hang động tuyệt mỹ nằm sâu dưới lòng đất và trong các thung lũng ở Thành Phố Aurangabad Đến hang động Elephata ở Thành Phố Mumbai có nhiều kiến trúc chạm khắc tinh xảo trong hang đá xuất hiện từ Thế Kỷ thứ 6 đến Thế Kỷ thứ 8
Ở đây du khách sẽ được chiêm ngưỡn một kiệt tác nổi tiếng Thế giới Trong hốc đá
đó là tượng thần ba mặt Marhesmurty cao 5m Du khách có thể đến đây bằng tàu thủy cao tốc đi từ bến Khải Hoàn Môn
2) Về tôn giáo ở Ấn Độ :
Ấn Độ là một trong những nền văn minh lớn của nhân loại, điều đó thể hiện rất rõ qua các giá trị vật chất và giá trị tinh thần vượt thời gian còn tồn tại cho đến ngày nay , chính các giá trị ấy lại ảnh hưởng đến chính cuộc sống của xã hội con người bây giờ Bức tranh tôn giáo của Ấn Độ mang nhiều màu sắc về sự hình thành , phát triển và suy yếu của các tôn giáo lớn của Ấn Độ thời kì đầu Người ta
Trang 4vẫn gọi nơi đây là dất nước của tôn giáo , nơi chung sống hòa hợp của hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới Bởi có vai trò quan trọng và chi phối sâu sắc xã hội Ấn
Độ đặc biệt là đạo Bàlamôn về sau phát triển thành đạo Hinđu Ngày nay ở Ấn Độ
có hai dòng tôn giáo chính :
- Tôn giáo bản địa : Bàlamôn , đạo Hinđu , Jain , Sikh
- Tôn giáo ngoại nhập : Hồi , Thiên chúa , Do thái , Bái hỏa giáo
Từ những tôn giáo trên lại phát sinh những giáo phái khác khiến Ấn Độ thành quê hương của “ hàng trăm đạo, mỗi đạo có hình tượng , giáo chủ và nghi lễ riêng ” rất phong phú
Dù là đất nước có nền tôn giáo mang nhiều màu sắc song có lẽ ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến tôn giáo Việt Nam có lẽ là 2 tôn giáo lớn : Ấn Độ giáo ( đạo Bà
la môn ) và Phật giáo
ẢNH HƯỞNG CỦA ẤN ĐỘ GIÁO ĐẾN VIỆT NAM 1) Ấn Độ giáo ( đạo Bà la môn ) :
Ân Độ Giáo không những là truyền thống tôn giáo lớn và lâu đời nhất của Tiểu Lục Địa Ấn Độ mà còn của cả thế giới Ấn Độ Giáo không phải được khai sáng bởi một vị giáo chủ độc nhất hya có một hệ thống thống nhất về niềm tin hay tín điều, mà chỉ là một hiện tượng tôn giáo bắt nguồn và dựa vào các truyền thống
Vệ Đà Phó Tổng Thống Ấn Độ Sarvepalli Radhakrishnan từng phát biểu rằng Ấn
Độ Giáo không chỉ là niềm tin mà còn là sự hợp nhất của lý trí và trực giác Radhakrishnan cũng nhấn mạnh rằng Ấn Độ Giáo không thể được định nghĩa trên lời lẽ mà phải trải nghiệm Ấn Độ Giáo có đặc tính cởi mở và bao dung được tất cả các niềm tin khác nhau Người ta cũng có thể định nghĩa Ấn Độ Giáo như là một phương thức sống
Chứng liệu xưa nhất về tôn giáo tiền sử của Ấn Độ mà sau này là Ấn Độ Giáo là vào Thời Đại Đồ Đá Mới tức khoảng thời gian của văn minh Harappa từ
Trang 55,500 tới 2,600 năm trước công nguyên Niềm tin và sự thực hành tôn giáo thời đại
cổ xưa (1,500 tới 500 trước công nguyên) được gọi là “tôn giáo Vệ Đà Lịch Sử.”
Ấn Độ Giáo mà ngày nay chúng ta thấy được phát sinh từ các bộ Vệ Đà, mà văn bản cổ nhất là Rigveda, khoảng 1,700 tới 1,100 năm trước công nguyên
Chữ Hindu bắt nguồn từ chữ Phạn Sindhu, là tên gọi theo lịch sử địa phương của con Sông Ấn Hà nằm ở phía tây bắc của tiểu lục địa Ấn Độ và được đề cập đến trước tiên trong Rig Veda Chữ Hindu lần đầu tiên được những đội quân xâm lăng
Ả Rập dùng và lưu truyền rộng trong ngôn ngữ Ả Rập như là al-Hind tức là lãnh thổ của những người sống chung quanh sông Ấn Hà Chữ Hindu trong ngôn ngữ vùng Vịnh Ba Tư cũng còn được dùng để chỉ tất cả người dân Ấn Độ Vào thề kỷ thứ 13, chữ Hindustan được biết đến rộng rãi như là chữ thay thế cho India, có nghĩa là “lãnh thổ của Ấn Độ Giáo.” Thuật ngữ Ấn Độ Giáo được giới thiệu trong tiếng Anh vào thế kỷ thứ 19 để nói đến truyền thống tôn giáo, triết học và văn hóa bản địa của Ấn Độ Vào thế kỷ thứ 19, các học giả Max Muller và John Woodroffe
đã thành lập một học viện nghiên cứu về văn hóa Ấn Độ từ một viễn cảnh của Âu Châu Họ mang văn học Vệ Đà, cổ sử và kinh điển, và triết lý tới Âu Châu và Hoa
Kỳ
Ấn Độ Giáo thường được biết có nhiều hệ phái khác nhau Theo lịch sử, Ấn
Độ Giáo có 6 trường phái tư tưởng chính, nhưng chỉ có 2 trường phái Vedanta và Yoga là phát triển lâu dài Hiện nay, Ấn Độ Giáo có các trường phái chính như Vaishnavism, Shaivism, Smartism, và Shaktism
Các giáo thuyết chủ đạo của Ấn Độ Giáo gồm Dharma (Pháp, nguyên lý đạo đức và chức phận), Samsàra (Luân hồi, sống, chết và tái sinh), Karma (Nghiệp, hành động tạo tác và kết quả của hành động tạo tác), Moksha (Giải thoát khỏi luân hồi), và Yoga (các phương pháp tu tập) Những giáo thuyết này có vẻ trùng hợp với giáo thuyết của Phật Giáo và Kỳ Na Giáo, nhưng thực tế có nhiều khác biệt trong nhận thức và thực hành chúng trong Ấn Độ Giáo so với Phật Giáo và Kỳ Na Giáo
Trang 6Ấn Độ Giáo là một hệ thống tư tưởng phức hợp với những niềm tin sai biệt gồm nhất thần, đa thần, vô thần, phiếm thần, hoài nghi, v.v… và quan điểm về Thượng Đế của Ấn Độ Giáo thì phức tạp và tùy thuộc vào mỗi cá nhân và truyền thống hay triết lý đi theo Đôi khi còn được xem như là nhất thần tức tôn thờ một vị thần duy nhất nhưng cũng chấp nhận sự hiện hữu của nhiều vị thần khác Kinh điển Rig Veda, bộ kinh cổ nhất và triết lý Ân Độ Giáo không hạn chế quan điểm trên vấn nạn về Thượng Đế và sự sáng tạo vũ trụ, mà đúng hơn là khuyên cá nhân con người đi tìm và khám phá những câu trả lời về cuộc sống Hầu hết tín đồ Ấn Độ Giáo tin rằng thần linh hay linh hồn được gọi là tiểu ngã (atman) là tồn tại vĩnh viễn Theo giáo thuyết Ấn Độ Giáo, tiểu ngã là cái bóng mờ của Thần Brahma, vị thần tối cao Mục tiêu sau cùng của đời sống là nhận thức được rằng tiểu ngã đồng nhất với Brahma Áo Nghĩa Thư nói rằng bất cứ ai trở nên tỉnh giác hoàn toàn về tiểu ngã như là nội thể của tự ngã thì nhận thức được sự đồng nhất với Brahma, và
do vậy, người đó cũng đạt tới sự giải thoát Tóm lại, theo Ấn Độ Giáo tiến trình giải thoát cá nhân chính là tiến trình thể nhập và đồng nhất tiểu ngã (atman) với đại ngã Brahma
Theo các trường phái nhị nguyên trong Ấn Độ Giáo như Dvaita và Bhakti thì Brahma là đấng tối thượng, và họ lễ bái, như Thần Vishnu, Thần Brahma, Thần Shiva, hay Thần Shakti, tùy theo trường phái Ngược lại, các giáo nghĩa vô thần trong Ấn Độ Giáo như Samkhya và Mimamsa thì cho rằng người ta không thể chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế Samkhya biện minh rằng một Thượng Đế bất biến không thể là nguồn gốc sinh ra thế giới biến đổi không ngừng Giáo phái thuộc Ấn Độ Giáo như Vaishnava thờ Thần Vishnu; còn giáo phái Shaivite thờ Thần Shiva; và Shakta thờ Thần Shakti
Về mặt thực nghiệm, Ấn Độ Giáo cho rằng để đạt tới mục đích cứu cánh giải thoát của cuộc sống người ta phải thực hành các phương pháp tu tập được gọi là
Trang 7Yoga Các giáo nghĩa dạy về Yoga gồm có Bhagavad Gita, Kinh Yoga Sutra, Hatha Yoga Pradipika, Áo Nghĩa Thư Yoga gồm có:
- Bhakti Yoga (tình yêu và hiến dâng),
- Karma Yoga (chánh nghiệp),
- Raja Yoga (thiền định)
- Jnana Yoga (trí tuệ)
Các thần cũng được dùng như những phương pháp để xưng tụng và cầu nguyện giúp tập trung tư tưởng và bày tỏ sự hiến dâng lên Thượng Đế hay thần linh
2) Ảnh hưởng của Ấn Độ giáo đến Việt Nam
Những người Ấn Độ đầu tiên đã theo đường biển mà đến Việt Nam ngay từ đầu công nguyên Dấu vết của họ để lại ở cả vùng Óc Eo ( An Giang ) , cả ở ven biển miền Trung và ở cả Luy Lâu ( Hà Bắc ) Họ mang theo cả Bà la môn giáo lẫn Phật giáo Nhưng tình hình đã thay đổi một cách cơ bản kể từ khi người Chăm lập quốc Sauk hi lập quốc , người Chăm thoát khỏi ách đô hộ của Trung Hoa, liên hệ với Trung Hoa cũng hầu như không có Thay vào đó, người Ấn Độ đến ngày một nhiều hơn và khác với Trung Hoa là họ không đem theo chiến tranh , vì vậy nền văn hóa Ấn Độ được người Chăm vui vẻ đón nhận
Ảnh hưởng của Ấn Độ đối với văn hóa Chăm phát huy mạnh mẽ trong khoảng từ TK VII đến TK XV , khi Chămpa chấm dứt sự tồn tại với tư cách quốc gia của mình Trong từng ấy thế kỷ , ảnh hưởng này để lại lớn đến mức nhiều người chỉ nhìn thấy những yếu tố Ấn Độ trong văn hóa Chăm Do vậy, nói đến ảnh hưởng của Ấn Độ ở Việt nam thì trước jeets phải nói đến văn hóa Chăm và khu vực phía Nam vì chỉ có ở đây , ảnh hưởng đó mới bộc lộ mạnh mẽ và trưc tiếp hơn cả
Từ Ấn Độ , người Chăm đã tiếp thu nhiều tôn giáo : Phật giáo , Bà la môn giáo và Hồi giáo Nhưng ở chính quốc thì từ TK V , Phật giáo bị Bà la môn giáo tấn công và dần dần đi đến tàn lụi , còn Hồi giáo thì tuy đã có những dấu vết từ TK
Trang 8X nhưng phải đến cuối TK XV mới có nhiều người Chăm theo Chính vì vậy mà nói đến ảnh hưởng của Ấn Độ trong việc hình thành văn hóa Chăm thì Bà la môn giáo là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất
a) Kiến trúc :
Kiến trúc Chăm pa cổ còn lại chủ yếu là đền tháp Nếu tính cả hai khu kiến trúc lớn là khu di tích Mỹ Sơn và khu Đồng Dương thì suốt dải đất miền Trung từ Quảng Nam vào đến Bình thuận có tất cả 19 khu Tháp với 40 kiến trúc lớn nhỏ hiejenj có niên đại từ TK IX đến XVI Tháp cổ Chăm pa ảnh hưởng của Ấn Độ bởi nó mang hình núi Mê ru ( còn gọi là núi Vàng , nằm ở sườn dãy Himalaya) thu nhỏ Các vị thần của Ấn Độ giáo ngự ở trung tâm thế giới trên núi Mêru nên đền thờ ngài ở hạ giới phải thể hiện như núi Vũ trụ Mêru và phải tuân theo bố cục :hướng tâm , các trục quay ra bốn hướng ,mặt tiền quay về hướng Đông
Về cấu trúc quần thể : các tháp Chăm tập hợp theo hai loại : Loại thứ nhất
là các quần thể kiến trúc bộ ba gồm ba tháp song song thờ ba vị thần Brahma, Visnu, Siva Loại thứ hai là các quần thể kiến trúc có một tháp trung tâm thờ Siva
và các tháp phụ vây quanh Loại này thường xuất hiện muộn hơn (khoảng tk IX trở
về sau); có những nơi trước đây là quần thể kiến trúc bộ ba về sau khi tu chỉnh được chuyển thành loại quần thể có một tháp trung tâm
Như vậy, qua sự phát triển của cấu trúc quần thể tháp, ta thấy quá trình du nhập Bàlamôn giáo từ Ấn Độ vào Chămpa đã đi qua ba bước:
- Ở Ấn Độ, Brahma được coi là chúa tể (vì vậy mà gọi là "Bàlamôn")
- Vào Chămpa (giai đoạn I), cả ba vị thần đều được coi trọng như nhau (tháp bộ ba)
- Sang giai đoạn II, người Chăm suy tôn Siva thành chúa tể (ngay cả những cụm tháp bộ ba còn giữ được thì tháp lớn và cao nhất cũng dành thờ Siva)
Trang 9Nguyên nhân của sự chuyển hướng này chính là do chất dương tính trong tính cách bản địa của văn hóa Chăm Như vậy, thực chất, người Chăm đã biến
Bàlamôn giáo thành Siva giáo.
Về hình dáng : do bắt nguồn từ một loại kiến trúc Bàlamôn giáo Ấn Độ biểu
tượng cho núi Mêru (một dãy núi thần thoại nơi trung tâm của vũ trụ, gồm nhiều đỉnh cao thấp khác nhau, các vị thần tuỳ theo đẳng cấp mà ngự trị ở các đỉnh khác nhau) gọi là sikhara, phần lớn tháp Chăm đều có dạng hình ngọn núi (“sikhara” có nghĩa là "đỉnh núi nhọn")
Trên các tầng tháp có thể có các tháp con ở góc ứng với các ngọn núi nhỏ Tuy kiến trúc hình núi có nguồn gốc từ truyền thuyết ấn Độ, nhưng với người dân Chăm, chúng lại là biểu tượng cho thiên nhiên miền Trung trùng điệp núi non và,
do vậy, phản ánh đúng chất dương tính trong tính cách bản địa của văn hóa Chăm (núi = dương) Chất dương tính này còn bộc lộ đặc biệt rõ ở những tháp mô phỏng hình sinh thực khí nam (biến thể của tháp hình núi) mà ta có thể thấy qua lát cắt bổ
đôi Bên cạnh tháp chính hình ngọn núi, còn có thể gặp những kiến trúc phụ có mái
cong hình thuyền - dấu hiệu đặc thù trong kiến trúc nhà cửa của cư dân Đông Nam
Á Đến đây, kiến trúc đền tháp Chăm mang đậm thêm ảnh hưởng của văn hóa khu
vực
Như vậy, từ chỗ khởi đầu vay mượn dạng sikhara Ấn Độ, tháp Chăm đã đi đến chỗ hòa quyện và phối kết trong mình khá nhiều sáng tạo mang dấu ấn ảnh hưởng của tính cách bản địa Chăm và văn hóa nông nghiệp khu vực Ta theo hình thức mà gọi các kiến trúc này là "tháp", nhưng người Chăm thì gọi chúng là kalăn,
có nghĩa là "lăng": Hầu hết chúng đều mang tính chất lăng mộ thờ vua Ngoài chức năng này, tháp Chăm còn là đền thờ thần bảo trợ của nhà vua Chính vì mang chức
năng lăng mộ và đền thờ nên nội thất tháp Chăm rất chật hẹp, nó chỉ có chỗ cho các pháp sư hành lễ chứ không phải là nơi cho các tín đồ hội tụ và cầu nguyện
b) Điêu khắc :
Trang 10Trong các đền tháp Chăm, vị thần được thờ phổ biến nhất là SIVA và vật thờ
phổ biến nhất là LINGA "Linga" có nghĩa là sinh thực khí nam Bởi lẽ cùng mang
bản chất DƯƠNG TÍNH, sinh thực khí nam và thần Siva được đồng nhất với nhau
Do vậy, thờ linga cũng tức là thờ thần Siva Điều này phù hợp với kết luận đã rút ra
ở trên về khuynh hướng suy tôn Siva làm vị thần chúa tể trong quá trình phát triển của tháp Chăm
Người Chăm thuộc khu vực nông nghiệp, nghĩa là, từ trước khi Bàlamôn giáo xâm nhập, đã phải có tục thờ sinh thực khí rồi
Cho dù xã hội Ấn Độ vốn theo phụ hệ thì xã hội Chăm từ xưa đến nay vẫn là mẫu hệ Những ảnh hưởng của Bàlamôn giáo Ấn Độ không thể thay thế được nếp tôn vinh người phụ nữ - người mẹ - trong truyền thống văn hóa ngàn đời của người Chăm và cư dân nông nghiệp Đông Nam Á Ngày nay, ta vẫn gặp khắp nơi những
Pô Ina Nưgar Humu Aram (Mẹ Xứ Rừng) ở Phan Rang, Pô lna Nưgar Humu Cavat
(Mẹ Xứ Chim) ở Bình Thuận, Pô Ina Nưgar Humu Chanok (Mẹ Xứ Chài) ở Bà
Rịa, Pô lna Nưgar Yathan (Mẹ Xứ Lau) ở Nha Trang, Thiên Yana Thánh Mẫu (Mẹ Trời) hay là Bà Chúa Ngọc ở điện Hòn Chén (Huế), Bà chúa Xứ ở núi Sam (Châu Đốc, An Giang), v.v và v.v
c) Sức mạnh bản địa hóa :
Như vậy, trong ba nguồn gốc của văn hóa Chăm, nguồn ảnh hưởng Ấn Độ
có vẻ nổi bật nhất, nhưng thực chất thì nguồn bản địa và khu vực mới giữ vai trò quan trọng Thực tế, có lẽ phần lớn người Chăm bình dân không hề biết đến các triết lí Bàlamôn giáo cùng các vị thần Các truyền thuyết Ấn Độ xa lạ Đó là việc của các tu sĩ Bàlamôn Tu sĩ Bàlamôn thì chỉ đạo xây đền, tạc tượng theo những khuôn mẫu Ấn Độ, còn người nghệ sĩ dân gian thì xây và tạc theo cảm hứng và những khuôn mẫu truyền thống của nhân dân mình
Từ chỗ cả ba vị thần Bàlamôn đều được dựng tháp thờ khi đạo này mới du nhập, dần dần chỉ có một mình Siva được đề cao bởi lẽ tính cách Siva phù hợp hơn