1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016

78 637 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 9,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC TIÊU CỦA MÔ ĐUN - Nêu được đặc điểm, yêu cầu cơ bản của sản phẩm mộc; - Trình bày được nguyên lý tạo dáng sản phẩm mộc; - Phân tích, đánh giá được đặc điểm thẩm mỹ, các yếu tố tạo hì

Trang 1

MÔ ĐUN 21 THIẾT KẾ TẠO DÁNG SẢN PHẨM MỘC

tháng 3 năm 2016

Trang 2

CHƯƠNG TRÌNH MÔ ĐUN ĐÀO TẠO:

THIẾT KẾ TẠO DÁNG SẢN PHẨM MỘC

Mã số của mô đun: MĐ21

Thời gian mô đun: 40 giờ; (Lý thuyết: 20 giờ; Thực hành: 20 giờ)

I VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA MÔ ĐUN

- Vị trí mô đun: sau khi kết thúc mô đun gia công bàn làm việc

- Tính chất của mô đun: Là mô đun chuyên môn nghề

II MỤC TIÊU CỦA MÔ ĐUN

- Nêu được đặc điểm, yêu cầu cơ bản của sản phẩm mộc;

- Trình bày được nguyên lý tạo dáng sản phẩm mộc;

- Phân tích, đánh giá được đặc điểm thẩm mỹ, các yếu tố tạo hình sản phẩmmộc, trợ giúp cho quá trình thiết kế, tính toán lựa chọn các phương thức kết cấucho sản phẩm;

- Vẽ được hình chiếu phối cảnh sản phẩm theo mẫu đảm bảo đúng tỷ lệkích thước, hình dạng và bố cục;

- Cận thận, có ý thức trách nhiệm trong công việc

III NỘI DUNG MÔ ĐUN

1 Nội dung và phân bổ thời gian

1 Đặc tính và yêu cầu cơ bản của phẩm mộc 2 2

2 Mối quan hệ giữa đồ mộc với con người 2 2

3 Nguyên liệu và các phương thức liên kết

Trang 3

BÀI 1: ĐẶC TÍNH VÀ YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA SẢN PHẨM MỘC

Thời gian 02 giờ (LT: 02 giờ; TH: 00 giờ; KT: 00 giờ)

I Mục tiêu

- Nêu được yêu cầu của sản phẩm mộc

- Xác định được các yêu cầu cho thiết kế một sản phẩm mộc

- Cận thận, có ý thức trách nhiệm trong công việc

II Nội dung

1 Tính đa dạng của sản phẩm mộc

Nói đến tính đa dạng của sản phẩm mộc, trước tiên chúng ta phải khẳngđịnh sản phẩm mộc vô cùng đa dạng và phong phú Tính đa dạng của sảnphẩm mộc thể hiện qua nhiều khía cạnh, từ kiểu dáng, màu sắc, chất liệu,dạng liên kết, kết cấu cho tới hồn văn hoá chứa đựng bên trong từng sảnphẩm đều muôn hình, muôn vẻ

Ta có thể nhận thấy sự đa dạng ấy ngay khi nhận xét các khái niệm

về sản phẩm mộc Thực tế, cho tới nay, chưa có một định nghĩa nào cụ thể vàđầy đủ về sản phẩm mộc Theo truyền thuyết cổ của người Phương Đông,

có lẽ chữ "Mộc" trong khái niệm sản phẩm mộc được lấy trên quan điểmNgũ hành: Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ, năm loại vật liệu chính cấu thành trờiđất Nhưng ngày nay, với sự phát triển của nền văn minh hiện đại thì đồ mộcđâu còn nhất thiết là sản phẩm làm từ "Mộc" Ví dụ như các loại bàn ghếđược thay thế toàn bộ bằng vật liệu Inox và kính hoặc nhôm, sắt uốn Song, ởmột khía cạnh nào đó nó lại đúng, rất đúng Ví dụ, một bức tượng bằngđồng hoặc thạch cao thì không thể gọi là sản phẩm mộc, nhưng nếu nó được tạcbằng gỗ thì lại có thể gọi là sản phẩm mộc (đồ mộc mỹ nghệ)

Tóm lại, sản phẩm mộc chỉ là một cách gọi Tuy chúng ta chưa cóđược một định nghĩa cụ thể và đầy đủ về sản phẩm mộc, song chúng ta vẫn cóthể nhận được ra nó một cách khái quát như sau:

- Các sản phẩm được làm từ gỗ được gọi chung là sản phẩm mộc Cácsản phẩm mộc có nhiều loại, có nguyên lý kết cấu đa dạng và được sửdụng vào nhiều mục đích khác nhau Trong đời sống hàng ngày, chúng tatìm thấy những sản phẩm mộc thông dụng như: bàn, ghế, giường, tủ trongxây dựng nhà cửa, chúng ta cũng thường phải sử dụng các loại cửa sổ và cửa

ra vào bằng gỗ

Ngoài ra các sản phẩm mộc còn có thể là các công cụ, chi tiết máy haycác mặt hàng mỹ nghệ, trang trí nội ngoại thất Ngoài gỗ ra, các vật liệu khácnhư mây, tre, chất dẻo tổng hợp, kim loại cũng có thể được dùng thay thế

gỗ trong sản xuất đồ mộc Các loại vật liệu này có thể thay thế một phần hoặc

Trang 4

thay thế toàn bộ gỗ trong sản xuất hàng mộc Cũng chính từ sự đa dạng của sảnphẩm mộc, các cách thức phân loại sản phẩm mộc kéo theo cũng hết sứcphong phú

Để phân loại sản phẩm mộc, ta cần căn cứ vào những quan điểm khácnhau cho phù hợp với các yêu cầu về nghiên cứu, phát triển cũng như tổ chứcsản xuất của xã hội Phù hợp với điều kiện lịch sử, xã hội hiện nay, ta có thểđứng trên một số quan điểm sau để phân loại sản phẩm mộc:

- Phân loại theo ngành sản xuất

- Phân loại theo sử dụng

- Phân loại theo cấu tạo của sản phẩm

Phân loại theo ngành sản xuất, do đặc thù của nguyên liệu, có thể phân

ra thành sản phẩm mộc ván nhân tạo, mộc gỗ tự nhiên, sản phẩm mộc song mâytre đan

Phân loại theo sử dụng, sản phẩm mộc có thể phân ra: mộc gia đình mộc công cộng; mộc gia dụng - mộc xây dựng

-Theo chức năng của sản phẩm thì có: sản phẩm dạng tủ (cất đựng), sảnphẩm phục vụ chức năng ngồi (ghế), nằm (giường), sản phẩm có mặt (bàn), sảnphẩm có chức năng kết hợp

Phân loại theo cấu tạo: sản phẩm có cấu tạo dạng tủ, sản phẩm cócấu tạo dạng giá đỡ, sản phẩm có cấu tạo dạng rương (hòm) Hay dựatrên những đặc điểm nổi bật về cấu tạo, sản phẩm mộc có thể phân ra: sảnphẩm có cấu tạo dạng tấm phẳng, sản phẩm có kết cấu dạng khung, sảnphẩm có cấu tạo dạng cột, sản phẩm có cấu tạo dạng hồi liền, sản phẩm có kếtcấu dạng giá đỡ, sản phẩm có kết cấu đặc biệt khác

Ngoài các cách phân loại trên, hiện nay còn có một cách phân loạicũng khá phổ biến, đó là phân loại theo chất lượng hoàn thiện và tính thươngmại của sản phẩm: mộc cao cấp - mộc bình dân

Trang 6

Hình 1.1: Tính đa dạng của sản phẩm mộc

2 Những yêu cầu chung của sản phẩm mộc

Mọi sản phẩm nói chung đều cần phải đáp ứng được những yêu cầu sau:

- Chức năng

- Thẩm mỹ

- Kinh tế

* Phù hợp điều kiện công nghệ kỹ thuật

2.1 Yêu cầu chức năng

Mỗi sản phẩm đều có những chức năng sử dụng nhất định được thiếtlập theo ý đồ của người thiết kế, chức năng đó có thể chỉ là trang trí Yêu cầuđầu tiên đối với một sản phẩm mộc là phải thoả mãn các chức năng đó

Khi xem xét, phân tích sản phẩm mộc, ta cần phải quan tâm đầy đủ đếncác chức năng của mỗi một sản phẩm vì nó không chỉ có một chức năng cố định

mà còn có thể có những chức năng phụ khác do phát sinh khi sử dụng VD: Sảnphẩm ghế, trước tiên phải đáp ứng được chức năng chính của nó là ngồi Ngoài

ra nó còn có thể được ngồi ở nhiều tư thế khác nhau, hay có thể được làm vật kê

để đứng lên làm việc gì đó Nếu khi thiết kế, điều này không được quantâm đúng mức thì chắc chắn thiết kế sẽ không đạt yêu cầu mong muốn

Trang 7

2.2 Yêu cầu thẩm mỹ

Trong lĩnh vực thiết kế, sản phẩm mộc không chỉ cần đáp ứng yêucầu về chức năng sử dụng mà nó cần phải đáp ứng yêu cầu về thẩm mỹ Nếukhông có yêu cầu về thẩm mỹ, công việc thiết kế sản phẩm mộc dường như trởthành vô nghĩa Thẩm mỹ của mỗi sản phẩm có thể nói là phần hồn của mỗi sảnphẩm

Một chiếc ghế để ngồi, bình thường thì nó không nói nên điều gìnhưng khi nó được thiết kế tạo dáng theo một ý đồ thẩm mỹ, nó lại tạo ra mộtcảm giác thoải mái hơn cho người ngồi cũng như những người khác xung quanhkhi nhìn vào nó

Thẩm mỹ là một phần của chất lượng sản phẩm kết tinh nên giá trị sảnphẩm

2.3 Yêu cầu về kinh tế

Không chỉ riêng đối với sản phẩm mộc, một trong những yêu cầukhá quan trọng nói chung đối với một sản phẩm đó là yêu cầu về kinh tế

Tác động của kinh tế là bành trướng, rộng khắp, sản phẩm mộc khôngthể là ngoại lệ Yêu cầu đối với mỗi sản phẩm có thể hướng theo mục tiêu:

"Đáp ứng chức năng tốt nhất, có thẩm mỹ đẹp nhất nhưng phải có giá thànhthấp nhất" Để làm được điều đó, trong mỗi sản phẩm ta cần có kế hoạch sửdụng nguyên vật liệu hợp lý, thuận tiện cho gia công chế tạo, giá thànhsản phẩm hạ

Tạo ra các sản phẩm tốt, có cấu tạo chắc chắn, bền lâu cũng có ý nghĩakinh tế lớn đối với người sử dụng cũng như đối với xã hội

- Tính hợp lý của việc sử dụng nguyên vật liệu

- Khả năng thực hiện gia công chế tạo sản phẩm ở mức nào

Sản phẩm mộc phải dựa trên những chỉ tiêu chính này để đánh giá nó là tốt haychưa tốt

Trang 8

BÀI 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỒ MỘC VỚI CON NGƯỜI

Thời gian 02 giờ (LT: 02 giờ; TH: 00 giờ; KT: 00 giờ)

I Mục tiêu

- Phân tích được các mối quan hệ giữa đồ mộc với con người, sự sắp đặt

đồ mộc với các hoạt động của con người

- Tìm ra mối quan hệ giữa các yếu tố trong thiết kế để từ đó có các tư duylogic trong quá trình thiết kế

- Cận thận, có ý thức trách nhiệm trong công việc

II Nội dung

1 Quan hệ giữa đồ mộc với con người

Con người là nguồn gốc của mọi thiết kế Thiết kế sản phẩm mộcthực chất là giải quyết mối quan hệ giữa con người với đối tượng thiết

kế Mối quan hệ ấy càng được nghiên cứu sâu sắc thì khả năng đáp ứng của

đồ mộc đối với nhu cầu sử dụng của con người càng hiệu quả

1.1 Mối quan hệ trực tiếp

Kích thước của mỗi sản phẩm được tạo ra đều dựa trên cơ sở kíchthước của con người, có nghĩa là sản phẩm và con người có một mối quan hệnhất định Trong thiết kế, kích thước của sản phẩm chịu sự chi phối bởikích thước và trạng thái tư thế hoạt động của con người

Những mối quan hệ gắn liền với các hoạt động ổn định trong thời giantương đối dài như: ngồi, nằm, tì mặt, tựa được gọi là những mối quan hệ trựctiếp Trong mối quan hệ trực tiếp, các kích thước của sản phẩm thường có ràngbuộc tương đối chặt chẽ với kích thước con người hơn rất nhiều so vớimối quan hệ gián tiếp Ví dụ: Kích thước chiều cao của mặt ngồi luôn gắn liềnvới kích thước từ đầu gối tới gót chân và tư thế ngồi của con người

1.2 Mối quan hệ gián tiếp

Mối quan hệ gián tiếp là mối quan hệ không phải trực tiếp Trongmối quan hệ gián tiếp, kích thước của các sản phẩm ít chịu ràng buộc hơn bởicác kích thước của con người, tất nhiên nó vẫn chịu sự chi phối nhất định

Ví dụ: Chiều rộng tủ rộng hay hẹp một chút cũng không ảnh hưởngđến trạng thái ổn định của con người

Mục đích của việc phân loại các mối quan hệ là để chúng ta có thể phântích yêu cầu sản phẩm trong thiết kế Sau khi phân tích, chúng ta sẽ thiết lậpđược hệ thống ưu tiên các yêu cầu đặt ra cho sản phẩm

Trang 9

Hình 2.1: Mối quan hệ giữa kích thước của con người với sản phẩm mộc

2 Quan hệ giữa hoạt động của con người với bố trí đồ mộc

Bố trí đồ mộc ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động của con người

2.1 Tác dụng của đồ mộc

Khi thiết kế, chúng ta đều cần phân tích tác dụng của đồ mộc đối vớicon người Bởi tác dụng của chúng sẽ quyết định việc sắp đặt phù hợp vớicác hoạt động của con người

Ví dụ: Ghế để ngồi Chúng ta cần quan tâm tơí các vấn đề như: lối đi đểvào chỗ ngồi, tư thế ngồi, hướng nhìn khi ngồi (theo mục đích của việc ngồi),không gian quanh vị trí ngồi

Mỗi một sản phẩm được tạo ra đều có một chức năng nhất định theo mụcđích của người thiết kế Khi phân tích chức năng của sản phẩm cần chú ýtới mọi chức năng chính, chức năng phụ và cả những chức năng có thể phát

Trang 10

sinh trong quá trình sử dụng Ví dụ: Bàn làm việc, khi phân tích chịulực, ta không nên chỉ tính tới lực tỳ tác dụng lên mặt bàn khi viết mà cầnchú ý tới những tác động phát sinh như: vận chuyển, kê đặt, có những lúc nó cóthể bị ngồi tựa lên; Hay ghế ngồi có đôi khi được sử dụng để kê hoặc đứng lênmặt ngồi Tất cả những vấn đề này đều phải được quan tâm một cách thấu đáo

Trong phần này, chúng ta quan tâm chủ yếu đến các kích thước cần thiết

để đáp ứng công năng của sản phẩm, còn các nguyên tắc về thẩm mỹ và truyềnthống văn hoá sẽ được trình bày ở phần sau (Phần trang trí nội thất)

Trang 11

BÀI 3: NGUYÊN LIỆU VÀ CAC PHƯƠNG THỨC

- Lựa chọn và sử dụng nguyên liệu theo đúng mục đích sử dụng

- Cận thận, có ý thức trách nhiệm trong công việc

II Nội dung

1 Gỗ xẻ

Gỗ tự nhiên là nguyên liệu lý tưởng cho sản xuất hàng mộc Gỗ lànguyên liệu cơ bản trong công nghệ sản xuất đồ mộc Với tình trạng gỗ tựnhiên ngày một khan hiếm như hiện nay, sự mất cân bằng giữa cung và cầu vềloại nguyên liệu này đã bội hoá giá trị sử dụng của mặt hàng gỗ tự nhiên

Tuy nhiên giá trị của nó chỉ thực sự phát huy khi nó được sử dụng đúngchỗ, hợp cách Khi sử dụng gỗ tự nhiên cần chú ý tới một số đặc trưng cơbản sau:

Trang 12

- Sức chịu nén ép của gỗ (có thể là nén dọc hoặc ngang thớ)cầnđược lưu ý khi chọn ép kém sẽ làm cho mộng dễ bị chèn dập, liên kết yếu,

- Modul đàn hồi ảnh hưởng trực tiếp tới độ võng của chi tiết gỗ Trongthiết kế cần tính toán lựa chọn loại gỗ có modul đàn hồi phù hợp, đảm bảotính thẩm mỹ của sản phẩm

- Độ cứng của gỗ cần được lựa chọn để đảm bảo sức chống chịu va đập,

cọ sát của sản phẩm với các vật xung quanh khi sử dụng cũng như trong quátrình sản xuất, song nó cũng phải phù hợp với điều kiện gia công

- Sức chịu tách của gỗ là tính chất cần được tìm hiểu kỹ, trước khi giacông bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng các mối liên kết mộng và liên kếtbằng đinh

1.2 Đặc tính chống chịu sâu mọt của gỗ

Khả năng chống chịu sâu mọt của gỗ là một trong những tác nhân quyếtđịnh chất lượng sản phẩm Ngày nay, tuy có nhiều phương pháp bảo quản gỗtương đối hữu hiệu song những loại gỗ có sức chống chịu tự nhiên đối với mốimọt vẫn được ưa chuộng bởi một số phương pháp bảo quản gỗ đặc biệt là bảoquản bằng hoá chất vẫn ít nhiều ảnh hưởng tới tâm lý người sử dụng

Tóm lại, khi sử dụng gỗ có khả năng bị sâu mọt xâm hại, ta cần phải cóphương án xử lý bảo quản phù hợp

1.3 Màu sắc và Vân thớ gỗ

Màu sắc và vân thớ gỗ là yếu tố quyết định giá trị thẩm mỹ của sảnphẩm, bởi vậy, khi lựa chọn gỗ cần tìm hiểu kỹ vấn đề này Cần lưu ý rằng tínhthẩm mỹ của sản phẩm còn thể hiện qua sự đồng đều về màu sắc và vân thớ gỗcủa các chi tiết trong sản phẩm chứ không nhất thiết là phải đẹp trong từng chitiết Vân thớ gỗ ngoài việc tác động trực tiếp tới tính thẩm mỹ của gỗ, nó cònảnh hưởng rất lớn tới sự biến dạng gỗ trong quá trình sử dụng

Về màu sắc, gỗ có thể được nhuộm màu theo ý muốn, song cần lưu ýlựa chọn phương thức nhuộm sao cho không làm mất đi vẻ đẹp vốn có của cácvân thớ gỗ

Trang 13

Trong từng điều kiện thiết kế, từng mục đích sử dụng cụ thể mà ta cóthể lựa chọn loại gỗ có chất lượng màu sắc, vân thớ cho phù hợp

1.4 Độ mịn của bề mặt gỗ

Do cấu tạo thô đại của mỗi loại gỗ khác nhau kéo theo độ mịn bề mặt củachúng cũng khác nhau Nhìn chung gỗ có độ mịn bề mặt càng cao, càng dễ chonhững sản phẩm đẹp bởi có thể tạo ra độ bóng theo ý muốn mà không cần thiếttới lớp bả lót

1.5 Tính chất co rút của gỗ

Gỗ có tính chất co rút khi thay đổi độ ẩm là một nhược điểm lớn của loạinguyên liệu này Tính chất co rút phụ thuộc vào cấu tạo của từng loại gỗ Sự corút của các chi tiết trong sản phẩm mộc có thể gây ra nhiều khuyết tật

cho sản phẩm như: cong vênh, nứt nẻ,

Nhìn chung, sự co rút dọc thớ của gỗ là không đáng kể, nó chỉ vào khoảng0,1% đến 0,3% Theo hướng xuyên tâm, mức độ co rút vào khoảng 3% đến 6%.Còn theo hướng tiếp tuyến, mức độ co rút lớn hơn, mức độ co rút từ

5% đến 12%

Do vậy khi thiết kế cần quan tâm tới lượng dư kích thước co rút cho phôiliệu cũng như chi tiết hoàn thiện Bản chất của sự co rút là sự thay đổi độ ẩm gỗbởi vậy cần hết sức lưu ý tới độ ẩm gỗ cũng như độ ẩm của môi trường sử dụng

1.6 Tỷ trọng của gỗ

Tỷ trọng của gỗ là một chỉ tiêu mang tính tổng hợp, nhiều chỉ tiêu khác cóliên quan mật thiết với chỉ tiêu này, đặc biệt là các chỉ tiêu về tính chất cơ họccủa gỗ

Đối với việc sản xuất hàng mộc dân dụng, tỷ trọng của gỗ không nên quálớn bởi gỗ có tỷ trọng lớn vừa khó gia công, vừa nặng nề trong sử dụng Tấtnhiên, xét về độ bền thì thông thường, gỗ có tỷ trọng lớn sẽ có độ bề caohơn

Tỷ trọng hợp lý của gỗ sử dụng trong sản xuất hàng mộc thường là 0,4 đến 0,5g/cm3

1.7 Tính chất gia công của gỗ

Tính chất gia công của gỗ thường chỉ gỗ khó hay dễ gia công Tính chấtgia công của gỗ thường gắn liền với nhiều tính chất cơ lý và cấu tạo của gỗ Gỗ

để sản xuất hàng mộc cần phải dễ gia công đặc biệt là phải phù hợp với chế độgia công trong một số trường hợp như chạm khắc hay tiện tròn Cần phân biệt

gỗ dễ bào với gỗ khó bào, gỗ dễ đánh nhẵn với gỗ khó đánh nhẵn, gỗ dễ đóngđinh với gỗ khó đóng đinh

Trang 14

Tóm lại gỗ khó gia công ảnh hưởng rất lớn đến quá trình công nghệ vàchất lượng sản phẩm, cần hết sức lưu ý khi lựa chọn gỗ và phương pháp giacông

2 Ván nhân tạo

Để nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ cũng như nhằm khắc phục các nhượcđiểm của gỗ tự nhiên, từ gỗ có thể sản xuất ra các loại gỗ nhân tạo như vándăm, ván dán, ván sợi hay ván mộc

2.1 Ván dăm

Như chúng ta đã biết, ván dăm có tính chất ổn định kích thước cao hơnhẳn so với gỗ tự nhiên, bởi vậy, ván dăm được sử dụng rất phổ biến trong côngnghệ sản xuất đồ mộc, nhất là các loại đồ mộc lắp ghép tấm phẳng

Thông thường, trên bề mặt ván dăm đượng bọc phủ một lớp ván vừa là

để trang trí, vừa là để bảo vệ ván Hiện nay ở một số làng nghề đã trang trí bềmặt ván dăm bằng chạm khảm như làm trên gỗ và kết quả cho thấy chất

lượng cũng không thua kém sản phẩm chạm khảm trên gỗ

Một số cơ sở sản xuất thì phủ lên bề mặt một lớp bả matit rồi kéo vântrang trí và phun sơn cũng cho những sản phẩm có chất lượng thẩm mỹ khá

Khi lựa chọn ván dăm làm nguyên liệu trong sản xuất hàng mộc cần quantâm tới các tính chất cơ - lý - hoá, tính độc hại và một số tính chất có yêu cầuđặc biệt khác

Trang 15

2.2 Ván dán

Ván dán thường được sử dụng thay thế cho ván gỗ tự nhiên ở nhiều vị trínhư mặt bàn, mặt ghế hay các hồi tủ, vách tủ ván dán có thể uốn cong hayđược gia công theo phương pháp ép định hình Ván dán trước đây thường được sử dụng với chiều dày từ 4 đến 6mm, và kết cấu từ 3 đến 5 lớp Ngàynay, các loại ván dán có chiều dày từ 10mm trở lên đã được sử dụng tươngđối nhiều, ứng dụng như ván dăm

Ván dán thông thường được trang sức bằng một lớp ván lạng tự nhiênhoặc ván lạng tổng hợp có chất lượng bề mặt tương đối đẹp, các cạnh thườngđược xử lý bằng các nẹp gỗ hoặc phẳng, hoặc có hình chữ T, có mòihoặc không mòi cạnh

Các khuyết tật thường gặp khi sử dụng ván dán trong sản xuất hàng mộc

là phồng rộp bề mặt hoặc bong mép ván bởi vậy khi lựa chọn các phương

án liên kết cần hết sức lưu ý tới phần mép cạnh của ván

Trong công nghệ sản xuất hàng mộc hiện nay, chúng ta thường thấy vándán được sử dụng trong các kết cấu tấm pano Nếu được xử lý trang trí bề mặttốt, chất lượng thẩm mỹ của chúng không thua kém sản phẩm được làm bằng

gỗ tự nhiên, hơn nữa nó lại hơn hẳng gỗ tự nhiên bởi tính ổn định kết cấu của

Hiện nay, ở một số nước đã xuất hiện một loại ván dán đặc biệt, chúngđược kết cấu bởi các tấm ván mỏng xếp song song (ván dán xếp vuônggóc) đó là ván LVL Loại vật liệu này đã và đang được nghiên cứu đưa vàosản xuất tại Việt Nam Loại vật liệu này có thể thay thế các loại gỗ tựnhiên ở các vị trí có kết cấu khung, hộp rất tốt bởi chúng có thể khắc phục rấttốt các yếu điểm của gỗ tự nhiên Ván LVL có chiều dày lớn hơn nhiều sovới ván dán thông thường và nó có thể được xẻ thành các thanh, có thể làmkhung cửa, chân bàn

2.3 Ván sợi

Ván sợi có nhiều loại, theo phương pháp có ván sợi ướt, ván sợi khô;theo hình thức sản phẩm có ván sợi định hình và ván sợi không định hình; theotính chất có ván sợi chịu nước, ván sợi cách âm, cách nhiệt

Ván sợi thông thường có cường độ uốn tĩnh khoảng 2000 đến 4000N/cm2 KLTT loại ép cứng là trên 800 kg/m3, loại ép vừa từ 500 đến 700 kg/m3,loại nhẹ (xốp) có thể dưới 400 kg/m3

Ván sợi được chú ý chủ yếu là nhờ những tính năng đặc biệt như cách âm,cách nhiệt của nó

Trang 16

2.4 Ván mộc, ván ghép thanh

Ván mộc là loại ván được sản xuất để làm đồ mộc có cấu tạo cơ bản là lõiđược ghép bằng gỗ xẻ hay tấm tổ ong cho một khung xác định và lớp áo đượcdán bọc bằng các lớp ván mỏng (ván dán, ván bóc hoặc ván lạng)

Ván mộc thường được sản xuất từ các tấm định hình tạo thành các bộphận của sản phẩm mộc Ví dụ như mặt bàn, đầu giường, vách, hồi tủ, cánhcửa Hiện nay, trong sản xuất cũng có những loại ván mộc không có khung

Ván ghép thanh là loại ván được ghép từ các thanh gỗ xẻ nhỏ gọi là thanh

cơ sở để tạo ra một tấm ván có độ rộng lớn hơn rất nhiều so với kích thước củathanh cơ sở Loại ván này có thể được phủ mặt hoặc không phủ mặt tuỳ theo yêucầu sản phẩm cụ thể Người ta có thể trang sức ván ghép thanh bằng một màngtrang sức trong suốt nếu các thanh cơ sở đã được tuyển chọn có chất lượng tốt,tương đối đồng đều

3 Vật liệu dán mặt

Đối với các loại ván nhân tạo, thường thì bề mặt có chất lượng thẩm mỹthấp nên nó thường được phủ bọc bằng một lớp ván phủ mặt có thể là ván mỏng,ván lạng tự nhiên, ván lạng tổng hợp hay giấy trang trí Việc dán phủ bề mặt vánkhông chỉ là để giải quyết yếu điểm thẩm mỹ của ván nhân tạo mà còn có ýnghĩa như một lớp bảo vệ (đôi khi nó cũng làm tăng cường độ ván một cáchđáng kể) Bởi vậy khi lựa chọn cần chú ý tới tính bảo vệ của ván phủ mặt phùhợp với từng điều kiện sử dụng cụ thể

3.1 Ván lạng

Ván lạng là một loại ván có chiều dày rất nhỏ, thường từ 0,3 đến 0,7mm

và còn có thể mỏng hơn như thế Loại ván này thường được lạng từ những loại

gỗ quý, có vân thớ đẹp, dễ gia công

Về cơ bản, tính chất của ván lạng gỗ cũng giống như tính chất của loại gỗlàm ra nó Song cần lưu ý là ván rất mỏng nên dễ bị rách nát và bị hút ẩm trởlại Kích thước ván thường không được lớn nên cần lợi dụng một cách

triệt để nhất

Khi sử dụng ván lạng để trang trí cho các loại ván nhân tạo cần lưu

ý tới chất lượng bề mặt ván nền và keo dán bởi ván lạng có chiều dày rất mỏngnên chất lượng bề mặt ván nền xấu hay tính toán keo không tốt sẽ làm giảm chấtlượng trang trí

3.2 Giấy trang trí

Giấy trang trí là sản phẩm nhân tạo nên kích thước của nó có thể lớnhơn rất nhiều so với ván lạng (có thể tới 10 m2); chiều rộng thường từ 1,2 đến1,5m; chiều dài từ 1,5 đến 2m

Trang 17

Chính vì đây là một loại sản phẩm nhân tạo, bởi vậy mà các hoa văn hoạtiết và màu sắc trên nó được tạo ra rất đa dạng, phong phú Các hoạ tiết có thểchính là các vân thớ giống như gỗ tự nhiên, có thể hoạ tiết là một motuyptrangtrí nào đó hay là cả một bức tranh phong cảnh Và đặc biệt độ nhẵn, bóng bềmặt của nó có thể rất cao, điều mà gỗ tự nhiên khó có thể đạt được bởi cấu tạosợi gỗ, lỗ mạch của gỗ

Giấy trang trí có thể tạo được bề mặt có độ rắn chắc rất cao, sự va chạm

cơ giới thường không để lại dấu vết trên bề mặt ván Nhiệt độ mà giấytrang trí có thể chịu được cũng tương đối cao, tính chống ẩm và chốnghút nước tốt, chịu được các loại hoá chất có tính Bazơ hay Axít yếu

Trong xử lý dán cạnh ván, ngoài việc quan tâm tới chất lượng chungcủa chất liệu và chất lượng của mối liên kết, cần đặc biệt lưu ý tới phầnchuyển tiếp giữa bề mặt ván với mặt cạnh Đây là vị trí dễ gây hư hỏng nhất,khi thiết kế cần có những giải pháp phù hợp

Đối với những chi tiết có đường cong lượn cần lựa chọn loại vật liệudán cạnh có độ dẻo dai phù hợp

3.4 Linh kiện liên kết

Các loại linh kiện liên kết có thể kể tới là các loại đinh, vít, bản lềhay các loại ke kim loại liên kết trợ lực, ngăn kéo

3.4.1 Đinh : đinh 7, đinh 10 phân

Theo hình dạng thì đi có mũ, đinh không mũ, đinh hình sao, đinhtròn, đinh tam Có nhiều loại đinh khác nhau, nó có thể được phân theo kíchthước của đinh, hình dạng của đinh, chất liệu làm đinh hay phương pháp

sử dụng đinh

Theo kích thước, có đinh 1 phân, đinh phân rưỡi, đinh 2 phân, đinh

3, đinh 5, đinh tam giác, đinh vuông

Theo vật liệu có đinh sắt, đinh đồng, đinh nhôm

Trang 18

Theo phương pháp sử dụng có đinh đóng thường, đinh ghim, đinhbắn

3.4.2 Vít

Về công dụng thì cũng giống như đinh, song để tăng khả năng bám đinh,vít có các vòng gen xoắn ốc Liên kết bằng vít có thể tháo lắp một cách dễdàng mà lại có khả năng bám đinh vượt trội so với liên kết bằng đinh

Liên kết bằng vít thường được sử dụng trong những trường hợp hai chitiết liên kết có ứng suất tách, kéo vuông góc bề mặt Ví dụ đối với các cánh cửa

có kích thước lớn, liên kết giữa bản lề với khung và cánh cần được sử dụngbằng vít (lưu ý khi thi công cần yêu cầu vặn vít chứ không đóng vít để đảm bảochất lượng liên kết)

Vít cũng có nhiều loại khác nhau, song chúng được phân biệt chủ yếu bởiđầu mũ của nó Có loại đầu mũ lục lăng, đầu mũ tròn vát, đầu mũ lồi, đầu mũphẳng, khoá mở một rãnh (sử dụng torvit dẹt - 2 cạnh), khoá mở 2 rãnh (sử dụngtorvit 4 cạnh)

3.4.3 Liên kết bulon, vít cấy

Loại liên kết này hoàn toàn có thể tháo lắp dễ dàng, chủ yếu được sử dụng

để liên kết các modul thành một sản phẩm có kích thước lớn

Khác với vít, các gen của bulon không bám trực tiếp vào chi tiết mộc cầnliên kết mà nó bám vào gen của đai ốc Điều này tránh được sự phá huỷ liênkết khi tháo lắp nhiều lần

3.4.2 Liên kết bản lề

Tất cả các loại linh kiện liên kết trên đều là những loại linh kiện liênkết dùng cho liên kết cứng (cố định), liên kết bản lề là loại liên kết động(xoay)

Hiện nay có rất nhiều kiểu xoay khác nhau kéo theo là nhiều loại bản lềkhác nhau Bản lề quay với trục cố định (1 điểm cố định), trục quay di động(2 điểm cố định) Loại trục quay cố định có thể kể đến như: Bản lề quả nhót,bản lề lá, bản lề goong, bản lề Pi vô, Bản lề có trục quay di động là loại bản

lề khi quay, vị trí tâm quay thay đổi (do có 2 điểm cố định) tạo ra một sức căngđịnh hướng, trong sản xuất còn gọi loại bản lề này là bản lề bật

Trang 19

Hình 3.1: Các loại bản lề dung trong thiết kế sản phẩm mộc

Trang 20

4 Các vật liệu khác

Trong thiết kế và sản xuất hàng mộc, thực tế còn rất nhiều những loạivật liệu khác mà chúng ta có thể sử dụng Ví dụ: đá xẻ, gương kính, vải,

da, sợi

5 Các phương thức liên kết cơ bản của sản phẩm mộc

5.1 Phân tích cấu trúc cơ bản của một sản phẩm mộc

Sản phẩm mộc có cấu tạo rất đa dạng và phong phú, song phân tích cấutrúc của chúng, ta thấy sản phẩm mộc được cấu tạo bởi các chi tiết và bộ phậngiống như các loại sản phẩm khác Các chi tiết có thể liên kết với nhau tạothành bộ phận Các bộ phận và các chi tiết liên kết với nhau tạo thành sảnphẩm Mức độ phức tạp về kết cấu của một sản phẩm tuỳ thuộc vào số lượng,cách thức và giải pháp của các liên kết

Như vậy, chi tiết có thể được phân thành nhiều loại khác nhau:

- Theo hình dạng, các chi tiết có thể phân ra: chi tiết thẳng, chi tiết cong,chi tiết song tròn, chi tiết tiện tròn

- Theo chức năng, chi tiết có thể phân thành: chi tiết cấu trúc, chi tiết liênkết và chi tiết trang trí

b) Bộ phận

Bộ phận gồm nhiều chi tiết liên kết với nhau (theo kiểu cố định hay

có thể tháo rời) tạo thành một phần cấu tạo có chức năng xác định trong kết cấucủa sản phẩm

Ví dụ: Cánh tủ là một bộ phận bao gồm cả khoá và bản lề

Các bộ phận đều có chức năng riêng xác định, được đảm bảo bằngnhững giải pháp cấu rạo thích hợp Việc phân chia bộ phận có ý nghĩa vềphương diện tổ chức lắp ráp sản phẩm Các chi tiết và bộ phận có thể đượctiêu chuẩn hoá về hình dạng và kích thước Về mặt cấu trúc, một bộ

phận có thể thay thế bằng một chi tiết

5.2 Liên kết cơ bản của sản phẩm mộc

Trong sản phẩm mộc có nhiều loại liên kết, các dạng liên kết này cóthể phân thành các nhóm như sau:

Trang 21

Cũng có thể phân loại liên kết theo liên kết cứng và liên kết động (liênkết bản lề là liên kết động - có thể xoay được)

Nhìn chung, sự phân loại các liên kết chỉ mang tính tương đối, điều cốtyếu của sự phân loại ở đây là phải phù hợp với mục đích sử dụng của việc phânloại

Sau đây, chúng ta sẽ đề cập đến một số giải pháp liên kết cơ bảnsau:

a) Liên kết mộng

Hình 3.2: Liên kết mộng thẳng

Mộng là một hình thức cấu tạo có hình dạng xác định được gia côngtạo thành ở đầu cuối của chi tiết theo hướng dọc thớ, nhằm mục đích liênkết với lỗ được gia công trên chi tiết khác của kết cấu Cấu tạo của mộng có nhiều dạng, song cơ bản là vẫn bao gồm thân mộng và vai mộng

Thân mộng để cắm chắc vào lỗ Vai mộng để giới hạn mức độ cắm sâucủa mộng, đồng thời cũng có tác dụng chống chèn dập mộng và đỡ tải trọng.Thân mộng có thể thẳng hoặc xiên, có bậc hay không có bậc, tiết diện có thể

là hình tròn hay hình chữ nhật Thân mộng có thể liền khối với chi tiết, nhưngcũng có thể là thân mộng mượn, không liền với chi tiết mà được gia côngngoài, cắm vào đầu chi tiết tạo thành mộng

Trang 22

Liên kết mộng là loại liên kết trục và lỗ giữa thân mộng và lỗ mộngnhằm tạo ra mối liên kết cứng giữa hai chi tiết Độ cứng vững của liên kết phụthuộc vào tính chất của nguyên vật liệu, kích thước và hình dạng của lỗ

và mộng, cũng như các chế độ gia cố bằng đinh, chốt, nêm, ke hay sử dụng keodán

b) Liên kết bằng đinh và vít

Hình 3.3: Liên kết đinh và vít

Đinh và vít được dùng để liên kết các chi tiết của sản phẩm mộc Nhiềutrường hợp, đinh và vít đóng một vai trò quan trọng trong liên kết của sảnphẩm mộc Tuy nhiên chúng có một nhược điểm là dễ bị ôxy hoá làm hư hỏngmối liên kết Đinh và vít nói chung để làm trung gian liên kết các chi tiết lại vớinhau theo cách thức liên kết cứng Song vai trò và khả năng ứng dụng của mỗiloại đều khác biệt nhau

c) Liên kết bulông

Liên kết bằng bulông là một dạng liên kết tháo rời có khả năng chịulực lớn Trong công nghệ sản xuất hàng mộc, liên kết bằng bulông được ứngdụng phổ biến, nhất là các sản phẩm có kích thước lớn phải vận chuyển đi xa

Liên kết bằng bu lông được ứng dụng ở các mối liên kết giữa nóc tủ vàhồi tủ, giữa vai giường và chân giường (hay đầu giường), giữa vai bàn và chânbàn

Khi sử dụng liên kết bằng bulông cần chú ý một số yêu cầu cơ bản sau:

- Đảm bảo tính thẩm mỹ của liên kết

- Dễ tháo lắp

- Không ảnh hưởng đến không gian sử dụng bên trong của sản phẩm

Có nhiều kiểu bulông với nhiều giải pháp liên kết khác nhau Trongcác sản phẩm có kết cấu dạng khung, các dạng bu lông thường dùng là loại bulông đầu tròn

Trong công nghệ sản xuất hiện đại, các sản phẩm mộc lắp ghép tấmđược chú ý nhiều về các giải pháp liên kết tháo rời bằng bu lông - ốc vít

Trang 23

BÀI 4: NGUYÊN LÝ CẤU TẠO SẢN PHẨM MỘC

Thời gian 02 giờ (LT: 02 giờ; TH: 00 giờ; KT: 00 giờ)

I Mục tiêu:

- Nêu được cấu tạo một số sản phẩm mộc thông dụng;

- Trợ giúp cho quá trình thiết kế, tính toán lựa chọn các phương thức kếtcấu cho sản phẩm;

- Cận thận, có ý thức trách nhiệm trong công việc

II Nội dung

1 Cấu tạo chung của tủ

Tủ là loại sản phẩm mộc có chức năng chủ yếu là cất đựng, nó bao gồmnhiều kiểu loại khác nhau, thích hợp với từng điều kiện sử dụng nhất định Cácloại tủ thông dụng như: Tủ áo, tủ hồ sơ, tủ ly, tủ trưng bày, tủ tường, tủ bếp, tủ

đa năng Do có những đặc điểm riêng về mặt sử dụng nên về mặt kết cấu,chúng cũng có những đặc điểm khác nhau Ngay trong cùng một loại cũng cóthể có nhiều kiểu có cấu tạo khác nhau Tuy vậy, xét một cách cơ bản vàchung nhất thì nguyên lý cấu tạo chung của chúng vẫn có những bản chấtchung mang tính phổ biến Bởi từ chức năng chung, chúng sẽ có những đặcthù chung về bộ phận (ví như các bộ phận hồi tủ, đáy tủ, nóc tủ, hậu tủ ).Mặt khác, chúng ta cũng có thể thấy mỗi bộ phận có chức năng riêng nên cấutạo có tính cơ bản phù hợp với các chức năng đó Ví dụ: cánh tủ phải có cấutạo cơ bản để đảm bảo yêu cầu ngăn cách và đóng mở Dựa vào quan điểm đó,chúng ta có thể nghiên cứu một cách tổng quát nhất về cấu tạo chung của tủthông qua những cái riêng đa dạng và phong phú

Khi phân tích cấu trúc của tủ, ta thường thấy tủ gồm các bộ phận sau:

- Chân tủ

- Nóc tủ

- Hồi tủ và các vách đứng

- Vách ngang

- Các bộ phận khác có hoặc không có như: ngăn kéo, bàn kéo, cửa mành

1.1 Cấu tạo của hệ chân tủ

Hệ chân tủ thông dụng được phân ra theo các nhóm:

Trang 24

1.1.1 Nguyên lý cấu tạo của hệ chân hộp

Hệ chân hộp là hệ chân có khả năng chịu lực uốn và lực nén lớn Hệ chânnày thường được ứng dụng cho các loại tủ có kích thước tương đối lớn, cấtđựng những vật có tải trọng nặng Nhược điểm của hệ chân này là khôngthông thoáng Đối với các loại tủ thấp, nếu sử dụng hệ chân hộp sẽ gâycảm giác nặng nề và không phù hợp cho các căn phòng có kích thước hẹp.Ngược lại đối với các loại tủ cố định, chiều cao lớn, hệ chân này sẽ cho cảmgiác ổn định, an toàn Các chi tiết của hệ chân này có thể làm bằng gỗ tựnhiên, hay ván nhân tạo có phủ mặt trang sức

Khi sử dụng hệ chân hộp nên khoét một phần trống cao khoảng 3 đến5mm để giảm cảm giác nặng nề của hệ và đặc biệt nó sẽ giúp ổn định khi tiếpxúc với nền

1.1.2 Hệ chân có kết cấu giá đỡ

Hệ chân có kết cấu giá đỡ là hệ chân được ứng dụng rất rộng rãi trongnhiều loại tủ Kiểu cơ bản của chúng gồm 4 chân liên kết với nhau bằng cácvai giằng tạo thành một kết cấu giá đỡ vững chắc Chân tủ có thể vuông hoặctròn hay chân tiện

Hệ chân này thường được làm bằng gỗ tự nhiên là phổ biến Songvới tình hình nguyên liệu và khả năng công nghệ hiện nay, chúng cũng có thểđược làm bằng ván nhân tạo

1.2 Cấu tạo của nóc tủ

Nóc tủ là bộ phận giới hạn phía trên của tủ Nóc được liên kết vớihồi và vách đứng Nóc có thể được kết cấu khung hoặc tấm phẳng

1.2.1 Nóc tủ có kết cấu dạng khung

Nóc tủ có kết cấu kiểu này đòi hỏi chi phí cao, gia công phức tạp Vánnóc có thể được lồng toàn bộ vào khung, lồng 3 cạnh vào khung hoặc ghépchìm vào khung

Trang 25

Khi lựa chọn kết cấu nóc tủ cũng cần chú ý tới khả năng lau chùi vệsinh nóc tủ Trong trường hợp ván được lồng toàn bộ vào khung, nóc tủ sẽkhó lau chùi hơn bởi không có mặt thoát bụi khi lau

Liên kết góc của khung nóc tủ có thể là các liên kết mộng cơ bản, cũng cóthể can góc để tăng độ vững chắc cho khung Góc khung cũng có thể códạng cung tròn hoặc vuông Thông thường kết cấu nóc tủ dạng này thì ở 3 cạnh của khung (mặt trước và 2 bên hồi) có xử lý hoạ tiết trang trí, đơn giảncũng là các đường phào chỉ song song

12.2 Nóc tủ dạng tấm phẳng

Nóc tủ dạng tấm phẳng thường được làm từ các tấm ván dăm, ván mộc.Các cạnh của ván sử dụng làm nóc tủ dạng này đều phải được xử lý dán bọccạnh cho ván

1.3 Hồi và vách đứng

1.3.1 Cấu tạo

Hồi tủ và vách đứng liên kết với nóc và đáy tủ Hồi tủ có chức năng giớihạn hai phía của tủ Vách đứng làm nhiệm vụ phân chia bên trong theochiều đứng Cấu tạo chung của chúng có hai dạng cơ bản là kết cấu khung và tấm phẳng

- Dạng khung

Hồi có kết cấu dạng khung thường được ứng dụng khi không có vánnhân tạo, hoặc do những yêu cầu riêng trong sử dụng Ví dụ tủ kính hay tủtruyền thống làm bằng gỗ quý Cấu tạo của khung như trong cấu tạo cơ bản Đốivới hồi, nếu có yêu cầu thẩm mỹ riêng, có thể sử dụng các giải pháp liên kếtđấu mòi, hoặc có thể sử dụng các nẹp trang trí để nẹp ván vào khung Nếu sửdụng kính, ít nhất kính dày 3mm Nếu sử dụng ván dán hoặc ván sợi, nên dùng giải pháp nẹp ván vào khung Ngoài ra cũng có thể ghép ván theo kiểughép phẳng Nếu sử dụng ván sợi, nên dán bọc cả 2 mặt bằng ván lạng và trướclúc dán phải đánh nhẵn bề mặt để làm mất lớp Parafin trên bề mặt của ván

Đối với tủ có dạng kết cấu cột, hồi có 2 thanh đứng tiết diện tương đối lớnchạy dài dọc xuống thành chân tủ

- Hồi và vách ngăn dạng tấm phẳng

Về mặt kinh tế, cũng như tạo dáng công nghiệp hiện đại, tủ có kết cấudạng tấm phẳng có nhiều ưu thế Hồi dạng tấm phẳng thường được làm

từ ván dăm hoặc ván mộc

Trang 26

Hồi tủ và vách ngăn có thể là tấm phẳng chạy suốt và đóng vai trò làmchân tủ hoặc có thể dừng lại ở đáy tủ.

1.3.2 Liên kết giữa hồi tủ và nóc tủ

Liên kết giữa hồi tủ và nóc tủ cũng giống như liên kết giữa hồi vàđáy tủ Có thể sử dụng liên kết cố định hoặc liên kết tháo rời cho liên kếtnày Thông thường, nếu tủ có kích thước lớn (thể tích trên 1m3), nên sử dụngcác liên kết có thể tháo rời như bu lông Liên kết cố định sử dụng thường làcác liên kết mộng có gia cố bằng đinh, chốt ngang hoặc keo dán Nếu hồi vànóc dạng tấm phẳng được làm bằng ván dăm hoặc ván mộc, thường sửdụng liên kết mộng mượn kiểu chốt tròn Khoảng cách giữa các chốt không vượtquá 100mm Nếu giữa hồi và đáy không sử dụng liên kết tháo rời thì mộng được

cố định bằng keo dán, còn nếu có kết hợp bằng lên kết bu lông thì mộngkhông được sử dụng keo dán hoặc các gia cố cố định khác

Trường hợp hồi và nóc tủ có kết cấu dạng khung, có thể liên kết vớinhau bằng mộng cơ bản thông qua các thanh dọc của nóc và các thanh đứngcủa hồi, và cũng có thể kết hợp với các liên kết bu lông Đối với tủ có kíchthước chiều sâu trên 480mm, ở mỗi góc giữa hồi và nóc hoặc giữa hồi và nócnên kết hợp hai liên kết bu lông

Lưng tủ là bộ phận ít đòi hỏi yêu cầu thẩm mỹ cao như các bộ phậnkhác, song cũng cần lưu ý tới chất lượng bề mặt phía sử dụng bên trong bởi nó

có thể gây khó chịu cho việc cất đựng các loại vật dụng dễ hỏng như vải vóc, quần áo

1.5 Cánh tủ

Cánh tủ có chức năng ngăn cách không gian bên trong và khônggian bên ngoài tủ và đặc biệt là nó có thể đóng mở được nhờ các linh kiện liênkết động như liên kết bản lề hay các cơ cấu kéo trượt

Trang 27

Với liên kết bản lề, trục quay của cánh cửa thường là đứng nhưng cũng cóthể là trục nằm ngang.

Cửa kéo trượt có thể là gỗ ván, khung hoặc kính Ngoài ra cũng cókiểu cấu tạo ghép mành cũng hoạt động theo nguyên lý kéo trượt

1.5.1 Cửa tủ quay

Tủ có cánh quay đứng, khi mở, cánh quay ra ngoài chiếm một không giannhất định Góc mở của cánh tủ tuỳ thuộc vào kiểu loại và phương pháp bố tríbản lề So sánh ưu nhược điểm giữa cảu quay và cửa kéo trượt thì cửa quay đòi hỏi diện tích để hoạt động đóng mở cánh lớn hơn các kiểu tủ đóng mởcánh bằng kéo trượt

Cánh tủ là phần mặt chính của tủ nên đòi hỏi về tính thẩm mỹ của cánh tủ

là tương đối cao Các loại tủ truyền thống được làm bằng gỗ tự nhiên thì vânthớ gỗ của cánh được đặc biệt chú ý Một số loại tủ, cánh được chạm khảm hếtsức công phu và cầu kỳ Các chi tiết lộ trên bề mặt cánh tủ như tay cầm,khoá hay bản lề cũng rất được quan tâm Ngoài ra, về mặt cấu tạo, phương pháp

bố trí cánh và bản lề đều rất quan trọng vì nó vừa trực tiếp ảnh hưởngđến thẩm mỹ đồng thời nó còn ảnh hưởng đến sự thuận lợi trong quá trình sửdụng

Tuỳ thuộc vào việc lựa chọn theo kiểu bản lề và cách đặt bản lề mà có thểthiết kế các cách thức liên hệ giữa hồi tủ và cánh tủ theo nhiều cách khác nhau

Miệng cánh tủ và phần cấu tạo để hai cánh khép vào nhau hoặc một cánh

có thể ghép vào hồi hoặc vách đứng

Cấu tạo của miệng cánh phải đảm bảo việc đóng mở dễ dàng, kínkhít và đồng thời phải có tính thẩm mỹ cao Khi thiết kế miệng cánh tủ cầnphải chú ý tới tính đối xứng trên bề mặt tủ

Trên cánh tủ thường được nắp khoá, tay nắm Nhiều trường hợp cánh tủkhông cần khoá Trong trường hợp đó, để thuận tiện trong sử dụng, cần lắp cơcấu tự đóng bằng nam châm hoặc bản lề có trục quay di động

Khoá lắp trên cánh có nhiều loại khác nhau, nhưng xét chung về đặcđiểm lắp và đóng, người ta thường phân biệt 3 kiểu lắp sau:

- Lắp vào mặt trong cánh tủ, đóng theo trục đứng

- Lắp bằng cách đục lỗ vào cánh, đóng theo trục ngang (tịnh tiến)

- Lắp theo kiểu ốp phía trong, đóng theo trục ngang (quay hoặc tịnh tiến) Tay nắm là chi tiết có yêu cầu thẩm mỹ khá cao nhưng cũng phảithuận tiện cho người sử dụng Tay nắm có thể làm bằng gỗ tự nhiên (thường

là các loại gỗ quý) hoặc cũng có thể được làm bằng kim loại, hình dáng đẹp, dễcầm nắm, co kéo

Trang 28

1.5.2 Cửa kéo trượt

Cửa kéo trượt thường được sử dụng trong những trường hợp sau:

- Không gian chật hẹp cần tiết kiệm diện tích

Về nguyên lý cấu tạo, mành gỗ gồm các nẹp gỗ được liên kết với nhauthành mành nhờ những băng vải bạt bằng keo dán hoặc đinh ghim

2 Cấu tạo chung của bàn

Bàn là một loại sản phẩm mộc mà bộ phận chủ yếu để đáp ứng chứcnăng sử dụng của nó là mặt bàn và kết cấu chủ yếu chỉ có chân và mặt Ngoài

ra bàn có thể được cấu tạo thêm các bộ phận khác để đáp ứng các yêu cầu sửdụng khác trong quá trình sử dụng mặt bàn Ví dụ trên bàn có thể cấu tạo thêmngăn kéo, buồng đựng tài liệu, ngăn để sách, ngăn để đồ dùng

Bàn được dùng cho nhiều mục đích sử dụng, ví dụ như: bàn ăn, bànlàm việc, bàn họp, bàn hội nghị,

Chiều cao của bàn phụ thuộc vào yêu cầu sử dụng liên quan đếnkích thước của con người Kích thước củabàn được xác định sao cho mộtngười ngồi ở bàn ít nhất cũng cần 60cm chiều rộng và diện tích hữu dụng của

nó phải đủ để đảm bảo tiện nghi làm việc

Trang 29

Với những yêu cầu sử dụng khác nhau, cac bộ phận của bàn cũng cónhững đặc điểm khác nhau rất rõ nét Tuy nhiên xét một cách cơ bản nhất,chúng ta có thể phân biệt bàn theo các nhóm chủ yếu sau:

Trang 30

Mặt bàn có thể có kết cấu dạng khung hoặc dạng tấm phẳng Nhìnchung, hệ chân đơn chỉ hợp với mặt bàn có kết cấu dạng tấm phẳng hay kếtcấu khung ghép ván theo kiểu tương tự dạng tấm phẳng

2.2 Bàn chân trụ

Bàn chân trụ có kết cấu chân ở dạng rỗng hoặc đặc Thông thường, bànchỉ có một cột trụ ở giữa Mặt bàn có thể là hình tròn, hình elip hoặc hìnhvuông Phần dưới của trụ thường được liên kết với chân đế chữ thập hoặc đế

đỡ hình tròn để nâng cao tính ổn định của bàn

Để liên kết mặt bàn vào chân, thường sử dụng các thanh chéo dướimặt bàn Mặt bàn được liên kết với các thanh chéo bằng vít Các thanh chéođược liên kết vào trụ bằng vít hoặc đinh Lắp ráp các thanh chéo vào chân trụtrước, sau đó mới bắt vít mặt bàn vào các thanh chéo từ dưới lên

Đế chân trụ thường có kết cấu chữ thập và được tạo dáng sao cho giátrị thẩm mỹ của bàn được nâng lên

Người ta cũng có thể sử dụng chân đế kim loại mạ Crom hay Inox

2.3 Bàn có vai

Bàn có vai là loại bàn mà hệ chân của nó gồm có các chân liên kết vớinhau bằng các vai giằng chính ở phía trên, nối tiếp giáp với mặt bàn, tạothành kết cấu đỡ mặt bàn Để hệ chân bàn được vững chắc, phía dưới chân cũng

có thể nối với nhau bởi các thanh giằng phụ

Thông thường mặt bàn có dạng hình chữ nhật hoặc hình vuông, nhưngcũng có thể là hình đa giác, hình bầu dục hoặc hình tròn Mặt bàn cũng có thểphân thành hai loại chính là mặt bàn cố định và mặt bàn di động Bàn có vai nóichung là chắc chắn nên được ứng dụng nhiều

Nếu vai bàn là gỗ tự nhiên thì không nên ứng dụng mộng chốt, nhất làloại vai có chiều dày bé, bởi vì khi co rút hoặc giãn nở, vai có thể bị nứt

Để thuận tiện cho trường hợp phải vận chuyển đi xa, chân bàn có thể liên kếtbằng các loại liên kết tháo rời (thường là liên kết bu lông)

Nếu mặt bàn vuông và kích thước không lớn lắm, có thể tạo nên chânkiểu thanh giằng dưới mặt bàn, kết cấu vừa thanh thoát, vừa chắc chắn

Một số trường hợp chân bàn cong lượn, thậm chí có chạm trổ nhưng chỉ

sử dụng trong trường hợp đặc biệt

Cấu tạo mặt bàn có thể là dạng khung hoặc tấm phẳng Nếu dùng

gỗ tự nhiên để làm mặt bàn thì không hợp lý cả về mặt kỹ thuật cũng nhưnguyên tắc tiết kiệm gỗ Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể, có thể sửdụng nhưng phải chú ý tới các hiện tượng co rút của mặt bàn

Trang 31

Bên cạnh các loại bàn có mặt cố định, còn có nhiều kiểu bàn có thể xếpgấp được, hoặc có thể nới rộng hoặc thu hẹp tùy theo yêu cầu sử dụng từng lúc.

2.4 Bàn có kết cấu chân dạng tấm hồi

Đối với loại bàn này, mặt bàn thường được liên kết với hồi theo các giảipháp cơ bản như hình vẽ

Để đảm bảo sự ổn định, giữa các tấm hồi phải có các thanh giằng và đểtăng bề mặt tiếp xúc với nền, phía dưới thường có chân đế Mặt bàn thường cókhung để che khuất mối liên kết giữa mặt và hồi

Thông thường kiểu bàn này được sử dụng phổ biến trong các phòng trà,

cà fê ở các câu lạc bộ

Đối với loại bàn này, thanh giằng đóng một vai trò rất quan trọng, vìvậy phải có giải pháp đặt thanh giằng và liên kết vào tấm hồi sao cho tính

ổn định của bàn được cao Đối với loại bàn trà nhỏ, chỉ cần một thanh giằng

ở phía dưới (1/3 tính từ dưới lên) và nên đặt đứng thì chắc hơn

Hồi bàn được liên kết với thanh giằng và chân đế Liên kết giữa hồi vàchân đế là liên kết mộng, thường sử dụng loại mộng hai thân Liên kết giữahồi và thanh giằng có thể là liên kết mộng và cũng có thể là liên kết bu lông

2.5 Bàn thùng

Bàn thùng là loại bàn có cấu tạo buồng đựng và ô kéo để phục vụcho nhu cầu làm việc có nhiều tài liệu Căn cứ vào các bố trí số buồng (ở mộtphía hay cả hai phía) mà người ta phân biệt bàn một thùng và bàn hai thùng.Nhìn chung cấu tạo của bàn thùng cũng rất đa dạng, phụ thuộc vào việc sử dụngnguyên vật liệu

2.5.1 Cấu tạo chung của bàn một thùng

Bàn một thùng có cấu tạo cơ bản như hình vẽ Bàn gồm các phần cấutạo chính như: mặt bàn, buồng đựng, chân cao và vai bàn

- Mặt bàn có cấu tạo cơ bản

- Buồng đựng có cấu tạo như tủ, có thể có một hay nhiều ô kéo, có chânthấp liên kết vào đáy

- Chân cao gồm hai chân được giằng với nhau bằng vai ngang ở phía trên

và thanh giằng phía dưới tạo thành một bộ phận

- Hai vai dọc nối giằng giữa bộ phận chân cao và buồng đựng (lỗmộng trên chi tiết cột dọc của buồng đựng)

- Thanh giằng dọc phía dưới liên kết vào giữa thanh giằng ngang ở châncao và giữa thanh ngang dưới của hồi hay thanh giằng giữa hai chân thấp

Trang 32

2.5.2 Cấu tạo chung của bàn hai thùng

Bàn hai thùng có cấu tạo cơ bản như hình vẽ Bàn bao gồm haibuồng đựng ở hai phía được nối với nhau bằng các thanh giằng phíatrên, mặt bàn và hệ chân có thanh giằng ngang và thanh giằng dọc ở giữa

- Mặt bàn có cấu tạo như các khung ghép ván Thông thường sử dụng vándán ghép mặt theo kiểu ghép phẳng có gờ ấn Mặt bàn có kích thước 750 x1600mm Khung mặt bàn phải có các thanh đỡ ngang và dọc, kích thướccác thanh đỡ 22 x 22mm

- Buồng đựng có cấu tạo tương tự như cấu tạo của thân tủ Cácbuồng đựng được nối với nhau bởi các

3 Cấu tạo chung của giường

Giường là sản phẩm mộc dùng để nằm (chức năng chính của giường

là phục vụ việc ngủ, nghỉ của con người) Đối với người lao động, thời giannghỉ ngơi quan trọng nhất là lúc ngủ Vì vậy thiết kế giường phải có hình dạng,kích thước cũng như kết cấu phải phù hợp với trạng thái nghỉ ngơi lúc ngủ.Tiện nghi của giường là sự thoải mái lúc ngủ, ngoài ra, có thể tạo ra sự thuậntiện cho việc dịch chuyển giường, chân giường có thể được bố trí bánh xe

Về cấu tạo, giường gồm có các bộ phận chính như sau:

ta có thể coi chân giường là một chi tiết cảu bộ phận thành bên của giường

3.2 Đầu giường

Đầu giường là hai bộ phận chắn hai đầu giường Đầu giường được liên kếtvào vai giường và được phân biệt đầu giường phía trên là phía kê gối, và đầugiường phía cuối là đầu để chân khi nằm Trường hợp giường có bốn chân liên kết với vai giường tai các đầu cuối của vai, chúng ta cũng có thể coi chângiường là chi tiết của đầu giường

Trang 33

3.3 Vai giường

Vai giường là hai chi tiết giới hạn chiều rộng của giường và cóchức năng đỡ toàn bộ, hoặc một phần chủ yếu kết cấu chịu lực tác dụng lênmặt nằm Liên kết giữa vai giường và đầu giường (hay chân giường) làliên kết mộng có chốt ngang hoặc sử dụng liên kết mộng kết hợp với bu lông

để có thể tháo lắp được dễ dàng Mộng của vai giường thường là mộng haithân có kẹ ở giữa để chống mo

3.4 Kết cấu đỡ mặt nằm

Kết cấu đỡ mặt nằm thông dụng bao gồm các thang giường được đặt rờinhau Các thang giường được gác tự do lên các gối đỡ (bọ) có trên vai giường.Một số thang ở giữa có thể có cấu tạo dạng đuôi én để giữ cho vai giường không

bị cong phình ra ngoài Kích thước tiết diện của thang có thể được tínhtoán theo điều kiện chịu lực uốn, nhưng thông thường vào khoảng40x50mm hoặc 30x35mm Không nên sử dụng gỗ bị xiên thớ để làmthang giường vì thớ xoắn sẽ dễ dàng bị gãy khi sử dụng bởi chịu uốn Sốlượng thang giường thường là 5 hoặc 7 thang (đặc biệt không bao giờ là 4hay 8 thang bởi lý do truyền thống dân gian để lại) Trường hợp số thang là

5, trên các đầu giường cần có nẹp để đỡ giát giường, tránh hiện tượng đầugiát trượt và cọ xát trên bề mặt đầu giường, gây xước mặt và tiếng kêu khôngthoải mái trong khi sử dụng

Thông thường, khi thiết kế tạo dáng, cần xuất phát từ kế hoạch kê đặtgiường, phía đầu giường trên là phía đặt gối, vừa có tính chất sử dụng đồngthời vừa có tính chất trang trí nên thường cao hơn đầu giường phía dưới, phía

để chân Ngoài ra, đầu giường phía trên cũng có thể được thiết kế nhô rahai bên tạo thành bộ phận có chức năng thay thế tủ đầu giường

4 Cấu tạo chung của ghế

Ghế có nhiều kiểu loại, mỗi chức năng sử dụng yêu cầu riêng đều cónhững kiểu dáng ghế ngồi riêng Song nhìn chung chúng bao gồm các bộphận chính sau:

Trang 34

Về cấu tạo, lưng tựa có thể ở dạng nan hay song tròn (hoặc tiện), hoặc ởdạng tấm (có thể cong hoặc thẳng), có kích thước, hình dạng thích hợp với dángtổng thể của ghế

Liên quan đến chất liệu, lưng tựa có thể mềm hoặc cứng Lưng tựamềm có thể bằng mặt mây đan hoặc bọc đệm Lưng tựa cứng được làmbằng gỗ tự nhiên hoặc ván dán (có thể là ván ép định hình) Nói chung, lưngtựa mềm có thể đảm bảo tính tiện nghi sử dụng tốt hơn lưng tựa cứng, nhưng vềmặt gia công chế tạo thì lại phức tạp hơn lưng tựa cứng

4.2 Mặt ngồi

Mặt ngồi có thể là ván thuần tuý, ván định hình hay ván ghép vàokhung, cá biệt có thể ghép nan Mặt ngồi cũng có thể là mặt mềm hoặc mâyđan, hoặc bọc đệm

Liên kết giữa mặt ngồi và chân ghế (hay khung đỡ mặt ghế) có thể là liênkết đinh hoặc vít Giải pháp cụ thể tuỳ thuộc vào từng kiểu ghế, nhưng nguyêntắc chung là phải đảm bảo tính tiện nghi, dễ lắp ráp và tính thẩm mỹ củasản phẩm Đối với mặt ngồi bằng ván cứng không có khung, có thể liên kết đinh

từ trên xuống Còn đối với mặtngồi có khung, thường có giải pháp liên kết vớicác thang đỡ trên hệ chân từ dưới lên (tốt nhất là nên dùng vít)

Để tăng độ vững chắc của ghế, ở góc liên kết giữa chân và xà đỡ mặtghế, thường được được tăng cường bằng ke

Trang 35

BÀI 5: TẠO DÁNG SẢN PHẨM MỘC

Thời gian 15 giờ (LT: 03 giờ; TH: 10 giờ; KT: 02 giờ)

I Mục tiêu

- Trình bày được cơ sở, nguyên tắc tạo dáng sản phẩm mộc

- Đề xuất ý tưởng, giải pháp đáp ứng công năng của sản phẩm mộc

- Cận thận, có ý thức trách nhiệm trong công việc

II Nội dung

1 Tạo dáng sản phẩm mộc

Tạo dáng sản phẩm mộc là một trong những công đoạn đặc biệt quantrọng trong quá trình thiết kế sản phẩm mộc Giá trị của một sản phẩm khôngchỉ được đánh giá qua độ bền chức năng mà nó còn phải có chất lượng thẩm mỹhấp dẫn Tuỳ theo từng điều kiện bối cảnh lịch sử mà hai yếu tố này (độ bền vàtính thẩm mỹ) được coi trọng ở mức độ khác nhau Trước đây, có những giaiđoạn, độ bền của sản phẩm được đặt lên hàng đầu và tính thẩm mỹ của sảnphẩm bị coi nhẹ Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sảnxuất, hiện đại hơn, chính xác hơn, nguồn nguyên liệu đa dạng hơn thì vấn

đề thẩm mỹ của sản phẩm lại là mấu chốt chính quyết định đến giá trị của sảnphẩm Cùng một loại nguyên liệu, cùng một loại hình sản phẩm, nhưng sảnphẩm nào có mẫu mã, hình thức đẹp hơn, hấp dẫn hơn thì giá của nó có thể caohơn hẳn so với sản phẩm kia

Vậy tạo dáng sản phẩm là gì? Thực chất, tạo dáng sản phẩm mộc làmột công đoạn trong thiết kế sản phẩm, ở đó, người thiết kế đưa ra các phương

án về hình dạng của sản phẩm theo một số nguyên tắc mỹ thuật nhất định vàđặc biệt là người thiết kế có thể lồng ghép các ý tưởng sáng tạo của mình vàosản phẩm để sản phẩm có một ý nghĩa nào đó, đây chính là phần hồn của sảnphẩm

Ví dụ lưng tựa của một chiếc ghế, đơn thuần về mặt chức năng, nó chỉđược dùng để tựa lưng trong trạng thái ngồi nghỉ của con người Nhưng khihình dạng của lưng tựa đó được cách điệu theo một hình nào đó, ví dụhình trái tim, chúng ta sẽ có cảm nhận ngay đến tình yêu đôi lứa, ý nghĩ củangười cảm nhận sẽ được thu hút tới những tình cảm lứa đôi, sự trung thuỷ,

sự lãng mạn hay sự uỷ mị

Cái gì đã làm cho người ta có cảm giác như vậy? Đó chính là sự kỳdiệu của thiết kế tạo dáng Tâm hồn của người thiết kế sẽ được thổi vàonhững sản phẩm, đồ vật quanh ta làm cuộc số trở nên tươi đẹp hơn, thi vị hơn

Cụ thể trong thiết kế tạo dáng, người thiết kế sẽ phác ra những đường nét, hình

Trang 36

khối mà họ tưởng tượng thấy với những tâm trạng, trạng thái tình cảm nhấtđịnh, nhưng không phải là vô thức mà họ phải luôn hướng tới cái mà họ đanglàm, sắp làm và sẽ làm Người thiết kết tạo dáng luôn luôn phải nghĩ tới họđang thiết kế cái gì, chức năng chính là để làm gì, chức năng phụ là gì và đặcbiệt là họ phải có một vốn kiến thức nhất định về mỹ thuật Người thiết kếkhông thể chỉ đưa ra mẫu mã theo ý tưởng của mình mà không tuân theonhững nguyên tắc thẩm mỹ bởi mục tiêu của thiết kế tạo dáng là nâng caotính thẩm mỹ của sản phẩm Người sử dụng không thể chấp nhận một sảnphẩm có ý tưởng thiết kế nhưng không đẹp

2 Đặc trưng tạo dáng sản phẩm mộc

Với những khái niệm như trên về tạo dáng sản phẩm thì ta thấy ngườithiết kế đã tác động đến tâm lý người sử dụng thông qua thị giác Dáng của sảnphẩm được tạo ra trên cơ sở hình học và nhìn chung, chúng có thể được giảiphẫu thành các phần như sau:

- Điểm: Điểm là một chấm nhỏ tương đối trong một môi trường rộng lớnhơn nó rất nhiều lần Một chấm mực trên một mặt giấy được coi là một điểm;một thành phố lớn trên bản đồ thế giới cũng chỉ là một chấm nhỏ (điểm); tráiđất của chúng ta trong thiên hà cũng chỉ là một điểm chấm nhỏ

Điểm đánh dấu một vị trí trong không gian, không có chiều dài, chiềurộng và chiều sâu, nó tĩnh tại, vô hướng Điểm có thể đánh dấu sự kết thúccủa một đường, là giao điểm của hai đường hay là góc của một mặt phẳng, khối

- Đường: Tập hợp của nhiều điểm sẽ tạo thành đường Chúng ta sẽ

có đường thẳng nếu điểm tịnh tiến theo một hướng và sẽ có đường congnếu điểm chuyển dịch theo các hướng thay đổi Cần phải lưu ý khi vết củađiểm dịch chuyển phải lớn hơn nhiều so với kích thước của điểm thì tamới coi đó là đường

Đường có một chiều đó là chiều dài Như vậy khác với điểm tĩnh tại vôhướng, đường có hướng xác định và có sự biến đổi Đặc trưng của đường là

độ dài, độ đậm nhạt và độ uốn lượn của nó

Một đặc trưng quan trọng của đường đó là hướng của đường Đường nằmngang cho ta cảm giác ổn định, ôn hoà, đường thẳng đứng lại cho tacảm giác cân bằng

Đường xiên lệch so với đường nằm ngang và thẳng đứng sẽ gợi cảm giáctrỗi dậy, rơi, bất ổn Đường cong lại cho ta những cảm giác về sức căng uốn màchính cảm giác này kết hợp với cảm giác động của những đường xiên đã tạo ranhững cảm giác chắc chắn hơn Chính những đường uốn lượn lên xuống đã tạonhững nhịp điệu những nhịp thở rất gần gũi với sự phát triển tự nhiên

Trang 37

- Mặt: Vết của đường khi chuyển dịch sẽ tạo ra mặt, mặt sẽ là mặt phẳngnếu đường là đường thẳng và hướng dịch chuyển của chúng không đổi.Trong thực tế, khi chiều dày của vật nhỏ hơn nhiều lần so với chiều dài vàrộng thì ta cũng coi vật đó có đặc trưng mặt

Hình là đặc điểm cơ bản của mặt, nó được mô tả bởi những đường viềnbiên Nếu không có các đường viền biên của mặt chúng ta sẽ không thểnhận thức chính xác về mặt Đặc trưng của mặt chính là hình dạng và chất liệu

bề mặt

- Khối: Cũng như vậy thì khối được cấu thành bởi nhiều mặt Đối vớikhối, trong tạo dáng chúng ta quan tâm tới các bề mặt (diện) của khối mà khôngphân biệt nó là đặc hay rỗng

Với các hình thức như vậy, mỗi sản phẩm của chúng ta sẽ có nhữnghình dáng tạo ra nét đặc trưng của sản phẩm Một sản phẩm có thể làdạng đường (mắc áo), đường kết hợp với mặt (bàn ghế "Xuân Hoà" haythuần mặt như những sản phẩm bàn bằng ván nhân tạo

3 Cơ sở tạo dáng sản phẩm mộc

Từ những hình thức đặc trưng tạo dáng như trên, khi tạo dáng ta cần xâydựng phương án trên cơ sở hình thành các điểm, đường, mặt, khối trên sản phẩmtheo ý đồ thiết kế

Hình 5.1: Sự đa dạng trong tạo dáng ghế

Trang 38

Khi thiết kế tạo dáng cần dựa trên một số cơ sở tạo dáng như sau:

- Chức năng chủ yếu và thứ yếu của sản phẩm Mọi kiểu dáng được xâydựng phải dựa trên chức năng của sản phẩm Ví dụ: giường nằm, rõ ràngchúng ta phải có một mặt phẳng đủ rộng để đáp ứng chức năng nằm của sảnphẩm Cho dù chiếc giường có được tạo dáng thành hình tròn, vuông, ôvan hay trái tim đi nữa thì nó vẫn phải đảm bảo một mặt nằm thuận lợicho việc nghỉ ngơi

Ngoài ra các chức năng phụ của sản phẩm sẽ đóng vai trò tô điểm làmphong phú dáng điệu của sản phẩm

- Tạo dáng cần dựa trên các nguyên tắc thẩm mỹ để sản phẩm có chấtlượng thẩm mỹ tốt, giá trị cao

- Tâm lý người sử dụng Cần có những điều tra về tâm lý, phong tục, tậpquán của người sử dụng trước khi tạo dáng

- Nguyên vật liệu sử dụng

Chúng ta cần phải biết nguyên vật liệu chủ yếu được sử dụng trong thiết

kế là gì để có các tạo dáng phù hợp Ở đây không những là để phù hợp côngnghệ sản xuất mà còn phù hợp với các ý niệm thẩm mỹ Ví dụ, sản phẩm được sản xuất bằng kim loại, kích thước của nó không nên quá lớn, gây cảmgiác nặng nề mà nên làm mảnh nhỏ, nhẹ nhàng, vừa tiết kiệm nguyên vật liệu,

Khi thiết kế, kích thước của sản phẩm phải phù hợp với kích thước cơ thểcon người

Hình 5.1: Mối quan hệ giữa kích thước cơ thể người với sản phẩm thiết kế

Trang 39

Hình 5.2: Sự đa dạng trong thiết kế tạo dáng ghế

Ngày đăng: 01/06/2016, 13:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Mối quan hệ giữa kích thước của con người với sản phẩm mộc - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 2.1 Mối quan hệ giữa kích thước của con người với sản phẩm mộc (Trang 9)
Hình 3.1: Các loại bản lề dung trong thiết kế sản phẩm mộc - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 3.1 Các loại bản lề dung trong thiết kế sản phẩm mộc (Trang 19)
Hình 5.1: Mối quan hệ giữa kích thước cơ thể người với sản phẩm thiết kế - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 5.1 Mối quan hệ giữa kích thước cơ thể người với sản phẩm thiết kế (Trang 38)
Hình 5.2: Sự đa dạng trong thiết kế tạo dáng ghế - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 5.2 Sự đa dạng trong thiết kế tạo dáng ghế (Trang 39)
Hình 6.1: Điểm nhấn trong thiết kế tạo dáng - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 6.1 Điểm nhấn trong thiết kế tạo dáng (Trang 42)
Hinh 6.3: Hình khối trong thiết kế tạo dáng - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
inh 6.3: Hình khối trong thiết kế tạo dáng (Trang 46)
Hình 7.5: Sự thống nhất và đa dạng trong thiết kế - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 7.5 Sự thống nhất và đa dạng trong thiết kế (Trang 58)
Hình 8-1. Thí dụ về bản vẽ các chi tiết - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 8 1. Thí dụ về bản vẽ các chi tiết (Trang 64)
Hình 8-2. Thí dụ về bản vẽ cụm chi tiết - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 8 2. Thí dụ về bản vẽ cụm chi tiết (Trang 65)
Hình 8-3. Thí dụ về bản vẽ bóc tách - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 8 3. Thí dụ về bản vẽ bóc tách (Trang 65)
Hình 8-10. Định vị điểm xa dần trung tâm - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 8 10. Định vị điểm xa dần trung tâm (Trang 70)
Hình 8-13. Vẽ hình vật thể thấp hơn phương pháp đường nhìn - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 8 13. Vẽ hình vật thể thấp hơn phương pháp đường nhìn (Trang 73)
Hình 8-14. Nguyên lý vẽ phương pháp điểm xa dần - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 8 14. Nguyên lý vẽ phương pháp điểm xa dần (Trang 73)
Hình 8-15. Thí dụ vẽ hình phương pháp điểm xa dần Các bước vẽ: - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 8 15. Thí dụ vẽ hình phương pháp điểm xa dần Các bước vẽ: (Trang 74)
Hình 8-18. Thí dụ vẽ hình phương pháp điểm lượng Các bước vẽ: - Mo dun thiet ke tao dang San pham moc 2016
Hình 8 18. Thí dụ vẽ hình phương pháp điểm lượng Các bước vẽ: (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w