1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế một số sản phẩm mộc gia dụng mô phỏng các mẫu giá sách cổ điển bàn ăn giá móc áo treo tường

62 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nhân trắc học và tư duy lôgíc Dựa vào kích thước cơ thể người, mối quan hệ giữa kích thước cơ thể người với các sản phẩm mộc kết hợp với tư duy sáng tạo của bản thân để từ đ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn luận văn tốt nghiệp, cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn T.S Võ Thành Minh, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo nhà trường, các phòng ban trung tâm khai thác thông tin thư viện trường Đại Học Lâm Nghiệp cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chế Biến Lâm Sản đã giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường

Cũng nhân dịp này cho tôi gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ, nhân viên

bộ môn Công Nghệ Xẻ Mộc cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa luận này

Đỗ Thị Nụ

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao, nhu cầu con người ngày càng phong phú và đa dạng Do vậy việc tạo ra những sản phẩm để thoả mãn những nhu cầu đó là vấn đề vô cùng quan trọng

Từ xưa đến nay đồ mộc là một trong yếu tố gắn liền với đời sống con người Thực tế đã chứng minh rằng con người cần làm việc, nghỉ ngơi và sinh hoạt gắn liền với đồ mộc như: giường, tủ, bàn, ghế xã hội càng phát triển thì nhu cầu về đồ mộc ngày càng lớn và đồ mộc chất lượng cao ngày càng được quan tâm Để phù hợp với thời đại, phù hợp với nhận thức và nhu cầu của con người thì nhiều sản phẩm mộc đã ra đời có tính chất đa dạng về chức năng, cấu tạo, kiểu dáng và đã đạt những thành tịu nhất định Có nhiều mẫu mã sản phẩm mộc được tạo ra với chất lượng tốt, có ý nghĩa lớn đối với cuộc sống hiện tại, nhưng hầu hết các sản phẩm đó đều là những bản thiết kế

có bản quyền Do vậy để có tư liệu thiết kế cho các mô hình sản phẩm ấy cần phải tìm hiểu, ngiên cứu và thiết kế mô phỏng Thiết kế mô phỏng là cách thức để tôi thực hiện khoá luận này

Để tạo điều kiện cho việc thiết kế tôi đã tiến hành thu thập thông tin về các loại sản phẩm được xã hội chấp nhận có ý nghĩa về mặt phát triển, tạo điều kiện để phát huy những kiểu dáng đẹp Trong số các loại hình sản phẩm đó thì các loại sản phẩm tủ sách, bàn, giá treo là những sản phẩm rất có ý nghĩa

Xuất phát từ nhu cầu thực tế, được sự giúp đỡ của thầy giáo T.S Võ Thành Minh, sự phân công của khoa Chế Biến Lâm Sản tôi thực hiện đề tài khoá luận có tiêu đề:

“Thiết kế một số sản phẩm mộc gia dụng mô phỏng các mẫu: giá

sách cổ điển, bàn ăn, giá móc áo treo tường”

Trang 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Mục tiêu nghiên cứu

1.1.1 Mục tiêu tổng quát

Xây dựng được tư liệu thiết kế cho mô hình sản phẩm mộc theo phương pháp thiết kế mô phỏng từ các hình ảnh: bàn ăn, giá sách kiểu cổ điển và giá móc áo treo tường

1.1.2 Mục tiêu cụ thể

móc áo treo tường

1.2 Các nội dung nghiên cứu

Khoá luận tập chung giải quyết các nội dung cơ bản sau:

1.3 Tính cấp thiết của đề tài

phẩm , mẫu mã mới liên tục được ra đời đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của mọi người dân trên toàn cầu

áo treo tường là một trong những vấn đề hết sức cần thiết để phục vụ một số nhu cầu trong cuộc sống sinh hoạt và làm việc hàng ngày của con người như: ăn uống, học tập , cất đựng…

1.4 Phương pháp thực hiện khóa luận

1.4.1 Phương pháp tham khảo tài liệu

Trang 4

 Tài liệu về thiết kế sản phẩm mộc

1.4.2 phương pháp khảo sát thực tế

giá cả của nhóm sản phẩm được thiết kế và một số sản phẩm liên quan

 Khảo sát về đối tượng sử dụng : Bao gồm số lượng người, ngành nghề, -yêu cầu về hoạt động

1.4.3 Phương pháp thiết kế mô phỏng

Dựa trên các mẫu sản phẩm đã có sẵn từ đó thiết kế lại với kích thước phù hợp

1.4.4 Phương pháp nhân trắc học và tư duy lôgíc

Dựa vào kích thước cơ thể người, mối quan hệ giữa kích thước cơ thể người với các sản phẩm mộc kết hợp với tư duy sáng tạo của bản thân để từ

đó lựa chọn phương án thiết kế phù hợp đảm bảo công năng, thẩm mỹ của sản phẩm

1.4.5 Phương pháp đồ họa vi tính

Là phương pháp kết hợp ý tưởng và thể hiện ý đồ thiết kế một cách chính xác và chân thực nhất thống qua các phần mềm đồ họa tiên tiến, hiện đại : Autocad, 3DsMax, Photoshop, …

1.5.Phạm vi nghiên cứu

điển, bàn ăn và giá treo

Trang 5

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Cơ sở lý luận là nền tảng để nghiên cứu mọi vấn đề.Cơ sở lý luận về sản phẩm mộc là cơ sở để tiến hành nghiên cứu về sản phẩm mộc và thiết kế sản phẩm mộc

Để tạo điều kiện cho công tác thiết kế được tiến hành thuận lợi thì trước tiên chúng ta cần có những hiểu biết khái quát về sản phẩm mộc và những vấn

đề liên quan

2.1 Các nguyên tắc thiết kế sản phẩm mộc

Như ta đã thấy thiết kế đồ gia dụng là để phục vụ cho con người, cho

xã hội, là sự vận dụng những thành quả của khoa học kỹ thuật hiện đại, những phương pháp tạo hình đẹp để sáng tạo ra các sản phẩm đặc thù phục vụ cho nhu cầu của đời sống, công việc của con người cũng như những hoạt động của xã hội, đó chính là đồ gia dụng Đồ gia dụng sẽ kết hợp với không gian nội thất và những vật dụng khác tạo thành một môi trường nội thất phục vụ cho sự sinh tồn của con người Giữa con người với con người, giữa đồ vật và

đồ vật, giữa con người với môi trường sẽ cấu thành một xã hội Mục đích của thiết kế đồ gia dụng là nhằm điều hoà tương hỗ mỗi quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường và giữa con người với xã hội, trọng tâm của nó chính là nhằm phục vụ cho con người

Từ góc độ phát triển của công nghiệp sản xuất đồ gia dụng mà nói, đồ gia dụng hiện đại có được tính đa dạng về nguyên vật liệu, tính mới mẻ trong tạo hình, tính đơn giản trong kết cấu, tính phong phú về sản phẩm, tính tiện lợi trong gia công, tính tiết kiệm đối với nguyên liệu, tính dễ dàng trong tháo lắp, nó cũng có được xu hướng phát triển về tính thực dụng, tính đa dạng về chức năng, tính bảo vệ cho sức khoẻ của con người,… Do vậy, thiết kế đồ gia dụng một cách hợp lý, trên nguyên tắc phải đảm bảo được hai yêu cầu đó là tính sử dụng và tính sản xuất Đối với sử dụng mà nói, đồ gia dụng phải có được tính thực dụng, dễ chịu, thuận tiện, an toàn, ngoại hình đẹp, kết cấu ổn

Trang 6

định, giá thành hợp lý Còn đối với sản xuất mà nói, đồ gia dụng phải có được tính công nghệ tốt, hiệu quả sản xuất cao, chỉ tiêu kinh tế hợp lý, để cho các mặt về chất lượng, tính năng, chủng loại, quy cách,…, của đồ gia dụng có được độ tin cậy trong sử dụng, tính tiên tiến về kỹ thuật, tính khả thi trong sản xuất, tính hợp lý về kinh tế Cũng có thể nói, thiết kế đồ gia dụng hiện đại cần tuân thủ theo 9 nguyên tắc cơ bản đó là: tính thực dụng, tính nghệ thuật, tính công nghệ, tính kinh tế, tính an toàn, tính khoa học, tính hệ thống, tính sáng tạo và tính duy trì

2.1.1 Nguyên tắc thực dụng

Nguyên tắc thực dụng là điều kiện quan trọng đầu tiên của thiết kế sản phẩm mộc Yêu cầu đầu tiên của thiết kế sản phẩm là phải phù hợp với công dụng trực tiếp của nó, có thể thoả mãn được một số yêu cầu nhất định nào đó của người sử dụng, mà nó cũng phải có được tính chắc chắn, tuổi thọ cao; đồng thời hình dáng kích thước của đồ gia dụng cũng cần phải phù hợp với đặc trưng hình dạng của con người, thích hợp với những điều kiện về sinh lý của con người, thoả mãn được những nhu cầu sử dụng khác nhau của con người, đem những tính năng của nó để hạn chế được đến mức tối đa sự mệt mỏi của con người, tạo ra những điều kiện thuận lợi, thoải mái cho con người trong sinh hoạt cũng như trong công việc.Ví dụ như bàn ăn phương tây có kiểu dài vì cách để đồ ăn của họ và bàn ăn dài lại không phù hợp với phong tục tập quán của người Trung Quốc Hay những sản phẩm tủ cổ điển với kết cấu đơn giản nhưng không kém phần chắc chắn, với phối hợp điêu luyện về màu sắc đường nét nhưng sản phẩm này đã chinh phục đông đảo giới ưa chuộng đồ mộc và đặc biệt là nhóm yêu thích sản phẩm cổ điển.Nếu sản phẩm mộc được thiết kế không thỏa mãn yêu cầu công năng vật chất cơ bản thì dù ngoại hình có đẹp đến mấy cũng không có ý nghĩa gì

2.1.2 Nguyên tắc thoải mái

Thoải mái của sản phẩm mộc là một trong những yếu tố không thể thiếu

trong thiết kế đồ gia dụng Một sản phẩm mộc được thiết kế với kích thước,

Trang 7

lựa chọn màu sắc, nguyên liệu phù hợp sẽ đáp ứng đầy đủ yêu cầu của con người, làm giảm thiểu những mệt nhọc sau quá trình làm việc mệt mỏi, tạo ra những bữa ăn ngon trong gia đình hay tạo ra những cảm giác dễ chịu khi sử dụng chúng Ví dụ như sự hiện diện của một tủ sách trong phòng đọc đã làm cho căn phòng thêm ngăn nắp, quấn hút người đọc thế nhưng tủ đó được thiết

kế với kích thước quá cao gây khó khăn khi lấy tài liệu và như vậy làm cho bất cứ ai khi dùng đều khó chịu, lúc đó có thể nói tủ được thiết kế không đảm

bảo tính thoải mái

2.1.3 Nguyên tắc nghệ thuật

Nguyên tắc nghệ thuật của đồ gia dụng được biểu hiện chủ yếu ở các mặt như tạo hình, trang sức, màu sắc,…, tạo hình yêu cầu phải tinh tế, ưu nhã, thể hiện được cảm nhận của thời đại; trang sức cần phải trong sáng, hào hoa, phù hợp với thời đại; màu sắc phải đồng đều thống nhất Do vậy, thiết kế đồ gia dụng yêu cầu phải phù hợp với tính lưu hành của thời đại, thể hiện được đặc trưng thịnh hành của xã hội, để thường xuyên và kịp thời thúc đẩy sựu tiêu dùng sản phẩm, cũng như làm thoả mãn được những yêu cầu của thị trường

2.1.4 Nguyên tắc công nghệ

Nguyên tắc công nghệ là nhu cầu của chế tác sản xuất, dưới tiền đề đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu suất, giảm giá thành sản phẩm, sản phẩm thiết kế phải có được đường nét rõ ràng, kết cấu gọn gàng, các chi tiết cụm chi tiết đều cần thỏa mãn yêu cầu gia công cơ giới hoặc sản xuất tự động hóa Trên phương diện nguyên vật liệu và công nghệ gia công thì cần phải thoả mãn được những yêu cầu sau:  Nguyên vật liệu phải phong phú;  Các chi tiết phải có được tính lắp lẫn (có thể tháo rời hoặc gấp);  Sản phẩm cần được tiêu chuẩn hoá (tiêu chuẩn hoá về kích thước của các chi tiết, có được tính thông dụng);  Liên tục hoá trong sản xuất (thực hiện cơ giới hoá và tự động hoá, giảm thấp sự tiêu hao về sức lao động, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất)

Trang 8

2.1.5 Nguyên tắc kinh tế

Nguyên tắc kinh tế là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trên thị trường của các sản phẩm nói chung và các sản phẩm mộc nói riêng Sản phẩm mộc được coi là một mặt hàng giao dịch lớn trên thị trường trong và ngoài nước, do đó khi thiết kế cần nhấn mạnh được tính thương phẩm và tính kinh tế đối với đồ gia dụng, tăng cường công tác nắm bắt thông tin thị trường, mở rộng công tác điều tra nghiên cứu cũng như dự đoán đối với thị trường, trên cơ sở không ngừng hiểu biết về tình hình thị trường và xu thế sản xuất đối với đồ gia dụng trong nước và trên thế giới, cần phải xem xét đến các mặt như: nguyên vật liệu, kết cấu, gia công,…, để thiết kế ra được những sản phẩm có giá thành thấp, thiết kế ra được những sản phẩm đồ gia dụng thích hợp cho việc bán hàng, đạt được yêu cầu về chất lượng tốt, ngoại hình đẹp, tiêu hao nguyên liệu ít, cũng như những yêu cầu về môi trường

2.1.6 Nguyên tắc khoa học

Sản phẩm đồ gia dụng hiện đại là một loại đồ vật rất quan trọng đối với đời sống của con người, nó có thể nâng cao được hiệu quả làm việc và hiệu quả nghỉ ngơi của con người, tăng sự tiện lợi cho cuộc sống, tạo được mức độ thoải mái cho con người, do đó thiết kế đồ gia dụng bắt buộc phải đảm bảo được những mục tiêu ở trên, cần nghiên cứu và ứng dụng những nguyên tắc

cơ bản về mối tương quan khoa học như: sinh lý học, tâm lý học, nhân loại học, kỹ thuật học, mỹ thuật học, khoa học môi trường hay thiết kế công nghệ,…, căn cứ vào quy luật phát triển của khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng các biện pháp gia công, công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại, xem xét đến nguyên tắc lợi dụng một cách liên tục đối với nguồn nguyên liệu, để làm cho đồ gia dụng từ một sản phẩm công nghiệp đơn giản chuyển hoá thành một loại sản phẩm có được trình độ khoa học cao và hiệu ích sử dụng thường xuyên

2.1.7 Nguyên tắc hệ thống

Trang 9

Nguyên tắc hệ thống của sản phẩm mộc thể hiện ở 2 mặt: thứ nhất là tính đồng bộ, hai là hệ thống thay đổi linh hoạt của tiêu chuẩn hóa

Tính đồng bộ là chỉ sản phẩm mộc không sử dụng độc lập mà là tính nhịp nhàng và tính bổ xung cho nhau khi sử dụng đồng bộ các đồ gia dụng khác nhau ở nội thất

Hệ thống thay đổi linh hoạt tiêu chuẩn hóa nhằm vào sản xuất, tiêu thụ, nhu cầu xã hội và tính hiệu quả cao, chất lượng cao của sản xuất hiện đại công nghiệp hóa của số lượng ít, chủng loại sản phẩm nhiều luôn là mâu thuẫn lớn gây khó khăn cho ngành gia dụng Khi đó thiết kế sản phẩm mộc dễ đi vào 2 đường rẽ, một cách làm là lẩn tránh mâu thuẫn, tức là không thiết kế tỉ mỉ mà

là đem phác thảo thiết kế chưa hoàn thiện giao trực tiếp cho công nhân sản xuất, do công nhân tiến hành phát huy tự do, kết quả cuối cùng của nó ở trạng thái mất khống chế Một tình huống khác là người thiết kế lặp đi lặp lại công tác thiết kế kết cấu giản đơn và đơn điệu, tiêu tốn nhiều tinh lực của nhân viên thiết kế, lại khó tránh khỏi sai sót.Con đường để giải phóng thiết kế ra khỏi lao đọng lặp đi lặp lại cơ giới là tiến hành thiết kế hệ thống hóa, lấy một số lượng nhất định chi tiết, cụm chi tiết và modul sản phẩm mộc tiêu chuẩn hóa cấu thành một hệ thống sản phẩm mộc nào đó của xí nghiệp, thông qua tổ hợp

có hiệu quả cao của nó để thỏa mãm các loại yêu cầu, lấy bất biến ứng vạn biến, đem sản phẩm không tiêu chuẩn giảm đến giới hạn thấp nhất, phương pháp này có thể đồng thời làm dịu áp lực do chủng loại sản phẩm quá nhiều,

số lượng quá ít gây cho hệ thống sản xuất

2.2 Các nguyên lý cơ bản trong tạo hình sản phẩm mộc

2.2.1 Tỉ lệ và kích thước

Tỉ lệ đồ gia dụng bao gồm nội dung của 2 mặt, một mặt là khối hoàn chỉnh quan hệ kích thước giữa dài, rộng, cao của bản thân cục bộ của nó.Mặt khác là khối hoàn chỉnh và cục bộ, hoặc là quan hệ kích thước giữa các cục bộ với nhau

Trang 10

Sản phẩm mộc khác nhau có hình thức công năng khác nhau, hình thức công năng lại quyết định sản phẩm mộc có tỷ lệ khác nhau Nếu phối hợp tốt với hình thức công năng có thể thu được tỷ lệ tốt, tạo ra hiệu quả đẹp

Kích thước ngoại quan của một vật thể chịu ảnh hưởng của kích thước các vật thể khác trong môi trường nó tồn tại

Hình của tỉ lệ tương xứng, có thể tạo cho cảm giác đẹp, đã là đồ gia dụng đẹp đều có quan hệ tỉ lệ phối hợp tốt Vì vậy, nghiên cứu quan hệ tỉ lệ của đồ gia dụng là mấu chốt, chọn đẹp, hình thức đồ gia dụng

Kích thước ngoại quan của một vất thể chịu ảnh hưởng của kích thước các vật thể khác trong môi trường nó tồn tại

Khi nói về hình thái không gian, cần xem xét 3 tỉ lệ khó Đồng thời tỉ lệ cũng chịu ảnh hưởng của khoảng cách nhìn thậm chí cách nhìn lệnh lạc văn hóa, có thể phía nam cho rằng tỷ lệ thỏa đáng, ở phía bắc cảm thấy quá mỏng manh, cũng có thể người thành thị cho rằng đồ gia dụng từ các vùng rừng núi làm ra lãng phí gỗ

2.2.2 Cân bằng

Cân bằng ở đây là sự cân bằng về thị giác và có thể xử lý bằng nhiều

cách: bằng số lượng, mức độ hay vị trí để làm giảm cân bằng trong thiết kế

mỹ thuật Có 3 cách hiểu về cân bằng đó là: cân bằng đối xứng trục, cân bằng đối xứng tâm, cân bằng bất đối xứng

Cân bằng đối xứng trục là kết quả của việc sắp xếp các yếu tố tiêu

chuẩn, sự tương xứng trong hình dáng, kích thước và vị trí liên quan bởi một đường trục chung

Cân bằng đối xứng tâm là kết quả của việc tổ chức các yếu tố xung

quanh điểm trung tâm Nó tạo ra một yếu tố tập trung nhấn mạnh trung tâm… Các yếu tố có thể hội tụ vào hoặc tạo ra từ vị trí trung tâm này

Cân bằng bất đối xứng được công nhận là sự thiếu tương xứng về kích

cỡ, hình dáng, màu sắc hay mối liên hệ vị trí Giữa các yếu tố đồng nhất thì một bố cục không đối xứng lại kết hợp chặt chẽ các yếu tố không giống nhau

Trang 11

tạo sự cân bằng, nhưng nhìn chung cân bằng bất đối xứng tạo cảm giác sinh động khó thực hiện sự cân bằng

Bố trí bất đối xứng cần chú ý đến tính hệ thống của các phần để tạo ra sự cân bằng về thị lực Sự cân bằng này cũng có tính quy luật, xong chỉ những

người nhạy cảm mới cảm giác được

2.2.3 Hài hòa

Sự hài hoà có thể được định rõ như sự phù hợp hay sự hài lòng về các thành phần trong một bố cục Trong khi sự cân bằng đạt được cái thống nhất thông qua sự sắp xếp cẩn thận giữa các yếu tố giống nhau và không giống nhau, nguyên lý hài hoà đòi hỏi sự chọn lọc kỹ lưỡng các yếu tố, chia ra những nét riêng hay những đặc tính chung như hình dáng, màu sắc, chất liệu

để tạo ra sự hài hoà

2.2.5 Tương phản

Tương phản chính là nhấn mạnh sự khác biệt, biểu thi sự tôn thêm lẫn

nhau, có sự đặc trưng tươi sáng đột xuất

Không có tương phản (so sánh), thì không có sinh khí, hình tượng sẽ không tươi sáng Có tương phản, mới có thể có hình tượng Không có vuông

sẽ không có tròn, không có trắng cũng không có đen Trong thế giới tự nhiên, khái niệm cong thẳng, động tĩnh, cao thấp, to nhỏ, lạnh ấm của màu

Trang 12

đến chi tiết, từ đơn chiếc đến thành nhóm, thường sử dụng thủ pháp xử lý so sánh tạo thành thể thống nhất giàu sự thay đổi, như so sánh của hình dạng vuông tròn, đóng mở của không gian, lạnh ấm của màu sắc, thô mịn của chất liệu…

2.2.6 Nhấn mạnh

Khi thiết kề đồ gia dụng không có yếu tố chi phối sẽ có thể bình thường không có gì là lạ và đơn điệu nếu có quá nhiều yếu tố chi phối thiết kế lại lộn xộn, các phụ lấn át cái chính Do vậy, khi thiết kế thông qua kích thước to nhỏ của hàm ý sâu sa, hình thái đặc biệt, hoặc màu sắc, độ sáng và vân thớ so sánh, có thể làm cho yếu tố trọng yếu hoặc loại sắc tố đặc biệt nào đó thành trọng điểm của thị giác

Những yếu tố là điểm nhấn có thể xuất hiện ở trung tâm của không gian hoặc trung tâm tổ chức đối sứng nó có thể bố trí lệch hoặc độc lập với các yếu

tố khác, cũng có thể là điểm cuối cùng xếp hàng theo thứ tự đường hoặc xếp hàng theo thứ tự vận động nào đó

2.2.7 Tính lặp lại và vận luật

Nguyên lý thiết kế nhịp điệu là sự lặp đi lặp lại của các yếu tố Sự lặp lại không chỉ tạo nên sự thống nhất thị giác mà còn tạo nên tính chuyển động mà mắt và tâm trí người quan sát có thể hướng theo đó Nó có thể được dùng để thiết lập một nhịp điệu cho những phần chính hoặc để xác định một tuyến chất hay đường viền trang trí

Vận luật trên thiết kế đồ gia dụng dựa vào lặp lại của yếu tố không gian

và thời gian.Lặp lại này không chỉ sáng tạo chỉnh thể trên thị giác mà còn dẫn dắt mắt và tim người quan sát trong cùng 1 hình vẽ cấu taojtheo một con

đường tiến hành vân động, liên tục mà có tiết tấu, vân luật làm tăng tính hấp dẫn tạo hình làm cho con người có cảm giác đẹp của mừng vui thanh thản sảng khoái Thiết kế không vận luận sẽ lộ ra cứng nhắc đơn điệu.Vận luật có thể nhờ hình dạng, màu sắc, đườn nét hoặc trang sức bộ phận nhỏ để thu

được

Trang 13

 Vận luật liên tục

 Vận luật tiện biến

 Vận luật đan xen

2.3 Liên kết cơ bản của sản phẩm mộc

Một sản phẩm mộc bao gồm nhiều chi tiết, bộ phận liên kết lại với nhau Các chi tiết hay bộ phận này được gọi chung là các cấu kiện cơ bản Các cấu kiện cơ bản này liên kết với nhau bằng một mối liên kết nào đó, mối liên kết ấy có thể do chính bản thân các cấu kiện có cấu tạo đặc biệt để liên kết với nhau (như liên kết mộng) hoặc do một linh kiện khác đóng vai trò liên kết các cấu kiện với nhau (liên kết đinh, liên kết vít, liên kết keo,…) Sau đây

là một số loại liên kết cơ bản

a Liên kết mộng

Mộng là hình thức cấu tạo có hình dạng xác định được gia công tạo thành ở đầu cuối chi tiết theo hướng dọc thớ nhằm mục đích liên kết với lỗ được gia công trên chi tiết khác của kết cấu

Cấu tạo của mộng có nhiều dạng, song cơ bản vẫn bao gồm: thân mộng

Trang 14

Trong sản xuất thường thấy có: liên kết giữa các thanh gỗ với nhau, dán ghép giữa các lớp ván mỏng, dán phủ mặt cho các chi tiết dạng tấm phẳng, dán cạnh…đều sử dụng bằng keo dán

Phương thức này có ưu điểm lớn là có thể tiết kiệm được gỗ, từ gỗ nhỏ tạo thành gỗ lớn, từ gỗ chất lượng kém tạo thành gỗ có chất lượng cao, có thể đảm bảo được sự ổn định của kết cấu, nâng cao chất lượng và cải thiện ngoại quan của sản phẩm

c Liên kết đinh

Đây là loại hình liên kết mà chủng loại vật liệu liên kết rất phong phú:

có đinh bằng kim loại, đinh gỗ và đinh tre, trong đó thường sử dụng nhất là đinh bằng kim loại Đinh bằng kim loại chủ yếu có đinh hình chữ T, đinh hình

∏…

Liên kết bằng đinh tròn rất dễ làm tổn hại đến kết cấu của gỗ mà cường

độ nhỏ, vì thế trong sản xuất đồ mộc ít sử dụng, chỉ sử dụng trong các vị trí liên kết bên trong, các vị trí không lộ trên bề mặt hoặc những vị trí mà không cần yêu cầu cao về ngoại quan, như dùng để cố định rãnh trượt của ngăn kéo Đinh tre và đinh gỗ là loại được sử dụng từ rất lâu đời và được phổ biến trong sản xuất các loại đồ mộc bằng thủ công của Trung Quốc Những loại đinh mang tính trang sức thường được dùng trong các loại sản phẩm đồ mộc làm từ gỗ mềm

Liên kết đinh là liên kết không thể tháo lắp nhiều lần Lực liên kết đinh

có quan hệ với chủng loại, khối lượng thể tích, độ ẩm của gỗ, đường kính, độ dài, phương hướng và độ sâu của đinh Ví dụ: lực bám đinh ở phần cạnh của ván dăm thấp hơn rất nhiều so với bề mặt của ván, do đó phần cạnh của ván dăm không thích hợp sử dụng liên kết bằng đinh

d Liên kết vít

Đây là liên kết lợi dụng phần thân vít xuyên qua hai chi tiết để liên kết chúng lại với nhau Vít là một loại được cấu tạo từ kim loại, chúng gồm hai loại là vít đầu tròn và vít đầu bằng Liên kết bằng vít thường không thể sử

Trang 15

dụng cho các kết cấu tháo lắp nhiều lần, sẽ ảnh hưởng đến cường độ liên kết Phần lộ ra bên ngoài của vít sẽ được sử dụng trong các liên kết như mặt bàn,

tủ, ván lưng, mặt ngồi, ngăn kéo… hoặc có thể để lắp đặt các chi tiết khác như tay nắm, khóa cửa…

Lực liên kết vít có quan hệ đến chủng loại, khối lượng thể tích, độ ẩm của gỗ nền; đường kính và độ dài của vít được thể hiện theo chiều ngang của thớ gỗ (vì cường độ theo chiều dọc tương đối thấp, tránh sử dụng)

e Liên kết bản lề

Bản lề là cấu kiện đặc biệt và có thể tháo, lắp nhiều lần Ngoài bản lề kim loại ra, còn có bản lề chế tạo bằng ni-lon và nhựa Yêu cầu đối với bản lề là: kết cấu chắc chắn, tin cậy, có thể tháo lắp nhiều lần, thao tác đơn giản, không ảnh hưởng đến công năng và ngoại quan của đồ gia dụng, có cường độ liên kết nhất định, có thể thoả mãn yêu cầu của kết cấu

Ghép bản lề là phương pháp ghép liên kết chủ yếu của đồ gia dụng kiểu tháo, lắp Nó ứng dụng rộng rãi ở ghế tháo, lắp và đồ gia dụng dạng tấm, dùng ghép bản lề có thể đơn giản hoá kết cấu và quá trình sản xuất sản phẩm, có lợi cho tiêu chuẩn hoá sản phẩm và thông dụng hoá cụm chi tiết, có lợi cho sản xuất công nghiệp hoá, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho đóng gói, vận chuyển

và cất giữ

f Các liên kết khác

Đây là các chi tiết liên kết được sản xuất từ kim loại, polyme, thuỷ tinh hữu cơ hoặc bằng gỗ,… Nó được chế tạo đặc thù và có thể tháo lắp nhiều lần

và cũng là một loại chi tiết phối hợp không thể thiếu trong sản xuất các loại

đồ mộc hiện đại Hiện nay thường sử dụng các chi tiết liên kết bằng kim loại

ở dạng như: kiểu xoắn ốc, kiểu lệch tâm và kiểu móc treo Đối với các chi tiết liên kết dạng này có yêu cầu như sau: kết cấu chắc chắn, thuận tiện cho việc tháo lắp nhiều lần, có thể điều tiết được mức độ chặt lỏng, dễ sản xuất, giá thành rẻ, hiệu quả lắp rắp cao, không làm tổn hại đến công năng và ngoại quan của sản phẩm, đảm bảo được cường độ của sản phẩm,…

Trang 16

Liên kết bằng các chi tiết liên kết là một phương pháp đã được sử dụng rộng rãi nhất trong sản xuất các loại đồ mộc tháo lắp được, đặc biệt là đồ mộc dạng tấm phẳng Hiện nay sử dụng các chi tiết liên kết có thể đạt đựơc mức

độ tiêu chuẩn hoá trong gia công đối với các chi tiết, tiện lợi cho việc lắp ráp đóng gói, vận chuyển và dự trữ đối với sản phẩm

2.4 Thiết kế công năng sản phẩm mộc

2.4.1 Yếu tố con người trong thiết kế sản phẩm mộc

Trong quá trình thiết kế sản phẩm mộc thì yếu tố con người liên quan chặt chẽ với kích thước sản phẩm Bởi vì trong quá trình thiết kế luôn phải tính đến sự phù hợp của sản phẩm với kích cỡ của con người vào từng lứa tuổi, từng đối tượng Kích thước cơ thể của người sử dụng là cơ sở quan trọng

để thiết kế sản phẩm, nó ảnh hưởng đến hình dáng, sự cân đối và tỷ lệ của sản phẩm Do đó, khi thiết kế, trước tiên sản phẩm phải phù hợp với kích cỡ của người sử dụng Muốn đạt được điều đó ta phải dựa vào các yếu tố thuộc về con người như: yếu tố nhân trắc học, thị hiếu thẩm mỹ, các chỉ dẫn của Ergonomics kết hợp với phương pháp cơ thể đồ

Đồ gia dụng không chỉ cần thoả mãn yêu cầu của nhân loại trên công năng cơ bản, đồng thời nó còn có lợi cho sức khoẻ sinh lý và tâm lý của con người Nói trên một ý nghĩa nào đó, thiết kế đồ gia dụng tức là thiết kế sinh hoạt, ở đây bao hàm hai lớp hàm nghĩa, một là công dụng sinh hoạt, hai là tính dễ chịu Để thực hiện mục tiêu này, cần phải phân tích khoa học hành vi của người và đặc tính sử dụng của đồ gia dụng Lý luận công học cơ thể người (Human Enginerring, cũng gọi là Human Factors, hoặc Ergonomics )

là căn cứ khoa học để chúng ta tiến hành thiết kế công năng đồ gia dụng Hiểu Ergonomics cơ thể không nên ở nghĩa hẹp, Ergonomics cơ thể người nghĩa hẹp chủ yếu chú trọng một phía đo kích thước cơ thể, dù đây là quan trọng và không thể thiếu, nhưng đối với thiết kế đồ gia dụng là không đủ Lấy toàn bộ sinh lý và tâm lý của người làm mục tiêu, tiến hành nghiên cứu động thái Ergonomics trên nghĩa rộng cần phải trở thành kim chỉ nam của thiết kế công

Trang 17

năng đồ gia dụng, thiết kế làm ra từ đây mới có sức sống chịu được khảo nghiệm thời gian và địa phương

2.4.2 Thiết kế công năng sản phẩm bàn ăn

Bàn là loại đồ gia dụng cần thiết có tác dụng bổ trợ cho sinh hoạt và làm việc của con người Để đảm bảo được những công dụng khác nhau, mà chủng loại của chúng gồm có: bàn ăn, bàn học, bàn vẽ, bàn hoá trang, bàn chà, bàn nhỏ đặt trên giường

Công năng cơ bản của những loại đồ gia dụng này là phù hợp cho con người tiến hành các hoạt động thao tác, nó cũng có được những điều kiện hỗ trợ thuận lợi tương ứng cho quá trình thao tác của con người, đồng thời lại có thêm chức năng để bày đặt các đồ vật khác Do vậy, nó có mối quan hệ trực tiếp tới phạm vi hoạt động của cơ thể Một loại được lấy kích thước khi con người ngồi làm tiêu chuẩn, như bàn viết, bàn đọc sách, bàn ăn,…, chúng được gọi chung là bàn được sử dụng khi ngồi thao tác

Kích thước của bàn gồm: Độ cao của bề mặt bàn, độ rộng bề mặt bàn, đường kính bề mặt bàn, độ sâu của bề mặt bàn, độ rộng phần không gian tĩnh phía dưới mặt bàn, độ rộng của phần bên trong của ngăn kéo cạnh, độ cao từ cạnh dưới của gương tới mặt đất, độ cao từ cạnh trên của gương tới mặt đất,

và một số kích thước của các bộ phận phân cách nhằm thoả mãn những yêu cầu sử dụng khác, tất cả những kích thước này đều được quy định trong các tiêu chuẩn quốc gia tương ứng

Độ cao của mặt bàn có mối quan hệ mật thiết tới trạng thái và sự mệt mỏi của cơ bắp khi con người hoạt động Mặt bàn quá cao sẽ dễ ảnh hưởng đến xương sườn và có thể tạo thành bệnh cận thị cho mắt, từ đó làm giảm hiệu quả của công việc; ngoài ra mặt bàn quá cao còn có thể dẫn đến những tư thế ngồi không bình thường như khuỷu tay thấp hơn mặt bàn hay vai bị nhô lên cao, từ đó làm cho các cơ bắp bị kéo căng tạo ra sự mệt mỏi cho cơ thể

Bề mặt bàn quá thấp cũng sẽ ảnh hưởng không tốt đến xương sống của cơ thể,

dễ làm cho phần bụng bị nén ép, khó khăn cho quá trình hô hấp cũng như sự

Trang 18

tuần hoàn máu,…, làm cho cơ lưng bị kéo căng dẫn đến cảm thấy mệt mỏi.Vì vậy, độ cao thích hợp của bề mặt bàn cần phải duy trì được mối quan hệ phối hợp với độ cao bề mặt ngồi của ghế, mà sự chênh lệch về độ cao giữa chúng được căn cứ vào tỷ lệ về độ cao của cơ thể khi ngồi để thiết kế Do đó, phương pháp thiết kế hợp lý độ cao bề mặt bàn là đầu tiên phải có được độ cao của bề mặt ghế ngồi, sau đó mới cộng thêm độ chênh lệch về kích thước giữa bề mặt bàn và bề mặt ghế ngồi, để thuận tiện có thể được tính theo công thức sau:

Độ cao bề mặt bàn = độ cao bề mặt ghế ngồi + độ chênh lệch giữa bàn

và ghế (thông thường bằng 1/3 độ cao của bề mặt ghế ngồi)

Kích thước bề mặt bàn: kích thước bề mặt bàn nên được căn cứ vào phạm vi hoạt động của tay theo chiều ngang khi con người ở tư thế ngồi, đồng thời cũng phải xem xét đến tính chất và kích thước của bề mặt bàn để có thể đặt được các vật thể khác Nếu như là loại bàn làm việc đa công dụng mà lại cần đặt nhiều các loại vật phẩm khác, thì còn phải bố trí thêm phần phụ trợ đối với bề mặt bàn Đối với loại bàn làm việc dùng cho hai người ngồi đối diện hoặc hai người ngồi song song, kích thước bề mặt bàn nên xem xét đến

sự không ảnh hưởng lẫn nhau về biên độ hoạt động của hai người (thường dùng tấm chắn để ngăn cách), trong trường hợp ngồi đối diện còn cần phải xem xét đến việc tăng thêm chiều rộng của bề mặt bàn, phải đảm bảo phù hợp với yêu cầu vệ sinh khi nói chuyện đối diện với nhau Tóm lại, cần phải căn

cứ vào sự thăng bằng của tay và biên độ hoạt động để xem xét đến kích thước của bề mặt bàn

Đối với loại bàn ăn và bàn hội nghị, nên xem xét đến độ rộng xung quanh mà con người chiếm dụng để thiết kế kích thước của mặt bàn, khoảng cách thích hợp giữa người ngồi xung quanh được lấy theo 600-700mm để tính, thông thường có thể được giảm thấp xuống tới phạm vi từ 550-580mm Kích thước của mặt bàn dùng cho nhiều người chính là được căn cứ theo định mức tiêu chuẩn này để tính

Trang 19

Phần không gian dưới mặt bàn: để đảm bảo cho chân có được chỗ đặt

và hoạt động, độ cao của phần không gian dưới mặt bàn nên cao hơn so với phần đầu gối khi ngồi vắt chéo, đồng thời cũng phải có được một lượng dư thích hợp cho phần đầu gối hoạt động lên xuống Do đó, tấm đáy của ngăn kéo bàn không được quá thấp, khoảng cách từ bề mặt bàn đến tấm đáy của ngăn kéo không được lớn hơn 1/2 so với độ chênh lệch về chiều cao giữa bàn

và ghế, tức là nó thường vào khoảng 120-160mm Vì vậy, phần không gian giữa đường đáy của ngăn kéo tới bề mặt ngồi của ghế ít nhất phải là 178mm, chiều rộng và chiều sâu của vùng không gian phía dưới mặt bàn phải đảm bảo được mức độ hoạt động tự do và duỗi thẳng của hai chân

Dưới đây là bảng kích thước cơ bản của bàn ăn.( Bảng 2.1.)

Trang 20

Bảng 2.1 Kích thước cơ bản của bàn ăn, mm

Loại

bàn

Độ rộng

B, độ dài cạnh

bên B (hoặc đường kính D)

Độ sâu

T

Độ cao phần không gian tĩnh trung gian H

Chênh lệch về đường kính (D- d)/2

Cấp sai

số về độ rộng B

độ dài cạnh bên

của bàn vuông

Trang 21

2.4.3 Thiết kế công năng sản phẩm giá sách và giá móc áo treo

Như chúng ta đã biết giá sách nói chung vá giá sách cổ điển nói riêng là loại sản phẩm mộc dạng cất giữ đồ vật cũng được gọi là loại đồ gia dụng mang tính dự trữ, nó được sử dụng để cất giữ những vật dụng dùng trong sinh hoạt hàng ngày, hoặc đồ nông cụ, sách vở,… Căn cứ vào việc dự trữ các đồ vật là khác nhau, có thể được phân ra thành 2 loại là tủ và giá đựng Loại tủ chủ yếu có: tủ quần áo lớn, tủ quần áo nhỏ, tủ đầu giường, tủ tường, tủ sách,

tủ gương, tủ đựng rượu, tủ đựng thức ăn, tủ bếp, tủ tổng hợp, tủ trưng bày, tủ đựng các công cụ,…; loại giá đựng chủ yếu có: giá sách, giá đựng thực phẩm, giá trưng bày, giá trang sức, giá móc áo mũ, giá chắn, bình phong,…Những loại tủ này cho dù là có công dụng và kích thước ngoại hình khác nhau, nhưng

về cơ bản chúng đều được tổ thành từ chân tủ, nóc tủ, hồi và vách đứng, vách ngang, các bộ phận khác có thể có hoặc không như: Ngăn kéo, bàn kéo,cửa mành…

Kích thước của sản phẩm cất đựng

Việc sắp xếp và cất giữ các loại đồ dùng hàng ngày của đời sống con người cần được căn cứ vào phạm vi có khả năng hoạt động của cơ thể, đồng thời kết hợp với mức độ đơn giản hay phức tạp của các loại đồ dùng để tiến hành xem xét tới vị trí cất giữ Để xác định được chính xác về độ cao hay phần không gian hợp lý của các loại tủ, giá đựng, đầu tiên cần phải hiểu rõ được phạm vi hoạt động cũng như khả năng hoạt động của cơ thể con người Điều đó nói rằng, giữa cơ thể và con người với đồ gia dụng sẽ hình thành một mối quan hệ gián tiếp về kích thước Mối quan hệ về kích thước này là khi con người ở trạng thái đứng, biên độ hoạt động lên xuống của cánh tay có thể được phân ra thành biên độ hoạt động tốt nhất và biên độ giới hạn mà nó có thể hoạt động được bình thường (hình 2.2)

Trang 22

Tìm hiểu về kích thước tủ trước tiên cần xét đến độ cao của tủ

Độ cao: độ cao của loại đồ gia dụng dùng để cất giữ đồ vật được căn cứ vào kích thước khi con người cất hoặc lấy đồ vật để quyết định, có thể phân thành 3 khu vực (như hình 2.3): khu vực thứ nhất là từ mặt đất đến đầu ngón tay khi người đứng buông thẳng tay, tức là khu vực này có kích thước nhỏ hơn 650mm, đây là khu vực không thuận tiện cho quá trình cất giữ, con người bắt buộc phải ngồi xổm để thao tác, thông thường nó được dùng để cất giữ những loại đồ vật nặng ít sử dụng; khu vực thứ hai là khoảng cách mà lấy vai làm trục, tính từ đầu ngón tay duỗi thẳng xuống phía dưới đến đầu ngón tay

dơ thẳng lên cao (phạm vi hoạt động lấy cánh tay làm bán kính), độ cao của

nó thường từ 650-1850mm, khu vực này là khu vực thuận tiện nhất cho quá trình cất giữ đồ vật, cũng là khu vực có tần số sử dụng cao nhất, để tiết kiệm diện tích mặt đất, thì có thể thiết kế thêm khu vực thứ 3, đây là khu vực có độ cao lớn hơn 1850mm, thông thường được đặt những đồ vật qua mùa như chăn bông, áo rét,…

Độ rộng và độ sâu: độ rộng và độ sâu của loại đồ gia dụng dùng để cất giữ đồ vật như tủ, giá,…, nó được quyết định dựa vào những nhân tố như loại

đồ vật cần cất giữ, số lượng, phương thức cất giữ và bố cục của phần không gian nội thất Thông thường, độ rộng của thân tủ lấy 800mm làm đơn nguyên

Hình2 1 Ghi chú kích

thước cơ bản của bàn trang

điểm

Hình 2.2 Kích thước lớn nhất mà con người có thể với tới (mm)

Hình2.3 Phân khu về kích thước đối với đồ gia dụng dùng để cất giữ đồ vật (mm)

Trang 23

cơ bản để tính, độ sâu của tủ quần áo là 550-600mm, tủ sách là 400-450mm Những kích thước này là kết quả của sự xem xét tổng hợp giữa kích thước của

đồ vật cần cất giữ với tỷ lệ của loại vật liệu khi sản xuất ra chúng

Và dưới đây là bảng kích thước của tủ sách (Bảng 2.2.)

Bảng 2.2 Kích thước cơ bản của tủ sách và tủ văn thư, mm

Loại

tủ

Độ cao không gian tĩnh H 1

Độ cao tĩnh

so với mặt đất H 3

Kích

thước

Cấp sai

số

Kích thước

Cấp sai

số

Kích thước

Cấp sai

số

(1) (2) Chân

lộ

Chân bao

1200 1800-

Trang 24

mới đã ra đời mang nhiều phong cách khác nhau, thể hiện sự sáng tạo, độc đáo, năng động và hiện đại, và chúng có thể được sử dụng trong nhiều không gian nội thất khác nhau.Những sản phẩm gắn liền với con người với cuốc sống hàng ngày sẽ được sử dụng nhiều hơn, nguồn vật liệu sử dụng phong phú hơn,… các loại bàn, tủ, giường, … là một trong những sản phẩm như vậy chúng ta thử nghĩ xem nếu một can hộ nhỏ hay một biệt thự lớn mà thiếu các sản phẩm mộc gia dụng thì làm sao nó đẹp được, có một tòa nhà đẹp mà nội thất không có, đồ đạc sắp xếp không có trật tự thì vẻ đẹp bên ngoài đó không hữu dụng, không giữ vai trò tạo điểm nhấn cho căn phòng nữa…

Trang 25

Chương 3

CƠ SỞ THỰC TIỄN

Như chúng ta đã thấy, một không gian nội thất hoàn thiện không chỉ đẹp mà còn phải đáp ứng được tối ưu các tiện ích cho con người Đối với những sản phẩm mộc cũng vậy, khi đặt chúng vào một không gian nội thất thì

nó phải làm cho không gian đó trở lên đẹp hơn, với nhiều công năng tiện ích hơn, đáp ứng được những yêu cầu phức tạp của con người Sau đây tôi xin giới thiệu một số mô hình sản phẩm mộc nhóm bàn, tủ

3.1 Giới thiệu một số mô hình sản phẩm mộc

3.1.2 Nhóm sản phẩm bàn ăn

Giống như những sản phẩm mộc khác, nhắc tới bàn ăn là nhắc tới sự đa dạng phong phú về chủng loại, hình dạng và chất liệu với những kiểu dáng khác nhau mang đầy những nét cá tính đặc chưng thể hiện rõ phong cách của nhà thiết kế Các bạn có thể thấy rõ điều này khi tìm hiểu về những mẫu sản phẩm tôi đưa ra dưới đây

Sản phẩm được tạo ra với sự chú ý của tùng chi tiết cho mỗi bước đi , với những chân tiện của cả bàn và ghế cực kỳ cuốn hút cùng với sự kết hợp hài hòa của màu socola sản phẩm với màu trắng nhẹ nhàng của căn phòng làm cho chúng thêm cứng cáp, mạnh mẽ và cực kỳ xinh đẹp, chính vẻ đẹp đó làm không gian phòng ăn không kém phần sang trọng

Trang 26

Đến với những phong cách đơn giản chúng ta nghĩ sao ?

Sự giản đơn làm cho cuộc sống thêm nhẹ nhàng

Sự đơn giản, mộc mạc không hẳn lúc nào cũng nhàm chán và sản phẩm trên đã chứng minh điều đó,đây là một thiết kế đơn giản với kích thước chân giảm dần và chuyển tiếp khi tiếp xúc với sàn, khả nhăng giao hòa đến bất ngờ giữa các chi tiết thẳng với uốn lượn của các chi tiết cong trong những chiếc ghế đã tạo nên những nét độc đáo thú vị trong sản phẩm

Hình 3.2.Hình vẽ cho thấy sự đơn giản nhẹ nhàng

Trang 27

Hình 3.3 Hình vẽ minh họa sản phẩm thiết kế thanh thoát giản dị

Phong cách đơn giản nhưng đầy thuyết phục, với chất liệu kính ở mặt bàn làm cho không gian thêm sáng lạng, trong trẻo cùng với gam màu của gỗ xoan đào đậm nét và sẽ hấp dẫn hơn khi những món ăn được bày trên đó

Các bạn nghĩ sao về sản phẩm này? với tôi đây đúng là sự kết hợp ngẫu nhiên lý thú mà một đồ mộc có thể làm được, chỉ với một góc trong phòng ăn chúng ta có thể đặt một bàn ăn tại đây vừa có thể tiết kiệm diện tích lại làm tăng sự chú ý của mọi người

Hình 3.4 Bản vẽ là sự phối hợp ăn ý

Trang 28

Hình 3.5 Hình ảnh bàn ăn kiểu trẻ trung, phong cách

Sản phẩm mộc hiện đại,trẻ chung để lại đặc trưng ở tính công năng tiện ích cho con người, tính công nghệ, tính kính tế, tuy nhiên nó cũng không làm mất đi tính thẩm mỹ của sản phẩm mộc

Với trí tưởng tượng phong phú, khả năng sáng tạo, phán đoán thiên tài của loài người mà hàng loạt các mẫu mã sản phẩm mới ra đời, thể hiện sự bứt phá trong ngành thiết kế đồ gỗ

Không quá công phu, không nhiều chi tiết nhưng với những

Hình 3.6 Hình vẽ minh họa thiết kế thật mập mạp và cứng cáp

Trang 29

đường cong mềm mại, với kiểu dáng mới mẻ thanh cao bộ bàn ghế này đã thuyết phục đông đảo người sử dụng

Chúng ta cùng đến với sản phẩm tiếp theo trong bộ sưu tập này nhé!

Chúng ta nghĩ sao khi hai không gian phòng ăn và phòng khách dặt tại một vị trí? Tôi tin rằng có rất nhiều ý kiến cho rằng căn phòng sẽ thêm hẹp, không phù hợp, không thẩm mỹ thậm chí còn khó chịu, tôi lại không nghĩ vậy khi một không gian nội thất được sắp xếp bố trí cân đối,có tô điểm thêm các sản phẩm mang lại cảm gác rộng và đặc biệt là với việc kết hợp tô điểm của các sản phẩm nhỏ làm cho không gian thêm lộng lẫy, thi vị

Mỗi không gian nội thất đều mang phong cách rất riêng rất sống động

và quyến rũ,để tạo nên những không gian đó sự có mặt của các sản phẩm mộc

là không thể thiếu.Nội thất phòng ăn là một trong những không gian mà ta cần chú ý để góp phần nâng cao chất lượng trong bữa ăn, và sự hiện diện của những bộ bàn ăn mang những phong cách riêng, đã làm được điều đó

Hình 3.7 Hình vẽ minh họa sản phẩm thiết kế mang phong cách mới

Trang 30

3.1.2 Nhóm sản phẩm tủ sách cổ điển và giá móc treo

Dời khỏi không gian nội thất phòng ăn, chúng ta hãy cùng tim hiểu về phòng khách và phòng ngủ với những đồ vật cất đựng phong phú mà điển hình là những loại tủ sách, tủ quần áo, hay giá móc áo…

Với kiểu dáng đơn giản mà người ta tìm thấy trong những sản phẩm dưới đây:

Hình 3.8.Hình ảnh đơn giản mà không thiếu phần hấp dẫn

Không quá cầu kỳ trong chi tiết, không dàn dựng những chi tiết phức tạp, song những sản phẩm này đã có sức thu hút đến kỳ lạ bởi những nét đơn giản mà các nhà thiết kế đã tạo ra Ngoài chức năng cất giữ sách vở và đồ dùng học tập, những chiếc tủ này còn được sử dụng là sản phẩm để cất giữ đồ trang trí, vật lưu niệm hay chỉ đơn giản là những chiếc ly, chiếc lọ từ đó tạo điểm nhấn trong căn phòng nhà bạn làm cho nội thất đồ đạc thêm phong phú

Trang 31

Hình 3.9 Bản vẽ với nét mộc mạc lý thú

Tìm đến những sản phẩm cổ điển ta bắt gặp những đường nét hoa văn vô cùng tinh sảo, chính xác, đầy quyến rũ, đòi hỏi người thiết kế phải vô cùng khéo léo, tinh tế mới có thể tạo ra những sản phẩm như vậy

Ngày đăng: 22/06/2021, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w