1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh

122 649 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 5,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quyết định số 1831/QĐ-TTg ngày 09 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Những số liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất cứ một luận văn nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Bắc Ninh, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hậu

Trang 4

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt luận văn này, ngoài những cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của Ban lãnh đạo Học Viện Nông Nghiệp Hà Nội, Khoa Kinh tế và PTNT, Bộ môn Kinh tế tài nguyên Môi trường và giáo viên hướng dẫn, cô Vũ Thị Phương Thụy Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi

đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ, động viên của gia đình, đồng nghiệp, bạn bè Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và ghi nhận những tình cảm quý báu đó

Một lần nữa, tôi xin được trân trọng cảm ơn và chúc sức khoẻ, hạnh phúc, thành đạt tới tất cả mọi người!

Bắc Ninh, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hậu

Trang 5

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv

MỤC LỤC

2.1.2 Đặc điểm và vai trò của phát triển du lịch văn hóa 14

2.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch văn hóa 22 2.2 Cơ sở thực tiễn về việc phát triển du lịch văn hóa 24 2.2.1 Tổng quan tài liệu phát triển du lịch tại Việt Nam 24 2.2.2 Tổng quan về phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh Bắc Ninh 33

Trang 6

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v

3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển du lịch văn

4.1 Thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh Bắc Ninh 54 4.1.1 Khái quát tài nguyên du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh 54 4.1.2 Tình hình đầu tư liên quan đến du lịch văn hóa 63 4.1.3 Tình hình hoạt động du lịch văn hóa – xã hội Bắc Ninh 65 4.2 Đánh giá kết quả và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du

4.2.1 Kết quả phát triển du lịch văn hóa tại các huyện, TX, TP

Trang 7

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi

EWEC East West Economic Corridor – Hành lang kinh tế đông tây FDI Foreign direct investment – Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GMS Greater Mekong Subregion – Tiểu vùng sông Mê kong mở rộng MICE Meeting Incentive Conference Event – Du lịch kết hợp hội nghị,

hội thảo, sự kiện, du lịch khen thưởng

UNESCO The United Nations Educaitional, Scientific and Cultural

Organisation - Tổ chức của Liên hợp quốc về các vấn đề giáo dục, khoa học và văn hoá

UNWTO World Tourism Organsation -Tổ chức du lịch thế giới

VHTT và DL Văn hóa thể thao và Du lịch

Trang 8

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii

DANH MỤC BẢNG

2.2 Số lượng khách du lịch quốc tế tháng 12 và cả năm 2013 30 2.3 Lượng khách du lịch nội địa Việt Nam và doanh thu từ du lịch giai đoạn

3.1 Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm 31/12 39

3.3 Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành phân theo

3.4 Giá trị sản xuất và cơ cấu các ngành kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn

3.7 Thống kê số lượng các loại mẫu điều tra năm 2014 51 4.1 Số di tích lịch sử được xếp hạng theo đơn vị hành chính 54 4.2 Số di tích được xếp hạng phân theo cấp trung ương và địa phương 54

4.5 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho các điểm, khu du lịch văn hóa tỉnh Bắc

4.6 Tổng lượng khách đến du lịch Bắc Ninh (2010 – 2014) 67 4.7 Số lượng cơ sở lưu trú du lịch của tỉnh Bắc Ninh (2010 – 2014) 68 4.8 Lao động trong ngành du lịch tỉnh Bắc Ninh (2010 - 2014) 70 4.9 Thống kê các di tích và lễ hội tại các huyện, xã điều tra năm 2014 72 4.10 Lượng khách du lịch đến các huyện điều tra năm 2011 – 2013 73 4.11 Lượng khách du lịch đến các huyện điều tra 2011-2013 phân theo độ

4.12 Cơ cấu chi tiêu khách du lịch đến các huyện nghiên cứu 75

Trang 9

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii

4.13 Doanh thu từ hoạt động du lịch của các huyện, TP điều tra 2010-2014 77 4.14 Tổng hợp các cở sở kinh doanh du lịch tại 3 huyện, thị điều tra năm 2013 78

4.16 Tổng hợp công đức tại các di tích của các huyện, xã điều tra 2011 - 2014 82 4.17 Số lượng khách du lịch tại các điểm điều tra theo quý năm 2013 83 4.18 Quy hoạch các khu du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh đến 2015 84 4.19 Số lượng và tỷ lệ ý kiến trả lời về sự hài lòng của khách du lịch đối với

4.22 Dự kiến nhu cầu lao động phục vụ du lịch 2015-2020 97

Trang 10

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ix

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Trang 11

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1

PHẦN I

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên du lịch phong phú bao gồm

cả tài nguyên du lịch văn hóa và du lịch sinh thái, tự nhiên Nền văn hóa hơn

4000 năm mang đậm bản sắc Á Đông đã để lại nhiều di tích lịch sử và những nét văn hóa đặc trưng riêng từng vùng miền Đó là điều kiện thuận lợi để Việt Nam khai thác, phát triển ngành kinh tế du lịch và đặc biệt là du lịch văn hóa Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng cao đặc biệt là khách quốc tế đang có xu hướng đi tới các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương Do vậy, Việt Nam cần tận dụng cơ hội này để phát triển du lịch – “ ngành công nghiệp không khói”

Đối với ngành du lịch Việt Nam, những năm gần đây đã có những khởi sắc,

số lượng khách du lịch trong và ngoài nước tăng lên nhanh chóng Theo số liệu của Tổng cục Du lịch nếu như năm 2008 ngành du lịch đón hơn 4 triệu lượt khách quốc tế thì đến năm 2013 đã đón 7,5 triệu lượt Doanh thu từ du lịch vì thế cũng tăng lên nhanh chóng, năm 2009 đạt xấp xỉ 70 nghìn tỷ đồng thì năm 2013 đạt 200 nghìn tỷ đồng, tăng lên gấp 3 lần Tuy nhiên ngành du lịch Việt Nam phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của mình Ngành du lịch mới chỉ đóng góp 5,6% vào GDP (Tổng cục du lịch, 2013) Các sản phẩm, dịch

vụ du lịch còn nghèo nàn, chất lượng không cao, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu của khách, Hơn nữa, chúng ta còn phải đối mặt với những thách thức từ việc phát triển du lịch như ô nhiễm môi trường, phá hoại cảnh quan hay làm mất đi các giá trị văn hóa truyền thống Đó là thực trạng chung của ngành du lịch Việt Nam hiện nay và ngành du lịch tỉnh Bắc Ninh cũng không nằm ngoài thực trạng đó

Ở Bắc Ninh không có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng phục vụ du lịch như nhiều tỉnh thành khác nhưng nơi đây lại có thế mạnh về tài nguyên du lịch nhân văn Xứ Kinh Bắc là nơi có rất nhiều các di tích lịch sử, văn hóa cùng các

Trang 12

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2

lễ hội truyền thống và các làng nghề thủ công Hiện nay toàn tỉnh có 427 di tích được xếp hạng, trong đó có 191 di tích được xếp hạng cấp quốc gia (Sở VHTT

và DL tỉnh Bắc Ninh, 2014), ngoài ra còn hàng trăm lễ hội lớn nhỏ trong tỉnh Trong quyết định số 1831/QĐ-TTg ngày 09 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã nêu rõ nhiệm vụ của ngành du lịch

là: “Phát triển gắn với việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, di

sản văn hóa, bảo đảm an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, thực hiện liên kết phát triển du lịch với các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và miền núi Bắc bộ Xây dựng Bắc Ninh trở thành một trong những trung tâm du lịch văn hóa lớn của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước”(UBND tỉnh Bắc Ninh, 2013)

Đồng thời, Bắc Ninh cũng là quê hương của các làn điệu dân ca Quan họ mượt mà, đằm thắm được UNESSCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm

2009 Đó là những điều kiện thuận lợi để Bắc Ninh phát triển ngành du lịch và trọng tâm là du lịch văn hóa Tuy nhiên so với tiềm năng và những tài nguyên vốn có của Tỉnh, ngành du lịch Bắc Ninh vẫn còn nhiều tồn tại và chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của mình Du lịch văn hóa chưa góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế của địa phương Vậy những yếu tố nào ảnh hưởng tới phát triển

du lịch văn hóa và làm thế nào để phát triển loại hình du lịch này tại tỉnh Bắc

Ninh Với những lý do đó, em đã chọn nghiên cứu đề tài “Phát triển du lịch văn hóa tại Bắc Ninh”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng phát triển du lịch văn hóa và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh, đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển du lịch văn hóa, góp phần phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Ninh

Trang 13

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch văn hóa;

- Đánh giá thực trạng phát triển các hoạt động và kết quả phát triển du lịch văn hóa tại Tỉnh Bắc Ninh Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch văn hóa;

- Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển du lịch văn hóa góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Ninh

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này thì nội dung của đề tài phải trả lời được các câu hỏi nghiên cứu như sau:

1 Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nào để nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh Bắc Ninh hiện nay?

2.Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh như thế nào?

3 Kết quả các hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh như thế nào?

4 Các yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển du lịch văn hóa của tỉnh?

5 Giải pháp thúc đẩy, phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh như thế nào?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: nghiên cứu các vấn đề kinh tế tổ chức liên quan đến du lịch và phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh

- Chủ thể nghiên cứu: Các tác nhân tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, quản lý du lịch văn hóa và khách du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Bắc Ninh và đưa ra một số phương hướng, giải pháp để phát triển loại hình du lịch này trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

* Phạm vi không gian: tập trung nghiên cứu ở huyện Tiên Du, huyện Thuận Thành, TX Từ Sơn và TP Bắc Ninh

* Phạm vi về thời gian: Nguồn số liệu thu thập phục vụ cho việc nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch trong 4 năm, từ 2010 đến 2013 và sơ bộ năm 2014

dự báo tài liệu nghiên cứu phương hướng giải pháp đề tài từ 2015 đến 2020

Trang 14

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4

về chỗ ăn, ở và các dịch vụ khác Như vậy hoạt động du lịch đã hình thành một

cách tự nhiên cho dù lúc ấy con người chưa có khái niệm về "du lịch" Dần dần

với sự phát triển của giao thông, kinh tế xã hội và việc xây dựng các công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật đã làm cho hoạt động du lịch ngày càng trở nên phổ biến Chính vì vậy mà có nhiều học giả, tổ chức đã nghiên cứu, tìm hiểu về

du lịch và đưa ra các khái niệm khác nhau (Lê Quỳnh Chi, 2007)

Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) du lịch được định nghĩa như sau:

“Du lịch là hoạt động của các cá nhân có liên quan đến việc đi đến và nghỉ lại ở ngoài môi trường sinh hoạt hằng ngày trong thời gian không quá một năm liên tục với mục đích nghỉ ngơi, công việc và các mục đích khác không liên quan đến hoạt động kiếm tiền ở nơi họ đến.”

Nhà nghiên cứu du lịch Mc Intosh và Goeldner (1990) thì định nghĩa:

"Du lịch là tổng hòa các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua

lại giữa du khách, các nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón du khách" Như vậy ông cho rằng du

lịch phải có 4 thành phần là: du khách, các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho khách, chính quyền tại điểm du lịch và dân cư địa phương

Trang 15

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5

Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại Roma – Italia, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa như sau về du

lịch : ‘‘Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế

bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ở ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.’’ Định nghĩa này là cơ sở

cho định nghĩa du khách đã được Liên minh quốc tế các tổ chức du lịch chính thức, tiền thân của tổ chức du lịch thế giới thông qua Trong định nghĩa này các tác giả đã gộp 2 phạm trù hoạt động du khách và hoạt động kinh tế thành một hệ thống nhân – quả (Lê Quỳnh Chi, 2007)

Ở Việt Nam cũng có nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa về du lịch Tuy nhiên, một quan điểm được coi là chính thống ở Việt Nam đó là khái niệm được đưa ra trong Luật Du lịch được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua

khoá IX, kỳ họp thứ 7 tháng 06/2005, tại điều 4 thuật ngữ “du lịch” và “hoạt

động du lịch” được hiểu như sau: "Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến

đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định’’

Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về du lịch nhưng nhìn chung, các định nghĩa và khái niệm về du lịch đều liên quan đến các dạng chuyển cư đặc biệt, trong một khoảng thời gian và các hoạt động của con người tại điểm đến đó

Có thể thấy du lịch là sự kết hợp nhiều thành phần: khách du lịch, phương tiện vận chuyển, dân cư địa phương, các nhà cung cấp dịch vụ và sản phẩm, Đồng thời ngành du lịch cũng là một ngành kinh tế tổng hợp, liên quan

và tác động đến nhiều ngành kinh tế khác Ngày nay khi nền kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu đi du lịch ngày càng phát triển Vì vậy mà có rất nhiều loại hình du lịch phục

vụ những nhu cầu đa dạng của con người

• Khái niệm khách du lịch

Giống như khái niệm du lịch, khái niệm khách du lịch cũng được đề cập theo nhiều quan điểm, nhiều góc độ theo thời gian và không gian

Trang 16

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6

- Định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) về khách du lịch (Lê

Quỳnh Chi, 2007) : để thống nhất tiêu chuẩn định nghĩa và con số thống kê lượng khách của các quốc gia có thể so sánh với nhau một cách ý nghĩa, tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) đã đưa ra các định nghĩa sau:

1 Khách du lịch quốc tế: International tourist

Là một người lưu trú ít nhất một đêm nhưng không quá 1 năm tại một quốc gia khác quốc gia thường trú Du khách có thể đến vì nhiều lý do khác nhau (chữa bệnh, thăm quan, giải trí, công vụ, ) nhưng không lĩnh lương từ nơi đến Khách du lịch quốc tế gồm 2 loại:

- Inbound tourist: Du lịch nhập cảnh hay du lịch quốc tế chủ động Loại này gồm những người từ nước ngoài đến du lịch tại một quốc gia (đón khách nước ngoài vào nước mình)

- Outbound tourist: Du lịch quốc tế thụ động hay du lịch xuất cảnh Loại này là những khách du lịch từ nước mình đi đến du lịch tại một quốc gia khác Hiện nay trên thế giới, các nước như Pháp, Mỹ, giữ đầu bảng về thể loại du lịch quốc tế thụ động

2 Khách du lịch trong nước: Internal tourist

Là người đang sống trong một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác trong quốc gia đó trong thời gian ít nhất 24 giờ và không quá 1 năm với mục đích du lịch như: Giải trí, kinh doanh, công tác, hội họp, thăm gia đình, (trừ làm việc để lĩnh lương)

3 Khách du lịch nội địa: Domestic tourist

Khách du lịch nội địa bao gồm khách du lịch trong nước (Internal tourist)

và khách du lịch nhập cảnh (Inbound tourist)

4 Khách du lịch quốc gia: National tourist

Khách du lịch quốc gia bao gồm khách du lịch trong nước (Internal tourist)

và khách du lịch xuất cảnh (Outbound tourist)

- Định nghĩa về khách du lịch theo Luật Du lịch (Ủy ban thường vụ Quốc

hội, 2005): Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường

hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến

Trang 17

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7

Khách du lịch gồm khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa

Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở

nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch Khách du lịch quốc tế gồm khách du lịch vào Việt Nam (khách inbound) và khách du lịch ra nước ngoài (khách outbound)

Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú

tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

Các loại hình du lịch

- Phân theo mục đích chuyến đi

Mục đích chuyến đi là động lực thúc đẩy hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch của con người Do đó, cách phân loại này còn được gọi là căn cứ vào động cơ hay căn cứ vào nhu cầu Theo cách phân loại này có nhiều loại hình du lịch đó là : du lịch văn hóa, du lịch thể thao, du lịch khám phá, du lịch tham quan, du lịch nghỉ ngơi giải trí, du lịch tôn giáo, du lịch hội nghị, du lịch mạo hiểm, du lịch thăm thân, du lịch kinh doanh

- Phân theo lãnh thổ hoạt động

Du lịch quốc tế (International tourism): liên quan đến các chuyến đi vượt

ra khỏi phạm vi lãnh thổ (biên giới) quốc gia của khách du lịch Loại hình du lịch này có thể được chia nhỏ thành hai loại: du lịch quốc tế đến (Inbound tourism) là chuyến viếng thăm của những người từ các quốc gia khác; du lịch ra nước ngoài (Outbound tourism) là chuyến đi của cư dân trong nước đến một nước khác

Du lịch trong nước (Internal tourism): là chuyến đi của cư dân trong

Trang 18

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8

phạm vi quốc gia của họ

Du lịch nội địa (Domestic tourism): bao gồm du lịch trong nước và

du lịch quốc tế đến

Du lịch quốc gia (National tourism): bao gồm du lịch nội địa và du

lịch ra nước ngoài (Phạm Trung Lương, 2000)

- Một số cách phân loại khác

Căn cứ vào đặc điểm địa lý của nơi đến du lịch bao gồm du lịch biển,

núi, du lịch thành phố (đô thị), nông thôn (đồng quê, trang trại, miệt vườn)

Căn cứ vào phương tiện giao thông bao gồm du lịch xe đạp và phương

tiện thô sơ, du lịch xe máy, ô tô, du lịch tàu thuỷ, tàu hoả, du lịch máy bay

Căn cứ vào phương tiện lưu trú bao gồm du lịch ở khách sạn, nhà trọ,

bãi cắm trại, làng du lịch

Căn cứ vào thời gian du lịch bao gồm du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày Căn cứ vào lứa tuổi bao gồm du lịch thiếu niên, thanh niên, trung

niên và du lịch cao niên

Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch bao gồm du lịch theo đoàn, du lịch

thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch" Có thể

thấy rằng để có được sản phẩm du lịch cần có những yếu tố sau:

Dịch vụ: bao gồm dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ

vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm, dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung

Tài nguyên du lịch: "là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch

sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch." (Luật Du

Trang 19

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9

lịch, 2005) Tài nguyên du lịch gồm có tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên

2.1.1.3 Quan niệm về văn hóa và du lịch văn hóa

• Quan niệm về văn hóa

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Từ trước tới nay, cả phương Đông và phương Tây đều có nhiều quan điểm khác nhau về văn hóa Văn hóa là sản phẩm của con người; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật

và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “Văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có

những định nghĩa khác nhau về Văn hóa

Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn (1952), hai nhà nhân loại học người

Mỹ đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu

như dân tộc học, nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội

học, và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng rất khác

nhau

Theo Tylor (1871), ông cũng đã đưa ra định nghĩa về Văn hóa như sau

“Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri

thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả

Trang 20

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10

những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người Một định nghĩa khác về văn hóa mà A.L

Kroeber và Kluckhohn (1952) đưa ra là “Văn hóa là những mô hình hành động

minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo”…

Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau Hồ Chí Minh (1995) khi còn bị giam trong nhà tù Tưởng Giới Thạch đã đưa ra định nghĩa về

văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng

tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”

Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo

và phát minh ra Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của

Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời

sống con người Phạm Văn Đồng (1994) cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một

lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” Theo định nghĩa này thì văn hóa là những gì đối lập với thiên nhiên,

do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra Theo UNESCO (1994), văn hóa

Trang 21

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11

được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa

là một phức hệ- tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức

và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”; còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa

là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”…

Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra

• Khái niệm du lịch văn hóa

* Di sản văn hóa : Việc một di sản quốc gia được công nhận là di sản thế

giới mang lại ý nghĩa to lớn Các giá trị văn hoá, thẩm mỹ cũng như ý nghĩa kinh

tế, chính trị vượt khỏi phạm vi quốc gia, có ý nghĩa toàn cầu, khả năng hấp dẫn khách lớn

Theo UNESCO (1972) thì di sản văn hóa là:

Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu

tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học

Các quần thể công trình xây dựng: Các quần thể công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc

vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm

lịch sử, nghệ thuật và khoa học

Trang 22

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12

Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo

cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học

Trong di sản văn hoá gồm có di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể Theo luật Di sản văn hóa Việt Nam (Ủy ban thường vụ Quốc hội, 2009)

điều 4.1 "Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng

hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.”

Điều 4.2 "Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử,

văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia "

Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO sử dụng trong Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng và các nhóm và trong một số trường hợp là cá nhân công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được cộng đồng, các nhóm không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan

hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với

sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người

* Di tích lịch sử văn hoá: Là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài

liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như có giá trị văn hoá khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá, xã hội (Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN, 2009)

Di tích lịch sử văn hoá được phân chia thành 4 loại cơ bản :

Trang 23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13

- Di tích văn hoá khảo cổ: di tích khảo cổ tồn tại trong lòng đất hoặc trên mặt đất thành luỹ, bức chạm, khắc,…

- Di tích lịch sử: Ghi lại đặc điểm lịch sử mỗi dân tộc bao gồm:

+ Di tích ghi dấu về dân tộc học: Sự ăn, ở, sinh hoạt của các tộc người + Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu

+ Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược

- Di tích văn hoá nghệ thuật

- Các danh lam thắng cảnh: Là những khu vực thiên nhiên có cảnh đẹp có công trình xây dựng cổ nổi tiếng như chùa, đền thờ,…

triển vì đem lại giá trị lớn cho cộng đồng xã hội Bên cạnh những loại hình du

lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục, gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, những phong tục tín ngưỡng, để tạo sức hút đối với du khách bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đặc biệt đối với loại khách có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì loại hình du lịch này thực sự phù hợp để thỏa mãn nhu cầu của họ Như đã định nghĩa ở trên, có thể thấy du lịch văn hóa là khái niệm rộng lớn và bao trùm nhiều loại hình trong đó những loại hình du lịch người ta thường nói đến như du lịch lễ hội, du lịch làng nghề, du lịch tâm linh cũng đều thuộc về loại hình du lịch văn hóa

Du lịch tâm linh : Du lịch tâm linh là loại hình du lịch kết hợp giữa việc đi

dây đi đó, tham quan với tín ngưỡng Loại hình du lịch tâm linh thường là các cuộc du lịch về các đình chùa, lễ hội, các công trình của phật giáo và các tôn giáo

Trang 24

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14

khác Ở Việt Nam và cả Châu Á hiện nay thì loại hình du lịch này khá phát triển

Du khách tìm đến loại hình du lịch tâm linh không chỉ thỏa mãn nhu cầu tham quan cảnh quan mà còn thỏa mãn nhu cầu tâm lý tín ngưỡng

Khi đời sống vật chất ngày càng được đi lên, xã hội càng hiện đại thì con người ta lại càng có nhu cầu nâng cao hơn nữa về đời sống tinh thần Du lịch tâm linh là một hình thái đặc thù, với chương trình lành mạnh, du khách sẽ thỏa mãn các nhu cầu vãn cảnh, hành hương, tín ngưỡng, tâm linh Văn hóa tâm linh

sẽ thổi hồn cho di sản Du lịch tâm linh hay bất cứ loại hình du lịch nào khác sẽ vững chắc hơn nếu dựa vào những yếu tố văn hóa Do vậy, việc kết hợp du lịch

di sản và du lịch tâm linh đang là hướng đi mới, tạo ra sự khác biệt do du lịch Việt Nam (Phương Thúy và Thanh Hiền, 2013)

2.1.2 Đặc điểm và vai trò của phát triển du lịch văn hóa

2.1.2.1 Đặc điểm du lịch văn hóa

Hiện nay, trên thế giới cũng như Việt Nam có nhiều loại hình du lịch ra đời phục vụ cho nhu cầu đa dạng của con người Du khách ngày nay đi du lịch không chỉ để tham quan, giải trí đơn thuần mà họ còn muốn có những hiểu biết nhiều hơn về văn hóa, lịch sử, con người, tại điểm đến Chính vì vậy, du lịch văn hóa đang là loại hình được nhiều khách du lịch yêu thích và lựa chọn

Ngay từ khái niệm có thể thấy rằng đây là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa của cộng đồng, bảo tồn cũng như phát huy những giá trị văn hóa bản địa Du lịch văn hóa cũng mang những đặc trưng của hoạt động du lịch nói chung nhưng đặc biệt loại hình du lịch này dựa vào tài nguyên của điểm đến và có yếu

tố bảo tồn, phát huy, đem lại lợi ích cho dân cư địa phương và có sự tham gia phối hợp của các bên liên quan như khách du lịch, dân cư địa phương, chính quyền, các công ty du lịch, cơ quan quản lý du lịch Theo Lê Quỳnh Chi (2007),

du lịch văn hóa có những đặc trưng cơ bản sau:

- Tính đa dạng : Mỗi loại hình du lịch có những đặc điểm khác nhau Đối

với du lịch văn hóa phải được phát triển ở những địa bàn có các yếu tố văn hóa bản địa, lịch sử, dân tộc học, các di tích, lễ hội, Khác với du lịch sinh thái, địa bàn phát triển du lịch thường là những vùng thiên nhiên còn hoang sơ, ít bị tác

Trang 25

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15

động và thường xa trung tâm, khu đô thị còn du lịch văn hóa phát triển du lịch ở những khu đô thị, những nơi có cuộc sống của con người và những giá trị mà họ tạo ra Đối tượng của du lịch văn hóa không bao gồm các khu vực hấp dẫn về tự

nhiên mà nó chỉ liên quan đến các yếu tố do con người sáng tạo nên

- Tính giáo dục : Du lịch văn hóa đem lại nhận thức, sự hiểu biết cũng như

tính giáo dục cao cho du khách: loại hình du lịch này gắn với những giá trị văn hóa truyền thống; các di tích lịch sử, khoa học hay những yếu tố liên quan đến bản sắc các dân tộc Việt Nam Vì vậy khi tham gia vào loại hình du lịch này du khách sẽ có thêm những hiểu biết, nhận thức về bản sắc - giá trị của văn hóa truyền thống Việt Nam và những kiến thức xã hội khác Hoạt động du lịch này cũng giáo dục con người đặc biệt là thế hệ trẻ cần học hỏi, tìm hiểu về phong tục tập quán truyền thống, lịch sử - cội nguồn dân tộc, và có ý thức phát huy, bảo tồn bản sắc dân tộc, hay những giá trị truyền thống tốt đẹp từ ngàn đời xưa Hoạt động du lịch văn hóa cần có sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn các di tích, phát huy những truyền thống tốt đẹp nếu không nó sẽ bị mai một

- Tính cộng đồng :Phát triển du lịch văn hóa luôn gắn với phát triển cộng

đồng Dân cư bản địa chính là điều kiện và yếu tố để phát triển du lịch Sự đa dạng trong lối sống, phong tục tập quán của dân cư chính là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn và tạo ra những sản phẩm du lịch Đặc biệt, du lịch văn hóa dựa vào cộng đồng dân cư địa phương và phải đem lại lợi ích cho họ thì mới có hiệu quả bền vững, lâu dài Bởi vì dân cư địa phương chính là những người lưu giữ và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống cũng như bản sắc của dân tộc

- Tính liên vùng : Du lịch văn hóa nâng cao ý thức người dân với những giá trị lịch sử, văn hóa vì vậy loại hình du lịch này có sự liên kết giữa các vùng, liên kết giữa các tuyến điểm du lịch Đồng thời các giá trị văn hóa lịch sử cũng thường nằm trong một không gian rộng, có sự kết nối giữa các tỉnh hoặc các vùng miền

- Tính mùa vụ : Nhiều loại hình du lịch có tính mùa vụ cao có thể phụ

thuộc vào thời tiết địa phương hoặc những đặc trưng khác Đối với du lịch văn

Trang 26

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16

hóa tính mùa vụ thể hiện rõ trong các loại hình du lịch tâm linh, du lịch lễ hội

Du lịch cao điểm vào mùa xuân và những dịp lễ tết, kỳ nghỉ cuối tuần

Thị trường khách của du lịch văn hóa tương đối đa dạng tuy nhiên nó cũng tập trung chủ yếu là những người thích tìm hiểu văn hóa bản địa, văn hóa truyền thống của các cộng đồng dân cư khác nhau, những nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử, Đối với loại hình du lịch văn hóa thì đối tượng khách có sự chọn lọc vì nó phù hợp với những người hiểu biết và có nhu cầu học hỏi đặc biệt đối với loại hình tìm hiểu văn hóa, di tích, lịch sử, kiến trúc,…

Việc phát triển du lịch văn hóa luôn là ưu tiên của nhiều quốc gia vì điều

đó giúp bảo tồn, nâng cao và quảng bá nền văn hóa dân tộc ra thế giới Mỗi đất nước, mỗi vùng miền đều có những đặc trưng văn hóa riêng tạo nên nét đặc sắc và

đa dạng Đó cũng là một trong những điểm thu hút của loại hình du lịch văn hóa

2.1.2.2 Vai trò của phát triển du lịch văn hóa

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính xã hội hoá cao vì vậy hoạt động phát triển du lịch có thể thu hút và cần được sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế và cộng đồng xã hội Đây được xem là một trong những “điểm mạnh” so sánh của du lịch so với các ngành kinh tế khác

• Vai trò đối với nền kinh tế quốc dân

Phát triển du lịch kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, sản phẩm du lịch có tính liên ngành và có quan hệ với nhiều lĩnh vực trong nền kinh

- Thu hút lao động và giải quyết việc làm

Việc phát triển du lịch tại một địa điểm, vùng miền góp phần rất lớn vào việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân Một dự án du lịch đi vào hoạt động sẽ thu hút lao động đến tìm việc Lao động trong ngành du lịch

Trang 27

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17

hiện nay có mức thu nhập cũng tương đối cao so với mặt bằng chung của xã hội, chính vì vậy việc phát triển du lịch cũng là một trong những ưu tiên của nhiều địa phương có lợi thế này

- Kích thích đầu tư

Du lịch phát triển sẽ góp phần đẩy mạnh các hoạt động đầu tư về cơ sở vật chất, hạ tầng, giao thông, khách sạn, nhà hàng, công viên, khu vui chơi, các công trình văn hóa,…Ngành du lịch nằm trong tổng thể các ngành kinh tế, chính vì vậy, đầu tư phát triển du lịch cũng kéo theo sự phát triển của các ngành khác như xây dựng, viễn thông, ngân hàng,…Điều đó tạo ra sự phát triển chung của toàn ngành kinh tế

- Thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương

Du lịch góp phần tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương, đặc biệt ở vùng nông thôn nơi tỷ lệ đói nghèo còn cao Đây sẽ là yếu tố tích cực góp phần làm giảm tác động của cộng đồng đến các giá trị cảnh quan, tự nhiên và qua đó sẽ góp phần bảo tồn tài nguyên, môi trường đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững;

Góp phần để cộng đồng, đặc biệt là những người dân chưa có điều kiện trực tiếp tham gia vào các dịch vụ du lịch, được hưởng lợi từ việc phát triển hạ tầng du lịch (giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, v.v.) Đây cũng sẽ là yếu tố tích cực để đảm bảo sự công bằng trong phát triển du lịch, một trong những nội dung quan trọng của phát triển du lịch bền vững;

Góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng và qua đó sẽ góp phần làm thay đổi cơ cấu, nâng cao trình độ lao động khu vực này Đây sẽ là yếu tố quan trọng góp phần hạn chế được dòng di cư của cộng đồng từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị, ổn định xã hội đảm bảo cho phát triển bền vững chung;

Góp phần tích cực trọng việc phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nghề truyền thống, vì vậy có đóng góp cho phát triển du lịch bền vững từ góc độ tài nguyên, môi trường du lịch;

- Tăng nguồn thu ngoại tệ

Du lịch phát triển sẽ mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nước thông qua xuất - nhập khẩu du lịch Thông qua tiêu dùng, du lịch tác động mạnh mẽ vào lưu

Trang 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18

thông, thu hút nguồn ngoại tệ cho đất nước đặc biệt là hoạt động du lịch quốc tế Khách đến Việt Nam từ các quốc gia trên thế giới đem theo ngoại tệ, chi tiêu tại Việt Nam làm cho nguồn ngoại tệ tăng, góp phần đáng kể vào cán cân thanh toán quốc giai Ở nhiều nước du lịch phát triển, thu nhập ngoại tệ từ du lịch chiếm tới 20% hoặc hơn thu nhập ngoại tệ của đất nước (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2006)

• Vai trò đối với xã hội

Hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa tác động vào nhiều mặt của đời sống xã hội Du lịch được xem là một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối quan hệ giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Thông qua du lịch, du khách có điều kiện tìm hiểu thêm về những giá trị văn hóa truyền thống, di tích lịch sử, lễ hội, của dân tộc

Du lịch văn hóa là một phương tiện để giáo dục lòng yêu nước, tự hào về văn hóa dân tộc cho người dân và đặc biệt là cho giới trẻ Phát triển du lịch văn hóa góp phần bảo tồn các giá trị lịch sử, các công trình kiến trúc hay những di sản văn hóa phi vật thể, văn hóa tâm linh khác

Hoạt động du lịch không chỉ có tính giáo dục, nâng cao hiểu biết mà còn giúp cải thiện sức khỏe, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường Tham gia các các hoạt động du lịch kích thích niềm hứng khởi trong mỗi du khách, nâng cao sức khỏe nhờ việc tham gia các hoạt động,…

Có thể nói rằng, phát triển du lịch văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế và xã hội nói chung Phát triển du lịch văn hóa góp phần nâng cao hình ảnh Văn hóa Việt ra thế giới, đồng thời đẩy mạnh hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế, bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của dân tộc, đem lại sự phát triển bền vững

2.1.3 Nội dung phát triển du lịch văn hóa

* Khái niệm phát triển: thuật ngữ “phát triển” đã được dùng trong các văn

kiện, trong nghiên cứu khoa học và trong sinh hoạt hàng ngày đến mức khá quen thuộc Tuy nhiên, cho đến nay chưa thể nói được rằng khái niệm “phát triển” đã được hiểu một cách đầy đủ và đúng đắn

Trang 29

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19

Phát triển là xu hướng tự nhiên đồng thời là quyền của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng hay mỗi quốc gia (Phạm Khôi Nguyên, 2005)

Phát triển là tạo điều kiện cho con người sinh sống bất cứ nơi đâu trong một quốc gia hay trên cả hành tinh đều được trường thọ, đều được thoả mãn các nhu cầu sống, đều có mức tiêu thụ hàng hoá dịch vụ tốt mà không phải lao động quá cực nhọc, đều có trình độ học vấn cao, đều được hưởng những thành tựu về văn hoá và tinh thần, đều có đủ tài nguyên cho cuộc sống sung túc, đều được sống trong một môi trường trong lành, đều được hưởng các quyền cơ bản của con người và được bảo đảm an ninh, an toàn, không có bạo lực (Phạm Thế Chinh, 2003)

Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu Quan niệm về phát triển được sử dụng thường xuyên và trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa,…

Phát triển du lịch văn hóa

Phát triển du lịch văn hóa trước tiên là phát triển về quy mô, số lượng các tài nguyên du lịch văn hóa như số di tích, lễ hội, khu du lịch, điểm du lịch, khách

du lịch, cơ sở phục vụ du lịch,….Tiếp theo là nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch Sự phát triển về quy mô, số lượng luôn phải song hành với chất lượng thì sự phát triển mới lâu dài và bền vững Đặc biệt trong du lịch văn hóa, chất lượng hàng hóa dịch vụ, các sản phẩm du lịch, chất lượng của các dịch vụ lưu trú, lữ hành, phải được quan tâm hàng đầu Lượng khách có quay trở lại hay không hoặc doanh thu có tăng lên hay không là nhờ vào mức độ hài lòng về chất lượng sản phẩm dịch vụ của khách du lịch Cuối cùng, phát triển du lịch thể hiện trong kết quả du lịch địa phương Doanh thu ngành du lịch hàng năm và sự đóng góp của du lịch đối với kinh tế của tỉnh, huyện nói chung có sự chuyển biến, phát triển như thế nào Đối với các hộ kinh doanh, thu nhập được tăng lên, điểm du lịch thì thu hút lượng khách nhiều hơn Công tác tổ chức quản lý có sự chuyên nghiệp và hoạt động du lịch văn hóa mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng địa

Trang 30

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20

phương mà vẫn bảo vệ cảnh quan môi trường tự nhiên, bảo vệ các di tích, các công trình nghệ thuật và giữ nguyên các giá trị truyền thống

Trong phát triển du lịch văn hóa thì các tài nguyên du lịch cũng như giá trị văn hóa của các di tích đóng vai trò quan trọng Phải phát huy nhưng tiềm năng giá trị đó để khai thác du lịch trong thời gian tới Đặc biệt phát triển du lịch văn hóa phải gắn với sự phát triển của cộng đồng, bảo tồn các giá trị với mục tiêu phát triển lâu dài, bền vững Nhà nước Việt Nam luôn xác định phát triển du lịch phải gắn liền với mục tiêu tạo bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá góp phần phát triển bền vững Tư tưởng này đã được cụ thể hoá trong nội dung của Pháp

lệnh Du lịch (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 1999), theo đó : “Nhà nước Việt Nam

xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hoá sâu sắc,

…” ; đồng thời “… bảo đảm phát triển du lịch theo hướng du lịch văn hoá, du

lịch sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam” cũng như trong Luật Du lịch (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2005),

theo đó một trong những nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch là “phát triển có

trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hóa – lịch sử, … bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch”

Dựa trên quan điểm về phát triển bền vững và kế thừa những tư tưởng và kết quả đạt được từ Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2001-2010, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

đưa ra một số quan điểm phát triển trong đó quan điểm về “Phát triển du lịch

phải gắn với bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống dân tộc tôn trọng văn hoá trong mối quan hệ với cộng đồng điểm đến…”; “Phát triển du lịch gắn với giảm nghèo ” được nhấn mạnh (Tổng cục du lịch, 2013)

Một số định hướng cơ bản đối với phát triển du lịch văn hóa gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và phát triển cộng đồng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22 tháng 1 năm

2013 « Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 » bao gồm:

Trang 31

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21

– Khai thác có hiệu quả các giá trị các di sản văn hoá để phát triển những sản phẩm du lịch đặc thù có tính cạnh tranh cao, thu hút khách du lịch

Hiện nay, một trong những hạn chế cơ bản của du lịch Việt Nam là thiếu các sản phẩm du lịch đặc thù có tính cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ ưu tiên khắc phục hạn chế này Trong trường hợp này, bản thân các di sản văn hoá, đặc biệt là các

di sản thế giới là những tài nguyên du lịch có giá trị Vấn đề là cần có quy hoạch

và đầu tư hợp lý để biến những giá trị di sản văn hoá thành sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh, thu hút khách du lịch Sự tăng trưởng về khách du lịch đến các điểm

di sản sẽ đồng nghĩa với việc những giá trị di sản này sẽ càng được phát huy

- Phát triển du lịch văn hóa gắn với phát triển cộng đồng

Cộng đồng là một phần không thể thiếu của di sản văn hóa, trong nhiều trường hợp cộng đồng chính là linh hồn, là tâm điểm của di sản Chính vì vậy phát triển du lịch di sản không thể tách rời phát triển cộng đồng ở khu vực di sản

và lợi ích có được từ du lịch di sản phải được chia sẻ với cộng đồng Trong trường hợp này, cộng đồng sẽ là nhân tố tích cực góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị di sản trên quê hương của họ

Bên cạnh ý nghĩa trên, phát triển du lịch văn hoá gắn với cộng đồng sẽ còn khai thác được những giá trị văn hoá bản địa góp phần làm đa dạng và phong phú hơn sản phẩm du lịch điểm đến, làm tăng tính hấp dẫn và hiệu quả kinh doanh du lịch

- Phát triển du lịch văn hóa, đặc biệt là du lịch di sản phải gắn với phát triển du lịch quốc gia và khu vực

Để phát huy có hiệu quả các giá trị di sản văn hóa, đặc biệt là các di sản thế giới, hoạt động xúc tiến du lịch văn hóa thông qua sự hợp tác với các nước trong khu vực sẽ có ý nghĩa quan trọng Sự hợp tác này trước hết sẽ tạo ra các tuyến du lịch văn hoá có tính liên vùng và khu vực như tuyến du lịch di sản miền Trung, tuyến du lịch di sản Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS), tuyến du lịch di sản Hành lang kinh tế Đông Tây (EWEC), v.v Để các ý tưởng gắn kết du lịch di sản văn hoá, cần thiết phải có liên kết phát triển du lịch giữa các vùng du lịch; giữa du lịch Việt Nam với các nước trong khu vực thông quan một số chương

Trang 32

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22

trình cụ thể Việc quảng bá và phát triển các chương trình này chính là phương thức phát huy có hiệu quả các giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam

Đối với các tỉnh có nhiều tài nguyên du lịch văn hóa như Bắc Ninh cần có những giải pháp cũng như chiến lược để thu hút và phát triển loại hình du lịch văn hóa cho Tỉnh nhà Việc phát triển du lịch của các tỉnh sẽ góp phần đẩy mạnh

sự phát triển chung của du lịch Việt Nam

2.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch văn hóa

• Nguồn tài nguyên du lịch

Phát triển du lịch văn hóa hiện nay bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, theo tác

giả Lê Quỳnh Chi (2007), tài nguyên du lịch là cơ sở và là yếu tố hàng đầu ảnh

hưởng đến phát triển du lịch văn hóa

Tài nguyên du lịch văn hóa : bao gồm các di tích lịch sử, lễ hội, làng nghề,

đình ,chùa, công trình kiến trúc, khu du lịch và các di sản văn hóa phi vật thể khác Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản đầu tiên để hấp dẫn và thu hút khách Các tài nguyên đó có tính địa phương, đại diện cho một cộng đồng, mang bản sắc văn hóa của khu vực đó Các tài nguyên này có đa dạng, phong phú, đặc sắc thì càng hấp dẫn và kích thích trí tò mò của khách du lịch Ở Việt Nam tài nguyên này là một tài sản lớn trải dài trên khắp đất nước Mỗi vùng miền đều có những đặc trưng riêng, là điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động du lịch

• Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị hạ tầng

Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng là yếu tố không thể thiếu của bất kỳ điểm đến nào Có được sự đầu tư và nền tảng cở sở hạ tầng tốt là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển du lịch

- Mạng lưới giao thông vận tải: có mạng lưới giao thông thuận tiện và đa dạng loại hình là yếu tố để thu hút du khách

- Mạng lưới thông tin liên lạc và internet : giúp trao đổi thông tin, tìm kiếm dễ dàng các điểm du lịch để lên kế hoạch cho chuyến đi Đồng thời nhờ có mạng lưới thông tin liên lạc mà các doanh nghiệp du lịch và các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch có sự liên kết, trao đổi thông tin kịp thời

Trang 33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23

- Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch : bao gồm các trang thiết bị, cơ sở phục vụ đón tiếp khách du lịch, nơi lưu trú, các khu du lịch, vui chơi, giải trí, nhà hàng, Những yếu tố này là một phần quan trong để hấp dẫn du khách tới điểm

du lịch (Vũ Đức Minh, 1999)

• Nhu cầu của thị trường

Theo tác giả Lê Quỳnh Chi (2007), khách du lịch đóng vai trò quan trọng đối với mỗi điểm đến, vì vậy phải có nhu cầu từ thị trường thì hoạt động du lịch mới phát triển tốt Và để có được nhu cầu đó chúng ta cũng cần nghiên cứu, xác định thị trường mục tiêu và thực hiện hoạt động quảng bá tới các thị trường đó

Thị trường khách du lịch cũng có sự phân hóa mạnh mẽ về nhu cầu Loại hình du lịch văn hóa cũng là một trong những loại hình du lịch có yêu cầu về trình độ hiểu biết nhất định của du khách Ngoài việc tham quan, vui chơi, nghỉ dưỡng, thưởng thức, du lịch văn hóa còn có hoạt động tìm hiểu, nghiên cứu các giá trị nhân văn vì vậy có những yêu cầu về trình độ của du khách

Ngoài ra cầu về du lịch còn bị ảnh hưởng bởi thu nhập, mức sống của người dân Khi mức sống và thu nhập tăng tức là nhu cầu du lịch cũng tăng theo

Thời gian rảnh rỗi cũng ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch Phần lớn mọi người đi du lịch và thời gian rảnh rỗi, thường là cuối tuần hoặc ngày lễ tết Thời gian rảnh rỗi khác nhau ở lứa tuổi và nghề nghiệp

• Chính trị và đường lối chính sách phát triển du lịch

Ổn định chính trị là điều kiện để phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng Những bất ổn chính trị sẽ ảnh hưởng đến tâm lý du khách và

cả dân cư địa phương và sẽ cản trở hoạt động du lịch Ở Việt Nam yếu tố này được đánh giá cao bởi chúng ta có nền chính trị ổn định vì thế mà cần tận dụng

để phát triển du lịch

Việc phát triển du lịch văn hóa ở một khu vực, một địa phương phải có sự quan tâm của các cơ quan quản lý về du lịch cũng như các cấp chính quyền địa phương Để phát triển du lịch cần có những chính sách về đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến quảng bá, đầu tư xây dựng , tu sửa hay nâng cấp và bảo tồn các di sản văn hóa Chính sách phát triển du lịch của chính phủ cũng như của từng địa

Trang 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24

phương ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của ngành du lịch nói chung và su lịch văn hóa nói riêng (Vũ Đức Minh, 1999)

• Chất lượng nguồn lao động ngành du lịch

Đây là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch Chất lượng của dịch vụ du lịch có đóng góp một phần cảu chất lượng đội ngũ nhân viên ngành du lịch Mỗi nhân viên, mỗi hướng dẫn viên như một đại sứ du lịch của điểm đến và góp phần vào sự thành công của ngành du lịch

• Sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động du lịch làm cho du lịch phát triển bền vững hơn Sự tham gia của cộng đồng sẽ góp phần bảo vệ tài nguyên và những giá trị văn hóa của cộng đồng Việc cộng đồng dân cư hưởng ứng và kết hợp với các công ty du lịch, các cơ quan quản lý du lịch là sự cần thiết

và tạo nên sự phát triển ổn định, bền vững Sự tham gia của cộng đồng cũng góp phần tạo thêm thu nhập, cải thiện đời sống dân cư của điểm du lịch đó (Lê Quỳnh Chi, 2007)

2.2 Cơ sở thực tiễn về việc phát triển du lịch văn hóa

2.2.1 Tổng quan tài liệu phát triển du lịch tại Việt Nam

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, một khu vực có lịch sử phát triển lâu dài và mang những nét văn hóa phương Đông Uốn mình bên bờ biển Đông- Thái Bình Dương, đất nước ta được thiên nhiên ban tặng cho nhiều cảnh quan tươi đẹp trải đều từ Bắc tới Nam Không những thế với lịch sử lâu đời với hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã để lại một truyền thống văn hoá đậm

đà bản sắc dân tộc Việt Nam có đủ các yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú

Ngành Du lịch tại Việt Nam chính thức có mặt từ thời kỳ khoảng tháng 6/1951 Năm 1961 ngành Du lịch cổ động du lịch "Thăm viếng Đông Dương"với

ba chí điểm: Nha Trang, Đà Lạt và Vũng Tàu Vì chiến tranh và những bất ổn về

an ninh nên ngành du lịch bị hạn chế nhưng chính phủ vẫn quan tâm tới ngành du lịch như việc phát hành bộ tem "Du lịch" ngày 12 Tháng Bảy năm 1974 Đối với

Trang 35

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25

miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam được tính là ngày 09 tháng 7 năm 1960 (Tổng cục du lịch, 2006)

Ngành du lịch Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển bởi nước ta có nguồn tài nguyên đa dạng:

- Di tích lịch sử: Tính đến tháng 8 năm 2013, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 3000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 5000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở

11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam Di tích quốc gia đặc biệt ở Việt Nam được Thủ tướng chính phủ ra quyết định xếp hạng gồm: Cố đô Hoa Lư, Di tích Pác Bó, Dinh Độc Lập, Hoàng thành Thăng Long, Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích ATK Thái Nguyên, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế, Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu di tích Tân Trào, Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, Nhà tù Côn Đảo, Quần thể di tích Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội An và Đền Hùng Tới năm

2014, có 8 di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới tại Việt Nam bao gồm: Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố Cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quần thể danh thắng Tràng An (Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự, 2013)

Việt Nam có 117 bảo tàng trong đó các bộ, ngành quản lý 38, các địa phương quản lý 79 Hai bảo tàng lịch sử mang tính quốc gia là Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và Bảo tàng lịch sử Việt Nam hiện đang đề xuất thêm Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Tuy nhiên, hầu hết các bảo tàng đều vắng khách tham quan, đất công đôi khi bị lạm dụng và sử dụng trái mục đích (Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự, 2013)

Trang 36

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26

- Danh thắng

Tính đến năm 2014 Việt Nam được UNESCO công nhận 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới đó là Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ An, Đồng Nai,

Cù lao Chàm, Cần Giờ Cà Mau và biển Kiên Giang

Hiện nay Việt Nam có 30 vườn quốc gia gồm Ba Bể, Bái Tử Long, Hoàng Liên, Tam Đảo, Xuân Sơn, Ba Vì, Cát Bà, Cúc Phương, Xuân Thủy, Bạch Mã, Bến En, Phong Nha-Kẻ Bàng, Pù Mát, Vũ Quang, Bidoup Núi Bà, Chư Mom Ray, Chư Yang Sin, Kon Ka Kinh, Yok Đôn, Côn Đảo, Lò Gò-Xa Mát, Mũi Cà Mau, Núi Chúa, Phú Quốc, Phước Bình, Tràm Chim, U Minh Hạ, U Minh Thượng

Việt Nam có 400 nguồn nước nóng từ 40-150 độ Nhiều suối có hạ tầng xây dựng khá tốt như: Suối nước nóng thiên nhiên Đam Rông, Lâm Đồng; suối nước nóng Kim Bôi Hòa Bình, suối nước nóng Bình Châu Bà Rịa-Vũng Tàu, suối nước nóng Kênh Gà, Ninh Bình, suối nước nóng Quang Hanh Quảng Ninh Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới với 125 bãi tắm biển, hầu hết là các bãi tắm đẹp Việt Nam là 1/12 quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới là vịnh Hạ Long và vịnh Nha Trang (Tổng cục Du lịch, 2013)

- Khu du lịch quốc gia

Việt Nam hiện có 21 khu du lịch quốc gia tính đến năm 2013, là những trọng điểm để đầu tư thúc đẩy phát triển du lịch Các khu du lịch đó là: Khu du lịch nghỉ dưỡng Sa Pa (Lào Cai); Khu du lịch sinh thái hồ Ba Bể (Bắc Kạn); Khu

du lịch vịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà (Quảng Ninh, Hải Phòng); Khu du lịch suối Hai (Hà Nội); Khu du lịch văn hóa Hương Sơn (Hà Nội); Khu du lịch văn hóa Cổ Loa (Hà Nội); Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động (Ninh Bình); Khu di tích lịch sử Kim Liên (Nghệ An); Khu du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình); Khu du lịch đường mòn Hồ Chí Minh (Quảng Trị); Khu du lịch Lăng Cô - Hải Vân - Non Nước (Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng); Khu du lịch phố cổ Hội An (Quảng Nam); Khu du lịch vịnh Vân Phong - mũi Đại Lãnh (Khánh Hòa); Khu

du lịch biển Phan Thiết - Mũi Né (Bình Thuận); Khu du lịch Đankia - Suối Vàng; Khu du lịch hồ Tuyền Lâm (Lâm Đồng); Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ (Thành

Trang 37

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27

phố Hồ Chí Minh); Khu du lịch sinh thái - lịch sử Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu); Khu du lịch biển Long Hải (Bà Rịa - Vũng Tàu); Khu du lịch sinh thái biển đảo Phú Quốc (Kiên Giang); Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau (Cà Mau); Khu du lịch sinh thái Măng Đen (KonTum) (Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự, 2013)

- Văn hóa

Theo Nguyễn Minh Tuệ (2013): Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng về văn hoá, phong tục tập quán và lối sống riêng Ngành du lịch và các địa phương đã nỗ lực xây dựng được một số điểm du lịch độc đáo, như du lịch cộng đồng Sa Pa, du lịch Bản Lát ở Mai Châu, du lịch tìm hiểu văn hóa các dân tộc ở Tây Nguyên,…Du lịch văn hóa là một loại hình đặc sắc và đặc trưng ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Với sự đa dạng của các dân tộc, sự phong phú của những phong tục tập quán, lối sống đã tạo nên những nét riêng biệt và hấp dẫn với du khách quốc tế Thực tế có thể thấy rằng rất nhiều

di sản thế giới được UNESSCO công nhận là các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Việt Nam cũng vậy, hiện nay chúng ta đã có 15 di sản thế giới trong đó

có 12 di sản văn hóa đó là: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, Quan họ, Ca trù, Hội Gióng, Hát xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Phú Thọ), Hoàng thành Thăng Long, Phố cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn, Quần thể di tích cố đô Huế, thành nhà Hồ Các di sản là niềm

tự hào của người dân Việt Nam và là điều kiện để chúng ta tiếp tục lưu giữ, bảo tồn các giá trị dân tộc

Hiện nay, với những nguồn tài nguyên du lịch phong phú và sự đầu tư cho ngành du lịch, hằng năm chúng ta tổ chức các năm du lịch tại các địa phương hoặc các vùng để khơi dậy, phát huy, phát triển du lịch địa phương, tạo nguồn thu ngân sách Suốt hơn mười năm, ngành du lịch đã tổ chức các năm du lịch thành công, ấn tượng với nhiều hoạt động và thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước Năm du lịch quốc gia được thực hiện từ năm 2003 đến nay và đã được tổ chức ở nhiều địa phương khác nhau và ở các vùng khác nhau trong cả nước Hoạt động này là một trong những điểm nhấn thu hút khách và thúc đẩy

Trang 38

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28

ngành du lịch các tỉnh Cho đến nay, chỉ có năm 2009 là bị hủy vì địa phương đăng cai là Đắc Lắc xin rút lui Các chủ đề của năm du lịch quốc gia cũng khá phong phú và phù hợp với từng địa phương

Bảng 2.1 Năm du lịch quốc gia do các địa phương đăng cai

2003 Quảng Ninh Non nước hữu tình Du lịch sinh thái

2004 Điện Biên Hào hùng chiến khu Du lịch văn hóa, lịch sử

2006 Quảng Nam Một điểm đến - hai di sản

văn hóa thế giới Du lịch văn hóa

2007 Thái Nguyên Về thủ đô gió ngàn -

Chiến khu Việt Bắc Du lịch văn hóa, lịch sử

2008 và các tỉnh Đồng bằng Cần Thơ

sông Cửu Long

Miệt vườn sông nước Cửu Long Du lịch sinh thái

2009 Đắk Lắk hủy bỏ vì địa phương đăng cai rút lui

2010 Hà Nội Thăng Long - Hà Nội, hội tụ ngàn năm

sự kiện 1000 năm Thăng Long - Hà Nội – Du lịch văn hóa, lịch sử

Trang 39

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29

Có thể thấy rằng mỗi năm du lịch quốc gia ở mỗi địa phương, vùng miền khác nhau nhưng nổi bật lên vẫn là loại hình du lịch văn hóa, lịch sử Đây là loại hình tiêu biểu, đặc trưng chủ lực của ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành

du lịch từng địa phương nói riêng Sự đóng góp của du lịch văn hóa là rất lớn, tuy nhiên ngành du lịch vẫn chưa có những đầu tư mạnh mẽ tương xứng với sự phát triển Năm du lịch quốc gia tại các tỉnh có thể thấy là hoạt động thường niên nổi bật và tạo sức bật cho ngành du lịch địa phương Đây cũng là hướng đi đúng đắn

để phát triển du lịch Trong đó có thể thấy các hoạt động, các chủ đề về du lịch văn hóa tương đối phổ biến và có ở hầu hết các năm và các tỉnh Tuy nhiên, việc đầu tư, tôn tạo, bảo tồn cho các di tích lịch sử văn hóa, các loại hình nghệ thuật, các di tích tâm linh,….chưa được nhiều Việc quảng bá tới các du khách nước ngoài vẫn còn hạn chế

Song song với việc chọn các địa phương với các đặc điểm thế mạnh để đăng cai năm du lịch quốc gia thì ngành du lịch cũng luôn có nhưng tiêu điểm, chủ đề với mục đích thu hút du khách trong và ngoài nước Với sự phát triển của du lịch thì các tiêu điểm cũng thay đổi theo từng giai đoạn Từ 2001 – 2004, ngành du lịch Việt

Nam có khẩu hiệu: “ Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới” (Vietnam - A

destination for the new millennium); năm 2004 – 2005 là “ Hãy đến với Việt Nam”

(Welcome to Vietnam); giai đoạn 2006 -2011 là “ Việt Nam – vẻ đẹp tiềm ẩn” (Vietnam - The hidden charm); 2012 -2015 với khẩu hiệu “ Việt Nam – vẻ đẹp bất tận” (Vietnam - Timeless Charm) (Tổng cục du lịch, 2013)

Những hoạt động của năm du lịch cũng như những thay đổi trong khẩu hiệu du lịch quốc gia cho phù hợp cũng đã có những hiệu quả nhất định Ngành du lịch Việt Nam những năm gần đây có những khởi sắc và thu hút khá nhiều khách du lịch trong và ngoài nước Kết hợp với nguồn tài nguyên du lịch phong phú và những điều kiện thuận lợi khác, khách du lịch đến Việt Nam ngày càng tăng nhiều

Theo nguồn Tổng cục thống kê (2008, 2009, 2012), Việt Nam đã đón 4,218 triệu lượt khách quốc tế, con số này năm 2009 là 3,8 triệu lượt, giảm 11% so với năm trước Năm 2012, số khách quốc tế đến Việt Nam là 6,8 triệu lượt, khách nội địa đạt 32,5 triệu lượt Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2009 đạt từ

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 30

68.000 đến 70.000 tỷ đồng, 160.000 tỷ đồng năm 2012 Du lịch đóng góp 5.3% vào GDP của Việt Nam

Theo dự báo của Tổng cục du lịch Việt Nam trên, dự kiến năm 2013 số lượng khách quốc tế đạt 7,5 triệu lượt, (tăng 5,15% so với năm 2012), phục vụ 35 triệu lượt khách nội địa (tăng 7,69% so với năm 2012); tổng thu từ khách du lịch đạt 190.000 tỷ đồng (tăng 18,75% so với năm 2012) và năm 2015 ngành du lịch Việt Nam sẽ thu hút 7-8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu khách nội địa, con số tương ứng năm 2020 là 11-12 triệu khách quốc tế; 45-48 triệu khách nội địa Doanh thu từ

du lịch dự kiến sẽ đạt 18-19 tỷ USD năm 2020 (Tổng cục Thống kê, 2013)

Bảng 2.2 Số lượng khách du lịch quốc tế tháng 12 và cả năm 2013

Chỉ tiêu

Tháng 12/2013

(Lượt khách)

12 tháng năm 2013

(Lượt

khách)

Tháng 12/2013

so với tháng trước (%)

Tháng 12/2013 so với tháng 12/2012(%)

12 tháng

2013 so với Năm

Ngày đăng: 29/05/2016, 13:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Bắc Ninh, truy cập ngày 25/12/2013 từ https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắc Ninh, truy cập ngày 25/12/2013 từ
2. Lê Quỳnh Chi (2007). Tổng quan du lịch, giáo trình khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan du lịch
Tác giả: Lê Quỳnh Chi
Năm: 2007
3. Nguyễn Thế Chinh (2003). Giáo trình Kinh tế và Quản lý môi trường, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế và Quản lý môi trường
Tác giả: Nguyễn Thế Chinh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
4. Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh (2012). Niên giám thống kê 2012, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2012
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2012
5. Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh (2013). Niên giám thống kê 2013, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2013
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2013
6. Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh (2014). Niên giám thống kê 2014, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2014
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2014
7. Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2006). Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2006
8. Phạm Văn Đồng (1994). Văn hóa và đổi mới, NXB Chính trị QGHCM, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và đổi mới
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: NXB Chính trị QGHCM
Năm: 1994
9. Phạm Trung Lương (2000). Tài nguyên và Môi trường Du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và Môi trường Du lịch Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
10. Hồ Chí Minh (1995). Toàn tập, NXB chính trị quốc gia HCM, tập 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia HCM
Năm: 1995
11. Vũ Đức Minh (1999). Tổng quan về du lịch, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về du lịch
Tác giả: Vũ Đức Minh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
12. Phạm Khôi Nguyên (2005), Tài nguyên và môi trường với định hướng phát triển bền vững, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường với định hướng phát triển bền "vững
Tác giả: Phạm Khôi Nguyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
13. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009). Luật di sản Văn hóa Việt Nam 2001 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa, NXB Chính trị QGHCM, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản Văn hóa "Việt Nam 2001 và Luật sửa đổi bổ sung một số "điều của luật di sản văn hóa
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị QGHCM
Năm: 2009
14. Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bắc Ninh (2013). Kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011-2015,chi cục Quản lý đất đai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch sử dụng "đất 5 năm "2011-2015
Tác giả: Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2013
15. Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bắc Ninh (2013). Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh. Phòng Đo đạc, Bản đồ và Viễn thám Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2013
16. Sở VHTT và DL tỉnh Bắc Ninh (2013), Báo cáo kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra chi tiêu của khách
Tác giả: Sở VHTT và DL tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2013
18. Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Quý Thao, Nguyễn Thị Sơn (2010) Việt Nam các tỉnh và thành phố, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam "các tỉnh và thành phố
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Tổng cục Du lịch (2006). Ngành du lịch-45 năm xây dựng và trưởng thành, truy cập ngày 25/6/2014 từhttp://www.vietnamtourisminfo.com/tindulich/tongcuc/article_8188.shtml Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành du lịch-45 năm xây dựng và trưởng thành
Tác giả: Tổng cục Du lịch
Năm: 2006
21. Tổng cục Du lịch (2013). Khái quát chung tài nguyên du lịch Việt Nam, truy cập ngày 30/8/2014 từhttp://www.dulichvietnam.info/a/b/c/d/e/thong_tin_vietnam/khai_quat_chung/tainguyen.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát chung tài nguyên du lịch Việt Nam
Tác giả: Tổng cục Du lịch
Năm: 2013
22. Tổng cục Thống kê (2013). Lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2013, truy cập ngày 27/8/2014 từ http://www.gso.gov.vn/216.218.195.79/index.php Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2013
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2 Số lượng khách du lịch quốc tế tháng 12 và cả năm 2013 - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 2.2 Số lượng khách du lịch quốc tế tháng 12 và cả năm 2013 (Trang 40)
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh (Trang 47)
Bảng 3.2 Các đơn vị hành chính tỉnh Bắc Ninh năm 2013 - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 3.2 Các đơn vị hành chính tỉnh Bắc Ninh năm 2013 (Trang 51)
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất và cơ cấu các ngành kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất và cơ cấu các ngành kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai (Trang 54)
Bảng 3.6 Chọn điểm nghiên cứu - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 3.6 Chọn điểm nghiên cứu (Trang 59)
Bảng 3.7 Thống kê số lượng các loại mẫu điều tra năm 2014 - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 3.7 Thống kê số lượng các loại mẫu điều tra năm 2014 (Trang 61)
Bảng 4.2 Số di tích được xếp hạng phân theo cấp trung ương - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 4.2 Số di tích được xếp hạng phân theo cấp trung ương (Trang 65)
Bảng 4.4 Danh sách các lễ hội tiêu biểu Tỉnh Bắc Ninh - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 4.4 Danh sách các lễ hội tiêu biểu Tỉnh Bắc Ninh (Trang 72)
Bảng 4.5 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho các điểm, khu du lịch văn hóa tỉnh - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 4.5 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho các điểm, khu du lịch văn hóa tỉnh (Trang 74)
Bảng 4.13 Doanh thu từ hoạt động du lịch của các huyện, TP điều tra - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 4.13 Doanh thu từ hoạt động du lịch của các huyện, TP điều tra (Trang 87)
Bảng 4.14 Tổng hợp các cở sở kinh doanh du lịch tại 3 huyện, thị điều tra - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 4.14 Tổng hợp các cở sở kinh doanh du lịch tại 3 huyện, thị điều tra (Trang 88)
Bảng 4.15 Các đánh giá của khách du lịch                                                                                             (% khách du lịch) - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 4.15 Các đánh giá của khách du lịch (% khách du lịch) (Trang 90)
Bảng 4.16 Tổng hợp công đức tại các di tích của các huyện, xã điều tra - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 4.16 Tổng hợp công đức tại các di tích của các huyện, xã điều tra (Trang 92)
Bảng 4.20 Dự kiến lượng khách du lịch 2015-2020 - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 4.20 Dự kiến lượng khách du lịch 2015-2020 (Trang 99)
Bảng 4.21 Dự kiến doanh thu du lịch 2015-2020 - phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh bắc ninh
Bảng 4.21 Dự kiến doanh thu du lịch 2015-2020 (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w