Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng hộ nông dân trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh bỏ ruộng hoang, nhưng tập trung chủ yếu vào một số nguyên nhân chính sau: do hạ tầng sản xuất giao th
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hữu Thọ
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được để bảo vệ lấy bất kì học vị nào
Tôi xin cam đoan các thông tin, số liệu sử dụng trong luận văn được trích dẫn, chỉ rõ nguồn
Hà Nội, ngày… tháng … năm…
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Hữu Thọ, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương là người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô trong Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Lãnh đạo UBND Thành phố Bắc Ninh, các phòng: Kinh tế, Phòng Tài nguyên và Môi trường của Thành phố Bắc Ninh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày… tháng … năm…
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Anh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình, sơ đồ, đồ thị viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Ðối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp của luận văn thạc sĩ .3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận về việc ra quyết định bỏ ruộng của hộ nông dân 5
2.1.1 Một số khái niệm 5
2.1.2 Cơ sở ra quyết định bỏ ruộng của hộ nông dân 7
2.1.3 Những tác động tiêu cực từ việc nông dân bỏ ruộng 9
2.1.4 Nội dung nghiên cứu tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng 12
2.2 Cơ sở thực tiễn về tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng 14
2.2.1 Tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng ở một số nước trên thế giới 14
2.2.2 Tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng tại một số địa phương ở Việt Nam 17
2.2.3 Một số bài học kinh nghiệm cho nghiên cứu tình trạng nông dân bỏ ruộng trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh 21
Phần 3 Phương pháp nghiêncứu 24
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24
Trang 53.1.1 Vi ̣ trı́ đi ̣a lý 24
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 25
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 26
3.2 Phương pháp nghiên cứu 30
3.2.1 Phương pháp tiếp cận và khung phân tích 30
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 32
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 34
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35
Phần 4 Kết quả và thảo luận 37
4.1 Thực trạng nông dân bỏ ruộng trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 37
4.1.1 Phạm vi bỏ ruộng hoang trên địa bàn Thành phố 37
4.1.2 Mức độ bỏ ruộng trong các hộ nông dân 39
4.1.3 Nguyên nhân hộ nông dân bỏ ruộng hoang 43
4.1.4 Những tác hại khi hộ nông dân bỏ ruộng hoang 54
4.1.5 Phân tích các giải pháp đã được Thành Phố Bắc Ninh sử dụng để xử lý hiện tượng nông dân bỏ ruộng trên địa bàn 58
4.2 Đề xuất một số giải pháp xử lý tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 67
4.2.1 Quan điểm và định hướng sử dụng ruộng đất trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn tới 67
4.2.2 Một số giải pháp xử lý tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 72
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 79
5.1 Kết luận 79
5.2 Kiến nghị 81
5.2.1 Đối với Nhà nước 81
5.2.2 Đối với Tỉnh, Thành phố 82
5.2.3 Đối với UBND các xã, phường 83
Tài liệu tham khảo 85
Phụ lục 88
Trang 6NTM Nông thôn mới
PTNT Phát triển nông thôn
SXNN Sản xuất nông nghiệp TN&MT Tài nguyên và môi trường
TP Thành phố
UBND Ủy ban nhân dân
XLNT Xử lý nước thải
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp thành phố Bắc Ninh 27
Bảng 3.2 Dân số và lao động thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2013-2017 28
Bảng 3.3 Số lượng mỗi đối tượng điều tra thu thập thông tin về tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh 33
Bảng 4.1 Diện tích đất ruộng bị bỏ hoang trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh phân theo loại cây trồng 37
Bảng 4.2 Diện tích đất ruộng bị bỏ hoang trên địa bàn TP Bắc Ninh phân theo địa bàn 38
Bảng 4.3 Số hộ nông dân bỏ ruộng trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2015-2017 39
Bảng 4.4 Diện tích đất ruộng được giao/hộ 40
Bảng 4.5 Thời gian bỏ ruộng hoang ở các nhóm hộ 42
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của hệ thống tưới tiêu tới diện tích bỏ hoang của hộ 44
Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế trồng lúa ở Thành phố Bắc Ninh 48
Bảng 4.8 Sinh kế của hộ nông dân 50
Bảng 4.9 Thu nhập lao động giữa làm lúa và các sinh kế khác 51
Bảng 4.10 Số lượng LĐ trực tiếp làm nông nghiệp trong tổng số nhân khẩu của 90 hộ dân 51
Bảng 4.11 Các chi phí cố định bình quân dù bỏ ruộng hoang hộ nông dân vẫn phải bỏ ra 54
Bảng 4.12 Hiệu quả kinh tế Cánh đồng không có ruộng bỏ hoang và Cánh đồng có ruộng bỏ hoang 56
Bảng 4.13 Các hình thức tuyên truyền vận động người dân tiếp tục làm ruộng tại xã, phường 59
Bảng 4.14 Đánh giá của các nhóm hộ về tuyên truyền vận động hộ nông dân tiếp tục làm ruộng 60
Bảng 4.15 Kết quả đạt được trong công tác dồn điền đổi thửa của toàn Thành phố Bắc Ninh 61
Bảng 4.16 Kết quả đạt được trong công tác chuyển đổi đất lúa sang làm trang trại tại TP Bắc Ninh 62
Trang 8Bảng 4.17 Kết quả đạt được trong công tác thay đổi giống lúa cũ sang một số
giống lúa mới khác tại Thành phố Bắc ninh 63 Bảng 4.18 Kết quả đạt được trong công tác chuyển đổi Giống lúa sang một số
giống cây trồng khác tại Thành phố Bắc ninh 64 Bảng 4.19 Một số các văn bản chính sách được ban hành nhằm phát triển đất
trồng lúa, hạn chế tình trạng bỏ ruộng hoang 66 Bảng 4.20 Phân tı́ch SWOT lựa chọn hướng giải quyết hiện tượng nông dân bỏ
ruộng trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh 70
Trang 9DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Bản đồ hành chính thành phố Bắc Ninh 24
Hình 4.1 Hàng chục m2 đất “ bờ xôi ruộng mật” bị bỏ hoang hóa cỏ mọc um tùm tại TP Bắc Ninh 99
Hình 4.2 Cánh đồng Ma (khu Thượng- Xã Khắc Niệm) bị bỏ hoang vì nước thải tràn lan, ngập úng 99
Hình 4.3 Sông Ngũ Huyện Khê nguồn nước bị ô nhiễm trầm trọng làm ảnh hưởng đến nước sản xuất nông nghiệp 100
Hình 4.4 Ô nhiễm ở làng giấy Phong Khê đã tới mức báo động 100
Sơ đồ 3.1 Khung phân tích tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng 31
Đồ thị 4.1 Diện tích ruộng bị bỏ hoang trung bình một hộ (sào) 41
Đồ thị 4.2 Tỷ lệ hộ dân bị ảnh hưởng bởi hệ thống giao thông thủy lợi đến việc bỏ ruộng theo nhóm hộ 45
Đồ thị 4.3 Tỷ lệ hộ dân bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường đất, nước đến việc bỏ ruộng theo nhóm 46
Đồ thị 4.4 Tỷ lệ hộ dân cho rằng bỏ ruộng hoang là do thiếu lao động (%) 52
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Anh
Tên luận văn:Nghiên cứu tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng trên địa bàn Thành phố Bắc
Phương pháp nghiên cứu
Số liệu và thông tin phục vụ nghiên cứu được lấy từ nguồn thứ cấp và sơ cấp Nguồn thông tin thứ cấp được lấy từ các báo cáo chuyên ngành và niên giám thống kê của một số phòng, ban thuộc UBND Thành phố Bắc Ninh và các công trình nghiên cứu
đã công bố Nguồn thông tin sơ cấp được lấy thông qua điều tra chọn mẫu Nghiên cứu
đã điều tra 90 hộ gia đình nông dân bỏ ruộng đại diện tại 3 phường (Phong Khê, Đại Phúc và Vũ Ninh) của Thành phố và 9 cán bộ ngành nông nghiệp cấp xã và cấp thành phố Thời gian điều tra là năm 2018 Toàn bộ số liệu được xử lý trên phần mền Excel
Một số kết quả nghiên cứu và kết luận
Luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về việc ra quyết định bỏ ruộng của
hộ nông dân; đã tổng kết được tình trạng nông dân bỏ ruộng và cách giải quyết tình trạng nông dân bỏ ruộng ở một số nước (Thái Lan, Trung Quốc và Philippines) và một
số tỉnh trong nước (Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hóa và Nghệ An) để rút
ra bài học cho nghiên cứu tình trạng nông dân bỏ trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh Kết quả đánh giá thực trạng cho thấy, tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng hoang trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh bắt đầu từ năm 2013 (tại xã Phong Khê) và bắt đầu trở nên phổ biến từ năm 2015 Diện tích đất bỏ hoang chủ yếu là loại đất trồng lúa Tình trạng bỏ ruộng hoang ngày một tăng Nếu như năm 2015, tổng diện tích ruộng bỏ hoang của toàn Thành phố Bắc Ninh khoảng 67,2 ha (chiếm khoảng 2% trong tổng đất trồng lúa toàn Thành phố) thì đến năm 2017 diện tích bỏ hoang đã là 358,9 ha (chiếm gần 13%), tương đương khoảng 6.780 hộ bỏ ruộng hoang Mức độ bỏ ruộng hoang ở các hộ
có khác nhau, nó phụ thuộc vào tính đa dạng sinh kế của hộ Nhưng hộ sống phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp thì có diện tích ruộng bỏ hoang ít hơn (diện tích bỏ hoang trung
Trang 11bình của nhóm hộ này là 0,9 sào/hộ); ngược lại, nhóm hộ sống ít phụ thuộc vào nông nghiệp có diện tích bỏ ruộng hoang nhiều (trung bình là 9,5 sào/hộ)
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng hộ nông dân trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh bỏ ruộng hoang, nhưng tập trung chủ yếu vào một số nguyên nhân chính sau:
do hạ tầng sản xuất (giao thông, thủy lợi) không đáp ứng do thiếu kinh phí tu sửa, bị chia cắt, bị phá vỡ bởi sự phát triển của các cụm, khu công nghiệp và khu dân cư; do môi trường đất, môi trường nước bị ô nhiễm do thiếu quản lý nguồn xả thải từ cụm, khu công nghiệp, làng nghề và khu dân cư; do hiệu quả kinh tế của làm ruộng thấp (chỉ lời khoảng 450 nghìn đồng/sào/vụ) lại chịu nhiều rủi ro do thời tiết và dịch bệnh; do phát triển mạnh của các sinh kế thay thế (làm công nhân ở các khu công nghiệp, làm thuê ở các thành phố, làm nghề phụ ) làm cho các hộ nông nghiệp chuyển dịch sang làm các nghề khác có lợi nhuận cao hơn; do lực lượng lao động trực tiếp làm ruộng hiện nay không nhiều, lại chủ yếu là người lớn tuổi và phụ nữ
Việc bỏ ruộng hoang trên địa bàn đã gây ra nhiều thiệt hại và hệ lụy cả về kinh
tế, xã hội và môi trường Trước tình hình này, Thành phố Bắc Ninh đã triển khai nhiều giải pháp như vận động, thuyết phục người dân tiếp tục làm ruộng; tổ chức lại sản xuất nông nghiệp trên địa bàn; nâng cao vai trò quản lý nhà nước các cấp Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, các giải pháp này chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, tình trạng bỏ ruộng vẫn diễn ra nhiều và ngày một tăng
Trên cơ sở đánh giá mức độ bỏ ruộng ở các hộ nông dân, phân tích nguyên nhân
và tính hiệu quả của các giải pháp mà Thành phố đã sử dụng, luận văn đã đề xuất một
số giải pháp để khắc phục tình trạng nông dân bỏ ruộng trên địa bàn Thành phố, các giải pháp tập trung vào: thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng theo hướng những diện tích khó phục hồi để sản xuất nông nghiệp thì cho chuyển sang đất phi nông nghiệp, những diện tích cấy lúa kém hiệu quả thì cho chuyển sang nuôi, trồng đối tượng khác kinh tế cao hơn; cải tạo, nâng cấp hạ tầng tại các vùng tiếp tục sản xuất lúa để thuận lợi hóa việc chăm sóc và vận chuyển nguyên vật liệu và thu hoạch nông sản; thu hút đầu tư chiều sâu để nâng cao hiệu quả sản xuất trên diện tích đất lúa hiện nay cũng như diện tích đất lúa trồng trở lại sau bỏ hoang; nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường từ các cụm, khu công nghiệp và làng nghề để khỏi ảnh hưởng đến vùng trồng lúa
Trang 12THESIS ABSTRACT Master candidate: Nguyen Thi Ngoc Anh
Thesis title: Research on the situation of farmer households abandoning land fields in
Bac Ninh City, Bac Ninh Province
Major: Economic Management Code: 8340401 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
Research purposes
Assessing the situation and proposing solutions to overcome the situation of farmers abandoned land fields, contributing to improving the efficiency of agricultural land use in the area of Bac Ninh City, Bac Ninh Province in the coming period
Research Methods
Data and information for research are taken from secondary and primary sources Secondary sources of information are taken from specialized reports and statistical yearbooks of some departments, belonging to Bac Ninh City People's Committee and published research works Primary sources of information are obtained through a sample survey The study investigated 90 farmer households abandoning land fields in three wards (Phong Khe, Dai Phuc, and Vu Ninh) of the City and nine officials at the commune and city level The investigation time is 2018 All data are processed on Excel software
Some research results and conclusions
The thesis has systematized the theoretical basis of the decision to abandon fields by farmers; has summarized the situation of farmers leaving rice fields and how
to solve the situation of farmers leaving fields in some countries (Thailand, China and the Philippines) and some provinces in Vietnam (Hai Duong, Hai Phong, Nam Dinh, Thanh Chemistry and Nghe An) to draw lessons for studying the situation of farmers abandon fields in Bac Ninh City
The results of the assessment show that the situation of farmers abandoned land fields in Bac Ninh City started in 2013 (in Phong Khe commune) and began to become popular since 2015 The abandoned land area is mainly rice-growing land The situation
of abandoned land fields is increasing If in 2015, the total area of abandoned rice fields
in Bac Ninh City was about 67.2 ha (accounting for about 2% of the total rice cultivation land of the whole City), by 2017 the abandoned area was 358.9 ha (accounting for nearly 13%), equivalent to about 6,780 households abandoning fields The degree of desertification in households varies, depending on the livelihood diversity
Trang 13of the household But households that depend heavily on agriculture have less area of abandoned land fields (the average abandoned area of this group is 0.9 sao / household);
on the contrary, the group of living households is less dependent on agriculture with a large area of abandoned land fields (an average of 9.5 sao / household)
There are many reasons for the situation of farmers in Bac Ninh City leaving abandoned fields, but focusing mainly on some of the following leading causes: because production infrastructure (transport, irrigation) does not meet due to the lack of remodeling, divided, and broken by the development of clusters, industrial zones and residential areas; due to pollution of soil and water environment due to lack of management of waste sources from clusters, industrial zones, craft villages and residential areas; due to low economic efficiency (only about 450 thousand VND / sao / crop), there are many risks due to weather and diseases; due to the strong development of alternative livelihoods (working as workers
in industrial parks, working in cities, working as secondary workers ), making agricultural households shift to other profitable jobs; because the current direct labor force is not much, mainly the elderly and women
The abandonment of fields in the area has caused many losses and consequences
in terms of economy, society and environment In this situation, Bac Ninh City has implemented many solutions such as mobilizing and persuading people to continue farming; reorganizing agricultural production in the area; improve the role of state management at all levels However, due to many reasons, these solutions have not achieved the desired results, the abandonment situation is still much and increasing
On the basis of assessing the level of field abandonment in farmer households, analyzing the causes and effectiveness of the solutions used by the city, the thesis proposes some solutions to overcome farmers' situation of abandoning land fields in the city, the solutions focused on: promoting economic restructuring, crop structure towards the areas that are difficult to recover for agricultural production, then shifting to non-agricultural land the inefficient rice-growing regions are shifted to farming, planting other economic objects; renovating and upgrading infrastructure in areas where rice production continues to facilitate the care and transportation of raw materials and harvest of agricultural products; attracting in-depth investment to improve production efficiency on the current area of rice land as well as the area of paddy land to be re-grown after abandoned; enhance the responsibility of local authorities to control environmental pollution from clusters, industrial zones and craft villages to avoid affecting rice-growing areas
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất trồng trọt có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt là
ở các quốc gia còn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp Đất trồng trọt vừa
là tư liệu vừa là công cụ sản xuất của các hộ nông nghiệp; là nguồn hình thành mặt bằng bố trí các hoạt động kinh tế khác như công nghiệp và dịch vụ Có nhiều cách gọi khác nhau về những mảnh đất trồng trọt, nhưng phổ biến gọi là ruộng
Ở Việt Nam, thực hiện chính sách pháp luật về đất đai, nhà nước đã giao đất nông nghiệp ổn định sử dụng lâu dài hoặc cho các hộ nông dân Vì thế, đất nông nghiệp đang là tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất của 9,3 triệu hộ nông nghiệp trong cả nước, trung bình mỗi hộ có 2,5 mảnh ruộng (Tổng cục Thống kê, 2016) Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2011, sản xuất nông nghiệp không ổn định, thu nhập kém hơn với so các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng, dịch vụ khác Do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nên nhiều hộ gia đình nông dân không muốn làm ruộng; tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng hoang đặc biệt là bỏ ruộng lúa đang diễn ra ngày càng nhiều và có xu hướng tăng Tại một số địa phương có điều kiện thuận lợi, các cụm công nghiệp, khu công nghiệp
và các hoạt động dịch vụ phát triển mạnh đã thu hút hàng vạn lao động trẻ, dẫn đến tình trạng nhiều địa phương thiếu lao động nông nghiệp, chỉ còn những người sức khỏe kém và người cao tuổi ở nhà làm ruộng Nhiều khu ruộng dân không gieo cấy nhưng cũng không ai thuê mượn bởi có đầu tư sản xuất cũng chưa chắc có lợi nhuận Theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2013), tính đến tháng 8 năm 2013 cả nước có trên 20 tỉnh, thành phố có tình trạng nông dân
bỏ ruộng hoang, có những hộ đã bỏ hoang 4 - 5 năm Tổng số hộ nông dân bỏ ruộng lên đến 42.785 hộ với khoảng 6.882 ha, tập trung nhiều ở các tỉnh phía Bắc, trong đó có tỉnh Bắc Ninh
Thành phố Bắc Ninh là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Bắc Ninh Các hoạt động công nghiệp, dịch vụ phát triển khá mạnh đã thu hút rất nhiều lao động rời lĩnh vực nông nghiệp; cùng với đó, việc quy hoạch, quản lý các hoạt động công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn chưa tốt làm ảnh hưởng đến hạ tầng và nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp Vì thế, càng làm cho tình trạng bỏ ruộng trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh diễn ra phổ biến và ngày một nhiều Năm 2015 toàn thành phố mới có khoảng 67,2 ha đất trồng lúa giao cho hộ bị bỏ hoang
Trang 15nhưng đến 2017 diện tích ruộng lúa bỏ hoang đã lên tới 358,9 ha, chiếm 16,4% trong tổng diện tích lúa của thành phố, tăng hơn 53% so với năm 2015 (Phòng Kinh tế Thành phố Bắc Ninh, 2017)
Khi hộ nông dân bỏ ruộng hoang không chỉ làm ảnh hưởng đến tài nguyên đất mà còn làm cho nhiều hệ lụy nảy sinh Trên những mảnh ruộng bị bỏ hoang
cỏ dại mọc nhiều hình thành nơi cư trú và phát sinh nhiều loại dịch hại; hạ tầng phục vụ sản xuất giữa khu vực bỏ hoang với khu vực không bị bỏ hoang bị chia cắt, không được bảo dưỡng, duy trì
Xuất phát từ thực tiễn đã nêu, việc nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tình
trạng hộ nông dân bỏ ruộng trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh” là cần thiết, có ý nghĩa Thực hiện nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi:
1) Phạm vi và mức độ hộ nông dân bỏ ruộng hoang trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh hiện nay như thế nào?
2) Nguyên nhân tại sao hộ nông dân lại không muốn tiếp tục làm ruộng; khi không muốn tiếp tục làm ruộng tại sao họ không bán, cho người khác thuê hoặc trả lại đất cho Nhà nước mà lại để ruộng hoang trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh?
3) Nhà nước nói chung, Thành phố Bắc Ninh nói riêng nên làm gì để hạn chế tình trạng bỏ ruộng, sử dụng hiệu quả hơn diện tích ruộng của nông dân đã
Trang 161.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Ðối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quyết định bỏ ruộng của hộ nông dân
Đối tượng thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu chủ yếu là các hộ nông dân
bỏ ruộng; cán bộ quản lý nhà nước về nông nghiệp và đất đai
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hộ
nông dân bỏ ruộng, trọng tâm là diện tích ruộng lúa bị bỏ hoang trong các hộ gia đình; không nghiên cứu ruộng bị bỏ hoang do các thành phần kinh tế khác có quyền sử dụng đất nông nghiệp
- Về không gian: tập trung nghiên cứu tình trạng hộ nông dân bỏ ruô ̣ng
trên đi ̣a bàn thành phố Bắc Ninh, tı̉nh Bắc Ninh
- Về thời gian: tập trung đánh giá, phản ánh thực trạng sử dụng ruộng đất
và tình trạng nông dân bỏ ruộng trong giai đoạn từ 2015 - 2018; số liệu sơ cấp được tổ chức điều tra, thu thập năm 2018; các giải pháp đề xuất cho giai đoạn
2020 - 2025
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN THẠC SĨ
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc ra quyết định bỏ ruộng của
hộ nông dân; làm rõ hơn cơ sở ra quyết định bỏ ruộng của hộ nông dân như: ra quyết định và vai trò của ra quyết định trong nông nghiệp; các quyết định trong việc bỏ ruộng của hộ gia đình (việc ra quyết định không tiếp tục làm ruộng, việc
ra quyết định không để người khác sử dụng ruộng của gia đình); một số căn cứ ra quyết định trong hoạt động làm ruộng
- Bổ sung cơ sở thực tiễn về tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng ở một số nước trên thế giới và tại một số địa phương ở Việt nam, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho nghiên cứu tình trạng nông dân bỏ ruộng trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh
- Phân tích được thực trạng hộ nông dân bỏ ruộng trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh trên các khía cạnh: phạm vi, mức độ bỏ ruộng trong các hộ nông dân, tác hại khi hộ nông dân bỏ ruộng và nguyên nhân hộ nông dân bỏ ruộng trên địa bàn TP Bắc Ninh; đồng thời đã phân tích được nội dung và hạn chế trong các giải
Trang 17pháp mà chính quyền Thành phố Bắc Ninh đã sử dụng để hạn chế tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh thời gian qua
- Đề xuất được một số giải pháp để góp phần giải quyết tình trạng nông dân bỏ ruộng trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh, từ đó giúp Thành phố sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nông nghiệp; đồng thời đưa ra một số kiến nghị với một
số đối tượng có liên quan từ Trung ương đến các hộ nông dân
Trang 18PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH BỎ RUỘNG CỦA HỘ NÔNG DÂN
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Đất đai, đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng lúa, ruộng, ruộng lúa
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:
Đất đai là một vùng đất có ranh giới với khoảng không gian ở trên và bên dưới đất Những thứ ở trên phần đất đai đó đều thuộc quyền sở hữu của người
có đất đó Nó thể hiện quyền lợi khác nhau quyết định những gì có thể thực hiện được với đất
Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm:
+ Đất trồng cây hàng năm: bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác Cây hàng năm là loại cây trồng chu kỳ sản xuất không quá một năm (bao gồm cả cây có thể lưu gốc nhiều năm) như lúa, ngô, khoai các loại, sắn, rau, đậu các loại, đậu tương, lạc, vừng, mía
Đất trồng lúa, là đất thực tế đang được dùng để trồng lúa một cách ổn định, tức là trong điều kiện bình thường luôn được trồng lúa Đất trồng lúa trong một năm,
có thể cho phép luân canh 3 vụ lúa, 3 vụ lúa màu (cây màu vụ đông- lúa chiêm xuân- lúa mùa hoặc cây màu vụ đông- cây màu vụ xuân- lúa mùa), 2 vụ lúa (lúa chiêm xuân- lúa mùa), 2 vụ lúa (cây màu vụ xuân- lúa mùa hoặc lúa chiêm xuân- cây màu vụ mùa), 1 vụ lúa (lúa chiêm xuân- vụ mùa ngập úng hoặc vụ chiêm khô hạn- lúa mùa)
+ Đất trồng cây lâu năm: thực tế đang được dùng để chuyên trồng cây lâu năm (bao gồm cả diên tích gieo ươm cây giống, đất đang chờ vào chu kỳ gieo trồng, đất tạm thời trồng xen, gối cây hàng năm) Cây lâu năm là loại cây trồng có chu kỳ sản xuất trên một năm như chè, cà phê, sơn, các loại cây ăn quả xoài, chuối, dứa, na,
đu đủ, cam, quýt, chanh, bưởi, táo, nhãn, vải
Ruộng là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các hộ gia đình nông thôn Việt Nam Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (2012), ruộng là khoảng đất để trồng trọt, mặt phẳng, xung quanh có bờ, dùng
Trang 19để trồng lúa, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày Theo Từ điển mở Wikipedia (2019), ruộng là một khu đất ngập nước có diện tích đất dùng để canh tác và được sử dụng cho việc trồng lúa và các cây trồng khác Qua đó cho thấy, trong nghiên cứu này, ruộng được hiểu là một mảnh đất chuyên dùng để trồng cây hàng năm
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Ruộng lúa, đồng lúa, hoặc cánh đồng lúa hay còn gọi đơn giản là ruộng là một khu đất ngập nước có diện tích đất dùng để canh tác và được sử dụng cho việc trồng lúa và các cây trồng khác Ruộng lúa là một đặc trưng điển hình cho loại hình canh tác lúa nước ở vùng Đông
Á và Đông Nam Á Ruộng lúa có thể được khai khẩn dựa vào sườn đồi dốc như ruộng bậc thang hoặc các thửa ruộng tiếp giáp với các bờ sông, đầm lầy Tại Việt Nam, ruộng lúa hay còn được gọi là ruộng đất, điền địa thường được chia thành các khoảnh ruộng nhỏ gọi là các thửa ruộng, mẫu ruộng Canh tác trên ruộng lúa đòi hỏi rất nhiều lao động là những người nông dân gắn bó với ruộng đất Để canh tác trên ruộng lúa nước luôn cần một lượng nước nhất định, thường là rất lớn chính vì vậy những công trình thủy lợi như: đê điều, kè, kênh, mương, mán luôn được thiết kế xây dựng gần với các khoảnh ruộng Những cánh đồng ngập nước cung cấp một môi trường lý tưởng cho việc trồng lúa
2.1.1.2 Hộ nông dân
Theo Mai Thị Thanh Xuân và Đặng Thị Thu Hiền (2013), hộ gia đình là một tổ chức trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Hộ nông dân (nông hộ) là những hộ gia đình chủ yếu hoạt động nông nghiệp, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn nhưng khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông nghiệp và không có liên quan với công nghiệp Hay nói cách khác, nông hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất và sử dụng chủ yếu lao động gia đình và sản xuất; luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được đặc trưng tham gia một phần vào thị trường với mức độ chưa hoàn chỉnh Từ các quan điểm trên, trong nghiên cứu này, hộ nông dân được hiểu là một hộ gia đình sinh sống, nguồn thu nhập phụ thuộc nhiều vào hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
Hộ nông dân vừa là đơn vị kinh tế cơ sở, là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp Tổ chức sản xuất trong các hộ thường được hình thành trong
Trang 20phạm vi các thành viên trong một gia đình; họ cùng chung tài sản, chung vốn để cùng tổ chức sản xuất, kinh doanh nông nghiệp Hộ nông dân tồn tại ở cả thành thị và nông thôn, nhưng chủ yếu ở vùng nông thôn (Vũ Đình Thắng, 2006)
2.1.1.3 Hộ nông dân bỏ ruộng
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (2012), bỏ là trạng thái để không, không sử dụng Quốc hội (2013), đất có
đủ điều kiện về địa hı̀nh, thổ nhưỡng, cơ sở ha ̣ tầng kỹ thuâ ̣t phu ̣c vu ̣ sản xuất nhưng không được đưa vào khai thác sử dụng trong chu kỳ sản xuất được coi là đất bi ̣ bỏ hoang Theo Hội Nông dân Việt Nam (2016), hộ nông dân bỏ ruộng là việc các hộ nông dân không còn thiết tha với mảnh ruộng của mình, bỏ đi làm việc khác mà không sản xuất Vì thế, trong nghiên cứu này có thể hiểu, hộ nông dân bỏ ruộng là hộ nông dân không tổ chức bất kỳ hoạt động sản xuất nào trên một phần hoặc toàn bộ diê ̣n tích đất nông nghiệp mà gia đình đang có quyền sử dụng trong một chu kỳ sản xuất trở lên Chu kỳ sản xuất thường được gọi là vụ
Hộ nông dân bỏ ruộng thể hiện một số đặc điểm sau:
- Hộ nông dân không tổ chức trồng trọt bất kỳ một loại cây trồng nào trên một phần hay toàn bộ diện tích mảnh ruộng của mình
- Hộ nông dân vẫn có quyền sở hữu, quyền sử dụng đất nhưng không ra quyết định trồng trọt mà để đất hoang
- Thời gian không trồng trọt để được xem là bỏ ruộng phụ thuộc vào từng loại cây Đối với cây hàng năm, cây mang tính thời vụ thì quá một vụ mà không
tổ chức sản xuất được xem là bỏ ruộng; đối với cây lâu năm, sau một năm mà không tổ chức sản xuất được xem là bỏ ruộng
2.1.2 Cơ sở ra quyết định bỏ ruộng của hộ nông dân
2.1.2.1 Ra quyết định và vai trò của ra quyết định trong nông nghiệp
Việc ra quyết định đúng trong nông nghiệp giữ một vai trò hết sức quan trọng Không chỉ đối với sản xuất nông nghiệp mà bất cứ một lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào việc ra quyết định trong cả quá trình sản xuất là không thể thiếu
Dù là doanh nghiệp nông nghiệp hay hộ nông dân các quyết định kinh tế mà họ thực hiện cũng liên quan đến 4 vấn đề cơ bản sau: nên sản xuất sản phẩm dịch vụ
gì và bao nhiêu? Kĩ thuật nào cần được áp dụng với bao nhiêu nguồn lực cần thiết để thực hiện được mục tiêu đó? Làm thế nào để hoàn thiện hơn nữa quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo? Việc ra quyết định phụ thuộc nhiều vào bản
Trang 21chất của người ra quyết định Việc ra quyết định của các nhà sản xuất chủ yếu dựa trên những tín hiệu thị trường được phản ánh qua cơ chế giá và các nguyên tắc lý thuyết biên Việc ra quyết định của hộ nông dân vừa tuân theo tín hiệu thị trường lại vừa phản ánh mục đích kinh tế, xã hội và nhân văn của nông hộ Vì vậy, việc ra quyết định kinh tế nói trên phụ thuộc vào các yếu tố như: Mục tiêu của người ra quyết định; nguồn lực của hộ gia đình; môi trường thị trường mà hộ gia đình tiến hành sản xuất, kinh doanh; kỹ thuật và công nghệ áp dụng
Ra quyết định đúng có ý nghĩa lớn đối với nông hộ Nó cho phép thỏa mãn tốt hơn nhu cầu nông dân, đảm bảo sử dụng đầy đủ, hợp lý hơn các nguồn lực sẵn có, giúp cho sự lựa chọn của hộ gia đình đứng vững hơn trước sự chao đảo của thị trường
2.1.2.2 Các quyết định trong việc bỏ ruộng của hộ gia đình
Để có quyết định bỏ ruộng hộ nông dân phải cùng lúc ra hai quyết định,
đó là: quyết định không tiếp tục làm ruộng và quyết định không để người khác sử dụng ruộng của mình
- Việc ra quyết định không tiếp tục làm ruộng sẽ phụ thuộc vào mục tiêu
của từng hộ gia đình, trong đó có 2 mục tiêu chính:
+ Thứ nhất, để tối ưu hóa lợi nhuận cho gia đình Việc này thường được
các hộ gia đình thực hiện trong bối cảnh hộ có ít nhất một cơ hội việc làm khác cho thu nhập cao hơn so với làm ruộng; khi đó họ sẽ không tiếp tục làm ruộng để làm việc khác có thu nhập cao hơn như làm thuê, như làm tiểu thủ công nghiệp, làm công nghiệp
+ Thứ hai, để hợp lý hóa năng lực sản xuất của gia đình Việc này thường
được thực hiện trong bối cảnh gia đình vừa trải qua những cú xốc làm ảnh hưởng đến năng lực tài chính, năng lực lao động của hộ làm cho hộ không đủ khả năng làm ruộng; hoặc do nhu cầu thị trường đòi hỏi chủng loại và chất lượng nông sản cao hơn trong khi năng lực sản xuất hiện tại (truyền thống) của gia đình không thể tổ chức sản xuất được hàng hóa loại đó; khi đó hộ phải bỏ ruộng để lựa chọn công việc có thu nhập thấp hơn so với làm ruộng, đây là điều hộ không mong muốn nhưng vẫn phải làm
- Việc ra quyết định không để người khác sử dụng ruộng của gia đình sẽ
phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường quyền sử dụng đất và các quy định của pháp luật về đất đai Khi quyết định không tiếp tục làm ruộng, hộ nông dân sẽ có
Trang 22một số lựa chọn, đó là: bán quyền sử dụng đất, cho thuê quyền sử dụng đất hoặc trả lại đất cho Nhà nước Khi cả hai lựa chọn này không mang lại lợi ích hoặc không bị bắt buộc bởi pháp luật thì hộ nông dân sẽ quyết định để ruộng hoang Nghĩa là, hộ sẽ không bán, không cho thuê và cũng không trả lại ruộng cho Nhà nước, thay vào đó, họ để ruộng hoang Vì khi để ruộng hoang hộ dân không mất
gì mà lại có lợi; họ có ruộng để dự phòng nếu ngành nghề khác bị rủi ro họ vẫn
có điều kiện tái làm ruộng; họ có cơ hội được nhận tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất và có cơ hội nhận được tiền nếu giá ruộng đất tăng cao hơn trong tương lai
2.1.2.3 Một số căn cứ ra quyết định trong hoạt động làm ruộng
+ Phải tính đến nhu cầu thị trường sản phẩm định sản xuất : Trong phương
diện này người sản xuất cần trả lời một số câu hỏi sau: Thị trường cần bao nhiêu?
Hộ gia đình có khả năng đáp ứng được các sản phẩm đó hay không? Nếu sản xuất ra sản phẩm đó, yếu tố rủi ro nào có thể xảy ra? Làm thế nào để khắc phục rủi ro đó để có lời?
+ Nắm vững khả năng về nguồn lực của nông hộ: Hộ cần phải trả lời được
các câu hỏi sau: hộ gia đình có những nguồn lực gì? Mỗi loại là bao nhiêu? Những nguồn lực này có khả năng sản xuất ra những sản phẩm gì? Từ trước đến giờ nông hộ có khả năng sản xuất ra sản phẩm đó không? Nếu có kết quả sản xuất các sản phẩm đó so với công việc khác ra sao?
+ Xác định mức lợi ích tối ưu cho mỗi sự lựa chọn: Căn cứ vào mục tiêu đã
đặt ra, phân tích các yếu tố thực tế về sự cần thiết của các sản phẩm và nguồn lực
mà hộ đang có ruộng và gia đình có thể quyết định các sự lựa chọn tối ưu đạt được với lợi ích cao nhất
2.1.3 Những tác động tiêu cực từ việc nông dân bỏ ruộng
Đất đai được xem là công cụ là tư liệu sản xuất nông nghiệp; là mặt bằng
để bố trí các hoạt động phi nông nghiệp Chính vì thế, việc bỏ hoang ruộng, nhất
là bỏ hoang ruộng sau một thời gian dài thường có nhiều tác động tiêu cực đến cả kinh tế, xã hội và môi trường
Tác động tiêu cực đến kinh tế- xã hội:
Một khi nông dân bỏ ruộng sẽ làm cho khả năng sinh lời từ đất nông nghiệp không còn Do khả năng sinh lời từ đất không còn làm cho tích lũy tài chính của gia đình hộ nông dân cũng như của cả xã hội giảm Khi bỏ ruộng,
Trang 23người nông dân sẽ phải làm việc khác, thậm chí phải di cư tự do ra thành phố kiếm việc làm một các bột phát Sự bột phát này vô hình tạo nên sự xáo trộng ở khu vực thành thị, dễ làm nảy sinh những tệ nạn, ảnh hưởng trật tự xã hội
Hạ tầng tại các Thành phố lớn quá tải: các điều kiện về kết cấu hạ tầng, như nhà ở, trường học, bệnh viện, điện, nước, đường phố, vệ sinh môi trường và các điều kiện khác không đáp ứng kịp nhu cầu của người dân Phương tiện di chuyển phổ biến của người dân là xe máy bởi các phương tiện giao thông công cộng chưa thuận lợi, chưa thực sự phù hợp với nhu cầu di chuyển thực tế của người dân và đặc thù các khu dân cư, hệ thống đường phố, ngõ nhỏ Tình trạng kẹt xe, tắc đường ngày càng nghiêm trọng mặc dù không thể phủ nhận một thực
tế rằng, hệ thống đường, cầu vượt, hầm ngầm ở những nơi “trọng điểm” của Thành phố lớn trong những năm vừa qua đã không ngừng được xây dựng, mở rộng, nâng cấp Sức ép về quản lý an ninh, trật tự công cộng, bảo đảm môi trường sống lành mạnh tại các Thành phố lớn
Dòng người di cư từ nông thôn ra Thành phố rất đa dạng về loại hình, phức tạp về thành phần nên rất khó có thể thống kê chính xác về số lượng cũng như tình hình lao động di cư tự do Một đặc điểm của người di cư tự do vào các Thành phố, đặc biệt là người di cư làm việc ở khu vực phi chính thức là hay thay đổi chỗ làm việc và chỗ ở Một bộ phận lao động tự do vào Thành phố tìm việc làm trong thời gian nông nhàn, hoặc làm việc tạm thời thường không đăng ký tạm trú, gây khó khăn cho việc quản lý nhân khẩu tại đây, làm nảy sinh thêm nhiều vấn đề xã hội phức tạp về bảo vệ trật tự và an toàn xã hội tại các Thành phố Điều kiện sống khó khăn, thiếu thốn, công việc bấp bênh, thiếu kiến thức xã hội và cơ hội tiếp cận với các dịch vụ đã khiến người lao động tại nông thôn bỏ ruộng di cư vào các khu vực Thành phố trở thành nạn nhân của nhiều tệ nạn xã hội, làm nóng thêm các vấn đề, như tạo sinh kế ổn định, môi trường sống lành mạnh; nâng cao cơ hội tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc y tế, hỗ trợ xã hội, được hưởng các chính sách về y tế, nhà ở, vệ sinh, điện nước…
Việc lao động nông thôn bỏ ruộng di cư ra Thành phố tìm việc làm, không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế xã hội tại các Thành phố lơn mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân họ Lao động di cư có trình độ học vấn thấp, chưa qua đào tạo nghề nghiệp thường phải chấp nhận những công việc không ổn định, thu nhập thấp mặc dù mức thu nhập này vẫn cao hơn thu nhập từ làm ruộng Do vị thế trên thị trường lao động rất yếu, nên để có việc làm lao động di cư thường chấp nhận
Trang 24điều kiện làm việc kém thuận lợi hơn Rất nhiều người làm việc không có hợp đồng lao động, hay hợp đồng lao động miệng như thợ may, nhân viên bán hàng trong các cửa hàng tư nhân, nhân viên bán hàng trong các nhà hàng, người lau chùi vệ sinh tự do, thợ khuân vác, bốc xếp… Những người lao động tại khu vực phi chính thức, thường không ký hợp đồng lao động, nên không được hưởng các chế độ như: bảo hiểm xã hội, các chính sách bảo hiểm ngắn hạn, như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bảo hiểm y tế, không có chế độ nghỉ
lễ và chủ nhật Họ thường là những người gặp nhiều rủi ro trong cuộc sống, như
dễ bị lạm dụng tình dục (đối với phụ nữ) Con cái của lao động di cư tự do cũng gặp rất nhiều khó khăn về điều kiện sinh hoạt, về sự chăm sóc tiếp cận các dịch
vụ giáo dục, đào tạo và y tế tại nơi đến
Do điều kiện sống và làm việc mang tính chất tạm thời nên phần lớn người di cư không tham gia vào các hoạt động cộng đồng, không tham gia các đoàn thể Người lao động nhập cư còn phải đối diện với những cám dỗ của tê ̣ na ̣n
xã hô ̣i như nghiện hút, trô ̣m cắp, ma ̣i dâm… rồi vô tı̀nh đưa những tê ̣ na ̣n này về quê khi hồi hương Ngoài ra, những "lệch pha" trong văn hóa và lối sống giữa người dân sống ổn định lâu năm ở các Thành phố và người mới di cư vào bởi nếp sống của người dân nông thôn có nhiều nét khác biệt Rời bỏ gốc văn hóa nông nghiệp - nông thôn đến sinh sống trong môi trường công nghiệp - đô thị, người di
cư mang văn hóa nông thôn vào đô thị
Để xử lý tận gốc vấn đề lao động tại các vùng nông thôn, bỏ ruông di cư vào các thành phố lớn để mưu sinh, Giải pháp lâu dài và quan trọng không thể khác hơn là cải thiện điều kiện sống, cơ hội việc làm, phát triển các dịch vụ xã hội ở nơi xuất cư, có các chính sách hỗ trợ thích hợp khuyến khích nông dân gắn
bó với đồng ruộng, tạo thu nhập ổn dịnh cho người lao động tại các vùng quê
Tác động tiêu cực đến tổ chức canh tác
Sản xuất nông nghiệp luôn có tính kế thừa và tác động qua lại giữa vụ này với vụ khác, giữa năm này với năm khác, giữa tổ chức sản xuất của người này với tổ chức sản xuất của người khác Vì thế, trong một vùng, một tiểu vùng nếu
có hộ nông dân bỏ ruông hoang sẽ không chỉ có tác động không tốt đến chính những hộ bỏ ruộng mà còn đến các hộ lân cận Khi mảnh ruộng bị bỏ hoang, sau một thời gian đất sẽ bạc màu, cỏ dại mọc nhiều nên khi quay trở lại sản xuất chính hộ dân đó phải cải tạo lại đất tốn kém rất nhiều chi phí Các mảnh ruộng hiện đang canh tác đan xen với những ruộng bị bỏ hoang, hệ thống kênh, rạch
Trang 25tưới tiêu, bờ ruộng… bị vỡ, hư hỏng, gây cản trở đến việc dẫn nước tưới tiêu, đi lại, làm đất, chăm sóc ruộng của các hộ khác Ngoài ra, các ruộng bỏ hoang còn
là nơi tập trung các ổ dịch ảnh hưởng đến việc tiếp tục làm ruộng của các hộ bên cạnh Gây ảnh hưởng đến việc phát triển và năng suất cây trồng, sản lượng thu hoạch và chất lượng giảm sút hoặc nghiêm trọng hơn là mất trắng
Ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng tài nguyên đất
Đất đai là tài nguyên chiến lược đối với bất kỳ một quốc gia, một dân tộc
và mỗi con người cụ thể Là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ
sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng Đất đai là tư liệu sản xuất và
là đối tượng sản xuất chủ yếu trong ngành nông nghiệp bởi vì đây là nơi con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo
ra sản phẩm
Trong ngành nông nghiệp hiện nay, diện tích đất nông nghiệp ngày càng
bị thu hẹp do người dân tiến hành chuyển đổi đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp khác, hoặc bỏ hoang đồng ruộng tìm kế sinh nhai khác, gây lãng phí tài nguyên đất, ảnh hưởng không nhỏ tới việc quản lý và sử dụng tài nguyên đất Do đất đai thuộc vào loại tài nguyên không tái tạo được nhưng lại có quá trình suy thoái, diện tích đất có hạn nên con người không thể tùy ý muốn tăng diện tích đất đai nên bao nhiêu cũng được vì vậy yêu cầu quản lý đất đai về số lượng, chất lượng, cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng, hiệu quả sử dụng trên đất đai là hết sức quan trọng và cần thiết Chính vì vậy cần phải có biện pháp sử dụng đất nông nghiệp một cách hợp lý, có hiệu quả, không gây lãng phí để đem lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cao là hết sức cần thiết
2.1.4 Nội dung nghiên cứu tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng
- Nghiên cứu phạm vi hộ nông dân bỏ ruộng trên địa bàn: Nội dung này
sẽ tập trung làm rõ phạm vi bỏ ruộng trên toàn địa bàn Thành phố (tỷ lệ xã có hộ nông dân bỏ rộng hoang trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh); tỷ lệ hộ bỏ ruộng hoang trên địa bàn cấp xã (số hộ nông dân bỏ ruộng tại các xã qua các năm; diện tích ruộng bị bỏ hoang trên địa bàn xã nghiên cứu); các loại hình đất nông nghiệp đang được canh tác (đất trồng lúa, đất trồng rau màu, đất trồng cây ăn quả và cây lâu năm ) và loại hình đất nông nghiệp nào bị bỏ hoang? Loại đất nào bị bỏ hoang nhiều nhất? trong phạm vi địa bàn nghiên cứu Từ đó tổng hợp kết quả
Trang 26điều tra về phạm vi hộ nông dân bỏ ruộng trên địa bàn nghiên cứu (Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh)
- Nghiên cứu về mức độ bỏ ruộng trong các hộ nông dân: Nội dung này sẽ
tập trung làm rõ diện tích ruộng bị bỏ hoang trong tổng diện tích trồng trọt ở cấp
độ hộ gia đình theo các nhóm hộ điều tra (bao gồm 3 nhóm hộ chính: Nhóm hộ I
là những hộ có đất ruộng bỏ hoang, thu nhập chính từ nông nghiệp; Nhóm hộ II
là những hộ có đất ruộng bỏ hoang, thu nhập chính tương đối đồng đều từ cả nông nghiệp và phi nông nghiệp; Nhóm hộ III là những hộ có đất ruộng bỏ hoang, thu nhập chính chủ yếu từ phi nông nghiệp) Dựa vào số liệu điều tra các
hộ để nắm rõ tổng diện tích đất canh tác của hộ; tổng diện tích đất canh tác bị bỏ hoang; tổng số thửa được phân và tổng số thửa ứng với diện tích đã bỏ hoang; thời gian các hộ gia đình đã bỏ hoang ruộng (thời gian bỏ hoang là 1 vụ, 2 vụ, 3
vụ và trên 3 vụ Từ đó tổng hợp số liệu điều tra, đưa ra bức tranh chi tiết về bỏ ruộng hoang ở cấp hộ hộ trên địa bàn nghiên cứu
- Nghiên cứu về tác hại của việc hộ nông dân bỏ ruộng: Nội dung này tập
trung làm sáng tỏ những tác hại của việc nông dân bỏ ruộng hoang Các tác hại được nhìn dưới góc độ kinh tế, xã hội và quản lý tài nguyên Chỉ ra những ảnh hưởng của việc bỏ hoang ruộng đối với nền kinh tế - xã hội đất nước như thế nào (đất ruộng bị bỏ hoang, không tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động trong nông nghiệp thiếu, áp lực giải quyết việc làm cho một số bộ phận lao động di chuyển ra Thành phố làm việc, các vấn đề về tệ nạn xã hội phát sinh ) Tác động đến công tác quản lý tài nguyên (cụ thể là tài nguyên đất) ra sao? Những tác hại không chỉ gây ảnh hưởng chính những hộ bỏ ruộng mà còn ảnh hưởng đến canh tác của các hộ lần cận (hệ thống tưới tiêu, giao thông nội đồng bị gián đoạn, cỏ dại lây lan sang ruộng, chuột bọ, sâu bệnh phá hoại ) cũng như công tác quản lý đất nông nghiệp của các cơ quan nhà nước
- Nghiên cứu các nguyên nhân dẫn đến hộ nông dân bỏ ruộng: Đây cũng
chính là các yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng nông dân bỏ ruộng Nội dung này tập trung làm rõ các nguyên nhân dân đến người dân ra quyết định bỏ ruộng hoang trên địa bàn nghiên cứu Các nguyên nhân dẫn đến nông dân bỏ ruộng tương đối đa dạng Nó có thể xuất phát từ hạ tầng phục vụ sản xuất không đảm bảo; môi trường đất và nước không bị ô nhiễm; hiệu quả kinh tế của làm ruộng không cao,thậm chí bị thua lỗ (hiệu quả kinh tế không cao dẫn đến nguồn thu nhập của gia đình không ổn định, đây có thể coi là nguyên nhân chính dẫn đến
Trang 27các hệ quả kháC.; các sinh kế thay thế làm ruộng ngày càng phát triển mạnh (dịch vụ, chăn nuôi, làm thuê phát triển mạnh); nguồn lực lao động chính tham gia trực tiếp sản xuất nông nghiệp trong gia đình thiếu (lao động trẻ đi làm ăn trên thành phố hoặc làm công dân, đi lao động nước ngoài , lực lượng lao động chủ yếu làm nông nghiệp là người già khả năng tiếp thu trình độ khoa học kĩ thuật áp dụng vào sản xuất nông nghiệp bị hạn chế) Khi nghiên cứu nội dung này sẽ có được cơ sở để đề xuất giải pháp giảm thiểu hiện tượng nông dân bỏ ruộng một cách triệt để nhất
- Nghiên cứu các giải pháp chính quyền đã sử dụng để xử lý tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng: Mục đích nội dung này là rà soát lại các giải pháp mà chính
quyền tại địa bàn nghiên cứu đã sử dụng để xử lý tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng Trong đó sẽ tập trung làm rõ về tên từng giải pháp, nội dung từng giải pháp, kết quả đạt được và hạn chế của từng giải pháp để từ đó thêm cơ sở đề xuất giải pháp mới hiệu quả hơn Nghiên cứu nội dung này sẽ giúp cho đề tài đề xuất các giải pháp hiệu quả hơn trên cơ sở kế thừa, tránh được bất cập, thất bại của những giải pháp đã xử lý trước đó
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ TÌNH TRẠNG HỘ NÔNG DÂN BỎ RUỘNG 2.2.1 Tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng ở một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Thái Lan
Thái Lan năm 2007, nước này xuất khẩu 9 triệu tấn gạo, đạt 3,5 tỷ USD, giữ vững thế độc tôn, do có lợi thế về lao động nông nghiệp và đất đai Nhưng hiện nay đang phải đối mặt với thách thức lớn, diện tích đất ruộng có xu hướng giảm mạnh, thoái hóa khiến người nông dân ở một số tỉnh, đặc biệt là vùng Đông Bắc Thái Lan, không mặn mà với nghề nông, bỏ lại ruộng vườn tìm đến những thành phố lớn như Bangkok làm thuê 30 năm trước, có thời gian diện tích đất nông nghiệp của Thái Lan tăng “đột biến” Người Thái cần cù lao động, bám chặt đồng ruộng để mong thay đổi cuộc sống Còn các nhà hoạch định chính sách Thái Lan coi nông nghiệp là nội lực sống còn để phát triển kinh tế quốc dân Với lợi thế
về nhân lực nông nghiệp (có đến 80% dân số Thái sinh sống vùng nông thôn), diện tích đấtcanh tác sẵn có, Thái Lan đã nhanh chóng hiện thực hóa được ước mơ trở thành “nồi cơm” của thế giới Nỗi lo bắt đầu manh nha trong giới lãnh đạo của quốc gia được xem là luôn đi đầu khu vực trong xuất khẩu nông sản này khi diện tích đất ruộng nông nghiệp gần đây (hiện nay là 22 triệu ha có xu hướng giảm
Trang 28mạnh Nguyên nhân được các nhà nghiên cứu Thái Lan mổ xẻ: tốc độ công nghiệp hóa, sự mở rộng các khu công nghiệp, giải trí; “trương nở” của những đô thị lớn; kèm theo đó là hiện tượng lơ là trong việc áp dụng các kỹ thuật canh tác mới theo phương châm phát triển bền vững khiến màu mỡ đất ruộng bị rửa trôi, xói mòn Như một “phản ứng dây truyền”, diện tích đất ruộng giảm, thoái hóa khiến người nông dân ở một số tỉnh, đặc biệt là vùng Đông Bắc Thái Lan, không mặn mà với nghề nông, bỏ lại ruộng vườn tìm đến những thành phố lớn như Bangkok làm thuê Theo một thống kê, hơn 10 năm trước số lao động nông nghiệp Thái Lan chiếm từ 55-60% dân số thì gần đây, con số này chỉ còn khoảng 40% và dự báo đến 2013 sẽ tiếp tục giảm xuống còn 37% (Đức Phường, 2008)
2.2.1.3 Philippines
Ở Philippines thu nhập từ nông nghiệp thấp, hầu hết lao động trẻ đều tìm đến những thành phố lớn để tìm kiếm việc làm có thu nhập cao, đã tạo luồng di
Trang 29cư lao động từ nông thôn đến các thành phố lớn Khu vực nông thôn thiếu hụt lao động, ruộng đồng bị bỏ hoang trong khi đất nước phải đối mặt với cuộc khủng hoảng lương thực Khi Philippines phải đối mặt với cuộc khủng hoảng lương thực tồi tệ nhất trong nhiều năm nay, thì rất nhiều nông dân ở chính khu vực cấy trồng đã từ bỏ ruộng đồng, đến với các nghề có thu nhập hấp dẫn hơn Ruộng lúa bậc thang 2.000 năm tuổi của Philippines tại dãy núi Coridellera đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới Tuy nhiên, nó đã bị bỏ quên và không được tu sửa khi người nông dân rời bỏ ruộng đồng đến với những nguồn thu hấp dẫn khác Ông Raymond cho biết: Diện tích ruộng bậc thang của chúng tôi đang sụt giảm ở mức báo động Khoảng 25-30% đất đã bị bỏ hoang, lãng quên hay sử dụng vào mục đích khác Một số nông dân đã chuyển đổi từ trồng lúa sang các sản phẩm có giá trị caohơn như rau, cao su, cà phê, nhưng rất nhiều người khác thì bỏ ruộng đồng đi tìm việc làm ở các thành phố lớn Những phòng trọ, cửa hiệu lương thực và bán lẻ đã lấn dần đất nông nghiệp Hồi chuông cảnh báo về viễn cảnh tồi tệ trong cung cấp lương thực đã vang lên, chính phủ Philippines đã
ra lệnh dừng mọi kế hoạch chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích khác Nhưng họ làm không tích cực để ngăn chặn việc dân di cư tới thành phố, rời bỏ ruộng đồng “Đây là điều đáng buồn vì hầu hết thanh niên đều có giấc mơ kiếm sống dễ dàng hơn, có nghề nghiệp thu nhập cao hơn ở các thành phố hay nước ngoài”, Raffy Menen, lãnh đạo một hiệp hội nông dân ở vùng ruộng bậc thang cho biết Hầu hết học sinh trung học ở trong làng của ông chẳng có hứng thú gì với nghề trồng lúa truyền thống đã có lịch sử hơn 2.000 năm của ông cha “Đây
là công việc khó khăn, tất cả đều làm bằng tay vì chúng tôi không có gia súc cũng như thiết bị phù hợp với những thửa ruộng nhỏ Thanh niên trong làng đều muốn kiếm việc tại các khách sạn hay nhà hàng trong thị trấn” (Kỳ Thư, 2008) Tóm lại, đất nông nghiệp trên thế giới đã không nhiều so với tổng diện tích tự nhiên, lại bị khai thác sử dụng kém hiệu quả gây lãng phí lớn về nguồn lực từ đất Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp các nước khu vực Đông Nam Á có điều kiện tương đồng với Việt Nam nhận thấy rằng, đất đai bị thoái hóa do sử dụng nhiều hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, hiệu quả sản suất nông nghiệp thấp, thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp cao đã tác động trực tiếp đến tâm lý người nông dân không gắn bó với đồng ruộng Tăng cường quản lý và áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý là một việc làm cần thiết trong bối cảnh hiện nay
Trang 302.2.2 Tình trạng hộ nông dân bỏ ruộng tại một số địa phương ở Việt Nam
2.2.2.1 Tại tỉnh Hải Dương
Năm 2017, trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 486,3 ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang (tăng 66,2 ha so với năm 2016) Các huyện có nhiều diện tích bỏ hoang nhiều, như: Tứ Kỳ, Cẩm Giàng, Gia Lộc, thị xã Chí Linh Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hộ dân bỏ ruộng đó là: i) Một số nơi địa hình không thuận lợi Diện tích
bỏ hoang chủ yếu là chân ruộng trũng thấp, điều kiện canh tác khó khăn như: xen kẹt, ruộng trũng, việc tưới tiêu không thuận lợi, chất đất kém, ô nhiễm do nước thải công nghiệp Những diện tích này địa phương đang có kế hoạch chuyển đổi sang trồng một số loại cây khác có giá trị cao hơn, tuy nhiên chưa được các cấp thẩm quyền phê duyệt nên vẫn bỏ hoang ii) Hiệu quả kinh tế thấp do ruộng đất manh mún, chi phí đầu vào ngày một tăng cao, giá nông sản thấp nhất là sản xuất lúa đầu ra có xu hướng giảm, sản xuất bấp bênh do thiên tai, dịch bệnh nhiều hoặc gần Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp bị chuột cắn phá, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nguồn nước tưới nên hiệu quả kinh tế thấp Để hạn chế tình trạng bỏ ruộng hoang, sở NN&PTNT Hải Dương đã có văn bản đề nghị các địa phương hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, lựa chọn các loại cây phù hợp, cho giá trị kinh tế cao; đồng thời có thể nghiên cứu quy hoạch vùng nuôi thủy sản đối với vùng trũng, thấp Đồng thời, Sở đã yêu cầu cơ quan chức năng, chuyên môn ngành tài nguyên môi trường giám sát, kiểm tra chặt chẽ các nhà máy, công ty ở khu công nghiệp, cụm công nghiệp xả thải, khói, bụi… gây ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp của người dân, có giải pháp và xử lý nghiêm không để tình trạng, ngày thêm nhiều đất nông nghiệp bị hoang hóa (Phạm Hoàng, 2017)
2.2.2.2 Tại Thành phố Hải Phòng
Sản xuất nông nghiệp ở TP Hải Phòng đang phải chịu sức ép ngày càng lớn từ phat triển công nghiệp đô thị, hạ tầng phục vụ sản xuất bị phá vỡ, còn nguồn lao động đang ngày càng khan hiếm Và đây là những nhân tố chủ yếu khiến cho hàng trăm ha đất nông nghiệp tại TP Hải Phòng đang bị bỏ hoang Trong đó, không ít diện tích thuộc loại “ruộng mật, bờ xôi”, có thể đạt năng suất lúa tới 6,7 tấn/ ha Theo hộ nông dân Hải Phòng, con số có thể lên đến 400-500ha tùy từng thời điểm Trên bản đồ quy hoạch xây dựng nông thôn mới của xã Tú Sơn, Vụ mùa năm 2014 toàn xã có 113 ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang, chiếm
Trang 3147% diện tích đất lúa Cánh đồng ở thôn 7 vẫn là đất lúa 2 vụ Tuy nhiên đã nhiều năm nay, phần lớn diện tích này đã trở thành cánh đồng hoang.Vụ mùa mới đây, cả thôn có 250 hộ thì cả 250 hộ đều bỏ cấy Lao động bỏ lên thành phố khiến nông nghiệp không có người làm là vấn đề chung của xã Tú Sơn Trong khi đó, tại xã An Đồng (An Dương), ruộng đất phải bỏ hoang ngày càng nhiều vì
hạ tầng thủy lợi bị phá vỡ Câu chuyện này bắt đầu từ khi các nhà máy công nghiệp mọc lên (nhà máy sơn, xà phòng…), ngay bên cạnh cánh đồng Việc canh tác của người dân cũng bị gặp khó do nước thải xả ra từ các nhà máy (Giang Hải
và Nguyễn Phương, 2014)
2.2.2.3 Tại tỉnh Nam Định
Tı̀nh tra ̣ng nông dân bỏ ruô ̣ng tại Nam Định đang gia tăng Các huyê ̣n bỏ ruộng nhiều là Nam Trực hơn 210 ha; Ý Yên khoảng 200 ha; Trực Ninh hơn 140 ha; Mỹ Lộc hơn 110 ha… Phần lớn đất lúa bị bỏ hoang nằm ở các xã có làng nghề, khu cu ̣m công nghiệp hoă ̣c gần đô thị Theo ngành NN - PTNT tỉnh Nam
Đi ̣nh, năm 2015 có hơn 5.600 hộ nông dân ta ̣i đi ̣a phương này bỏ hoang 533 ha đất nông nghiệp hai vụ lúa Đến vu ̣ lúa đông xuân năm 2016, diê ̣n tı́ch ruộng bỏ hoang gần 840 ha, đều là đất “bờ xôi, ruô ̣ng mâ ̣t” Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
hộ nông dân bỏ ruộng Thứ nhất là, hiệu quả kinh tế làm ruộng khá thấp, lời từ làm ruộng chỉ khoảng 300 - 600 nghìn đồng/sào/vụ (trong vòng 3 tháng); trong khi đi làm thuê có thể được thu nhập từ 4 - 7 triệu đồng/người/tháng Vì thế, những lao động trẻ, khỏe không ở nhà sản xuất mà ra các thành phố lớn làm nghề
xe ôm, làm thuê… để kiếm “tiền tươi, thóc thật” mang về nuôi vợ con Cũng có nhiều trường hợp, khi con cái ra Hà Nội, bố mẹ cũng đi cùng nên bỏ ruộng Thứ hai, là ảnh hưởng bởi sự phát triển của quy hoạch đô thị, khu công nghiệp Hiện nay, việc quy hoạch các khu dân cư và các khu cụm công nghiệp không đồng bộ Nhiều nơi diện tích đất trồng lúa bị xen kẹt trong các khu, cu ̣m công nghiệp nên
hệ thông kênh mương thủy lợi bị chia cắt, khó tưới tiêu, bị ô nhiễm do nước thải làng nghề nước, thải sinh hoạt dẫn tới viê ̣c trồng lúa kém hiệu quả, càng làm cho nông dân không thiết tha với đồng ruộng (Thành Đức, 2016)
Đất nông nghiệp đang bị bỏ hoang một cách lãng phí nhiều nơi tại Tỉnh Nam Định, một ví dụ điển hình là việc bỏ hoang ruộng tại Huyện Ý Yên Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ý Yên, tổng diện tích đất nông nghiệp bị bỏ hoang trong vụ Xuân năm 2018 lên tới gần
Trang 32260ha, tập trung chủ yếu tại các xã Yên Đồng, Yên Trị, Yên Tiến và Thị trấn Lâm Cánh đồng rộng trên 30 ha gần khu vực chân đê tại xã Yên Đồng đã bị bỏ hoang gần một nửa Xen kẽ ruộng lúa đang trổ bông chuẩn bị đến thời kỳ thu hoạch là những mảnh đất bỏ hoang cỏ mọc um tùm
Theo ông Đặng Văn Căn - Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Yên Đồng, toàn xã có trên 300ha đất hai lúa, vụ Xuân này nhiều gia đình vẫn còn cấy lúa nhưng đến vụ Mùa sẽ bỏ hoang nhiều hơn Nhiều hộ chỉ cấy 1 vụ, còn vụ sau
bỏ không rất lãng phí
Gia đình anh Nguyễn Vũ Tuấn có gần 2 sào lúa ở khu vực chân đê xã Yên Đồng Theo tính toán của anh Tuấn, tổng chi phí tiền cày, bừa đến giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tiền thuê cấy, gặt đối với 1 sào lúa ước tính khoảng từ 800.000 - 900.000 đồng, trong khi năng suất chỉ đạt 200kg/sào Với giá bán trên thị trường hiện vào khoảng hơn 5.000 đồng/kg, người trồng lúa cũng chỉ thu được trên 1 triệu đồng/sào Sau khi trừ phí chí, tính ra 6 tháng trời nông dân chỉ được lãi khoảng 200.000 - 300.000 đồng/sào Thu nhập từ cây lúa quá thấp chính khiến nhiều người không còn thiết tha với đồng ruộng
Đi dọc theo các trục đường chính tại xã Yên Đồng dễ dàng nhận thấy đa phần lực lượng lao động chủ yếu đang bón phân, dọn cỏ bờ vùng bờ thửa, phun thuốc trừ sâu, chăm sóc cho lúa trên cánh đồng là người trung tuổi, học sinh tham gia phụ giúp gia đình; hiếm thấy lực lượng lao động thanh niên
Ông Phạm Văn Tình - Phó Chủ tịch UBND xã Yên Đồng cho biết, toàn
xã có 4.000 hộ với gần 15.000 nhân khẩu; trong đó thanh niên trong độ tuổi lao động chiếm 65% Xã hiện có trên 10 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực may mặc và một số nghề truyền thống cho thu nhập từ 5 -7 triệu đồng/người/tháng, vì vậy đã thu hút rất nhiều lao động trẻ Thanh niên giờ đây không còn thiết tha với công việc đồng áng Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hơn 80ha đất
"bờ xôi ruộng mật" trong xã bị bỏ hoang
Theo ông Trịnh Văn Mậu, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ý Yên, nông dân bỏ ruộng là do một số diện tích thuộc chân ruộng trũng hay bị ngập úng vào mùa mưa, đồng ruộng ở xa khu dân cư, chi phí đầu tư sản xuất cao, trong khi giá trị lợi nhuận thấp Một số xã có ngành nghề phụ như may mặc, thủ công mỹ nghệ và đặc biệt là các khu, cụm công nghiệp đã giải quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động tại địa phương nên nông dân không còn mặn mà với việc trồng cấy mà thay vào đó là đi làm công nhân
Trang 332.2.2.4 Tại tỉnh Thanh Hóa
Theo báo cáo từ Sở TN&MT Thanh Hóa, tại thời điểm năm 2013, trên địa bàn tỉnh có 11 thị xã xảy ra tình trạng nông dân bỏ ruộng, trả ruộng với tổng diện tích đất là 1.104,7 ha, bao gồm 534,1 ha đất chuyên sản xuất lúa và 570,6 ha đất sản xuất nông nghiệp khác Trong đó có 8.359 hộ dân bỏ hoang 886,75 ha ruộng, 2.183 hộ dân đã trả 218,95 ha đất nông nghiệp cho chính quyền Đến nay, tình trạng nông dân bỏ ruộng vẫn diễn ra và ngày càng có xu hướng tăng Nguyên nhân chủ yếu của việc bỏ ruộng là do hiệu quả sản xuất nông nghiệp thấp Để canh tác một sào lúa đến khi thu hoạch, người nông dân phải chi cho tiền làm đất
220 nghìn đồng, 400 nghìn tiền công cấy, 420 nghìn tiền công thu hoạch, 100 nghìn tiền giống, tiền thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, các loại phụ phí nông nghiệp Nếu lúa được mùa, năng suất đạt 300kg/sào, giá thị trường ổn định bán xong, thu về 1,8 triệu đồng Sau khi trừ mọi chi phí, người nông dân còn lời ra được khoảng từ 400 - 500 nghìn đồng/sào Số tiền này đem chia ra cho các loại phí sinh hoạt trong 6 tháng, bình quân mỗi tháng người nông dân có thu nhập hơn 83.000 đồng/sào Trong khi đó, nếu một nhân công vào làm tại các doanh nghiệp may mặc, lương tháng bình quân đạt 3,5 triệu đồng, cao hơn hẳn so với làm ruộng (Nguyễn Chung, 2016)
2.2.2.5 Tại Nghệ An
Vụ hè thu vừa qua (2015), Nghệ An là địa phương diễn ra tình trạng nông dân bỏ ruộng, trả lại ruộng nhiều với trên 1.200 ha, trong đó đứng đầu là Nam Đàn 700 ha, tiếp đó là Hưng Nguyên xấp xỉ 300 ha, còn lại là các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Tân Kỳ, Đô Lương…
Mới đầu vụ hè thu năm nay, tình trạng bỏ ruộng lại tiếp tục tái diễn dù các ngành chức năng đã vận động người dân tiếp tục sản xuất Ở Nam Đàn, hàng chục ha ruộng lúa đã bị người dân đăng ký trả không tiếp tục cày cấy Nguyên nhân nông dân bỏ ruộng đã được các ngành chức năng làm rõ, đó là giá lúa, rau màu thấp trong khi đầu vào như: vật tư phân bón, dịch vụ bảo vệ thực vật, công chăm sóc ngày càng tăng cao… Thu nhập thấp lại phải đóng phí theo đầu sào đã ảnh hưởng lớn đến tâm lý nông dân
Trên các cánh đồng, su hào, xúp lơ, bắp cải của những người dân vùng bãi Ngang, Quỳnh Lưu vẫn còn rất nhiều, chưa thu hoạch dù đã bắt đầu cho mùa vụ
Trang 34mới “1 nghìn đồng một bắp cải, 2 nghìn đồng một bắp xúp lơ thì thu hoạch làm gì
hả chú, không đủ tiền công thu hoạch và vận chuyển nói gì kiếm lời Năm nay nhà chị bỏ vụ rau chú ạ” Đó là lời tâm sự chua chát của chị Hồ Thị Ánh ở xã Quỳnh Lương, Quỳnh Lưu Năm nay, chị phải chịu lỗ gần 5 triệu đồng tiền chi phí cho vụ rau nên gia đình chị cũng như rất nhiều gia đình trồng rau khác không có Tết Thực tế thì không phải đến bây giờ mới xuất hiện tình trạng người dân bỏ ruộng, trả lại ruộng mà hiện tượng này đã xuất hiện cách đây hơn 10 năm Ngoài
lý do sản xuất nông nghiệp cho thu nhập thấp, có lý do khác là thời tiết bất thuận khiến người nông dân rất khó bám đồng ruộng Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi được biết, không phải Nhà nước chưa có chính sách đối với cây lúa Cách đây gần 3 năm, Chính phủ có quy định hạn chế chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, đồng thời có nghị định khuyến khích người dân trồng lúa, mỗi hộ làm lúa sẽ nhận được hỗ trợ 500.000 đồng/sào
Nhiều hợp tác xã đã làm hồ sơ gửi các cấp có thẩm quyền nhưng đến nay người dân vẫn chưa được nhận Trong mùa vụ vừa qua, người dân các huyện Yên Thành, Diễn Châu điêu đứng vì giống lúa BC15 nhưng vẫn chưa được hỗ trợ, đền bù dù chính sách bảo hiểm cây trồng đã được ban hành khá lâu
2.2.3 Một số bài học kinh nghiệm cho nghiên cứu tình trạng nông dân bỏ ruộng trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh
- Phát triển nông nghiệp theo hướng tăng sản lượng nông sản hàng hóa, chất lượng cao, quy mô lớn là mục tiêu hướng tới của ngành nông nghiệp, thực hiện cơ giới hóa đồng ruộng, nên buộc phải tập trung đất đai hoặc tích tụ ruộng đất Ruộng đất manh mún gây trở ngại lớn cho cơ giới hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học trong sản xuất nông nghiệp, khó thực hiện sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên canh sản xuất hàng hóa, tăng chi phí sản xuất hiệu quả sử dụng đất thấp, khó tăng năng suất lao động nên dễ dẫn đến tình trạng nông dân bỏ ruộng
- Việc giao khoán ruộng đất cho các hộ nông dân đã đem lại những thành tựu to lớn trong sản xuất nông nghiệp thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới với nền sản xuất thủ công lạc hậu, song nó đã bộc lộ nhiều hạn chế trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay Phần lớn diện tích bỏ ruộng hoang là diện tích đất nông nghiệp được giao ổn định lâu dài cho
hộ mà không thu tiền sử dụng đất
- Hiện tượng manh mún khiến khó tổ chức sản xuất theo hướng công
Trang 35nghiệp và công nghệ cao càng làm mất sức hấp dẫn của kinh doanh nông nghiệp đối với các doanh nghiệp Nói cách khác, lợi thế đầu tư và phát triển nông nghiệp theo bề rộng và nhờ sự giải phóng tâm lý những ngày đầu được giao ruộng đã tới giới hạn, cần được thay bằng yêu cầu tích tụ tập trung ruộng đất và đầu tư phát triển theo bề sâu trong nông nghiệp
- Bỏ hoang đất ruộng gây tâm lý bất ổn trong nông thôn đe dọa trực tiếp đến an ninh lương thực Không nên chuyển đổi đất ruộng sang mục đích sử dụng phi nông nghiệp ở những khu vực sản xuất nông nghiệp hiệu quả cao, đặc biệt là các vùng có đất đai màu mỡ, tưới tiêu thuận lợi và khí hậu cho phép phát triển nhiều loại cây trồng và cho năng suất cao
- Cần nhận thức sâu sắc rằng hiệu quả sử dụng đất ruộng là kết quả của tất
cả các hoạt động phối hợp giữa các đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất với các nhân tố tự nhiên, kinh tế và xã hội để từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện nâng cao hiệu quả sử dụng loại đất này
- Trong nền kinh tế thị trường, đất nông nghiệp đặc biệt là đất ruộng đang
kinh tế phát triển càng nhanh thì nhu cầu chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp sang các loại đất phi nông nghiệp rất lớn Ngoài ra, việc quản lý sử dụng đất nông nghiệp sai mục đích ngày càng gia tăng khiến diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp nghiêm trọng Nếu không có giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả thì ngay trong thời gian không lâu sẽ gây ra những hậu quả khó lường cả về xã hội lẫn kinh tế, nhất là vấn đề an ninh lương thực Nền kinh tế sẽ phải đối mặt với tình trạng sản xuất lương thực bị giảm sút, giá lương thực, thực phẩm tăng cao, đất có khả năng sản xuất lương thực, thực phẩm bị suy kiệt
- Hệ sinh thái thay đổi có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các tài nguyên nông nghiệp, trong đó có đất đai Do vậy, các hộ nông dân cần cố gắng đa dạng hóa việc sử dụng đất ruộng để thích ứng với sự thay đổi đó, đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay
- Khu vực làng nghề không chỉ tạo ra các sản phẩm cho xã hội mà còn tạo việc làm và thu nhập cho hàng triệu lao động, cải thiện thu nhập cho người dân,
vực nông thôn, tạo thêm nguồn thu nhập trong thời gian nhà rỗi, từ đó hạn chế tình trạng di cư lao động ra các thành phố lớn, tạo điều kiện cho lao động gắn bó
Trang 36với đất Nếu nguồn thu nhập chính của nông dân là phi nông nghiệp, thì họ có ít động cơ để sử dụng có hiệu quả đất ruộng
- Có khá nhiều nhân tố tác động đến hiện tượng bỏ hoang đất ruộng, bao gồm cả nhân tố tự nhiên và xã hội, nhân tố chủ quan và khách quan (sự phát triển của các khu CN- CCN, hạ tầng phục vụ sản xuất, hiệu quả và nguồn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, nguồn lao động trong nông nghiệp, chi phí sản xuất ) Để
đề xuất các giải pháp khắc phục tình trạng bỏ hoang đất ruộng tại mỗi địa phương, cần nghiên cứu kỹ tác động của những nhân tố này
Trang 37PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Vi ̣ trı́ đi ̣a lý
Thành phố Bắc Ninh nằm ở phía Nam sông Cầu, phía Đông Bắc của tỉnh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 30km về phía Nam, cách thành phố Bắc Giang
tı́ch đất tự nhiên của tı̉nh Bắc Ninh Thành phố có 19 đơn vị hành chính gồm 16 phường và 3 xã, dân số năm 2017 là 213.616 người Vị trí của thành phố được giới ha ̣n bởi: phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; phía Nam giáp Tiên Du, Quế Võ; phía Đông giáp Quế Võ; phía Tây giáp Tiên Du, Yên Phong (Hình 1)
Hình 3.1 Bản đồ hành chính thành phố Bắc Ninh
Các con sông lớn chảy qua địa phận thành phố (sông Thái Bình, sông Đuống nối ra sông Hồng, sông Ngũ Huyện Khê) và nhiều tuyến xe buýt, đường sắt là những tuyến đường quan trọng giúp luân chuyển hàng hoá đến các địa phương khác trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh Nhờ vậy, sản xuất hàng hoá tiểu thủ công nghiệp của thành phố đã phát triển mạnh mẽ với nhiều làng nghề truyền
Trang 38thống như bún Khắc Niệm, giấy Phong Khê… Về nông nghiệp có nhiều nông sản như khoai tây, rau – lúa VietGAP, rau – hoa cao cấp, hoa lan nuôi cấy mô Ngoài ra, Thành phố Bắc Ninh nằm liền kề với Sân bay Quốc tế Nội Bài
Từ trung tâm thành phố Bắc Ninh đến Sân bay Quốc tế Nội Bài khoảng 30 km được nối bằng QL18 Hệ thống đường nội bộ các khu đô thị mới, khu công nghiệp trên địa bàn toàn Thành phố được đồng bộ hiện đại thích ứng được với quá trình đô thị hóa nhanh của các địa phương , các tuyến này cũng được liên kết với nhau nhằm tạo lập hệ thống giao thông liên hoàn để việc vận chuyển hàng hóa thuận lợi hơn giảm áp lực giao thông cho các quốc lộ trên địa bàn
Với vị trí địa lý cực kỳ thuận lợi, gần Hà Nội, nhiều tuyến đường cao tốc
đi qua, nằm ngay trên các trục giao thông của hành lang kinh tế Hà Nội - Bắc Ninh - Bắc Giang - Lạng Sơn - Hạ Long - Móng Cái - Thái Nguyên… đã tạo điều kiện thuận lợi cho thành phố Bắc Ninh trong thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, dịch vụ
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
3.1.2.1 Đặc điểm địa hình
Với vị trí nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên địa hình của tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng Địa hình của thành phố có thể được chia thành 2 vùng: địa hình đồng bằng và địa hình chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình trên toàn tỉnh không lớn Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có độ cao phổ biến từ 3 – 7m so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ Địa hình trung du đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ, các đỉnh núi có độ cao phổ biến từ 60 – 100m, đỉnh cao nhất là núi Bàn Cờ (thành phố Bắc Ninh) cao 171m, tiến đến là núi Bu (huyện Quế Võ) cao 103m, núi Phật Tích (huyện Tiên Du) cao 84m và núi Thiên Thai (huyện Gia Bình) cao 71m (Phòng Tài nguyên môi trường thành phố Bắc Ninh, 2016)
3.1.2.2 Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn
Thành phố Bắc Ninh có hệ thống sông, kênh mương tương đối lớn, bao gồm hệ thống các sông chính và hệ thống sông ngòi, kênh mương ao hồ Sông Cầu
Trang 39là nguồn nước mặt chủ yếu của thành phố (bắt nguồn từ tỉnh miền núi Bắc Cạn), đoạn chảy qua thành phố dài đến 30km (chiếm khoảng 1/4 tổng chiều dài qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh), lòng sông mùa khô rộng (60 - 80m), mùa mưa rộng (100 - 120m) Số liệu đo mực nước tại Đáp Cầu: mực nước lớn nhất là 8,09m (năm 1971), lưu lượng tối đa 1780m3/s, mực nước nhỏ nhất - 0,17m (năm 1960), lưu lượng tối thiểu 4,3m3/s Mực nước báo động cấp 1 là 3,8m; mực nước báo động cấp 3 là 5,8m Cùng với đó là các sông như sông Ngũ Huyện Khê; sông Tào Khê và hệ thống sông ngoài, kên mương và các ao hồ đã góp phần điều tiết nước sản xuất nông nghiệp trên địa bàn (Phòng Tài nguyên và Môi trường TP Bắc Ninh, 2017) Thành phố Bắc Ninh nằm trong khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt Do đặc điểm bởi khí hậu 4 mùa, nên việc bố trí hệ thống nông nghiệp khá phức tạp, tạo nên tính mùa vụ trong nông nghiệp khá rõ rệt Trong các mùa này, khó bố trí sản xuất nông nghiệp nhất
là vào mùa Đông Mùa Đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; nhiệt độ thấp nhất và có rét đậm thường vào tháng 12 (dưới 10˚C.; Lượng mưa trung bình hàng năm tại Bắc Ninh khoảng 1500mm nhưng phân bổ không đều trong năm Mùa mưa chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm Độ ẩm tương đối trung bình của Bắc Ninh khoảng 81%, độ chênh lệch về
độ ẩm giữa các tháng không lớn, độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất từ 72% đến 75% thường xảy ra từ tháng 10 đến tháng 12 trong năm; Hàng năm có hai mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, tốc độ gió trung bình vào tháng 1 khoảng 2,6m/s; gió mùa Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm gây mưa rào, tốc độ trung bình vào tháng 7 khoảng 2,4m/s (Đài khí tượng thủy văn Bắc Ninh, 2017)
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.3.1 Đất đai
Năm 2017, tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố là 8.260,7 ha Trong
đó, diện tích đất nông nghiệp là 2.813,9 ha, chiếm 34% Diện tích đất phi nông nghiệplà 5.415 ha, chiếm 65,6% tổng diện tích tự nhiên Đất đai thành phố Bắc Ninh được hình thành do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Cầu, sông Đuống nên tính chất đất đai và địa hình, mang điển hình của đất phù sa Chất đất phù sa
Trang 40màu mỡ đã tạo điều kiện thuận lợi cho Bắc Ninh trong phát triển nông nghiệp (Chi cục Thống kê thành phố Bắc Ninh, 2017)
Số liệu Bảng 3.1 cho thấy, đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sử dụng đất nhưng có xu hướng giảm xuống do hiệu quả kinh tế thu được thấp dẫn đến không kích thích được người dân mở rộng diện tích canh tác, phát triển các giống cây trồng mới, chính vì thế diện tích đất trồng các loại cây nông nghiệp cũng đang bị thu hẹp lại qua các năm, cụ thể: đất các loại cây nông nghiệp trên địa bàn TP Bắc Ninh đang có sự thu hẹp đáng kể qua các năm Nếu như năm 2014 toàn TP có 3900,1 ha, thì đến năm 2017 chỉ còn 2813,9 ha, giảm 1086,2 ha so với năm 2014
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp thành phố Bắc Ninh
2 Đất phi nông nghiệp 4.403 4.180 5.324 5.415
3 Đất chưa sử dụng 139,4 32,4 31,9
Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường TP Bắc Ninh (2017)
Diện tích đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên Diện tích tất cả các loại đất chưa sử dụng có chiều hướng giảm theo thời gian Điều đó cho thấy thành phố đã chú trọng khai thác quỹ đất chưa sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội, từng bước khắc phục tình trạng lãng phí tài nguyên đất Sự thay đổi diện tích và cơ cấu đất phi nông nghiệp gắn liền với sự thay đổi của dân cư
và các ngành kinh tế trong thành phố Năm 2014 diện tích đất phi nông nghiệp là 4.403 ha (chiếm khoảng 53% tổng diện tích đất tự nhiên), năm 2015 là 4.180 ha (chiếm khoảng 50.6% tổng diện tích đất tự nhiên), thì đến năm 2016 diện tích này tăng lên là 5.324 ha (chiếm khoảng 64,5% tổng diện tích đất tự nhiên), năm
2017 là 5.415 ha (chiếm khoảng 65,6% tổng diện tích đất tự nhiên)