1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển du lịch văn hóa phố người hao tại tp hồ chí minh

55 304 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 470,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT ‘Phát triển du lịch văn hóa phố người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh” góp phần tạo nên cho Thành phố Hố Chí Minh có một điểm nhấn về du lịch văn hóa và lảm phong phú hom các sản p

Trang 1

TÓM TẮT

‘Phát triển du lịch văn hóa phố người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh” góp phần tạo nên cho Thành phố Hố Chí Minh có một điểm nhấn về du lịch văn hóa và lảm phong phú hom các sản phẩm du lịch của thành phố

Đe hoàn thành đề tài nghiên cứu chúng tôi đã nhiều lần đi khảo sát thực tế các điểm tham quan du lịch ở quận 5 đang thu hút du khách Trong suốt quá trình thực hiện đề tài tác giải còn dùng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, với mong muốn cung cấp một kết quả nghiên cứu có giá ưị thực tiễn

Nội dung công trình được trình bày qua 55 trang, cấu ưúc của đề tài ngoài phần dẫn luận, kết luận, gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở nghiên cứu

Chương 2: Giá trị văn hóa của người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh Chương

3: Mô hình du lịch phố người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh

Ngoài ra, phần phụ lục với các bảng câu hỏi phỏng vấn, phác họa sơ đồ phố người Hoa cũng như các hình ảnh do chúng tôi chụp trong quá trình nghiên cứu sẽ góp phần minh họa tốt cho nội dung của đề tài

Trong chương 1, chúng tôi giải quyết các thuật ngữ liên quan đến đề tài: du lịch, du lịch văn hóa, văn hóa du lịch, du lịch bền vững, dân tộc, tộc người, người Hoa, phố người Hoa; và giới thiệu khái quát về người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh: lịch sử hình thành, dân số, địa bàn cư trú, tình hình kinh tế - xã hội

Chương 2, chúng tôi giới thiệu những giá trị văn hóa vật chất và giá trị văn hóa tinh thần của người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh Những giá trị văn hóa này là cơ sở để phát triển du lịch văn hóa phố người Hoa tại quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3, chúng tôi đánh giá tình hình hoạt động du lịch của Thành phố nói chung và địa bàn phố người Hoa quận 5 nói riêng, cũng như đánh giá những thế mạnh và hạn ché để phát ưiển

du lích văn hóa phố người Hoa Từ thực té đó chúng tôi đưa ra mô hình phát triển du lịch văn hóa phố người Hoa tại quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh và những giải pháp phù hợp

Trang 2

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiền cứu

Du lịch được coi như một ngành công nghiệp dịch vụ không khói đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho quốc gia Phát triển du lịch có ý nghĩa quan trọng trong việc phát ưiển kinh tế đất nước cũng như thúc đẩy hoạt động giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, gắn kết mọi người xích lại gần nhau Ngày nay, du lịch đã trở thành một hoạt động kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát ưiển

Có nhiều loại hình du lịch khác nhau, bên cạnh các loại hình du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch khám chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch văn hóa được xem là một sản phẩm đặc thù của du lịch các nước đang phát triển thu hút nhiều du khách quốc tế Loại hình du lịch văn hóa đang phát triển ở các nước trong khu vực như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc loại hình du lịch này cũng phù hợp với bối cảnh của Việt Nam Hiện nay du lịch văn hóa được coi như hướng phát triển chính trong du lịch Trong các điểm đến của du lịch Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh là một điểm đến hấp dẫn nhiều du khách Đây là một thành phố trẻ, năng động, có nhiều tiềm năng để phát triển mạnh mẽ ngành du lịch: là đầu tàu về kinh tế trong cả nước, cơ sở hạ tầng phát triển, bên cạnh đó là sự hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa Chính vì thế, du lịch văn hóa ở Thành phố

Hồ Chí Minh được triển khai để đáp ứng nhu cầu của du khách Trong đó hoạt động du lịch văn hóa ở phố người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh đã được các ban ngành có chức năng quan tâm

và định hướng để đưa vào hoạt động phục vụ cho du lịch Tuy nhiên hoạt động du lịch tại đây phát triển chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có

Người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh là cộng đồng cư dân sống đông đảo và tập trung Họ

có thế mạnh trong hoạt động kinh doanh, bên cạnh đó người Hoa có một giá trị văn hóa độc đáo

để phát triển du lịch Khu vực người Hoa (quận 5) tại Thành phố Hồ Chí Minh được đánh giá là

một khu vực mang đậm dấu ấn văn hóa của người Hoa tại Việt Nam “Theo đánh giá của một sổ kiến trúc sư người Pháp trong trong chuyến viếng thăm Việt Nam đều nhất trí rằng những pho người Hoa (Chinatown) Sài Gòn đẹp, lớn và đặc trưng người Hoa nhất thế giới, đủ sức thu hút du khách đến Thành phố HỒ ChíMinh”[26]

Trang 3

Thực tế ngày nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng, khu người Hoa (China town) là những ưung tâm quan trọng của hoạt động du lịch và kinh doanh

Từ những thực tế trên, chúng tôi đã tìm hiểu và chọn đề tài “Phát triển du lịch văn hóa phổ người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh ” để nghiên cứu, từ đó đưa ra các giải pháp, nhằm đẩy

mạnh hoạt động du lịch, quảng bá giá trị văn hóa, góp phần đem đến cho Thành phố Hồ Chí Minh

có một điểm nhấn về du lịch văn hóa Đó là thế mạnh để Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng hóa các sản phẩm du lịch nhằm thu hút du khách, góp phần nâng cao hiệu quả du lịch, tăng thu nhập cho ngành du lịch thành phố nói riêng và thu nhập quốc dân nói chung

2 Đổi tượng và phạm vỉ nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các giá trị văn hóa của người Hoa, từ đó hình thành mô hình du lịch văn hóa mang nét đặc trưng của người Hoa

Đe tài tập trung nghiên cứu ưong phạm vi không gian là quận 5 - nơi có số lượng người Hoa sinh sống tập ưung, có những hoạt động kinh doanh sầm uất cũng như nơi bảo lưu nhiều yếu tố vãn hóa độc đáo để có thể hình thành phố người Hoa

Quận 5 đã được ủy ban nhân dân quận quy hoạch để thực hiện đề án phát ưiển du lịch Phạm

vi thời gian nghiên cứu là từ năm 2001 đến nay

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trước năm 1975, nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam chưa được nhìn nhận một cách sâu sắc Sau 1975, Nhà nước ta khẳng định lại người Hoa là thành viên ưong 54 dân tộc anh em Việt Nam, từ đó các công trình nghiên cứu tìm hiểu về cộng đồng này ngày càng phát triển và trở thành một đề tài thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Tính đến nay, đã có nhiều công trình viết về người Hoa ở Việt Nam, người Hoa ở Nam Bộ của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Nhìn chung các tác phẩm đề cập nhiều về các vấn đề: lịch sử di cư, hình thành của người Hoa ở Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng; các lĩnh vực kinh tế, thương mại; chính sách của các triều đại

Trang 4

phong kiến Việt Nam; đời sống sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội được các tác giả đặc biệt quan tâm

Công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học do Phan An chủ biên Chùa Hoa Thành phố

Hồ Chí Minh xuất bản năm 1990 đề cập đến quá trình hình thành, nghệ thuật kiến trúc, trang trí

của một số cơ sở tín ngưỡng cộng đồng, trong đó có một số hội quán do người Hoa xây dựng ở Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả Châu Thị Hải với ấn phẩm Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam, xuất bản

năm 1992, đã giới thiệu nét chính về quá trình di cư của người Hoa đến Việt Nam; các hình thức liên kết; sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội, của người Hoa ở Việt Nam và Đông Nam Á

Công trình Người Hoa tại Việt Nam của Nguyễn Văn Huy, xuất bản năm 1993, đề cập đến

rất nhiều vấn đề, trong đó có nhiều vấn đề cơ bản như: nhập cư, quốc tịch, dân số, chính sách đối với người Hoa của chính quyền qua các thời kỳ, vị trí của người Hoa trong nền kinh tế Việt Nam

Tác phẩm Xã hội người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975 - Tiềm năng và phát triển của tác giả Mạc Đường, xuất bản năm 1994, tác giả cung cấp cho người đọc nhiều kiến thức

cơ bản về xã hội người Hoa

Tác giả Trần Hồng Liên trong Văn hóa người Hoa ở Nam Bộ - tín ngưỡng và tôn giáo, xuất

bản năm 2005, khắc họa sinh động đời sống tinh thần mà cụ thể là tín ngưỡng và tôn giáo của người Hoa ở Nam Bộ

Người Hoa ở Nam Bộ của tác giả Phan An, xuất bản năm 2005, tác giả đề cập đến nhiều vấn

đề: kinh tế, văn hóa, xã hội, nguồn nhân lực của người Hoa, các tổ chức Bang và Hội của người

Hoa Gần đây nhất, tác giả Phan An với tư cách chủ biên công ưình Góp phần tìm hiểu văn hóa người Hoa ở Nam Bộ, xuất bản 2006, đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết cơ bản về

khíacạnh của văn hóa tộc người Hoa ở Nam Bộ, trong đó tác giả có giới thiệu về làng Minh Hương

ở Chợ Lớn,

Ngoài những ấn phẩm trên, còn có nhiều công ưình nghiên cứu khác là những sách hoặc luận

án như: Nghị Đoàn với Người Hoa ở Việt Nam - Thành pho Hồ Chí Minh', tác giả Châu Thị Hải với công trình Người Hoa ở Việt Nam và Đông Nam Ả: hình ảnh hôm qua và vì thế giới hôm nay, tín ngưỡng và tôn giáo người Hoa Quảng Đông ở Thành phổ Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị Hoa Xinh

Trang 5

Tiếp cận ở góc độ khai thác văn hóa phục vụ du lịch Huỳnh Quốc Thắng Khai thác lễ hội và các sự kiện góp phần phát triển du lịch tại Thành pho Ho Chí Minh Tác giả dừng lại ở việc khai

thác các lễ hội truyền thống của người Hoa để phục vụ cho du lịch Tuy nhiên, riêng về khía cạnh phát triển du lịch văn hóa phố người Hoa chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào

Đồ tài Phát triển du lịch vãn hóa phổ người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi khai

thác giá ưị văn hóa của người Hoa để xây dựng mô hình du lịch văn hóa tại quận 5

Các định hướng và giải pháp của công trình được dựa trên các quan điểm, chính sách về quy hoạch xây dựng của ủy ban nhân dân quận 5, đồng thời trên quan điểm phát triển du lịch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, két hợp bám sát mô hình phát triển du lịch văn hóa cũng như đặc thù riêng về những sắc thái văn hóa của cộng đồng người Hoa tại Thành phố

Hồ Chí Minh theo hướng phát triển bền vững

4 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm đảm bảo tính khoa học và thực tiễn của đề tài, phương pháp quan sát tham dự, khảo sát địa bàn cư trú của người Hoa là phương pháp nghiên cứu chủ đạo Chúng tôi tiếp cận thực tế

để thu thập thông tin, cũng như phỏng vấn ưực tiếp các cá nhân tại các đơn vị có thẩm quyền như:

ủy ban nhân dân quận 5; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh; chính quyền địa phương quận 5 Bên cạnh đó chúng tôi tiến hành phỏng vấn và điều ưa bảng hỏi đối với du khách và cơ sở hoạt động kinh doanh tại địa bàn quận 5 Trên cơ sở đó giúp chúng tôi có được những cái nhìn tổng quát để đề xuất các giải pháp hợp lý và hiệu quả

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu, số liệu và xử lý những thông tin thu thập được từ nhiều nguồn tài liệu khác (từ sách, báo, Internet ) Bên cạnh đó chúng tôi còn vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic để nhận định, nối kết và đánh giá vấn đề cần nghiên cứu

Trang 6

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Nghiên cứu đề tài ‘Phát triển du lịch văn hóa phố người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh” góp phần phục vụ tốt hơn cho hoạt động du lịch văn hóa người Hoa, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần thu hút khách du lịch đến với Thành phố Hồ Chí Minh, thúc đẩy du lịch thành phố phát triển

- Đe tài nghiên cứu sẽ góp thêm tư liệu nghiên cứu về người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Quá trình nghiên cứu đề tài là một cơ hội tốt để chúng tôi tiếp cận những nguồn tài liệu quý, qua đó chúng tôi hiểu được những giá trị văn hóa của cộng đồng người Hoa cũng như hoạt động

du lịch văn hóa ở phố người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh

6 Bố cuc đề tài

Cấu trúc của đề tài ngoài phần dẫn luận, kết luận, gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở nghiên cứu

Chương 2: Giá trị văn hóa của người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh Chương

3: Mô hình du lịch phố người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh

Ngoài ra, phần phụ lục với các bảng câu hỏi phỏng vấn, phác họa sơ đồ phố người Hoa cũng như các hình ảnh do chúng tôi chụp trong quá trình nghiên cứu sẽ góp phần minh họa tốt cho nội dung của đề tài

Trang 7

CHƯƠNG 1: SỞ NGHIÊN cứu

Thuật ngữ “du lịch” trở nên rất thông dụng Nó bắt nguồn từ tiếng Pháp “Tour” nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “tourist” là người đi dạo chơi

Tổ chức du lịch thế giới - World Tourism Organization đưa ra định nghĩa “Du lịch là một hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và việc tổ chức các dịch vụ xung quanh hoạt động này Người đi du lịch là người ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu 80km trong khoảng thời gian hơn 24 giờ với mục đích giải trí, tiêu khiển ” [5, tr 25]

Theo quan niệm của người Phương Tây, du lịch là một chuyến du ngoạn, tuân theo một chương trình nhất định cũng không vì mục đích sinh lợi Như vậy nhu cầu đích thực của khách là muốn thưởng ngoạn thẩm nhận các giá trị vật chất, tinh thần tại địa điểm du lịch

Luật du lịch Việt Nam đưa ra khái niệm “Du lịch là hoạt động cỏ liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiếu giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”[21, tr.9] Cùng quan điểm như trên, khái niệm du lịch được định nghĩa như sau: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kỉnh tế và văn hóa hoặc thể” [18,tr.l5] Theo Trần Nhoãn: “Du lịch là một quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị

Trang 8

văn hóa vật chất và tinh thần đặc sẳc, độc đáo, khác lạ so với quê hương nhằm mục đích sinh lợi được tính bằng đồng tiền'''' [21, tr.18]

Dưới sự ảnh hưởng và chịu tác động của quá trình toàn cầu hóa, ngày càng có nhiều hình thức du lịch được ưiển khai Những loại hình du lịch phổ biến hiện nay đó là:

- Du lịch thuần túy: người đi du lịch không vì mục đích rõ rệt, có thể chỉ nhằm tham quan, ngoạn cảnh Trên thực tế khó có hình thức du lịch thuần túy, vì sẽ có những lý do tiềm ẩn bên ưong của quyết định đi du lịch

Du lịch xã hội: du khách kết hợp đi du lịch để thăm viếng người quen, gặp gỡ, tìm hiểu về một doanh nghiệp, một trường đại học

- Du lịch chữa bệnh: du lịch kết hợp với chữa bệnh Ví dụ đến khu du lịch suối khoáng Bình Châu, vừa du lịch vừa tắm suối khoáng để chữa một số bệnh

- Du lịch công vụ: đối với người không thuộc thân phận ngoại giao được một tổ chức cử đi tham dự một cuộc đàm phán, có thể về mặt kinh tế, có thể về mặt chính trị, hoặc văn hóa,thể thao

Du lịch thể thao: du khách đi du lịch để thi đấu hoặc xem người khác thi đấu

- Du lịch nơi hoang dã: du khách tìm về nơi hoang dã để lưu trú, nhằm giải tỏa stress hoặc thay đổi không khí

Du lịch văn hóa: dành cho những khách có sở thích tìm hiểu, thưởng thức các hoạt động, các sự kiện, các cơ sở văn hóa

- Du lịch lễ hội: là du lịch đến những nơi có tổ chức lễ hội, đặc biệt là những nơi có lễ hội lớn và đặc sắc thu hút đông đảo khách du lịch hàng năm

Du lịch về nguồn: là loại hình du lịch dành cho nhưng người xa xứ về thăm quê cha đất tổ

- Du lịch hành hương: phục vụ cho những tín đồ tôn giáo thể hiện đức tin với niền tin của

Trang 9

- Du lịch học tiếng nước ngoài: đây là loại hình phổ biến trong cộng đồng chung Châu Âu, cha mẹ gửi con cái của mình sang các nước láng giềng để học ngôn ngữ khác, với mục đích tìm hiểu và giữ hòa bình cho hai nước

Du lịch hè: dành cho ưẻ em những gia đình bậc trung, không đủ khả năng đi du lịch, họ sẽ

tổ chức một trại hè tập trung để trẻ em được cùng vui chơi giải trí với nhau

- Du lịch dành cho người cao tuổi: là du lịch có bác sỹ đi theo phục vụ và tổ chức chương trình đi phù hợp cho người cao tuổi

Du lịch nhắm vào đối tượng học sinh: tổ chức cho học sinh và thầy cô đi kèm nhằm giúp học sinh học hỏi và tìm hiểu

- Du lịch học kỳ trên biển: là loại hình du lịch trên những chuyến tàu, có giáo sư đi kèm theo

để chỉ dẫn về địa lý, tập quán những nơi đi qua, có cả đầu bếp để nấu những món đặc sản từng vùng đi qua

- Du lịch đại dương: là loại hình tàu biển Đó là một khách sạn nổi, một thành phố giải trí nổi, đi qua nhiều quốc gia để du khách có thể vui chơi, giải trí

Du lịch khám phá: là loại hình du lịch tìm kiếm cái mới, đến những nơi hoang sơ để trải nghiệm

- Du lịch sinh thái: do trình độ nhận thức khác nhau, ở những góc độ nhìn nhận khác nhau, khái niệm về du lịch sinh thái cũng còn có nhiều điểm chưa thống nhất

Hiện nay còn xuất hiện hình thức du lịch mới, du lịch hội nghị - MICE: tổ chức hội nghị kết hợp với du lịch tại một vùng, một đất nước khác, nhằm mục đích tìm hiểu, giao lưu với thế giới

Du lịch ba lô: du lịch ba lô hay du lịch độc lập là một loại hình du lịch của giới ưẻ nhằm thỏa mãn ý thích khám phá thế giới với một kinh phí có hạn [5, ư.28]

• Du lịch bền vững

Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới đưa ra tại hội nghị về môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992 thì “DM lịch bền vững là việc phát triến các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý tất cả các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khỉ đó vẫn duy trì được bản sắc văn

Trang 10

hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc song của con người” [9]

Mục tiêu của du lịch bền vững:

- Phát ưiển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường

- Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển

- Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa

- Đáp ứng nhu cầu của du khách

- Duy ưì chất lượng môi trường

- Đào tạo cán bộ - nhân viên du lịch, nhằm cải thiện chất lượng các sản phẩm du lịch cũng như thực hiện các giải pháp để phát ưiển du lịch đi đôi với bảo vệ môi trường Việc đào tạo cán bộ

- nhân viên du lịch là cốt lõi cho sự thành công của du lịch bền vững, trong đó quan trọng nhất là chương trình lồng ghép mục tiêu môi trường vào hoạt động kinh doanh du lịch

Như vậy ba tiêu chí chính của du lịch bền vững là: thân thiện môi trường, gần gũi về văn hoá

- xã hội và có hiệu quả kinh tế Các chương trình du lịch bền vững được lập kế hoạch tốt sẽ cung cấp những cơ hội cho du khách tìm hiểu về các vùng tự nhiên, cộng đồng địa phương và học thêm

về tầm quan trọng của công tác bảo tồn biển và văn hoá địa phương Hơn thế nữa, các hoạt động

du lịch bền vững có thể tạo ra những thu nhập cho các cộng đồng địa phương

• Văn hóa

Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Nghĩa ban đầu của văn hóa trong tiếng Hán là

Trang 11

những nét xăm mình qua đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác Theo ngôn ngữ phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng Việt là “culture” ưong tiếng Anh và tiếng Pháp, “kultur” trong tiếng Đức có nguồn gốc từ các dạng động từ của tiếng Latin có nghĩa là giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt, cầu cúng

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Cho tới nay ưên thế giới có hơn 300 định nghĩa khác nhau về văn hóa Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra một định nghĩa chung về văn hóa như sau: "Văn hóa là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hổn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhổm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung song, hệ thống giá trị, truyền thong và đức tin ”

Theo nhà văn hóa Việt Nam Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỳ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội [17, tr.6]

• Du lịch văn hóa

"Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thong."

[21, tr.ll] Mục đích chính là nâng cao hiểu biết cho cá nhân, loại hình du lịch này thỏa mãn lòng

am hiểu và ham thích nâng cao văn hóa thông qua các chuyến đi du lịch đến nơi lạ để tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử, kiến trúc, kinh tế, chế độ xã hội, cuộc sống và phong tục tập quán của nơi du lịch

Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ

Trang 12

• Văn hóa du lịch

“Văn hóa du lịch là một khoa học nghiên cứu những phương thức khai thác giá trị vãn hóa phục vụ du lịch Hay nói cách khác vãn hóa du lịch nghiên cứu các di tích lịch sử vãn hóa, các danh lam thắng cảnh, lễ hội, phong tục tập quán, ẩm thực từ góc độ du lịch và phương thức khai thác những giá trị đó để kinh doanh du lịch ” [20, tr.28]

Theo Trần Nhoãn “Vãn hóa du lịch là một khoa học nhằm nghiên cứu mọi giá trị từ các loại hình văn hỏa khác nhau, đổng thời tìm công nghệ khai thác toi ưu đế phát triển du lịch ”

Có ý kiến khác cho rằng: “Văn hoá du lịch có thể được hiểu như là một loại hình vãn hoá gắn liền với hoạt động du lịch Văn hoá du lịch chính là một phức hợp gồm nhiều bộ phận văn hoả tạo thành thông qua hoạt động du lịch”.[12]

Neu xét trên phương diện chủ thể du lịch như du khách, họ phải có những hành vi mang chuẩn văn hóa tối thiểu khi đi du lịch đến một xứ sở khác Điển hình như là việc tôn trọng tập quán văn hoá của địa phương, không nói những lời khiếm nhã, tôn trọng

giá trị văn hóa của dân tộc tại đất nước họ đến du lịch _ tiếp đến là khách thể du lịch Những tài nguyên, sản phẩm mà khách du lịch sẽ thụ hưởng phải mang tính văn hóa (xét cả tài nguyên văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể) Vãn hoá du lịch còn được thiết lập trên ý thức văn

ho á của những người làm công việc phục vụ du khách Những người phục vụ du lịch phải luôn coi khách hàng là thượng đế, thái độ phục vụ ân cần, chu đáo Vì lẽ đó, văn hoá du lịch là một bộ phận, một yêu cầu bắt buộc, không thể thiếu của ngành du lịch

• Dân tộc - tộc người -

Dân tộc

“Dân tộc (nascere) là một danh từ của Tây phương Vào thế kỷ thứ 7, Isodore de Sévỉlle định nghĩa dân tộc (nation) là một cộng đồng sắc tộc, tức là một nhóm người có chung một nguồn gốc Với thời gian những cộng đồng sẳc tộc này sống pha trộn lân nhau và sinh hoạt chung với nhau trên một mảnh đất nhất định Định nghĩa dân tộc mất đi tỉnh sắc tộc và mang một nội dung

mới là toàn bộ những cư dân song trong một lãnh thổ về sau danh từ dân tộc có nghĩa là tổ quốc

(patria), tức là những người cùng sinh trưởng trên một lãnh thố.”[\A]

Có ý kiến khác cũng tương đồng với quan điểm và nhận định của Giáo sư Nguyễn Văn Huy:

“Dân tộc là một cộng đồng chính trị xã hội được chỉ đạo bởi một

Trang 13

nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, một sinh hoạt kinh tế với biểu tượng vãn hoá chung tạo nên tính cách dân tộc” [4],

- Tộc người

Có kiến khác cho rằng “Tộc người là một cộng đồng mang tính thong nhất, có chung tên gọi, một ngôn ngữ được liên kết với nhau tạo thành những giá trị vãn hoá - tạo thành nên tính cách tộc ngườĩ”[4],

• Người Hoa

Tên gọi “Người Hoa” được chính thức công nhận vào năm 1946 Có các tên khác: Hán, Việt gốc Hoa (thời Ngô Đình Diệm), Hoa kiều hải ngoại (thời Mỹ) Trong ngôn ngữ phương Tây, người Hoa được gọi là Chinese (tiếng Anh), Chinois (tiếng Pháp), Kitai (tiếng Nga)

• Người Hoa ở Việt Nam

Tại Việt Nam, người Hoa là một cộng đồng chủng tộc (ngôn ngữ Hán Tạng) từ Trung Hoa,

đã đến Việt Nam an cư lạc nghiệp từ nhiều thế kỷ qua Con cái của những người này mặc dù sinh trưởng trên lãnh thổ Việt Nam nhưng một số vẫn giữ phong tục tập quán Trung Hoa được gọi là người Hoa hay gốc Hoa

Có nhiều quan điểm về khái niệm người Hoa Theo Nguyễn Văn Huy “Người Hoa tại Việt Nam là một trong nhiều thành phần sẳc tộc cẩu thành dân tộc Việt Nam Cộng đồng người Hoa là một trong nhiều cộng đồng dân tộc của đại gia đình Việt Nam.” [14]

Có quan điểm khác cho rằng “Người Hoa bao gồm những người gốc Hán và những người thuộc dân tộc ít người ở Trung Quốc đã nhập quốc tịch Việt Nam, nhưng vân còn giữ những đặc trưng văn hóa, chủ yếu là ngôn ngữ, phong tục tập quán của dân tộc Hán và tự nhận mình là người Hoa ” [13, tr.378] Theo cách xác định này, người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh là một bộ phận

cư dân Thành phố Hồ Chí Minh, mang quốc tịch Việt Nam Trong lịch sử và hiện tại, người Hoa

đã có những đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển Sài Gòn - Chợ Lớn trước đây cũng như Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay

• Phố người Hoa (Phố Tàu)

Phố Tàu một cách gọi quen thuộc trên thế giới để chỉ những khu phố của người Hoa ở một

số thành phố lớn trên thế giới: Bangkok, Kuala Lumpur, Manila,

Trang 14

Yokohoma, Paris Tùy mỗi đô thị lớn của các quốc gia mà phố Tàu có các dáng vẻ khác nhau ít nhiều, đó là những khu phố tập trung đông đúc người Hoa sinh sống

“Những phố Tàu nối lên hai đặc điểm: đỏ là những khu pho có không gian kiến trúc mang màu sắc Trung Hoa Thứ hai bên trong các khu phố đó là những họat động kinh tể, văn hóa, xã hội được diễn ra theo một dáng vẻ riêng, có thể tạm gọi là phong cách Hoa” [1, tr.320]

Phố người Hoa hiện nay ở quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh trước đây là Chợ Lớn cũ Phố người Hoa ở đây vừa mang dáng vẻ của phố người Hoa ở một số nước trên thế giới vừa có những nét riêng Đường phố ở Chợ Lớn nhỏ hẹp, bố trí dọc và song song với kênh tàu Hủ, dọc hai bên đường Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi Các đường phố cắt vuông góc với hai đường này tạo thành những con đường nhỏ và ngắn Dọc theo mặt tiền của con đường là các cửa tiệm mở san sát nhau

Cảnh phố không khác gì trước là mấy “các con đường ấy giao nhau như hình chữ điền Pho xá liên tiếp sát mái nhau ” và “cư dân trù mật, phổ chợ liền lạc, nhà cột nhà ngói liên tiếp nhau”

[1, tr.321]

1.2 Cơ sở thực tiễn

♦♦♦ Khái quát về người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh -

Lịch sử hình thành

Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng, có nhiều nét tương đồng về điều kiện

tự nhiên và sắc thái văn hóa Do có chung đường biên giới, đất liền nên từ rất sớm sự trao đổi, giao lưu qua lại giữa hai bên diễn ra rất phổ biến và nhộn nhịp Cư dân hai nước khá am hiểu về lối sống và phong tục tập quán của nhau Trong lịch sử, Trung Quốc là một nước có khá nhiều biến

cố Các thế lực cát cứ nổi lên khắp nơi, khiến nhân dân đói khổ lầm than Họ buộc phải từ bỏ quê hương để đi tìm một miền đất mới Việt Nam là mảnh đất lành khi họ tới sinh cơ lập nghiệp Người Hoa đến Việt Nam vào nhiều thời điểm khác nhau Tuy nhiên có thể xét đến một số đợt

di dân lớn vào Việt Nam và Đàng Trong từ thế kỷ XVII đến nay như cuộc di dân của Mạc Cửu và gia đình đến vùng đất Mang Khảm (nay là Hà Tiên) vào năm 1671 Năm 1679 nhóm các tướng Trung Hoa là Trần Thượng Xuyên (Trần Thắng Tài) và Dương Ngạn Địch đổ bộ xuống Đà Nằng Chúa Nguyễn cho vào vùng đất phương

Trang 15

Nam khai khẩn Trần Thượng Xuyên định cư ở vùng Biên Hòa - Cù Lao Phố (tỉnh Đồng Nai), Dương Ngạn Địch định cư ở Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang) Đen thế kỷ XX người Pháp tạo điều kiện cho người Hoa vào định cư ở Sài Gòn, Chợ Lớn Hai khu vực cư trú lớn nhất của người Hoa lúc bấy giờ là làng Thanh Hà ở Biên Hòa và làng Minh Hương ở Chợ Lớn

Chợ Lớn là khu vực sớm được những di dân Hoa chọn làm nơi lập nghiệp Chợ Lớn sớm trở thành khu phố sầm uất bậc nhất vùng Sài Gòn - Gia Định, Nam Bộ nói chung và đây là đầu mối cung cấp hàng hóa cho cả khu vực, mà hầu hết những nhà buôn lớn là người Hoa Giới thương nhân Hoa đã có những đóng góp quan trọng làm hình thành khu phố thị Chợ Lớn

Năm 1949 Đảng Cộng sản Trung Quốc giải phóng Trung Hoa, một số Quốc Dân Đảng chạy sang Đài Loan và một số sang Việt Nam Đen đây những cuộc di cư của người Hoa sang Việt Nam

ít dần và chấm dứt

Hiện nay, ở Việt Nam người Hoa sinh sống tập trung tại một số tỉnh thành như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Nam, Bình Thuận, Đồng Nai, Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau

- Dân so

Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê năm 1999, cả nước có hơn 862.371 người Hoa, tại Thành phố Hồ Chí Minh có 428.768 người, chiếm tỉ lệ 54.5% người Hoa cả nước Người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu gồm 5 nhóm ngôn ngữ chính: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ (Hạ Phương - Thượng Phương, còn gọi là Hakka) Tỷ lệ nhóm tộc người Hoa phân theo nhóm ngôn ngữ được thể hiện ở bảng dưới đây:

(Nguồn: Ngô Văn Lệ - Nguyễn Duy Bính, Người Hoa ở Nam Bộ, NXB Đại học

Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)

Trang 16

Như vậy nhóm Quảng Đông có số lượng đông nhất với hơn 50% số người Hoa toàn thành phố Ngôn ngữ được người Hoa sử dụng phổ biến ở Thành phố Hồ Chí Minh là tiếng Quảng Đông, Triều Châu, Hẹ thuộc ngữ hệ Hán - Tạng Dù đã định cư ở Thành phố Hồ Chí Minh qua nhiều đời nhưng người Hoa vẫn gìn giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc mình, vẫn giữ được các phong tục tập quán truyền thống và sử dụng bản ngữ trong gia đình và trong cộng đồng

- Địa bàn cư trú

Người Hoa đến sinh sống tại khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn cũ từ lâu đời và họ di cư sang đây theo từng giai đoạn lịch sử Do người Hoa di cư đến Việt Nam theo nhiều đợt và cường độ khác nhau nên có hai hình thức cư trú chủ yếu: một là sống xen kẽ với các tộc người bản địa và hai là

cư trú tập ưung thành từng khu vực nhỏ Bảng thống kê về số lượng người Hoa và người Việt tại

24 quận huyện do Tổng cục thống kê thực hiện năm 2004 Từ đó đã cho chúng ta một cái nhìn tổng quát về tình hình cư trú và sự phân bố dân cư của người Hoa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 17

Quận - Huyện Người Kinh (%) Người Hoa(%)

Trang 18

hiểu thêm bức tranh toàn cảnh về đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa của Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có hoạt động kinh tế của cộng đồng người Hoa tại đây

- Tình hình kinh tế - xã hội

Người Hoa khi đến với vùng đất mới họ thích ứng khá nhanh với điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội Những di dân người Hoa hoạt động trong mọi lĩnh vực kinh tế: khai thác lâm thổ sản, sản xuất nông nghiệp, chế biến thủy hải sản, sản xuất các mặt hàng thủ công nghiệp Cùng với sự phát triển của xã hội, người Hoa đã góp mặt ưong hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế

Từ ngày thống nhất đất nước đến nay, tuy có những bước thăng trầm, nhưng hoạt động kinh

tế của người Hoa nhìn chung chuyển biến tích cực và phát triển nhanh Nhiều năm qua, người Hoa luôn và đã có nhiều đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng kinh tế của thành phố, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động thành phố Trên lĩnh vực văn hóa, nhiều hoạt động đã diễn ra sôi nổi, đẩy mạnh giới thiệu những tinh hoa văn hóa người Hoa và góp phần duy trì và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng mình

Trang 19

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI HOA

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Văn hóa vât chất

2.1.1 Trang phục

Ngày nay các loại y phục nam, nữ của người Hoa có khuynh hướng giản dị hơn trước Đa

số người Hoa mặc Âu phục như người Việt: quần tây áo sơ mi Khi lao động nam áo thun hoặc áo

sơ mi ngắn tay Khi có lễ tiệc, những người lớn tuổi có thể mặc veston, trung niên, thanh niên mặc quần dài, áo sơ mi Nói chung quan niệm ăn mặc đơn giản vẫn còn tồn tại trong suy nghĩ của người Hoa Ngày nay trong lễ tế người Hoa ăn mặc rất đơn giản: chủ tế, phó tế và các thành viên trong ban lễ đều mặc veston, không mặc lễ phục kiểu nhà Thanh nữa Khi kinh tế phát triển, trong những ngày lễ hội hay những ngày trọng đại của gia đình giới trẻ Hoa lại thích mặc những bộ quần áo cổ truyền: nữ mặc Xườn Xám; nam mặc áo “Xá xẩu”, “quần Tiều” Nhìn chung các đặc điểm ăn mặc của người Hoa hiện nay vốn là các yếu tố văn hoá truyền thống của tổ tiên họ từ các tỉnh phía Nam Trung Quốc sang, với ít nhiều cải cách theo hoàn cảnh phát ưiển của lịch sử bản xứ

giấm đỏ hoặc đậu tương ; người Hải Nam có món cơm gà; người Hẹ có món tàu hủ

Gia Khánh Khi chuyển sang vùng đất mới phong cách ẩm thực của người Hoa đã có một số thay đổi do quá trình giao lưu văn hóa với người Việt nhưng họ vẫn giữ được nét truyền thống trong phong cách ẩm thực của địa phương mình nói riêng và quốc gia nói chung

Khi người Hoa bắt đầu hình thành tâm lý xem nơi đây là quê hương của mình thì họ đã tiếp thu và chế biến những món ăn độc đáo vừa phù hợp với hoàn cảnh hiện tại vừa gìn giữ được nét truyền thống Từ đó họ đã sáng tạo ra được những món ăn mang

Trang 20

đậm nét đặc trưng của người Việt gốc Hoa về các món điểm tâm của người Hoa thì có thể kể đến:

há cảo, xủi cảo, chân gà tiềm, bánh bao (nhân thịt, xá xíu), xíu mại, màn thầu (bánh bao không nhân), thịt cuộn, tàu hủ và các món ăn khác: bún xào, cháo trắng, bánh bò, bánh mè Trong các quán ăn lớn của người Hoa tại thành phố các món điểm tâm đều được đựng trong những cái khay, cái xửng làm bằng ưe nứa và nhân viên sẽ dùng xe đẩy các món ăn ngang qua các bàn để thực khách có thể lựa chọn tùy ý Do đó thực đơn trong bữa điểm tâm sáng của người Hoa rất phong phú Các món này đều được làm đúng theo cách làm truyền thống của người Hoa chỉ khác một điều là họ hạn chế dùng dầu trong cách chế biến và mùi vị của món ăn cũng được điều chỉnh chút

ít cho phù hợp với khẩu vị của người Việt gốc Hoa Các bữa ăn chính không có gì đặc biệt chủ yếu

là các món cá, món thịt, và ít rau cải xào Tất cả các món ăn đều có điểm chung là dùng rất nhiều dầu để chế biến (chủ yếu là dầu thực vật)

Đối với người Hoa, uống trà là một nghệ thuật đồng thời là một thói quen trong sinh hoạt thường ngày Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất ít người Hoa còn giữ truyền thống này bởi vì họ xem việc uống trà vào bữa sáng tại các tửu lầu là một việc xa xỉ Tại các nhà hàng phong cách Hoa khi dùng bữa trà sáng, khách chỉ cần uống vơi cạn nửa ly ưà thì nhân viên phục vụ sẽ đến rót, họ không muốn làm gián đoạn đến câu chuyện của khách Khi bình trà vơi đi khách không cần gọi mà chỉ thực hiện một thao tác nhỏ là mở nắp ấm đặt trên phần miệng bình thì sẽ có nhân viên đến thay bình trà mới Từ đó ta nhận thấy được sự chu đáo, tỉ mĩ trong cách ăn uống của người Hoa Theo truyền thống, hai loại thức uống quan trọng nhất của người Hoa truyền thống là trà và rượu thì ngày nay hai lại thức uống trên thường chỉ xuất hiện trong các ngày lễ tết, ưong các bữa tiệc mang đậm nét truyền thống hoặc người ta sử dụng nó với vai trò như một loại thuốc ưị bệnh Trong một

số gia đình người Hoa thường ngâm các loại rượu có công dụng trị bệnh như: rượu Hà Thủ Ô, nguyên liệu chủ yếu: hà thủ ô, hoành tinh, kỷ tử, quyễn bá, rượu gạo công dụng giúp máu huyết lưu thông, dưỡng nhan, trừ vết nám, tàn nhan, giúp tóc đen không rụng; rượu Thường Xuân, nguyên liệu chủ yếu: hoàng thanh, nhãn nhục, táo tàu, táo đen, đương quy đầu, kỷ tử, rượu gạo Công dụng

bổ huyết, dưỡng nhan, tăng cường sinh lực; rượu cẩm ngâm thuốc với các nguyên liệu rượu nếp than, trần bì, cam thảo, đương quy, bạch truật, thục địa, bạch chỉ, táo tàu đen,

Trang 21

công dụng bồi bổ khí huyết, ăn ngon, ngủ yên Dù ít được sử dụng rộng rãi nhưng trà và rượu vẫn

là loại thức uống truyền thống của người Việt lẫn người Hoa

2.1.3 Các công ưình kiến trúc

2.1.3.1 Kiến trúc nhà ở

Ngôi nhà ở theo người Hoa là nơi thờ phượng tổ tiên, là nơi sinh hoạt, buôn bán, lao động sản xuất, nơi tiếp khách Mô hình nhà của người Hoa rất đa dạng Ở đô thị, thành phố, người Hoa thường làm các nghề buôn bán, lao động chân tay, địa bàn tập trung nên họ thường ở nhà liên kế (phố) Ở nông thôn người Hoa làm nghề nông, dịch vụ, mua án lẻ nên họ thường ở nhà biệt lập Ngôi nhà của người Hoa không khác ngôi nhà của người Việt bao nhiêu, trong thực tế số lượng nhà

có phần đặc thù không nhiều Người Hoa có hai loại nhà chính: ngôi nhà biệt lập theo ưuyền thống

và ngôi nhà liên kế

- Kiến trúc nhà biệt lập theo truyền thống

Nhà biệt lập của người Hoa theo truyền thống là ngôi nhà “tứ hợp viện” thường dành riêng cho đền, miếu, phủ, từ Mô hình nhà kiểu này có nhiều khu vực, khu vực chính là khu vực thờ phượng, giữa chánh điện có chừa khoảng rộng để thông gió gọi là thiên tĩnh (giếng trời)

Hiện nay còn tồn tại một số nhà cổ của người Hoa, mô hình xây dựng có những đặc điểm sau: những ngôi nhà này có mô hình tương tự như một ngôi miếu; khu vực chính gồm có chính đường (ba gian); phía trước chính đường là tiền đường (ba gian) Hai công trình kiến trúc này có lúc đặt cách nhau bởi một thiên tĩnh, hai bên có hai dãy nhà cầu nối (hà kiều) Cũng có trường hợp chính đường và tiền đường nằm khít nhau

- Kiến trúc nhà liên ké

Kết cấu của ngôi nhà người Hoa cứng, chắc, được làm theo kỹ thuật phức tạp Mái nhà lợp ngói âm dương có ba bốn lớp Không gian của ngôi nhà người Hoa chỉ có một cửa cái ở gian giữa, hai bên nhô ra có hai cánh cửa sổ nhỏ khoét tròn có chấn song, không có cánh cửa, ít cửa phụ ra vào Theo phong tục của người Hoa, các cánh của phải đóng theo hướng thuận (hướng viết chữ Hán, tức ngược chiều kim đồng hồ) mở theo hướng nghịch (tức chiều thuận kim đồng hồ) Chốt cài cửa gồm hai cây bổ và hai

Trang 22

cây chốt ngang cây ưên cài theo chiều kim đồng hồ, cây dưới cài ngược chiều kim đồng hồ Nhà cửa của người Hoa trang trí nhiều hoành phi, câu đối, tranh vẽ, thư pháp Trái lại, cách bày trí trong ngôi nhà liên kế của người lao động thì đơn giản hơn: phía trước là nơi tiếp khách, sản xuất, mua bán bàn thờ chỉ một tấm ván dài thờ chung Phật, Thần Thánh, Bồ Tát; hai bên thờ ông bà, cha mẹ; phía sau là phòng rộng làm nơi nghỉ ngơi; phía sau nữa là nhà kho, nhà bếp Trải bao thăng trầm, Chợ Lớn ngày nay đã có rất nhiều thay đổi, kiểu nhà ưuyền thống bị phá bỏ thay vào là các kiến trúc hiện đại với vật liệu tân kỳ Hạt nhân chính gồm khu vực xung quanh Bưu điện Chợ Lớn và trục đường Hải Thượng Lãn Ông với những đường xương cá đâm ngang như Triệu Quang Phục, Lương Nhữ Học, Mạc Cửu vẫn còn giữ được khá đậm nét cả một không gian kiến trúc và lối làm ăn, buôn bán, sinh hoạt cộng đồng của người Hoa Hầu như toàn

bộ nhà ở trong khu là kiểu nhà hình ống phố thị mà người phương Tây gọi là shophouse Người Hoa đã mang kiểu nhà này từ Nam Trung Hoa đến Sài Gòn vào đầu thế kỷ xvin Đó là kiểu nhà

có chiều ngang hẹp 3m đến 4m và chiều dài gấp 4 đến 5 lần chiều ngang, phía ngoài để buôn bán còn phía sau là để ở cùng với một sân trời phía ưong Nhìn chung, nhà ở của người Hoa xây dựng không quy mô kiên cố, nhưng bố trí thành những cộng đồng nhỏ gần như khép kín chỉ để làm ăn sinh sống, giao tiếp, nhất là có điều kiện để bảo vệ phong tục văn hoá truyền thống của người xa quê hương

2.1.3.2 Công trình kiến trúc tôn giáo - tín ngưỡng

Các công trình kiến trúc thờ tự thường biểu thị tập trung những đặc trưng và những thành tựu kiến trúc nghệ thuật của cộng đồng người Hoa Mặt khác, kiến ưúc thờ tự luôn có xu hướng bảo thủ ưuyền thống văn hoá, ít bị thay đổi theo thời đại như các công trình kiến trúc thế tục, dân dụng Ở góc độ lịch sử kiến trúc - nghệ thuật của người Hoa tiêu biểu là các di tích đền, miếu sau:

Trang 23

STT Tên gọi Danh mục Địa chỉ Phương

tộc

Năm khai sơn

380 Trần Hưng

Đạo

Minh Hương

180 Hùng Vương

Minh Hương 1902

3 Tuệ Thành

Hội Quán

Chùa Bà Chợ Lớn

710 Nguyễn Trãi Quảng

1800, 1825, 1842,1882, 1996

4 Nghía An hội

quán

Chùa Ông

678 Nguyễn Trãi

Triều Châu + Hẹ

Đầu

TK XIX

1866,1901, 1969,1984

1809,1875 1901,1979

Miếu

116 Triệu Quang Phục Phúc Kiến

8 Hả Chương

Hội quán

Chùa Bà Hà Chương

802 Nguyễn Trãi Phúc Kiến

^ 122 BénChương Dương

Quảng Đông 1887 1920,1922 tái Ẹp

11 Thiên Hậu Tự

350 Nguyễn

12 Quần Tân Hội

1892,

1906 ( Nguồn: Sở Văn hóa Thông tin Thành phố H [ồ Chí Minh (2007), Người Hoa

tại Tp Hồ Chí Minh, NXB Vãn hóa Thông tin)

Trang 24

Kiến ưúc tiêu biểu và chung nhất của cộng đồng người Hoa là thức “Tứ hợp viện” (thường được các nhà nghiên cứu gọi là “nội công ngoại quốc”) Tứ hợp viện là nói đến cơ cấu chính, song lại có sân ngoài ười, sân trước hướng ra phố Sân ngoài thường rộng, cổng mở ở chính giữa hoặc hai bên, rào thưa thông thoáng ra phía trước là phố Có trường hợp đặc biệt, sân quá hẹp do đường phố cắt ngang thì đối diện bên kia đường lập một hồ phóng sinh (tiêu biểu là Tuệ Thành hội quán,

Ôn Lăng hội quán) để tạo kiểu thức phù hợp với phong thuỷ, vừa tạo nên mảng “sơn thuỷ” xu hướng hoài niệm về vườn cảnh Một số di tích cổ như Tuệ Thành hội quán, Nhị Phủ miếu, có khoảng trống từ cổng đến tiền diện, tạo nên cảm giác xa cách với cõi đời phồn tạp và đô hội Đặc điểm kiến trúc đền miếu người Hoa lấy kết cấu gỗ làm chính, tường thẳng đứng bao quanh, lợp mái nghiêng, cột đặt ưên tảng đá, đặt xà ngang giữa các cột, xà dọc nối các vì lại tạo thành bộ khung hoàn chỉnh chịu lực Hệ thống kết cấu gỗ có ưu điểm nổi bật là sự phức tạp và tinh

vi vượt trội hơn hẳn kết cấu bằng gạch đá Kiến ưúc phổ biến của chùa Hoa là Tứ hợp viện, các thành tố kiến ưúc bố cục theo đồ án chữ thập, lấy trục dọc làm đối xứng gồm tiền điện: kiến trúc nằm ngang, án ngữ mặt trước; thiên tỉnh: khoảng sân trong lộ thiên; phương đình: kiến trúc vuông, phía trước và hai bên là sân lộ thiên; chính điện: nơi thờ các đối tượng thờ tự chính; tả hữu vu: hai dãy nhà dọc hai bên

Những di tích kiến ưúc nghệ thuật đã được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia gồm có: Nghĩa An hội quán, Minh Hương Gia Thạnh; Nhị Phủ hội quán; Quỳnh Phủ hội quán;

Hà Chương hội quán; Ôn Lăng hội quán; Tuệ Thành hội quán Những công trình kiến trúc ưên hầu hết đều tập ưung ở phường 11 quận 5

Hội quán của người Hoa là nơi sinh hoạt cộng đồng, trong đó nổi bật là sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống Kiến trúc hội quán của người Hoa đều thể hiện những nét đặc thù văn hoá truyền thống của mỗi nhóm, nhất là ở kiểu dáng

Trang 25

2.2 Văn hóa tinh thần

2.2.1 Tôn giáo - tín ngưỡng

2.2.1.1 Tôn giáo

Việc xác định người Hoa là tín đồ của tôn giáo nào là một vấn đề rất khó Người Hoa đến chùa Phật, trong nhà thờ Phật nhưng chưa hẳn họ là tín đồ Phật giáo Người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh theo các tôn giáo chính: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Đạo giáo và Tin lành

Phật giáo: Phật giáo của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm nhiều tông phái:

Phái Lâm té (Thiền Tông), Tịnh Độ Tông, Hoa Nghiêm Tông Trong sinh hoạt tôn giáo người Hoa đến chùa thắp nhang và cúng bái vào các ngày rằm, mồng một âm lịch hàng tháng Trong năm, chùa thờ Phật của người Hoa tổ chức các ngày lễ hội lớn: lễ Phật Đản, lễ Vu Lan

Đạo giáo: là tôn giáo có nguồn gốc từ Trung Hoa Khi định cư ở miền Nam Việt Nam người

Hoa luôn coi đó là niềm tin không thể thiếu trong đời sống tín ngưỡng của mình Họ tôn thờ các

vị thần của Đạo giáo, đứng đầu là Lão Tử (Thái thượng Lão quân) Ngày lễ Đạo giáo lớn nhất trong năm của người Hoa ở Thành Phố Hồ Chí Minh được tổ chức vào ngày 14 tháng 4 âm lịch gọi là ngày lễ Lữ Tổ Lễ được tổ chức chính ở chùa Khánh Vân Nam Viện với sự tham gia đông

đủ của các đạo sĩ và bà con người Hoa Ngoài ngày lễ chính chùa Khánh Vân Nam Viện còn tổ chức các ngày lễ khác như ngày vía Quan Công (24 tháng 6 Âm lịch), ngày vía Ngọc Hoàng (9 Tháng Giêng Âm lịch), lễ Phật Đản (rằm tháng 4 Âm lịch), lễ Vu Lan (rằm tháng 7 Âm lịch) Những lễ hội này luôn thu hút đông đảo các tín đồ tham dự

Thiên chứa giáo: Thiên chúa giáo du nhập vào cộng đồng người Hoa ở Thành phố Hồ Chí

Minh khoảng thế kỷ XIX, do những giáo sỹ phương Tây truyền đạo ở vùng đất Nam Bộ Hiện nay các tín đồ Thiên chúa giáo trong cộng đồng người Hoa chiếm khoảng dưới 5000 người, trong đó

bộ phận người Hoa gốc Quảng Đông chiếm ưu thế

Hiện nay, ở Thành phố Hồ Chí Minh có 4 nhà thờ do người Hoa xây dựng và có đông người Hoa đến hành lễ, đó là nhà thờ Cha Tam (25 đường Học Lạc, quận 5); nhà thờ Đức Bà Hòa Bình (26A Nguyễn Thái Bình); nhà thờ Phú Thọ Hòa (1980 đến nay ngưng hoạt động); nhà thờ Giuse (4 An Bình, quận 5) Trong đó nhà thờ Cha Tam là

Trang 26

một trong những nhà thờ vào loại lâu đời nhất và là trung tâm hoạt động tôn giáo lớn nhất của cộng đồng giáo dân người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh Giáo dân người Hoa không chỉ đi lễ ở các nhà thờ Thiên chúa giáo mà còn tham dự các lễ hội ở những ngôi chùa của người Hoa như chùa Ông, chùa Bà

Đạo Un Lành: Được người Hoa tiếp thu ở Việt Nam khoảng đầu thế kỷ XX Hội Thánh Tin

Lành của người Hoa ở Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập đầu tiên Hội Thánh Tin Lành Nguyễn Trãi Hiện nay, ở Thành phố Hồ Chí Minh có 8 Hội Thánh Tin Lành của người Hoa, số lượng tín

đồ khoảng gần 1.500 người Sinh hoạt tôn giáo đạo Tin Lành của người Hoa Thành phố Hồ Chí Minh cũng tuân thủ theo những quy tắc chung, mặc dù có những quy định rộng rãi hơn các tôn giáo khác Tín đồ Tin Lành của người Hoa đến nhà thờ vào chủ nhật hàng tuần để làm lễ và nghe mục sư hoặc truyền đạo viên giảng kinh thánh, sau đó làm lễ cầu nguyện Đạo Tin Lành có những quy định về việc thờ cúng: không thắp nhang trong đám tang, không có đồ cúng và sự cúng lạy, không lập bàn thờ chúa Tuy nhiên một số gia đình người Hoa theo đạo Tin Lành vẫn có bàn thờ chúa và bàn thờ tổ tiên Bên cạnh việc đi lễ ở các nhà thờ của đạo Tin Lành họ vẫn tham gia thắp nhang cúng bái ở các chùa và tham gia các lễ truyền thống của dân tộc và các lễ hội tôn giáo lớn Qua việc tìm hiểu các tôn giáo và tín ngưỡng của người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh ta nhận thấy rằng tín ngưỡng và tôn giáo ưở thành một nhu cầu, sức mạnh tinh thần giúp người Hoa trụ vững ở mảnh đất mới Nam Bộ, vượt qua những thử thách trong cuộc mưu sinh Khi theo bất

kỳ một tôn giáo nào dù là Phật giáo, Thiên chúa giáo, Đạo giáo hay đạo Tin Lành, cộng đồng người Hoa luôn giữ được các tín ngưỡng ưuyền thống Trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, cộng đồng người Hoa rất linh hoạt tiếp thu những giá trị của người Việt và luôn chủ động gìn giữ những giá trị truyền thống Điều đó cũng góp phần làm cho văn hóa của cộng đồng người Hoa thêm những sắc thái mới, bên cạnh đó còn thể hiện sự tôn trọng giá ưị văn hóa của vùng đất họ định cư và niềm tự hào dân tộc của cộng đồng người Hoa tại Thành phố Hồ Chí

Minh

Trang 27

2.2.1.2 Tín ngưỡng dân gian

Người Hoa tại Việt Nam là một cộng đồng cư dân đi tìm đất sống, cho nên tín ngưỡng đã trở thành một nhu cầu quan trọng không thể thiếu trong đời sống của họ Tín ngưỡng là một chỗ dựa lớn lao về tinh thần giúp họ ưụ vững trên vùng đất mới Tín ngưỡng của người Hoa rất đa dạng và phong phú về nội dung và hình thức Người Hoa có niềm tin vững chắc vào thần thánh Đối với họ thần thánh là một thế lực quyền uy và cũng là thế lực giúp đỡ và cứu cánh trong lúc họ gặp gian nguy, trong quá ưình mưu sinh, tạo cho họ niềm tin và sự hy vọng vào cuộc sống Sự phong phú

và đa dạng tín ngưỡng của người Hoa còn thể hiện trong nghi thức thờ cúng và trong sinh hoạt tín ngưỡng Điều đó được thể hiện qua sự thờ cúng trong gia đình; sự thờ cúng dòng họ; sự thờ cúng ưong cộng đồng; thờ cúng tổ sư các nghề

Thứ nhất thờ cúng trong gia đình và dòng họ: thờ trời, thờ thần lửa, thờ ông địa và thần tài, thờ cúng tổ tiên, thần bếp, thờ cúng dòng họ Sự thờ cúng trong khuôn viên nhà ở của người Hoa

có ý nghĩa nhằm giữ được sự bình yên, may mắn cho gia chủ và thành viên trong gia đình về sức khỏe, công việc và cuộc sống

Thờ cúng trong cộng đồng: Ở Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 200 cơ sở thờ cúng cộng đồng của người Hoa Đó là miếu, đình, điện, hội quán một số cơ sở này được người Việt và cả người Hoa, quen gọi là “Chùa”, như chùa Bà Chợ Lớn vốn là Thiên Hậu miếu, chùa Ông Chợ Lớn vốn là Quan Thánh đế quân miếu Những cơ sở thờ cúng cộng đồng phần lớn là do người Hoa xây dựng Đó là những công trình kiến trúc mang đậm nét văn hóa của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh Các cơ sở tín ngưỡng cộng đồng gắn liền với những chức năng khác nhau mang tính xã hội và văn hóa Một số đền miếu gắn liền với Hội quán - là một tổ chức quản lý của cộng đồng người Hoa trong thời gian trước năm 1954 Trong khuôn viên của các đền miếu còn có trường học, thư viện, cơ sở thể dục thể thao , nơi đây diễn ra những hoạt động cộng đồng của người Hoa Đối tượng thờ cúng của người Hoa rất đa dạng Những thần thánh được người Hoa đặc biệt tín ngưỡng: Bà Thiên Hậu, Quan Công, Ông Bổn, Ngọc Hoàng, Phật Bà Quan Âm, Khổng Tử, Lão Tử, Thành hoàng

Người Hoa khi đến Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động kinh tế chủ yếu của họ là buôn bán

và hoạt động tiểu thủ công nghiệp với nhiều nghề như thuộc da, thủy tinh,

Ngày đăng: 04/03/2017, 17:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (2005), Người Hoa ở Nam Bộ, KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2005), Người Hoa ở Nam Bộ
Tác giả: Phan An
Năm: 2005
2. Phan An (chủ biên), (2006), Góp phần tìm hiểu văn hoá người Hoa ở Nam Bộ, Văn hoá - Thông tin, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu văn hoá người Hoa ở Nam Bộ
Tác giả: Phan An (chủ biên)
Năm: 2006
3. Nguyễn Duy Bính, Ngô Văn Lệ, Người Hoa ở Nam Bộ, Đại Học Quốc gia TP.HCM, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Hoa ở Nam Bộ
5. ThS. Sơn Hồng Đức (2003), Du lịch và kỉnh doanh lữ hành, trẻ, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch và kỉnh doanh lữ hành
Tác giả: ThS. Sơn Hồng Đức
Năm: 2003
6. Mạc Đường (1994), xã hội người Hoa ở Thành phổ Hồ Chí Minh sau năm 1975 Tiềm năng và phát triển, KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hội người Hoa ở Thành phổ Hồ Chí Minh sau năm 1975 Tiềm năng và phát triển
Tác giả: Mạc Đường
Năm: 1994
7. Nghị Đoàn, Người Hoa ở Việt Nam, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Hoa ở Việt Nam
8. Nguyễn Đệ, Tổ chức người Hoa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức người Hoa ở Việt Nam
9. Hoàng Thu Hà - Tài liệu giảng dạy môn chiến lược du lịch, Đại học Mở TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giảng dạy môn chiến lược du lịch
10. Châu Thị Hải, Tìm hiểu sự hình thành các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam trong bối cánh lịch sử ĐNA, Luận án Tiến Sĩ Khoa học lịch sử, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu sự hình thành các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam trong bối cánh lịch sử ĐNA
13. Hội dân tộc học, Dân tộc học và nhũng vấn đề xã hội hiện đại, KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học và nhũng vấn đề xã hội hiện đại
14. Nguyễn Văn Huy (1993), Người Hoa ở Việt Nam, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Hoa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Năm: 1993
15. Trần Hồng Liên (2005), Vãn hoá người Hoa ở Nam Bộ, tín ngưỡng và tôn giáo, KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vãn hoá người Hoa ở Nam Bộ, tín ngưỡng và tôn giáo
Tác giả: Trần Hồng Liên
Năm: 2005
16. Trần Hồng Liên (chủ biên), (2007), Văn hoá người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh, KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Hồng Liên (chủ biên)
Năm: 2007
17. Trần Ngọc Thêm (chủ biên) - Phạm Hồng Quang (2004), Văn hóa học và Văn hóa học Việt Nam, Đại học Sư Phạm, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học và Văn hóa học Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm (chủ biên) - Phạm Hồng Quang
Năm: 2004
18. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), (1996), Địa lý du lịch, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý du lịch
Tác giả: Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên)
Năm: 1996
19. Đặng Nghiêm Vạn, Cộng đồng quốc gia dân tộc, ĐH Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng quốc gia dân tộc
20. Lê Thu Vân (2006), Giảo trình Văn hóa du lịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảo trình Văn hóa du lịch
Tác giả: Lê Thu Vân
Năm: 2006
22. B ộ Văn hoá - Thông tin, Uỷ ban nhân dân Tp. HCM (2007), Người Hoa tại Thành phổ Hồ Chí Minh, Văn hoá - Thông tin, TP.HCM.Nguồn Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Hoa tại Thành phổ Hồ Chí Minh
Tác giả: B ộ Văn hoá - Thông tin, Uỷ ban nhân dân Tp. HCM
Năm: 2007
4. Đặng Thị Quốc Anh Đào, Bài giảng môn các dân tộc Đông Nam Á, Đại học Mở TP.HCM Khác
11. Châu Thị Hải (2006), Người Hoa ở Việt Nam và Đông Nam Á: Hình ảnh hôm qua và vì thế giới hôm nay, KHXH, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w