1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA Ở TỈNH QUẢNG NINH

163 488 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 5,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Du lịch văn hóa là xu hướng của các nước đang phát triển vì đem lại giá trị lớn cho cộng đồng xã hội. Du lịch văn hóa đang là sự lựa chọn của các nước đang phát triển. Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục... gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế. Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng... để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới. Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ. Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo. Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài. Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương. Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc. Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch, nhưng lại đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội. Du lịch văn hóa là xu hướng của nhiều nước. Loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo quốc gia, vì vậy phải được xem là hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam. Tỉnh Quảng Ninh là một tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch nói chung và phát triển hoạt động du lịch văn hóa nói riêng, nhưng hiện tại hoạt động khai thác, sử dụng và phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh này chưa được đầu tư, chú trọng và chưa thực sự phát triển, chưa khai thác hết nguồn tài nguyên du lịch văn hóa để phục vụ cho sự phát triển loại hình du lịch văn hóa gây lãng phí nguồn tài nguyên, làm lãng phí nguồn nhân lực lao động, làm giảm nguồn thu ngân sách cho tỉnh nói riêng và cho ngành du lịch nói chung. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa cho tỉnh Quảng Ninh.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu: 2

3.Mục đích, đối tượng nghiên cứu 2

4.Nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu 3

5 Phạm vi, phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của luận văn 3

7 Kết cấu luận văn 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 5

1.1.1.Khái niệm du lịch văn hóa 5

1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa: 6

1.1.3 Khái niệm về sản phẩm du lịch: 7

1.1.5 Cơ sở vật chất, kỹ thuật của du lịch: 9

1.1.6 Nguồn nhân lực du lịch 10

1.1.7 Điểm đến du lịch văn hóa 11

1.1.8 Thị trường du lịch văn hóa 12

1.1.9 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa 12

1.2 Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch văn hóa 14

1.2.1 Những bài học kinh nghiệm trong nước 14

1.2.2 Những bài học kinh nghiệm nước ngoài 17

Tiểu kết chương 1 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA Ở TỈNH QUẢNG NINH 24

2.1.Giới thiệu tổng quan về tỉnh Quảng Ninh 24

2.1.1 Vị trí địa lý 25

2.1.2 Địa hình 25

Trang 4

2.1.3 Khí hậu 26

2.1.4 Sông ngòi và chế độ thủy văn 27

2.1.6 Dân tộc 29

2.1.7 Tôn giáo, tín ngưỡng 30

2.1.8 Tiềm năng phát triển du lịch 31

2.2 Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh 51

2.2.1 Sản phẩm du lịch 98

2.2.2.Cơ sở vật chất kỹ thuật 68

2.2.3.Cơ sở hạ tầng 87

2.2.4 Nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch 94

2.2.5.Hoạt động quản lý du lịch 51

2.2.6 Khái quát hoạt động du lịch ở Quảng Ninh 107

2.2.7 Đánh giá hoạt động du lịch lịch văn hóa của tỉnh Quảng Ninh 111

Tiểu kết chương 2 113

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA Ở TỈNH QUẢNG NINH 114

3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 114

3.1.1 Chủ trương chính sách nhà nước 114

3.1.2 Định hướng, chiến lược phát triển của tỉnh 115

3.2.Giải pháp về sản phẩm du lịch 116

3.3.Lập bản đồ địa chỉ khu du lịch đưa khách tham quan đến 119

3.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động du lịch 119

3.4.1 Hệ thống giao thông 119

3.4.2 Hệ thống cơ sở ăn uống, lưu trú 120

3.4.3 Đầu tư các cơ sở vui chơi, giải trí 121

3.5 Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho du lịch 122

3.5.1 Nguồn nhân lực quản lý nhà nước về du lịch văn hóa 122

3.5.2 Nguồn nhân lực trong các cơ sở kinh doanh du lịch 123

3.5.3 Nguồn nhân lực ở địa phương 123

Trang 5

3.5.4 Các cơ sở đào tạo du lịch 125

3.6 Xúc tiến, quảng bá và quản lý nhà nước cho hoạt động du lịch 128

3.6.1 Hoạt động xúc tiến, quảng bá về du lịch 128

3.6.2 Hoạt động quản lý nhà nước về du lịch 129

3.7 Thu hút, tìm kiếm nguồn vốn đầu tư ở trong nước và nước ngoài cho các dự án phát triển du lịch 134

Tiểu kết chương 3 136

KẾT LUẬN 138TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

PHỤ LỤC 145

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

(Liên minh Châu Âu)

ICOMOS International Council on Monuments & Sites

VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

DANH MỤC BẢNG

Trang 7

Bảng 2.1: Thống kê hiện tại về các cơ sở khách sạn theo cấp hạng sao 73

Bảng 2.2 Hệ thống cấp thoát nước tại tỉnh Quảng Ninh 89

Bảng 2.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 94

Bảng 2.4: Trình độ học vấn của nhân viên khách sạn tại Hạ Long 95

Bảng 2.5: Trình độ kỹ năng cần thiết tính đến năm 2020 96

Bảng 2.6: Số lượng khách du lịch tham quan Yên Tử trong 5 năm qua 52

Bảng 2.7: Mức tăng doanh thu du lịch, hiện tại và đến năm 2020 109

Bảng 2.8:Thu nhập từ khách du lịch trong 5 năm qua 110

Trang 8

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Du lịch văn hóa là xu hướng của các nước đang phát triển vì đem lại giá trịlớn cho cộng đồng xã hội Du lịch văn hóa đang là sự lựa chọn của các nước đangphát triển Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khámchữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục gần đây du lịch văn hóa được xem

là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịchquốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hộitruyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối vớikhách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thíchnghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là

cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền vớiđịa phương - nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo.Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để

tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia

du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dânđịa phương Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát triểnphần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, màthường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Nhữngnguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch, nhưng lại đóng góp đáng

kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội "Du lịch văn hóa là xu hướng của nhiềunước Loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, rất tốt cho hoạtđộng xóa đói giảm nghèo quốc gia, vì vậy phải được xem là hướng phát triển củangành du lịch Việt Nam"

Tỉnh Quảng Ninh là một tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển các loại hình

du lịch nói chung và phát triển hoạt động du lịch văn hóa nói riêng, nhưng hiện tạihoạt động khai thác, sử dụng và phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh này chưa được đầu

tư, chú trọng và chưa thực sự phát triển, chưa khai thác hết nguồn tài nguyên du lịchvăn hóa để phục vụ cho sự phát triển loại hình du lịch văn hóa gây lãng phí nguồn

Trang 9

tài nguyên, làm lãng phí nguồn nhân lực lao động, làm giảm nguồn thu ngân sáchcho tỉnh nói riêng và cho ngành du lịch nói chung Chính vì vậy, tôi chọn đề tài này

để nghiên cứu nhằm đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa cho tỉnhQuảng Ninh

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:

Giáo trình du lịch văn hóa những vấn đề lý luận và nghiệp vụ do PGS.TS

Trần Thúy Anh chủ biên, là nguồn tài liệu cung cấp những vấn đề lý luận quantrọng và thực tiễn được đúc rút từ kinh nghiệm của hoạt động văn hóa Tài liệu nàygiúp tác giả luận văn có cách nhìn từ góc độ du lịch văn hóa để tiếp cận hướngnghiên cứu của mình [1]

Một số luận văn thạc sĩ du lịch có nghiên cứu về một số tiềm năng, thế mạnh

và thực trạng cụ thể của từng loại hình du lịch cụ thể, điểm du lịch cụ thể và đặctrưng như: đề tài nghiên cứu “Phát triển các loại hình du lịch ở Hạ Long, QuảngNinh” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy, “Phát triển du lịch văn hoá tại huyệnĐông Triều” của tác giả Phạm Minh Thắng, “Một số giải pháp phát huy văn hoá ẩmthực Quảng Ninh nhằm phát triển du lịch” của tác giả Mạc Thị Mận, “Khai tháctiềm năng của loại hình du lịch văn hoá ở huyện Yên Hưng - tỉnh Quảng Ninh” củatác giả Trương Thị Thu Hương “Nghiên cứu giá trị các di tích lịch sử - văn hóatrọng điểm triều Trần tại Quảng Ninh phục vụ phát triển du lịch” của tác giả Bùi ThịHuế…

Qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy, nghiên cứu về từng thành tốhoặc một số địa phương của du lịch Quảng Ninh không phải là đề tài mới, nhưngnghiên cứu tổng thể về Hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh là đề tài hoàntoàn mới và cần thiết Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổngquát về Hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh được công bố

3.Mục đích, đối tượng nghiên cứu.

Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ởtỉnh Quảng Ninh qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịchvăn hóa ở tỉnh Quảng Ninh

Trang 10

Đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh QuảngNinh Trong đó bao gồm các điểm du lịch văn hóa, điểm tham quan văn hóa, di tíchvăn hóa, lịch sử tiêu biểu như Chùa Yên tử, Miếu vua Bà, Đền Cửa Ông, Đền TrầnHưng đạo, Bảo tàng Bạch Đằng đây cũng chính là đối tượng nghiên cứu cụ thểnhất của luận văn.

4.Nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch, du lịch văn hóa, điều kiện pháttriển du lịch văn hóa

- Đánh giá về tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch văn hóa của tỉnh QuảngNinh từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn đọng và tìm ranhững nguyên nhân

- Xây dựng các đề xuất, giải pháp phù hợp với thực trạng phát triển của du lịch vănhóa tỉnh Quảng Ninh, đồng thời đảm bảo tính bền vững, bảo tồn và phát huy các disản văn hóa

- Nghiên cứu các loại tài nguyên văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh để đưa ra các giải phápphát triển, đồng thời nâng cao hiệu quả khai thác loại hình du lịch văn hóa ở tỉnhnày

5 Phạm vi, phương pháp nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu hoạt động du lịch văn hóa về mặt không

gian là nghiên cứu những điểm du lịch hấp dẫn nhất ở tỉnh Quảng Ninh Phạm vinghiên cứu về mặt thời gian là nghiên cứu trong khoảng 5 năm gần đây

Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cưu, vận dụng các phương

pháp như: phương pháp khảo sát, phương pháp điều tra thực tế, phương pháp phỏngvấn và phương pháp dùng bảng hỏi để thu thập và xử lý thông tin

6 Đóng góp của luận văn

Hệ thống một cách khái quát nhất những lý luận về phát triển du lịch vănhóa, phân tích thực trạng phát triển của du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh Đề xuấtmột số giải pháp nhằm phát triển hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh Kết

Trang 11

quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho các công ty du lịch ở QuảngNinh, các cơ quan chức năng trong việc hoạch định chính sách phát triển du lịchvăn hóa ở tỉnh Quảng Ninh trong tương lai

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo và phụ lục, phầnnội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về các vấn đề liên quan đến đề tài

Chương 2 Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh

Chương 3 Một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1.Khái niệm du lịch văn hóa

Với sự phát triển phong phú của đời sống, nhu cầu của con người cũng pháttriển đa dạng hơn Người ta đi du lịch không chỉ với mục đích nghỉ dưỡng, nâng caothể chất đơn thuần Ngày càng cho thấy nhu cầu giao lưu, khám phá thế giới củacon người là vô cùng lớn, trong đó có khám phá thiên nhiên, con người, văn hóa vàchính bản thân họ Nếu như du lịch sinh thái là một loại hình du lịch ở đó con ngườiđược thỏa mãn nhu cầu khám phá tự nhiên đồng thời với việc được hòa mình vào tựnhiên thì du lịch văn hóa cho người ta những hiểu biết về con người và những nềnvăn hóa đi kèm theo, để từ đó con người xích lại gần nhau hơn, có cái nhìn về cuộcđời nhân văn hơn và thế giới vì thế sẽ trở thành nhỏ bé hơn, thân ái hơn.Trong quátrình đi du lịch nghỉ dưỡng hay chữa bệnh, hành hương đi chăng nữa người ta vẫncần được đáp ứng về nhu cầu khám phá văn hóa, đó là lý do cho loại hình du lịchvăn hóa có cơ sở phát triển, lồng ghép hầu hết vào các loại hình du lịch khác Khinói đến du lịch văn hóa tức tiếp cận văn hóa từ du lịch, thông qua du lịch, thực chất

là việc khai thác và biến sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch, thuộc sản phẩm

du lịch Là một sản phẩm kinh doanh nên đó là sản phẩm hàng hóa hay gọi đúnghơn là sản phẩm hàng hóa văn hóa, một loại sản phẩm hàng hóa đặc biệt, qua tiêuthụ không hề mất đi như những sản phẩm hàng hóa thông thường khác mà còn đượcnhân lên về mặt giá trị tinh thần và hiệu quả xã hội

Theo Luật Du lịch: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc

văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống”.[23, Tr 3]

Theo Tổ chức du lịch thế giới (tên tiếng Anh là World Tourism Organization

- UNWTO, tên tiếng Pháp là Organization Mondiale du Tourisme - OMT) “Du lịch

văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu

Trang 13

diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đến đài,

du lịch ngiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”.

Theo Hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích (International Coucil On

Monuments & Sites – ICOMOS) “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu

là khám phá những di tích và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa – kinh tế - xã hội” Khái niệm trên được đưa ra theo khía cạnh nghiên

cứu chỉ về di chỉ và di tích

1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa:

Có thể coi văn hóa đã sinh ra du lịch, nuôi sống du lịch, và ngành du lịchđang thụ hưởng những giá trị văn hóa

Tài nguyên du lịch văn hóa là một dạng đặc sắc của tài nguyên du lịch nói

chung Tài nguyên du lịch văn hóa chia làm hai loại là “tài nguyên văn hóa phi vật

thể” và “tài nguyên văn hóa vật thể”.

Nhắc đến việc phân loại tài nguyên du lịch, hiện nay hầu hết các tài liệu đềuphân chia rõ hai loại chính là tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn Trong

Luật du lịch Việt Nam định nghĩa như sau: “Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm

các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” và “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [23, Tr.8].

Như vậy với góc nhìn trên, các thành tố của văn hóa được liệt kêthành các dạng tài nguyên du lịch văn hóa như: truyền thống văn hóa, văn nghệ dângian, kiến trúc, cách mạng, khảo cổ…và đây thực chất là nguồn tài nguyên vô cùngquý giá đối với ngành du lịch Tuy nhiên không phải mọi sản phẩm văn hóa đều làsản phẩm du lịch và mọi sản phẩm văn hóa là sản phẩm du lịch, bởi vì có rất nhiều

Trang 14

sản phẩm văn hóa không thể hoặc không nên đưa vào khai thác kinh doanh du lịch

mà phải được bảo tồn và gìn giữ phát các giá trị cốt lõi của văn hóa đó Ta chỉ khaithác sử dụng những tài nguyên văn hóa này khi chúng được đặt trong một hoàncảnh cụ thể (thuộc vùng du lịch, trung tâm du lịch hoặc khu vực gần với các trungtâm du lịch) Khai thác một cách có định hướng, có chiến lược gắn liền với bảo tồn,giữ gìn và phát huy giá trị to lớn của tài nguyên này

1.1.3 Khái niệm về sản phẩm du lịch:

Sản phẩm du lịch, tiếng Anh là "tourist marketing", là một thuật ngữ chuyênngành du lịch, là một quá trình "trực tiếp" cho phép các doanh nghiệp và các cơquan du lịch xác định khách hàng hiện tại và tiềm năng, ảnh hưởng đến ý nguyện vàsáng kiến khách hàng ở cấp độ địa phương, khu vực quốc gia và quốc tế để các đơn

vị này có thể thiết kế và tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm nâng cao sự hài lòng củakhách và đạt được mục tiêu đề ra

Với các sản phẩm du lịch thì phương thức tiếp cận là một nhân tố vô cùngquan trọng, là nguyên nhân chính tăng lượng khách du lịch vì thực sự chúng tácđộng thông qua cách giới thiệu sản phẩm, sử dụng các tiện nghi, giá cả ổn định

Như chúng ta đã biết bất cứ hoạt động kinh doanh nào, cũng sẽ cho ra sảnphẩm của hoạt động kinh doanh đó Vì vậy, khi tìm hiểu các khái niệm chung về dulịch chúng ta cũng phải tìm hiểu xem thế nào là sản phẩm du lịch và những nét đặctrưng cơ bản của nó

Theo Luật du lịch Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả

mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch

Theo tổng cục Du lịch: Sản phẩm là một trong những dịch vụ và tiện nghi

dịch vụ hỗn hợp mà công ty khách sạn, lữ hành cung cấp cho khách hàng

Theo PGS-TS Trần Thị Minh Hòa: Sản phẩm du lịch = Dịch vụ du lịch +

hàng hóa du lịch + Tài nguyên du lịch

Từ thực tế hoạt động du lịch, chúng ta có thể đưa ra khái niệm: “Sản phẩm

du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa văn hóa mang tính đặc thù do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để phục vụ những nhu cầu của

Trang 15

các đối tượng du khách khác nhau; nó phù hợp với những tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế đồng thời chứa đựng những giá trị văn hóa đặc trưng bản địa; đáp ứng và làm thỏa mãn các mục tiêu kinh tế - xã hội đối với các cá nhân, tổ chức và địa phương nơi đang diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch”.

Sản phẩm du lịch trước hết là một loại hàng hóa nhưng là một loại hàng hóađặc biệt, nó cũng cần có quá trình nghiên cứu, đầu tư, có người sản xuất, có ngườitiêu dùng như mọi hàng hóa khác Sản phẩm du lịch thường mang những đặctrưng văn hóa cao, thỏa mãn nhu cầu của các đối tượng du khách Đó có thể là mộtchương trình du lịch với thời gian và địa điểm khác nhau Sản phẩm du lịch thể hiệntrong các tour du lịch này chính là việc khai thác các tiềm năng, nguồn lực sẵn cótrên một địa bàn hoặc được tạo ra khi biết kết hợp những tiềm năng, nguồn lực nàytheo những thể thức riêng của từng cá nhân hay một công ty nào đó Đó chính làviệc khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các địa phương vào hoạtđộng du lịch như việc đưa các loại hình nghệ thuật, dân ca, dân vũ, văn hóa ẩm thựchay các hình thức hoạt động thể thao, các hoạt động lễ hội truyền thống, trình diễn,diễn xướng dân gian… vào phục vụ du khách Những hoạt động như vậy giúp cho

du khách trực tiếp thẩm nhận và hưởng thụ, trải nghiệm văn hóa mà họ vốn có nhucầu nhưng không biết tiếp cận như thế nào, ở đâu, thời gian nào…? Sản phẩm dulịch còn là những dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ làm đẹp, các dịch vụ thông tinliên lạc, bưu chính viễn thông, dịch vụ tài chính, ngân hàng… tiện lợi, đem lại nhiềulợi ích to lớn cho du khách

Sản phẩm du lịch thường được cụ thể hóa bằng các sản phẩm vật chất cungcấp cho du khách ở những nơi du khách dừng chân, nghỉ ngơi hay tham quan dulịch Đó có thể là các vật phẩm, đồ lưu niệm; các chủng loại hàng hóa với mẫu mã,chất liệu, phương pháp chế tác đem đến nhiều công năng tiện ích khác nhau chongười sử dụng Tổng hợp lại, giá trị của tất cả các sản phẩm du lịch khác nhau đượcđánh giá bằng số lượng khách đến và đi du lịch trên một địa bàn cụ thể Chất lượngsản phẩm du lịch sẽ làm tăng hay giảm lượng khách trên địa bàn đó Giá trị của sảnphẩm du lịch được “đo” bằng mức chi tiêu của du khách trong một chuyến du lịch

Trang 16

và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch, tổng các nguồn thu cho ngânsách địa phương từ hoạt động du lịch và thu nhập của cư dân bản địa tham gia kinhdoanh các dịch vụ phục vụ du khách Giá trị của các sản phẩm du lịch cũng đượcthể hiện qua những ảnh hưởng, tác động của hệ thống sản phẩm du lịch đến sự pháttriển kinh tế - xã hội của một địa phương, đất nước.

1.1.4 Khái niệm sản phẩm du lịch văn hóa: là một sản phẩm du lịch mà cũng là

sản phẩm văn hóa, nó mang đầy đủ tính đặc trưng của một sản phẩm du lịch

“Sản phẩm du lịch văn hóa phải là sự kết hợp giữa tài nguyên du lịch văn

hóa và các dịch vụ du lịch văn hóa thích hợp phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá, trải nghiệm của du khách về những điều khác biệt, mới lạ của các nền văn hóa khác nhau” [13, Tr.12] Vậy có thể hiểu sản phẩm du lịch văn hóa phải là sự kết

hợp giữa toàn bộ các loại tài nguyên du lịch văn hóa và toàn bộ các loại dịch vụ dulịch thích hợp nhằm phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá, trải nghiệm về nhữngđiều khác biệt, mới lạ về từng nền văn hóa bản địa của du khách

Tiếp cận theo hướng kinh tế, sản phẩm du lịch được định nghĩa là “các dịch

vụ hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật

và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó” [8, Tr.27]

Xét riêng sản phẩm du lịch văn hóa thì trước hết đó là một sản phẩm văn hóasau đó được đưa vào hoạt động kinh doanh du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu học hỏi,tìm hiểu của du khách Do đó sản phẩm du lịch văn hóa là tập hợp các dịch vụ cần

thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch văn hóa trong chuyến đi du lịch

Theo Luật du lịch Việt Nam “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để

thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến đi du lịch” [23, Tr.2]

1.1.5 Cơ sở vật chất, kỹ thuật của du lịch:

Cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển

du lịch của mỗi địa phương , mỗi quốc gia

Hiểu theo nghĩa rộng, Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộcác phương tiện kỹ thuật được huy động than gia vào việc khai thác các tài nguyên

Trang 17

di lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ hàng hóa thảo mãn nhu cầu của dukhách trong các chuyến hành trình của họ [13, Tr 168 ]

Hiểu theo nghĩa hẹp, thì cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch là toàn bộnhững cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật được các nhà làm du lịch đầu tư xây dựng đểphục vụ cho hoạt động du lịch như nhà hàng, khách sạn, đường giao thông nội bộtrong khu, điểm du lịch, công trình điện nước tại khu điểm du lịch, các khu vui chơigiải trí, phương tiện giao thông, camping, và các công trình bổ trợ khác gắn liền vớihoạt động du lịch [13, Tr 168 ]

Tóm lại, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa là toàn bộ các cơ sở vậtchất kỹ thuật tại điểm du lịch văn hóa và cơ sở hạ tầng của ngành nghề khác thamgia vào hoạt động du lịch văn hóa như: hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cáccông trình cung cấp điện, nước, cơ sở phục vụ ăn, uống, lưu trú, các cửa hàng, khugiải trí, thể thao, cơ sở y tế, trạm xăng dầu, nhà ga, bến cảng, bãi đỗ xe… phục vụtrực tiếp cho du khách đến tham quan tìm hiểu du lịch văn hóa Cơ sở vật chất kỹthuật của du lịch văn hóa góp phần quyết định đến chất lượng dịch vụ và hiệu quảkinh tế của điểm đến du lịch văn hóa

1.1.6 Nguồn nhân lực du lịch:

Có thể nói, phát triển nguồn nhân lực vừa có tính cấp bách, vừa mang ý nghĩachiến lược và cũng là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, phải đặt lên vị trí hàngđầu trong quá trình phát triển của du lịch Việt Nam nguồn nhân lực du lịch baogồm: lao động thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các đơn vị sựnghiệp trong ngành từ trung ương đến địa phương, lao động trong các doanh nghiệp

du lịch gồm đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh, đội ngũ lao động nghiệp vụ trongcác khách sạn - nhà hàng, công ty lữ hành, vận chuyển du lịch , lao động làm côngtác đào tạo du lịch trong các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng,đại học và Sau đại học

Nguồn nhân lực du lịch có chất lượng cao là yếu tố cực kỳ quan trọng để đạtnăng lực cạnh tranh cao của điểm đến du lịch nói chung và mỗi doanh nghiệp nóiriêng

Trang 18

Do vậy, nguồn nhân lực trong du lịch văn hóa là toàn bộ những người trực tiếp và

gián tiếp làm việc có liên quan đến du lịch văn hóa Bao gồm quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp và kinh doanh du lịch văn hóa Đây chính là đội ngũ quyết

định hiệu quả của hoạt động kinh doanh và sự tồn tại của du lịch văn hóa Muốnphát triển du lịch văn hóa bền vững bắt buộc phải có đội ngũ nhân lực giỏi chuyênmôn nghiệp vụ, am hiểu về lĩnh vực văn hóa, có khả năng đáp ứng vai trò truyền tải

về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam đến với du khách

1.1.7 Điểm đến du lịch văn hóa:

Theo điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam (2005) thì “Điểm du lịch là nơi có

tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”, tuy

nhiên, khái niệm điểm đến du lịch không chỉ dùng cho một địa bàn nhỏ hẹp mà cònđược dùng cho một vùng du lịch, vùng du lịch hay tiểu vùng du lịch tùy theo quy

mô Điểm đến du lịch trước hết phải là một điểm hấp dẫn du lịch song không phảiđiểm hấp dẫn du lịch nào cũng trở thành một điểm đến du lịch bởi còn tùy thuộcvào các yếu tố bổ sung như cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật…Theo cách hiểu trên

thì điểm du lịch được xem là có quy mô nhỏ “là nơi tập trung một loại tài nguyên

nào đó (tự nhiên, văn hóa - lịch sử hoặc kinh tế xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ

Điều 24, Luật du lịch Việt Nam (2005) quy định điểm du lịch có đủ các điềukiện sau đây được công nhận là điểm du lịch cấp quốc gia:

+ Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch.

+ Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục

vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan một năm.

Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch địaphương:

+ Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch.

Trang 19

+ Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục

vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm.

Như vậy, điểm đến du lịch văn hóa là nơi có tài nguyên du lịch văn hóa hấpdẫn, có khả năng thu hút du khách về nhu cầu khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu vềvăn hóa như: những di tích văn hóa lịch sử, những danh thắng, các công trình kiếntrúc, các cổ vật, những giá trị văn hóa phi vật thể, các lễ hội, làng nghề, nghệ thuật

ẩm thực…Kết hợp với hệ thống cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật của du lịch vănhóa có khả năng đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch văn hóa

1.1.8 Thị trường du lịch văn hóa:

Thị trường du lịch là bộ phận của thị trường chung, một phạm trù của sảnxuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữangười mua và người bán, giữa cung và cầu và toán bộ các mối quan hệ, thông tinkinh tế, kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch [16.Tr 34] Như vậy,

thị trường du lịch văn hóa là nơi diễn ra sự trao đổi mua bán giữa người mua là khách du lịch có nhu cầu thỏa mãn về sản phẩm văn hóa và người bán là những nhà cung cấp các dịch vụ có liên quan đến du lịch văn hóa trong một thời gian và không gian xác định Thị trường du lịch văn hóa chịu sự tác động chung của thị

trường du lịch về yếu tố địa lý, yếu tố cung cầu, về tính chất hoạt động và thànhphần sản phẩm Đồng thời, thị trường du lịch văn hóa đảm nhiệm các chức năngnhư: chức năng thực hiện, chức năng thừa nhận, chức năng thông tin và chức năngđiều tiết

1.1.9 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa

Việc tổ, quản lý du lịch văn hóa nhằm mục đích khai thác, phát huy và bảotồn các giá trị văn hóa trong hoạt động du lịch thông qua các kế hoạch, chiến lược,chính sách và hoạt động cụ thể Đây là điều kiện quan trọng để phát triển du lịchvăn hóa

đảm bảo tính hiệu quả và bền vững

- Trách nhiệm của ngành du lịch trong công tác bảo tồn di sản văn hóa: Di

sản văn hoá và hoạt động phát triển du lịch có mối quan hệ hữu cơ với nhau Du

Trang 20

lịch là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt Nói một cáchkhác, du lịch chỉ có thể phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch.Đứng từ góc độ này, các giá trị văn hóa được xem là dạng tài nguyên du lịch đểkhai thác tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, khác biệt và có khả năng cạnh tranhkhông chỉ giữa các vùng miền, các địa phương trong nước mà còn giữa Việt Namvới các nước trong khu vực và quốc tế Trên cơ sở những giá trị di sản văn hoá, dulịch khai thác để hình thành nên những sản phẩm bán cho khách Luật Di sản của

Việt Nam đã khẳng định “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng

đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [22, Tr.107].

Như vậy, có thể thấy mối quan hệ tương hỗ mật thiết giữa di sản văn hóa với hoạt

động phát triển du lịch Đây là mối quan hệ biện chứng cần được nhìn nhận một

cách khách quan và đầy đủ để xây dựng định hướng khai thác có hiệu quả các gía trị

di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch và xây dựng các chính sách phù hợp để dulịch có thể có những đóng góp tích cực và trách nhiệm nhất cho hoạt động bảo tồn,phát huy các giá trị di sản văn hóa.Như vậy, việc tổ chức, quản lý du lịch văn hóadựa trên cơ sở nội dung quản lý nhà nước về du lịch như sau:

- Đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch văn hóa:Sự phát triển nhanh

của du lịch toàn cầu và những xu hướng du lịch mới xuất hiện trong thời gian gầnđây như du lịch bền vững, du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm, du lịch cộng đồng,

du lịch hướng về nguồn, hướng về thiên nhiên,… đã và đang thúc đẩy cạnh tranhmạnh mẽ giữa các quốc gia trên thế giới trong việc phát triển du lịch Điều đó đòihỏi vai trò quản lý nhà nước về du lịch văn hóa cần phải được thích ứng, hoàn thiện,phù hợp với tình hình trong nước và thế giới.Nhằm góp phần vào hiệu quả kinhdoanh của ngành du lịch và định hướng phát triển bền vững của ngành

- Đối với chính quyền địa phương:Các cơ quan ban ngành có liên quan trong

toàn tỉnh cần thực hiện đúng và tốt nhiệm vụ được phân công trong công tác quản lýnhà nước về du lịch văn hóa ở từng địa phương Mọi chiến lược, chính sách phảiđược cụ thể hóa trong công tác quy hoạch, ban hành quy chế, các chính sách phát

Trang 21

triển du lịch văn hóa phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở từng địaphương.

- Đối với các tổ chức, cá nhân, các cơ sở kinh doanh du lịch văn hóa: Phải

chấp hành mọi quy định của nhà nước về tổ chức, quản lý các hoạt động có liênquan đến du lịch văn hóa Hoạt động khai thác kinh doanh du lịch phải đi đôi vớigiữ gìn và tôn tạo nguồn tài nguyên du lịch văn hóa trên cơ sở phát triển bền vững

- Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá hoạt động du lịch văn hóa: Hoạt động

tuyên truyền, quảng bá - xúc tiến du lịch là một trong những khâu quan trọng gópphần thúc đẩy phát triển ngành du lịch, đặc biệt là các điểm đến hấp dẫn Quảng bá,xúc tiến, tuyên truyền hoạt động du lịch có thể được hiểu là những hoạt động giớithiệu, tiếp thị các điều kiện, tiềm năng đến nhà đầu tư; tiếp thị các sản phẩm Du lịchvăn hóa đến với du khách nhằm thu hút vốn đầu tư cũng như thu hút khách đến dulịch Để biết đến một địa danh, một vùng đất, một dân tộc ngoài những thông tinqua lịch sử văn hóa, địa lý, kinh tế…còn có một cánh tiếp cận luôn tạo nên những

ấn tượng khó quên đó là qua Du lịch văn hóa Một trong những yếu tố giúp dukhách tiếp cận và giới thiệu nhanh nhất các giá trị đó là các hình thức thông tin,quảng bá, tuyên truyền Đó là những thông tin được giới thiệu trên hệ thống truyềnthông đại chúng, các kênh quảng bá uy tín, hệ thống Internet và các hình thức khác.Đối với du khách, các thông tin về giá trị điểm đến, điều kiện đi lại, ăn ở nơi mình

sẽ đến luôn được quan tâm Chính vì vậy, công tác xúc tiến, quảng bá, tuyên truyền

để du khách biết đến một điểm đến, một vùng đất hay một dân tộc có vai trò vôcùng quan trọng trong phát triển du lịch.Thực tế cũng đã cho thấy công tác tuyêntruyền quảng bá điểm đến rất quan trọng trong thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa

1.2 Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch văn hóa

1.2.1 Những bài học kinh nghiệm trong nước

Du lịch văn hóa là xu thế mới của du lịch Việt Nam, tiêu biểu là Lễ tế đànNam Giao vào đầu thế kỷ XX Ở Việt Nam, nhiều hoạt động du lịch văn hóa được

tổ chức dựa trên những đặc điểm của vùng miền Chương trình Lễ hội Đất PhươngNam (Lễ hội văn hóa dân gian vùng Đồng bằng Nam bộ), Du lịch Điện Biên (Lễ

Trang 22

hội văn hóa Tây Bắc kết hợp với sự kiện chính trị: 50 năm chiến thắng Điện BiênPhủ), Con đường Di sản miền Trung (Lễ hội dân gian kết hợp tham quan những disản văn hóa được UNESCO công nhận) là những hoạt động của du lịch văn hóa,thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước Trong số đó, Festival Huế đượcxem là hoạt động du lịch văn hóa đặc sắc nhất Việt Nam Lễ hội được tổ chứcthường xuyên 2 năm một lần, với sự hỗ trợ của Chính phủ Pháp Festival Huế làdịp để Việt Nam có dịp giới thiệu với du khách về lễ hội dân gian của miền Trung,đặc biệt là Nhã nhạc cung đình Huế - một di sản phi vật thể vừa được UNESCOcộng nhận; và Lễ tế đàn Nam Giao - một lễ hội vương triều thất truyền từ hàng chụcnăm nay

Thừa thiên Huế là tỉnh có nhiều tài nguyên đặc sắc để phát triển sản phẩm du

lịch văn hóa Là tỉnh làm tốt trong hoạt động phát triển du lịch văn hóa Đến vớiHuế du khách biết đến Huế là vùng đất của những lễ hội dân gian tiêu biểu nhưNam ở điện Hòn Chén theo tín ngưỡng của người Chăm pa, lễ hội tưởng nhớ các vịkhai canh thành lập làng, lễ hội tưởng niệm các vị khai sinh các ngành nghề truyềnthống… Huế là địa điểm du lịch lý tưởng không thể bỏ qua đối với những ai yêu

thích tìm hiểu, khám phá những di tích lịch sử, văn hóa của Việt Nam Các tour du

lịch Huế ngày một tăng vì thành phố Huế luôn lưu giữ và bảo tồn được những lăng

tẩm, đền đài vài trăm năm tuổi của các vị vua chúa Ngoài ra, đến với du lịch lễhộiở Huế du khách còn biết đến Huế là vùng đất của những lễ hội dân gian tiêubiểu như ở điện Hòn Chén theo tín ngưỡng của người Chăm pa, lễ hội tưởng nhớcác vị khai canh thành lập làng, lễ hội tưởng niệm các vị khai sinh các ngành nghềtruyền thống… Với di sản văn hoá thế giới, cảnh quan thiên nhiên, nhiều di tích lịch

sử, các sản phẩm đặc sản, nhất là nhà vườn là một nét độc đáo tiêu biểu của như:nhà vườn An Hiên, Lạc Tịnh Viên, nhà vườn Ngọc Sơn Công Chúa, Tỳ Bà Trang,Tịnh Gia Viên cùng với hệ thống khách sạn, nhà hàng, các dịch vụ phục vụ khác,thành phố đã và đang trở thành một trung tâm du lịch rất hấp dẫn khách du lịch đếnHuế Khách đến Huế không những được đến với hình ảnh đẹp thơ mộng của SôngHương, nét truyền thống cổ kính của Lăng Tẩm, di tích lịch sử văn hóa, lễ hội dân

Trang 23

gian tiêu biểu mà còn bị mệ hoặc bởi con người nơi đây, sự nhẹ nhàng thuẩnkhiết với tà áo dài, giọng nói nhẹ nhàng đi vào lòng người Vì vậy mà du lịchHuế luôn là nơi thu hút đông du khách cả trong và ngoài nước Đến Huế du kháchđến những điểm du lịch Huế như: khu văn hoá du lịch Kim Long, Nam Châu HộiQuán, phố cổ Gia Hội - Chi Lăng, phố đêm Bạch Đằng, Hàn Thuyên; nghe ca Huếtrên sông Hương, đi thuyền dọc sông Hương, sông Ngự Hà Thưởng thức các món

ăn đặc sản truyền thống rất phong phú, đa dạng, mang đậm đặc trưng của Huế nhưbánh bèo, nậm lọc, bánh khoái, thanh trà, tôm chua, mè xửng, cùng với các sảnphẩm mỹ nghệ lưu niệm theo dấu ấn của lịch sử Du lịch Huế quả là một một địa

điểm du lịch không thể bỏ qua Bài học rút ra cho Quảng Ninh chính là việc Phát

triển phong phú, đa dạng các sả phẩm du lịch văn hóa Phát triển đi đôi với định hướng, quảng bá cho sản phẩm du lịch văn hóa của tỉnh, tạo ra sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng, sản phẩm du lịch văn hóa truyền thống, phong cách phục vụ du khách phải khác biệt để du khách chỉ một lần đặt chân đến đất Quảng Ninh là phải

ấn tượng và nhớ tới con người Quảng Ninh

Quảng Nam là một trong những tỉnh hàng đầu ở Việt Nam làm tốt về hoạt

động phát triển du lịch văn hóa QuảngNam là nơi giao thoa của các nền văn hóaViệt, Hoa, Ấn Độ, Sa Huỳnh, Chăm Pa …có tiềm năng du lịch nhân văn đặc sắcmang đậm tính dân tộc với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Với những

ưu thế về bề dày lịch sử, văn hóa, con người, danh thắng.Quảng Nam vẫn lưu giữđược những tài nguyên văn hóa vô cùng độc đáo, có giá trị nhân văn sâu sắc, tiêubiểu là 2 Di sản văn hoá thế giới: phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn, kinh đô cổTrà Kiệu, các tháp chàm Khương Mỹ, Chiên Đàn, Bàng An, Phật viện ĐồngDương ghi lại dấu ấn rực rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt Đếnvới Quảng Nam du khách sẽ được khám phá tinh hoa văn hóa của cộng đồng cácdân tộc anh em như Kinh, Hoa, Cơ Tu, Xê Đăng, Giẻ Triêng, Cor góp phần tạo nên

sự đa dạng, phong phú và hấp dẫn của du lịch Quảng Nam hấp dẫn du khách nơiđây

Trang 24

Đến với du lịch văn hóa Quảng Nam du khách sẽ được chiêm ngưỡng, thamquan các di sản văn hóa, truyền thống lịch sử của Quảng Nam Và ở đó, trên mảnhđất và con người xứ quảng hiền hòa, thân thiện và hiếu khách, luôn mong đượcchào đón du khách từ mọi phương trời đến với Quảng Nam Nhắc đến ẩm thựcQuảng Nam, không ai không biết tới mì Quảng Đây là món ăn dân dã, vô cùngquen thuộc của người dân đất Quảng Dù có thể nấu chưa thật ngon nhưng hiếmngười Quảng Nam nào lại chưa từng tự tay nấu mì Quảng một lần Đi du lịch QuảngNam du khách còn được thưởng thức nhiều món ăn ngon hấp dẫn khác tại vùng đấtnổi tiếng với nền ẩm thực phong phú này Đến khu Mua sắm ở Quảng Nam đặc biệt

là thành phố Hội An hấp dẫn du khách khi đi du lịch Quảng Nam bởi phong cáchbán hàng rất đặc biệt Người Hội An không nặng về sự đua tranh, họ bán đấy mà cócảm giác như không bán thứ gì; khách có thể đến, mặc sức lựa chọn, hỏi han vànhìn ngắm hàng giờ… Nếu bạn không mua, chủ cửa hàng vẫn tươi cười và cảm ơnkhi bạn bước chân ra khỏi cửa Đó là chất riêng rất thượng lưu của người phố Hội

mà không phải vùng nào cũng có Bài học rút ra cho Quảng Ninh chính là việc tạo

ra sản phẩm du lịch đặc trưng, phong cách phục vụ du khách phải khác biệt để du khách chỉ một lần đặt chân đến đất Quảng Ninh là phải ấn tượng và nhớ tới con người Quảng Ninh Du lịch Quảng Ninh, Cần có định hướng, chiến lược trước mắt

và lâu dài để tất những người dân, các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch đều trở thành một hướng dẫn viên du lịch thực thụ, yêu nghề và có tâm với nghề.

1.2.2 Những bài học kinh nghiệm nước ngoài

Những quốc gia phát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái Lan, Indonesia,Malaysia, Trung Quốc và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ "Du lịch văn hóa là

xu hướng của nhiều nước Loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của ViệtNam, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo quốc gia, vì vậy phải được xem làhướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam

Singapore là một quốc đảo nhỏ, tài nguyên hạn chế, nhưng đã biết phát huytriệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những

Trang 25

bước phát triển vượt bậc Trong các thành công của Singapore thời gian qua phải kểđến sự thành công của chính sách phát triển du lịch Kết quả và kinh nghiệm pháttriển du lịch của Singapore sẽ là bài học rất tốt cho quá trình hoạch định, xây dựng,triển khai thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch của Việt Nam nói chung

và của tỉnh Quảng Ninh nói riêng Quảng Ninh là địa phương có nhiều lợi thế đểphát triển du lịch với danh thắng nổi tiếng Vịnh Hạ Long – kỳ quan thiên nhiên củathế giới, với các lễ hội truyền thống, địa điểm du lịch tâm linh, với các điều kiệnthuận lợi để phát triển du lịch biển đảo Năm 2012, tỉnh Quảng Ninh chọn chủ đề là

“Năm xây dựng chiến lược và quy hoạch” Bên cạnh việc xây dựng Quy hoạch tổngthể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Quảng Ninh đang triểnkhai xây dựng hàng loạt các quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch phát triển cácđịa phương, trong đó có Quy hoạch phát triển du lịch

Để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế sẵn có và để du lịch đóng góp nhiềuhơn cho sự phát triển của Quảng Ninh, chúng ta cần có tầm nhìn dài hạn, lựa chọnđược những ý tưởng, phương án quy hoạch phù hợp, lựa chọn được các nhà tư vấnthực sự có kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển du lịch và phải đúc kết, học tậpkinh nghiệm từ sự thành công cũng như thất bại trong xây dựng, thực thi chính sáchphát triển du lịch của các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới Quảng Ninh cầnphải chú ý quy hoạch, xây dựng các cơ sở hạ tầng du lịch phù hợp với quy hoạchtổng thể, thống nhất với quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch ngành, lĩnh vựckhác; giải quyết tốt mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp với du lịch, giữa pháttriển du lịch với bảo vệ môi trường sinh thái; tăng cường bảo tồn, phát huy các giátrị văn hóa, các lễ hội truyền thống; phát triển các sản phẩm du lịch mới, tăng cường

tổ chức các sự kiện du lịch, các giải thể thao, văn hóa, nhất là trong mùa thu, mùađông để thu hút khách du lịch; có chiến lược quảng bá phù hợp đối với từng khuvực, từng đối tượng khách du lịch trong và ngoài nước; tăng cường đào tạo, bồidưỡng nguồn nhân lực phục vụ du lịch; tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thứccủa người dân về tầm quan trọng, sự đóng góp của du lịch, trách nhiệm của ngườidân đối với việc phát triển du lịch đi đôi với việc tăng cường công tác quản lý nhà

Trang 26

nước trong lĩnh vực du lịch để tránh tình trạng lộn xộn, tăng giá dịch vụ, “chặtchém” khách du lịch ở một số khu du lịch như hiện nay.

Tỉnh Quảng Ninh nên nghiên cứu, triển khai việc đấu thầu quản lý và pháttriển các hoạt động dịch vụ trên vịnh Hạ Long Ban quản lý Vịnh chỉ thực hiệnnhiệm vụ quản lý nhà nước, bảo tồn, phát huy giá trị ngoại hạng của Vịnh Hạ Long,còn việc phát triển dịch vụ thì để cho các doanh nghiệp Thực tế chứng minh việcquản lý, tổ chức hoạt động của lễ hội Yên Tử có sự tham gia của doanh nghiệptrong những năm gần đây rất hiệu quả Đó chính là kết quả của quá trình tập trungquảng bá, chuẩn bị cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường du lịch, vận động sự thamgia của người dân đối với hoạt động phát triển du lịch Kinh nghiệm phát triển dulịch của Singapore sẽ là bài học rất quý giá cho Quảng Ninh trong việc xây dựng,thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch và càng có giá trị hơn đối với cácđịa phương có tiềm năng phát triển du lịch

- Nhắc tới du lịch Châu Á, không thể không nhắc tới Thái Lan và Chiang Mai,Chiang Rai đang là điểm đến hấp dẫn từ năm 2013 đến nay Điểm đến du lịch nàynổi lên là một điểm đến du lịch văn hóa, thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, khám phá vànghiên cứu về văn hóa của du khách thập phương.Để phát triển du lịch văn hóa tỉnhQuảng Ninh còn nhiều việc cần làm Cùng với nỗ lực trong xây dựng hình ảnh, tạonếp sống văn minh thì việc học hỏi kinh nghiệm của những quốc gia khác, nhất làtrong khu vực như Thái Lan - quốc gia có thương hiệu về dịch vụ du lịch là điềuđáng suy ngẫm

Thực tế, nước ta có tiềm năng to lớn nhưng ngành du lịch vẫn đứng trướcnhiều khó khăn, thách thức lớn Trong khi đó, Thái Lan biết tận dụng thế mạnh cósẵn về vị trí địa lý, cảnh quan thiên nhiên để phát triển "ngành công nghiệp khôngkhói" này Bên cạnh đó là chiến lược quảng bá du lịch rộng rãi, hiệu quả, lâu dàicùng với sự đầu tư hợp lý Ngoài ra, giá thành rẻ, dịch vụ chuyên nghiệp cũng là lý

do để khách du lịch lựa chọn Thái Lan là điểm đến trong các kỳ nghỉ Thái Lan vẫn

là quốc gia được khách du lịch yêu mến gọi bằng cái tên “Đất nước của nụ cười”

Trang 27

Du lịch Thái Lan có lẽ đã trở thành món ăn tinh thần của nhiều người trên thếgiới, đồng thời Thái Lan cũng là một trong những điểm du lịch “Must – travel”

phát triển du lịch văn hóa tỉnh Quảng Ninh góp phần giới thiệu sản phẩm du lịch văn hóa và bản sắc văn hóa của mình một cách quy mô và khoa học

- Bali, Indonesia là một ví dụ tốt về việc làm du lịch văn hóa tốt, du lịch văn

hóa đem lại những thành quả tích cực cho Bali Indonesia có chủ trương phát triển

du lịch dựa vào cộng đồng Chính phủ hỗ trợ phát triển bằng việc cho thuê đất vớigiá rẻ để cộng động làm du lịch, đồng thời hướng dẫn và đào tạo cộng đồng vềnghiệp vụ du lịch Các sản phẩm chính được định hướng: du lịch di sản, du lịch sinhthái, du lịch đánh golf, du lịch lặn biển, du lịch MICE Ở Indonesia, Vụ Thị trườngcủa Cục Xúc tiến Indonesia có nhiệm vụ theo dõi diễn biến thị trường, định hướng

và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bà du lịch ở cấp quốc gia Từ việc theo dõithị trường và đánh giá tình hình, xu hướng phát triển kinh tế - xã hội và du lịch,Indonesia chuyển hướng thu hút thị trường khách du lịch ASEAN Ngân sách xúctiến quảng bá du lịch năm 2010 của Indonesia vào khoảng 40 triệu USD

Đối với việc phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt tại địa bàn đảo Bali – mộttrong những điểm du lịch nổi bật của Indonesia thì những thành công chính nằm ởvấn đề như tôn trọng ý kiến, tập tục và tư duy của người bản địa; nâng cao nhậnthức về phát triển du lịch theo một quá trình; ban hành các quy định chặt chẽ và rõràng về kiến thức, có quan điểm bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống

Quảng Ninh rút ra bài học kinh nghiệm từ Bali là việc xây dựng hệ thống quảng bá, cung cấp thông tin về điểm đến cho khách du lịch một cách có hệ thống, hoàn thiện, phong phú và sinh động hơn Đây là điểm còn yếu của Quảng Ninh bởi

hệ thống thông tin của Quảng Ninh về điểm đến còn sơ sài, kém sinh động, chưa cótính quảng bá rộng rãi nên du khách ít biết đến tính hấp dẫn của các điểm thăm quan

ở Quảng Ninh

Trang 28

Thông qua những phân tích kinh nghiệm về quy hoạch phát triển du lịch cóthể rút ra cho Quảng Ninh trong phát triển du lịch văn hóa một số bài học trong quátrình quy hoạch và phát triển du lịch văn hóa Quảng Ninh như sau:

Đối với nội dung quy hoạch, kế hoạch du lịch cần tập trung những vấn đềthực tế hơn cho giai đoạn trung hạn nhằm đảm bảo tính khả thi của các mục tiêuquy hoạch đặt ra

Tổ chức không gian du lịch cần xác định rõ các địa bàn, không gian trọngđiểm du lịch với chức năng du lịch chính Ví dụ Kinabalu được xác định là địa bàntrọng điểm về du lịch sinh thái của Malaysia, trong khi Kuala Lumpur được xácđịnh là địa bàn phát triển du lịch MICE, du lịch vui chơi giải trí, du lịch mua sắm

Tổ chức không gian du lịch ở phạm vi quốc gia hầu như không có sự thay đổi trongthời gian dài (thực tế ở Malaysia và Indonesia các địa bàn trọng điểm du lịch nhưKinabalu, Bali…đã hình thành và không đổi cách đây hàng chục năm)

Quy trình thực hiện các quy hoạch, kế hoạch của một điểm điều có sự thamgia của cộng đồng ngay từ giai đoạn đầu nhằm bảo đảm các nội dung quy hoạch, kếhoạch có thể thực thi Chính quyền tôn trọng ý kiến cộng đồng trong quá trình xây dựngcũng như trong quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch du lịch Một trong những nguyênnhân chính dẫn đến thành công của du lịch Bali chính là kinh nghiệm này

Để có thể thực hiện thành công các quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch,ngoài sự hỗ trợ của tỉnh về hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực, cần có sự đầu tư thỏađáng cho công tác xúc tiến, quảng bá du lịch (hiện nay Malaysia đầu tư cho hoạtđộng này khoảng 150 triệu USD/năm và Indonesia khoảng 40 triệu USD/năm)

Trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch văn hóa cần chú trọngviệc nghiên cứu đề xuất những trọng tâm phát triển cho từng giai đoạn, chú trọng đềxuất những loại hình du lịch văn hóa mới phù hợp với nhu cầu thị trường

Phải hết sức coi trọng công tác thống kê du lịch phục vụ xây dựng và điềuchỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch

Trang 29

Bài học kinh nghiệm quốc tế về tổ chức và quản lý phát triển du lịch có thểvận dụng ở tỉnh Quảng Ninh Có thể thấy rằng, ngành Du lịch Quảng Ninh rất cầntham khảo và học tập các nước trong phát triển du lịch và quản lý nhà nước đối với

hoạt động du lịch về năm vấn đề chủ yếu: Một là, xây dựng chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch và đề ra các chính sách, giải pháp để thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa Hai là, mạnh dạn đầu tư hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất nhằm phát triển du lịch văn hóa Ba là, tạo ra những sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo, đa dạng, hấp dẫn lôi cuốn sự chú ý của du khách Bốn là, tăng cường tuyên truyền, quảng bá về du lịch văn hóa, điểm đến văn hóa, sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng Năm là, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho du lịch văn hóa.

Trang 30

Tiểu kết chương 1

Như vậy, ở chương 1, tác giả tập trung vào việc hệ thống lại cơ sở lýluận về du lịch văn hóa trên cơ sở những khái niệm, định nghĩa ở những khía cạnhkhác nhau, các góc nhìn khác nhau có liên quan đến đề tài để tập trung trọng tâmvào vấn đề du lịch văn hóa Qua đó tác giả xác định lại các nhân tố liên quan và cóảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu như: vị trí địa lý, lịch sử phát triển, nền văn hóabản địa,…và từ đó sắp xếp, hệ thống hóa lại các giá trị của các tài liệu tham khảo

mà tác giả đã có những kế thừa khoa học từ các đề tài nghiên cứu liên quan

Cũng trong chương này, tác giả đã đưa ra những bài học kinh nghiện trongnước và quốc tế trong việc phát triển du lịch văn hóa, từ đó áp dụng vào thực tế rút

ra bài học kinh nghiệm và học hỏi kinh nghiệp cho phát triển du lịch văn hóa củatỉnh Quảng Ninh

Trang 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA

Ở TỈNH QUẢNG NINH 2.1.Giới thiệu tổng quan về tỉnh Quảng Ninh.

Tỉnh Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc Bộ Phía Bắc giáp Trung Quốc với118,8 km đường biên giới; phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ; phía Tây giáp các tỉnhLạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía Nam giáp thành phố Hải Phòng Có vị tríđịa chiến lược về chính trị, kinh tế, quân sự và đối ngoại; nằm trong khu vực hợptác “Hai hành lang, một vành đai” kinh tế Việt-Trung; hợp tác liên vùng Vịnh Bắc

Bộ mở rộng, cầu nối ASEAN-Trung Quốc, Hành lang kinh tế Nam Singapore…

Ninh-Tỉnh có 14 huyện, thị, thành phố và 186 xã, phường, thị trấn Trong đó, làtỉnh duy nhất cả nước có 04 thành phố trực thuộc Dân số hiện nay là 1,185 triệungười, trong đó dân số thành thị chiếm tỷ lệ 50,3% Có tổng diện tích trên 12.200km2, trong đó có trên 6.100 km2 diện tích đất liền và trên 6.100 km2 diện tích mặtnước biển Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo.Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước, trải dài theo đường ven biểnhơn 250 km

Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, có nhiềuloại đặc thù, trữ lượng lớn, chất lượng cao mà nhiều tỉnh, thành phố trong cả nướckhông có được như: than đá, cao lanh tấn mài, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi…

Tỉnh có tài nguyên du lịch đặc sắc vào bậc nhất của cả nước với nhiều bãibiển đẹp nổi tiếng Đặc biệt có Vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Disản thiên nhiên thế giới, là Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới; quần thể Vịnh Bái

Tử Long với khoảng 600 hòn đảo đất và đảo đá, biệt lập với đất liền có cảnh quanđặc sắc, đa dạng Đây là những tiềm năng khác biệt và cơ hội nổi trội để phát triểncác loại hình du lịch, hướng đến phát triển dịch vụ văn hóa-giải trí

Con người và xã hội Quảng Ninh là nơi hội tụ, giao thoa, sự thống nhất trong

đa dạng của nền văn minh sông Hồng, có truyền thống cách mạng của giai cấp côngnhân Vùng Mỏ với “di sản” tinh thần vô giá “kỷ luật và đồng tâm” Đây là điều kiện

Trang 32

thuận lợi xây dựng khối đoàn kết, tạo sức mạnh tổng hợp để vượt qua mọi khókhăn, thách thức; góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

2.1.1 Vị trí địa lý

Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một con cá sấunằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam Phía đôngnghiêng xuống nửa phần đầuvịnh Bắc bộ, Phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp Toạ độ địa lý khoảng

106o26' đến 108o31' kinh độ đông và từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc Bề ngang từđông sang tây, nơi rộng nhất là 195 km Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng

102 km Phía đông bắc của tỉnh giáp với Trung Quốc, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ,

có chiều dài bờ biển 250 km, phía tây nam giáptỉnh Hải Dương và thành phố HảiPhòng, đồng thời phía tây bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và Hải Dương

Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc phường Trà Cổ, thànhphố Móng Cái, ngoài khơi là mũi Sa Vĩ

Điểm cực tây thuộc xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều.Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn

Điểm cực bắc thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu

ở phía bắc huyện Tiên Yên Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ,phía bắc thị xã Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều Vùng núinày là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi ĐôngTriều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trênđất Hoành Bồ

Trang 33

Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá

và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triềnsông và bờ biển Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Yên Hưng, nam Tiên Yên,Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù satạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp Đó là vùng nam Uông Bí, nam YênHưng (đảo Hà Nam), đông Yên Hưng, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đôngnam Hải Hà, nam Móng Cái Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung

du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên đang lànhững vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh

Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo Hơn hainghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đườngven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu,Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ Có hai huyện hoàn toàn là đảo làhuyện Vân Đồn và huyện Cô Tô Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngànđảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hìnhdáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú

Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn nhữngbãi cát trắng táp lên từ sóng biển Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu chocông nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, QuanLạn, Minh Châu, Ngọc Vừng )

Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20

m Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơisinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâuđáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷukín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giaothông đường thuỷ rất lớn

2.1.3 Khí hậu

Trang 34

Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam vừa

có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển Các quần đảo ở huyện Cô Tô và VânĐồn có đặc trưng của khí hậu đại dương

Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưanhiều; một mùa đông lạnh, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất

Do nằm trong vành đai nhiệt đới nên hàng năm có hai lần mặt trời qua thiênđỉnh, tiềm năng về bức xạ và nhiệt độ rất phong phú

Ảnh hưởng bởi hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hoáthành hai mùa: mùa hạ nóng ẩm với mùa mưa, mùa đông lạnh với mùa khô

Về nhiệt độ: được xác định có mùa đông lạnh, nhiệt độ không khí trung bình

ổn định dưới 20oC Mùa nóng có nhiệt độ trung bình ổn định trên 25oC

Về mưa: theo quy ước chung, thời kỳ có lượng mưa ổn định trên 100 mm làmùa mưa; còn mùa khô là mùa có lượng mưa tháng ổn định dưới 100 mm

Theo số liệu quan trắc, mùa lạnh ở Quảng Ninh bắt đầu từ hạ tuần tháng 11

và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vàođầu tháng 10

Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắtđầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10

Giữa hai mùa lạnh và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa là hai thời kỳchuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kỳ khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10)

Sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa đông(tháng 1) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa hạ (tháng 7) là

120C và thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng 1 theo tiêu chuẩn nhiệt độ cùng vĩtuyến là 5,10C

2.1.4 Sông ngòi và chế độ thủy văn

Quảng Ninh có đến 30 sông, suối dài trên 10 km nhưng phần nhiều đều nhỏ.Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có 4 con sông lớn là

hạ lưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ

Trang 35

Đại bộ phận sông có dạng xoè hình cánh quạt, trừ sông Cầm, sông Ba Chẽ,sông Tiên Yên, sông Phố Cũ có dạng lông chim.

Nước ngập mặn xâm nhập vào vùng cửa sông khá xa Lớp thực vật che phủchiếm tỷ lệ thấp ở các lưu vực nên thường hay bị xói lở, bào mòn và rửa trôi làmtăng lượng phù sa và đất đá trôi xuống khi có lũ lớn do vậy nhiều nơi sông suối bịbồi lấp rất nhanh, nhất là ở những vùng có các hoạt động khai khoáng như ở cácđoạn suối Vàng Danh, sông Mông Dương

Ngoài 4 sông lớn trên, Quảng Ninh còn có 11 sông nhỏ, chiều dài các sông

từ 15 – 35 km; diện tích lưu vực thường nhỏ hơn 300 km2, chúng được phân bố dọctheo bờ biển, gồm sông Tràng Vinh, sông Hà Cối, sông Đầm Hà, sông Đồng CáiXương, sông Hà Thanh, sông Đồng Mỏ, sông Mông Dương, sông Diễn Vọng, sôngMan, sông Trới, sông Míp

Tất cả các sông suối ở Quảng Ninh đều ngắn, nhỏ, độ dốc lớn Lưu lượng vàlưu tốc rất khác biệt giữa các mùa Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh

đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh Lưu lượng mùa khô1,45m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau 1.000 lần

Về phía biển Quảng Ninh giáp vịnh Bắc Bộ, một vịnh lớn nhưng kín lại cónhiều lớp đảo che chắn nên sóng gió không lớn như vùng biển Trung Bộ Chế độthuỷ triều ở đây là nhật triều điển hình, biên độ tới 3-4 m Nét riêng biệt ở đây làhiện tượng sinh "con nước" và thuỷ triều lên cao nhất vào các buổi chiều các thángmùa hạ, buổi sáng các tháng mùa đông những ngày có con nước cường Trong vịnhBắc Bộ có dòng hải lưu chảy theo phương bắc nam kéo theo nước lạnh lại có gió mùađông bắc nên đây là vùng biển lạnh nhất nước ta Nhiệt độ có khi xuống tới 130C

2.1.5 Dân số

Theo kết quả điều tra sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân

số Quảng Ninh hiện nay có 1.144.381 người, trong đó nữ có 558.793 người;

Tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị của Quảng Ninh

Kết cấu dân số ở Quảng Ninh có mấy nét đáng chú ý Trước hết là "dân sốtrẻ", tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi chiếm tới 37,6% Người già trên 60 tuổi (với nam) và

Trang 36

trên 55 tuổi (với nữ) là 7,1% Các huyện miền núi tỉ lệ trẻ em dưới tuổi lao độngcòn lên tới 45% Nét đáng chú ý thứ hai là ở Quảng Ninh, nam giới đông hơn nữgiới (nam chiếm 50,9 %, nữ chiếm 49,1%) Ngược với tỷ lệ toàn quốc Ở các địaphương có ngành công nghiệp mỏ, tỷ lệ này còn cao hơn, ví dụ: Cẩm Phả, nam53,2%, nữ 46,8%.

Mật độ dân số của Quảng Ninh hiện là 188 người/km vuông (năm 1999 là

196 người/ km vuông), nhưng phân bố không đều Vùng đô thị và các huyện miềntây rất đông dân, thành phố Hạ Long 739 người/km2, huyện Yên Hưng 415người/km2, huyện Ðông Triều 390 người/km2 Trong khi đó, huyện Ba Chẽ 30người/km2, Cô Tô 110 người/km2, Vân Ðồn 74 người/km2

Tính đến năm 2012, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt gần 1.177.200 người,mật độ dân số đạt 193 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần620.200 người,dân số sống tại nông thôn đạt 557.000 người Dân số nam đạt607.350 người, trong khi đó nữ đạt 569.850 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phântheo địa phương tăng 11,5 ‰

2.1.6 Dân tộc

Dân tộc, Quảng Ninh có 22 thành phần dân tộc, song chỉ có 6 dân tộc cóhàng nghìn người trở lên, cư trú thành những cộng đồng và có ngôn ngữ, có bản sắcdân tộc rõ nét Ðó là các dân tộc Việt (Kinh), Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa

Trong các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, người Việt (Kinh)chiếm 89,23% tổng số dân Họ có gốc bản địa và nguồn gốc từ các tỉnh, đông nhất

là vùng đồng bằng Bắc Bộ Họ sống đông đảo nhất ở các đô thị, các khu côngnghiệp và vùng đồng bằng ven sông, ven biển Do có số người chuyển cư đến từ rấtnhiều đời, nhiều đợt nên Quảng Ninh thực sự là nơi "góp người" Sau người Việt(Kinh) là các dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ lâu đời Người Dao (4, 45%) có hainhánh chính là Thanh Y, Thanh Phán, thường cư trú ở vùng núi cao Họ còn giữđược bản sắc dân tộc trong ngôn ngữ, y phục, lễ hội và phong tục, một bộ phận vẫngiữ tập quán du canh du cư làm cho kinh tế văn hoá chậm phát triển.Người Hoa (0,43%), người Sán Dìu (1,80%), Sán chỉ (1,11%) ở vùng núi thấp và chủ yếu sống

Trang 37

bằng nông nghiệp với nghề trồng cấy lúa nước Người Hoa gồm nhiều dân tộc thiểu

số từ miền Nam Trung Quốc di cư sang từ lâu bằng rất nhiều đợt Một số ít là HoaKiều sang buôn bán làm nghề thủ công ở các thị trấn miền Ðông, còn phần lớn sống

ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp, đánh cá, làm nghề rừng Hiện nay, các dân tộcthiểu số - chủ nhân của miền núi, nơi có nhiều khó khăn, kinh tế và văn hoá cònchậm phát triển, đang được quan tâm về nhiều mặt và đời sống đã có những thayđổi rõ rệt

2.1.7 Tôn giáo, tín ngưỡng

Quảng Ninh là một vùng đất có nền văn hoá lâu đời Văn hoá Hạ Long đãđược ghi vào lịch sử như một mốc tiến hoá của người Việt Cũng như các địa phươngkhác, cư dân sống ở Quảng Ninh cũng có những tôn giáo, tín ngưỡng để tôn thờ

Ðạo Phật đến với vùng đất này rất sớm Trước khi vua Trần Thái Tông(1225-1258) đến với đạo Phật ở núi Yên Tử thì đã có nhiều các bậc chân tu nối tiếp

tu hành ở đó Vua Trần Nhân Tông (1279-1293) chọn Yên Tử là nơi xuất gia tuhành và lập nên dòng Thiền trúc Lâm ở Việt Nam Thế kỷ 14, khu Yên Tử vàQuỳnh Lâm (Ðông Triều) là trung tâm của Phật giáo Việt Nam, đào tạo tăng ni cho

cả nước Nhiều thế kỷ sau đó, Ðạo Phật vẫn tiếp tục duy trì với hàng trăm ngôi chùa

ở Quảng Ninh, trong đó có những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Lôi Âm, chùa LongTiên (Hạ Long), Linh Khánh (Trà Cổ), Hồ Thiên (Ðông Triều), Linh Quang (QuanLạn) Trải qua nhiều biến cố của lịch sử, sự tàn phá của thiên nhiên và cả conngười, hiện trên đất Quảng Ninh còn lại khoảng trên dưới 30 ngôi chùa nằm rải rác

ở 8 huyện, thị, thành phố Chưa có con số thống kê chính xác số lượng các tăng nitrên địa bàn của tỉnh nhưng những người tôn thờ đạo Phật lúc nào cũng đông (có thểcàng ngày càng đông), bằng chứng là cứ đến ngày rằm, ngày mồng một (âm lịch)hàng tháng, các "con nhang, đệ tử" khắp nơi đến các ngôi chùa gần xa, dâng hương

lễ Phật, cầu lành

Những người tôn thờ các tôn giáo khác cũng có nhưng không đông như tín

đồ Ðạo Phật Hiện có 27 nhà thờ Ky Tô giáo của 9 xứ thuộc 41 họ đạo nằm ở 8huyện, thị xã, thành phố Số giáo dân khoảng hơn một vạn người Tín đồ đạo Cao

Trang 38

Ðài hiện có khoảng vài chục người Tín ngưỡng phổ biến nhất đối với cư dân sống

ở Quảng Ninh là thờ cúng tổ tiên, thờ các vị tướng lĩnh nhà Trần có công với dânvới nước, các vị Thành Hoàng, các vị thần (sơn thần, thuỷ thần), thờ các mẫu (MẫuLiễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải)

2.1.8 Tiềm năng phát triển du lịch

Quảng Ninh là một địa danh giàu tiềm năng du lịch, là một đỉnh của tam giáctăng trưởng du lịch miền Bắc Việt Nam, Quảng Ninh có danh thắng nổi tiếng

là vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và disản thế giới bởi giá trị địa chất địa mạo Vịnh Hạ Long là địa điêm du lịch lý tưởngcủa Quảng Ninh cũng như miền bắc Việt Nam Tiềm năng du lịch Quảng Ninh nổibật

Quảng Ninh có tài nguyên du lịch đặc sắc vào loại nhất của cả nước, cónhiều bãi biển đẹp, có cảnh quan nổi tiếng của vịnh Hạ Long, Bái Tử Long cùng cáchải đảo đã được tổ chức UNESCO công nhận là “di sản văn hoá thế giới” cùng hàngtrăm di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật tập trung dọc ven biển với mật độ cao vàoloại nhất của cả nước…, tạo khả năng mở nhiều tuyến du lịch kết hợp rất hấp dẫn,trên đất liền và trên các đảo Việc phát triển du lịch ở khu vực Hạ Long – Bãi Cháykết hợp với tuyến ven biển đến Móng Cái, Hải Phòng - Đồ Sơn – Cát Bà…sẽ tạothành một quần thể du lịch - thể thao - giải trí ven biển Với bờ biển lớn, hiện đại tầm cỡquốc tế, cho phép Quảng Ninh thu hút khách du lịch trong nước và khách quốc

2.1.8.1.Thắng cảnh

Quảng Ninh có tài nguyên du lịch đặc sắc vào loại nhất của cả nước, cónhiều bãi biển đẹp, có cảnh quan nổi tiếng như vịnh Hạ Long – 2 lần được Unescoxếp hạng di sản thiên nhiên thế giới và trở thành 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên mớicủa thế giới

Vịnh Hạ Long Là vùng biển đảo nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, thuộc địa

phận tỉnh Quảng Ninh có tọa độ từ 106056’ đến 107037’ kinh độ đông và 200 43’đến 21009’ vĩ độ Bắc Phía Tây và Tây Bắc Vịnh Hạ Long kéo dài từ thị xã QuảngYên, qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả đến hết phần huyện đảo Vân Đồn;

Trang 39

phía Đông Nam và phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ; phía Tây Nam và tây giáp đảo Cát

Bà (TP Hải Phòng) Trên bản đồ thế giới, phía bắc Vịnh Hạ Long tiếp giáp vớiTrung Quốc; phía đông Vịnh Hạ Long tiếp giáp với Biển Đông

Vẻ đẹp của Hạ Long được tạo nên từ 3 yếu tố: Đá, nước và bầu trời Hệthống đảo đá Hạ Long muôn hình vạn trạng Đường nét, họa tiết, màu sắc của đảonúi, hòa quyện với trời biển tạo ra một bức tranh thủy mặc Hòn Đỉnh Hương toátlên ý nghĩa tâm linh Hòn Gà Chọi có một chiều sâu triết học Hòn Con Cóc ngànnăm vẫn đứng đó kiện trời “Những tảng khối xù xì lạnh xám dường như muốn lưugiữ và gợi nhớ cuộc sống biến chuyển không ngừng đã hóa thân thành hình máinhà, mẹ bồng con, ông cụ, mặt người ”

Phía trong những đảo đá lớn lại hấp dẫn bởi những hang động đẹp đẽ, kì lạ.Hang Đầu Gỗ gợi cảm giác choáng ngợp với những nhũ đá muôn hình dáng vẻ.Động Thiên Cung như một đền đài hoành tráng, mỹ lệ Hang Bồ Nâu có cửa uốnvòng cung với vô số nhũ đá buông xuống mềm mại như cành liễu Hang Sửng Sốtđẹp đến bất ngờ với nhũ đá mang hình hài của gà rừng, cóc, rồng, thác nước cùngvới nhiều hình hài khác, như mở ra một thế giới cổ tích Những hang động như TamCung, Trinh Nữ, Ba Hang, Tiên Long… mỗi hang có những vẻ đẹp độc đáo riênglàm mê mải lòng người

Biển Vịnh Hạ Long muôn đời vẫn một màu xanh biếc, chảy êm đềm, mảimiết với thời gian Hạ Long đẹp bốn mùa Mùa xuân, những thảm thực vật biêngbiếc chồi non trên dãy núi đá vôi Mùa hạ, trời mát và trong trẻo, những hạt nắnglung linh rơi xuống mặt biển Mùa thu, vào những đêm trăng, ánh trăng soi nghiêngbóng núi bập bềnh như dát vàng xuống trần gian Vào mùa đông, với làn khói sóngbay bay, sương núi lan tỏa, Hạ Long đẹp như “một lẵng hoa nổi bềnh trên sóng biển

mẹ hiền” (Lời của nhà văn Nguyễn Tuân)

Karst Vịnh Hạ Long có ý nghĩa toàn cầu và có tính chất nền tảng cho khoahọc địa mạo Môi trường địa chất còn là nền tảng phát sinh các giá trị khác củaVịnh Hạ Long như đa dạng sinh học, văn hóa khảo cổ và các giá trị nhân văn khác

Vịnh Bái Tử Long cùng các hải đảo và nhiều bãi biển đẹp nổi tiếng như Quan Lạn,

Trang 40

Minh Châu, Ngọc Vừng, Trà Cổ, Bãi Cháy, Ti Tốp cùng hàng trăm di tích lịch sửkiến trúc nghệ thuật tập trung dọc ven biển với mật độ cao vào loại nhất của cảnước…, tạo khả năng mở nhiều tuyến du lịch kết hợp rất hấp dẫn, trên đất liền vàtrên các đảo Việc phát triển du lịch ở khu vực Hạ Long – Bãi Cháy kết hợp vớituyến ven biển đến Móng Cái, Hải Phòng - Đồ Sơn – Cát Bà…sẽ tạo thành mộtquần thể du lịch - thể thao - giải trí ven biển Với bờ biển dài, nhiều bãi biển đẹp,nhiều khu du lịch hiện đại tầm cỡ quốc tế, hàng năm Quảng Ninh đã thu hút hàngtriệu lượt khách trong và ngoài nước đến thăm quan, du lịch, nghỉ dưỡng và hộithảo (Năm 2007, đón hơn 3,7 triệu lượt khách trong đó trên 1,5 triệu lượt kháchquốc tế, doanh thu đạt trên 2200 tỷ đồng)

Vịnh Hạ Long: là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới (N7W), di sản

thiên nhiên thế giới, có diện tích 1.553 km2 với 1969 đảo Trong đó khu di sản thếgiới được UNESCO công nhận có diện tích trên 434 km2 với 788 đảo, có giá trị đặcbiệt về văn hoá, thẩm mĩ, địa chất, sinh học và kinh tế Trên vịnh có nhiều đảo đất,hang động, bãi tắm, cảnh quan đẹp thuận lợi cho phát triển nhiều điểm, nhiều hìnhthức du lịch hấp dẫn Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bà là khu du lịch trọng điểmquốc gia, động lực phát triển vùng du lịch Bắc Bộ

Vịnh Bái Tử Long: nằm liền với vịnh Hạ Long ở phía bắc với nhiều đảo đá

trải dài ven biển Một vẻ đẹp hoang sơ cùng với các bãi tắm tại các đảo như QuanLạn, Minh Châu, Ngọc Vừng (Vân Đồn) Phục vụ các du khách thích khám phátận hưởng vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên

Hàng chục bãi tắm bãi tắm đẹp hiện đại như Trà Cổ (Móng Cái), BãiCháy, đảo Tuần Châu được cải tạo, nâng cấp với nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đadạng các nhu cầu của du khách

Đảo Cô Tô: (phía đông bắc Quảng Ninh) Các bãi tắm đẹp như Hồng Vàn,

Bắc Vàn, Vàn Chảy, đảo Cô Tô Con Được đánh giá là những bãi biển đẹp nhất tạiphía bắc

2.1.8.2 Tài nguyên du lịch Văn hoá – Tâm linh

Ngày đăng: 14/06/2018, 18:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Trần Thúy Anh, Triệu Thế Việt, Nguyễn Thu Thủy, Phạm Thị Bích Thủy, Phạm Quang Anh (2014), Giáo trình du lịch văn hóa, những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình du lịch văn hóa, những vấn đề lý luận và nghiệpvụ
Tác giả: Trần Thúy Anh, Triệu Thế Việt, Nguyễn Thu Thủy, Phạm Thị Bích Thủy, Phạm Quang Anh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
2.Trần Thúy Anh, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Anh Hoa, Văn hóa ứng xử trong du lịch, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ứng xử trongdu lịch
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
3.Bảo tàng Du lịch Việt Nam (2013), Văn hóa Hạ Long trên vùng đất Quảng Ninh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Hạ Long trên vùng đất Quảng Ninh
Tác giả: Bảo tàng Du lịch Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2013
4.Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Quảng Ninh (1998), Quảng Ninh đất và người, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Ninh đất và người
Tác giả: Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb Laođộng xã hội
Năm: 1998
5.Trần Lâm Biền (2001), Trang trí mĩ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí mĩ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Vănhóa dân tộc
Năm: 2001
6.Phan Kế Bính( 2011), Phong tục Việt Nam,Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học
7. Nguyễn Thị Chiến (2004), Văn hóa trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam,Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa trong phát triển du lịch bền vững ở ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Thị Chiến
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2004
8. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2009),Giáo trình kinh tế du lịch, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: NxbĐại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2009
9..Nguyễn Văn Đính, Phạm Hồng Chương, Giáo trình quản trị kinh doanh lữ hành, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị kinh doanh lữ hành
Nhà XB: Nxb Thống kê
10.Hà Nam Khánh Giao, Nguyễn Văn Bình (2011), Giáo trình nghiệp vụ nhà hàng,Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiệp vụ nhàhàng
Tác giả: Hà Nam Khánh Giao, Nguyễn Văn Bình
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
12. Nguyễn Đình Hòe,Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững,Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe,Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
13.Trần Thị Minh Hòa, Nguyễn Văn Đính (2004), Giáo trình kinh tế du lịch, Nxb Lao động-xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Trần Thị Minh Hòa, Nguyễn Văn Đính
Nhà XB: NxbLao động-xã hội
Năm: 2004
14.Vũ Ngọc Khánh (2013), Làng Văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Văn hóa cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2013
15.Đinh Trung Kiên (2000), Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch
Tác giả: Đinh Trung Kiên
Nhà XB: Nxb Đại học quốc giaHà Nội
Năm: 2000
16.Nguyễn Văn Lưu (1998), Thị trường du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Lưu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
17.Vũ Đức Minh, Tổng quan về du lịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về du lịch
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18.Phạm Xuân Nam, Văn hóa và kinh doanh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và kinh doanh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
19. Phan Ngọc ( 2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học
20.Trần Nhoãn, Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh du lịch lữ hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh du lịch lữ hành
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
21. Đỗ Quỳnh Phương (1993), Quảng Ninh-Hạ Long miền đất hứa, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Ninh-Hạ Long miền đất hứa
Tác giả: Đỗ Quỳnh Phương
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w