Khái niệm về tài nguyên du lịch Khoản 4, Điều 4, chương 1 Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “TNDL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, DTLSVH, công trình lao động sang tạo
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về du lịch văn hóa
- Hệ thống hóa giá trị tài nguyên du lịch văn hóa huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng
- Nghiên cứu, khảo sát thực tế hoạt động du lịch văn hóa của huyện Trên cơ sở đó đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của du lịch văn hóa huyện
- Đề xuất số một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa huyện.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thực địa
Tác giả đã đi đến các điểm du lịch văn hóa trên địa bàn huyện để tìm hiểu về thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở đây.
Phương pháp thống kê mô tả, so sánh, phân tích, tổng hợp
Sau khi thu thập được nguồn thông tin từ các công trình nghiên cứu, từ thực tiễn, từ các nhà nghiên cứu cần phải tiến hành thống kê, sắp xếp chúng một cách hợp lý, hệ thống, logic Thông tin thu thập được có tính cập nhật và xác thực cao, là nguồn tư liệu tham khảo đáng tin cậy của đề tài.
Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài việc đi thực địa và tham khảo các tài liệu đã có, tác giả còn trao đổi với các cán bộ quản lý tại các khu, điểm du lịch văn hóa để có thông tin về thực trạng phát triển và những giải pháp cho sự phát triển loại hình du lịch này.
Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của khóa luận chia làm 3 chương như sau:
Chương 1 : Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch văn hóa Chương 2 : Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Chương 3 : Phương hướng và giải pháp phát triển du lịch văn hóa ở huyện Hòa
Vang, thành phố Đà Nẵng
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
Cơ sở lí luận về du lịch và du lịch văn hóa
1.1.1 Một số khái niệm liên quan về du lịch và du lịch văn hóa
1.1.1.1 Khái niệm về du lịch
Theo luật Du lịch thì: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.(Điều 4, Luật du lịch Việt Nam năm 2005)
Theo Tổ chức du lịch thế giới – Một tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của người du hành, tạm trú trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”
1.1.1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch
Khoản 4, Điều 4, chương 1 Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005 quy định:
“TNDL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, DTLSVH, công trình lao động sang tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [7, trang 19]
1.1.1.3 Khái niệm về tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra từ xưa đến nay có thể thu hút khách du lịch đến thưởng thức Tài nguyên du lịch nhân văn thường là những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của mỗi địa phương, quốc gia [7, trang 59]
1.1.1.4 Khái niệm về du lịch văn hóa
Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”
1.1.1.5 Khái niệm về phát triển du lịch văn hóa
Phát triển du lịch văn hóa là sự gia tăng sản lượng và doanh thu, cùng mức độ đóng góp của ngành du lịch văn hóa cho nền kinh tế, đồng thời có sự hoàn thiện về mặt cơ cấu, thể chế và chất lượng kinh doanh của du lịch văn hóa
1.1.2 Các đặc trưng của du lịch văn hóa
- Tính đa dạng: du lịch văn hóa với chất lượng cao được tạo nên bởi sự đa dạng trong đối tượng, mục đích phục vụ hay điểm đến của du lịch văn hóa như: các cảnh quan thiên nhiên, kì quan thế giới, di tích lịch sử - văn hóa cho đến các lễ hội truyền thống, các phong tục tập quán lâu đời, các loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian mang đậm đà bản sắc dân tộc Ngoài ra cần phải kể đến các cơ sở vật chất và các dịch vụ kèm theo
- Tính đa thành phần: những đối tượng liên quan đến du lịch văn hóa rất đa dạng, gồm có du khách, các tổ chức Nhà Nước và tư nhân, các doanh nhân trong và ngoài nước đầu tư, hoạt động trong lĩnh vực du lịch, những nhân viên, hướng dẫn viên du lịch, cộng đồng địa phương… họ tham gia trực tiếp và gián tiếp vào các hoạt động du lịch văn hóa Vì vậy, tính đa thành phần còn bao hàm trong đó cả tính xã hội hóa cao
- Tính đa mục tiêu: du lịch văn hóa mang lại lợi ích nhiều mặt như: bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên, môi trường, di tích lịch sử - văn hóa, duy trì và phát triển văn hóa phi vật thể, nâng cao chất lượng cuộc sống của người phục vụ du lịch, mở rộng học hỏi và giao lưu văn hóa, kinh tế, nâng cao ý thức trách nhiệm cho cộng đồng
- Tính liên vùng: du lịch văn hóa nâng cao ý thức của du khách về văn hóa, thẩm mỹ…Vì vậy, nên có sự liên kết giữa các cơ sở du lịch, các vùng văn hóa với nhau trong việc hoạch định các tuyến, điểm du lịch văn hóa phục vụ cho du khách
- Tính mùa vụ: đối với bất kì loại hình du lịch nào cũng có đặc trưng này, đối với du lịch nói chung thể hiện ở số lượng du khách thường tập trung rất đông những tuyến điểm du lịch văn hóa vào những ngày nghỉ cuối tuần, nghỉ hè, nghỉ đông, nghỉ lễ Du lịch văn hóa còn thể hiện riêng ở những thời gian có lễ hội ví dụ như: lễ hội Chùa Hương, lễ hội Đền Hùng…
1.1.3 Vai trò của du lịch văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
- Góp phần tăng ngoại tệ, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm
- Làm thay đổi cách thức sử dụng tài nguyên truyền thống
- Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
- Phát triển du lịch văn hóa kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề có liên quan, thúc đẩy kinh tế địa phương
- Thông qua du lịch, con người được thay đổi môi trường, có ấn tượng và có cảm xúc mới, thỏa mãn được trí tò mò đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết, do đó góp phần hình thành phương hướng đúng đắn trong ước mơ sáng tạo, trong kế hoạch cho tương lai con người khách du lịch
- Trong thời gian đi du lịch, khách sử dụng các dịch vụ, hàng hóa và thường xuyên tiếp xúc với cư dân địa phương Thông qua các cuộc giao tiếp đó, văn hóa của khách du lịch và người dân bản xứ được trau dồi và nâng cao Du lịch văn hóa tạo khả năng cho con người hiểu biết lẫn nhau, mở mang hiểu biết về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, đạo đức, chế độ xã hội, kinh tế…Du lịch văn hóa còn làm giàu và phong phú thêm khả năng thẩm mỹ của con người khi họ tham quan các kho tàng mỹ thuật của một đất nước
- Hầu hết, một trong những ưu điểm lớn nhất của du lịch văn hóa là khôi phục những nét văn hóa bị mai một và mất đi, làm phục hung và duy trì các loại hình nghệ thuật như: âm nhạc, sản phẩm thủ công, các điệu múa nghi lễ…
1.1.4 Các loại hình du lịch văn hóa
Tùy theo hướng tiếp cận khi nghiên cứu mà người ta phân loại du lịch văn hóa thành nhiều loại khác nhau Trong khóa luận này, để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu về du lịch văn hóa của huyện Hòa Vang, tôi phân loại du lịch văn hóa thành 3 loại hình chủ yếu: du lịch di tích lịch sử - văn hóa, du lịch lễ hội, du lịch làng nghề
Cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch văn hóa
- “Việt Nam - Một điểm đến, nhiều lựa chọn”.Văn hóa là “chìa khóa” phát triển du lịch bền vững Phát triển du lịch văn hóa hiện nay là một xu hướng của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, Việt Nam đang bắt nhịp cùng thế giới
- Du lịch văn hóa được xem là hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam, phù hợp với bối cảnh nước ta Các điểm du lịch văn hóa ở Việt Nam chủ yếu khai thác các di tích lịch sử, di tích văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật biểu diễn truyền thống, khu vực tổ chức lễ hội, làng nghề và ẩm thực truyền thống
- Đã có các tour du lịch văn hóa chuyên đề, chủ yếu là đưa du khách đến tham gia và tham quan lễ hội Những tour kết hợp được nhiều hoạt động như vừa tham dự lễ hội, vừa tham quan tìm hiểu lối sống, phong tục dân cư thiểu số, cách thức tổ chức du lịch cộng đồng, nghiên cứu di tích lịch sử - văn hóa còn ít, các sản phẩm du lịch văn hóa này chưa lôi cuốn du khách và cũng giới hạn đối tượng tham gia
- Các sự kiện du lịch (festival du lịch, lễ hội du lịch, liên hoan du lịch, năm du lịch…) và các sự kiện văn hóa (tuần văn hóa, liên hoan sân khấu nhỏ và vừa, ca nhạc, phim…) suốt thời gian qua được tổ chức khắp cả nước
- Du lịch văn hóa là xu thế mới của phát triển du lịch Việt Nam đã được xác định tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Đông Á – Thái Bình Dương, tại Huế tháng 6 năm 2010 với trên 150 đại diện các nước khu vực Châu Á tham dự.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA Ở HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Tổng quan về huyện Hòa Vang và nhân tố ảnh hưởng đến du lịch văn hóa huyện Hòa Vang
2.1.1 Tổng quan về huyện Hòa Vang
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
Huyện Hoà Vang nằm bao bọc quanh phía Tây khu vực nội thành của thành phố Đà Nẵng với diện tích 736,91km2, có tọa độ từ 15055' đến 16013' độ vĩ Bắc và 107049' đến 108013' độ kinh Đông
+ Phía Bắc giáp các huyện Nam Đông, A Lưới và Phú Lộc của tỉnh Thừa Thiên Huế
+ Phía Nam giáp thị xã Điện Bàn, huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam
+ Phía Đông giáp quận Cẩm Lệ, quận Liên Chiểu của thành phố Đà Nẵng + Phía Tây giáp huyện Đông Giang của tỉnh Quảng Nam
Hệ thống đường giao thông đối ngoại và nội vùng trên địa bàn huyện tương đối thuận tiện Có quốc lộ 1A, 14B, tuyến đường tránh Nam Hải Vân đi qua; các tuyến đường ĐT 601, 602, 604, 605 do thành phố quản lý và hệ thống các tuyến đường giao thông liên huyện và liên xã Vị trí địa lý, điều kiện giao thông thuận lợi là một điều kiện quan trọng để Hoà Vang khai thác tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong ngắn hạn cũng như lâu dài
Hoà Vang có 3 loại địa hình là miền núi, trung du và đồng bằng.Vùng đồi núi: phân bố ở phía Tây, có độ cao khoảng từ 400-500 m, cao nhất là đỉnh núi Bà Nà (1.487 m), độ dốc lớn >400, là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố Đà Nẵng Địa hình đa dạng của Hoà Vang cùng với kết cấu đất vững chắc thuận lợi cho bố trí các công trình hạ tầng kỹ thuật, tạo cho huyện tiềm năng phát triển một nền kinh tế với thế mạnh về nông lâm nghiệp và du lịch nhưng đồng thời cũng có nhiều khó khăn, thách thức như hạn hán, lũ lụt…cần phải giải quyết
Hoà Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 01 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,80C cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, với nhiệt độ trung bình 28-30°C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23°C Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20°C Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình khoảng 85-87%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình khoảng 76- 77%
Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.800 mm, mưa lớn thường tập trung vào hai tháng 10 và 11 gây lũ lụt, ngập úng cho vùng đất thấp
Hệ thống sông ngòi bao gồm các sông chính là sông Cu Đê, sông Yên, sông Túy Loan, sông Vĩnh Điện; một số sông nhỏ là sông Tây Tịnh, Qúa Giáng, và hệ thống nhiều ao hồ tự nhiên Chất lượng nước các sông đều đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương
Về nước ngầm: Theo đánh giá sơ bộ, Hoà Vang có trữ lượng nước ngầm lớn, mực nước ngầm cao.Trong tương lai có thể sử dụng nguồn nước ngầm phục vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác Tại Đồng Nghệ (xã Hoà Khương) có nguồn nước khoáng nóng nhưng hiện tại chưa được khai thác với quy mô công nghiệp
Nhìn chung, các điều kiện khí hậu và thuỷ văn của huyện Hoà Vang có nhiều thuận lợi, song cũng có nhiều khó khăn như hạn hán, lũ lụt gây ảnh hưởng không nhỏ đối với sản xuất, đời sống của nhân dân; gây hư hại các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Huyện Hoà Vang có nguồn tài nguyên rừng phong phú, đây là một trong các thế mạnh của huyện Diện tích đất lâm nghiệp hiện có là 53.306, 1ha chiếm 89,3% Trong đó, đất rừng sản xuất là 29.794,6 ha (42,1% diện tích đất tự nhiên), tập trung chủ yếu ở Hoà Bắc, Hoà Ninh và Hoà Phú, đất rừng phòng hộ là 12.658,7 ha (chiếm tỷ trọng 17,9% diện tích tự nhiên), đất rừng đặc dụng là 10.852 (15,3% diện tích tự nhiên) thuộc địa bàn các xã Hoà Ninh và Hoà Bắc.Tỷ lệ che phủ rừng năm 2007 đạt khoảng 75%
Rừng đặc dụng nằm trong địa phận xã Hoà Ninh và Hòa Bắc, thuộc vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Bạch Mã, là khu bảo tồn được thành lập với mục đích bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phục hồi, tái tạo vốn rừng nhằm nâng độ che phủ của rừng, phát huy tác dụng phòng hộ môi trường của rừng Trong vùng rừng đặc dụng có rừng nguyên sinh với hệ sinh thái đa dạng, các tài nguyên động thực vật phong phú, đặc biệt có nhiều loại gỗ quý, nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp rất hấp dẫn với khách du lịch như khu vực Bà Nà-Núi Chúa
Rừng và tài nguyên rừng của huyện Hoà Vang có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế- xã hội của nhân dân trong huyện Ngoài vai trò phòng hộ cho huyện và thành phố Đà Nẵng, rừng còn là thế mạnh có nhiều tiềm năng trong việc phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn như khai thác chế biến lâm sản, dịch vụ du lịch
2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Tình hình phát triển kinh tế
Kinh tế - xã hội của huyện Hòa Vang trong những năm qua phát triển khá, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm ở mức 10%, cơ cấu kinh tế nghiêng về khu vực II và khu vực III Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động dịch vụ và công nghiệp, Cơ cấu lao động: Nông nghiệp 25,84%, Công nghiệp 33,61%, Dịch vụ 40,55% Giá trị công nghiệp xây dựng tăng bình quân 9,4%/năm Dịch vụ phát triển khá về quy mô, đa dang về loại hình, tốc độ tăng trưởng 12,8%/năm, các điểm du lịch lớn trên địa bàn huyện đưa vào khai thác hiệu quả nổi tiếng như: Khu du lịch Bà Nà Hills, Khu du lịch nước nóng Phước mại cơ bản đáp ứng nhu cầu giao thương, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 16,6%/năm Thu nhập bình quân đầu người đạt 27,24 triệu đồng/người/năm (năm
Toàn huyện có 14 xã với 119 thôn [Số liệu năm 2014] Dân số trung bình 128.151người (2014), mật độ dân số 174 người/km2 (2014), trên địa bàn huyện có
03 thôn với gần 1.000 đồng bào dân tộc Cơtu (thôn Tà Lang, Giàn Bí (xã Hòa Bắc), thôn Phú Túc (xã Hòa Phú) và 01 thôn người Hoa sinh sống (thôn Trung Nghĩa, xã Hòa Ninh) Dân số của huyện hiện nay khoảng 130.000 người, tốc độ tăng dân số bình quân 2%/năm, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chiếm 65%, tỷ lao động qua đào tạo chiếm 55% và tăng nhanh qua các năm Đây cũng là điều kiện thuận lợi để huyện thu hút đầu tư vào phát triển kinh tế - xã hội
Bảng 1.1: Dân số và nguồn nhân lực của huyện Hòa Vang
Dân số trung bình Người 122.292 123.880 125.445 128.151
Mật độ dân số Người/km2 161 170 172 174
Lực lượng lao động Người 67.042 69.384 70.960 72.491
Lao động có việc làm Người 66.036 68.482 70.108 71.620
Học sinh, sinh viên Người 9.242 10.007 10.527 10.754 Đối tượng khác Người 6.700 6.741 6.750 6.896
Niên giám thống kê Huyện Hòa Vang 2014
- Tập trung phát triển các thế mạnh của huyện đặc biệt là du lịch, chú trọng phát triển loại hình du lịch sinh thái kết hợp du lịch văn hóa
- Xây dựng huyện Hòa Vang phát triển theo hướng đô thị có bản sắc riêng( Nghị quyết số 03-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng về xây dựng và phát triển huyện Hòa Vang do Thành ủy Đà Nẵng tổ chức vào sáng ngày 5/4)
- Duy trì công tác xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa
Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở huyện Hòa Vang
2.2.1 Các loại hình sản phẩm du lịch văn hóa
2.2.1.1 Du lịch di tích lịch sử - văn hóa
Hiện nay trên địa bàn huyện hệ thống DTLSVH vô cùng phong phú, trong đó có di tích đã được xếp hạng các cấp và di tích chưa được xếp hạng Số lượng DTLSVH đưa vào khai thác du lịch là rất ít Việc phát triển du lịch văn hóa tại các điểm di tích này còn nhiều hạn chế, chưa có lộ trình cụ thể, công tác qui hoạch, trùng tu còn hạn chế, lượng khách du lịch đến đây mang tính tự phát.
Bảng 2.1: Phân bố các di tích văn hóa – lịch sử ở huyện Hòa Vang
STT Địa điểm Số lượng Di tích cấp quốc gia
Di tích cấp thành phố
Di tích đăng kí bảo vệ
Nguồn: Phòng VHTT huyện Hòa Vang
Tài nguyên về DTLSVH của huyện khá đa dạng và phong phú với nhiều loại hình khác nhau, đặc biệt là các di tích lịch sử văn hóa trong đó 5 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, 21di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố, 7 di tích đang được đăng kí bảo vệ
Bảng 2.2: Một số di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở huyện Hòa Vang STT Di tích lịch sử - văn hóa Địa điểm Năm công nhận
1 Đình Bồ Bản Hoà Phong 1999
2 Đình Tuý Loan Hoà Phong 4/2/1999
3 Nhà thờ Chi phái tộc Quá Giáng Hoà Phước 1/2/2000
4 Lăng mộ danh nhân Đỗ Thúc Tịnh Hòa Khương 03/8/2007
5 Bia Ông Ích Đường Hòa Phong 2013
Bảng 2.3: Một số di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố ở huyện Hòa Vang
STT Di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố Địa điểm Năm công nhận
1 Đình làng Dương Lâm Hoà Phong 23/12/2005
2 Đình làng Xuân Lộc Hòa Sơn 30/8/2006
3 Đình làng Đại La Hoà Sơn 08/01/2007
4 Đình làng Phước Thuận Hòa Nhơn 30/8/2006
5 Đình Phong Lệ Hòa Châu 14/6/2007
6 Đình Thạch Nham Hòa Nhơn 8/01/2007
7 Đình Trước Bàu Hòa Nhơn 24/12/2007
8 Khu căn cứ Huyện ủy Hòa Vang Hòa Phú 08/7/2008
9 Trường tiểu học An Phước Hòa Phong 27/5/2008
10 Chi bộ Phổ Lỗ Sỹ Hòa Khương 2008
11 Đình Cẩm Toại Hòa Phong 2007
12 Đình Phú Hòa Hòa Nhơn 12/8/2009
13 Đình Thái Lai Hòa Nhơn 2009
14 Đình làng An Ngãi Đông Hòa Sơn 2010
15 Chứng tích tội ác Giáng Đông Hòa Châu 2010
16 Đình Hưởng Phước Hòa Liên 2011
17 Đình làng Phước Hưng Hòa Nhơn 2011
18 Đình Phú Thượng Hòa Sơn
19 Đình làng Yến Nê 2 Hòa Tiến
20 Đình làng Hòa Khương Hòa Nhơn
21 Đình làng Quá Giáng Hòa Phước 2013
Nguồn: Phòng VHTT huyện Hòa Vang
Bảng 2.4: Một số di tích lịch sử - văn hóa được đăng kí bảo vệ ở huyện Hòa
Di tích lịch sử - văn hóa được đăng kí bảo vệ Địa điểm Lễ hội Giá trị
Chiến thắng đồn Lệ Sơn
Tại nơi đây đã diễn ra một chiến công vẻ vang của quân và dân ta trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cứu nước
3 Di tích chiến thắng Gò Hà
Gò Hà đã trở thành di tích lịch sử vẻ vang của quân và dân Đà Nẵng, là niềm tự hào của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm
Huyện có nhiều lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá làng quê Việt Nam, được chia thành ba nhóm chủ yếu: Lễ hội gắn với tín ngưỡng (lễ hội đình làng), lễ hội gắn với lao động sản xuất (lễ hội Mục đồng, lễ hội mừng lúa mới của người Cơ-tu), lễ hội gắn với sinh hoạt (lễ hội tắt bếp, Liên hoan văn hóa thể thao người Cơ-tu, Ngày hội chung một cội nguồn)
Hiện nay huyện có 10 lễ hội nhưng chỉ mới đưa vào 04 lễ hội khai thác phục vụ du lịch (lễ hội Mục đồng, lễ hội mừng lúa mới của người Cơ-tu, Liên hoan văn hóa thể thao người Cơ-tu) Việc đưa các lễ hội vào khai thác du lịch ở huyện hiện nay là chưa xứng đáng với tiềm năng và thế mạnh của mình, số lượng còn ít đơn điệu chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách
Giới thiệu về lễ hội là làm rõ hai nội dung chính: phần lễ và phần hội Từ đó có thể thấy được giá trị cộng đồng của lễ hội trên địa bàn Hòa Vang
Bảng 2.5: Một số lễ hội đặc sắcở huyện Hòa Vang
STT Tên lễ hội Giới thiệu
Lễ hội mừng lúa mới của đồng bào
Vào tháng 8, tháng 9, tháng 10, sau khi đồng bào sửa sang lại nhà cửa xong thì ngoài nương rẩy lúa đã bắt đầu chín tới.Trong lễ hội này Người Cơtu nấu các loại cơm theo mùa, mỗi mùa có mỗi nấu cách khác nhau Trong lễ ăn lúa mới là rang lúa, giã và nấu mùi lúa mới rất thơm Lễ mừng sau khi thu hoạch xong nấu cơm lam Lễ mừng phát rẫy xong, nấu xôi Lễ trỉa lúa rẫy xong nấu bánh cuốt Bên cha vợ đến nhà con rễ thăm chơi cũng phải thực hiện theo tập tục này
Người Cơtu phát rẫy xong, tiết đã sang xuân, nắng ấm áp, hoa phong lan nở rộ, chim muông sinh trưởng hót vang rừng (pa’toọng k’lang xưl), mọi người vui mừng nấu xôi làm lễ ăn mừng gọi là lễ k’đắc pa’toọng Sang hè, người Cơtu đốt rẫy và trỉa lúa, trỉa xong là thời điểm nông nhàn, làng và nhà tổ chức sửa sang nhà cửa, đường làng, sân bãi, máng nước và liên hoan bằng bánh cuốt
Lễ hội mục đồng làng
Lễ hội rước Mục đồng là lễ hội dành cho trẻ chăn trâu được tổ chức ở làng Phong Lệ, Hòa Châu, Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Tam niên nhứt lệ, cứ ba năm làng Phong Lệ tổ chức rước Thần Nông một lần vào các năm Tý, Mẹo, Ngọ, Dậu Lễ diễn ra trong hai ngày cuối tháng ba âm lịch nhằm cầu một vụ mùa bội thu.Lễ hội Mục đồng ở làng Phong Lệ ngày trước là một trong những hình thức coi trọng nghề nông Thông qua lễ rước Thần nông, vị thế người nông dân được nâng cao cùng với giá trị lao động và sản phẩm của họ làm ra Đây là lễ hội hình thành từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước mang tính nhân văn cao cả, nét đẹp văn hoá ở các vùng quê Không chỉ cầu mưa thuận gió hoà, cầu cho quốc thái dân an và tưởng niệm, tri ân các vị tiền bối, có công khai cơ lập nghiệp mà còn tưởng nhớ những người đã vì làng Phong Lệ mà hy sinh bản thân mình cho sự trường tồn của con dân Phong Lệ nói riêng và nhân dân xứ Quảng nói chung
Lễ hội Rước Mục đồng xứng đáng được tôn vinh, lưu truyền và phục hồi, bảo tồn trong cư dân và trong làng, vì những di tích, những kiến trúc đình, miếu mang nhiều sáng tạo độc đáo, vẫn còn đó, nhưng đã và đang xuống cấp, hư hại Những câu chuyện kêt đẹp như truyền thuyết sống âm ỉ trong tâm thức từ người già đến thế hệ trẻ hôm nay
Lễ hội tắt bếp làng
Lễ hội tắt bếp làng Trà Kiểm diễn ra tại thôn Trà Kiểm, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng vào ngày 12 tháng 2 âm lịch hằng năm Đây là lễ hội độc đáo và chỉ có duy nhất ở Đà Nẵng Hằng năm, đúng vào ngày 12 tháng 2 âm lịch, tại thôn Trà Kiểm “bổn xã chức việc, toàn dân đẳng”, tất cả đều phải nghỉ việc nhà nông, tập trung về đình làng thực hiện lễ hội cầu an, mong cho mưa thuận gió hoà, mùa màng no đủ, toàn dân từ già đến trẻ không bị các loại bệnh dịch hoành hành Toàn thể dân làng cầu xin thần Thành hoàng làng bảo an cho dân mọn mạnh khoẻ quanh năm, thực hiện được công việc nhà nông thắng lợi
Hằng năm, cứ vào độ giữa tháng tư, khi nắng trải vàng trên các nương rẫy, dân làng Cơtu trên địa bàn Hòa Vang lại bước vào ngày hội của riêng mình, ngày hội liên hoan Văn hóa Thể thao được tổ chức cho đồng bào Cơtu ba thôn: thôn Phú Túc (xã Hòa Phú), thôn
Tà Lang và thôn Giàn Bí (xã Hòa Bắc) Đây là hoạt động chào mừng “Ngày văn hoá các dân tộc Việt Nam” 19/4 do Phòng Văn hóa & Thông tin huyện Hòa Vang tổ chức, thông qua đó, nhằm phục hồi, phát huy và phát triển những tinh hoa văn hoá, góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá trong đồng bào dân tộc Cơtu nói riêng và các dân tộc anh em nói chung Dân tộc Cơtu là một bộ phận quan trọng góp phần hình thành nên bản sắc văn hóa của huyện Hòa Vang nói riêng và của thành phố Đà Nẵng nói chung Những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào rất đặc sắc và phong phú, đa dạng nếu không được bào tồn, phát huy và phát triển sẽ dần bị mai một và biến dạng Chính vì thế, liên hoan văn hóa và thể thao người Cơtu là một biện pháp thiết thực nhằm gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Cơtu ở Hòa Vang nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung, để mỗi dân tộc luôn giữ vững bản sắc văn hóa của mình trong thời đại công nghiệp hóa, toàn cầu hóa hiện nay Qua đó củng cố thêm sự gắn bó, tinh thần đoàn kết, bình đẳng cùng giúp nhau tiến bộ trong mọi mặt giữa đồng bào dân tộc Cơtu ở hai xã Hoà Phú và Hoà Bắc hướng đến thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa huyện Hòa Vang
Nguồn: Phòng VHTT huyện Hòa Vang
Hiện nay huyện có 14 xã, 118 thôn, đặc biệt có 10 thôn là có tiềm năng, thế mạnh để phát triển du lịch cộng đồng nhưng mới chỉ có 05 thôn được đưa vào khai thác phục vụ du lịch cộng đồng Các thôn này có đặc điểm về thế mạnh để phát triển du lịch cộng đồng như: làng cổ, làng nghề truyền thống, làng dân tộc thiểu số Cơ tu… các sản phẩm du lịch cộng đồng được các du khách (đặc biệt khách quốc tế)rất ưa chuộng như Làng cổ Phong Nam đã từng là điểm du lịch làng quê được nhiều khách quốc tế biết đến và ưa chuộng nhưng do quá trình đô thị hóa đã làm ảnh hưởng, nhanh chóng làm mất đi nét đặc trưng của một làng quê Khá nhiều làng nghề truyền thống có khả năng phục vụ nhu cầu tham quan của du khách và các doanh nghiệp lữ hành cũng rất chú trọng đến khai thác loại hình sản phẩm du lịch này, tuy nhiên hầu hết các làng nghề tồn tại một cách tự phát và đang có xu hướng thu hẹp và mai một dần Vì vậy, trong thời gian tới việc phục hồi và đưa vào khai thác các sản phẩm du lịch này cần được đưa vào chiến lược qui hoạch, phát triển một cách lâu dài nhằm tránh lãng phí tài nguyên cũng như tạo sự phát triển đa dạng
Bảng 2.6: Một số làng nghề truyền thống ở huyện Hòa Vang
STT Làng nghề truyền thống Địa điểm
1 Nón lá La Bông Hoà Tiến
2 Chiếu Cẩm Nê Hoà Tiến
3 Bánh khô mè Quảng Châu Hoà Châu
4 Đan lát Yến Nê Hòa Tiến
5 Bánh tráng Túy Loan Hòa Phong
6 Làng nghề đá chẻ Hòa Sơn
Nguồn: Phòng VHTT huyện Hòa Vang
2.2.2 Doanh thu và lượng khách từ du lịch văn hóa
2.2.2.1 Doanh thu từ du lịch văn hóa
Hiện nay, ở Hòa Vang chủ yếu phát triển 2 loại hình du lịch chính đó là du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và du lịch văn hóa
Bảng 2.7: Kết quả doanh thu từ du lịch văn hóa ở huyện Hòa Vang
Tốc độ tăng doanh thu du lịch văn hóa
Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng
Nguồn: Chi cục Thống Kê huyện Hòa Vang
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện doanh thu từ du lịch văn hóa của huyện Hòa
Từ biểu đồ trên ta thấy doanh thu từ du lịch văn hóa tăng qua các năm nhưng tốc độ tăng không đều Doanh thu lịch sinh thái, nghỉ dưỡng tốc độ tăng nhanh và mạnh hơn du lịch văn hóa Điều này chứng tỏ du lịch văn hóa ở huyện Hòa Vang vẫn chưa được chú trọng, đầu tư phát triển phù hợp và hiệu quả mặc dù tiềm năng của nó là rất lớn
2.2.2.2 Lượng khách từ du lịch văn hóa
Bảng 2.8: Lượng khách du lịch văn hóa đến huyện Hòa Vang
Năm Số khách đến Khách quốc tế Khách nội địa
Nguồn: Chi cục Thống Kê huyện Hòa Vang
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thể hiện lượng khách du lịch văn hóa đến huyện Hòa
Khách quố c tế Khách nộ i địa
Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở huyện Hòa Vang 48 1 Thành tựu
Mặc dù chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có nhưng hiện tại du lịch văn hóa huyện Hòa Vang cũng có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển kinh tế địa phương Du lịch đã góp phần giải quyết việc làm cho cư dân địa phương, xóa đói giảm nghèo thông qua các dịch vụ hoạt động ăn uống, bán hàng lưu niệm và các dịch vụ khác Du lịch văn hóa đang thực sự dần trở thành ngành kinh tế quan trọng của huyện cũng như thành phố Đà Nẵng
Với tốc độ tăng trưởng tương đối cao trong thời gian qua, nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch và các dự án phát triển du lịch văn hóa huyện là rất lớn Cùng với sự phát triển của du lịch, nền kinh tế của địa phương đã có những bước chuyển dịch tích cực nhằm cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho ngành du lịch Hiện nay phần lớn hàng hóa phục vụ cho ngành du lịch như lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng đã được cung cấp từ cơ sở trong huyện
Qua xem xét, đánh giá nhận thấy tác động của du lịch văn hóa đến xã hội có nhiều điểm tích cực hơn là tiêu cực: các tệ nạn xã hội không có, nạn ăn xin chèo kéo khách không có Lối sống truyền thống của cộng đồng dân cư địa phương vẫn được gìn giữ, các sinh hoạt văn hóa truyền thống như các lễ hội, phong tục tập quán vẫn được giữ vững và không bị thương mại hóa Chất lượng các di tích lịch sử - văn hóa được cải thiện thông qua công tác trùng tu, tôn tạo nhằm phục vụ du khách tốt hơn
- Hoạt động du lịch của huyện mới ở dạng sơ khai chủ yếu thông qua các di tích lịch sử, các hoạt động lễ hội truyền thống về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng hay các lễ hội về tập quán sản xuất và sinh hoạt của các làng xã hay cộng đồng dân cư địa phương Song các hoạt động ở đây chưa mang nhiều ý nghĩa phát triển du lịch, chỉ có một vài điểm di tích lễ hội đưa vào phát triển du lịch, chưa được tổ chức phát triển du lịch trên phương diện rộng
- Cơ sở hạ tầng – vật chất kĩ thuật chưa quan tâm phát triển, việc thiếu khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ, cơ sở vui chơi giải trí đang là trở ngại lớn ở nơi đây, ảnh hưởng lớn đến doanh thu du lịch Bên cạnh đó huyện còn thiếu các điểm du lịch với chất lượng dịch vụ cao, năng lực cạnh tranh giữa các đơn vị kinh doanh chưa cao Mạng lưới kinh doanh du lịch và cơ sở vật chất kĩ thuật của huyện chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách quốc tế
- Số lượng và chất lượng lao động trong nghề du lịch còn hạn chế, đa phần là lao động phổ thông ít được đào tạo
- Vấn đề quảng bá, tiếp thị hiện nay chưa được chú trọng đầu tư
- Tính mùa vụ ở đây khá cao, khách chỉ tập trung vào mùa lễ hội Sản phẩm du lịch nghèo nàn chưa tạo được sản phẩm độc đáo và mang tính đặc thù riêng mới chỉ đơn thuần là du lịch lễ hội kết hợp với tôn giáo tín ngưỡng và rất nhiều các di tích ở đây đều không bán vé thăm quan, mức thu chi phí là vé trông xe để phục vụ bộ máy phục vụ và tu bổ.