1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh bình thuận

94 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuỗi giá trị du lịch gắn kết với du lịch văn hóa tâm linh ở Bình Thuận phát triển còn chậm, chưa có sự bức phá, thu hút đông đảo du khách, chưa mang lại hiệu quả tương xứng với tiềm năn

Trang 1

Phụ lục

PHẦN GIỚI THIỆU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu tổng quát 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Xác định phương án nghiên cứu 4

4.2 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Nội dung nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1 7

1 1 Cơ sở lý thuyết 7

1.1.1 Văn hóa và tâm linh 7

1.1.2 Khái niệm về du lịch và du lịch văn hóa tâm linh 10

1.1.3 Các yếu tố liên quan đến phát triển du lịch văn hóa tâm linh 13

1.2 Tổng quan nghiên cứu một số công trình liên quan đến Du lịch và Du lịch văn hóa tâm linh 21

1.2.1 Công trình nghiên cứu ở nước ngoài 21

1.2.2 Công trình nghiên cứu trong nước 22

1.3 Tóm lược chương 1: 25

CHƯƠNG 2 26

HIỆN TRẠNG KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TỈNH BÌNH THUẬN 26

2.1 Khái quát chung về tỉnh Bình Thuận 26

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 26

2.1.3 Kinh tế, xã hội tỉnh Bình Thuận 27

2.1.3 Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo tỉnh Bình Thuận 28

2.2 Hệ thống di sản văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận 29

2.2.1 Di sản văn hóa tâm linh vật thể 29

2.2.2 Di sản văn hóa tâm linh phi vật thể 29

2.2.3 Nghề truyền thống phục vụ du lịch văn hóa tâm linh 31

2.3 Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận 32

2.3.1 Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch tâm linh 32

2.3.2 Nguồn nhân lực du lịch 33

2.3.3 Sản phẩm và dịch vụ du lịch 34

2.3.4 Công tác quản lý du lịch 35

Trang 2

2.3.5 Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch 36

2.3.6 Thị trường và khách du lịch 37

2.3.7 Doanh thu du lịch 39

Bảng 8: Thống kê tổng hợp dự báo GDP Du lịch và nhu cầu vốn đầu tư Du lịch của Bình Thuận đến năm 2030 40

2.4 Tóm lược chương 2: 41

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

3.1.Phương pháp nghiên cứu, thu thập và xử lý số liệu 42

3.1.1 Phương pháp nghiên cứu: 42

3.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: 42

3.1.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu sơ cấp 42

3.1.4 Quy trình xây dựng và đánh giá thang đo 43

2.1 Nghiên cứu sơ bộ định lượng 44

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu và điều kiện đánh giá thang đo 44

3.2.1 Nghiên cứu chính thức định lượng 50

3.3 Tóm lược chương 3 51

CHƯƠNG 4 51

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 51

4.1 Khái quát hiện trạng đối tượng được khảo sát 51

4.1.1 Tình hình dữ liệu khảo sát nghiên cứu 52

4.1.2 Thông tin về cá nhân của đáp viên 52

4.1.3 Phân tích hành vi, mục đích du lịch tâm linh của du khách 53

Bảng 14: Tổng hợp phân tích hành vi của khách du lịch văn hóa tâm linh Bình Thuận 53

4.2 Kết quả mô hình nghiên cứu định lượng 53

4.2.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo chính thức bằng hệ số Cronbach alpha đối với từng yếu tố định lượng trong mô hình 53

Bảng 15: Tổng hợp kết quả phân tích độ tin cậy thang đo từng yếu tố (Corrected Item-Total Correlation) 54

4.2.2 Đánh giá giá trị thang đo các biến độc lập bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 56

4.2.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA các biến độc lập 56

Bảng 16: Bảng tổng hợp phân tích hệ số KMO and Bartlett's Test chính thức 57

4.2.4 Đánh giá giá trị thang đo biến phụ thuộc bằng phân tích nhân tố khám phá59 4.3 Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 60

4.3.1 Các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu 60

4.3.2 Phương trình hồi quy tuyến tính của mô hình 61

4.3.3 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến 62

Sự hài lòng của khách du lịch đối với điểm đến du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình

Trang 3

Thuận = 0.311*sản phẩm - dịch vụ + 0.267*nguồn nhân lực + 0.259 cơ sở hạ tầng +

0.171*không khí điểm đến + 0.149*giá cả 66

• Kiểm định sự phù hợp của mô hình 67

• Kết luận chung về mô hình nghiên cứu 70

4.4 Đánh giá mức độ cảm nhận của du khách đối với các yếu tố ảnh hưởng điểm đến du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận 71

4.4.1 Các điều kiện, tiêu chí để đánh giá mức độ cảm nhận của du khách 71

4.4.2 Kết quả đánh giá mức độ cảm nhận của du khách 71

4.5 Kiểm định quan hệ sự khác biệt về mức độ cảm nhận sự hài lòng đối với điểm đến du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận ( 73

4.5.1 Kết quả kiểm định theo giới tính 74

4.5.1 Kết quả kiểm định theo thu nhập 74

4.5.3 Kết quả kiểm định theo độ tuổi 75

4.5.4 Kết quả kiểm định theo trình độ 75

4.5.5 Kết quả kiểm định theo nghề nghiệp 76

4.5.6 Kết quả kiểm định theo hình thức đi 76

4.5.7 Kết quả kiểm định theo mục đích đi du lịch 77

4.5.8 Kết quả kiểm định theo mục đích số lần đi du lịch 77

4.5 Tóm lược chương 4: 78

CHƯƠNG 5 79

KẾT LUẬN VÀ CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH 79

5.2 Kết luận 79

5.1.1 Kết quả đạt được 79

5.3 Kiến nghị hàm ý quản trị đối với các yếu tố phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận 80

5.3.1 Đối với yếu tố sản phẩm và dịch vụ du lịch văn hóa tâm linh 80

5.3.2 Đối với yếu tố nguồn nhân lực 81

5.3.3 Đối với yếu tố cơ sở hạ tầng 82

5.3.4 Đối với yếu tố không khí điểm đến 82

5.3.5 Đối với nhân tố giá cả 83

5.3.6 Đối với yếu tố quản lý điểm đến 83

5.3 Một số hạn chế và các hướng nghiên cứu tiếp theo 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Tiếng việt 86

-Trang web Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch Bình Thuận: www.binhthuantourism.gov.vn 87

Trang 5

Danh mục bảng

Bảng 1: Tổng hợp một số lễ hội dân giang tiêu biểu Bình Thuận 30

Bảng 2 Tổng hợp một số Tour tham quan du lịch văn hóa tâm linh 35

Bảng 3 Thống kê tổng hợp lượng khách du lịch đến Bình Thuận (giai đoạn 2010 - 2016 37

Bảng 4 Thống kê tổng hợp thời gian lưu trú khách du lịch đến Bình Thuận (giai đoạn 2010 -2016) 38

Bảng 5 Thống kê tổng hợp dự báo lượng khách du lịch đến Bình Thuận năm 2020 đến năm 2030 38

Bảng 6 Thống kê tổng hợp cơ cấu chi tiêu của du khách và doanh thu từ du lịch (năm 2020 – 2016) 39

Bảng 7 Thống kê tổng hợp dự báo doanh thu du lịch Bình Thuận đến 2030 40

Bảng 8: Thống kê tổng hợp dự báo GDP Du lịch và nhu cầu vốn đầu tư Du lịch của Bình Thuận đến năm 2030 40

Bảng 9 Tổng hợp thang đo sơ bộ đánh giá sự hài lòng của khách du lịch về các điểm đến du lịch hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận 45

Bảng 10 Tổng hợp kết quả phân tích sơ bộ độ tin cậy các thang đo các yếu tố 48

Bảng 11: Kiểm định KMO và Barkett’s Test 50

Bảng 12 Tổng hợp phân tích tổng phương sai trích (Total Variance Explained) 50

Bảng 13 Thống kê thông tin giới tính, độ tuổi, trình độ, nghề nghiệp, thu nhận của khách du lịch qua khảo sát 52

Bảng 14: Tổng hợp phân tích hành vi của khách du lịch văn hóa tâm linh Bình Thuận 53

Bảng 15: Tổng hợp kết quả phân tích độ tin cậy thang đo từng yếu tố (Corrected Item-Total Correlation) 54

Bảng 16: Bảng tổng hợp phân tích hệ số KMO and Bartlett's Test chính thức 57

Bảng 17: Phân tích tổng hợp phương sai trích chính thức (Total Variance Explained)57 Bảng 18 Tổng hợp phân tích nhân tố xoay 57

Bảng 19 Tổng hợp phân tích hệ số KMO và kiểm định Barlett biến phụ thuộc 59

Bảng 20.Tổng hợp phân tích tổng phương sai trích của biến phụ thuộc 59

Bảng 21 Tổng hợp phân tích tương quan lần I (Correlations) 62

Bảng 22.Bảng tổng hợp phân tích tương quan lần II (Correlations) 63

Bảng 23 Tổng hợp kiểm định t, Beta và VIF (Coefficientsa ) 64

Bảng 24 Tổng hợp kiểm định R2 hiệu chỉnh và Durbin - Watson 67

Bảng 25 Tổng hợp kiểm định phân tích phương sai ANOVAa 67

Bảng 26 Tổng hợp thống kê mức độ cảm nhận của khách du lịch về các yếu tố độc lập trong mô hình nghiên cứu theo mức độ quan trọng 71

Bảng 27 Kiểm định Levene theo giới tính 74

Bảng 28 Kiểm định ANOVA theo giới tính 74

Bảng 29 Kiểm định Levene theo thu nhập 75

Bảng 30: Kiểm định Levene theo độ tuổi 75

Bảng 31 Kiểm định ANOVA theo độ tuổi 75

Bảng 32 Kiểm định Levene theo trình độ 76

Bảng 33 Kiểm định ANOVA theo trình độ 76

Bảng 34: Kiểm định Levene theo nghề nghiệp 76

Bảng 35 Kiểm định ANOVA theo nghề nghiệp 76

Bảng 36: Kiểm định Levene theo hình thức đi 77

Bảng 37: Kiểm định ANOVA theo hình thức đi 77

Bảng 38 Kiểm định Levene theo mục đích đi du lịch 77

Bảng 39 Bảng kiểm định ANOVA theo mục đích đi du lịch 77

Trang 6

Bảng 40 Bảng kiểm định Levene theo số lần đi du lịch 78 Bảng 41 Bảng kiểm định ANOVA theo số lần đi du lịch 78

Trang 7

Danh mục hình ảnh

Hình 1.Mô hình đề xuất nghiên cứu của tác giả 25

Hình 2: Quy trình xây dựng và đánh giá thang đo 43

Hình 3 Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa Histogram 68

Hình 4 Biểu đồ phần dư chuẩn hóa Normal P-P Plot 69

Hình 5 Biểu đồ Scatter Plot kiểm tra giả định liên hệ tuyến tính 70

Hình 6 Mô hình các yếu tố phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận 71

Trang 8

PHẦN GIỚI THIỆU

1 Đặt vấn đề

Hiện nay, Du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh

tế toàn cầu Ngành công nghiệp không khói đặc biệt này được nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam chọn là ngành kinh tế mũi nhọn Trong đó loại hình Du lịch văn hóa tâm linh là sản phẩm du lịch được nhiều nước, nhiều ngành khoa học, học giả, tác giả nghiên cứu và đã có một số công trình, tác phẩm có giá trị được công bố, trên sách, báo, tạp chí, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng

Du lịch văn hóa tâm linh được xem là một trong những sản phẩm du lịch đặc trưng, mang lại nhiều giá trị tinh thần cao cả, đóng góp tích cực vào phát triển bền vững kinh tế - xã hội Trong những năm trở lại đây, văn hoá tâm linh đã đi vào đời sống của con người, và chính vì thế nhu cầu du lịch văn hoá tâm linh của không ít du khách đã và đang trở thành hướng mở để ngành du lịch đẩy mạnh khai thác loại hình

du lịch mới mẻ này Thực tiễn cho thấy, phát triển du lịch văn hóa tâm linh không chỉ tạo nguồn doanh thu quan trọng, đóng góp tích cực vào hoạt động xuất khẩu du lịch tại chỗ mà còn góp phần quan trọng tạo thêm nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho cộng đồng địa phương, tạo động lực kéo theo nhiều ngành kinh tế liên quan cùng phát triển như thương mại, giao thông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ thông tin, Ngoài ý nghĩa về kinh tế - xã hội, phát triển du lịch văn hóa tâm linh còn góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc, thúc đẩy giao lưu văn hoá và qua đó tăng cường hiểu biết, tình hữu nghị giữa các dân tộc, giữa các quốc gia trên thế giới

Bình Thuận được du khách biết đến là thủ đô Resort và là một trong những tỉnh

có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch văn hóa tâm linh Bình Thuận có vị trí địa

lý thuận lợi gần với các tỉnh, thành lớn phát triển mạnh như: Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa; địa hình rất đa dạng, phong phú gồm: biển, đồng bằng, rừng núi; khí hậu ôn hòa, ấm áp quanh năm; người dân Bình Thuận sống trọng tình, mến khách Đặc biệt là hệ thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo, huyền bí cùng với sự phát triển của các tôn giáo, tín ngưỡng dân gian tạo nhiều ấn tượng thu hút du khách đến với du lịch văn hóa tâm linh

Tuy nhiên, qua nghiên cứu các nguồn tư liệu thứ cấp từ báo cáo của Ủy ban nhân dân

tỉnh Bình Thuận, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận và thông qua quá

Trang 9

trình tham khảo ý kiến chuyên gia ngành du lịch, các doanh nghiệp du lịch, cùng với quá trình khảo sát thực địa bằng phương pháp phỏng ấn sâu, quan sát tham dự tại một

số điểm đến trọng điểm du lịch tâm linh trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, cho thấy du lịch văn hóa tâm linh mặc dù mang lại những lợi ích không nhỏ nhưng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn như: Nhận thức của một số nhà quản lý du lịch, cộng đồng dân cư và du khách còn có những vấn đề chưa thống nhất về du lịch văn hóa tâm linh Các điểm đến du lịch văn hóa tâm linh có nguy cơ bị hiểu sai, yếu tố tâm linh dễ

bị thương mại hóa khi các biểu tượng tín ngưỡng, tôn giáo và di sản văn hóa có thể bị

sử dụng không đúng mục đích Chuỗi giá trị du lịch gắn kết với du lịch văn hóa tâm linh ở Bình Thuận phát triển còn chậm, chưa có sự bức phá, thu hút đông đảo du khách, chưa mang lại hiệu quả tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Bình Thuận và đang đứng trước nhiều thách thức nhất là trước sự cạnh tranh gây gắt về sản phẩm du lịch của các địa phương trong và ngoài nước Việc phát triển, quản lý các điểm tham quan du lịch văn hóa tâm linh còn có hạn chế nhất định; cơ sở hạ tầng, nguồn lực, tài nguyên du lịch tâm linh, giá cả, sản phẩm, dịch vụ du lịch, bầu không khí điểm đến chưa được đầu tư đúng mức để phát huy tốt nên chưa tạo ra những hình ảnh điểm đến

du lịch hấp dẫn, thu hút mạnh mẽ du khách quốc tế và trong nước Những hạn chế, khó khăn trên cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận và phát triển các ngành nghề kinh tế khác

Từ thực tế nêu trên, tác giả cho rằng để phát triển mạnh mẽ du lịch nhất là sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh, góp phần đưa ngành kinh tế du lịch “Công nghiệp không khói” trở thành ngành kinh tế mũi nhọn như mục tiêu định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch gắn với kinh tế, xã hội của Chính phủ Việt Nam và của tỉnh Bình Thuận thì vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là phải đầu tư nghiên cứu nhiều công trình khoa học về mô hình phát triển Du lịch văn hóa tâm linh

Qua khảo sát và tham khảo ý kiến một số chuyên gia của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Thuận, Ban quản lý các điểm đến du lịch văn hóa ở một số huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh Bình Thuận, được biết cho tới nay chưa có cuốn sách hay công trình hoặc đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề Du lịch văn hóa tâm linh tại Bình Thuận Được Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Văn Tài định hướng, giúp đỡ, gợi

mở, từ gốc độ kiến thức quản trị kinh doanh, tác giả lựa chọn Đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố phát triển Du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận”

Trang 10

Đây là đề tài khoa học mới mẻ, là một hướng đi mới, lần đầu tiên nghiên cứu về

du lịch văn hóa tâm linh được thực hiện tại Bình Thuận Hơn nữa, đây là cách tiếp cận

cụ thể một lĩnh vực “Du lịch văn hóa tâm linh” chưa được đề cập một cách hoàn chỉnh Nguồn tư liệu tham khảo hiếm hoi, chủ yếu là do tác giả sưu tầm, thu thập qua nhiều đợt điền dã dân tộc học, kết hợp với việc nghiên cứu tư liệu của các công trình, đề tài nghiên cứu trước Vì vậy, mặc dù đã có nhiều cố gắng nghiên cứu tìm hiểu, luận giải, khái luận các vấn đề đặt ra, song chắc chắn không thể không tránh khỏi những khiếm khuyết, hạn chế Kính mong nhận được sự quan tâm, góp ý của quý thầy cô, giảng viên, chuyên gia để hoàn thiện trong các công trình nghiên cứu sau này

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận” là nhằm nghiên cứu, vận dụng các lý thuyết, các mô hình của những công trình đã nghiên cứu có liên quan của các tác giả trước để làm sáng tỏ thêm các lý thuyết về

du lịch văn hóa tâm linh Đánh giá thực trạng, tiềm năng phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh ở Bình Thuận Đề xuất mô hình và các hàm ý quản trị về phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh ở Bình Thuận Qua đó, góp phần bổ sung, đóng góp nguồn tài liệu khoa học trong nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận và làm cơ

sở tư liệu giúp các nhà quản trị tham khảo, hoạch định các chính sách để thu hút đầu tư hướng tới mục tiêu phát triển mạnh mẽ sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh, tạo động lực phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Bình Thuận

2.2 Mục tiêu cụ thể

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát đề ra, luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu một

số nội dung chủ yếu sau:

Nghiên cứu các lý thuyết khoa học về các loại hình du lịch văn hóa tâm linh, lý thuyết

về các yếu tố ảnh hưởng phát triển du lịch văn hóa tâm linh và các mô hình phát triển

du lịch văn hóa tâm linh của các tác giả đã nghiên cứu trong và ngoài nước; đặc biệt là

công trình nghiên cứu có giá trị của các tác giả: Beerli, 2004 về “Nghiên cứu các yếu

tố và thuộc tính của hình ảnh điểm đến du lịch”; Hồ Kỳ Minh, 2013 “Nghiên cứu và

đề xuất giải pháp phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị”; Nguyễn Trọng Nhân- Cao Mỹ Khánh, 2014 về “Đánh giá của du khách đối với những điều kiện phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh An Giang”; Nguyễn Thị Thu Duyên, 2014 về “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định”;

Trang 11

Hoàng Thanh Liêm, 2016 về “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Bình Thuận của du khách trong nước”; Dương Đức Minh, 2016 về

“Du lịch tâm linh tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”

- Khảo sát, nghiên cứu, đánh giá tiềm năng tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh

ở Bình Thuận; đánh giá thực trạng, những lợi thế và khó khăn trong việc phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh ở Bình Thuận

- Khảo sát, nghiên cứu sự đánh giá của du khách đối với những yếu tố, điều kiện phát triển du lịch văn hóa tâm linh ở tỉnh Bình Thuận

- Nghiên cứu, vận dụng các lý thuyết, các mô hình của các tác giả trước để nghiên cứu phân tích khoa học về các yếu tố ảnh hưởng, luận giải vấn đề đặt ra, khám phá các yếu tố mới, đưa ra mô hình mới về phát triển du lịch văn hóa tâm linh ở tỉnh Bình Thuận Trên cơ sở đó dựa trên quan điểm khoa học quản trị kinh doanh để đề xuất, kiến nghị các hàm ý quản trị nhằm phát huy các yếu tố, những tiềm năng lợi thế, xây dựng, gắn kết sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh trong chuỗi giá trị sản phẩm du lịch ở tỉnh Bình Thuận

3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Phạm vi nội dung: Trong luận văn này, định hướng tập trung chủ yếu vào khía cạnh quản trị kinh doanh về phát triển mô hình du lịch văn hóa tâm linh trong tỉnh Bình Thuận Tuy vậy, ở chừng mực nhất định có sử dụng những khía cạnh và nội dung cần thiết của thương mại, quản lý kinh tế, tâm lý học, xã hội học, chủ nghĩa xã hội khoa học, dân tộc học

- Phạm vi không gian: Công trình nghiên cứu này được tiến hành trên một số điểm đến Du lịch văn hóa tâm linh trọng yếu ở các huyện, thị, thành phố của tỉnh Bình Thuận Ngoài ra, còn tham khảo mở rộng thêm một số địa phương trong và ngoài nước Việt Nam để nghiên cứu, bổ sung và đối chứng nguồn tư liệu

- Phạm vi thời gian: Số liệu, tài liệu được thu thập từ năm 2010 đến 2016

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Xác định phương án nghiên cứu

Để thực hiện công trình nghiên cứu này, tác giả thu thập dữ liệu thứ cấp từ nguồn văn bản chính thống của các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Bình Thuận; kết hợp trao đổi, tham khảo ý kiến với các chuyên gia là lãnh đạo, quản lý thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận, Phòng văn hóa thành phố Phan Thiết, các

Trang 12

huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh, Phú Quý, Thị xã La Gi; một số doanh nghiệp lữ hành và khách du lịch đang tham quan tại một số điểm đến du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Bình Thuận Trên cơ sở đó, tổng hợp, lựa chọn những thông tin có giá trị, phù hợp với đề tài nghiên cứu; xác định những nội dung, danh mục cần đầu tư nghiên cứu phù hợp với nội dung đề tài luận văn và điều kiện của tác giả

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Công trình nghiên cứu này có nhiều yếu tố nhạy cảm, tế nhị, nhiều mối quan hệ phức tạp, có đối tượng cần nghiên cứu ở diện hẹp, có đối tượng cần nghiên cứu ở diện rộng Dữ liệu cần thu thập là dữ liệu cả bên trong và bên ngoài của đối tượng nghiên cứu Vì vậy, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp cả định tính và định lượng Giai đoạn nghiên cứu định tính là nền tảng, là điều kiện cần cho giai đoạn nghiên cứu định lượng; còn nghiên cứu định lượng là điều kiện đủ để đưa ra những căn cứ dữ liệu khoa học nhằm kiểm định, chứng minh, luận giải đưa ra mô hình và kiến nghị hàm ý quản trị về du lịch văn hóa tâm linh

Về nghiên cứu định tính: Trong công trình nghiên cứu này, tác giả vận dụng

công cụ chủ yếu là phương pháp chuyên gia, quan sát tham dự và khảo sát thực địa bằng cách phỏng vấn sâu với khách du lịch tham quan tại một số điểm đến du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Bình Thuận

Về phương pháp nghiên cứu định lượng: Thực hiện khảo sát dữ liệu trực tiếp

của khách du lịch bằng bảng khảo sát với những câu hỏi định sẵn

Về dữ liệu nghiên cứu: Sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp

5 Đóng góp của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Điểm mới về mặt khoa học công trình nghiên cứu này là nghiên

cứu các vấn đề lý thuyết khoa học góp phần làm sáng tỏ thêm các giả thuyết vềdu lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận và khám phá, đưa ra mô hình mới về phát triển du lịch văn hóa tâm linh phù hợp với điều kiện tỉnh Bình Thuận

Ý nghĩa thực tiễn: Công trình nghiên cứu này không giải quyết được các vấn đề

hay đưa ra các quyết định về du lịch văn hóa tâm linh tại Bình Thuận mà nó chỉ có thể cung cấp thông tin luận cứ khoa học, là nguồn tư liệu quan trọng nhằm giúp các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà đầu tư tham khảo, hoạch định các chính sách đầu tư, phát triển loại hình Du lịch văn hóa tâm linh tại Bình Thuận phù hợp, hiệu quả Kết quả này

Trang 13

có thể dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu những công trình có liên quan sau này

6 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần giới thiệu, dẫn nhập, phụ lục, báo cáo tóm tắt, nội dung của đề tài gồm 5 chương chính như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 2: Hiện trạng phát triển du lịch và du lịch văn hóa tâm linh ở tỉnh Bình Thuận

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

1 1 Cơ sở lý thuyết

1.1.1 Văn hóa và tâm linh

5.1.1 1.1.1.1 Khái niệm văn hóa

Tìm hiểu văn hóa là vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Đặc biệt, trong điều kiện sự phát triển của khoa học kỹ thuật- công nghệ cũng như sự phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia như hiện nay thì vấn đề văn hóa càng trở nên có

ý nghĩa sâu sắc, rõ rệt

Theo một số tài liệu, thuật ngữ “Văn hóa” có từ thời cổ đại Hy Lạp, nó bắt nguồn từ chữ La tinh “Culture” Culture theo nghĩa đen ban đầu là khai hoang, trồng trọt, chăm sóc cây trồng Về sau nó được chuyển sang nghĩa bóng là chăm nom, giáo dục, đào tạo khả năng của con người về mọi mặt

Trong sách Quản trị học (Phùng Minh Đức và cộng sự, 2014) đã nêu một định nghĩa quan trọng về văn hóa của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO): “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và của mỗi cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đã cấu thành một

hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” Các nhà nghiên cứu quản trị kinh doanh quốc tế thì cho rằng văn hóa là đối tượng phức tạp và đa dạng gồm các yếu tố: ngôn ngữ, tôn giáo, giá trị và thái độ, các cư xử và thói quen, thể chất và thẩm mỹ, giáo dục và thái

độ xã hội (Bùi Lê Hà và cộng sự, 2011) Có hai dạng văn hóa: Văn hóa mạnh và văn hóa yếu Văn hóa mạnh tồn tại ở những tổ chức có những giá trị cốt lõi được phát huy mạnh mẽ, chia sẽ rộng rãi trong xã hội và có tầm ảnh hưỡng đến con người mạnh hơn

Văn hóa là nhân tố cơ bản nhất có tính quyết định đến ý muốn và hành vi của con người Hiện nay, với sự hội nhập thương mại sâu rộng, kéo theo sự giao thoa giữa các nền văn hóa, có một số yếu tố văn hóa đã và đang thay đổi kéo theo những khuynh hướng biến đổi mới, hình thành những sản phẩm mới, thị trường mới Trong quá trình toàn cầu hóa sâu rộng như hiện nay, với xu thế liên kết trong quan hệ quốc tế đã làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội giữa các quốc gia Điều

Trang 15

đó, càng làm cho các quốc gia, các dân tộc phải có trách nhiệm gìn giữ, giao lưu, khai thác, phát huy các yếu tố văn hóa để mang lại những giá trị vật chất và tinh thần bền vững cho xã hội Tổ chức Khoa học Quốc tế đã ước tính rằng, mỗi năm sản phẩm trí tuệ tăng gấp đôi và cứ 100 năm thì trong tương lai không xa, văn hóa sẽ là động lực mạnh nhất, trực tiếp nhất trong sự tăng trưởng về kinh tế Thực tiễn cho thấy bài học thành công của Singabo, Nhật Bản và Hàn Quốc trong phát triển kinh tế, xã hội chính

là đã biết kết hợp yếu tố khoa học - kỹ thuật hiện đại với những giá trị của văn hóa truyền thống phương Đông Nho giáo

5.1.2 1.1.1.2 Khái niệm tâm linh

Trong Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 2006) đã định nghĩa tâm linh với

02 nghĩa: một là: linh hồn, tinh thần; hai là: khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm Thuật ngữ “tâm linh” nếu được dịch sang nghĩa với một từ tiếng Pháp tương đương là “intelligence”, nghĩa là trí tuệ, trí năng Trong cuốn sách “Tâm linh Việt Nam” (Nguyễn Duy Hinh, 2009) có đoạn viết rằng: “Tâm linh là thể nghiệm của con người (tâm) về cái thiêng (linh) trong tự nhiên

và xã hội thông qua sống trải, thuộc dạng ý thức tiền lôgíc không phân biệt thiện ác” Trong sách “Văn hóa tâm linh” (Nguyễn Đăng Duy, 2009) tác giả đã lý giải: “Tâm linh

là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo”

Trong nghiên cứu “Tìm hiểu các định nghĩa khác nhau về tâm linh” (Hồ Bá Thâm, 2014) có đoạn viết: tâm linh hiểu theo nghĩa khái quát nhất có hai lớp nghĩa, hai tầng cơ bản liên quan với nhau: nghĩa 1) tâm linh là bí ẩn vũ trụ và bí ẩn tâm trí não người; nghĩa 2) tâm linh là sự thiêng hóa chúng ở mức độ nào đó Nghĩa thứ nhất có tính tự nhiên, khách quan, làm tiền đề; còn nghĩa thứ hai là tính chủ quan, làm mặt tâm

lý xã hội

Trong tác phẩm nghiên cứu về “Một số giả thiết khoa học làm sáng tỏ hơn về thế giới tâm linh” (Đào Thanh Oai, 2010) đã đề xuất hai cách hiểu về tâm linh Theo cách hiểu khoa học: Những người coi là có đầu óc khoa học nhìn nhận thế giới tâm linh đó về bản chất vẫn là thế giới của chúng ta đang sống Người ta cho rằng không

có ma quỷ thần linh Những người như vậy khi thắp hương cúng tổ tiên là vì họ coi đó

là một truyền thống, là một nét văn hóa để tưởng nhớ đến tổ tiên mà không hi vọng gì

tổ tiên phù hộ cho mình Hành vi của người này được xem là một hành vi văn hóa (tôn giáo chỉ là một phần của văn hóa) Còn theo cách hiểu thông thường: Người không có

Trang 16

đầu óc khoa học nghĩ về thế giới tâm linh là một thế giới gắn liền với ma quỷ và thần linh Ma quỷ, thần linh có thể phù hộ và có thể hại người và sống ở không gian khác đan xen vào thế giới mà chúng ta đang sống Những người như vậy khi thắp hương cúng tổ tiên là vì họ nghĩ rằng tổ tiên sẽ phù hộ Hành động thắp hương của người này được xem là hành vi tín ngưỡng tôn giáo

Có thể thấy, tâm linh là hiện tượng tâm lý của xã hội, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội và cả chính trị, vì vậy có tính chất phức tạp, rất dễ bị lợi dụng Thực tế, trong quá trình phát triển xã hội như hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, trình độ, nhận thức của con người ngày càng phát triển; song, bên cạnh đó còn nhiều yếu tố, nhiều hiện tượng chưa thể lý giải được như vấn đề rủi ro trong tai nạn lao động, tai nạn giao thông, thiên tai, giàu nghèo, chức quyền, bệnh tật và những hiện tượng huyền bí khác Trong xu thế phát triển, con người chúng ta đang mong muốn tìm hiểu, khám phá những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống, có người đi du lịch tâm linh đến với các di tích, công trình tôn giáo, tham gia các lễ hội là để tìm về cội nguồn, để tưởng nhớ công đức của các anh hùng dân tộc, bày tỏ tôn kính thánh thần, thể hiện tự do tín ngưỡng và chiêm ngưỡng các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng Có người đi du lịch là để được tham quan thắng cảnh, được thưởng thức không khí trong lành, yên tĩnh, thưởng thức nghệ thuật văn hóa dân gian, được tham gia vào các trò chơi, được giải tỏa tâm linh và thưởng thức đặc sản, hòa hợp với cộng đồng Lại có người suy nghĩ đến chốn linh thiêng để cầu may mắn, cầu duyên nợ, để có được tình yêu, gặp gỡ, giao tiếp,… và không ít người lợi dụng vấn đề “tâm linh” nhạy cảm đã làm những việc tiêu cực Vừa qua, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có thông báo chấn chỉnh về tình hình lễ hội, tâm linh, ngoại cảm; Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có các văn bản quy hoạch, phát triển văn hóa, phát triển du lịch văn hóa, du lịch tâm linh nhằm định hướng cho mọi người có nhận thức đúng đắn về vấn đề tâm linh, thực hiện nếp sống văn minh, phê phán các hành vi lợi dụng lễ hội, tín ngưỡng, tâm linh để hoạt động mê tín, dị đoan, kinh doanh trục lợi

5.1.3 1.1.1.3 Phân biệt tâm linh với tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín dị đoan

Theo các nhà nghiên cứu, hoạt động tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo đều là hiện tượng xã hội đa chiều, là nhu cầu của một bộ phận nhân dân Tâm linh, tín ngưỡng và tôn giáo tuy có sự khác nhau về ngữ nghĩa, nội dung, song trong thực tế cuộc sống lạicó mối quan hệ khá chặt chẽ, khó phân biệt ranh giới giữa chúng

Trang 17

Tại Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016) đã giải thích khá rõ thuật ngữ, tín

ngưỡng và tôn giáo Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua

những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về

tinh thần cho cá nhân và cộng đồng Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ

tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo

đức xã hội Lễ hội tín ngưỡng là hoạt động tín ngưỡng tập thể được tổ chức theo lễ nghi truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng Cơ sở tín ngưỡng là

nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng như đình, đền, miếu, nhà thờ dòng

họ và những cơ sở tương tự khác Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ

thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và

tổ chức Sinh hoạt tôn giáo là việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc,

chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được

Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo Cơ sở tôn giáo gồm

chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo

Mê tín dị đoan là tin theo một cách mù quáng vào những điều nhảm nhí gây tổn

hại về sức khỏe, tài sản, tính mạng và tổn phí về thời gian cho cá nhân, gia đình và xã hội Mê tín dị đoan là một hiện tượng xã hội tiêu cực xuất hiện từ lâu và vẫn đang tồn tại trong xã hội hiện nay Hiện tượng mê tín dị đoan thường gắn liền với các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo Trên thực tế, mê tín dị đoan thường xen vào các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo Việc xác định hiện tượng mê tín dị đoan chủ yếu dựa vào biểu hiện và hậu quả tiêu cực của nó Vì vậy, cùng với việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh của mọi người thì đồng thời phải loại

bỏ dần mê tín di đoan nhằm làm lành mạnh hóa đời sống tâm linh xã hội

1.1.2 Khái niệm về du lịch và du lịch văn hóa tâm linh

5.1.4 1.1.2.1 Khái niệm về du lịch

Du lịch được hình thành và phát triển khá lâu trên thế giới Thuật ngữ “Du lịch”

là từ được bắt nguồn từ “Tour” của tiếng Pháp, có nghĩa là đi vòng quanh, làcuộc dạo chơi Du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi, nâng cao sức khỏe và khả năng lao động của con người Năm 1963, tại Roma nước Ý, trong Hội nghị đặc biệt quan trọng của Liên hợp quốc về du lịch, các tác giả đã thống nhất quan điểm đưa

Trang 18

ra định nghĩa chung về du lịch Theo đó, Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan

hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của

cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ

Trong Luật Du lịch Việt Nam (2005), khái niệm du lịch được xác định là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định

5.1.5 1.1.1.2 Khái niệm về du lịch văn hóa tâm linh

Theo một số tác giả, thuật ngữ “Du lịch tâm linh” trong tiếng Anh gọi là spiritual tourism, còn tiếng Hán Việt gọi là hành hương, chiêm bái, có nghĩa là du lịch, thưởng ngoạn phong cảnh những nơi linh thiêng mang màu sắc tín ngưỡng tôn giáo, qua đó con người nhận ra những giá trị tinh thần đạo đức Tác giả Alex Norman quan niệm “ Du lịch tâm linh có đặc trưng là du khách sẽ cố tìm kiếm lợi ích tinh thần thông qua việc thực hành nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch” (Alex Norman, 2011)

Năm 2013, tại Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững được tổ chức ở tỉnh Ninh Bình (Việt Nam) đã thu hút nhiều quan khách và diễn giả tham dự Tại hội nghị này, Ông Zoltan Somogyu, Phó Tổng thư ký Tổ chức Du lịch thế giới khẳng định rằng “Trong xu hướng phát triển của du lịch thế giới, du lịch tâm linh tiếp tục được nhấn mạnh Những năm qua, lượng khách đi du lịch tâm linh không ngừng tăng cao, trong đó Việt Nam nổi tên là một đất nước có nhiều tiềm năng về du lịch tâm linh” Phó chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Thị Doan nhấn mạnh "Việt Nam coi du lịch tâm linh là loại hình du lịch văn hóa chuyên

đề, một nhân tố quan trọng không chỉ mang lại sự tăng trưởng của nền kinh tế mà còn phát huy giá trị tinh thần, lòng yêu nước, niềm tin, tăng cường khối đại đoàn kết dân

tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước"

Trong bài tham luận tại Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững, tác giả Nguyễn Văn Tuấn, Cục trưởng cục Di lịch đã nêu: Xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố

Trang 19

văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác (Nguyễn Văn Tuấn, 2013)

Nhóm tác giả khác đã viết: Phát triển du lịch văn hóa tâm linh ngoài mang lại các lợi ích kinh tế - xã hội - văn hóa cho nơi đến như những loại hình du lịch khác, còn giúp những người thực hiện chuyến du lịch hướng tinh thần của mình lên cao trong việc tìm kiếm mục đích cao cả và những giá trị có khả năng nâng cao phẩm giá cho cuộc sống và bản thân họ nếu sự phát triển du lịch diễn ra đúng hướng (Nguyễn Trọng Nhân, Cao Mỹ Khanh, 2014) Tác giả Hồ Kỳ Minh nêu quan niệm nhấn mạnh rằng:

Du lịch tâm linh hiện nay được thể hiện trên nhiều cung bậc, nhiều dạng Dạng thứ nhất, đó là những hoạt động tham quan, vãn cảnh tại các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng Đây là dạng hẹp nhất, chưa thể hiện được ý nghĩa của hoạt động du lịch này nhưng lại

là hoạt động phổ biến nhất hiện nay Dạng thứ hai được mở rộng hơn với cách hiểu là tìm đến các địa điểm, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo bên cạnh tham quan vãn cảnh thì còn

để cúng bái, cầu nguyện Dạng này có mở rộng hơn nhưng mới chỉ phù hợp với những đối tượng có theo tôn giáo, tín ngưỡng Dạng thứ ba có mục đích chính là tìm hiểu các triết lý, giáo pháp khiến cho con người trầm tĩnh, để tâm hồn thư thái, cải thiện sức khỏe và cảm nhận chính bản thân mình (Hồ Kỳ Minh, 2013)

Luật Du lịch Việt Nam đã xác định “Du lịch văn hóa” là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

5.1.6 1.1.2.3 Sự đặc thù khác biệt của du lịch văn hóa tâm linh

Xét về góc độ du lịch tâm linh trên nhiều khía cạnh có nhiều lý thuyết luận giải khác nhau bởi sự nhận thức vấn đề ỡ những mức độ khác nhau Song, nhiều tác giả đồng tình cao với 04 đặc trưng của du lịch tâm linh Việt Nam đã được tác giả Nguyễn Văn Tuấn trình bày tại Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững (Nguyễn Văn Tuấn, 2013), đó là:

- Du lịch tâm linh gắn với tôn giáo và đức tin Triết lý phương đông, đức tin, giáo pháp, những giá trị vật thể và phi vật thể gắn với những thiết kế, công trình tôn giáo là

Trang 20

những ngôi chùa, tòa thánh và những công trình văn hóa tôn giáo gắn với các di tích là đối tượng mục tiêu hướng tới của du lịch tâm linh

- Du lịch tâm linh với tín ngưỡng thờ cúng, tri ân những vị anh hùng dân tộc, những vị tiền bối có công với đất nước, dân tộc trở thành du lịch về cội nguồn dân tộc với đạo lý uống nước nhớ nguồn

- Du lịch tâm linh gắn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân báo hiếu đối với bậc sinh thành

- Du lịch tâm linh gắn với những hoạt động thể thao tinh thần như thiền, yoga hướng tới sự cân bằng, thanh tao, siêu thoát trong đời sống tinh thần, đặc trưng Ngoài

ra du lịch tâm linh còn có những hoạt động gắn với yếu tố linh thiêng và những điều huyền bí

Từ nghiên cứu của các tài liệu và tác giả nêu trên, cho thấy khái niệm “Du lịch văn hóa tâm linh” và những đặc trưng của chúng cho đến nay vẫn chưa hoàn chỉnh cần phải tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ

1.1.3 Các yếu tố liên quan đến phát triển du lịch văn hóa tâm linh

5.1.7 1.1.3.1 Điểm đến du lịch văn hóa tâm linh

Trong Luật Du lịch Việt Nam, xác định “Điểm du lịch” là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch Điều kiện công nhận điểm du lịch bao gồm: 1) Có tài nguyên du lịch, có ranh giới xác định; 2) Có kết cấu hạ tầng, dịch

vụ cần thiết bảo đảm phục vụ khách du lịch; 3) Đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự,

an toàn xã hội, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Khu du lịch là khu vực

có ưu thế về tài nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tỉnh và khu du lịch quốc gia

Điều kiện công nhận khu du lịch cấp tỉnh bao gồm: a) Có tài nguyên du lịch với

ưu thế về cảnh quan thiên nhiên hoặc giá trị văn hóa, có ranh giới xác định; b) Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống và các nhu cầu khác của khách du lịch; c) Có kết nối với hệ thống hạ tầng giao thông, viễn thông quốc gia; d) Đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật

Điều kiện công nhận khu du lịch quốc gia bao gồm: a) Có tài nguyên du lịch đa dạng, đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên hoặc giá trị văn hóa, có

Trang 21

ranh giới xác định; b) Có trong danh mục các khu vực tiềm năng phát triển khu du lịch quốc gia được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; c) Có kết cấu hạ tầng, cơ

sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ chất lượng cao, đồng bộ, đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống và các nhu cầu khác của khách du lịch; d) Các điều kiện khác theo quy định của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong Luật Du lịch Việt Nam về Bảo đảm an toàn cho khách du lịch, đã xác định: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,

có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu du lịch, điểm du lịch Tổ chức, cá nhân quản lý khu du lịch, điểm du lịch có biện pháp phòng, tránh rủi ro và tổ chức bộ phận bảo vệ, cứu hộ, cứu nạn cho khách du lịch Tổ chức, cá nhân kinh doanh

du lịch có trách nhiệm cảnh báo nguy cơ gây nguy hiểm cho khách du lịch; thông báo, chỉ dẫn kịp thời cho khách du lịch trong trường hợp khẩn cấp; áp dụng biện pháp cần thiết, phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc cứu hộ, cứu nạn cho khách du lịch

Theo Quyết định của Bộ Trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc ban hành bộ tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch, đã xác định: Khu du lịch gồm các khu du lịch đã được đầu tư phát triển du lịch, hàng năm đón được từ 500.000 lượt khách du lịch trở lên Còn điểm du lịch gồm các điểm du lịch đã được đầu tư phát triển du lịch, hàng năm đón được từ 50.000 lượt khách du lịch trở lên

Như vậy, điểm du lịch, khu du lịch văn hóa tâm linh có thể tạm hiểu là nơi có tài nguyên du lịch văn hóa, có các giá trị văn hóa, được cơ quan nhà nước công nhận, quản lý, khai thác để phục vụ nhu cầu du lịch tâm linh của khách du lịch

5.1.8 1.1.3.2 Khách du lịch văn hóa tâm linh

Trong Luật Du lịch Việt Nam, xác định “Khách du lịch” là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam

du lịch Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú

ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài

Theo các chuyên gia về du lịch, thông thường khách đi du lịch hầu như kết hợp

Trang 22

với mục đích tâm linh hoặc mục đích tâm linh được lồng ghép trong chuyến đi du lịch Thực tế cho thấy, mọi người có thể đi du lịch văn hóa tâm linh với nhiều mục đích khác nhau nhưng có thể nói điểm chính là giải tỏa nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần trong cuộc sống hàng ngày Khách du lịch là người tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ du lịch và là một yếu tố quyết định đầu ra của sản phẩm du lịch, có ảnh hưởng hết sức quan trọng đến các hoạt động về hoạch định chiến lược và sách lược kinh doanh của các doanh nghiệp, tổ chức làm du lịch Sự tín nhiệm và lòng trung thành của khách du lịch là tài sản có giá trị quan trọng, tạo nên hình ảnh đẹp của điểm đến du lịch, đem lại

sự phát triển du lịch bền vững Sự tín nhiệm của khách du lịch chỉ có thể đạt được khi biết thõa mãn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng

5.1.9 1.1.3.3 Tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh

Theo Luật Du lịch Việt Nam, khái niệm “Tài nguyên du lịch” được xác định là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch Tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh có thể hiểu bao gồm di tích lịch

sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch tâm linh

Luật Di sản văn hóa Việt Nam (2001) đã xác định: Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; c) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; d) Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; đ) Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây: a) Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu; b) Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn

Trang 23

phát triển của trái đất

5.1.10 1.1.3.4 Di sản văn hóa trong du lịch văn hóa tâm linh

Luật Di sản văn hóa Việt Nam (2001) xác định: Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng

hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có

giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục

truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác Di sản văn hóa vật thể là sản

phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới Luật Di sản văn hóa Việt Nam đã quy định, Nhà nước thống nhất quản lý di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân; công nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác

về di sản văn hóa theo quy định của pháp luật Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích: Phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội; phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế Nhà nước nghiêm cấm các hành vi sau đây: Chiếm đoạt, làm sai lệch

di sản văn hóa; hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa; đào bới trái phép địa điểm khảo cổ; xây dựng trái phép; lấn chiếm đất đai thuộc di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; mua bán, trao đổi và vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đưa trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài; lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để thực hiện những hành vi trái pháp luật

Trang 24

5.1.11 1.1.2.5 Cơ sở vật chất du lịch văn hóa tâm linh

Cơ sở vật chất- kỹ thuật du lịch là nguồn lực quan trọng để phát triển ngành du lịch Đó là hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật được sử dụng để phục vụ cho

du lịch và di lịch văn hóa tâm linh, như: tài nguyên du lịch, thiết bị, phương tiện, công trình cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, công trình điện nước; hệ thống các cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống, mua sắm, các cơ sở thể thao, vui chơi giải trí, các cơ sở y tế, các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hoá, các cơ

sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác…

Theo Quyết định số 4640/QĐ-BVHTTDL ngày 28 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xác định có 5 tiêu chí quan trọng để đánh giá cơ sở vật chất điểm đến du lịch là: hệ thống đường giao thông; Biển báo chỉ dẫn tiếp cận khu du lịch bằng đường bộ, đường thủy; Đường giao thông nội bộ; Hệ thống điện; Hệ thống cấp, thoát nước Như vậy, tiêu chí để đánh giá cơ sở vật chất du lịch văn hóa tâm linh cũng dựa theo những tiêu chí này

5.1.12 1.1.2.6 Sản phẩm và dịch vụ du lịch văn hóa tâm linh

Theo quan điểm cổ điển, sản phẩm là tổng thể các đặc tính vật chất, những yếu

tố có thể quan sát, được tập hợp trong một hình thức đồng nhất là vật mang giá trị sử dụng Nhưng người tiêu dùng mua sản phẩm không đơn thuần vì giá trị sử dụng hay mục đích sử dụng thuần túy của sản phẩm đó Mục tiêu của kinh doanh là sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả để tạo ra sản phẩm giúp cuộc sống của mọi người trở nên tốt đẹp hơn

Trên quan điểm marketing, khái niệm sản phẩm được hiểu một cách sâu sắc

hơn Trước hết, sản phẩm là những gì mà doanh nghiệp cung cấp, gắn liền với việc

thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của khách hàng nhằm thu hút sự chú ý, mua sắm hay

sử dụng chúng Thứ hai, sản phẩm của mỗi doanh nghiệp thường có những điểm khác

biệt về yếu tố vật chất hoặc yếu tố tâm lý (tùy thuộc vào đặc điểm của ngành hàng, quan điểm của mỗi doanh nghiệp mà họ tập trung vào những yếu tố này theo những cách thức khác nhau) Với quan điểm trên, có thể xem xét một sản phẩm ở 03 cấp độ sau: 1) về cốt lõi sản phẩm, đó chính là lợi ích sản phẩm mà khách hàng cần tìm kiếm

ở sản phẩm; 2) về sản phẩm cụ thể, bao gồm chất lượng, thương hiệu, nhãn hiệu…nhằm để thõa mãn nhu cầu khách hàng; 3) về sản phẩm tăng thêm, đó là các dịch vụ bổ sung như tư vấn, thông tin….(Trần Thị Ngọc Trang, 2007, trang 164)

Trong Luật Du lịch Việt Nam, khái niệm “Sản phẩm du lịch” đã xác định là tập

Trang 25

hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch

Theo các chuyên gia Du lịch, trên thị trường có nhiều loại hình dịch vụ du lịch,

Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) đã thống kê có tới 70 dịch vụ trực tiếp và trên 70 dịch vụ gián tiếp liên quan đến hoạt động du lịch Sản phẩm du lịch có hai loại sản phẩm du lịch chủ yếu cơ bản là sản phẩm du lịch hữu hình và sản phẩm du lịch vô hình Sản phẩm du lịch hữu hình tồn tại ở dạng vật thể như: Đồ lưu niệm, các món ăn,

đồ uống khách du lịch sử dụng trong nhà hàng… Sản phẩm dạng này chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong sản phẩm du lịch nói chung Sản phẩm du lịch vô hình, tồn tại ở dạng phi vật thể và chỉ có thể biết được thông qua cảm nhận của khách du lịch Dạng này mang tính dịch vụ bao gồm: dịch vụ lưu trú và các dịch vụ bổ sung ở các cơ sở lưu trú; các dịch vụ của các tổ chức du lịch; dịch vụ giải trí công cộng ở các cơ sở du lịch; các dịch

vụ vận tải du lịch…

Qua nghiên cứu các khái niệm trên, có thể hiểu sản phẩm, dịch vụ du lịch tâm linh là một loại hàng hóa đặc biệt do nhiều loại dịch vụ và hàng hóa hợp thành với mục đích cơ bản là thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong quá trình đi du lịch tâm linh Hiện nay, đang phát triển nhiều sản phẩm, dịch vụ du lịch văn hóa tâm linh; các doanh nghiệp lữ hành đang tập trung khai thác các tour du lịch tâm linh, đưa du khách tham quan các điểm đến danh lam thắng cảnh, tìm hiểu văn hóa gắn với lịch sử tôn giáo và lối sống bản địa v v…đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách du lịch, góp phần làm phong phú, đa dạng sản phẩm du lịch

Trong hoạt động du lịch, yếu tố nguồn nhân lực cực kỳ quan trọng vì mọi quyết định liên quan đến quá trình phục vụ khách hàng và quản trị đều do con người quyết định và khả năng cạnh tranh trên thị thường mạnh hay yếu, văn hóa tổ chức tốt hay chưa tốt …đều xuất phát từ trí tuệ, hành vi văn hóa của con người Vì vậy, nhân lực

du lịch là yếu tố đầu tiên trong các nguồn lực mà các nhà quản trị du lịch cần xem xét, nghiên cứu để quyết định nhiệm vụ, mục tiêu và những giải pháp cần thực hiện trước

Trang 26

mắt và lâu dài

Quản trị nguồn nhân lực là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp Quản trị nguồn nhân lực là chức năng cơ bản của quá trình quản trị nhằm giải quyết tất cả những vấn

đề liên quan đến con người gắn liền với công việc của họ trong một tổ chức nhất định

Để khai thác có hiệu quả các nguồn lực, phải biết kết hợp phát huy nguồn nhân lực với các nguồn lực quan trọng khác như nguồn lực vật chất (máy móc, trang thiết bị,…), nguồn lực tài chính, và nhiều nguồn lực vô hình quan trọng như: tư tưởng chi đạo, triết

lý kinh doanh, chiến lược, cơ cấu tổ chức, thông tin, uy tín tổ chức, văn hóa tổ chức…

5.1.14 1.1.2.8 Giả cả sản phẩm, dịch vụ

Theo các nhà nghiên cứu Marketing, giá cả là một trong những điều kiện của giao dịch trao đổi giữa những khách hàng sẵn mua và công ty sẵn bán một sản phẩm nào đó Giá cả là những chi phí bằng tiền mà người mua phải bỏ ra để có được những lợi ích mà họ tìm kiếm ở hàng hoá, dịch vụ đó Song trên thị trường mỗi loại hàng hóa đều phải bán theo một giá thống nhất đó là giá cả thị trường dựa trên cơ sở giá trị thị trường Thông qua giá, khách hàng sẽ cảm nhận về lợi ích và giá trị thu được nếu họ chọn mua sản phẩm hay dịch vụ Giá đóng vai trò quyết định trong việc mua sản phẩm này hay sản phẩm khác đối với khách hàng và là vũ khí cạnh tranh sắc bén trong thị trường Thực tế cho thấy, một sản phẩm hay dịch vụ tốt chỉ khi người tiêu dùng cho rằng nó tốt và một giá cả phù hợp chỉ được quan tâm khi mà người tiêu dùng cảm nhận rằng nó đáp ứng được những nhu cầu lợi ích (chất lượng dịch vụ) mà họ khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ theo cảm nhận chủ quan của họ

Trong hoạt động du lịch, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sản phẩm, dịch cụ của khách hàng, đó là các vấn đề về văn hóa dân tộc (Quốc tịch, tôn giáo, tầng lớp xã hội,,.,hoặc các yếu tố xã hội (vai trò và địa vị xã hội, gia đình, quan hệ ), các yếu tố cá nhân (tuổi tác, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống , hay các yếu tố cá nhân (động

cơ, sự cảm nhận, sự hiểu biết, niềm tin, thái độ) Trong đó, các yếu tố về văn hóa là yếu tố cơ bản quyết định ý muốn và hành vi của một người Vì vậy, việc xây dựng chiến lược định giá sản phẩm, dịch vụ du lịch phù hợp với thị trường là điều kiện cực

kỳ quan trọng đảm bảo cho hoạt động du lịch kinh doanh có hiệu quả

5.1.15 1.1.2.9 Bầu không khí điểm đến du lịch

Bầu không khí điểm đến du lịch là yếu tố thuộc về cảm xúc của khách du lịch Bầu không khí điểm đến đóng vai trò rất quan trọng hoạt động du lịch nhất là du lịch văn hóa tâm linh, đây được xem là điểm nhấn quan trọng về xây dựng hình ảnh điểm

Trang 27

đến du lịch, là nhân tố có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch Theo các nhà nghiên cứu, bầu không khí điểm đến du lịch văn hóa tâm linh là môi trường du lịch dễ chịu, thú vị, hấp dẫn, lịch sự, thân thiện, văn minh, lành mạnh, thanh tịnh, không khí trong lành, đem lại cảm giác tinh thần thoải mái cho khách du lịch tham quan, vãn cảnh chiêm bái, cầu nguyện

Trong Luật Du lịch Việt Nam đã xác định: Môi trường du lịch phải được bảo

vệ, tôn tạo và phát triển theo hướng xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, ban hành quy định nhằm bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch Chính quyền địa phương các cấp có biện pháp bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh trong hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động của mình gây ra đối với môi trường; có biện pháp phòng, chống

tệ nạn xã hội trong hoạt động kinh doanh của mình Khách du lịch, cộng đồng dân cư

và tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc; có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự nhằm nâng cao hình ảnh đất nước, con người và du lịch Việt Nam

Trong thực tế hoạt động kinh doanh du lịch cũng như trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác, cho thấy rằng nơi nào chú trọng xây dựng được một bầu không khí văn hóa, văn minh sẽ tạo nhiều ấn tượng, tình cảm tích cực của khách hàng dẫn dến thu hút sự quan tâm của khách hàng, đem lại các lợi ích quan trọng như doanh thu, uy tín, sự tôn trọng và ngược lại, khi nơi ấy có bầu không khí du lịch tẻ nhạt, thiếu văn hóa sẽ tạo ra cảm xúc, tâm trạng, niềm tin tiêu cực từ phía khách hàng, dẫn đến những hậu quả khó lường và phải củng cố khắc phục trong thời gian dài

5.1.16 1.1.2.10 Sự hài lòng của du khách

Theo Philip-Kotier, sự thỏa mãn- sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so với mong đợi của người đó Sự hài lòng của khách hàng tùy thuộc vào hiệu quả hay lợi ích của sản phẩm, dịch vụ mang lại so với những gì mà họ đang kỳ vọng

Các nhà nghiên cứu đã phân chia sự hài lòng của khách hàng thành 3 loại mức độ:Hài lòng tích cực (Demand customer satisfaction); hài lòng ổn định (Stable customer satisfaction) và hài lòng thụ động (Resigned customer satisfaction)

Mức độ hài lòng tích cực (Demand customer satisfaction) là trạng thái cảm giác

Trang 28

của khách hàng được thể hiện thông qua nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ ngày càng tăng lên Theo đó, yêu cầu nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ phải không ngừng nổ lực đáp ứng nhu cầu của khách hàng Thông thường những khách hàng hài lòng tích cực thường dễ trở thành khách hàng trung thành của nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ

Mức độ hài lòng ổn định (Stable customer satisfaction) là trạng thái cảm giác của khách hàng thể hiện sự bằng lòng, tin tưởng với những sản phẩm, dịch vụ, không muốn có sự thay đổi Thông thường, đối tượng khách hàng này sẵn lòng tiếp tục sử dụng sản phẩm, dịch vụ

Mức độ hài lòng thụ động (Resigned customer satisfaction) là trạng thái cảm giác thể hiện sự ít tin tưởng vào sản phẩm, dịch vụ của nhà cung cấp Thông thường, đối tượng khách hàng này không tiêu dùng hoặc không có ý kiến của sản phẩm, dịch

vụ của nhà cung cấp

Trong hoạt động du lịch, sự hài lòng của khách du lịch là một trong những nhóm tiêu chí quan trọng để xem xét đánh giá chất lượng dịch vụ, chất lượng môi trường và tính hấp dẫn của các điểm đến, các khu di lịch Theo Đề án của Bộ trưởng

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về ban hành Bộ tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch thì

để định lượng sự hài lòng của du khách đối với khu du lịch, điểm du lịch, cần sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp du khách Sự hài lòng của khách du lịch đối với khu

du lịch, điểm du lịch được tính bằng trị trung bình của 6 nhân tố: Cơ sở vật chất, khả năng tiếp cận, yếu tố môi trường, sự hấp dẫn, năng lực phục vụ và giá cả hàng hóa, dịch vụ

1.2 Tổng quan nghiên cứu một số công trình liên quan đến Du lịch và Du lịch văn hóa tâm linh

Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu Du lịch và Du lịch văn hóa tâm linh bằng phương pháp định tính hoặc phương pháp tổng hợp giữa định tính và định lượng, tiêu biểu như:

1.2.1 Công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về du lịch ở các nước, trong đó đáng lưu ý

là công trình nghiên cứu của tác giả Beerli (2004) về “Các yếu tố và thuộc tính của hình ảnh điểm đến du lịch” Trong công trình nghiên cứu này, Beerli đã khảo sát, phân tích bằng định lượng 9 nhân tố đo lường hình ảnh điểm đến của du khách: 1) Tài nguyên thiên nhiên (Khí hậu; những bãi biển; sự phong phú của phong cảnh; sự đa dạng và độc đáo của hệ động vật và thực vật); 2) Cơ sở hạ tầng chung (Sự phát triển

và chất lựợng hệ thống đường giao thông, sân bay và cảng; các phương tiện vận tải cá

Trang 29

nhân và công cộng; sự phát triển của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; sự phát triển của viễn thông; sự phát triển của những kết cấu hạ tầng thương mại; mức độ phát triển xây

dựng); 3) Cơ sở hạ tầng du lịch (Khách sạn và những nơi lưu trú tự phục vụ ăn uống;

nhà hàng; bar, vũ trường và club; sự dịu dàng trong việc tiếp cận những điểm đến; những chuyến tham quan các điểm đến; những trung tâm du lịch; mạng thông tin du

lịch); 4) Môi trường tự nhiên (Vẻ đẹp của cảnh quan; vẻ đẹp của các thành phố và thị

trấn; sự sạch sẽ; tình trạng quá đông đúc; ô nhiễm không khí và tiếng ồn; tình trạng tắc

nghẽn giao thông); 5) Môi trường xã hội (Lòng mến khách và thân thiện của người dân

địa phương; sự thiệt thòi về quyền lợi (bất bình đẳng) và nghèo đói; chất lượng cuộc

sống; rào cản ngôn ngữ ); 6) Bầu không khí của địa điểm (Ðịa điểm sang trọng; địa

điểm lịch sự; địa điểm có danh tiếng và uy tín; địa điểm được định hướng cho các gia đình; địa điểm có vẻ đẹp lạ; địa điểm mang tính thần bí; địa điểm thư giãn; địa điểm tạo ra sự căng thẳng; địa điểm thú vị và vui vẻ; địa điểm dễ chịu; địa điểm giải tỏa

những buồn chán); 7) Vui chơi giải trí du lịch (Công viên giải trí; giải trí và các hoạt

động thể thao; đi bộ khám phá những nơi còn hoang sơ, không thuận tiện giao thông;

những hoạt động mạo hiểm; sòng bài; cuộc sống về đêm; mua sắm); 8) Văn hóa, lịch

sử và nghệ thuật (Bảo tàng, những công trình lịch sử, di tích; lễ hội, hòa nhạc; làng

nghề; nghệ thuật ẩm thực; văn hóa dân gian; tôn giáo; những nét văn hóa và lối sống);

9) Những yếu tố chính trị và kinh tế (Sự ổn định chính trị; những khuynh hướng chính

trị; sự phát triển kinh tế; sự an toàn; giá cả )

1.2.2 Công trình nghiên cứu trong nước

5.1.17 1.2.2.1 Các công trình nghiên cứu bằng phương pháp định tính

Đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh về “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị” (Hồ Kỳ Minh,

2013) đã đi sâu nghiên cứu về một số vấn đề lý luận về loại hình du lịch văn hóa tâm linh, các mô hình du lịch tâm linh trên thế giới và vận dụng các lý luận, mô hình này

để đề xuất định hướng, những giải pháp quan trọng cho việc phát triển du lịch văn hóa tâm linh ở tỉnh Quảng Trị

Đề tài luận văn thạc sỹ Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn về

“Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định” (Nguyễn Thị Thu

Duyên, 2014) đã nghiên cứu, hệ thống những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa tâm linh, phân tích thực trạng tình hình và đề xuất nhiều giải pháp quan trọng để phát triển

du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định

Trang 30

Công trình nghiên cứu “Du lịch tâm linh tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Dương Đức Minh, 2016), tác giả đã khảo sát, tìm hiểu, nhận diện việc thực

hành du lịch tâm linh trên một số địa bàn trọng điểm ở tỉnh An Giang và kết hợp với các nguồn tài liệu thứ cấp đã khái luận các đặc điểm, điều kiện hình thành và tình hình khai thác du lịch tâm linh tại Việt Nam Từ đó, đưa ra những khuyến nghị nâng cấp chuỗi giá trị tâm linh

Tuy nhiên, ba công trình này chủ yếu nghiên cứu bằng phương pháp định tính

trên lĩnh vực khoa học công nghệ, Khoa học xã hội và Nhân văn nên chưa đi sâu khảo sát dữ liệu của khách du lịch để phân tích định lượng các yếu tố tác động đến du lịch tâm linh, từ đó kiểm chứng những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra

5.1.18 1.2.2.2 Các công trình, đề tài nghiên cứu bằng phương pháp tổng hợp (định tính và định lượng)

Công trình nghiên cứu về “Kết quả điều tra Chi tiêu khách du lịch năm 2013 tỉnh Bình Thuận” (Cục Thống kê Bình Thuận, 2013) đã tập trung khảo sát du khách về

06 yếu tố tác động tới sự lựa chọn điểm đến du lịch của du khách quốc tế đến Bình Thuận, gồm: 1) Điểm đến du lịch hấp dẫn; 2) Phương tiện đi lại thuận lợi; 3) Giá trị đồng tiền; 4) Thủ tục hải quan và nhập cảnh đơn giản; 5) Điểm đến an toàn; 6) yếu tố khác Từ đó, nhận định, đánh giá sự cảm nhận của du khách và kiến nghị nhiều giải pháp quan trọng để xây dựng hình ành điểm đến du lịch Bình Thuận

Đề tài luận văn Cao học “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Bình Thuận của du khách trong nước” của Khoa quản trị kinh doanh,

Trường Đại học công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (Hoàng Thanh Liêm, 2016), tác giả đã khảo sát 301 du khách và tiến hành nghiên cứu định lượng phân tích trên phần mềm SPSS Từ đó, đã đưa ra mô hình việc quyết định lựa chọn điểm đến du lịch Bình Thuận của du khách trong nước, gồm 6 nhóm yếu tố giả thuyết ảnh hưởng trực tiếp, gồm: (1) Nguồn nhân lực, (2) Giá cả dịch vụ hợp lý, (3) Sự đa dạng về các loại sản phẩm, dịch vụ, (4) Điểm đến an toàn, (5) Môi trường tự nhiên, (6) Cơ sở hạ tầng du lịch

Đặc biệt, công trình nghiên cứu về “Đánh giá của du khách đối với những điều kiện phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh An Giang” khoa Khoa học Xã hội và

Nhân văn, Trường Đại học Cần Thơ (Nguyễn Trọng Nhân- Cao Mỹ Khánh, 2014 ) Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả thực hiện khảo sát 120 mẫu, sử dụng phần mềm SPSS 16.0 for Windows để phân tích và đã đưa ra mô hình phát triển du lịch văn hóa tỉnh An Giang gồm 5 nhóm nhân tố tác động với 20 biến quan sát có giá trị, gồm:

Trang 31

Nhóm nhân tố 1- Về giá cả dịch vụ, nguồn nhân lực và tiện nghi với 9 biến quan sát

(Sự hợp lý cùa giá cả lưu trú; sự hợp lý của giá cả ăn uống; nhân viên cơ sở lưu trú luôn sẵn sàng phục vụ; thái độ phục vụ của nhân viên nhà hàng; nhân viên cơ sở lưu trú thân thiện và lịch sự; quán ăn sạch sẽ và đảm bảo vệ sinh sạch sẽ; sự hợp lý của giá

cả tham quan; sự hợp lý của giá cả mua sắm; phòng nghỉ rộng rãi, thoáng mát) Nhóm nhân tố 2- Về an ninh trật tự và an toàn, với 4 biến quan sát (Tình trạng trộm cắp; tình trạng ăn xin; tình trạng bán hàng rong và chèo kéo; tình trạng bói toán) Nhóm nhân tố 3- Về hàng hóa và bảo vệ môi trường, với 03 biến (Sự tiện lợi trong việc mua nhang đèn, lễ vật; sự đa dạng của hàng lưu niệm; công tác thu gom xử lý rác) Nhóm nhân tố 4- Giao thông vận tải, với 2 biến (Độ rộng của đường xá đến nơi tham quan; chất lượng mặt đường đến nơi tham quan) Nhóm nhân tố 5- Cơ sở vật chất, với 2 biến (Sự

đầy đủ thiết bị chứa đựng rác; nhà vệ sinh đầy đủ, sạch sẽ)

5.1.19 1.2.2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả

Để có căn cứ khoa học làm cơ sở cho việc đề xuất mẫu khảo sát và mô hình phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận, tác giả đã nghiên cứu các tài liệu, các công trình đề tài có liên quan nêu trên và vận dụng Bộ tiêu chí đánh giá điểm đến

du lịch của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cùng với các mẫu khảo sát, các yếu tố, các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu của tác giả Beerli, Hoàng Thanh Liêm, Nguyễn Trọng Nhân và Cao Mỹ Khánh và và tham khảo ý kiến chuyên gia, khách du lịch để chọn lọc các thành phần, các biến quan sát phù hợp, liên quan đến phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận

Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình phát triển du lịch tâm linh tỉnh Bình Thuận với giả thuyết gồm 08 yếu tố định lượng, trong đó có 01 biến phụ thuộc (sự hài lòng của khách du lịch về các điểm đến du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận) và

07 biến độc lập định lượng (Nguồn nhân lực; giá cả dịch vụ; sản phẩm, dịch vụ; cơ sở

hạ tầng; quản lý điểm đến; tài nguyên du lịch; bầu không khí điểm đến) và các các yếu

tố về thái độ, hành vi, cá nhân khách du lịch.(xem hình 1.1)

Trang 32

Hình 1.Mô hình đề xuất nghiên cứu của tác giả

1.3 Tóm lược chương 1:

Trong chương này đã trình bày, giới thiệu các cơ sở lý thuyết rất quan trọng liên quan về văn hóa, về du lịch, về du lịch văn hóa tâm linh và lý thuyết về các yếu tố (khái niệm) ảnh hưởng đến phát triển du lịch văn hóa tâm linh Tổng hợp, giới thiệu kết quả, kinh nghiệm nghiên cứu của một số công trình, mô hình phát triển du lịch tâm linh của một số tác giả tiêu biểu Trên cơ sở đó, đã đề xuất mô hình nghiên cứu mới về phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận với giả thuyết gồm 08 yếu tố định lượng, trong đó có 01 biến phụ thuộc

Trang 33

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN

HÓA TÂM LINH TỈNH BÌNH THUẬN 2.1 Khái quát chung về tỉnh Bình Thuận

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Bình Thuận là một tỉnh được nhiều du khách quốc tế và trong nước biết đến với thương hiệu du lịch “Biển xanh, cát trắng, nắng vàng”, nơi “Hội tụ xanh” Bình Thuận cũng là tỉnh đã được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê duyệt xây dựng Phan Thiết thành một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam Thiên nhiên đã ưu đãi cho Bình Thuận nhiều nguồn tài nguyên tương đối phong phú và

đa dạng để phát triển du lịch Khí hậu nắng ấm quanh năm, mưa thuận, gió hòa

Bình Thuận có vị trí địa lý kinh tế tiếp giáp liền kề với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giao lưu thuận lợi với các tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ Là tỉnh có vị trí nằm ở cực nam vùng Nam Trung Bộ; phía Bắc giáp Lâm Đồng và Ninh Thuận; phía tây giáp Đồng Nai; Tây Nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu; phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông với 192 km bờ biển Bình Thuận nằm cách thành phố Hồ Chí Minh -Trung tâm kinh tế cả nước gần 200 km; cách thành phố du lịch Nha Trang khoảng 250 km; có tuyến đường sắt Bắc -Nam, tuyến quốc lộ 1A đi dọc qua tỉnh, có các quốc lộ 55, 28, 20 đi qua các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Lâm Đồng và Nam Tây Nguyên Tỉnh có 10 đơn vị hành chính bao gồm: 01 thành phố, 01 thị xã, 08 huyện (trong đó có huyện đảo Phú Quý) và 127 xã, phường, thị trấn, 706 thôn, khu phố Thành phố Phan Thiết là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh

Về tiềm năng du lịch: Bình Thuận bờ biển trải dài 92 km, đã và đang thu hút các nhà đầu tư xây dựng phát triển các du lịch ở các lĩnh vực như du lịch thể thao, nghỉ dưỡng biển, du thuyền, câu cá và nhiều hoạt động vui chơi giải trí hấp dẫn khác Bên cạnh đó, còn có vùng rừng, núi rộng lớn với 351.467 ha chiếm 45% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh (số liệu khảo sát của UBND tỉnh Bình Thuận năm 2014) với nguồn tài sinh thái khá đa dạng Tài nguyên nước và thủy năng khá lớn để phát triển tiềm năng thủy điện và du lịch sinh thái, đã hình thành 21 hồ chứa nước lớn, nhỏ như: Hồ Cà Giây, Hồ Sông Quao, Hồ Hàm Thuận- Đa Mi, Hồ Tà Pao, Hồ Sông Dinh, Hồ KaPet,

La Ngà…

Tiềm năng thuỷ sản phục vụ du lịch dồi dào Biển Bình Thuận là một trong những ngư trường lớn của cả nước, rộng 52.000 km2 , trữ lượng hải sản từ 220.000 đến

Trang 34

240.000 tấn, với nhiều loại hải sản đặc sản quý hiếm có giá trị kinh tế, chất dinh dưỡng cao như mực, tôm, điệp, sò lông, dòm, bàn mai, nhiều loại cá quý…vv Diện tích ven sông ven biển có khả năng phát triển nuôi tôm bán thâm canh khoảng 1.000 ha Các vùng ven biển và đảo có thể phát triển nuôi cá lồng bè các loại hải đặc sản như cá Mú, Tôm hùm, Cua Huỳnh Đế Trên biển Đông, huyện đảo Phú Quý rất gần đường hàng hải quốc tế, là điểm giao lưu Bắc Nam và ngư trường Trường Sa, thuận lợi để phát triển ngành chế biến hải sản, phát triển dịch vụ hàng hải, du lịch

Nông - lâm nghiệp Bình Thuận phát triển đa dạng, toàn tỉnh có hơn 200 ngàn ha đất nông nghiệp, với nhiều loại cây trồng chính là lương thực, điều, cao su, thanh long ; trong đó thanh long là sản phẩm nổi tiếng, sản lượng hàng năm khoảng 140 ngàn tấn Công nghiệp Bình Thuận phát triển khá ổn định, tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 16 - 17%; công nghiệp chế biến xuất khẩu sử dụng nguyên liệu lợi thế của địa phương có xu hướng phát triển nhanh Một số sản phẩm tăng khá như thuỷ sản chế biến, may mặc, vật liệu xây dựng, nước khoáng, hàng thủ công mỹ nghệ Nhiều sản phẩm truyền thống của địa phương tăng nhanh về sản lượng và số lượng xuất khẩu như: hàng hải sản, nông sản chế biến, hàng may mặc, sa khoáng…

Kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật đã được cải thiện đáng kể, ngày càng đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Hệ thống giao thông đã được cải tạo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, đã nâng cấp các tuyến giao thông chính như Quốc lộ 1A, Quốc lộ

55, Quốc lộ 28; ga hành khách - du lịch Mương Mán; cảng Phan Thiết, La Gi, Phan Rí Cửa, Phú Quý Hiện nay các địa bàn trong tỉnh đều có điện; nguồn cung cấp điện được bảo đảm từ lưới điện quốc gia Hệ thống cấp nước đã được cải tạo, mở rộng cung cấp

đủ nước cho đô thị, khu du lịch, khu công nghiệp Hệ thống thông tin liên lạc thường xuyên được nâng cấp, mở rộng và hiện đại hoá

2.1.3 Kinh tế, xã hội tỉnh Bình Thuận

Bình Thuận có nhiều thành phần dân tộc phát triển ổn định, hòa hợp, đoàn kết Theo số liệu thống kê năm 2013 của Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, toàn tỉnh có 35 dân tộc sinh sống với dân số 1.201.239 người Trong đó, có 34 thành phần dân tộc thiểu số với 88.807 khẩu, chiếm tỉ lệ 7,4% dân số toàn tỉnh; đông nhất là dân tộc Chăm 35.734 khẩu (chiếm 40,24%), dân tộc Raglai 15.860 khẩu (17,86%), dân tộc Cờ Ho 11.503 khẩu (12,95%), dân tộc Hoa 10.565 khẩu (11,9%), dân tộc Tày 5.357 khẩu (6,03%), dân tộc Chơro 3.489 khẩu (3,93%), dân tộc Nùng 2.744 khẩu (3,09%), dân tộc Gia Rai 979 khẩu (1,1%) Các dân tộc thiểu số còn lại có dân số rất ít từ dưới 0,01

Trang 35

đến dưới 0,1% so với dân tộc thiểu số trong tỉnh Người dân các dân tộc thiểu số ở Bình Thuận định cư sinh sống tập trung ở 17 xã thuần và 32 thôn xen ghép thuộc 8/10 huyện, thị xã, thành phố Mỗi thành phần dân tộc trong tỉnh đều có bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, lễ nghi, lễ hội riêng tạo nên bản sắc văn hóa phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng

Từ năm 2010 đến 2016, mặc dù trong điều kiện khó khăn, nhưng kinh tế - xã hội Bình Thuận đạt kết quả quan trọng, tương đối toàn diện, tạo chuyển biến căn bản trong đời sống xã hội Kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ khá, năm sau cao hơn năm trước Riêng trong năm 2016, dự ước tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm

2016 đạt 55.306,4 tỷ đồng GRDP bình quân đầu người đạt 44,9 triệu đồng (tương đương 1.977 USD) Ước thu ngân sách năm 2016 đạt 9.549,3 tỷ đồng (đạt 119% dự toán năm), tăng 5,2% so với năm trước (trong đó: Thu nội địa 6.114,5 tỷ đồng ) Tổng mức bán lẻ hàng hoá cả năm đạt 30.950 tỷ đồng Doanh thu dịch vụ cả năm ước đạt 15.637 tỷ đồng, trong đó xuất khẩu dịch vụ du lịch cả năm 2016 ước đạt 206,1 triệu USD

2.1.3 Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo tỉnh Bình Thuận

Bình Thuận là vùng đất hội tụ nhiều thành phần dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng Theo số liệu của Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ Bình Thuận), đến cuối năm 2016 có 08 tôn giáo được Nhà nước công nhận gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Baha’i, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Hồi giáo Bàni, Bàlamôn giáo với 498 cơ sở tôn giáo, chức sắc, tu sĩ, tín đồ các tôn giáo chiếm 38,8% dân số toàn tỉnh; ngoài ra còn có 54 cơ sở thờ tự tín ngưỡng dân gian của cộng đồng Ở Bình Thuận, trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển, các tôn giáo đã tự sản sinh ra những giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức đóng góp quan trọng vào kho tàng văn hóa, vào giáo dục truyền thống nhân văn của dân tộc Mỗi một tôn giáo ở Bình Thuận có nguồn gốc, đặc điểm, đường hướng hành đạo, phạm vi hoạt động ở những mức độ khác nhau nhưng đều chứa đựng những giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức nhất định, liên quan đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận dân cư, thích ứng với nhu cầu của đời sống xã hội hiện tại, góp phần làm phong phú thêm những giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức xã hội ở địa phương

Trong văn hóa, đạo đức các tôn giáo Bình Thuận có nhiều giá trị tương đồng với những giá trị văn hóa, đạo đức của xã hội hiện đại có ý nghĩa về giáo dục ý thức cộng đồng, đạo đức, phong cách, lối sống của con người Những đóng góp về văn

Trang 36

hóa của các tôn giáo được thể hiện thông qua hệ thống những giá trị vật thể như: Các công trình kiến trúc tôn giáo (Chùa, Tháp, Thánh đường, nhà thờ ) và phi vật thể như: Kinh sách, lễ hội, góp phần quan trọng vào phát triển du lịch văn hóa tâm linh

2.2 Hệ thống di sản văn hóa tâm linh tỉnh Bình Thuận

2.2.1 Di sản văn hóa tâm linh vật thể

Bình Thuận đang lưu trữ rất nhiều di sản văn hóa tâm linh vật thể với lối kiến trúc rất độc đáo, phong phú gắn với những truyền thuyết và huyền thoại huyền bí, tâm linh Đến năm 2016, đã có 27 di tích văn hóa, lịch sử được xếp hạng cấp Quốc gia

và 35 di tích văn hóa, lịch sử được xếp hạng cấp tỉnh Nhiều di tích văn hóa đã thu hút

du khách đến tham quan, chiêm bái, nghiên cứu như: Di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp

Pô Sah Inư (phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết), Thắng cảnh Chùa Núi (xã Tân Thuận – huyện Hàm Thuận Nam), Di tích thắng cảnh Cổ Thạch tự hay còn gọi là Chùa Hang (xã Bình Thạnh - huyện Tuy Phong), Di tích lịch sử đình - vạn Thuỷ Tú (phường Ðức Thắng - thành phố Phan Thiết), Di tích lịch sử - văn hóa trường Dục Thanh (phường Đức Nghĩa - thành phố Phan Thiết), Di tích lịch sử - văn hóa mộ Nguyễn Thông (phường Phú Hài - Phan Thiết), Thắng cảnh Linh Quang Tự (xã Tam Thanh – huyện Phú Quý),v.v…

2.2.2 Di sản văn hóa tâm linh phi vật thể

Bên cạnh những di tích văn hóa, lịch sử độc đáo, Bình Thuận đang sở hữu nhiều

di sản văn hóa tâm linh phi vật thể làm phong phú thêm tài nguyên du lịch của Bình Thuận Theo thống kê năm 2016, trong kho hiện vật Bảo tàng Bình Thuận đang lưu giữ tổng số 1.415 hiện vật, cổ vật quý hiếm gồm nhiều chủng loại và chất liệu khác nhau của các dân tộc thiểu số trong tỉnh Đặc biệt là di sản văn hóa Hoàng tộc Chăm được lưu giữ tại gia đình bà Nguyễn Thị Thềm ở xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình, hậu duệ của Vương triều Chăm với hơn 100 di vật, cổ vật như: vương miện, áo bào của vua và hoàng hậu; kiếm, đồ sinh hoạt bằng sành sứ, trang phục của hoàng tử, công chúa và các đồ dùng hoàng cung khác Đây là những hiện vật phản ánh cuộc sống, sinh hoạt trong cung đình, lễ hội và lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo của Vương triều Chămpa trước đây

Bình Thuận là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa của nhiều dân tộc anh em

Vì vậy mà nơi đây cũng lưu giữ rất nhiều giá trị văn hóa tinh thần của các dân tộc như các phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian, các lễ hội, tôn giáo, tạo nên nét đặc sắc trong đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân Bình Thuận Nhiều lễ hội được các cấp

Trang 37

chính quyền đầu tư, nâng tầm quy mô tổ chức để người dân, du khách thưởng thức

Bảng 1: Tổng hợp một số lễ hội dân giang tiêu biểu Bình Thuận

Tên

lễ hội

Thời gian tổ chức

Địa điểm tổ chức

Ý nghĩa văn hóa tâm linh

Lễ hội Tết

đầu lúa

Tháng

01 âm lịch

Các xã vùng cao huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc

- Mừng lúa mới theo truyền thống của đồng bào, cầu mong được mùa, bội thu

Lễ hội đua

thuyền Mồng hai Tết âm lịch

Sông Cà Ty, thành phố Phan Thiết

- Mang lại sự may mắn cho ngư dân có một năm thuận buồm xui gió, khai thác hải sản bội thu

Hội thi leo

núi Tá Cú

Trong bảy ngày Tết

Núi Tà Cú (huyện Hàm Thuận Nam)

- Mang lại sức khỏe, hạnh phúc trong cuộc sống

Lễ hội Katê Tháng 10

hàng năm

Di dích tháp Pô Sha Inư (thành phố Phan Thiết

- Tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu; cầu mong cho sự hòa hợp, sự sinh sôi nảy nở của con người

Lễ Kỵ Bà

Chúa Bàn

Tranh

Mùng ba Tết âm lịch Huyện Phú Quý Tưởng nhớ Bà Chúa Bàn Tranh; cầu hạnh phúc

Lễ giỗ Tổ

xây dựng

Chùa

Vào ngày 25 tháng 5 âm lịch hàng năm

Chùa Cổ Thạch, huyện Tuy Phong

Tưởng nhớ, dâng hương niệm Phật

Lễ hội

Dinh Thầy

Thím

tháng giêng âm lịch và tháng 9 âm lịch

Xã Tân Tiến, thị

Quan Đế Miếu, Phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết

Cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Các dân tộc Chăm, Hoa, Tày, Nùng với hàng chục lễ hội văn hóa dân gian truyền thống gắn với các thiết chế tín ngưỡng, tôn giáo đền thờ, đền tháp, thánh đường chùa, đền, miếu… với nhiều lễ nghi đa dạng và phong phú

Người Chăm có các lễ hội Katê, Ramưwan, Chabul và các lễ nghi gắn với sản xuất nông nghiệp như: lễ Paralao Pasah (Cầu đảo), Yor Yang (Cầu mưa), Cuh Yang Apui (đốt thần Lửa), Kal Kraong Halau (chặn nguồn nước)

Người Hoa, Tày, Nùng có các lễ hội Nghinh Ông, lễ Cầu an (Tả Tài Phán), lễ Xuân Xã, lễ Vía Thánh Quan Âm, lễ Trung Nguyên, lễ Vu Lan, lễ Cầu Phước

Trang 38

Người Cờ Ho, Raglai, Chơro, Gia Rai…có các lễ hội văn hóa dân gian như: lễ mừng lúa mới của người Raglai, tết ăn đầu lúa của người Cờho, lễ cúng nhang lúa của người Chơro, lễ hội đâm trâu của người Cờho, các nghi lễ gắn với chu trình canh tác cây lúa Mẹ, lễ dời làng của người Cờho và Raglai…Các lễ hội của đồng bào chủ yếu diễn ra ngoài trời, bên trong hoặc ngoài buôn làng, dưới chân các ngọn núi hay bên cạnh các con suối… theo tập tục có từ lâu đời do tổ tiên để lại

2.2.3 Nghề truyền thống phục vụ du lịch văn hóa tâm linh

Các làng nghề sản xuất rau, hoa, cây cảnh, trang trại chăn nuôi, các cơ sở sản xuất các sản phẩm chế biến, hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch được tiếp tục khuyến khích, hỗ trợ để phát triển Các vùng sản xuất nông nghiệp an toàn gắn với mở rộng hệ thống kinh doanh, cung ứng hàng hóa nông lâm, thủy sản phục vụ hoạt động du lịch được quy hoạch, đầu tư phát triển gắn với xây dựng, nâng cấp các trung tâm lớn phục vụ nhu cầu mua sắm của du khách như: chợ Phan Thiết, chợ Hàm Tiến, chợ Mũi Né, siêu thị Lotte Phan Thiết, Coop Mart La Gi, Chợ đêm Phan Thiết

Nghề gốm: Hiện nay nghề làm gốm thủ công truyền thống của người Chăm chỉ còn được duy trì ở 1 làng Bình Đức (huyện Bắc Bình) Kỹ thuật làm gốm theo phương pháp thủ công truyền thống độc đáo của người Chăm Bình Đức đã có sức thu hút nhiều chuyên gia nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới và được trình diễn kỹ thuật trong chương trình “Thế giới qua ngọn lửa hồng” được tổ chức

tại Osaka Nhật Bản vào năm 1996 Tuy nhiên, sản phẩm gốm đang gặp nhiều khó

khăn trong sản xuất, tiêu thụ, chưa có chỗ đứng trên thị trường

Nghề dệt thổ cẩm: làng nghề dệt thổ cẩm Phan Hòa, Bắc Bình là một trong những nét đặc biệt nhất là sự đa dạng và tính truyền thống, một nét mà không phải dân tộc nào cũng có được của nghề dệt Chăm Nét độc đáo của làng nghề là người dân ở đây vẫn sử dụng những chiếc khung dệt cổ truyền bằng gỗ gõ, gỗ trắc được đóng cách đây hàng trăm năm, cùng với các giàn cán bông, cung bắn bông, xa quay kéo sợi nên những sản phẩm làm ra như vẫn lưu giữ nguyên vẹn những bí quyết từ thời xưa để lại Hiện nay, các làng nghệ dệt thổ cẩm không còn tồn tại nữa

Nghề đan võng: Cách đây hơn mười năm trước trên đảo Phú Quý vẫn còn nghề này Võng được chuộng nhất là đan bằng cây dứa dại mọc hoang trên đảo Võng đan bằng loại cây này rất bền và đẹp Ngày nay, nghề đan võng vẫn còn nhưng chỉ làm để

sử dụng trong phạm vi gia đình

Trang 39

Tuy nhiên, tình hình các mặt của tỉnh phát triển còn chậm, có mặt chưa

vững chắc; phát triển kinh tế còn nhiều khó khăn; thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với nhiều tỉnh, thành trong khu vực Đông Nam bộ và cả nước; đời sống một bộ phận nhân dân lao động ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn Việc xây dựng các thiết chế văn hóa chưa được quan tâm đúng mức, các công trình văn hóa như: bảo tàng, thư viện, trung tâm biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, vui chơi giải trí,… chưa đáp ứng nhu cầu phát triển Một số cơ sở tín ngưỡng dân gian xuống cấp chưa có nguồn vốn tu bổ Một số nghề truyền thống đã bị mai một và có những nghề mất hẳn theo thời gian

2.3 Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận

2.3.1 Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch tâm linh

Hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật ngày càng được quan tâm đầu tư, đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch Bình Thuận đang đầu tư xây dựng hệ thống cảng biển, môi trường như: xây dựng sân bay Phan Thiết, đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết, Cảng biển Vĩnh Tân, Cảng biển Phan Thiết, cải tạo môi trường sông Cà Ty, xây dựng nhà máy xử lý rác; nâng cấp các công trình cung cấp nước sạch đảm bảo phục vụ hoạt động du lịch Công trình điện cao thế, trung thế điện cung cấp cho hoạt động du lịch tăng bình quân 15 - 16%/năm Xây dựng hơn 100 trạm thu phát sóng di động (BTS)

Theo báo cáo của Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch, tính đến cuối năm 2016, toàn tỉnh Bình Thuận có 440 dự án đầu tư du lịch và dịch vụ du lịch được chấp thuận đầu tư còn hiệu lực, với tổng số vốn đăng ký đầu tư trên 63.700 tỷ đồng; trong đó có

46 dự án đầu tư nước ngoài Đã có 149 dự án du lịch đi vào hoạt động kinh doanh, tập trung ở thành phố PhanThiết, huyện Hàm Thuận Nam và Thị xã La Gi Toàn tỉnh có

474 cơ sở lưu trú du lịch đang hoạt động kinh doanh với tổng số 14.231 phòng, trong

đó có 126 resort ven biển (66 resort có quy mô từ 3 - 5 sao) đang hoạt động với 7.520 buồng phòng, chiếm 57% tổng số buồng phòng toàn tỉnh Có trên 150 cơ sở kinh doanh dịch vụ mua sắm, 120 cơ sở kinh doanh ăn uống, 12 đơn vị kinh doanh dịch vụ thể thao biển, lướt ván buồm, lướt ván diều, mô tô nước, 32 cơ sở kinh doanh Massage, Spa đáp ứng các chương trình du lịch gắn với mục đích tâm linh Dịch vụ

du lịch, lữ hành tiếp tục phát triển với 51 đơn vị, trong đó có 07 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, 24 doanh nghiệp lữ hành nội địa và các đơn vị hoạt động kinh doanh liên quan đến lữ hành gồm các chi nhánh, văn phòng đại diện, đại lý lữ hành, đại lý bán vé xe,

vé máy bay

Trang 40

Tuy nhiên, qua một số tài liệu và khảo sát thực địa cho thấy một số điểm yếu

đáng quan tâm là công tác quy hoạch phát triển giữa du lịch với các ngành kinh tế khác còn bất cập; kết cấu hạ tầng phục vụ cho du lịch chưa đồng bộ, chưa hiện đại, chưa kết nối chặt chẽ thành mạng lưới giao thông thông suốt, chưa có sân bay, cảng biển đáp ứng nhu cầu đón tàu du lịch, thiếu hệ thống Trạm cứu hộ và nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn ở các khu du dịch, điểm tham quan Đặc biệt là tình trạng rác thải, ô nhiễm môi trường đã có ảnh hưởng sức cạnh tranh điểm đến du lịch Bình Thuận

lữ hành, vận chuyển, hướng dẫn du lịch, ăn uống, mua sắm ở các khu, điểm du lịch

có 1.750 người, chiếm 11,7% tổng số lao động du lịch Số đông lao động là người dân trong tỉnh, một số ít là người ngoài tỉnh, người nước ngoài

Lao động gián tiếp thuộc các ngành sản xuất, dịch vụ có liên quan đến hoạt động du lịch như sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, khai thác chế biến, cung cấp nguyên, nhiên vật liệu, bảo hiểm, y tế, thông tin truyền thông, lái xe taxi, xe buýt, công nhân vệ sinh môi trường… khoảng 30.000 người (theo cách tính của Tổ chức JICA: 01 lao động trực tiếp trong ngành du lịch thì có 2 lao động gián tiếp phục vụ

du lịch)

Đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên, hướng dẫn viên, thuyết minh du lịch các công ty lữ hành có nhiều kinh nghiệm trong điều hành, giao tiếp, phục vụ khách du lịch Hầu hết đã được bồi dưỡng về nghiệp vụ, kỹ năng thuyết minh cho du khách Hiện có trên 1.120 người đạt chứng chỉ ngoại ngữ nhưng trong thực tế có trên 3.200 người có khả năng giao tiếp được bằng ngoại ngữ (chủ yếu tiếng Anh), chiếm 28,76% tổng số lao động; trong đó 57,6% cán bộ quản lý, 60,6% cán bộ trưởng phó các bộ phận và 64,6% nhân viên lễ tân ở các cơ sở lưu trú có khả năng giao tiếp tiếng Anh với người nước ngoài Một số cơ sở lưu trú du lịch lớn (hạng 4 sao, 5 sao) đã thuê các tập đoàn quản lý của nước ngoài và các dự án du lịch có vốn đầu tư nước ngoài, nhờ đó thu hút về Bình Thuận một số nhà quản lý, điều hành là người nước ngoài có trình độ, kinh nghiệm quản lý kinh doanh du lịch ở tầm quốc tế, làm việc

Ngày đăng: 27/07/2023, 23:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w