Tuy nhiên, sự tác động của quá trình hội nhập kinh tế thế giới, toàn cầu hóa và đô thị hóa, sự chuyển đổi cơ chế quản lý và định hướng kinh tế thị trường cũng đồng thời làm nảy sinh hàng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Ngành : Luật học Chuyên ngành : Luật Dân sự
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ THN MAI HIÊN
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 4
1.1.1.QUYỀ CO GƯỜI VÀ QUYỀ TRẺ EM……… ……….8
1.1.2.KHÁI IỆM CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀ CẢH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂ VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT DÂ SỰ 14
3 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM 3.1 GIAI ĐOẠ TỪ ĂM 1980 TRỞ VỀ TRƯỚC 23
3.2 THỜI KỲ SAU ĂM 1980 ĐẾ AY 25
2.1.1 QUY ĐNH CỦA PHÁP LUẬT DÂ SỰ 30
2.1.2 GUYÊ TẮC PHÁP LÝ 37
2.1.3 QUY ĐNH VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀ CẢH KHÓ KHĂ 39
Trang 33.1.1 HẬ THỨC VỀ BẢO VỆ QUYỀ CO GƯỜI VÀ QUYỀ
TRẺ EM ÓI RIÊG 71
3.1.2 TÁC ĐỘG CỦA KIH TẾ THN TRƯỜG 72
3.1.3 THỰC TRẠG PHÁP LUẬT VÀ CÁC THIẾT CHẾ CHƯA ĐÁP ỨG ĐƯỢC YÊU CẦU CỦA THỰC TIỄ 73
3.1.4 HỮG ĐNH HƯỚG TROG CÁC CHỦ TRƯƠG, CHÍH SÁCH CỦA ĐẢG VÀ HÀ ƯỚC 78
3.1.5 TÁC ĐỘG CỦA TOÀ CẦU HÓA, VÀ HỘI HẬP QUỐC TẾ 79
PHƯƠG HƯỚG THỨ HẤT 80
PHƯƠG HƯỚG THỨ HAI 80
PHƯƠG HƯỚG THỨ BA 81
PHƯƠG HƯỚG THỨ TƯ 81
GIẢI PHÁP 1 SỬA ĐỔI, BỔ SUG, BA HÀH MỚI MỘT SỐ QUY ĐNH PHÁP LUẬT 82
GIẢI PHÁP 2 TUYÊ TRUYỀ, GIÁO DỤC, ÂG CAO HẬ THỨC CỦA CỘG ĐỒG, CỦA LÃH ĐẠO CHÍH QUYỀ 83
Trang 4GIẢI PHÁP 3 GIẢI QUYẾT CÁC GUYÊ HÂ CHỦ QUA DẪ ĐẾ TRẺ RƠI VÀO HOÀ CẢH KHÓ KHĂ 83 GIẢI PHÁP 4 ĐẦU TƯ HIỆU QUẢ 83
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt N am sau 20 năm tiến hành đổi mới đã đạt được những thành tựu
to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội và tạo được những chuyển biến rõ rệt trên mọi mặt đời sống xã hội Mục tiêu xây dựng N hà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong đó các quyền con người được quan tâm và là một trong những nội dung chính của quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay
Hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em được Đảng và N hà nước quan tâm và đã đạt được những thành tựu nhất định, và vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định Tuy nhiên, sự tác động của quá trình hội nhập kinh tế thế giới, toàn cầu hóa và đô thị hóa, sự chuyển đổi cơ chế quản lý và định hướng kinh tế thị trường cũng đồng thời làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề khác như khoảng cách giàu nghèo ngày một tăng… cùng với nhu cầu thực tiễn của công việc khi thực hiện dự án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại một số địa phương, cho thấy hoạt động chăm sóc và bảo vệ cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, chẳng hạn như sử dụng lao động trẻ em mồ côi/ trẻ em khuyết tật…
Để tiếp tục sự nghiệp xây dựng N hà nước pháp quyền và bảo đảm các quyền con người, nhu cầu cần thực hiện nghiên cứu để có những giải pháp pháp lý hữu hiệu trong chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là rất cần thiết N hằm góp phần vào việc nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý của hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tôi đã chọn đề tài: “ Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự ở Việt N am hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp cao học Luật
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về các khía cạnh xung quanh vấn đề trẻ em, như: “Bảo vệ quyền trẻ
em trong pháp luật Việt N am” (1996) của GS N guyễn Đình Lộc, “ Bảo vệ Quyền trẻ em trong pháp luật Việt N am” (2005) của UN ICEF, “Quyền trẻ
em đối với tài sản và thừa kế tài sản: một vấn đề lý luận và thực tiễn” (1998) của PGS Hà Thị Mai Hiên, “Cơ chế pháp ý bảo vệ quyền trẻ em ở
Trang 6Việt N am” của ThS Chu Mạnh Hùng (2005)… N hìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề liên quan đến
đề tài của luận văn Tuy nhiên, phần lớn những công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến quyền trẻ em nói chung mà chưa có công trình nghiên cứu quan tâm riêng đến khía cạnh lý luận và thực tiễn pháp lý dành cho đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn N goài ra, một số bài viết trên các tạp chí đề cập đến vấn đề trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhằm làm rõ một số quy định của pháp luật cũng đã được tham khảo
Đề tài: “Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: cơ sở
lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự ở Việt am hiện nay” mong muốn
tìm hiểu các quy định hiện hành về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên cơ sở nghiên cứu bản chất của quyền trẻ em trong pháp luật dân sự, để từ đó đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những khía cạnh lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên cơ sở nghiên cứu các quy định của luật thực định, tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định này; từ đó đề ra một số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung trong điều kiện hiện nay
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự trong chăm sóc, bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng tại Việt N am
- Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật Việt N am về chăm sóc
và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng như việc thi hành trong thực tiễn để thấy được những điểm phù hợp và những điểm chưa phù hợp, làm cơ sở đưa ra các khuyến nghị
- Đề xuất một số giải pháp và phương hướng để các quy định của pháp luật Việt N am về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có tính khả thi trong thực tiễn
Trang 7Do điều kiện hạn chế, đề tài chủ yếu được nghiên cứu tập trung trong phạm vi luật thực định
4 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài đã sử dụng phép biện chứng duy vật của triết học Mác – Lênin như: pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, được hình thành từ một cơ sở hạ tầng phù hợp, nhưng có tác động trở lại nhất định đối với cơ sở hạ tầng và tư tưởng Hồ Chí Minh làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu N goài ra, luận văn còn vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, phù hợp với từng mặt, từng lĩnh vực của đề tài, như: phương pháp tổng hợp, so sánh luật, phương pháp phân tích lịch sử, thống kê, điều tra xã hội học …
Các N ghị quyết của Đảng cộng sản Việt N am về vấn đề trẻ em, các quy định của Hiến pháp trong lĩnh vực dân sự, các quy phạm pháp luật dân
sự, pháp luật hôn nhân và gia đình, pháp luật lao động … được sử dụng với tư cách là cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho quá trình nghiên cứu về các quy định của hệ thống pháp luật quốc gia về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dưới góc độ pháp lý của ngành luật dân sự
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập khi nghiên cứu những vấn đề
về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Đồng thời,
nó cũng có giá trị nhất định đối với các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan, tổ chức trong việc nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện những quy định về vấn đề này dưới góc độ pháp luật
6 Cấu trúc của luận văn
Phù hợp với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn về đề tài “Chăm sóc và bảo
vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: cơ sở lý luận và thực tiễn pháp
lý về dân sự ở Việt N am hiện nay” được chia làm 3 chương như sau:
- Chương 1 N hững vấn đề lý luận pháp lý về chăm sóc và bảo vệ trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Trang 8- Chương 2 Thực trạng pháp luật dân sự và thực tiễn thi hành pháp luật về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở Việt N am
- Chương 3 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chăm sóc và bảo vệ trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở Việt N am
Trang 9Chương 1
1.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật dân sự trong việc chăm sóc, bảo
vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
1.1.1 Khái niệm quyền con người và quyền trẻ em
Quyền con người
Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người năm 1948 không đưa ra khái niệm hay định nghĩa “quyền con người”, tuy nhiên, tuyên ngôn đã quy định các quyền của con người được hưởng như: quyền sống, quyền tự do và
an toàn cá nhân, quyền được công nhận tư cách là con người trước pháp luật ở mọi nơi, quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong lãnh thổ của quốc gia, quyền được các tòa án quốc gia có thNm quyền bảo vệ, quyền có quốc tịch…
Quyền trẻ em
Theo quy định tại Điều 1 Công ước về Quyền Trẻ em năm 1989 của Liên Hợp Quốc thì “trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 và năm 2004 định nghĩa trẻ em tại Điều 1: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt
N am dưới mười sáu tuổi”
Trong hệ thống pháp luật Việt N am, có thuật ngữ “người chưa thành niên” Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “ N gười từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên N gười chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”
N hư vậy, khái niệm người chưa thành niên trong hệ thống pháp luật Việt N am bao hàm cả khái niệm trẻ em
Và trẻ em với tư cách là một con người, được công nhận có các quyền con người như : dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, hợp thành 4 nhóm quyền như sau:
a) quyền sống còn
b) quyền được bảo vệ
c) quyền được phát triển
d) quyền tham gia
Trang 10Trong năm 1989, Việt N am phê chuNn công ước quốc tế về quyền trẻ
em Sau đó, tiếp tục phê chuNn công ước số 182 của ILO về chống lại các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em
1.1.2 Khái niệm chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
và vai trò của pháp luật dân sự
Khái niệm chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
Theo Quỹ N hi đồng Liên hợp quốc, nhóm trẻ cần sự bảo vệ đặc biệt gồm: trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật, trẻ em tàn tật, trẻ em làm con nuôi, trẻ em nghiệm ma túy, trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị bắt cóc và bị buôn bán…
Điều 3 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 giải thích: “ Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình, cộng đồng”
Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Chăm sóc trẻ em hiểu theo nghĩa thông thường, là những hoạt động nhằm nhận biết và đáp ứng nhu cầu về mặt vật chất và tinh thần để đảm bảo sự phát triển hài hòa của trẻ em (nhu cầu về ăn mặc, về học hành, về vui chơi giải trí, nhu cầu được gia đình yêu thương, chăm sóc, nhu cầu được tôn trọng Bảo vệ trẻ em được hiểu là thực hiện những hành động, những biện pháp phòng ngừa, khắc phục hậu quả do những hành vi vi phạm gây ra làm cản trở sự phát triển bình thường của trẻ
Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là một bộ phận, một chế định pháp luật hỗn hợp, với ý nghĩa đó là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Đặc điểm của trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Về kinh tế, đa số các em thuộc nhóm thiếu hoặc mất nguồn nuôi dưỡng
và sống thiếu sự chăm sóc, tình cảm của gia đình Về sức khỏe, với các yếu tố
về thể chất – tinh thần, các em là đối tượng có hạn chế về sức khỏe như khuyết tật, tâm thần, tổn thương tâm lý…làm giảm hoặc mất khả năng nhận thức, lao động Trình độ văn hóa của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có mức thấp hơn nhiều so với trẻ em bình thường cùng lứa tuổi
Vai trò của luật dân sự :
Trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, luật dân sự được thể hiện ở những vai trò như sau:
- Cụ thể hóa các quyền con người, quyền trẻ em về mặt dân sự:
Trang 11- Ghi nhận và xác định các hình thức pháp lý đảm bảo và thực hiện các quyền dân sự
- Xác định các phương thức bảo vệ và đảm bảo thực thi các quyền củs trẻ em
1.2 Bản chất pháp lý và đặc điểm chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thường rất nhạy cảm với những tác động của xã hội đối với cuộc sống thường nhật của các em Chương IV của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 ghi nhận: “…coi trọng việc phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; kịp thời giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em; kiên trì giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phục hồi sức khỏe….”
Xét trên khía cạnh pháp luật, các em chưa có đủ năng lực hành vi nói chung và năng lực hành vi dân sự nói riêng, nên pháp luật đã quy định chế định về người giám hộ/ người đại diện theo pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em
Xét trên khía cạnh kinh tế - xã hội: trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì nhiều em là lao động chính nuôi sống bản thân và gia đình mình nhưng những công việc các em đang làm lại không được điều chỉnh bởi pháp
và chịu sự thua thiệt khi tham gia các “giao dịch” với người lớn Bên cạnh đó, quan niệm truyền thống vẫn còn phổ biến trong xã hội, nhiều gia đình thay vì khuyến khích con đến trường lại bắt con phải ở nhà lao động giúp cha mẹ - nghĩa là đứa trẻ phải thực hiện nghĩa vụ lao động trước khi được hưởng quyền học tập
1.3 Khái quát pháp luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
1 3.1 Giai đoạn từ năm 1980 trở về trước
Trong lịch sử Việt N am, trẻ em đã được quan tâm đến từ khá sớm trong
Bộ luật Hồng Đức đã có quy định về trách nhiệm của xã hội đối với trẻ em tàn tật, mồ côi Sau cách mạng tháng Tám, nước Việt N am Dân chủ Cộng hòa được thành lập, và chăm sóc, bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được ghi nhận trong Hiến Pháp năm 1946 tại điều 14 và điều 15 Gia nhập Công ước số 77 và 78 về Kiểm tra y tế cho trẻ em và thiếu niên làm việc trong các công việc công nghiệp và phi công nghiệp năm 1946 Tháng 5/1960, ủy ban Thiếu niên nhi đồng Việt N am được thành lập Và Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
Trang 12ngày 14/1/1979 Đây là pháp luật đầu tiên quy định chi tiết về trẻ em nói chung, trong đó có đề cập đến trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
1.3.2 Thời kỳ sau năm 1980 đến nay
N gày 26/1/1990, Việt N am đã ký Công ước quốc tế về quyền trẻ em
1989 Việt N am là quốc gia đầu tiên ở châu á và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuNn công ước Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991
và được sửa đổi bổ sung vào năm 2004 đã dành một chương riêng để quy định
về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Bên cạnh đó, các chương trình, dự
án quốc gia về trẻ em cũng được xem xét và thực hiện
Trang 13- Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa: mồ côi thực tế và mồ côi xã hội
- Trẻ em khuyết tật, tàn tật
- Trẻ em nhiễm HIV/AIDS
- Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học
- Trẻ em làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại