1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM sóc NGƯỜI tâm THẦN từ THỰC TIỄN TRUNG tâm CHĂM sóc và NUÔI DƯỠNG NGƯỜI tâm THẦN hà nội

83 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đề tài này tác giải tập trung nghiên cứu lý luận chính sách, chính sách đối với người tâm thần, đánh giá thực trạng, đề xuất những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hoạt động th

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN HÒA

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC NGƯỜI TÂM THẦN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CHĂM SÓC VÀ

NUÔI DƯỠNG NGƯỜI TÂM THẦN HÀ NỘI

Ngành: Chính sách công

Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS PHAN THỊ MAI HƯƠNG

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay vấn đề rối loạn tâm thần khá phổ biến, không phân biệt giới, tuổi, chủng tộc, tôn giáo, điều kiện kinh tế Rối loạn tâm thần ngày càng gia tăng đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới cá nhân, gia đình và xã hội, nhiều gia đình người tâm thần rơi vào tình cảnh nghèo đói do phải chi trả nhiều khoản phí trong quá trình điều trị, đối diện với những căng thẳng, nguy hiểm Hiện số người bị rối nhiễu tâm trí ở Việt Nam ước tính chiếm khoảng 10% dân số, tương đương khoảng 9 triệu người, trong

đó số người tâm thần nặng chiếm 2,5% số người rối nhiễu tâm trí (tương đương 200 ngàn người) Số người có hành vi nguy hiểm cho gia đình, cộng đồng khoảng 154.000 người Số người tâm thần có xu hướng gia tăng, đặc biệt là các thành phố,

đô thị lớn (Báo cáo sơ kết bốn năm thực hiện “đề án 1215” tại Quảng Ninh vào ngày 29 và 30 tháng 10 năm 2015) việc chăm sóc, phục hồi chức năng cho người tâm thần là một thách thức lớn và là một gánh nặng đối với cộng đồng, xã hội

[Error! Reference source not found.] Cả nước hiện có khoảng 10.000 người tâm

thần nặng đang được chăm sóc chức năng và phục hồi tại 26 cơ sở bảo trợ xã hội ở

20 tỉnh, thành Đối với thủ đô Hà Nội hiện nay có khoảng trên 8.000 người mắc các thể bệnh tâm thần, theo số liệu Báo cáo của Sở Lao động Thương binh và Xã hội năm 2018

Trong những năm gần đây Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách an sinh

xã hội quan tâm tới các đối tượng yếu thế, đặc biệt là người tâm thần Cụ thể Chính phủ đã phê duyệt đề án 1215 về trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần và người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011 – 2020, Nghị định 136 Quy định về chính sách xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội Chính sách của Nhà nước dành người tâm thần trên các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, y

tế, giáo dục, xã hội… Ngoài ra, đây còn là cơ sở pháp lý để người tâm thần và gia đình người tâm thần được thụ hưởng đầy đủ các chính sách ưu việt của Nhà nước về

y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội… Tuy nhiên trên thực tế hiện nay, việc thực thi chính sách đối với người tâm thần còn bộc lộ những hạn chế, ở cấp vĩ mô do chính sách chưa đầy đủ và không rõ ràng, cùng với sự thiếu thống nhất về quan điểm chỉ đạo của các ngành, các cấp Tại cơ sở việc thực hiện chính sách pháp luật, các chương

Trang 3

trình được tổ chức thực hiện còn bộc lộ những hạn chế do quan điểm chỉ đạo của cán bộ ở các địa phương, tại cơ sở trong vấn đề này còn chưa sâu rộng, chủ động, kịp thời Dẫn tới người tâm thần chưa được kết nối với chính sách xã hội, dịch vụ

xã hội, dịch vụ chăm sóc phù hợp Để triển khai thực hiện hiệu quả đề án, nghị định của Chính phủ đi vào thực tế, nâng cao công tác bảo trợ trên phạm vi cả nước rất cần các cấp, các ngành và sự cộng tác của toàn xã hội Trong đó vai trò của hoạt động thực thi chính sách chăm sóc người tâm thần là rất cần thiết, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động an sinh xã hội trong chăm sóc người tâm thần Đối với trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội hiện có gần 600 người tâm thần dạng mãn tính thuộc đối tượng lang thang vô gia cư hoặc có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, họ có nhu cầu được kết nối với chế độ, chính sách các dịch vụ xã hội phù hợp đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người tâm thần Xuất phát từ những lý

do trên tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách chăm sóc người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội” làm Luận văn tốt

nghiệp Thực hiện đề tài này tác giải tập trung nghiên cứu lý luận chính sách, chính sách đối với người tâm thần, đánh giá thực trạng, đề xuất những giải pháp nhằm góp

phần nâng cao hoạt động thực thi chính sách đối với người tâm thần tại Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nâng cao hoạt động thực thi chính sách đối với người tân thần là một trong những nội dung quan trọng việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nhóm

xã hội yếu thế, vấn đề này đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà quản lý, nhà nghiên cứu khoa học, nhà hoạch định chính sách Làm thế nào để nâng cao hoạt động thực thi chính sách đối với người tân thần đã và đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý quan tâm Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu biểu liên quan đến việc được nghiên cứu trước đây như sau:

Tác giả Thụy Bình, trong Tạp chí người khuyết tật, năm 2017, bài báo “Về

vấn đề gia tăng và một số giải pháp gia tăng người khuyết tật” Bài báo đề cập đến

các dạng khuyết tật, tỷ lệ người khuyết tật và trẻ em khuyết tật đang có xu hướng gia tăng do điều kiện vị trí địa lý của nước ta, thời tiết khắc nhiệt, ô nhiễm môi

Trang 4

trường và do nguyên nhân nhiều gia đình có người khuyết tật và người khuyết tật dấu tình trạng khuyết tật của mình Bài báo đề cập giải pháp giảm thiểu sự gia tăng người khuyết tật và trẻ em khuyết tật

Mai Ngọc Cường (2012) phân tích những thành tựu, những bất cập chủ yếu

của hệ thống chính sách an sinh xã hội Việt Nam [Error! Reference source not

found.] Đặc biệt, tác giả tranh luận rằng chính sách an sinh xã hội chỉ là một hệ

thống chính sách trong tổng thể chính sách xã hội của một quốc gia, bên cạnh chính sách an sinh xã hội còn có nhiều chính sách xã hội khác Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất những khuyến nghị quan trọng nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam trong thời gian tới

Tô Thanh Hùng, 2011, bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật ở Việt Nam,

Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách, UNFPA [Error! Reference

source not found.]; Nguyễn Đình Cung, 2017, Xu hướng bảo trợ xã hội đối với

người khuyết tật trên thế giới và đặc trưng bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật

Việt nam, Tạp chí Kinh tế hội nhập [Error! Reference source not found.] Số 2,

năm 2016; PGS.TS Trần Văn Nhung và TS Đặng Văn Hùng, 2013, Những thách thức về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trong quá trình tận phát triển bền

vững đất nước, ILSSA [Error! Reference source not found.]; Giáo sư -Tiến sĩ

Nguyễn Xuân Thắng, 2014, Báo cáo quốc gia về bảo trợ xã hội đối với người

khuyết tật năm 2014, UNDP [Error! Reference source not found.]; PGS-TS Lê

Th Hoài Thu, 2008, Hoàn thiện pháp luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật,

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 4(2018) 14-24 [Error! Reference

source not found.]; Lê Thu Hoài, 2016, Pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người

khuyết tật qua tại Thành phố Hồ Chí Minh [Error! Reference source not found.]

Tô Thanh Mùi, 2013, Chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật tại Việt

Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học… [Error! Reference source not found.]

Tác giả Trần Thị Thùy Lâm đã có bài viết phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về dạy nghề cho người khuyết tật trên các phương diện; chính sách đối với cơ sở dạy nghề, người khuyết tật học nghề và giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật, đồng thời đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả

Trang 5

việc học nghề đối với người khuyết tật ở cả phương diện hoàn thiện pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện

Đề tài hoàn thiện luật pháp về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ Luật học của Nguyễn Thị Báo - Học viện chính trị - Hành

chính quốc gia [Error! Reference source not found.]

Đề tài “Đánh giá việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật ở xã Hợp Đồng, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”, của Nguyễn Thị

Quỳnh, năm 2014 [Error! Reference source not found.] Tác giả chỉ ra những 5

thành tựu mà chính quyền xã Hợp Đồng đã làm được trong việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật sinh sống trên địa bàn trong thời gian qua, tuy nhiên tác giả cũng nêu ra những mặt hạn chế, những bất cập như nhiều người còn chưa tiếp cận được với chính sách trợ giúp của Nhà nước vì thiếu thông tin liên quan đến chính sách trợ giúp, một số cán bộ của cơ quan hành chính Nhà nước gây khó khăn, phiền nhiễu trong công tác tiếp cận các chính sách trên, đồng thời đưa ra những giải pháp cũng như kiến nghị cho việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trong thời gian tới

Tác giả Nguyễn Đình Liêu năm 2002 có bài viết “Trợ cấp xã hội trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam” trên tạp chí Kinh tế Luật (số 1), Đại học Quốc gia

Hà Nội [Error! Reference source not found.] Tác giả nêu lên vai trò của trợ cấp

xã hội trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam Trợ cấp xã hội được nghiên cứu chi tiết, cụ thể từ đó thấy được ý nghĩa, vai trò trong hệ thống an sinh xã hội Đó là một bộ phận cấu thành, mắt xích quan trọng không thể thiếu được trong việc đảm bảo an sinh xã hội

Luận văn thạc sĩ “Chính sách bảo trợ xã hội đối với một số đối tượng yếu thế

ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” năm 2011 của tác giả Phạm Đại Đồng đã chỉ

ra những vấn đề lý luận và thực tiễn của chính sách bảo trợ xã hội đối với những người yếu thế, đánh giá tình hình thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với một số

đối tượng yếu thế ở nước ta trong thời gian qua [Error! Reference source not

found.] Từ đó, tác giả đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách

bảo trợ xã hội đối với đối tượng yếu thế ở nước ta trong thời gian tới

Trang 6

Nghiên cứu về người khuyết tật nói chung và người tâm thần nói riêng là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng, vì thế trong những năm qua có nhiều báo cáo khoa học nghiên cứu về người khuyết tật, người tâm thần và các hoạt động trợ giúp họ trong đời sống xã hội như:

Báo cáo thường niên năm 2013 về hoạt động trợ giúp người khuyết tật ở Việt Nam của ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật tại Việt Nam (NCCD) Báo cáo đã tổng kết những hoạt động và kết quả chủ yếu về hỗ người khuyết tật đã triển khai trong những năm của các Bộ, Ngành, cơ quan chức năng, tổ chức xã hội với sự điều phối của NCCD, đánh giá kết qủa đạt được, những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân bài học kinh nghiệm và định hướng cho các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật trong năm 2014 của các cơ quan tổ chức thành viên NCCD

[Error! Reference source not found.]

Hội thảo khoa học với chủ đề “Quản lý trường hợp với người khuyết tật tại Việt Nam” do khoa Công tác xã hội của Học Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam tổ chức vào ngày 22/10/2015 Đây là hội thảo khoa học mang nhiều ý nghĩa khi nội dung nghiên cứu, thảo luận hướng đến vấn đề “Quản lý trường hợp với người khuyết tật” đây là hướng đi mới hỗ trợ người khuyết tật đang được triển khai ở nhiều địa phương theo Thông tư 01/TT-BLĐTBXH về công tác Quản lý trường hợp với người khuyết tật nhưng còn nhiều khó khăn về kinh phí, chính sách, nguồn nhân lực, nhận thức của chính quyền địa phương các cấp về vấn đề này Đồng thời, thông qua các bài báo cáo của các chuyên gia và phần hỏi - đáp, thảo luận đã gợi mở những định hướng nghiên cứu cho học viên cao học, nghiên cứu sinh lựa chọn để làm chủ đề, phát triển nghiên cứu của đề tài luận văn cao học

“Hội thảo Quốc tế về Công ước quyền người khuyết tật và vai trò của các hội người khuyết tật” do Bộ Ngoại giao chủ trì Đây là hoạt động là trong khuôn khổ

Dự án về “Tăng cường năng lực đảm bảo các quyền con người của Việt Nam” do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ Công ước nhìn nhận NKT trở thành “chủ thể” có vị thế, quyền lợi hợp pháp và là thành viên tích cực trong xã hội Công ước thúc đẩy việc bảo đảm người khuyết tật được thụ hưởng các quyền

và tự do cơ bản như tất cả mọi người

Trang 7

Qua quá trình tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, có thể thấy rằng người khuyết tật, người tâm thần luôn là mối quan tâm của cộng đồng Quốc tế và của Đảng Nhà nước Việt Nam Những công trình, bài viết trên đây đã nghiên cứu tổng quát về an sinh xã hội, thực thi chính sách xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội một cách đầy đủ song chưa có nghiên cứu, bài viết nào đi sâu nghiên cứu thực thi chính sách xã hội cho tâm thần tại cơ sở bảo trợ xã hội Đặc biệt, các nghiên cứu tập trung vào các chính sách cho người khuyết tật theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 Chính vì vậy, trong luận văn này học viên tập trung nghiên cứu chính sách xã hội cho người tâm thần tại cơ sở Bảo trợ xã hội theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 về quy định chính sách trợ giúp

xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012

về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2017 quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội, có hiệu lực kể từ ngày

01 tháng 11 năm 2017 Từ đó, tìm ra thực trạng người khuyết tật (khuyết tật tâm thần) được hưởng các chế độ chính sách xã hội ở cơ sở bảo trợ xã hội, đề xuất các kiến nghị giải pháp tăng cường hiệu quả việc thực hiện chính sách xã hội cho người tâm thần tại trung tâm Đó cũng là một trong những lý do chính để tôi thực hiện nghiên cứu về vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn đánh giá việc thực thi chính sách đối với người tâm thần tại Trung tâm chăm sóc người tâm thần Hà Nội, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng, các nguồn lực từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi chính sách đối với người tâm thần tại trung tâm,

mở rộng mô hình kết nối chính sách trong chăm sóc, nuôi dưỡng người tâm thần

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khái quát cơ sở lý luận, hệ thống mạng lưới chính sách, các chương trình hỗ trợ đối với bệnh nhân tâm thần và các yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề này

Đánh giá thực trạng việc thực thi chính sách cho người tâm thần tại trung tâm

Trang 8

Tìm hiểu, phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động thực thi chính sách chăm sóc người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội

Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả hoạt động thực thi chính sách chăm sóc người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động thực thi chính sách chăm sóc người tâm thần tại Trung tâm Chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội

4.2 Khách thể nghiên cứu

Cán bộ và bệnh nhân tại Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần

Hà Nội (người tâm thần là những người được điều trị ổn định, thuyên giảm tỉnh táo

về mặt bệnh lý, có khả năng trả lời câu hỏi phỏng vấn)

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về đối tượng: đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận

về thực hiện chính sách và thực trạng việc thực thi chính sách đối với người bệnh tâm thần, cụ thể là các hoạt động: chăm sóc y tế; phục hồi chức năng; hoạt động nuôi dưỡng đời sống; giáo dục dạy nghề; truyền thông nâng cao nhận thức cho người tâm thần

Phạm vi về không gian: Tại Trung tâm Chăm sóc và Nuôi dưỡng người tâm

để nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần đối với bệnh nhân tâm thần tại Trung tâm

Trang 9

- Trên cơ sở duy vật lịch sử: đối tượng được nghiên cứu đánh giá theo cơ sở khoa học trên cơ sở thực tại khách quan, theo một trục thời gian nhất định và mang tính lịch sử rõ nét Như vậy những vấn đề liên quan trong đề tài nghiên cứu có sự so sánh đối chiếu theo lịch sử, đảm bảo tính sát thực và toàn vẹn trong trình bày kết quả nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu

Luận văn sử dụng phương pháp này để tổng hợp các chính sách liên quan đến chăm sóc người bị tâm thần và làm rõ nội hàm các khái niệm Đây là phương pháp thu thập thông tin trực tiếp, và gián tiếp thông qua cán bộ và bệnh nhân tại Trung tâm và gián tiếp qua các nguồn tài liệu sẵn có, những nguồn tài liệu này đã có

từ trước khi nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp này để làm rõ nội hàm các khái niệm, các tài liệu và các vấn đề liên quan đến thực thi chính sách cho người tâm thần tại trung tâm Đây là một phương pháp quan trọng trong nghiên cứu đề tài, mục đích áp dụng phương pháp này nhằm thu thập các thông tin liên quan đến việc thực thi chính sách của nhà nước về người khuyết tật tâm thần

Để nâng cao chất lượng thu thập đủ thông tin cần thiết phục vụ cho luận văn, tác giả đã tiến hành các bước thu thập các bước như nghiên cứu các văn bản của Sở ngành, các nội quy, quy định của đơn vị Trong luận văn này học viên tập trung nghiên cứu chính sách xã hội cho người tâm thần tại cơ sở Bảo trợ xã hội quy định tại Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 Trong đó nghiên cứu các điều khoản qui định về chăm sóc người bị thâm thần, các văn bản của Thành phố Hà Nội, Sở LĐTB&XH về chế độ chăm sóc đối với người tâm thần tại Trung tâm, nghiên cứu các văn bản đề cập đến chức năng nhiệm vụ của Trung tâm Chăm sóc

và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội trong chăm sóc người bị tâm thần

Đây là những nội dung sẽ được đối chiếu với hoạt động chăm sóc người bị tâm thần tại trung tâm nhằm làm rõ thực trạng các hoạt động chăm sóc người bệnh được thực hiện tại trung tâm như thế nào Từ đó có cơ sở giữ liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu, phân tích, đưa ra những phân tích đánh giá quan trọng trong nghiên cứu đề tài Những thông tin tác giả thu thập được xử lý một cách khoa học,

Trang 10

mang tính chất định tính và định lượng để đảm bảo tính khách quan cho thông tin nhưng vẫn chứa đựng được nội hàm của luận văn

* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

Đây là phương pháp thường được dùng trong điều tra xã hội học thực nghiệm, là phương pháp có thể thu thập được một lượng thông tin lớn mang tính đại chúng trong quá trình điều tra và thu thập thông tin Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm khảo sát nhận thức của cán bộ và bệnh nhân về hoạt động thực thi chính sách đối với người tâm thần tại trung tâm

Để điều tra và lấy thông tin từ người được hỏi, tác giả đã tiến hành chọn khảo sát bằng bảng hỏi 40 cán bộ đang làm việc tại trung tâm và 50 người tâm thần đang hưởng chính sách tại Trung tâm, nhằm thu thập thông tin, số liệu về thực trạng các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, các hoạt động trợ giúp, cũng như những khó khăn bệnh nhân tâm thần gặp phải và những mong muốn của họ, qua đó so sánh được sự thay đổi trong đời sống hàng ngày và những khó khăn, trở ngại của bệnh nhân tâm thần từ trước khi được đưa vào Trung tâm

Những thông tin thu thập được từ bảng hỏi sẽ làm cơ sở cho tác giả đề xuất những giải pháp thiết thực gắn với nhu cầu và thực trạng đời sống của người bệnh tâm thần, để đưa ra những phương hướng, giải pháp phù hợp

Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu định lượng thu thập được xử

lý, phân tích nhằm xử lý số liệu khảo sát chính xác nhất cho nghiên cứu từ đó có những nhận định tổng quan

Để có cơ sở phân tích dữ liệu tốt thì trong quá trình thu thập số liệu phải xác định được các yêu cầu của đề tài nghiên cứu đề thu thập đúng và đầy đủ các thông tin Qua đó giúp cho quá trình đánh giá thực trạng và tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn sâu

Mục đích sử dụng phương pháp này nhằm xem xét nghiên cứu một cách sâu sắc có căn cứ và cũng để hiểu sâu về bản chất, nguồn gốc của vấn đề đang nghiên cứu Những nguồn lực được sử dụng để giúp đỡ người tâm thần, những hoạt động

tổ chức để người tâm thần tham gia có hiệu quả chưa? Chính sách pháp luật đã được

Trang 11

người tâm thần tiếp cận hay chưa? Và tiếp cận như thế nào? Công tác xã hội đã được phát huy vai trò như thế nào để trợ giúp người tâm thần có hiệu quả

Đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu 03 cán bộ lãnh đạo và 03 cán bộ nhân viên để thu thập thông tin và đánh giá việc thực hiện chính sách từ phía người thực thi chính sách

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đối với bệnh nhân tâm thần trong các Trung tâm bảo trợ xã hội, các yếu tố tác động ảnh hưởng đến hoạt động thực thi chính sách trong chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Luận văn bổ sung một số vấn đề lý luận cơ bản về thực thi chính sách đối với người khuyết tật nói chung và đối với bệnh nhân tâm thần đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại các trung tâm bảo trợ xã hội nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài nghiên cứu cung cấp tương đối đầy đủ về thực trạng thực hiện các chính sách xã hội đối với bệnh nhân tâm thần ở Trung tâm Chăm sóc và Nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội nói riêng và bệnh nhân tâm thần trên cả nước nói chung Trên cơ sở nghiên cứu gợi mở một số giải pháp hỗ trợ nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho người bệnh tâm thần và gia đình của họ tiếp cận với các chính sách xã hội, dịch vụ xã hội dành cho người tâm thần có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thực hiện hoạt động an sinh xã hội

Luận văn phản ánh được thực trạng và đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với người tâm thần cho cán bộ trung tâm cũng như cho cộng đồng Thay đổi nhận thức của cán bộ trung tâm trong việc thực thi chính sách xã hội cho người yếu thế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu, các phụ lục luận văn còn

có 03 chương sau đây

Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách đối với bệnh nhân tâm thần Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách chăm sóc bệnh nhân tâm thần tại

Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội

Trang 12

Chương 3: Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách chăm

sóc bệnh nhân tâm thần từ thực tiễn Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI

TÂM THẦN TẠI CƠ SỞ BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.1 Chính sách chăm sóc người tâm thần khái niệm và các chính sách hiện hành

1.1.1 Khái niệm Chính sách

Theo từ điển Hành chính (2003) đưa ra khái niệm “chính sách là chiến lược

và kế hoạch cụ thể, nhằm đạt một mục đích nhất định dựa vào đường lối chính trị

chung và tình hình thực tế” [Error! Reference source not found., Tr.55]

Như vậy, chính sách được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể là chiến lược, sách lược, kế hoạch hay chuẩn tắc cụ thể tác giả tiếp cận theo hướng

“Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt được mục đích nhất định”

* Phân loại

Chính sách được xem như một công cụ quản lý quan trọng của nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là những vấn đề ứng xử của Nhà nước trong vấn đề phát sinh của xã hội vì vậy chính sách rất đa dạng có thể phân loại theo các cách sau:

- Căn cứ theo lĩnh vực tác động chính sách có thể chia theo một số loại sau:

+> Chính sách kinh tế: là những chính sách điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực kinh tế, nhằm tạo ra động lực phát triển kinh tế +> Chính sách văn hóa: là những chính sách phát triển nền văn hóa với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại mới

+> Chính sách đối nội: là những chính sách hướng vào tiềm lực quốc phòng,

an ninh của đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, tạo điều kiện cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

+> Chính sách đối ngoại: là những chính sách hướng dẫn và điều tiết các mối quan hệ đối ngoại của đất nước với các quốc gia trên thế giới

+> Chính sách xã hội: Chính sách xã hội là chính sách của Nhà nước đề cập

và giải quyết các vấn đề xã hội tức là giải quyết các vấn đề phát sinh từ các quan hệ

Trang 14

xã hội, liên quan đến lợi ích và sự phát triển con người, cộng đồng dân cư, đó là những vấn đề có ý nghĩa chính trị cốt lõi của mỗi quốc gia Do đó, chính sách xã hội phải dựa trên các quan điểm, chủ trương của Đảng, đồng thời các quan điểm, chủ trương đó được thể chế hoá để tác động vào các quan hệ xã hội nhằm giải quyết những vấn đề xã hội, góp phần thực hiện công bằng xã hội, tiến bộ và phát triển con người

Chính sách xã hội là tổng hợp các phương thức, các biện pháp của nhà nước, nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình

độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị, góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mỗi chính sách xã hội cụ thể có mục tiêu riêng Tuy nhiên, mục tiêu bao trùm của chính sách xã hội là thiết lập sự công bằng, trật tự an toàn xã hội, ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội Về thực chất, hệ thống chính sách xã hội hướng vào nâng cao dân trí, dân sinh, dân chủ, đảm bảo cho mọi người sống ấm no, hạnh phúc, nhân ái, bình đẳng và công bằng Có thể nói, chính sách xã hội là chính sách con người, phát triển con người và vì con người Với cách tiếp cận như vậy có thể thấy chính sách xã hội thực chất là một hệ thống các chính sách Mỗi chính sách xã hội có đối tượng, phạm vi, nội dung điều chỉnh nhất định và nhằm vào một mục tiêu nhất định Chính sách xã hội phổ biến là loại chính sách có tác động, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống của các tầng lớp dân

cư, đến toàn thể cộng đồng Chính sách xã hội luôn gắn với một chế độ chính trị –

xã hội nhất định

Do đó, khái quát lại có thể hiểu chính sách xã hội như sau: Chính sách xã hội

là sự thể chế hóa và cụ thể hóa những đường lối, chủ trương giải quyết các vấn đề

xã hội, dựa trên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất của chế độ xã hội chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm tác động trực tiếp vào con người và điểu chỉnh các mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục tiêu cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân

Trong đó có Chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng đối với người tâm thần là một loại

chính sách xã hội thiết lập sự công bằng, trật tự an toàn xã hội, ổn định, phát triển

Trang 15

ivà itiến ibộ ixã ihội. iHệ ithống ichính isách ixã ihội ihướng ivào inâng icao inăng ilực iđảm

ibảo icho ingười itâm ithần icó icuộc isống iấm ino, inhân iái, ibình iđẳng ivà icông ibằng. iCó

ithể inói, ichính isách ixã ihội iđối ivới ingười itâm ithần ilà ichính isách itạo ilập imôi itrường

iổn iđịnh ivề ivật ichất, iphục ihồi ichức inăng ixã ihội iđể icó ithể ihòa inhập icộng iđồng

itham igia ivào icác ihoạt iđộng isinh ihoạt, ilao iđộng ibình ithường

1.1.2 i Chính i sách i chăm i sóc i người i tâm i thần

1.1.2.1 i Khái i niệm i bệnh i nhân i tâm i thần

Bệnh inhân itâm ithần ilà ingười ikỳ idị ikhó ihiểu, ikhó ithâm inhập ibiểu ihiện iđa

idạng ikhi ithì iđạo imạo iđài icác, ikhi ithì ithô ilỗ, ithô ibạo. iLuôn iphủ inhận ibệnh itật ithiếu ihòa

ihợp itrong icác ihành ivi itác iphong icủa ingười ibệnh. iGiảm isút ithế inăng itâm ithần, igiảm

itính inhiệt itình itrong imọi ihoạt iđộng itâm ithần, icảm ixúc ingày icàng icùi imòn, ikhô ilạnh,

itư iduy ingày icàng inghèo inàn. iNhân icách ibệnh inhân ingày icàng itan irã isâu isắc i[Error!

Reference source not found.]. i

1.1.2.2 i Những i khó i khăn i và i nhu i cầu i của i bệnh i nhân i tâm i thần

Trong ixã ihội ihiện inay ido inhận ithức, icách ihiểu ivề ingười itâm ithần ichưa

iđúng ido ivậy idẫn iđến inhững iđánh igiá isai ivề ihọ, ingười inhân iviên ixã ihội imuốn itiếp

icận, itrợ igiúp ihọ ithì itrước ihết icần itìm ihiểu inhững ikhó ikhăn igặp iphải ivà inhu icầu

icủa ihọ itrong icuộc isống

* iKhó ikhăn icủa ingười itâm ithần:

Khó ikhăn ido iđịnh ikiến ixã ihội: iCó inhiều icách inhìn inhận ikhác inhau ivề ingười

itâm ithần ivà icông itác ichăm isóc isức ikhỏe itâm ithần, itrị iliệu iphục ihồi inăng ilực ihành

ivi icho ingười itâm ithần. iNhưng ichủ iyếu iđịnh ikiến ixã ihội iđối ivới ingười itâm ithần ilà

irất ilớn, ihọ ikhông iđược itôn itrọng, ihọ ibị icoi ilà ingười i“điên”. iPhần iđông icộng iđồng

ikhông ihề iquan itâm itới icông itác ichăm isóc isức ikhỏe itâm ithần, itừ inhững iđịnh ikiến

ixã ihội icó isự iphân ibiệt iđối ixử iđối ivới ingười itâm ithần. iDo ivậy, ingười itâm ithần

ithường icó imặc icảm itự iti, ithiếu itự itin, isống ikhép imình, ikhông imuốn igiao itiếp ido

imặc icảm ivề ibệnh itật ivà ibị ikỳ ithị iphân ibiệt iđối ixử. iE ingại ikhi itiếp ixúc ivới imọi

ingười ihọ idễ ibị ikích iđộng ido iảnh ihưởng icủa ibệnh itật idẫn iđến icó inhững ihành ivi

iphá iphách ihoặc itự ilàm ihại ibản ithân, igia iđình ihoặc ingười ixung iquanh

Trang 16

iKhó ikhăn ivề igia icảnh, iđiều ikiện ikinh itế: iĐối ivới icác ibệnh inhân itâm ithần

iđang iđược ichăm isóc ivà inuôi idưỡng itại iTrung itâm ithống ikê itheo ihồ isơ itiếp inhận

iđối itượng i65% i ithuộc iđối itượng ilang ithang ivô igia icư, ikhông icó igia iđình, i35% igia

iđình icó ihoàn icảnh ikhó ikhăn ithuộc iđối itượng ihộ inghèo ihoặc icận inghèo ido ivậy ikhi

ibệnh inhân iốm inặng icần iđiều itrị iở ibệnh iviện ithì igia iđình ikhông icó iđiều ikiện ikinh

itế iđể iphối ihợp ivới iTrung itâm iđiều inày ilà imột ikhó ikhăn irất ilớn iđối ivới ibệnh inhân

ivà iTrung itâm itrong icông itác ichăm isóc inuôi idưỡng ibệnh inhân. i

Nhu icầu icủa ingười itâm ithần:

Đối ivới imỗi icon ingười iđều icó inhững inhu icầu icơ ibản inhư: iăn, imặc, iở, inhu

icầu ihọc itập đối ivới ingười itâm ithần ibên icạnh inhững inhu icầu icớ ibản ithì ihọ icó

inhững inhu icầu iđặc ithù iđể ihọ icó ithể ihòa inhập ivào icuộc isống, itrong iđó inổi ilên

inhững inhu icầu icụ ithể inhư:

Nhu icầu ivề ichăm isóc inuôi idưỡng: ibệnh inhân icó inhu icầu iđược isống, iđược

iđảm ibảo ivề iăn, imặc, iở để iduy itrì isự isống iđối ivới ingười itâm ithần ithì iđây ilà

inhững inhu icầu iđầu itiên ivà icơ ibản iđối ivới imỗi icon ingười

Nhu icầu iphục ihồi inăng ilực ihành ivi:Người ibệnh itâm ithần icó inhững ibiểu

ihiện ibệnh ilý iđặc ibiệt ivới inhiều itrạng ithái ikhác inhau, ibiểu ihiện icảm ixúc ikhông

ibình ithường. iNhưng ibệnh itật icủa ihọ ikhông iphải ilúc inào icũng ibiểu ihiện, imà ixảy ira

iở itừng ithời iđiểm ikhác inhau ikhi ibị ibệnh ithì ihọ ilà imột ingười ikhác inhưng ikhi ihết

ibệnh ihọ ilại ilà imột icon ingười ihoàn itoàn ibình ithường. iNhu icầu icủa ihọ icũng icũng

ithể ihiện inhư i5 inhu icầu icủa iMaslow. iNhu icầu icơ ibản: inhu icầu isinh ilý, inhu icầu ian

itoàn, inhu icầu ixã ihội, inhu icầu iđược itôn itrọng, ivà inhu icầu iđược ikhẳng iđịnh

i[Error! Reference source not found.]

Người itâm ithần ikhông ithể ilàm ichủ iđược ihành ivi icủa imình, ikhông icó inăng

ilực inhận ithức ihoặc inăng ilực inhận ithức igặp ivấn iđề iở inhiều itrạng ithái ibệnh ilý ikhác

inhau. iDo ivậy, ihọ icó inhu icầu iđược itrợ igiúp, iđược ikhôi iphục inăng ilực ihành ivi ivà

iphát itriển icác ichức inăng ixã ihội icủa imình. iTrong iđó imỗi ibệnh inhân ilại icó inhững

itrạng ithái ibệnh ilý ikhác inhau icần iđược itrợ igiúp imột icách ichuyên inghiệp itích icực

Nhu icầu ikết inối idịch ivụ ixã ihội:

Trang 17

Đối ivới icác ingười ibệnh itâm ithần iđang iđược ichăm isóc ivà iđiều itrị itại itrung

itâm ichủ iyếu ithuộc iđối itượng icó ihoàn icảnh iđặc ibiệt ikhó ikhăn ihoặc icác iđối itượng

ibảo itrợ ixã ihội iđặc ibiệt iyếu ithế ihọ irất icần iđược itrợ igiúp. iHiện inay icác iđối itượng

ibệnh inhân iđang iđược ichăm isóc ivà inuôi idưỡng itại itrung itâm iđược ihưởng ichế iđộ

icủa inhà inước itheo iNghị iđịnh i136 igiành icho icác iđối itượng ixã ihội iđược ichăm isóc

ivà inuôi idưỡng itại iTrung itâm

Trong ikhi iđó ihọ ichưa iđược ikết inối ivới icác idịch ivụ ixã ihội ikhác inhư: idịch ivụ

itham ivấn itâm ilý itrong ichăm isóc isức ikhỏe itâm ithần, idịch ivụ iviệc ilàm, idịch ivụ

icung icấp ikiến ithức ikỹ inăng itái ihòa inhập icộng iđồng

Nhu icầu ichăm isóc isức ikhỏe; itrị iliệu itâm ilý:

Đối ivới ingười ibệnh itâm ithần itại iTrung itâm iđa iphần imắc icác ikhuyết itật ibẩm

isinh ikhác, isức ikhỏe iyếu ikhả inăng iđề ikháng ikém, isống itrong imôi itrường itập ithể

ikhả inăng ilây ibệnh icao. iDo ivậy, inhu icầu icần iđược ichăm isóc isức ikhỏe ilà inhu icầu

iquan itrọng itrong icông itác ichăm isóc inuôi idưỡng ibệnh inhân itại iTrung itâm

Trong iđó inhu icầu icấp iphát ithuốc ikịp ithời, inhu icầu iđược ithăm ikhám isức

ikhỏe iđịnh ikỳ ivà ichăm isóc isức ikhỏe iban iđầu icủa ingười itâm ithần iđã itrở ithành inhu

icầu ithường ixuyên iliên itục

Đối ivới ibệnh inhân itâm ithần ikhông iđơn ithuần ichỉ idùng ithuốc iđiều itrị imà iđể

ihỗ itrợ ibệnh inhân itheo inhiều igóc iđộ itheo ihướng itích icực icần icó inhững iliệu ipháp

itrị iliệu itâm ilý, itham ivấn itâm ilý itrong ichăm isóc isức ikhỏe itâm ithần. iVới inhiều ibiểu

ihiện ibệnh ilý ikhác inhau ingười itâm ithần icó inhững itrạng ithái icảm ixúc imâu ithuẫn:

ikhi ithì ibất ian, ikhi ithì itĩnh ilặng, ilại icó ilúc inổi ikhùng itừ inhững imâu ithuẫn iđó ihọ icó

inhu icầu iđược ihỗ itrợ iđể itìm ithấy inhững itrạng ithái icảm ixúc ibình iổn i[Error!

Reference source not found.]

1.1.2.3 i Các i chính i sách i hiện i hành i về i nuôi i dưỡng i chăm i sóc i người i tâm i thần

iNghị iđịnh isố i28/2012/NĐ-CP ingày i10/4/2012 icủa iChính iphủ iquy iđịnh ichi

itiết ivà ihướng idẫn ithi ihành imột isố iđiều icủa iLuật iNgười ikhuyết itật; i

Nghị iđịnh isố i136/2013/NĐ-CP ingày i21/10/2013 icủa iChính iphủ iquy iđịnh

ichính isách itrợ igiúp ixã ihội iđối ivới iđối itượng ibảo itrợ ixã ihội; itrong iđó itại ikhoản i1

iĐiều i25 iNghị iđịnh isố i136/2013/NĐ-CP ingày i21 itháng i10 inăm i2013 icủa iChính

Trang 18

iphủ iquy iđịnh ichính isách itrợ igiúp ixã ihội iđối ivới iđối itượng ibảo itrợ ixã ihội. iNhiệm

ivụ icủa icơ isở itrợ igiúp ixã ihội; iquyền ihạn icủa icơ isở itrợ igiúp ixã ihội. iTrong iđó itại

ikhoản i4 iĐiều i5 iNghị iđịnh isố i136/2013/NĐ-CP ingày i21 itháng i10 inăm i2013 icủa

iChính iphủ iquy iđịnh iCơ isở ibảo itrợ ixã ihội ichăm isóc ivà iphục ihồi ichức inăng icho

ingười itâm ithần, ingười irối inhiễu itâm itrí

Nghị iđịnh isố i103/2017/NĐ-CP ingày i12/9/2017 icủa iChính iphủ iquy iđịnh ivề

ithành ilập, itổ ichức, ihoạt iđộng, igiải ithể ivà iquản ilý iđối ivới icác icơ isở itrợ igiúp ixã ihội;

Thông itư iliên itịch isố i29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ingày i24/10/2014 icủa

iBộ iLao iđộng i- iThương ibinh ivà iXã ihội, iBộ iTài ichính iban ihành ihướng idẫn ithực

ihiện iNghị iđịnh i136/2013/NĐ-CP

1.2 i Chức i năng i nhiệm i vụ i của i các i trung i tâm i bảo i trợ i xã i hội i về i chăm i sóc i bệnh

i nhân i tâm i thần

1.2.1 i Khái i niệm i cơ i sở i bảo i trợ i xã i hội

“Cơ isở ibảo itrợ ixã ihội” ilà iđơn ivị ihoạt iđộng isự inghiệp ixã ihội iđược ithành ilập

ivới imục iđích icung icấp idịch ivụ ichăm isóc inuôi idưỡng iđối itượng ixã ihội icó ihoàn

icảnh iđặc ibiệt, ikhông icó iđiều ikiện isống iở igia iđình, ibao igồm: iCơ isở ibảo itrợ ixã ihội

ichăm isóc inhiều inhóm iđối itượng ibảo itrợ ixã ihội; iCơ isở ichăm isóc ingười igià; icơ isở

ichăm isóc ingười itâm ithần; icơ isở ichăm isóc ingười itàn itật; icơ isở ichăm isóc itrẻ iem icó

- iTiếp inhận iđối itượng icần isự ibảo ivệ ikhẩn icấp;

- iĐánh igiá icác inhu icầu icủa iđối itượng; isàng ilọc ivà iphân iloại iđối itượng

iTrường ihợp icần ithiết ithì ichuyển igửi iđối itượng itới icác icơ isở iy itế, igiáo idục, icơ

iquan icông ian, itư ipháp ihoặc icác icơ iquan, itổ ichức iphù ihợp ikhác;

- iBảo iđảm isự ian itoàn ivà iđáp iứng icác inhu icầu ikhẩn icấp icủa iđối itượng inhư:

iNơi icư itrú itạm ithời, ithức iăn, iquần iáo ivà iđi ilại

Trang 19

- iTham ivấn, itrị iliệu irối inhiễu itâm itrí, ikhủng ihoảng itâm ilý ivà iphục ihồi ithể

ichất icho iđối itượng

- iTư ivấn ivà itrợ igiúp iđối itượng ithụ ihưởng icác ichính isách itrợ igiúp ixã ihội;

iphối ihợp ivới icác icơ iquan, itổ ichức iphù ihợp ikhác iđể ibảo ivệ, itrợ igiúp iđối itượng; itìm

ikiếm, isắp ixếp icác ihình ithức ichăm isóc

- iXây idựng ikế ihoạch ican ithiệp ivà itrợ igiúp iđối itượng; igiám isát ivà irà isoát ilại

icác ihoạt iđộng ican ithiệp, itrợ igiúp ivà iđiều ichỉnh ikế ihoạch

- iTiếp inhận, iquản ilý, ichăm isóc, inuôi idưỡng icác iđối itượng ibảo itrợ ixã ihội

ithuộc idiện iđặc ibiệt ikhó ikhăn, ikhông itự ilo iđược icuộc isống ivà ikhông icó iđiều ikiện

isinh isống itại igia iđình, icộng iđồng

- iCung icấp idịch ivụ iđiều itrị iy itế iban iđầu

- iTổ ichức ihoạt iđộng iphục ihồi ichức inăng, itrợ igiúp icác iđối itượng itrong icác

ihoạt iđộng itự iquản, ivăn ihóa, ithể ithao, icác ihoạt iđộng ikhác iphù ihợp ivới ilứa ituổi ivà

isức ikhỏe icủa itừng inhóm iđối itượng ilao iđộng isản ixuất itheo iquy iđịnh icủa ipháp iluật

- iChủ itrì, iphối ihợp ivới icác iđơn ivị, itổ ichức iđể idạy ivăn ihóa, idạy inghề, igiáo

idục ihướng inghiệp inhằm igiúp iđối itượng iphát itriển ivề ithể ichất, itrí ituệ, inhân icách ivà

ihòa inhập icộng iđồng

- iCung icấp icác idịch ivụ ivề igiáo idục ixã ihội ivà inâng icao inăng ilực

- iCung icấp icác idịch ivụ ivề igiáo idục ixã ihội iđể igiúp iđối itượng iphát itriển ikhả

inăng itự igiải iquyết icác ivấn iđề, ibao igồm icả igiáo idục ikỹ inăng ilàm icha imẹ icho

inhững iđối itượng icó inhu icầu; iđào itạo ikỹ inăng isống icho itrẻ iem ivà ingười ichưa

ithành iniên;

- iHợp itác ivới icác icơ isở iđào itạo itổ ichức iđào itạo, itập ihuấn ivề icông itác ixã ihội

icho iđội ingũ inhân iviên, icộng itác iviên icông itác ixã ihội ihoặc ilàm iviệc itại icác icơ isở

icung icấp idịch ivụ icông itác ixã ihội;

- iTổ ichức icác ikhóa itập ihuấn, ihội ithảo icung icấp ikiến ithức, ikỹ inăng icho icác

inhóm iđối itượng icó inhu icầu

- iQuản ilý iđối itượng iđược icung icấp idịch ivụ icông itác ixã ihội

- iThực ihiện icác ibiện ipháp iphòng ingừa iđối itượng irơi ivào ihoàn icảnh ikhó

ikhăn ivà ibị ixâm ihại, ibạo ilực, ingược iđãi

Trang 20

- iPhát itriển icộng iđồng

- iLiên ihệ ivới ingười idân, ichính iquyền icác icấp itrong iviệc ixác iđịnh icác ivấn

iđề icủa icộng iđồng iđể ixây idựng ichương itrình, ikế ihoạch itrợ igiúp icộng iđồng;

- i iĐề ixuất ichính isách ivới icác icơ iquan icó ithẩm iquyền;

- iXây idựng imạng ilưới inhân iviên, itình inguyện iviên icông itác ixã ihội

- iTổ ichức icác ihoạt iđộng itruyền ithông, inâng icao inhận ithức

i- iChủ itrì, iphối ihợp ivới ichính iquyền iđịa iphương iđưa iđối itượng iđủ iđiều ikiện

ihoặc itự inguyện ixin ira ikhỏi icơ isở itrở ivề ivới igia iđình, itái ihòa inhập icộng iđồng; ihỗ

itrợ, itạo iđiều ikiện icho iđối itượng iổn iđịnh icuộc isống

- iQuản ilý itài ichính, itài isản, icông ichức, iviên ichức ivà ingười ilao iđộng itheo

iquy iđịnh icủa ipháp iluật

- iTổ ichức ivận iđộng ivà itiếp inhận isự ihỗ itrợ itài ichính, ihiện ivật icủa icơ iquan,

itổ ichức, icá inhân iở itrong inước ivà inước ingoài iđể ithực ihiện icác ihoạt iđộng icủa icơ

isở

- iThực ihiện icác ihoạt iđộng icung icấp idịch ivụ itheo iyêu icầu ivà icác inhiệm ivụ

ikhác ido icấp icó ithẩm iquyền iquyết iđịnh

- iTổ ichức icác ihoạt iđộng icung icấp idịch ivụ itrợ igiúp ixã ihội icho ingười icó inhu

icầu itheo iquy iđịnh

- i iTừ ichối iyêu icầu icung icấp idịch ivụ itrợ igiúp ixã ihội icho iđối itượng inếu

ikhông iphù ihợp ivới ichức inăng, inhiệm ivụ icủa icơ isở, itrừ itrường ihợp icó iquyết iđịnh

icủa icơ iquan ihoặc ingười icó ithẩm iquyền

- iLựa ichọn icác ibiện ipháp inghiệp ivụ itrợ igiúp ixã ihội iđể itrợ igiúp iđối itượng

itheo iquy iđịnh icủa ipháp iluật

iCác iquyền ikhác itheo iquy iđịnh icủa ipháp iluật

* i Đối i với i Trung i tâm i chăm i sóc i và i nuôi i dưỡng i người i tâm i thần i Hà i Nội i thực

i hiện i chức i năng, i nhiệm i vụ:

- iTiếp inhận, iquản ilý, inuôi idưỡng, ichăm isóc, iđiều itrị ivà iphục ihồi ichức inăng

icho ingười ikhuyết itật itâm ithần itheo iquy iđịnh icủa ipháp iluật; itiếp inhận, iquản ilý,

ichăm isóc, inuôi idưỡng, iđiều itrị ivà iphục ihồi ichức inăng icho ingười ikhuyết itật itâm

ithần ido igia iđình itự inguyện igửi ivào iTrung itâm

Trang 21

- iĐối itượng iphục ivụ: iNgười imắc ibệnh itâm ithần ithuộc icác iloại itâm ithần

iphân iliệt, irối iloạn itâm ithần iđã iđược icơ iquan iy itế ichuyên ikhoa itâm ithần ichữa itrị

inhiều ilần inhưng ichưa ithuyên igiảm ivà icó ikết iluận ibệnh imãn itính, isống iđộc ithân

ikhông inơi inương itựa ihoặc igia iđình ithuộc ihộ inghèo, ithuộc idiện iđặc ibiệt ikhó ikhăn

ikhông itự ilo iđược icuộc isống… itheo iquy iđịnh icủa ipháp iluật; ingười ikhuyết itật itâm

ithần ido igia iđình itự inguyện igửi ivào iTrung itâm

- iNhiệm ivụ: iXây idựng, ithực ihiện ikế ihoạch itiếp inhận, iphân iloại, iquản ilý,

inuôi idưỡng, ichăm isóc, iđiều itrị ivà iphục ihồi ichức inăng icho ingười itâm ithần itheo

iquyết iđịnh icủa icơ iquan inhà inước icó ithẩm iquyền

Xây idựng ikế ihoạch itiếp inhận, ikhám, iđiều itrị, ichăm isóc ivà inuôi idưỡng

ingười itâm ithần icó iquyết iđịnh iđược itiếp inhận ivào itrung itâm

Đánh igiá, itham ivấn iphương ipháp ichăm isóc, ican ithiệp, itrị iliệu inâng icao

icông itác ichăm isóc isức ikhỏe itâm ithần. i

Phục ihồi ivà iChăm isóc isức ikhỏe itâm ithần, iphục ihồi inăng ilực ihành ivi, iphát

itriển ichức inăng ixã ihội icho iđối itượng

Tư ivấn ivà itập ihuấn icho igia iđình ingười ibệnh ivề ichăm isóc, itrợ igiúp ingười ibệnh Tâm ilý itrị iliệu, igiáo idục icung icấp ikiến ithức igiúp iđối itượng icó ikỹ inăng itái

ihòa inhập icộng iđồng

Lao iđộng itrị iliệu, ihướng inghiệp idạy inghề igiúp ibệnh inhân iphục ihồi ikhả

inăng ivận iđộng icó icơ ihội iđược itham igia ilao iđộng ităng ithu inhập, iphục ihồi icác ichức

inăng ivận iđộng

Cung icấp idịch ivụ iđối ivới icá inhân ivà igia iđình icó inhu icầu ivề iquản ilý inuôi

idưỡng ivà iphục ihồi ichức inăng icho ingười itâm ithần itại itrung itâm icũng inhư itại icộng

iđồng

Thực ihiện icông itác ikết inối idịch ivụ itranh ithủ icác inguồn ilực, itạo iđiều ikiện

igiúp iđối itượng itái ihòa inhập icộng iđồng

Thực ihiện icông itác ikết inối idịch ivụ itranh ithủ icác inguồn ilực, itạo iđiều ikiện

igiúp iđối itượng itái ihòa inhập icộng iđồng

Thực ihiện iphối ihợp ichặt ichẽ ivới igia iđình itrong icông itác iquản ilý, ichăm isóc

inuôi idưỡng

Trang 22

Tổ ichức iphân iloại, ikhám ichữa ibệnh, ilao iđộng iliệu ipháp, iphục ihồi ichức

inăng, ihoạt iđộng ivăn ihóa, ithể ithao inhằm inâng icao isức ikhỏe ivà iổn iđịnh itinh ithần

icho ingười ibệnh iphù ihợp ivới iđiều ikiện icủa iTrung itâm

Tư ivấn ivà itập ihuấn icho igia iđình ingười ikhuyết itật itâm ithần ivề iphương ipháp

ichăm isóc, itrợ igiúp ingười itâm ithần

Tư ivấn, igiúp iđỡ ingười ibệnh itâm ithần itrở ivề ivới igia iđình, itái ihòa inhập icộng

iđồng; ihỗ itrợ iviệc ichăm isóc ingười ibệnh itâm ithần itại igia iđình ivà icộng iđồng

Thực ihiện icác ibiện ipháp ihỗ itrợ ikhẩn icấp iđối ivới ingười ibệnh iliên iquan iđến

irối iloạn, ikhủng ihoảng itâm ilý; itư ivấn, ihướng idẫn igiới ithiệu icác ibệnh inhân itâm

ithần ithuộc ithể inhẹ itới icác idịch ivụ iphù ihợp

Cung cấp dịch vụ về công tác xã hội đối với cá nhân, gia đình có nhu cầu về quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng cho người tâm thần tại Trung tâm và cộng đồng

1.3 Thực hiện chính sách chăm sóc người tâm thần tại các cơ sở bảo trợ xã hội

1.3.1 Lực lượng chăm sóc

Tại khoản 1 Điều 25 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm

2013 của Chính phủ quy định nhân viên trợ giúp xã hội phải bảo đảm tiêu chuẩn sau

đây: Có sức khỏe để thực hiện trợ giúp xã hội đối tượng; Có năng lực hành vi dân

sự đầy đủ; Có phẩm chất đạo đức tốt, không mắc tệ nạn xã hội và không thuộc đối tượng bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích;

Có kỹ năng để trợ giúp xã hội đối tượng; Có đội ngũ nhân viên trợ giúp xã hội bảo đảm đủ về số lượng, trình độ chuyên môn đạt tiêu chuẩn phù hợp để thực hiện các nhiệm vụ của cơ sở Sử dụng định mức nhân viên tại cơ sở trợ giúp xã hội theo đúng quy định với cơ cấu tổ chức, các phòng ban chức năng sử dụng định mức

Những cán bộ, nhân viên đều là những người đã có thời gian làm việc khác nhau trong lĩnh vực hỗ trợ người tâm thần Phần lớn cán bộ, nhân viên đều được sắp xếp trình độ chuyên môn gần với vị trí việc làm, cán bộ trung tâm có kinh nghiệm kiến thức, kỹ năng trong hoạt động chăm sóc sức khỏe tâm thần, cũng như những hoạt động trợ giúp họ

Trang 23

Đa số cán bộ đều có tinh thần trách nhiệm trong việc học tập nâng cao trình

độ chuyên môn nghiệp vụ, học hỏi kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, tại các khoa đều có các nhân viên công tác xã hội

* Nhân viên công tác xã hội thực hiện hoạt động tiếp nhận, quản lý hồ sơ đối tượng

Công tác xã hội viên phụ trách công tác hồ sơ thực hiện đúng theo quy trình tiếp nhận đối tượng tại nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2007/NĐ-CP Đối tượng tiếp nhận vào Trung tâm phải là đối tượng khuyết tật đặc biệt nặng, có quyết định của Sở trong trường hợp chính sách, trong trường hợp tự nguyện phải có giấy chứng nhận khuyết tật do bệnh viện có đủ thẩm quyền cấp

Công tác xã hội viên quản lý và lưu trữ hồ sơ đối tượng ngay từ khi đối tượng được tiếp nhận vào trung tâm được thực hiện theo quy trình quản lý đối tượng, các thông tin được cập nhật chính xác, khoa học kịp thời và được quản lý lưu trữ bằng dữ liệu điện tử

* Nhân viên xã hội tại cơ sở Phối hợp tổ chức thực hiện hoạt động Lao động trị liệu

- Nhân viên xã hội phối hợp với cán bộ làm công tác y tế, phục hồi chức năng đánh giá kết quả tham gia hoạt động của người tâm thần Qua hoạt động Lao động trị liệu cho người tâm thần làm cho gia đình, cộng đồng nhận thức đúng đắn

về bệnh tâm thần, hiểu rõ tác dụng của lao động với người bệnh tâm thần sẽ tích cực khuyến khích họ tham gia, hướng dẫn họ các hoạt động phục hồi chức năng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Nhằm giúp đối tượng phát triển tư duy nhận thức, khôi phục các chức năng vận động, phát triển ngôn ngữ, giao tiếp và các kĩ năng sống

* Nhân viên xã hội tại cơ sở kết nối, phối hợp tổ chức thực hiện hoạt động hoạt động tâm lý trị liệu

- Nhân viên Công tác xã hội phối hợp với cán bộ được đào tạo về tâm lý học, giáo dục đặc biệt thực hiện các nội dung tâm lý trị liệu cho người bệnh tâm thần

Trang 24

Nhân viên Công tác xã hội thực hiện kết nối dịch vụ với các tổ chức, các cơ

sở đào tạo thực hiện các hoạt động trị liệu mang lại hiệu quả cho người tâm thần

* Nhân viên xã hội tại cơ sở tổ chức thực hiện hoạt động quản lý Giáo dục - Hòa nhập cộng đồng

Nhân viên công tác xã hội đảm bảo 01 nhân viên công tác xã hội quản lý trường hợp tối đa 100 đối tượng

Nhân viên chăm sóc trực tiếp đảm bảo 01 cán bộ chăm sóc 02 bệnh nhân sa sút cách ly, 01 cán bộ chăm sóc 04 bệnh nhân thuyên giảm

- Trong đó nhân viên công tác xã hội phối hợp với cán bộ y tế, cán bộ phục hội chức năng thực hiện nội dung giáo dục cho người bệnh tâm thần qua: cách tự chăm sóc bản thân, kiến thức về sức khỏe bệnh tật, dạy nghề, kỹ năng sống

- Nhân viên Công tác xã hội tổ chức hoạt động Giáo dục nhóm là cách tốt nhất tạo môi trường và sự truyền thụ kiến thức, kỹ năng cho người bệnh tâm thần

* Nhân viên xã hội tại cơ sở tổ chức thực hiện hoạt động nuôi dưỡng đời sống Nhân viên phụ trách dinh dưỡng, nhân viên phục hồi chức năng, giáo viên dạy văn hóa, dạy nghề đảm bảo cơ số theo quy định

* Nhân viên y tế tại cơ sở tổ chức thực hiện hoạt động điều trị, chăm sóc sức khỏe tại chỗ cho đối tượng Tổ chức thực hiện hoạt động khám, chữa bệnh định kỳ cho đối tượng tại trung tâm

Lập hồ sơ bệnh án tiếp nhận đối tượng vào Trung tâm

Tổ chức khám và chữa bệnh định kỳ phân loại tình hình bệnh lý của bệnh nhân điều trị trong tháng theo loại bệnh

1.3.2 Nội dung các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng người tâm thần theo qui định của các chính sách hiện hành

Hoạt động thực thi chính sách là quá trình con người vận dụng những kiến thức,

kỹ năng để áp dụng những quy định của luật, giúp cho một nhóm đối tượng được thụ hưởng những chính sách theo đúng những quy định của luật ban hành Trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu hoạt động thực hiện chính sách đối với người khuyết tật tâm thần có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nuôi dưỡng tại trung tâm

Trang 25

* Chính sách thực hiện Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội

Đối tượng quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ khi sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội được hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định sau đây:

- Mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng thấp nhất cho mỗi đối tượng bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định này nhân với hệ số tương ứng theo quy định sau đây:

+> Hệ số 5,0 đối với trẻ em dưới 04 tuổi;

+> Hệ số 4,0 đối với trẻ em từ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc người từ đủ 60 tuổi trở lên;

+> Hệ số 3,0 đối với người từ 16 tuổi đến đủ 60 tuổi;

- Hệ số đối với người khuyết tật, trẻ em khuyết tật thực hiện theo quy định tại Nghị định số 28/2012/NĐ-CP;

* Chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí theo quy định pháp luật về bảo hiểm y tế

* Chính sách hỗ trợ chi phí mai táng khi chết với mức bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội

* Cấp vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày, chăn, màn, chiếu, quần

áo mùa hè, quần áo mùa đông, quần áo lót, khăn mặt, giày, dép, bàn chải đánh răng, thuốc chữa bệnh thông thường, băng vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với đối tượng

nữ trong độ tuổi sinh đẻ, sách, vở, đồ dùng học tập đối với đối tượng đang đi học và các chi phí khác theo quy định;

- Trường hợp đối tượng thuộc diện hưởng các mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng khác nhau quy định tại Khoản 1 Điều này thì chỉ được hưởng một mức cao nhất Trường hợp đối tượng đã được hưởng chế độ trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng quy định tại Khoản 1 Điều này thì không được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng quy định tại Điều 6 Nghị định này

* Chính sách đối với hoạt động hỗ trợ giáo dục, đào tạo và tạo việc làm Điều 27 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013

Trang 26

Đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội được hưởng chính sách hỗ trợ học mầm non, giáo dục phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học theo quy định của pháp luật

Đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định này từ 16 tuổi trở lên đang học các cấp học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học thì itiếp itục iđược ichăm isóc, inuôi idưỡng itại icơ isở ibảo itrợ ixã ihội, inhà ixã ihội icho iđến

ikhi itốt inghiệp ivăn ibằng ithứ inhất, inhưng ikhông iquá i22 ituổi

Trẻ iem itừ i13 ituổi itrở ilên iđược ichăm isóc, inuôi idưỡng itại icơ isở ibảo itrợ ixã

ihội, inhà ixã ihội ikhông icòn ihọc iphổ ithông ithì iđược igiới ithiệu ihọc inghề

Đối itượng iquy iđịnh itại iKhoản i1 iĐiều i5 iNghị iđịnh inày itừ i16 ituổi itrở ilên

ikhông itiếp itục ihọc iphổ ithông, ihọc inghề, itrung ihọc ichuyên inghiệp, icao iđẳng, iđại

ihọc iđược iđưa itrở ivề inơi iở itrước ikhi ivào icơ isở ibảo itrợ ixã ihội, inhà ixã ihội. iỦy iban

inhân idân icấp ixã inơi iở itrước iđây icủa iđối itượng icó itrách inhiệm itiếp inhận, itạo iđiều

ikiện iđể icó iviệc ilàm, iổn iđịnh icuộc isống

Đối itượng iquy iđịnh itại iKhoản i1 iĐiều i5 iNghị iđịnh inày itừ i16 ituổi itrở ilên

ikhông itiếp itục ihọc iphổ ithông, ihọc inghề, itrung ihọc ichuyên inghiệp, icao iđẳng, iđại

ihọc ithì icơ isở ibảo itrợ ixã ihội, inhà ixã ihội ivà iđịa iphương ixem ixét ihỗ itrợ iđể icó inơi iở,

itạo iviệc ilàm ivà itrợ icấp ixã ihội ihàng itháng icho iđến ikhi itự ilập iđược icuộc isống,

inhưng ikhông iquá i24 itháng

1.3.3 i Các i bước i tổ i chức i thực i thi i chính i sách i đối i với i người i tâm i thần i có i hoàn

i cảnh i đặc i biệt i khó i khăn

Để itổ ichức ithực ihiện ichính isách icó ihiệu iquả icần iphải ituân ithủ imột iquy

itrình ichặt ichẽ ithống inhất ivề iquy itrình inhằm iphản iánh icác ibước itrong iviệc itổ ichức

itriển ikhai ivà ithực ihiện ichính isách. iQuy itrình icác ibước iđều icó inhiệm ivụ irõ iràng

iphải icó ihiệu iquả iđể itác iđộng iqua ilại, inhằm iđạt iđược imục itiêu itốt inhất itrong iviệc

ithực ihiện ichính isách, igồm icác ibước isau i[Error! Reference source not found.]:

* i Xây i dựng i kế i hoạch i triển i khai i thực i hiện i chính i sách i đối i với i người i tâm i thần

Để iđạt iđược ikết iquả itốt ivà icó ihiệu iquả itrong itổ ichức ithực ithi ichính isách iđối

ivới ingười itâm ithần, itrước itiên icần iphải itiến ihành ixây idựng ikế ihoạch itriển ikhai

ithực ithi ichính isách imột icách ichi itiết, icụ ithể, irõ iràng itừ ikế ihoạch itổ ichức iđiều

Trang 27

ihành, ikế ihoạch ivề icác inguồn ilực, ikế ihoạch ithời igian itriển ikhai, ikế ihoạch ikiểm itra,

iđôn iđốc ithực ithi ichính isách; iđồng ithời iphải iđảm ibảo ituân ithủ itheo iđúng iquan

iđiểm, imục itiêu, iyêu icầu icủa ichủ ithể iban ihành. iKhi ixây idựng ikế ihoạch ithực ithi

ichính isách iđối ivới ingười itâm ithần icần iquy iđịnh inhững inội idung icơ ibản isau:

- iKế ihoạch itổ ichức iđiều ihành: iDự ikiến iphòng, iban ithực ihiện iphải iphân

icông irõ itrách inhiệm icho ibộ iphận, itừng icán ibộ, icông ichức itrong ithực ithi ichính

isách, itránh ichồng ichéo inhiệm ivụ igiữa icác ibộ iphận, icán ibộ inày ivới icán ibộ ikhác

- iKế ihoạch icung icấp icác inguồn ilực ithực ihiện: iDự ikiến ivề icơ isở ivật ichất,

icác icông icụ, iphương itiện ikỹ ithuật iphục ivụ itổ ichức ithực ihiện, iđảm ibảo icung icấp

iđủ inguồn ilực itài ichính, icon ingười inhằm iđảm ibảo iviệc itriển ikhai ithực ithi ichính

isách icho iđối itượng idiễn ira iđược ithuận ilợi, imang ilại ihiệu iquả

- iKế ihoạch ithời igian ithực ihiện ichính isách: iDự itrù ithời igian iduy itrì ichính

isách, ithời igian icủa icác ibước ithực ihiện ichính isách itừ iphổ ibiến, ituyên itruyền ichính

isách iđến itổng ikết iđánh igiá, ichia isẽ ivà irút ikinh inghiệm ithực ihiện ichính isách. iMỗi

ibước iphải inêu irõ imục itiêu iđưa ira ivà ithời igian idự ikiến

- iKế ihoạch ikiểm itra, iđôn iđốc ithực ihiện ichính isách: iDự ikiến ivề itiến iđộ ihình

ithức, iphương ipháp ikiểm itra, igiám isát itổ ichức ithực ihiện ichính isách ivề iquy iđịnh

inội idung, iquy ichế ivề itổ ichức iđiều ihành, ivề itrách inhiệm, inhiệm ivụ, iquyền ihạn icủa

icá inhân itổ ichức, ivề icác ibiện ipháp ikhen ithưởng, ikỷ iluật icá inhân, itập ithể itrong itổ

ichức ithực ihiện ichính isách

* i Phổ i biển, i tuyên i truyền i chính i sách i đối i với i người i tâm i thần

Tuyên itruyền, iphổ ibiến ichính isách iđối ivới ingười itâm ithần ilà inhiệm ivụ iquan

itrọng iđối ivới icác icơ iquan, iđơn ivị, icác iđối itượng ithực ihiện ichính isách. iPhổ ibiến,

ituyên itruyền ilàm icho icác iđối itượng, igia iđình icủa ihọ ivà icán ibộ inhận ibiết ivề imục

iđích, iyêu icầu, iđầy iđủ, ichính ixác icủa ichính isách iđể icác ibên icó iliên iquan itự igiác

itham igia ithực ihiện, iđồng ithời igiúp icho icán ibộ, icông ichức icó itrách inhiệm itổ ichức

ithực ihiện ichính isách inhận ithức iđược iđầy iđủ itính ichất, imức iđộ, iquy imô, itầm iquan

itrọng icủa ichính isách iđối ivới iđối itượng iđể ihọ ichủ iđộng itích icực itìm ikiếm icác igiải

ipháp iđến imục itiêu ichính isách ivà itriển ikhai ithực ihiện imang ilại ihiệu iquả icao itrong

ikế ihoạch ichính isách

Trang 28

Công itác iphổ ibiến, ituyên itruyền iđược ithể ihiện inhiều ihình ithức inhư ithông

iqua ibáo ichí, iphát ithanh, itruyền ihình, itổ ichức ihội inghị Phổ ibiến, ituyên itruyền irất

iquan itrọng itrong iviệc itổ ichức ithực ihiện ichính isách. iPhổ ibiến, ituyên itruyền ichính

isách iphải ikịp ithời ivà ihiệu iquả ilàm iđối itượng ichính isách itiếp icận, ikê ikhai, ithụ

ihưởng ichính isách inhanh ichóng ilàm. iCán ibộ, icông ichức ithực ithi ichính isách irút

ingắn ithời igian, itriệt iđể, iđạt iđến imục itiêu iđề ira. i

* i Phối i hợp i thực i hiện i chính i sách i đối i với i người i tâm i thần

Để iviệc ithực ihiện ichính isách iđối ivới ingười itâm ithần iđạt ihiệu iquả icao, icần

iphải iphân icông, iphối ihợp ichặt ichẽ igiữa icác icơ iquan iquản ilý, icác ingành, icác icấp,

ichính iquyền iđịa iphương. iSự iphân icông iphải iđảm ibảo itính icụ ithể, irõ iràng, ichặt

ichẽ, ikhoa ihọc ivà ihợp ilý, ixác iđịnh icơ iquan, icá inhân inào iđóng ivai itrò ichủ itrì, icơ

iquan ivà icá inhân inào icó ichức inăng iphối ihợp. i

Thực itế, ichính isách imới iban ihành ixong inhưng ikhông ithể itriển ikhai ithực

ihiện ihoặc ithực ihiện ikhông imang ilại ihiệu iquả, iđó ilà ido isự iphân icông, itrách inhiệm

icho icác icơ iquan ichủ iquản ivà icơ iquan iphối ihợp ibị ichồng ichéo ivà ikhông i irõ iràng,

ithống inhất igiữa icác icơ iquan ichủ iquản ivà icơ iquan iphối ihợp idẫn iđến igặp ikhó ikhăn,

ixảy ira itình itrạng iné itránh, iđùn iđẩy itrách inhiệm idẫn iđến ikhông iai ilàm ihết itrách

ihoặc ilàm inửa ivời ikhông iđến inơi, iđến ichốn. iChính ivì ivậy, iđể iviệc itổ ichức ithực

ihiện ichính isách iđối ivới ingười itâm ithần inói iriêng ivà icác iđối itượng ibảo itrợ ixã ihội

inói ichung icó ihiệu iquả, icần iphải icó isự ithống inhất icao ivề iquan iđiểm, imục itiêu, ikế

ihoạch ivà ihệ ithống ichính itrị, itừ icông itác ilãnh iđạo, ichỉ iđạo iđến icông itác ituyên

itruyền, ivận iđộng, icông itác icung iứng inguồn ilực itài ichính, itrang ithiết ibị ivà icơ isở

ivật ichất iđảm ibảo iđến ithực ihiện ichính isách. i

* i Duy i trì i chính i sách i đối i với i người i tâm i thần

Duy itrì ichính isách ingười itâm ithần ilà ihoạt iđộng, ilà ikhâu inhằm ibảo iđảm icho

ichính isách itồn itại iđược ivà iphát ihuy itác idụng itrong imôi itrường ithực itế. iVì ithế, icác

icơ iquan ivà ingười ithực ihiện ichính isách iphải ithường ixuyên iquan itâm ituyên itruyền

iđể icán ibộ, icông ichức itích icực itham igia ivào iquá itrình ithực ithi ichính isách iđể icó

inhững itham imưu, iđề ixuất iđể icó inhững igiải ipháp iphù ihợp

Trang 29

Cung icấp icác idịch ivụ ikhẩn icấp; itham ivấn, itrị iliệu irối inhiễu itâm itrí, ikhủng

ihoảng itâm ilý ivà iphục ihồi ithể ichất icho ingười itâm ithần. iTư ivấn ivà itrợ igiúp ingười

itâm ithần ithụ ihưởng icác ichính isách itrợ igiúp ixã ihội; iphối ihợp ivới icác icơ iquan, itổ

ichức iphù ihợp ikhác iđể ibảo ivệ, itrợ igiúp ingười itâm ithần; itìm ikiếm, isắp ixếp icác ihình

ithức ichăm isóc. iXây idựng ikế ihoạch ican ithiệp ivà itrợ igiúp iđối itượng; igiám isát ivà irà

soát lại các hoạt động can thiệp, trợ giúp và điều chỉnh kế hoạch Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện đặc biệt khó khăn, không tự lo được cuộc sống và không có điều kiện sinh sống tại gia đình, cộng đồng; Cung cấp dịch vụ điều trị y tế ban đầu; Tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, trợ giúp người tâm thần trong các hoạt động tự quản, văn hóa, thể thao, các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi và sức khỏe của từng nhóm người tâm thần lao động sản xuất theo quy định của pháp luật Chủ trì, phối hợp với các đơn vị, tổ chức để dạy văn hóa, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp nhằm giúp đối tượng phát triển về thể chất, trí tuệ, nhân cách và hòa nhập cộng đồng Cung cấp các dịch vụ về giáo dục xã hội và nâng cao năng lực Quản lý người tâm thần được cung cấp dịch

vụ công tác xã hội Thực hiện các biện pháp phòng ngừa đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn và bị xâm hại, bạo lực, ngược đãi Tổ chức các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức Chủ trì, phối hợp với chính quyền địa phương đưa người tâm thần đủ điều kiện hoặc tự nguyện xin ra khỏi cơ sở trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng; hỗ trợ, tạo điều kiện cho người tâm thần ổn định cuộc sống

Tổ chức các hoạt động cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội cho người có nhu cầu theo quy định Từ chối yêu cầu cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội cho người tâm thần nếu không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ sở, trừ trường hợp có quyết định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền Lựa chọn các biện pháp nghiệp

vụ trợ giúp xã hội để trợ giúp người tâm thần theo quy định của pháp luật các quyền khác theo quy định của pháp luật

* Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với người tâm thần

Kiểm tra, theo dõi, đôn đốc thực thi chính sách đối với người tâm thần kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách, vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách, giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách

Trang 30

đối với người tâm thần Phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, theo dõi việc thực hiện chính sách đối với người tâm thần, liên tục từ cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách, đến các cơ quan và cán bộ, công chức được phân công thực hiện chính sách; kiểm tra chính sách; việc tổ chức thực hiện có đúng nguyên tắc, quy trình không? Kiểm tra tổ chức thực hiện chính sách đối với người tâm thần mục đích ngăn ngừa các vi phạm sai sót có thể xảy ra, xử lý nghiêm khắc, vi phạm chấn chỉnh sai sót đã xảy ra Do đó kiểm tra việc thực thi chính sách đối với người tâm thần cần được tiến hành đúng kế hoạch, bảo đảm các yêu cầu, các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá kết luận các vi phạm sai sót phải chính xác và khách quan, xem xét xử lý nghiêm khắc, chấn chỉnh và đúng mực Kiểm tra thực hiện chính sách đối với người tâm thần nhằm đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu trong việc tổ chức thực thi chính sách, để phát hiện những sai sót trong việc lập kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách nhằm kịp thời điều chỉnh, nhằm phối hợp với các cơ quan thực thị chính sách đối với người tâm thần

* Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với người tâm thần

Tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo điều hành và chấp hành chính sách của các phòng ban, cá nhân tổ chức có liên quan thực hiện chính sách, mang chính sách đến với đối tượng yếu thế, hiệu quả cho đối tượng người tâm thần hưởng lợi từ chính sách

Hằng năm, đơn vị tiến hành tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm, việc tổng kết, đánh giá chỉ đạo điều hành về thực hiện chính sách cho đối tượng người tâm thần Tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách cho đối tượng người tâm thần về việc xây dựng kế hoạch, chỉ đạo triển khai; công tác tuyên truyền, phổ biến; công tác phối hợp tổ chức thực hiện để biểu dương, mặt khác đưa ra tồn tại, hạn chế, thiếu sót để kịp thời khắc phục Kiến nghị đến cấp có thẩm quyền nhằm bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp thực tiễn

Kết quả thực hiện chính sách là: Tinh thần đến mục tiêu chính sách; ý thức chấp hành các quy định về cơ chế, biện pháp thực hiện đến mục tiêu chính sách và hiệu quả chính sách đến điều kiện không gian và thời gian

Trang 31

Do vậy tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực thi chính sách đối tượng người tâm thần là một nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách tại trung tâm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách một cách nghiêm túc mới biết được chính xác kết quả thực hiện chính sách và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách đối tượng người tâm thần

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đối với người tâm thần tại trung tâm

1.4.1 Yếu tố thuộc về thể chế chính sách

Thể chế chính sách đối với người tâm thần được nuôi dưỡng tại trung tâm: Chính sách của Nhà nước và toàn xã hội đối với người tâm thần thể hiện trong việc Nhà nước tổ chức nghiên cứu, hoạch định, ban hành hệ thống chính sách bảo trợ xã hội, chế độ và tổ chức thực hiện Chính sách này nhằm nâng cao và cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho người đối với người tâm thần thể hiện sự quan tâm Nhà nước và toàn xã hội đối với những người yếu thế Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ xã hội phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước cũng như từng địa phương Chính sách luôn được bổ sung, sửa đổi, cải thiện nhằm từng bước cải thiện đời sống của đối với người tâm thần Sự phối hợp kết hợp với các cấp, ngành có liên quan về việc chỉ đạo điều hành triển khai thực hiện chính sách, thì chính sách sẽ phù hợp, thuận lợi và khả thi Nếu chính sách không phù hợp với thực tiễn thì dẫn đến việc đảm bảo an sinh xã hội của Nhà nước gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí không khả thi, thiếu hiệu quả như chính sách bị bó hẹp, kế hoạch triển khai không được đồng nhất, các đối tượng yếu thế không được thụ hưởng

Yếu tố điều kiện cơ sở vật

Do trung tâm mới thực hiện chuyển đổi chức năng nhiệm vụ, cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng từ năm 1984, vậy nên khi thực hiện chuyển đổi chức năng nhiệm vụ sang công tác chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần, một số hạng mục công trình và nhà ở của bệnh nhân trở nên không phù hợp nên việc thực thi chính sách, cũng như cụ thể hóa các hoạt động gắn chính sách đến với đối tượng cũng gặp không ít khó khăn

Trang 32

1.4.2 Yếu tố quan điểm của lãnh đạo trung tâm

Sự nhận thức của lãnh đạo cơ quan, đơn vị quản lý, chăm sóc người tâm thần

về hoạt động thực thi chính sách đối với người tâm thần là yếu tố đặc biệt quan trọng, không chỉ ảnh hưởng đến riêng người tâm thần mà còn ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trương, quan điểm trong việc thực thi chính sách của nhà nước, của thành phố đối với người tâm thần Nhận thức của lãnh đạo về hoạt động thực thi chính sách đối với người tâm thần đang được nuôi dưỡng tại trung tâm quyết định tới việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị

Tuy nhiên trên thực tế hiện nay tại trung tâm quan điểm của lãnh đạo, các phòng ban, tổ chức đoàn thể cũng chưa nhận thức sâu sắc về các hoạt động thực thi chính sách, vì vậy việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các hoạt động gắn với thực thi chính sách còn gặp phải những khó khăn, người tâm thần chưa được tiếp cận nhiều với các dịch vụ xã hội, chính sách xã hội để nâng cao năng lực của bản thân

1.4.3 Yếu tố thuộc về đặc điểm người tâm thần

Người bệnh tâm thần là nhóm xã hội đặc biệt yếu thế vì thế cần sự trợ giúp của toàn xã hội Họ gặp khó khăn về nhiều mặt trong cuộc sống, trong đó có khó khăn về bệnh tật, khả năng tự nuôi dưỡng bản thân, học tập, việc làm, kỳ thị…Những đặc điểm tâm lý, năng lực nhận thức hành vi, khả năng tư duy, cũng như sức khỏe thể chất của người tâm thần luôn ảnh hưởng đến hoạt động hoạt động thực thi chính sách đối với họ, gần như người tâm thần không có sự nhận thức ổn định về việc thụ hưởng chính sách do vậy đây là một trong những khó khăn đối với việc thực thi chính sách đối với người tâm thần Vì họ mắc bệnh nên ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào các hoạt động cụ thể hóa chính sách

Trong quá trình thực thi chính sách, khi người bệnh tâm thần tiếp xúc và nhận biết được thái độ kỳ thị hay những hành vi phân biệt đối xử của những người xung quanh xuất phát từ sự khác biệt bên ngoài của họ, người tâm thần có thể đánh mất ý thức về con người thực sự của mình, khiến cho họ hoài nghi về giá trị bản thân, tự nhìn nhận bản thân thông qua hình thể bên ngoài thay vì nhân cách bên trong Điều đó có thể dẫn thái độ tiêu cực khi họ được thụ hưởng các chính sách

Người tâm thần luôn có tâm lý thiếu tự tin suy nghĩ tiêu cực, họ có mặc cảm

tự ti vì mắc phải bệnh tâm thần và cho rằng bệnh này không chữa được

Trang 33

Mặt khác, họ cũng cảm nhận là bị xã hội khinh miệt và không chấp nhận mình nên cũng có thái độ xa lánh họ

Về hành vi bệnh nhân dễ bị kích động hoặc ngược lại thờ ơ lãnh đạm đối với cuộc sống xã hội, người bệnh thường có cử chỉ lập dị, thiếu chuẩn trong hành vi giao tiếp xã hội, thường có các hoang tưởng ảo giác chi phối hành vi của họ

Một số người tâm thần không thể tự phục vụ được bản thân không tự chủ, rối loạn hành vi ăn uống, có bệnh nhân thì ăn rất nhiều, ăn không biết no, có trường hợp thì không ăn, một số trường hợp bỏ nhà đi lang thang, có trường hợp thích gây hấn với người xung quanh, có trường hợp thu mình không giao tiếp Đối tượng thụ hưởng là người tâm thần mất năng lực hành vi, do vậy không có khả năng kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách

Từ một số đặc điểm trên mà việc thực thi chính sách đối với người tâm thần gặp nhiều khó khăn, khuyến khích tính tự lập của người tâm thần và khả năng tận hưởng cuộc sống, nhất là các chính sách về lao động, việc làm đối với người tâm thần Chính vì thế, có thể khẳng định việc thực thi chính sách đối với người tâm thần là hoạt động quan trọng phụ thuộc rất lớn vào quan điểm nhận nhận thức của lãnh đạo, cũng như đội ngũ cán bộ trung tâm

1.4.4 Yếu tố thuộc về cán bộ Trung tâm

Nhận thức cán bộ công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách đối với người tâm thần đóng vi trò đặc biệt quan trọng, vì đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả của tổ chức thực hiện chính sách Các cán bộ, công chức khi được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách sách đối với người tâm thần tại trung tâm, cần nêu cao tinh thần trách nhiệm và chấp hành tốt kỷ luật trong lĩnh vực này nhằm đạt hiệu quả thực hiện chính sách.Trong thực tế nhận thức của đội ngũ cán bộ chưa thực sự đầy đủ dẫn đến việc xây dựng kế hoạch dự kiến không sát thực tế, nguồn lực huy động bị lãng phí, hiệu quả làm biến dạng chính sách trong quá trình

tổ chức thực hiện

Đồng thời, họ cũng đóng vai trò trực tiếp điều phối thúc đẩy việc thực hiện chính sách cho người tâm thần Bên cạnh đó, họ vừa là cầu nối giữa người tâm thần với các nguồn lực, các chế độ chính sách, nhằm đạt hiệu quả tối đa nguồn lực hỗ trợ cho người tâm thần Chính vì thế năng lực của công chức, viên chức có vai trò rất to lớn trong hoạt động kết nối chính sách với người tâm thần Tuy nhiên năng lực,

Trang 34

nhận thức của công chức, viên chức còn hạn chế, đặc biết là nhận thức, sự am hiểu

về chế độ, chính sách còn chưa cập nhật kịp thời Do vậy, việc tổ thực hiện chính sách chưa phát huy tối đa hiệu quả, chưa chủ động điều phối được các yếu tố tác động theo đinh hướng Trong thực tế năng lực của cán bộ còn yếu dẫn việc đưa ra những kế hoạch dự kiến không sát thực tế, nguồn lực huy động bị lãng phí, hiệu quả làm biến dạng chính sách trong quá trình tổ chức thực hiện

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Tại chương 1 tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận về chính sách, thực thi chính sách đối với người tâm thần, nội dung và ý nghĩa của việc thực thi chính sách, phân tích làm rõ nhân tố cơ bản ảnh hưởng, tác động đến việc thực hiện chính sách đối với người tâm thần Đây là những luận cứ khoa học quan trọng làm cơ sở tiền đề cho việc đánh giá tình hình xây dựng, ban hành kế hoạch và tổ chức thực thi chính sách đối với người tâm thần từ việc xây dựng kế hoạch; phổ biến, tuyên truyền; phân công, phối hợp thực hiện nhằm đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách đối với đối với người tâm thần; đồng thời phân tích, đánh giá, các yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chính sách đối với người tâm thần đặc biệt là người tâm thần lang thang vô gia cư để có những giải pháp phù hợp

Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở Chương 1 sẽ định hướng cho việc nghiên cứu thực trạng hoạt động thực thi chính sách đối với người tâm thần tại

Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội trong chương 2

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC NGƯỜI TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG

NGƯỜI TÂM THẦN HÀ NỘI

2.1 Sơ lược về Trung tâm Chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội

2.1.1 Lịch sử trung tâm

Trại nuôi dưỡng người tâm thần (nay là Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội) được thành lập theo Quyết định số 1862/QĐ/TC, ngày 15/5/1984 của UBND Thành phố Hà Nội Với chức năng nhiệm vụ tiếp nhận, quản

lý, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần qua điều trị của các

cơ quan y tế chưa khỏi, tạo điều kiện cho người bệnh thích nghi trở về với xã hội

Giai đoạn này khởi đầu với tổng số 12 cán bộ, nhân viên quản lý, nuôi dưỡng, phục hồi chức năng cho 90 Bệnh nhân Trải qua 05 năm đầu thành lập, những khó khăn ban đầu cũng đã vượt qua nhờ vào sự đồng lòng, quyết tâm, lỗ lực

cố gắng, quyết tâm của tập thể cán bộ đơn vị đã xây dựng lên nền tảng, tiền đề vững chắc cho quá trình phát triển với chiều dài 30 tiếp theo của đơn vị

Giai đoạn từ 01/7/1989 đến 31/12/2014

Tên đơn vị là Khu điều dưỡng người tâm thần Hà Nội Ngày 01/7/1989, UBND Thành phố Hà Nội có Quyết định số 2718/QĐ-UB về việc thành lập Sở Lao động thương binh và xã hội trên cơ sở sáp nhập Sở Thương binh và xã hội, Sở Lao động và Ban Kinh tế mới, trong quyết định đã quy định Trại điều dưỡng người tâm thần đổi tên thành Khu điều dưỡng tâm thần Hà Nội Cơ cấu tổ chức bộ máy đơn vị gồm Ban Giám đốc và 03 phòng chức năng (Phòng Tổ chức hành chính; phòng Y tế

- Nuôi dưỡng; Phòng lao động lý liệu)

Thời gian từ 01/7/1989 đến 09/12/1994

Số lượng cán bộ tăng lên 50 đồng chí, thực hiện quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng gần 200 bệnh nhân Với sự cố gắng, nỗ lực của tập thể cán bộ, viên chức, người lao động đơn vị đã đạt được những thành tích như: Năm 1992 được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng Ba; Năm 1994 được tặng Bằng khen của Bộ Lao động TBXH

Trang 37

Thời gian từ 09/12/1994 đến 04/12/2009

Trong thời gian này, đơn vị được bổ sung nhiệm vụ đó là: Tổ chức nuôi dưỡng, dạy văn hóa cho trẻ em kém phát triển về trí tuệ, từ 6-18 tuổi đi lang thang, được thu gom về các trại xã hội chuyển đến theo Quyết định số 3426 QĐ-UB ngày 09/12/1994

Giai đoạn từ 31/12/2014 đến nay

Ngày 31 tháng 12 năm 2014, Đề án đổi tên, xác định lại chức năng nhiệm vụ

và sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy Khu điều dưỡng tâm thần Hà Nội Khu điều dưỡng người tâm thần Hà Nội chính thức đổi tên thành Trung tâm Chăm sóc

và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội theo Quyết định số 7322/QĐ-UBND, NGÀY 31/12/2014 của UBND Thành phố Hà Nội

Hiện tại Trung tâm đang quản lý và điều trị cho 627 bệnh nhân tâm thần đặc biệt nặng của thành phố Hà Nội, đa số những bệnh nhân là những người đã điều trị rất nhiều lần tại các cơ sở y tế nhưng bệnh tình không thuyên giảm, gia đình không quản lý được, hoặc gia đình không còn khả năng về kinh tế để nuôi dưỡng xin vào điều trị tại Trung tâm

Một phần bệnh nhân là những đối tượng lang thang được các cơ quan Công

an thu gom chuyển đến

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội

Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội được tổ chức gồm có Ban giám đốc và 07 phòng chuyên môn nghiệp vụ trực thuộc đó là: Phòng

Trang 38

tổ chức hành chính; Phòng y tế; Phòng phục hồi chức năng và lao động trị liệu; Phòng chăm sóc bệnh nhân thuyên giảm; Phòng chăm sóc bệnh nhân sa sút cách ly; Phòng nghiệp vụ công tác xã hội; Phòng nuôi dưỡng đời sống

Nguồn:Phòng tổ chức hành chính

Ban lãnh đạo gồm 01 Giám đốc – điều hành, quản lý tất cả các hoạt động của Trung tâm có 03 phó giám đốc giúp việc Nhân sự gồm 207 cán bộ viên chức và người lao động

* Về vị trí làm

Đối với cán bộ Trung tâm làm việc trực tiếp với người tâm thần thuộc các phòng chăm sóc bệnh nhân trực tiếp có điều kiện tiếp cận trực tiếp tới bệnh nhân nhiều hơn Mỗi vị trí công việc của cán bộ, nhân viên đều gắn với bằng cấp và trình

độ chuyên môn nghiệp vụ là cơ sở để xác định trách nhiệm, hiệu quả của công việc

mà cán bộ, nhân viên đó thực hiện

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát vị trí công việc hiện tại của đội ngũ cán bộ, công nhân viên của Trung tâm như sau:

Trang 39

Cán bộ y tế 83/ 207 người chiếm 40%

Cán bộ cấp dưỡng 25/207 người chiếm 12%

Cán bộ Lao động trị liệu và phục hồi chức năng 30/ 207 người chiếm 14%

Nhân viên công tác xã hội 10/207 người chiếm 5%

Cán bộ quản lý 60/207 người chiếm 29%

* Về trình độ chuyên môn

Trình độ chuyên môn là một trong những tiêu chí cần thiết cho việc tuyển dụng

cán bộ công nhân viên Trình độ chuyên môn được sắp xếp đúng vị trí việc làm sẽ đáp

ứng nhu cầu của lĩnh vực công việc nâng cao chất lượng và hiệu quả tốt hơn

Bảng 2.1 Trình độ chuyên môn của cán bộ trung tâm

Qua bảng 2.1 cho thấy, hầu hết cán bộ, nhân viên được khảo sát có 97 người

có trình độ Trung cấp, chiếm tỷ lệ (46,86%) Cao đẳng 12 người, chiếm tỷ lệ ( 5,8%) Số lượng đại học 78 người chiếm (37,68%) số lượng người tốt nghiệp cao

đẳng là 20 người chiếm (9,66%)

* Thời gian làm việc trong lĩnh vực hỗ trợ người tâm thần

Những cán bộ, nhân viên trong mẫu nghiên cứu đều là những người đã có

thời gian làm việc khác nhau trong lĩnh vực hỗ trợ người tâm thần Qua khảo sát,

phần lớn cán bộ, nhân viên ở các vị trí công việc khác nhau đều có thời gian làm

Trang 40

việc với người tâm thần là từ 3 năm trở lên vì thế, đội ngũ cán bộ nhân viên ở đây đều đã có kinh nghiệm làm việc với bệnh nhân tâm thần nên công việc hỗ trợ họ được tốt hơn

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc với người tâm thần cơ bản là

có trình độ chuyên môn, được bố trí phù hợp ở từng vị trí công việc, đội ngũ cán bộ quản lý có kinh nghiệm làm việc với người tâm thần Tuy nhiên, đa phần đội ngũ cán bộ nhân viên đều chưa được đào tạo bài bản về công tác xã hội

*Công tác tiếp nhận, chăm sóc và nuôi dưỡng tại Trung tâm

Về thủ tục tiếp nhận, Trung tâm thực hiện đúng theo quy trình tiếp nhận đối tượng tại nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2007/NĐ-CP

2.1.3 Đặc điểm người tâm thần

2.1.3.1 Số lượng

Bảng 2.2 Bảng thống kê số lượng đối tượng qua các năm được hưởng

chế độ chính sách tại trung tâm Năm Tổng số Trẻ em

khuyết tật

Người cao tuổi cô đơn

Người tâm thần khuyết tật Người

( Nguồn: Báo cáo Trung tâm năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019)

Số người tâm thần đang được chăm sóc và nuôi dưỡng tại trung tâm hiện nay

có tới 70% nam giới và 30% nữ giới Trong đó chủ yếu là đối tượng người tâm thần

từ 18 đến 60 tuổi Số người tâm thần cao tuổi và trẻ em chiếm tỷ lệ nhỏ Khi tiến hành khảo sát người tâm thần tại Trung tâm đã cho thấy số người tâm thần được khảo sát có độ tuổi từ 18 đến 60 chiếm trên 90%; còn lại là trẻ em khuyết tật tâm thần dưới 18 tuổi, người tâm thần cao tuổi trên 60 tuổi

Ngày đăng: 06/07/2020, 13:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w