Tuy nhiên, sự tác động của quá trình hội nhập kinh tế thế giới, toàn cầu hóa và đô thị hóa, sự chuyển đổi cơ chế quản lý và định hướng kinh tế thị trường cũng đồng thời làm nảy sinh hàng
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 10
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 10
1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ TRONG VIỆC CHĂM SÓC, BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 10
1.1.1 QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN TRẺ EM 10
1.1.2 KHÁI NIỆM CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ 17
2 BẢN CHẤT PHÁP LÝ VÀ ĐẶC ĐIỂM CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 22
3 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐỌAN PHÁT TRIỂN 26
3.1 GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1980 TRỞ VỀ TRƯỚC 26
3.2 THỜI KỲ SAU NĂM 1980 ĐẾN NAY 28
CHƯƠNG 2 32
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở VIỆT NAM 32
2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 33
2.1.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ 33
2.1.2 NGUYÊN TẮC PHÁP LÝ 40
2.1.3 QUY ĐỊNH VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN 43
2.2 THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 70
Trang 2CHƯƠNG 3 76
TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở VIỆT NAM 76
3.1 NHU CẦU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 76 3.1.1 NHẬN THỨC VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN TRẺ EM NÓI RIÊNG 76
3.1.2 TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 77
3.1.3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ CÁC THIẾT CHẾ CHƯA ĐÁP ỨNG ĐƯỢC YÊU CẦU CỦA THỰC TIỄN 78
3.1.4 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG TRONG CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC 83
3.1.5 TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA, VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 84
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở VIỆT NAM 85
PHƯƠNG HƯỚNG THỨ NHẤT 85
PHƯƠNG HƯỚNG THỨ HAI 86
PHƯƠNG HƯỚNG THỨ BA 86
PHƯƠNG HƯỚNG THỨ TƯ 87
3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở VIỆT NAM 87
GIẢI PHÁP 1 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG, BAN HÀNH MỚI MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT 87
GIẢI PHÁP 2 TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC, NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG, CỦA LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN 88
GIẢI PHÁP 3 GIẢI QUYẾT CÁC NGUYÊN NHÂN CHỦ QUAN DẪN ĐẾN TRẺ RƠI VÀO HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN 88
GIẢI PHÁP 4 ĐẦU TƯ HIỆU QUẢ 89
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam sau 20 năm tiến hành đổi mới đã đạt được những thành tựu
to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội và tạo được những chuyển biến rõ rệt trên mọi mặt đời sống xã hội Mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong đó các quyền con người được quan tâm và là một trong những nội dung chính của quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay
Hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em được Đảng và Nhà nước quan tâm và đã đạt được những thành tựu nhất định, và vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định Tuy nhiên, sự tác động của quá trình hội nhập kinh tế thế giới, toàn cầu hóa và đô thị hóa, sự chuyển đổi cơ chế quản lý và định hướng kinh tế thị trường cũng đồng thời làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề khác như khoảng cách giàu nghèo ngày một tăng… cùng với nhu cầu thực tiễn của công việc khi thực hiện dự án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại một số địa phương, cho thấy hoạt động chăm sóc và bảo vệ cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, chẳng hạn như sử dụng lao động trẻ em mồ côi/ trẻ em khuyết tật…
Để tiếp tục sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền và bảo đảm các quyền con người, nhu cầu cần thực hiện nghiên cứu để có những giải pháp pháp lý hữu hiệu trong chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là rất cần thiết Nhằm góp phần vào việc nghiên cứu cơ sở thực tiễn và
cơ sở lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý của hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tôi đã chọn đề tài:
“ Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: cơ sở lý luận và
Trang 5thực tiễn pháp lý về dân sự ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp cao học Luật
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
về các khía cạnh xung quanh vấn đề trẻ em, như: “Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam” (1996) của GS Nguyễn Đình Lộc, “ Bảo vệ Quyền trẻ
em trong pháp luật Việt Nam” (2005) của UNICEF, “Quyền trẻ em đối với tài sản và thừa kế tài sản: một vấn đề lý luận và thực tiễn” (1998) của PGS Hà Thị Mai Hiên, “Cơ chế pháp ý bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam” của ThS Chu Mạnh Hùng (2005)… Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề liên quan đến đề tài của luận văn Tuy nhiên, phần lớn những công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến quyền trẻ em nói chung mà chưa có công trình nghiên cứu quan tâm riêng đến khía cạnh lý luận và thực tiễn pháp lý dành cho đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Ngoài ra, một số bài viết trên các tạp chí đề cập đến vấn đề trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhằm làm rõ một số quy định của pháp luật
cũng đã được tham khảo Đề tài: “Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự ở Việt Nam hiện nay” mong muốn tìm hiểu các quy định hiện hành về chăm sóc và bảo vệ
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên cơ sở nghiên cứu bản chất của quyền trẻ em trong pháp luật dân sự, để từ đó đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Trang 6Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những khía cạnh lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên cơ sở nghiên cứu các quy định của luật thực định, tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định này; từ đó đề ra một số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật chăm sóc và bảo vệ trẻ
em nói chung trong điều kiện hiện nay
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự trong chăm sóc, bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng tại Việt Nam
- Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng như việc thi hành trong thực tiễn để thấy được những điểm phù hợp và những điểm chưa phù hợp, làm cơ sở đưa ra các khuyến nghị
- Đề xuất một số giải pháp và phương hướng để các quy định của pháp luật Việt Nam về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có tính khả thi trong thực tiễn
Do điều kiện hạn chế, đề tài chủ yếu được nghiên cứu tập trung trong phạm vi luật thực định
4 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài đã sử dụng phép biện chứng duy vật của triết học Mác – Lênin như: pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, được hình thành từ một cơ sở hạ tầng phù hợp, nhưng có tác động trở lại nhất định đối với cơ sở hạ tầng và tư tưởng Hồ Chí Minh làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu Ngoài ra, luận văn còn vận dụng các phương pháp
Trang 7nghiên cứu cụ thể, phù hợp với từng mặt, từng lĩnh vực của đề tài, như: phương pháp tổng hợp, so sánh luật, phương pháp phân tích lịch sử, thống kê, điều tra xã hội học …
Các Nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề trẻ em, các quy định của Hiến pháp trong lĩnh vực dân sự, các quy phạm pháp luật dân sự, pháp luật hôn nhân và gia đình, pháp luật lao động … được sử dụng với tư cách là cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho quá trình nghiên cứu về các quy định của hệ thống pháp luật quốc gia về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dưới góc độ pháp lý của ngành luật dân sự
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập khi nghiên cứu những vấn đề về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Đồng thời, nó cũng có giá trị nhất định đối với các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan,
tổ chức trong việc nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện những quy định về vấn đề này dưới góc độ pháp luật
6 Cấu trúc của luận văn
Phù hợp với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn về đề tài “Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự ở Việt Nam hiện nay” được chia làm 3 chương như sau:
- Chương 1 Những vấn đề lý luận pháp lý về chăm sóc và bảo vệ trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Trang 8- Chương 2 Thực trạng pháp luật dân sự và thực tiễn thi hành pháp luật
về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở Việt Nam
- Chương 3 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chăm sóc và bảo vệ trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ
TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
1 Khái niệm và vai trò của pháp luật dân sự trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Từ thực tiễn phát triển của Việt Nam, đặc biệt qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đời sống xã hội, trong đó đề cao hoạt động bảo vệ quyền con người được coi là nhân tố tạo dựng nên một xã hội dân chủ, văn minh và tiến bộ Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định : “Chăm lo cho con người, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia” [1] Điều này đã trở thành nền tảng, định hướng chính trị quan trọng trong hoạt động thực tiễn bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người tại Việt Nam
1.1.1 Quyền con người và quyền trẻ em
Quyền con người
Trẻ em cũng là một con người, một thực thể tự nhiên – xã hội Nghiên cứu về trẻ em, trước hết, cần nghiên cứu trẻ em với tiếp cận từ quyền của con người Vậy quyền con người là gì?
Khái niệm quyền con người có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau (kinh tế, triết học, chính trị học…), vì vậy, đây là khái niệm rộng
và phức tạp Căn cứ vào những cách tiếp cận khác nhau đó nên cũng tồn tại những cách xử lý, thái độ khác nhau khi giải quyết các vấn đề về quyền con người Hiện đang tồn tại 3 quan điểm về quyền con người: 1) nhìn con người như một thực thể tự nhiên và quyền con người là quyền lợi “bẩm sinh” và là
Trang 10quyền tự nhiên không thể tách rời gắn với mỗi cá nhân con người; 2) con người và quyền của con người có được trong các mối quan hệ xã hội nhất định Quan điểm 1 tuyệt đối hóa quyền con người với tư cách là quyền của thực thể sinh học – tự nhiên thuần túy, dẫn đến tuyệt đối hóa cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng xã hôi, coi quyền con người là bất biến, không phụ thuộc vào không gian, thời gian, quốc gia, dân tộc; đồng thời, phủ nhận tính xã hội, tính giai cấp của quyền con người Trong khi đó, quan điểm thứ 2 chỉ quan niệm con người là một thực thể xã hội, và quyền con người được xác định trong mối quan hệ với các thành viên khác trong xã hội và được nhà nước, pháp luật ghi nhận Quan điểm 2 đã khắc phục được nhược điểm của quan niệm thứ nhất bằng cách ghi nhận tính xã hội và tính giai cấp của quyền con người, tuy nhiên, dường như quyền con người đã trở thành một sản phẩm của Nhà nước, do nhà nước và giai cấp thống trị định đoạt
Quan điểm thứ 3 là quan điểm biện chứng của triết học Mác – Lê nin Triết học Mác – Lênin xem xét con người với tư cách là sản phẩm của tự nhiên và xã hội Con người vừa là một thực thể tự nhiên, đồng thời cũng là một thực thể tự nhiên trong cộng đồng xã hội loài người Quan điểm này phù hợp với bản chất của con người Bởi con người chính là sản phẩm được sinh
ra từ quá trình tiến hóa lịch sử - tự nhiên, đồng thời cũng là sản phẩm của lịch
sử - xã hội Con người biến đổi tự nhiên và xã hội, nhưng ngược lại, cũng chịu sự tác động trở lại của tự nhiên – xã hội Chính vì vậy, quyền con người bên cạnh tính tự nhiên, còn mang tính xã hội, tính giai cấp Tính xã hội và tính giai cấp của quyền con người theo tác giả Jacques Mourgon quan niệm:
“ quyền của con người là những đặc quyền được các quy tắc điều khiển, mà con người giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với những cá nhân và chính quyền” [22]
Trang 11Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người năm 1948 không đưa ra khái niệm hay định nghĩa “quyền con người”, tuy nhiên, tuyên ngôn đã quy định các quyền của con người được hưởng như: quyền sống, quyền tự do và
an toàn cá nhân, quyền được công nhận tư cách là con người trước pháp luật ở mọi nơi, quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong lãnh thổ của quốc gia, quyền được các tòa án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ, quyền có quốc tịch… [21] Việt Nam đã tham gia, ký kết Công ước quốc tế liên quan đến quyền con người như: Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948… như một minh chứng cho lý tưởng thực hiện và bảo đảm quyền con người tại nước ta Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là đặt con người vào
vị trí trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, trong đó thúc đẩy và bảo
vệ quyền con người là nhân tố quan trọng để phát triển bền vững, để thực hiện
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước một cách thắng lợi Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: “ Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia” Đây là cơ sở chính trị vững chắc để tiến hành những hành động thực tiễn nhằm bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng ở Việt Nam trong những năm đầu tiên của thế kỷ 21
Quyền trẻ em
Tùy thuộc vào cách tiếp cận của từng ngành và từng lĩnh vực nghiên cứu sẽ có những định nghĩa khác nhau về trẻ em Trẻ em dưới góc độ tâm lý học được xác định căn cứ vào độ tuổi và tâm lý theo từng giai đoạn phát triển Việc phân chia tùy thuộc vào mức độ phát triển về thể chất, trí tuệ tâm lý, cũng như yếu tố hạ tầng văn hóa – kinh tế- xã hội của từng quốc gia Mặc dù
Trang 12vậy, nhìn chung, theo các nhà tâm lý học thì giai đoạn trẻ em trở thành người trưởng thành là tuổi 18
Dưới góc độ nghiên cứu pháp lý, trẻ em là người chưa thành niên Khái niệm trẻ em theo TS Trần Thị Thanh Thanh là “một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người” [33] Theo quy định tại Điều 1 Công ước về Quyền Trẻ em năm 1989 của Liên Hợp Quốc thì “trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới
18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Việc xác định rõ thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc thời kỳ trẻ em của một người rất quan trọng, đặc biệt dưới góc độ pháp
lý Bởi dưới góc độ pháp lý, mỗi người đều được xem xét như một chủ thể của pháp luật, nghĩa là gắn liền với những quyền và nghĩa vụ khi tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể Công ước nhấn mạnh: “trẻ em, do còn non nớt
về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” Như vậy, quốc tế quy định thời điểm bắt đầu được tính từ khi còn là bào thai Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 14/11/1979 đã định nghĩa trẻ em
“bao gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi” Tiếp nối Pháp lệnh trên, Luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 và năm 2004 định nghĩa trẻ em tại Điều 1: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” Với thời gian, thời điểm kết thúc giai đoạn trẻ em đã thay đổi từ 15 tuổi thành 16 tuổi, nhưng rõ ràng pháp luật Việt Nam không thừa nhận chủ thể của pháp luật khi còn là bào thai, mà chỉ thực sự được công nhận từ thời điểm được sinh ra Xét từ góc độ tâm sinh lý – xã hội thì “trẻ em” là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần - tức là còn đang trưởng thành và chưa phải là người lớn, do đó về mặt xã hội cũng chưa có những
Trang 13nhận thức đầy đủ, đúng đắn và toàn diện
- Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có thuật ngữ “người chưa thành
niên” Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “ Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” Người chưa thành niên cũng là những người chưa trưởng thành và chưa có quyền công dân đầy đủ Vị thành niên là giai đoạn phát triển của dậy thì, chuyến tiếp từ trẻ em lên người lớn, theo Công ước, những người ở độ tuổi từ 11- 19 tuổi Chia làm 3 giai đoạn: vị thành niên sớm (từ 11- 14 tuổi), vị thành niên trung (14-16 tuổi) và vị thành niên lớn (16-19 tuổi) Như vậy, vị thành niên bao gồm một phần của tuổi trẻ em (11-16 tuổi)
Theo Từ điển luật học [27, tr.568], thuật ngữ vị thành niên và người chưa
thành niên được hiểu như sau: “Vị thành niên (chưa thành niên) là người chưa đến tuổi được pháp luật coi là đủ khả năng sử dụng quyền, làm nghĩa vụ
và chịu trách nhiệm Người chưa đủ 18 tuổi là vị thành niên”
Như vậy, khái niệm người chưa thành niên trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao hàm cả khái niệm trẻ em, cụ thể là những người từ 16 tuổi đến
18 tuổi tuy chưa phải là người thành niên nhưng cũng không phải là trẻ em,
và tư cách chủ thể của nhóm trẻ em (dưới 16 tuổi) và nhóm từ 16 tuổi đến 18 tuổi cũng không đồng nhất về quyền và nghĩa vụ
Quyền trẻ em là một khái niệm được hình thành từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) với việc thành lập các tổ chức Cứu trợ trẻ em ở Anh và Thụy Điển trong năm 1919 [37,tr.153] Ngày 20/11/1989, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước về quyền trẻ em và Công ước này có hiệu lực kể từ ngày 2/9/1990, với 54 điều khoản và được các quốc gia, cộng đồng quốc tế công nhận Trẻ em là nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội,
“do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt,
Trang 14kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” [26]
Và trẻ em với tư cách là một con người, được công nhận có đầy đủ các quyền con người như người đã trưởng thành, trong đó được chia ra thành 5 nhóm: dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Trên cơ sở đó, bên cạnh quy định
về quyền con người của trẻ em như quyền được sống và phát triển, quyền được bảo vệ khỏi bị áp bức và tổn thương về thể chất và tinh thần , thì nhóm chủ thể này có những quyền khác đặc trưng cho lứa tuổi Những quyền đặc trưng đó bao gồm: quyền được sống cùng cha mẹ, quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng, quyền được nhận làm con nuôi được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc trưng phát triển và tính chất cuộc sống của trẻ Có thể tập hợp các quyền của trẻ em thành 4 nhóm quyền như sau:
a) quyền sống còn: quyền của trẻ em được sống va được đáp ứng những nhu cầu để tồn tại (mức sống đủ, có nơi ở và được chăm sóc sức khỏe )
b) quyền được bảo vệ: trẻ phải được bảo vệ chống lại tất cả các hình thức lạm dụng, sao nhãng và bóc lột (lạm dụng khi vi phạm pháp luật hình sự, không bị tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang, bảo vệ đặc biệt khỏi nạn tra tấn, lao động trẻ em, nghiện ma túy
và lạm dụng tình dục )
c) quyền được phát triển: những điều kiện mà trẻ em cần có để có thể phát triển đầy đủ nhất (quyền được học tập, vui chơi, tiếp cận thông tin, tự do tín ngưỡng tôn giáo )
d) quyền tham gia: trẻ đóng vai trò tích cực trong cộng đồng và đất nước của mình (tự do bày tỏ ý kiến về những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của các em )
Trang 15Trẻ em cũng có những quyền khác như những thành viên trong xã hội
ví dụ: quyền chính trị - kinh tế - xã hội với tư cách là một công dân của quốc gia và với tư cách là một thành viên của cộng đồng người Tuy nhiên, những nhóm quyền này được quy định bởi mỗi quốc gia căn cứ trên những quy định chính của Công ước quốc tế về quyền con người của Liên Hợp Quốc Từ đó
có thể thấy quyền trẻ em luôn gắn liền với bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hôi
và văn hóa của từng quốc gia Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời luôn nhấn mạnh: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm cụ của toàn Đảng, toàn dân Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ…Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt” [3, tr.467-468] Việc chăm sóc, giáo dục trẻ em thường xuyên được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Đặc biệt, khi đất bước vào công nghiệp hóa – hiện đại hóa của quá trình đổi mới, bắt đầu từ năm 1986, khi Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề cập đến quyền của công dân, tập trung vào một số chương trình
xã hội như: tạo công ăn việc làm, chăm sóc sức khỏe ban đầu, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục trẻ thơ, giáo dục tiểu học, trung học và đại học cũng như dạy nghề, bảo hiểm an toàn xã hội và quan tâm đặc biệt đến dân tộc thiểu số Trong năm 1989, Việt Nam phê chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em và đây là bước tiến quan trọng ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam cho sự phát triển thế hệ tương lai của đất nước Sau đó Việt Nam tiếp tục phê chuẩn công ước số 182 của ILO về chống lại các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em…
Những biến đổi sâu sắc trên phạm vi toàn xã hội cũng như đối với mỗi gia đình đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến trẻ em Triển khai thực hiện quyền trẻ em cũng góp phần vào thực hiện quyền con người Chính phủ Việt Nam khẳng định: “ Công ước về quyền trẻ em là một trong những điều ước
Trang 16Liên hợp quốc quan trọng về quyền con người mà Việt Nam đã phê chuẩn hiện tại, thực hiện quyền trẻ em là một trong những trọng tâm của quyền con người ở Việt Nam”
1.1.2 Khái niệm chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
và vai trò của pháp luật dân sự
Khái niệm chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, trên cơ sở những quy định của công ước về Quyền trẻ em về một nhóm trẻ cần sự bảo vệ đặc biệt Nhóm trẻ cần sự bảo vệ đặc biệt gồm: trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật, trẻ em tàn tật, trẻ em làm con nuôi, trẻ em nghiệm ma túy, trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị bắt cóc và bị buôn bán…
Điều 3 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 giải thích:
“ Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình, cộng đồng” [12] Để làm rõ hơn, Điều 40 của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 liệt kê đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đó là: trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma túy; trẻ em vi phạm pháp luật Những đối tượng trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình, với cộng đồng Khi so sánh với quy định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em về khái niệm trẻ em nói chung, khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng
Trang 17và quy định về độ tuổi của trẻ em, những quy định của pháp luật Việt Nam khá tương đồng, tuy nhiên, về đối tượng và độ tuổi trong quan niệm của Liên Hợp Quốc rộng hơn
Các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã quy định trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là chủ thể của mình Căn cứ vào đặc điểm của từng nhóm, có thể khái quát đối tượng này thành 2 nhóm:
- nhóm 1 (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt): bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em lang thang, trẻ em khuyết tật, trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em gái bị lợi dụng, trẻ em lao động bị bóc lột, trẻ em hồi hương…
- nhóm 2 (trẻ em có hoàn cảnh khó khăn): bao gồm trẻ em chưa học hết tiểu học, trẻ em bỏ học giữa chừng, trẻ em phải theo cha mẹ du canh du
cư để kiếm sống, trẻ em phải theo cha mẹ sống trên sông trên biển để làm nghề cá, trẻ em lao động sớm…
Với quan niệm này, nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần được chăm sóc đã được mở rộng hơn so với quy định của Luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
Tóm lại, có thể khái quát rằng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em và hòa nhập với gia đình, cộng đồng
Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Chăm sóc trẻ em hiểu theo nghĩa thông thường, là những hoạt động nhằm nhận biết và đáp ứng nhu cầu về mặt vật chất và tinh thần để đảm bảo
Trang 18sự phát triển hài hòa của trẻ em (nhu cầu về ăn mặc, về học hành, về vui chơi giải trí, nhu cầu được gia đình yêu thương, chăm sóc, nhu cầu được tôn trọng Bảo vệ trẻ em được hiểu là thực hiện những hành động, những biện pháp phòng ngừa, khắc phục hậu quả do những hành vi vi phạm gây ra làm cản trở sự phát triển bình thường của trẻ
Dưới góc độ pháp luật dân sự, chăm sóc và bảo vệ trẻ em là những hoạt động, hình thức pháp lý mà các cơ quan, tổ chức và cá nhân áp dụng nhằm đảm bảo cho trẻ em được thụ hưởng và thực hiện các quyền cơ bản về nhân thân và tài sản của mình
Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là một bộ phận, một chế định pháp luật hỗn hợp, với ý nghĩa đó là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Đặc điểm của trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Thực tế, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có mức độ khó khăn hơn nhiều so với trẻ em khác, biểu hiện ở các khía cạnh kinh tế, sức khỏe, điều kiện gia đình…
Về kinh tế, đa số các em thuộc nhóm thiếu hoặc mất nguồn nuôi dưỡng
Về sức khỏe, với các yếu tố về thể chất – tinh thần, các em là đối tượng có hạn chế về sức khỏe như khuyết tật, tâm thần, tổn thương tâm lý…làm giảm hoặc mất khả năng nhận thức, lao động Do đó, các em cần được sự giúp đỡ
và bảo vệ của nhà nước, của pháp luật và của cộng đồng Tùy điều kiện kinh
tế - xã hội của các quốc gia, hoặc từng giai đoạn phát triển của quốc gia mà pháp luật quốc gia sẽ xác định cụ thể phạm vi đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Trong giai đoạn hiện nay, một trong những tư tưởng cơ
Trang 19bản của Đảng là coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nói riêng luôn là mối quan tâm hàng đầu không chỉ của Nhà nước mà của toàn xã hội
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 đã nhấn
mạnh: “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện… ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và
sử dụng tốt năng lực của mình” Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với
những khó khăn về kinh tế, sức khỏe, điều kiện sống, không được chăm sóc trong môi trường gia đình hoặc được sống trong gia đình nhưng không được chăm sóc đầy đủ, phải sống trong cảnh nghèo đói Các em sống thiếu thốn tình thương của gia đình, phải tự kiếm sống để lo cho bản thân, thậm chí có
em còn phải nuôi gia đình mình Những khó khăn đó ảnh hưởng tới khả năng tồn tại và phát triển của các em
Với điều kiện sinh hoạt và hoàn cảnh sống như vậy, trình độ văn hóa của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có mức thấp hơn nhiều so với trẻ
em bình thường cùng lứa tuổi Việc học tập là ước mơ xa vời và dường như không có tác động trực tiếp tới đời sống của các em Trong khi đó, giáo dục là điều kiện có tính chất tiên quyết giúp hình thành nên một công dân với nền tảng cơ bản của xã hội Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn phần lớn không dược học hành đầy đủ, trong đó, tỷ lệ trẻ em tàn tật, khuyết tật ít được tiếp xúc với giáo dục là cao nhất
Tình trạng sức khỏe của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng là vấn đề đáng báo động, đặc biệt là trẻ tàn tật vì cần có chi phí cho việc chữa trị Đối với trẻ em lao động sớm, nghiện ma túy, mại dâm phải lao động làm
Trang 20việc quá sức nên thường hay đau ốm Phần lớn trẻ em mại dâm mắc các bệnh lây qua đường tình dục… ốm đau, ăn uống thiếu thốn, không thể trả phí chữa trị, thiếu kiến thức chăm sóc sức khỏe là những nguyên nhân chính
Trước tình trạng đó, Chính phủ đã có những hoạt động mạnh mẽ, đặc biệt là Chương trình 134 “ bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” với các đối tượng cụ thể Kết quả thực tế là đã đạt được 70% mục tiêu trẻ em mồ côi, trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc, giúp đỡ, trong đó 40% được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng; 30% trẻ em bị chất độc hoá học, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được chăm sóc tại các Trung tâm bảo trợ xã hội, được hưởng chính sách thường xuyên của Nhà nước 100% trẻ em hồi hương hợp pháp được chăm sóc, tái hòa nhập; trên 80% trẻ em sứt môi, hở hàm ếch được phẫu thuật nụ cười Số trẻ em bị buôn bán, bị xâm hại, trẻ em lang thang đang
có chiều hướng gia tăng…
Hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em đã được đánh dấu bằng một mốc quan trọng là việc gia nhập và phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 của Liên Hợp Quốc Thực tế nhiều mô hình chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đã được xây dựng và hoạt động trên phạm vi toàn quốc nhưng với con số 1,2 triệu trẻ em tàn tật, 140.000 trẻ em mồ côi, 21.000 trẻ
em lang thang, 1.700 trẻ em bị xâm hại tình dục… và những trẻ em thuộc nhóm trẻ em nghèo cho thấy còn rất hạn chế Và chất lượng của hoạt động chăm sóc và bảo vệ đang gặp những trở ngại về kinh tế - xã hội - hành chính – pháp lý
Vai trò của luật dân sự :
Luật Dân sự với tư cách là luật chung quy định về địa vị pháp lý chung của cá nhân, pháp nhân cũng như các chủ thể khác; đồng thời, quy định quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ về dân
Trang 21sự, hôn nhân và gia đình Trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, luật dân sự được thể hiện ở những vai trò như sau:
- Cụ thể hóa các quyền con người, quyền trẻ em về mặt dân sự: Pháp luật dân sự đã xác định quy chế nhân thân cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với tư cách chủ thể của pháp luật dân sự, trên cơ sở những quyền hiến định được quy định trong Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các quy chế về nhân thân bao gồm các quyền hiến định như quyền được khai sinh và có quốc tịch; quyền được chăm sóc nuôi dưỡng; quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng thân thể, nhân phẩm và danh dự
- Ghi nhận và xác định các hình thức pháp lý đảm bảo và thực hiện các quyền dân sự Do trẻ em là đối tượng còn non nớt và chưa phát triển toàn diện
về thể lực và trí lực, nên pháp luật đã quy định những hình thức nhằm đảm bảo các quyền về dân sự của trẻ được thực hiện như: chế định giám hộ đối với trẻ em trong các quan hệ pháp luật, sự quan tâm và bảo trợ từ phía các chủ thể khác (nhà nước, cộng đồng), nuôi con nuôi, bảo vệ trẻ trước những hành vi vi phạm bằng cách thực hiện các thủ tục tố tụng với Toà án và các cơ quan tư pháp
- Xác định các phương thức bảo vệ và đảm bảo thực thi các quyền củs trẻ em Các phương thức bảo vệ được xác định dựa vào từng thiết chế: gia đình, gia đình thay thế, cơ sở trợ giúp, nhà trường, nhà nước, cộng đồng,chế tài: dân sự, hành chính, hình sự và cũng tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng nhóm trẻ ở từng độ tuổi theo quy định của pháp luật
2 Bản chất pháp lý và đặc điểm chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thường rất nhạy cảm với những tác động của xã hội đối với cuộc sống thường nhật của các em Vì vậy, công tác chăm
Trang 22sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng có những điểm khác biệt với chăm sóc trẻ em nói chung Điều này đã được quy định tại Chương IV của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Cụ thể là: “…coi trọng việc phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; kịp thời giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em; kiên trì giúp
đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phục hồi sức khỏe….”
Xét trên khía cạnh pháp luật, các em chưa có đủ năng lực hành vi nói chung và năng lực hành vi dân sự nói riêng Năng lực pháp luật dân sự được quan niệm là khả năng mà pháp luật quy định hay ghi nhận cho công dân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự Như thế, năng lực pháp luật dân sự của trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn xuất hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật dân sự Các quy định này có được thực hiện hay không lại phụ thuộc vào khả năng của mỗi công dân hay năng lực hành vi của họ Năng lực hành vi dân sự của công dân là khả năng bằng chính hành vi của bản thân họ tham gia trực tiếp vào quan hệ do ngành luật dân sự điều chỉnh, tự hoàn thành mọi nhiệm vụ, tạo ra và thực hiện quyền, hưởng mọi quyền lợi của mình Nói cách khác, năng lực hành vi dân sự của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn chính là khả năng tham gia các quan hệ pháp luật dân sự của trẻ em Pháp luật xác định khả năng này dựa trên các 2 yếu tố tuổi và sức khỏe (bao gồm sức khỏe thể lực và sức khỏe trí lực) Điều kiện sức khỏe về thể lực công dân cần phải có là tình trạng sức khoẻ bình thường để có thể thực hiện được các công việc trong sinh hoạt và lao động sản xuất nhất định theo yêu cầu chung của xã hội Điều kiện sức khỏe về trí lực là khả năng nhận thức của công dân đối với hành vi mà họ thực hiện Để có sức khoẻ và trình độ nhận thức như trên, công dân phải đạt đến một độ tuổi nhất định và phát triển bình thường, khi đó công dân mới có năng lực hành vi dân sự như quy định tại Điều 19 Bộ luật Dân sự
“Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ…”
Trang 23Trong quan hệ dân sự, năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự xuất hiện không đồng thời Năng lực pháp luật dân sự có từ khi cá nhân được sinh ra và chấm dứt khi người đó chết, và năng lực này không bị hạn chế, trừ những trường hợp do pháp luật quy định; trong khi đó, năng lực hành vi dân sự được xác định có từ khi đủ 18 tuổi, trừ trường hợp cá nhân bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự - Điều 19 Bộ luật dân sự 2005 Hệ thống pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận sự khác nhau về năng lực hành vi của cá nhân, mặc dù Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi; tuy nhiên, tùy thuộc vào việc cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật nào thì sẽ do ngành luật đó điều chỉnh, ví dụ theo Luật Dân sự thì người thành niên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự là đủ
18 tuổi, dưới 18 tuổi sẽ phải có người đại diện theo pháp luật; hoặc Luật Lao động quy định: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động” (Điều 6) Như vậy, trẻ em chưa đủ 15 tuổi được người sử dụng lao động nhận vào làm việc ở một số nghề và công việc thuộc danh mục do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định, có sự đồng ý và theo dõi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu thì cũng được coi là người lao động, và người sử dụng lao động không vi phạm quy định cấm sử dụng lao động trẻ em Trong quan hệ pháp luật lao động này, những chủ thể nói trên được coi là người có năng lực hành vi lao động không đầy đủ, năng lực hành vi lao động một phần Hoặc theo quy định của Luật Hình sự, trẻ em từ
đủ 14 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm nguy hiểm và gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội Vì đối tượng là trẻ em, chưa phát triển đầy đủ và chưa có đủ năng lực hành vi nên pháp luật đã quy định chế định về người giám hộ/ người đại diện theo pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em
Trang 24Xét trên khía cạnh kinh tế - xã hội: trẻ em luôn được coi là sống phụ thuộc vào gia đình từ nhỏ, và không phải là thành phần lao động chính trong gia đình cũng như xã hội Mặc dù trên thực tế, trẻ em vẫn tham gia vào các hoạt động tạo thu nhập ở gia đình, đặc biệt ở nông thôn Với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì nhiều em là lao động chính nuôi sống bản thân và gia đình mình nhưng những công việc các em đang làm lại không được điều chỉnh bởi pháp luật như: nhặt rác, bán báo… và chịu sự thua thiệt khi tham gia các “giao dịch” với người lớn Bên cạnh đó, quan niệm truyền thống con phải theo cha: “ con phải làm việc để gia đình thêm giàu có…” [28, tr.39]vẫn còn phổ biến trong xã hội, nhiều gia đình thay vì khuyến khích con đến trường lại bắt con phải ở nhà lao động giúp cha mẹ - nghĩa là đứa trẻ phải thực hiện nghĩa vụ lao động trước khi được hưởng quyền học tập Những em
mồ côi hoặc bị bỏ rơi tuy không được yêu thương chăm sóc nhưng vẫn có thể
tự mình làm một số công việc để kiếm sống, còn những em bị khuyết tật bị coi là “đồ vô tích sự, bỏ đi, ăn bám” gặp nhiều khó khăn hơn nữa Khả năng
tự vệ của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn rất yếu khi phải trực tiếp tham gia và các mối quan hệ xã hội Với tuổi đời còn nhỏ, trí tuệ và thể lực chưa phát triển đầy đủ, thêm vào đó trình độ nhận thức kém, nên dễ bị lạm dụng, bị cưỡng bức, xâm hại của người lớn
Quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, cũng như các văn bản pháp luật liên quan khác cho thấy việc chăm sóc, bảo vệ trẻ được thực hiện chủ yếu mang tính cứu trợ, và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là đối tượng được thụ hưởng từ các cơ quan – tổ chức – cá nhân, còn bản thân đối tượng này dường như mất vai trò chủ động tự chăm sóc, tự bảo vệ bản thân khi tham gia các quan hệ xã hội do ngành luật dân sự điều chỉnh Chính vì lẽ đó, các quyết định liên quan được đưa ra căn cứ trên cơ sở một quyết định của cơ quan Nhà
Trang 25nước có thẩm quyền hoặc sự tự nguyện của gia đình/ thân nhân của trẻ Sự tự nguyện hay ý chí của trẻ trong trường hợp này gần như không được xem xét, nguyên nhân xuất phát từ việc trẻ em chưa có đủ năng lực hành vi trước pháp luật Do đó, chế định về giám hộ đã ra đời nhằm giúp trẻ thực hiện những quyền đó, nhưng hiệu quả hoạt động của giám hộ vẫn còn chưa thuyết phục
3 Khái quát pháp luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở Việt Nam qua các giai đọan phát triển
3.1 Giai đoạn từ năm 1980 trở về trước
Với truyền thống nhân văn “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam, việc tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng người Việt đã ra đời Trong lịch sử Việt Nam, trẻ em đã được quan tâm đến từ khá sớm, ví dụ Bộ luật Hồng Đức đã có quy định về trách nhiệm của xã hội đối với một nhóm đối tượng đặc biệt trong xã hội – đó là trẻ em tàn tật, mồ côi
như sau: “Những người góa vợ, góa chồng, mồ côi và người tàn tật nặng, nghèo khổ không có người thân thích để nương tựa, không thể tự mình mưu sống được, quan sở tại phải thu nuôi họ, mà lại bỏ rơi họ thì bị xử đánh 50 roi, biếm 1 tư Nếu họ được cấp cơm áo, mà quan lại ăn bớt đi, thì phải khép vào tội như người giữ kho ăn trộm của công”[24, tr.116]
Pháp luật phong kiến thời kỳ Hồng Đức đã đưa ra quy định đối với một nhóm những đối tượng đặc biệt trong xã hội, tuy nhiên mới chỉ hạn chế về diện hưởng sự chăm sóc đặc biệt bao gồm góa vợ/ chồng, mồ côi, tàn tật nặng, nghèo khổ phải được sự chăm sóc, giúp đỡ của nhà nước Tiến bộ hơn nữa khi ngay từ thời kỳ này, đã có quy định chế tài đối với hành vi không thực hiện chăm sóc các đối tượng đặc biệt nói trên sẽ bị coi là phạm tội bỏ rơi
và phải chịu hình phạt Đồng thời, để ngăn chặn quan lại tham nhũng, bớt xén phần hỗ trợ của nhà nước cho những đối tượng trên sẽ bị quy tội “ăn trộm của
Trang 26công” – tội xâm phạm đến lĩnh vực công là tội khá nghiêm trọng Bên cạnh
đó, Điều 284 cũng quy định rất rõ trách nhiệm của các quan ti trong việc để cho người dân phải nghèo khổ đến mức phải đi phiêu dạt đến nơi khác có thể
bị quy vào tội biếm hay bãi chức
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập Ngay từ khi ra đời, trong bối cảnh vừa độc lập, nhiều công việc cho xây dựng và bảo vệ quốc gia non trẻ được tiến hành; mặc dù vậy, bảo vệ và chăm sóc trẻ em cũng đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Văn bản có giá trị pháp lý cao nhất thể hiện sự quan tâm ấy, đó là Hiến Pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ngay từ Hiến pháp năm 1946 đã quy định tại điều 14 và điều 15 về chế độ đối với người tàn tật, hỗ trợ học trò nghèo cũng như săn sóc về giáo dục cho trẻ em nói chung Việc gia nhập Công ước số 77 và 78 về Kiểm tra y tế cho trẻ em và thiếu niên làm việc trong các công việc công nghiệp và phi công nghiệp năm 1946 là nỗ lực tiếp theo của Việt Nam nhằm bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động Những quy định trên tuy không trực tiếp nhằm vào đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhưng đã góp phần tạo cơ hội cho các em được hưởng quyền cơ bản như những trẻ em khác trong xã hội
Tháng 5/1960, Ủy ban Thiếu niên nhi đồng Việt Nam được thành lập
Và Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 14/1/1979 Đây là pháp luật đầu tiên quy định chi tiết về trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nói riêng Toàn bộ văn bản chứa đựng những quy định ghi nhận quyền của trẻ em, trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội trong việc bảo vệ quyền của trẻ em; đồng thời, dành riêng Điều 9 quyđịnh về trẻ em có hoành cảnh đặc biệt, theo
đó, trẻ em là con liệt sĩ, trẻ em mồ côi không có người thân thích trông nom
Trang 27được Nhà nước và xã hội quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục Trẻ em tàn tật được chăm sóc, điều trị và được dạy những nghề thích hợp
3.2 Thời kỳ sau năm 1980 đến nay
Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vẫn được tiếp tục thực hiện tùy theo điều kiện cụ thể mỗi giai đoạn
Đến ngày 12/9/1991, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký quyết định số
329 về việc đổi Ủy ban Thanh thiếu niên và Nhi đồng thành Ủy ban Bảo vệ
và Chăm sóc trẻ em – cơ quan thuộc Chính phủ để quản lý Nhà nước về trẻ
em
Ngày 26/1/1990, Việt Nam đã ký Công ước quốc tế về quyền trẻ em
1989 Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước Đây chính là điểm mốc tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho việc bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam Việc gia nhập công ước, quyền trẻ
em trở thành một chế định pháp lý quan trọng của Việt Nam Công tác bảo vệ
và chăm sóc trẻ em đã được tập trung trong việc thực hiện quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tư tưởng và đạo đức Từ năm 1990 trở đi, hệ thống luật và chính sách quốc gia được xây dựng nhằm phù hợp với các điều khoản của công ước Bên cạnh đó, chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung được ghi nhận trong Hiến pháp - bộ luật gốc của pháp luật Việt Nam – năm 1992 (sửa đổi); ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 và được sửa đổi năm 2004; Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991); sửa đổi bổ sung các luật khác (Luật Dân sự 2005, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Luật Hình sự năm 1999, Luật Lao động…)
Trang 28Trên cơ sở Hiến pháp, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhiều văn bản quy định có liên quan, trong đó phải kể đến Quyết định số 134/199/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành về chương trình hoạt động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Quyết định số 134 là một trong những biện pháp quan trọng để thể chế hóa các văn bản pháp luật Nhà nước
về bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (bao gồm trẻ em lang thang kiếm sống, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em làm trái pháp luật và trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS) và cũng là để thực hiện cam kết của Chính phủ trong việc thực hiện công ước quốc tế về quyền trẻ em
Năm 2002, trong bối cảnh thực hiện cải cách hành chính, xây dựng một nền hành chính vững mạng và từng bước hiện đại hóa trên cơ sở định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực nhằm giảm đầu mối, tránh chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; đồng thời tăng hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước ở các cấp, Ủy ban Dân số - Gia đình – Trẻ em, cơ quan ngang Bộ của Chính phủ được thành lập trên cơ sở hợp nhất ủy ban quốc gia – kế hoạch hóa gia đình và ủy ban bảo vệ
và chăm sóc trẻ em Việt Nam (theo nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 5/8/2002 của Quốc hội khóa XI) với chức năng được giao là quản lý Nhà nước về dân số, gia đình và trẻ em; giám sát thực hiện pháp luật về chăm sóc
và bảo vệ trẻ em Việc thành lập Ủy ban Dân số - gia đình – trẻ em đã góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung và đặc biệt đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng
Sự thay đổi này cũng phản ánh sự quan tâm của Nhà nước đối với đối tượng trẻ em đặc biệt này
Đồng thời, một loạt các văn bản pháp luật liên quan đến chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã ra đời như:
Trang 29- Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày 30/6/1989
- Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30/7/1998
- Luật quốc tịch Việt Nam số 07/1998 có hiệu lực từ ngày 1/1/1999
- Nghị định số 59/2000/NĐ – CP ngày 30/12/2000 của Chính phủ quy định việc thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội
- Nghị định số 142/2003/NĐ-CP ngày 24/11/2003 của Chính phủ quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng
- Luật giáo dục ngày 14/6/2005
- Nghị định số 36/2005/NĐ – CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
- Thông thư liên tịch số 35/2004/TTLT/BTC - BGDĐT ngày 26/4/2004 của Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính và mức chi của Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
- Quyết định số 38/2004/QĐ – TTg ngày 17/3/2004 của Thủ thướng Chính phủ về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi
- Quyết định số 65/2005/QĐ – Ttg ngày 25/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn
2005 – 2010”
Trang 30- Quyết định số 23/2001/QĐ – Ttg ngày 26/2/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
- Tham gia Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước về quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, ngày 20/12/2001
- Công ước về cấm và hành động ngay để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999, phê chuẩn ngày 19/12/2000
- Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, với Canada năm 2005
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH
ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở VIỆT NAM
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn xuất hiện và tồn tại trong những bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể Sự khó khăn ở đây được hiểu theo nghĩa là nhóm trẻ này gặp những trở ngại khó vượt qua để thực hiện những quyền cơ bản của trẻ so với trẻ em bình thường khác nếu không có sự giúp đỡ của gia đình và người thân, nhà nước, cộng đồng xã hội Nếu không còn sự cản trở nào trong xã hội đối với cuộc sống của trẻ em, đối với việc thực hiện quyền của trẻ em thì có lẽ cũng không còn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Nhưng trên thực tế, trong quá trình phát triển của xã hội luôn tồn tại một bộ phận trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Xã hội mong đợi trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khỏe mạnh về
thể lực và trí lực, được phát triển một cách toàn diện, được sống trong môi trường lành mạnh, an toàn, tràn đầy tình thương yêu, bảo vệ của gia đình cùng toàn thể cộng đồng và được tiếp cận một nền giáo dục cơ bản có chất lượng, sao cho khi trưởng thành, các em là lực lượng lao động nắm chắc khoa học kỹ thuât và công nghệ mới và trên cương vị những công dân, chủ nhân thực sự, các em có thể hoàn toàn tự tin tham gia vào quá trình hội nhập và toàn cầu hóa của thế kỷ 21 mà vẫn giữ bản sắc dân tộc Việt Nam - Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 [15] Trong quá trình phát triển của đất nước, luôn luôn tồn tại và phát sinh một bộ phận trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt Nhóm trẻ này cần sự giúp đỡ của cộng đồng xã hội
để đảm bảo được cuộc sống của bản thân Tuy nhiên, do những điều kiện riêng, Việt Nam chỉ thực hiện được sự chăm sóc và bảo vệ ở mức độ nhất
Trang 32định đối với những người “yếu thế” dựa trên nguyên tắc ưu tiên giữa các đối tượng
2.1 Thực trạng pháp luật hiện hành về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
2.1.1 Quy định của pháp luật dân sự về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Dưới góc độ giáo dục, các nhà giáo dục của Việt Nam có quan điểm không có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, mà chỉ có những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Cụ thể, đó là những trẻ em trong độ tuổi đến trường nhưng không
đi học hoặc có nguy cơ không hoàn thành giáo dục tiểu học; những trẻ đi học nhưng không đáp ứng được các chuẩn chất lượng cơ bản, trẻ em khuyết tật và trẻ em từ các nhóm có nguy cơ cao khác chẳng hạn như trẻ em đường phố, trẻ
em di cư hoặc trẻ em gái ở các vùng dân tộc thiểu số (Sổ tay hướng dẫn thực hiện Quỹ hỗ trợ sáng kiến giáo dục, tháng 3 năm 2007) - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Dự án giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (PEDC)
Ngoài căn cứ về độ tuổi (dưới 16 tuổi), trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được mô tả cụ thể như:
Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa [7]
Việc xác định dựa trên tình trạng mồ côi và khả năng nương tựa của các em vào những người thân thích, gồm: mồ côi thực tế và mồ côi xã hội
- Mồ côi thực tế: có cha hoặc mẹ chết, hoặc cả cha - mẹ đều chết, và không còn người thân thích ruột thịt để nương tựa Nhấn mạnh về mặt vật chất và tinh thần Một đứa trẻ để có thể phát triển hài hòa về thể chất, nhân cách, ngoài việc trẻ được nuôi dưỡng về dinh dưỡng, chăm sóc về thân thể không ai khác cha mẹ là người chăm sóc cho trẻ Những đứa trẻ này trên thực tế bị mất hoàn toàn sự chăm sóc này
Trang 33- Mồ côi xã hội: đứa trẻ bị chia ly vĩnh viễn hoặc tạm thời trong một thời gian dài với cha hoặc mẹ, hoặc cả cha mẹ trong khi họ vẫn sống Tuy cha mẹ còn sống nhưng họ không có năng lực hành vi, năng lực pháp luật, hoặc khả năng vật chất hoặc không muốn tiếp tục nuôi con Đó là: a) trẻ tuy có cha mẹ còn sống nhưng cả cha lẫn mẹ, hoặc cha hoặc mẹ
bỏ đi mất tích, bỏ đi kiếm ăn xa không còn quan hệ gì với con cái - không đủ khả năng; b) trẻ sinh ra trong hoàn cảnh do cha hoặc mẹ chưa
đủ tuổi thành niên hoặc một lý do nào đó không đủ điều kiện nên bỏ con ngay tại bệnh viện hoặc nơi công cộng - trẻ bị bỏ rơi; c) trẻ sinh ra trong gia đình bình thường nhưng do bản thân bị tàn tật những gia đình không có khả năng nuôi đã đem bỏ rơi; d) trẻ sinh ra do kết quả của sự lạm dụng tình dục của người cha với người mẹ bị bệnh tâm thần, hoặc
cả cha và mẹ đều bị bệnh tâm thần; e) cha mẹ bị tàn tật nặng; f) cha mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam… Và những
em này cũng không còn nguồn nuôi dưỡng và không có người thân thích để nương tựa
Trong trường hợp trẻ mồ côi có hoàn cảnh như đã nêu, tuy còn người thân nhưng người thân không đủ khả năng nuôi dưỡng (người thân dưới 16 tuổi), hoặc trên 60 tuổi hoặc bị tàn tật nặng, gia đình thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chuẩn nghèo của Chính phủ công bố cũng được xem xét
Trẻ em khuyết tật, tàn tật
Theo Điều 1 - Pháp lệnh về người tàn tật quy định: “Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”
Trang 34Từ khái niệm về người tàn tật nói chung, có thể hiểu trẻ em tàn tật là những người dưới 16 tuổi không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật, bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn
Theo Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Việt Nam, trẻ em khuyết tật
là trẻ em bị một hay nhiều tổn thương về thân thể hoặc trí não làm ảnh hưởng đến một hay nhiều chức năng của cơ thể làm ảnh hưởng đến đời sống thường ngày của trẻ
Năm 1980, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra tiêu chí của các mức độ tàn tật sau:
- Khiếm khuyết: là mất mát hay bất bình thường một bộ phận cơ thể hay chức năng tâm lý do bệnh tật, tai nạn, di truyền hoặc do môi trường gây
Những trẻ em này cần được sự giúp đỡ đặc biệt về giáo dục, phục hồi chức năng, về phương tiện trợ giúp để tham gia vào các hoạt động của cộng đồng
Trang 35Trẻ em nhiễm HIV/AIDS
Trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS là trẻ em đã được cơ quan y tế có thẩm
quyền kết luận bị nhiễm HIV/AIDS
Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học là trẻ em bị dị dạng, dị tật do
hậu quả chất độc hóa học
Trẻ em làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại
Trẻ em làm việc nặng nhọc được hiểu là trẻ em tham gia hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập cho gia đình hoặc bản thân Đó là những công việc nặng nhọc, độc hại quá sức hoặc làm việc nhiều giờ trong ngày không đúng quy định của pháp luật lao động, có ảnh hưởng tới sự phát triển về thể lực, trí lực và nhân cách của trẻ Theo cách hiểu này, pháp luật cấm mọi hành vị ép buộc trẻ em lao động cho gia đình hay làm thuê như một lao động thực sự, mà công việc đó đã chiếm hết thời gian học tập, vui chơi, giải trí của trẻ; đồng thời buộc trẻ phải làm việc nặng nhọc, độc hại không phù hợp với sức lực và lứa tuổi, hoặc trong những ngành nghề mà pháp luật đã cấm Đến nay, nước ta chưa có cuộc điều tra chính thức nào về lao động trẻ em, song có thể nhận thấy lao động trẻ em là một vấn đề biến động và là loại hình lao động chuyển đổi rất nhanh và rất đa dạng gồm các công việc như đánh giày, bán báo, giúp việc trong các gia đình – nhà hàng, thậm chí làm việc trong các mỏ đá, khai thác quặng…
Trẻ em lang thang
Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định; trẻ em cùng với gia đình đi lang thang
Trang 36Lượng trẻ lang thang có tăng giảm theo tính chất mùa vụ và tập trung chủ yếu
ở các trung tâm kinh tế (tỉnh, thành phố)
Trẻ em bị xâm hại tình dục
Trẻ em bị xâm hại tình dục là trẻ em bị người lớn hơn có hành vi lợi dụng trẻ em (dù trẻ em có đồng ý hay không) để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của mình hoặc của người khác Những em này là đối tượng cần đến sự bảo vệ đặc biệt của xã hội, nhất là về tinh thần bởi hành vi xâm hại tình dục có ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý của các em, làm cho các em dễ nảy sinh cái nhìn tiêu cực về cuộc sống
Trẻ em nghiện ma túy
Trẻ em nghiện ma túy là những người dưới 16 tuổi thường xuyên sử dụng các chất gây nghiện dẫn đến lệ thuộc và phải sử dụng các chất này với bất kỳ giá nào Hành vi sử dụng chất gây nghiện bao gồm: hút, tiêm, chích, hít, uống Nghiện ma túy không chỉ dẫn đến gia tăng các tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm… mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng của người sử dụng, đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em vì các em chưa phát triển đấy đủ về thể chất Do đó cộng đồng cần có trách nhiệm ngăn chặn, chăm sóc đối tượng trẻ nghiện ma túy, và đưa các em trở lại với cuộc sống bình thường
Trẻ em vi phạm pháp luật
Pháp luật quy định đến một độ tuổi nhất định, trẻ em sẽ phải chịu trách nhiệm pháp luật đối với những hành vi vi phạm của mình Tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi ấy Trẻ em vi phạm pháp luật là trẻ em đến một độ tuổi do luật định, đã cố ý hoặc vô ý thực hiện những hành vi trái pháp luật mà tùy theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm đó, có thể
Trang 37bị xử lý vi phạm hành chính hoặc hình sự Điều 58 Luật Hình sự quy định:
“người đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý” Đối tượng này cũng cần được giáo dục, chăm sóc và bảo vệ để tránh bị lợi dụng thực hiện hoặc tái thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Nhóm trẻ khác
Trong thực tế, không chỉ có những đối tượng trên mới cần đến sự chăm sóc và bảo vệ từ cộng đồng Những đứa trẻ thuộc đối tượng có hoàn cảnh khó khăn khác như: con của gia đình quá nghèo, cha mẹ hoặc gia đình gặp rủi ro Rõ ràng trong trường hợp này, cha mẹ của trẻ vẫn còn sống, trẻ vẫn sống chung cùng gia đình nhưng với hoàn cảnh như trên, các quyền cơ bản của trẻ
em sẽ (tạm thời hoặc lâu dài) không được đảm bảo, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hoàn cảnh đó
Hiến pháp, Luật Hôn nhân và Gia đình (Điều 2), Luật Dân sự (Điều 4)
đã cam kết với công dân “…người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ” – Điều 67 [8, tr 37] Điều 65 khẳng định mọi trẻ em đều được xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục mang ý nghĩa cao
cả, một hướng phát triển chiến lược của đất nước Văn bản hiến định này cũng đã đề cập đến đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là trẻ mồ côi không nơi nương tựa, người tàn tật Tuy nhiên, hai đối tượng này chưa phải là
2 nhóm trẻ duy nhất mà trong xã hội vẫn tồn tại những nhóm trẻ khác có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Phải chăng quy phạm này đã chỉ ra mức độ ưu tiên của Nhà nước dành cho một trong số những đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Phải chăng giữa các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ bị bỏ rơi và trẻ em tàn tật là lựa
Trang 38chọn ưu tiên của các nhà lập pháp để được nhận sự chăm sóc và bảo vệ của xã hội
Khi xác định trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với tư cách là chủ thể, nghĩa là luật pháp đã đặt lên vai chủ thể đó những những quyền và nghĩa
vụ nhất định Các em được hưởng quyền đồng thời cũng phải gánh vác những trách nhiệm cụ thể
Nhiều văn bản Luật và dưới luật được ban hành cho thấy Đảng và Nhà nước ngày càng coi trọng và thấy sự cần thiết có một khung pháp lý về trẻ em Luật Dân sự là một trong những bộ luật cơ bản quy định chung nhất điều chỉnh các quan hệ xã hội bao gồm quan hệ hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Từ những quy định chung ấy, luật chuyên ngành sẽ điều chỉnh cụ thể những vấn đề đặc thù của lĩnh vực đó Vì vậy, hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn với tư cách là chủ thể ở khía cạnh pháp lý dân sự, cần được xem xét trên hai nhóm quyền, đó là quyền nhân thân và quyền tài sản
- Quyền nhân thân của cá nhân được Bộ luật dân sự quy định tại mục 2 Chương II (Bộ luật dân sự 2005, tr.17), Chương VI, VII, VII (Luật Hôn nhân và gia đình 2000), Chương II [Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, tr.201) bao gồm: quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; bí mật đời tư; được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình; được nhận làm con nuôi; quyền đối với quốc tịch, quyền được học tập
- Quyền tài sản chủ yếu phát sinh trong quan hệ nhận hay để lại thừa kế, quyền có tài sản (Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, tr 202)
Những quyền về nhân thân và tài sản hợp pháp của mỗi cá nhân đều được pháp luật bảo hộ (Điều 24 – Bộ luật dân sự 2005) Có nhiều yếu tố liên
Trang 39quan đến nhân thân của mỗi người như: độ tuổi và ảnh hưởng trực tiếp đến việc hưởng quyền dân sự, và liên quan đến năng lực hành vi dân sự, cũng như
tư cách chủ thể của cá nhân đó Vì vậy, với đặc thù là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khả năng tiếp cận và thực hiện quyền của các em rất hạn chế, do đó, đã
có những quy định cụ thể tương ứng với từng nhóm trẻ và trong từng lĩnh vực
cụ thể Dưới đây, các quyền nhân thân và tài sản của trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn sẽ đuợc đối chiếu với quy định của ngành luật dân sự dựa trên các nhóm quyền cơ bản mà công ước quốc tế về Quyền trẻ em đã công bố
2.1.2 Nguyên tắc pháp lý về chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã xác lập bốn nguyên tắc cơ bản trong chăm sóc và bảo vệ trẻ em như: không phân biệt đối xử trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; dành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất; trẻ em có quyền xác lập, bày tỏ ý kiến riêng của mình và quyền đó phải được tôn trọng; những quy định trong pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế có lợi cho trẻ
em hơn so với những điều khoản quy định trong công ước sẽ được sử dụng
Nguyên tắc không phân biệt đối xử dựa trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể, một nguyên tắc hiến định, được ghi nhận trong tât cả các bản Hiến pháp, đặc biệt là Hiến pháp 1992: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52), đồng thời cũng được ghi nhận một cách thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam về chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nói riêng Tinh thần của nguyên tắc này được thể hiện ở các khía cạnh chủ yếu sau: trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có quyền bình đẳng về cơ hội tiếp cận với các nguồn chăm sóc, được đối xử bình đẳng trong cuộc sống và được hưởng các quyền và nghĩa vụ như trẻ em thông thường khác Cụ thể hoá nguyên tắc hiến định trên, Luật
Trang 40Hôn nhân và gia đình ghi nhận trẻ em không bị phân biệt đối xử “Nhà nước
và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú” (Điều 2)
Sự bình đẳng và không phân biệt đối xử ấy trước hết được xem xét giữa đối tượng có và không có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nghĩa là mọi trẻ em đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật mà không cần phân biệt đó là gái – trai, con trong giá thú - con ngoài giá thú, con đẻ - con nuôi, con riêng – con chung, dân tộc, địa vị xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, chính kiến của người giám hộ - cha mẹ (Điều 4, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004) Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng có đầy đủ các quyền và bổn phận như mọi trẻ em khác theo quy định ở chương II Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004: không bị phân biệt giới tính, dân tộc, có quyền được học tập, quyền được phát triển năng khiếu Nguyên tắc không phân biệt đối xử một mặt đảm bảo quyền lợi của trẻ em được thực hiện, bao hàm cả trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; mặt khác phòng tránh những hành vi có thể xâm hại đến trẻ một cách vô ý Với tinh thần của nguyên tắc này, vị thế của trẻ em đã được nâng lên một bước đáng kể
Nguyên tắc về người đại diện hợp pháp chính là một nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Theo quy định chung của pháp luật, người chưa thành niên là đối tượng được giám hộ theo điều 20 và điều 21 (Bộ luật Dân sự 2005) Do sự phát triển chưa đầy đủ nên bản thân trẻ em nói chung chưa thể nhận biết hoặc nhận biết chưa đầy đủ về các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, nên việc cha mẹ, người giám hộ (cá nhân, tổ chức, cơ quan bảo trợ) của trẻ tham gia vào các mối quan hệ này sẽ đảm bảo các quyền và lợi ích