1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu

67 571 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 4,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2010, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu cùng các chuyên gia tư vấn về động thực vật rừng của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã triển k

Trang 1

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Tài nguyên động vật rừng Việt Nam không những phong phú và đa dạng mà còn có tính đặc hữu cao Đây là tiềm năng thực sự góp phần làm nền tảng cho chiến lược bảo vệ và phát triển bền vững đa dạng sinh học Việt Nam

Động vật trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở nước ta đã từng là nguồn cung cấp thực phẩm, nguồn dược liệu độc đáo mà nhân dân sử dụng từ thế hệ này đến thế hệ khác Nhiều sản phẩm từ động vật rừng được sử dụng làm nguyên liệu để chế biến các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp và mỹ nghệ được ưa thích trên thị trường Một số loài động vật có vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học nhằm tìm ra các nguyên lý, các cơ chế sinh học, sinh lý học, phục vụ cho việc phòng và chữa bệnh, nâng cao sức khoẻ cộng đồng Đặc biệt đó là ngân hàng gen vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người, là nguồn gốc của các loài động vật chăn nuôi trong gia đình hiện nay Động vật rừng còn có vai trò không nhỏ trong việc điều chỉnh sự cân bằng các hệ sinh thái

Lưỡng cư, bò sát cũng là nguồn tài nguyên động vật có giá trị cao bên cạnh các nguồn tài nguyên thú, chim và cá Trong các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái nhân văn ở mọi miền đất nước, nguồn tài nguyên lưỡng cư, bò sát có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của các cộng đồng

Trong cuộc sống hàng ngày lưỡng cư, bò sát là đội quân cần mẫn giúp con người tiêu diệt các loài côn trùng gây hại cho nông - lâm nghiệp và những vật chủ trung gian mang mầm bệnh lây truyền cho con người và gia súc Nhiều loài lưỡng

cư, bò sát là nguồn thực phẩm có giá trị và ưa thích của nhân dân ta như: Các loài Trăn, Rắn, Ba ba, Ếch nhái, Nhiều loài còn là nguyên liệu để bào chế các loại thuốc quý hiếm phục vụ cho đời sống con người (Trần Kiên, 1981) [4] Trong các phòng thí nghiệm lưỡng cư, bò sát còn được dùng như một đối tượng nghiên cứu

Vấn đề nóng bỏng hiện nay là nguồn tài nguyên động vật rừng nói chung và nguồn tài nguyên lưỡng cư, bò sát nói riêng đang bị suy giảm mạnh Nhiều loài đã

Trang 2

trở nên rất hiếm, thậm chí một số loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Nguyên nhân chủ yếu là do nạn khai thác rừng bừa bãi dẫn đến diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm mạnh làm cho một số loài mất sinh cảnh sống Cùng với đó là nạn săn bắn động vật rừng gia tăng và công tác quản lý chưa hiệu quả Vì vậy việc nghiên cứu hiện trạng quần thể, đặc điểm phân bố, sinh thái, tập tính của các loài lưỡng

cư, bò sát là việc làm tiên quyết để từ đó xây dựng các phương án quản lý, bảo tồn

và sử dụng có hiệu quả

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Lưỡng cư, bò sát phân bố hầu hết khắp nơi trên thế giới, khu vực phân bố chính là ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu về tình trạng cũng như đặc điểm của các loài bò sát, lưỡng cư

Năm 2008 được các tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế coi là năm dành cho

“Amphibian Ark” nhằm thu hút và kêu gọi sự chú ý của thế giới đến công tác bảo tồn các loài Ếch nhái [21]

Tháng 12/2006, sau 10 năm nghiên cứu, một nhóm các nhà khoa học nước Argentina đã phát hiện hóa thạch loài bò sát biển có niên đại 70 triệu năm tại đảo Vega, cách cơ sở nghiên cứu Nam cực Marambio của Argentina khoảng 60km về phía Nam [22]

Theo tạp chí Zootaxa tháng 02/2011, Mỹ vừa công bố hai loài rắn lục mới được phát hiện tại Việt Nam và Campuchia Các nhà khoa học đặt tên cho loài rắn

thứ nhất là rắn lục Cryptelytrop cardamomensis Bộ mẫu chuẩn của loài này được

thu lượm ở vùng núi Cardamom, miền nam Campuchia Loài rắn thứ hai được đặt

tên là rắn lục mắt đỏ Cryptelytrop rubeus, tên loài có nguồn gốc từ một từ latin

“rubens” có nghĩa là màu đỏ Mẫu vật dùng để mô tả loài rắn này được thu thập ở

tỉnh Mondolkiri [23]

Các nhà khoa học Colombia, vừa phát hiện một loài ếch vàng có độc tại những vùng núi sâu của Colombia Loài ếch mới này có kích thước khoảng 2cm

Trang 3

chiều dài, da vàng nhạt bên dưới những lớp độc tố Chúng được đặt tên là ếch vàng

Supatas [24]

Từ năm 2008 đến 2010, nhóm các nhà nghiên cứu từ Bảo tàng Oxtraylia, Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Khoa học Tự nhiên North Carolina Hoa Kỳ, đã tiến hành nhiều đợt khảo sát thực địa Vườn Quốc gia Bi Đúp - Núi Bà, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng để thu thập mẫu vật và nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài ếch nhái Nhóm các nhà khoa học vừa công bố một số loài ếch cây mới trên tạp chí Zootaxa số 2727 năm 2010 [25]

2.2.2 Lịch sử nghiên cứu lưỡng cư, bò sát trong nước

Nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam bắt đầu từ khi Morice (1875) lập nên danh sách các loài lưỡng cư, bò sát thu được mẫu ở Nam Bộ mở đầu cho các công trình nghiên cứu khoa học về nhóm động vật này ở nước ta vào thế kỷ 19 Những nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát tiếp theo ở Bắc Bộ có J.Anderson (1878), ở Nam Bộ có J Tirant (1885), G Boulenger (1890), Flower (1896), Boettger (1901)

là người đầu tiên đề cập tới lưỡng cư, bò sát vùng Bắc Trung Bộ trong tài liệu

“Aufzahlung Einer Liste Von Reptilen and Batrachien Annam” Tuy nhiên các nghiên cứu ở thời kỳ này được các tác giả nước ngoài tiến hành chủ yếu điều tra khu hệ lưỡng cư, bò sát, xây dựng danh lục lưỡng cư, bò sát các vùng: Tirant (1985), Boulenger (1903), Smith (1921,1923,1924) Những công trình của Bourret

R và các cộng sự trong khoảng thời gian từ 1924 đến 1944 đã thống kê, mô tả được

177 loài và loài phụ Thằn lằn, 245 loài và loài phụ Rắn, 44 loài và loài phụ Rùa trên toàn Đông Dương, trong đó có nhiều loài của miền Bắc Việt Nam (Bourret R 1936,

1941, 1942) Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu Bourret R có nói nhiều đến lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ, ông đã công bố và bổ sung danh lục cho nhiều loài lưỡng cư, bò sát (Bourret R 1934, 1937, 1939, 1940, 1943) [7]

Từ năm 1954, nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát Việt Nam được tiến hành ở Miền Bắc Năm 1960, Đào Văn Tiến [7], nghiên cứu khu hệ động vật có xương sống ở Vĩnh Linh (Quảng Trị) đã thống kê được nhóm lưỡng cư, bò sát có 12

Trang 4

loài Lớp ếch nhái có 1 họ Ranidae với 1 loài, lớp bò sát có 6 họ: Họ Gekkonidae 2 loài, họ Agamidae 3 loài, họ Colubridae 2 loài, họ Viperidae 2 loài, họ Typhlopidae

1 loài và họ Emididae 1 loài Tác giả đã bổ sung cho vùng nghiên cứu 3 loài và mô

tả 1 loài mới Năm 1977, nghiên cứu xây dựng các đặc điểm định loại, khoá định loại lưỡng cư Việt Nam và công bố 87 loài lưỡng cư thuộc 3 bộ 12 họ [15] Năm

1979, nghiên cứu xây dựng khoá định loại Thằn lằn Việt Nam và thống kê 77 loài Thằn lằn trong đó có 6 loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam [16]

Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981) [4], nghiên cứu lưỡng cư,

bò sát từ năm 1956 - 1975 trên toàn Miền Bắc thống kê được 159 loài bò sát thuộc 2

bộ, 19 họ và 69 loài lưỡng cư thuộc 3 bộ, 9 họ

Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1985) [5], báo cáo điều tra thống

kê khu hệ bò sát, ếch nhái Việt Nam gồm 160 loài bò sát và 90 loài lưỡng cư Các tác giả còn phân tích sự phân bố địa lí, phân bố theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài

Những năm 1980 đến nay các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc thống kê

và vẽ bản đồ phân bố các loài lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam Kết quả từ năm 1980 đến 2006 đã phát hiện 3 giống mới, 79 loài mới và 3 phân loài mới cho khoa học (39 loài lưỡng cư, 43 loài bò sát) Ngoài ra, có ít nhất 90 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam trong giai đoạn này Kết quả nghiên cứu cho thấy các khu vực núi cao của Việt Nam chứa đựng sự đa dạng về thành phần loài lưỡng cư và bò sát Một

số địa điểm quan trọng đối với khu hệ lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam gồm: Dãy Hoàng Liên Sơn (Phan-xi-păng) ở khu vực Tây Bắc, dãy Bắc Sơn và Yên Tử ở khu vực Đông Bắc, dải Trường Sơn và khu vực Tây Nguyên ở miền Trung và vùng lưu vực sông Cửu Long ở Miền Nam Các khu vực này hiện còn tồn tại một diện tích khá lớn các khoảnh rừng tự nhiên và cần tiếp tục được nghiên cứu Sự ĐDSH mới này xuất phát từ việc nhận biết các loài mới thông qua những phân tích về hình thái

và di truyền của các loài riêng biệt (các loài chưa rõ nguồn gốc) mà trước đây được coi là các quần thể chưa phân hóa của một loài duy nhất có phân bố rộng Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra sự phong phú tiềm ẩn trong những nhóm loài của Ếch

Trang 5

xanh (Rana livida), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons) và Rùa dứa (Cyclemys dentata) Nguồn thứ hai làm tăng nhanh số lượng loài có trong nước là những loài trước kia chưa được tìm thấy tại Việt Nam như Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus) là loài chuyên sống trên địa hình núi đá vôi được tìm thấy ở vùng

Đông Bắc của Việt Nam vào năm 2003 và trước đây chỉ biết đến ở tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc [19,3]

Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996) [12], công bố danh lục lưỡng cư, bò sát Việt Nam gồm 256 loài bò sát và 82 loài lưỡng cư (chưa kể 14 loài bò sát và 5 loài ếch nhái chưa xếp vào danh lục)

Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005) [14], công

bố danh lục lưỡng cư, bò sát Việt Nam gồm 162 loài lưỡng cư và 296 loài bò sát

Trong những năm qua có nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã tiến hành nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát ở những địa phương, đặc biệt chú ý đến các VQG, Khu BTTN và khu rừng đặc dụng Khu vực Bắc Trung Bộ - Bắc Trường Sơn đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố Từ năm 1980 đến năm 2006 đã

có 23 loài mới được mô tả dựa trên mẫu chuẩn thu được ở khu vực này, trong đó có 8 loài lưỡng cư, 7 loài thằn lằn, 5 loài rắn, 3 loài rùa Tất cả những loài mới thuộc nhóm lưỡng cư, bò sát này cho đến nay mới chỉ được biết ở một vài địa điểm [19]

Hoàng Xuân Quang (1993) [7], điều tra thống kê danh lục lưỡng cư, bò sát ở các tỉnh Bắc Trung Bộ gồm 94 loài bò sát của 59 giống 17 họ và 34 loài lưỡng cư của 14 giống 7 họ Tác giả đã bổ sung thêm cho danh lục lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ 23 loài, phát hiện bổ sung thêm cho vùng phân bố 9 loài Bên cạnh đó tác giả còn phân tích sự phân bố các loài theo sinh cảnh và quan hệ với các khu phân bố lưỡng cư, bò sát trong nước Năm 1998, tác giả đã bổ sung thêm 12 loài cho khu hệ lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ, trong đó có 1 giống, 1 loài cho khu hệ lưỡng cư, bò sát Việt Nam [8]

Hoàng Xuân Quang, Ngô Đắc Chứng (1999) [9], nghiên cứu về khu phân bố lưỡng cư, bò sát ở Nam Đông - Bạch Mã - Hải Vân xác định có 23 loài lưỡng cư thuộc 9 giống, 5 họ, 1 bộ và 41 loài bò sát thuộc 31 giống, 12 họ, 2 bộ

Trang 6

Hoàng Xuân Quang, Mai Văn Quế (2000) [10], nghiên cứu khu hệ lưỡng cư,

bò sát khu vực Chúc A (Hương Khê - Hà Tĩnh) công bố 53 loài thuộc 40 giống, 18

họ, trong đó có 18 loài lưỡng cư và 35 loài bò sát Mức độ đa dạng về số loài lưỡng

cư, bò sát ở Chúc A không thua kém các vùng khác

Nguyễn Văn Sáng, Hoàng Xuân Quang (2000) [13], nghiên cứu khu hệ lưỡng

cư, bò sát VQG Bến En đã thống kê được 54 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ và 31 loài lưỡng cư thuộc 6 họ

Nguyễn Nghĩa Thìn, Lê Vũ Khôi, Nguyễn Xuân Quỳnh, Nguyễn Văn Quảng, Ngô Sỹ Vân, Đặng Thị Đáp (2004) [18], đánh giá tính ĐDSH VQG Phong Nha Kẻ Bàng đã thống kê được 60 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ và 22 loài lưỡng cư thuộc 6 họ

Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Hồ Anh Tuấn, Cao Tiến Trung, Nguyễn Văn Quế (2007) [11], công bố kết quả điều tra nghiên cứu thành phần loài lưỡng cư,

bò sát VQG Bạch Mã Kết quả điều tra nghiên cứu từ năm 1996 - 2006, đã xác định thành phần loài lưỡng cư, bò sát VQG Bạch Mã có 93 loài thuộc 19 họ của 3 bộ,

trong đó lưỡng cư có 37 loài thuộc 5 họ của Bộ không đuôi – Anura, bò sát có 56

loài thuộc 14 họ của 2 bộ Kết quả này đã bổ sung cho VQG Bạch Mã 3 họ (họ Thằn

lằn rắn Anguidae, họ Rùa đầu to Platysternidae, họ Rùa núi Testudinidae), 39 loài (14

loài lưỡng cư, 25 loài bò sát)

Năm 2013 là năm khá thành công đối với các nhà nghiên cứu động vật học của Việt Nam và quốc tế với 15 loài bò sát và ếch nhái mới cho khoa học được phát hiện ở nước ta Các công trình công bố về những khám phá mới này trên các tạp chí khoa học quốc tế không chỉ khẳng định tiềm năng đa dạng sinh học cao của Việt Nam mà còn chứng minh nỗ lực nghiên cứu, hợp tác có hiệu quả của các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài Trong năm 2013, phát hiện 5 loài ếch nhái và 10 loài

bò sát mới cho khoa học được các nhà nghiên cứu công bố dựa trên các tư liệu khoa học thu thập được trong các chuyến khảo sát ở Việt Nam hay tham khảo mẫu vật đang lưu giữ ở các bảo tàng động vật Loài mới được phát hiện ngay trong vườn nhà

ở vùng đồng bằng hay trong các khu rừng nhiệt đới ở vùng núi cao Mặc dù chưa có

số liệu thống kê chính thức nhưng số loài bò sát và ếch nhái mới được phát hiện ở

Trang 7

Việt Nam trong 5 năm gần đây có thể xếp ở vị trí đầu bảng trong các nước ở khu vực Đông Nam Á Các công trình công bố về những phát hiện mới liên tục được xuất bản chứng tỏ hiệu quả hợp tác trong nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực khám phá đa dạng sinh học ở các nước nhiệt đới, nơi

có tiềm năng đa dạng sinh học rất cao nhưng cũng đang chịu nhiều áp lực do tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu [20]

Năm 2010, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu cùng các chuyên gia tư vấn về động thực vật rừng của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã triển khai hoạt động điều tra nhanh hiện trạng đa dạng sinh học nhằm xác định lại hiện trạng phân bố của các loài quan trọng, trên cơ

sở đó đề xuất được những hoạt động cần thiết để quản lý, bảo tồn các loài có nguy

cơ tuyệt chủng cao Kết quả nghiên cứu bước đầu đã xác định 11 loài bò sát, trong

đó có 4 loài nằm trong danh lục đỏ của IUCN (từ cấp VU trở lên) [1]

Như vậy, trong những năm gần đây việc nghiên cứu khu hệ lưỡng cư, bò sát được các nhà khoa học trong và ngoài nước rất quan tâm nghiên cứu và đã có được những kết quả nhất định, nhưng những nghiên cứu về tính đa dạng khu hệ lưỡng cư,

bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu thì chưa được tiến hành, chính vì vậy, chưa có

cơ sở để đề xuất các giải pháp bảo tồn Do vậy cần phải có sự đầu tư hơn nữa cho các công trình nghiên cứu về khu hệ động thực vật nói chung và khu hệ lưỡng cư,

bò sát nói riêng nhằm xác định hệ trạng cũng như đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái của các loài lưỡng cư, bò sát, từ đó làm cơ sở xây dựng phương án và đề xuất giải pháp bảo tồn đạt hiệu quả hơn

2.3 Tổng quan điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

2.3.1.1 Vị trí địa lý

Khu rừng đặc dụng Cham Chu nằm trên địa bàn 5 xã: Yên Thuận và Phù Lưu (huyện Hàm Yên); Trung Hà, Hà Lang và Hòa Phú (huyện Chiêm Hóa), tỉnh Tuyên Quang Tọa độ địa lý: Từ 22004’16’’ đến 2202’30’’vĩ độ Bắc; 104053’27’’ đến 105014’16” độ kinh Đông Tổng diện tích tự nhiên là 58.187 ha

Trang 8

- Phía Bắc giáp huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang

- Phía Đông giáp xã Minh Quang, Tân Mỹ, Phúc Thịnh và Tân Thịnh huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

- Phía Nam giáp xã Bình Xa huyện Hàm Yên, xã Yên Nguyên huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

- Phía Tây giáp xã Yên Lâm và Yên Phú huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

2.3.1.2 Địa hình, địa chất và thổ nhưỡng

* Địa hình

Toàn bộ diện tích của khu rừng đặc dụng Cham Chu nằm trong khu vực núi Cham Chu Có ba đỉnh cao nằm ở trung tâm gồm: Cham Chu (1.587m), Pù Loan (1.154m) và Khau Vuông (1.218m) Có ba kiểu địa hình:

- Địa hình miền núi: Được hình thành do sự phát triển của các dãy núi theo dạng tỏa tia ra xung quanh núi Cham Chu; Phía Đông Bắc là dãy Khau Coóng; Phía Tây là núi Tốc Lũ và Lăng Đán; Phía Tây Bắc là núi Khuổi My, núi Cánh Tiên và Quân Tinh

- Địa hình đồng bằng: Là 2 giải đất hẹp nằm dọc hai bên núi Cham Chu, phân bố ở hai xã Trung Hà và Hà Lang (phía đông), và hai xã Yên Thuận và Phù Lưu (phía Tây)

- Địa hình ngập nước: Cũng được coi là khá quan trọng, tuy diện tích không lớn nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tiểu khí hậu và kiểu sinh thái ngập nước, là nguồn cung cấp nước, hình thành hệ sinh thái tự nhiên giàu tính

đa dạng sinh học của khu vực; địa hình này tồn tại ở các dạng: Ao, hồ, sông, suối và các thủy vực

* Địa chất và thổ nhưỡng

Đá mẹ chủ yếu là đá phiến, đá cát kết, đá phiến kết tinh và các loại đá biến chất khác Có hai loại đất chính: Đất Feralit đỏ vàng trên sa phiến thạch và đất đá vôi thung lũng Loại này gồm có đất xám Feralit phát triển trên phiến xét và đất Feralit phát triển do biến đổi trồng lúa

Trang 9

- Đất Feralit màu đỏ vàng trên núi trung bình, núi cao: Phân bố tập trung ở

độ cao từ 700 – 1700m so với mặt nước biển, loại đất này có quá trình Feralit yếu, quá trình mùn hóa tương đối mạnh, là vùng phân bố của các thảm rừng tự nhiên

- Đất Feralit màu vàng trên núi thấp: Phân bố ở độ cao từ 300 – 700m, hình thành trên các loại đá mẹ sa thạch, phiến thạch; vùng phân bố thảm rừng tự nhiên phục hồi sau khai thác

- Đất đá vôi thung lũng: Đất có tính kiềm, được hình thành từ sản phẩm phong hóa của đá sa thạch, biến chất, đá vôi; thích hợp với một số loài cây ăn quả

có múi (Cam, Chanh…)

- Đất bồn địa và thung lũng: Bao gồm đất phù sa mới, cũ, sản phẩm đất dốc

tụ, sản phẩm hỗn hợp; loại đất này được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp

2.3.1.3 Khí hậu thủy văn

* Khí hậu

Khu rừng đặc dụng Cham Chu có những nét tương đồng với chế độ khí hậu vùng Đông Bắc Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt; mùa khô từ tháng 10/11 đến tháng 3/4 năm sau, đây là thời kỳ khô hạn đối với sự phát triển của hệ sinh thái; mùa mưa từ tháng 4/5 đến tháng 10/11

Nhiệt độ trung bình hàng năm 22,90C; Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất xuống đến 15,50C vào tháng 1, tháng cao nhất lên đến 28,20C rơi vào tháng 7 Biên

độ dao động nhiệt độ giữa tháng lạnh và nóng nhất lên đến 12,70C

* Thủy văn

Tổng lượng mưa trung bình năm đạt 1661(mm) đặc biệt 4 tháng có lượng mưa trung bình trên 230(mm) là các tháng 6,7,8,9 chiếm đến 65,24% tổng lượng mưa năm Điều này gây nên hiện tượng lũ lụt, xói mòn đất và các thiệt hại về người, môi trường và kinh tế Trong 3 năm liền 1999, 2000, 2001 lũ lụt thường xuyên xảy

ra trên địa bàn khu vực nghiên cứu, gây thiệt hại lớn về người và của cải

Một đặc điểm chung của vùng núi Đông Bắc là hệ thống sông suối dày đặc, cộng với lượng mưa hàng năm lớn (1661mm), hệ thống sông suối góp phần tạo nên độ ẩm không khí cao về mùa mưa Tổng chiều dài sông suối trong toàn

Trang 10

bộ khu vực đạt đến 1113,7 km tương ứng khoảng 1,9 km/km2 Phía Tây là Sông

Lô đây cũng là ranh giới của khu rừng đặc dụng Cham Chu, phía Đông có hệ thống sông Khuổi Guồng bắt nguồn từ thũng lũng xã Trung Hà chảy qua địa phận xã Hà Lang, hợp lưu với hệ thống sông Tân Thành và sông Phúc Ninh ở phía Tây Nam RĐD Cham Chu

2.3.1.4 Tài nguyên rừng

* Diện tích rừng và các loại đất đai

Căn cứ vào kết quả rà soát điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng và quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020 Diện tích rừng và các loại đất đai trong khu rừng đặc dụng Cham Chu là 15.262,3 ha, phân theo các huyện như sau:

Bảng 2.1: Diện tích rừng và các loài đất đai tại khu RĐD Cham Chu

Đơn vị:ha

TT Cơ cấu đất Cộng Phân hóa theo huyện

Chiêm Hóa Hàm Yên Diện tích tự nhiên 15.590,9 9.181,7 6.409,2

Trang 11

Đất phi nông nghiệp 37,9 ha, chiếm 0,24% diện tích tự nhiên (đất ở, đường, các công trình khác…)

Đất chưa sử dụng 55,0 ha, chiếm 0,35% diện tích tự nhiên;

* Thảm thực vật rừng

Trên cơ sở phân loại Thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng và kết quả nghiên cứu của Viện sinh thái Tài nguyên sinh vật, thảm thực vật của khu rừng đặc dụng Cham Chu có thể xếp vào các kiểu thảm thực vật rừng có diện tích ở bảng 2.2 dưới đây:

Bảng 2.2: Diện tích các loài thảm thực vật ở khu RĐD Cham Chu

1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi đá vôi 2.284,8

2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình,

núi cao (>700m)

5.648,9

3 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp (<700m) 6.071,5

4 Kiểu phụ rừng hỗn giao tre nứa – cây lá rộng 945,2

Trên cơ sơ số liệu kế thừa của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, khu rừng đặc dụng Cham Chu có 906 loài thực vật thuộc 425 chi, 136 họ, 5 ngành thể hiện ở bảng 2.3 dưới đây:

Trang 12

Bảng 2.3 Thành phần thực vật ở khu rừng đặc dụng Cham Chu

(Nguồn: Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các loài bị đe dọa toàn cầu và các

sinh cảnh quan trọng trong khu rừng đặc dụng Cham Chu năm 2009, Viện Sinh thái

và Tài nguyên sinh vật)

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của các nhà khoa học, khu rừng đặc dụng Cham Chu không những đa dạng về các kiểu hệ sinh thái rừng mà hệ thực vật ở đây còn phong phú và đa dạng về thành phần loài; về thành phần loài thực vật có mạch

ở đây lên đến 1.500 – 2.000 loài, trong đó 10 loài đặc hữu, 58 loài quý hiếm, thuộc

55 chi, 36 họ;

Sách đỏ Việt Nam năm 2007: Có 43 loài thuộc 40 chi, 33 họ

Danh lục đỏ của IUCN năm 2014: Có 23 loài thuộc 25 chi, 16 họ

Nghị định 32/2006/NĐ – CP của Chính phủ về quản lý các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm: Có 16 loài thuộc 15 chi, 15 họ Nhiều loài thực vật có giá trị kinh tế cao như: Hoàng Đàn, Pơ Mu, Thông tre, Nghiến và Trai

Lý, Chò chỉ, Gù hương

* Tài nguyên động vật

Theo các nhà khoa học, đến nghiên cứu tại khu rừng đặc dụng Cham Chu bước đầu đã ghi nhận được 37 loài thú trong số đó có 21 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam (2007) từ cấp VU trở lên, 47 loài chim trong số đó có 2 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam (2007) từ cấp VU trở lên, 11 loài bò sát đã được ghi nhận trong cuộc điều tra, trong đó có 8 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam (2007) từ cấp VU trở

Trang 13

lên Đặc biệt là sự tồn tại của các loài linh trưởng đang bị đe doạ trên toàn cầu như: Voọc mũi hếch, Voọc đen má trắng, Cu ly lớn, Cu ly nhỏ Thành phần các loài được tổng hợp ở bảng 2.4:

Bảng 2.4: Thành phần động vật của khu rừng đặc dụng Cham Chu

2.3.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội

2.3.2.1 Điều kiện dân sinh

* Dân số, dân tộc

Theo thống kê dân số tính hết năm 2013, dân số trong vùng là 29.703 nhân khẩu, sinh sống tại 6.832 hộ gia đình, trên địa bàn 83 thôn bản, trong 5 xã, thuộc 2 huyện Hàm Yên và Chiêm Hóa Mật độ dân sống trong vùng bình quân là: 74 người/km2, mật độ dân cư đông nhất là xã Hòa Phú (101 người/km2), thấp nhất là xã

Hà Lang (44 người/km2)

Toàn khu vực có 8 dân tộc cùng sinh sống gồm: Tày, Dao, Kinh, Hoa, Nùng,

La Chí, Cao Lan và H’Mông, trong đó: Dân tộc Tày với 15.522 người (chiếm 52,3%), sau đó đến dân tộc Dao với 7.343 người (chiếm 24,7%), tiếp đến là dân tộc Kinh 4.749 người (chiếm 16,0%), các dân tộc khác 2.089 người, chiếm 7,0% dân số toàn vùng cũng đóng góp vai trò không kém phần quan trọng đối với quá trình xây dựng và phát triển khu rừng đặc dụng Cham Chu Mỗi dân tộc có phong tục, tập quán canh tác và phương thức sử dụng đất khác nhau Chính sự khác nhau đó đã tạo nên sự khác biệt trong việc tác động đến tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên rừng của khu rừng đặc dụng Cham Chu Bởi vậy, cần có những chính sách phù hợp để tạo

Trang 14

điều kiện hỗ trợ đồng bào phát triển kinh tế và tham gia phát triển bền vững, bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên

* Lao động

Lực lượng lao động trong vùng phần lớn là sản xuất nông nghiệp chiếm 85% dân số toàn vùng, còn lại là lao động thuộc các ngành nghề khác bao gồm: Cán bộ chủ chốt cấp xã, huyện, cán bộ y tế, giáo dục, dịch vụ, công nhân lâm nghiệp thuộc các Lâm trường Với lực lượng lao động nhiều nhưng cơ cấu ngành nghề đơn điệu (chủ yếu là sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ, năng suất lao động thấp) dư thừa lao động và nhiều thời gian nông nhàn đang là sức ép đến tài nguyên rừng vì kế mưu sinh Phần lớn lao động nông nghiệp chưa được đào tạo tại các trường nghề trung học chuyên nghiệp hay đại học; chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế, sự chuyền nghề từ các thế hệ ông, cha; do đó việc tiếp cận và ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất còn chậm; năng suất vật nuôi cây trồng chưa cao; đời sống và thu nhập của người dân sống trong vùng lõi tuy được cải thiện nhưng so với các địa phương trong huyện và tỉnh vẫn còn ở mức thấp

2.3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế

* Sản xuất nông nghệp

Nằm trong vùng lõi của khu rừng đặc dụng Cham Chu có 233,8 ha đất sản xuất nông nghiệp, chiếm 1,51% diện tích tự nhiên toàn khu trong đó có 112,7 ha trồng cây hàng năm, bình quân 0,195 ha/người; như vậy, quỹ đất dành cho sản xuất lương thực của người dân còn thấp, đó cũng là nguyên nhân khiến người dân phải tận dụng đất nương rẫy và xâm canh vào đất lâm nghiệp (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng) để trồng cây lương thực, cây công nghiệp đáp ứng cuộc sống mưu sinh

Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là các loại lương thực có hạt như: Lúa, ngô, đậu… và một số loại sản phẩm khác như sắn, khoai

Cây công nghiệp và cây ăn quả với một số loài có giá trị kinh tế: Cam, quýt, bưởi… Đặc biệt là Cam sành Hàm Yên đã có thương hiệu trên thị trường cả nước Đây là một nguồn thu ổn định góp phần nâng cao đời sống của nhân dân Tuy nhiên, do phát triển diện tích cây ăn quả trong điều kiện quy hoạch chưa đồng bộ

Trang 15

nên dẫn đến tình trạng xâm canh vào diện tích rừng là khá phổ biến tại các phân khu phục hồi sinh thái

Bên cạnh các hoạt động trồng trọt; người dân trong vùng còn phát triển chăn nuôi gia súc (trâu, bò, ngựa, dê…), gia cầm (vịt, gà, ngan…) và nuôi cá… Chính những sản phẩm này cũng bổ sung nguồn thu kinh tế cho hộ gia đình Tuy nhiên, việc chăn nuôi chỉ diễn ra và dừng lại ở hình thức hộ gia đình và mang tính

tự phát là chính Bởi vậy, rất cần phải có những diện tích dành cho quy hoạch vùng chăn thả…cho nhân dân, đặc biệt là các thôn bản nằm trong khu phục hồi sinh thái để giảm các áp lực bất lợi tới toàn cảnh tự nhiên của rừng từ loại hình chăn nuôi tự phát này

* Sản xuất công nghiệp và dịch vụ

Sản xuất công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ rất nhỏ hầu như không đáng kể trong nguồn thu của các xã nằm trong khu vực Các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp chiếm vai trò chủ đạo Sản xuất hàng hóa trong lĩnh vực thủ công nghiệp đang từng bước hình thành; một số hộ gia đình có điều kiện kinh tế bắt đầu hình thành mạng lưới dịch vụ buôn bán; sản phẩm chủ yếu là các nhu yếu phẩm tiêu dùng, vật liệu xây dựng (xi măng, sắt thép…), vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc trừ sâu, dụng cụ nông nghiệp…)

* Sản xuất lâm nghiệp

Hoạt động sản xuất lâm nghiệp chủ yếu được thực hiện trong vùng đệm và phân khu phục hồi sinh thái khu của rừng đặc dụng Cham Chu

Đối với vùng lõi, sau 14 năm thành lập đến nay, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu đã giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi và trồng bổ sung trong phân khu phục hồi sinh thái Nhằm tạo công ăn việc làm cho các hộ gia đình đang sống đan xen trong rừng Thông qua ngân sách Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng với vai trò chủ đầu tư đã tổ chức tốt việc thực hiện hỗ trợ cây giống, công trồng, chăm sóc

để người dân thực hiện trồng rừng trên nương rẫy bỏ hóa

Trang 16

2.3.2.3 Cơ sở hạ tầng

* Hệ thống đường giao thông

Tất cả các xã trong RĐD đều có đường ô tô đến trung tâm xã; có 83 thôn, bản có đường ô tô đến thôn đạt 58% Tuy nhiên, đường giao thông chất lượng còn thấp, chủ yếu là đường đất, một số ít là đường bê tông và đường cấp phối được đầu

tư từ chương trình phát triển nông thôn mới, khả năng sử dụng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là vào mùa mưa Những khu vực thuộc vùng sâu, vùng xa như các xã: Yên Thuận, Phù Lưu, Hà Lang, Trung Hà… còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm nông lâm nghiệp sau thu hoạch Đây cũng là khó khăn trực tiếp ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý bảo vệ rừng của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng và các cấp chính quyền địa phương

* Thủy lợi

Các công trình tưới tiêu, hệ thống kênh mương, phai đập, hồ chứa nước với khối lượng 249 công trình đầu mối được đầu tư từ chương trình phát triển nông thôn mới đã góp phần nâng cao hệ số sử dụng đất của người dân trong vùng Mặc dù vậy, các công trình thủy lợi đảm bảo tưới, tiêu cho 70% diện tích lúa và rau màu của các xã Tuy nhiên, một số các công trình được xây dựng từ lâu, do tác hại của thiên tai và mưa lũ, kinh phí để duy trì sửa chữa còn thiếu, công tác quản lý khai thác còn nhiều bất cập, dẫn đến các công trình bị xuống cấp không đảm bảo năng lực thiết kế Do đó, trong thời gian tới, các công trình cần sớm được tu bổ, sửa chữa, nâng cấp và xây mới để đáp ứng tốt hơn cho sản xuất của người dân Bên cạnh đó, tăng cường công tác bảo vệ rừng đặc dụng lưu vực đầu nguồn nhằm hạn chế tác hại của thiên tai tới các công trình xây dựng

* Mạng lưới điện

Toàn khu có 77 thôn bản có điện lưới quốc gia Hệ thống đường dây trung thế, hạ thế, trạm biến áp các loại từng bước được cải tạo, nâng cấp và xây mới Tuy nhiên, một số đường dây đã bị xuống cấp, tiêu hao điện năng còn cao đã ảnh hưởng đến việc cấp điện, sự cố mất điện sinh hoạt ở một số khu vực vẫn còn xảy ra Hiện tại, hệ thống đường dây trung thế, hạ thế, trạm biến áp các loại đang từng bước được cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới

Trang 17

* Tình hình an ninh - quốc phòng

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn RĐD trong những năm qua khá ổn định, công tác dân tộc có những bước phát triển khá rõ nét Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy, kịp thời giải quyết các

vụ việc trên địa bàn, không để phát sinh các vụ việc phức tạp, đảm bảo công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội địa phương

2.3.2.4 Tình hình văn hóa, giáo dục và y tế

* Văn hóa – xã hội

Mạng lưới thông tin văn hóa khá phát triển; 100% số xã đều thu được tín hiệu phát thanh truyền hình, 74 thôn có hệ thống loa truyền thanh, có 4 điểm bưu điện văn hóa xã; có 8.099 hộ sử dụng điện thoại Toàn vùng có 70 nhà văn hóa thôn bản, hoạt động văn hóa từng bước đi vào nề nếp, các giá trị văn hóa dân tộc được bảo tồn, đặc biệt là duy trì và tổ chức tốt các lễ hội truyền thống của dân tộc (chọi trâu, xuống đồng…); hầu hết các thôn bản đều đã xây dựng hương ước, trên 70% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa…

* Giáo dục

Công tác giáo dục - đào tạo có bước chuyển biến rõ rệt về cả chất và lượng trên tất cả các bậc học Đội ngũ giáo viên được chú trọng nâng cấp trình độ chuyên môn giảng dạy Năm học 2013 – 2014, toàn vùng có 83 thôn có nhà trẻ mẫu giáo, 6 trường tiểu học, 5 trường trung học cơ sở; tỷ lệ học sinh đến tuổi đi học đạt 98%; tỷ

lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 95% Cơ sở vật chất (trường, lớp) được tăng cường đầu tư xây dựng; trang thiết bị dạy và học được mua sắm thường xuyên tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giảng dạy và học tập Do đó, chất lượng giáo dục và đào tạo trong vùng ngày càng được nâng lên là nhân tố quyết định tới

chất lượng nguồn lao động trong tương lai

* Y tế

Toàn vùng có 2 bệnh viện huyện và 01 phòng khám đa khoa khu vực; 100% các xã có trạm y tế xã; trên 70% thôn, bản có cán bộ y tế được đào tạo, nâng cao chất lượng chuyên môn và trách nhiệm phục vụ Công tác y tế đã có những chuyển biến tích cực từng bước đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh và cấp phát thuốc cho nhân dân

Trang 18

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Các loài bò sát, lưỡng cư tại rừng đặc dụng Cham Chu

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn 2 xã Phù Lưu và Yên Thuận của rừng đặc dụng Cham Chu tỉnh Tuyên Quang và chỉ nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm phân bố, thực trạng quản lý các loài động vật nói chung và bò

sát, lưỡng cư nói riêng

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

3.2.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại rừng đặc dụng Cham Chu, tỉnh Tuyên Quang

3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Từ 15/09/2014 – 25/05/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

• Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu

• Nghiên cứu về đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu

• Nghiên cứu tính đa dạng về giá trị các loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu

• Thực trạng công tác quản lý nguồn tài nguyên lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu

• Đề xuất một số giải pháp cho công tác bảo tồn các loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu

Trang 19

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Ngoại nghiệp

3.4.1.1 Kế thừa chọn lọc các tài liệu đã công bố

Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu

Tư liệu về điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội của địa phương năm 2014 Tham khảo, kế thừa các tài liệu, báo cáo của các nghiên cứu trước đây Tư liệu tham khảo là danh lục lưỡng cư, bò sát, tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên rừng, hiện trạng tài nguyên rừng, tài nguyên động vật hiện có tại khu vực nghiên cứu

3.4.1.2 Phương pháp phỏng vấn

Đối tượng phỏng vấn: Cán bộ kiểm lâm, thợ săn và người dân địa phương Trong quá trình điều tra chúng tôi sẽ phỏng vấn 5 cán bộ kiểm lâm và 25 người dân địa phương thường xuyên đi rừng

- Phỏng vấn người dân/thợ săn

Phỏng vấn người dân được tiến hành ở các làng bản, hoặc ngay trên nương rẫy nếu gặp họ, phương pháp này đã cung cấp được một số thông tin có ý nghĩa quan trọng

về tình hình tài nguyên rừng và tài nguyên động vật rừng nói chung, cũng như về tình hình lưỡng cư, bò sát nói riêng tại địa phương về thành phần loài, số lượng loài, giá trị kinh tế, tình hình săn bắt Phỏng vấn người dân còn giúp chúng ta biết được tình hình phân bố dân cư, tình hình sử dụng đất, phương thức canh tác, khả năng săn bắt và ảnh hưởng của họ đến nguồn tài nguyên lưỡng cư, bò sát

Thợ săn là người có thể biết được nhiều loài động vật nói chung cũng như các loài lưỡng cư, bò sát nói riêng Vì vậy phỏng vấn thợ săn có thể biết được nhiều thông tin quan trọng như nơi sống, địa điểm thường gặp, thành phần loài, giá trị kinh tế… Hiện nay do pháp luật ngăn cấm săn bắt nên không còn nhiều thợ săn và thợ săn được coi như là những người săn bắt trộm Vì vậy, những người thợ săn rất ngại trả lời phỏng vấn, có trả lời cũng không nói thật

về những điều họ biết Người phỏng vấn phải tạo cho người được phỏng vấn không bị áp lực trong buổi phỏng vấn

Trang 20

- Phỏng vấn cán bộ Kiểm lâm

Cán bộ Kiểm lâm là những người có kiến thức về tài nguyên động vật nói chung và tài nguyên lưỡng cư, bò sát nói riêng Vì vậy, nội dung phỏng vấn tìm hiểu về thành phần loài, biến động về số lượng loài và hướng khắc phục những nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên rừng, tài nguyên động vật rừng và tài nguyên lưỡng cư, bò sát

Hình 3.1 Phỏng vấn người dân Hình 3.2 Phỏng vấn cán bộ Kiểm lâm

Kết quả phỏng vấn tổng hợp theo biểu sau:

Mẫu bảng 3.1: Phiếu phỏng vấn người dân và thợ săn

Tên:

Tuổi: Dân tộc:

Trình độ:

Nghề nghiệp:

Địa chỉ:

Thời gian phỏng vấn:

Người phỏng vấn

TT Tên loài Số lượng bắt được Thời điểm Mô tả đặc điểm loài Địa điểm bắt được 1 2 3

Trang 21

3.4.1.3 Phương pháp khảo sát thực địa

Căn cứ vào thời gian và địa điểm nghiên cứu chúng tôi tiến hành khảo sát theo 7 địa điểm thuộc 2 xã là: Yên Thuận và Phù Lưu của huyện Hàm Yên, vì là 2 xã trọng điểm của RĐD Cham Chu, sinh cảnh rừng ở đây còn tương đối nguyên sinh

Tại mỗi điểm điều tra nghiên cứu cần thiết lập các tuyến điều tra xuyên qua các dạng sinh cảnh khác nhau, mỗi tuyến đi được đánh dấu trên bản đồ, định vị bằng GPS, chụp ảnh và ghi chép các thông tin về các loài lưỡng cư, bò sát Để có được kết quả sát với thực tế phải tiến hành đếm nhiền lần trên một tuyến cố định, vào thời gian hoạt động của lưỡng cư, bò sát Đã xác định được 7 tuyến khảo sát (bảng 3.1) Chiều dài của tuyến điều tra phụ thuộc sinh cảnh, khoảng 3- 7h đi bộ Chiều rộng của tuyến điều tra phụ thuộc vào tầm nhìn của người đi điều tra, khả năng phát hiện và đếm trực tiếp bằng mắt thường hoặc nghe tiếng kêu

Hình 3.3: Điều tra theo tuyến Hình 3.4: Hình ảnh Ô rô vảy

Việc khảo sát ban ngày trên mỗi điểm nghiên cứu được thực hiện bằng cách

đi bộ dọc theo các tuyến đường có sẵn, đường mòn, đường đi rừng của người dân địa phương nhằm tìm kiếm cơ hội bắt gặp các cá thể, các dấu vết hoạt động của lưỡng cư, bò sát đồng thời thu thập thông tin về tác động của người dân địa phương đến đời sống của các loài lưỡng cư, bò sát thông qua các hoạt động như khai thác

gỗ, lấy củi, săn bắn Các kết quả quan sát được ghi chép cẩn thận vào sổ nhật ký thực địa Ngoài ra việc khảo sát vào ban đêm cũng được tiến hành khi có điều kiện thuận lợi để tìm kiếm dấu vết của các loài bò sát hoạt động về đêm

Trang 22

Bảng 3.1 Các tuyến điều tra ở Rừng đặc dụng Cham Chu

dài (*) Sinh cảnh đặc trưng

4h00 Rừng nguyên sinh cây

gỗ lớn trên núi đá vôi

Ghi chú : (*) Đơn vị đo: Giờ đi bộ

Trang 23

- Quan sát trực tiếp:

Đây là phương pháp quan trọng để thu thập thông tin cụ thể trên thực địa và kiểm tra những nguồn thông tin thu được, việc quan sát được thực hiện trên các tuyến điều tra để xác định sự có mặt của các loài lưỡng cư, bò sát Nhóm điều tra di chuyển dọc theo các tuyến, trong quá trình di chuyển trên tuyến, người điều tra quan sát về hai bên của tuyến và ghi nhận sự có mặt của các loài lưỡng cư, bò sát qua dấu chân, tiếng kêu, phân, hang ổ… Việc quan sát có thể bằng mắt thường hoặc ống nhòm Thời gian điều tra ban đêm đối với lưỡng cư vào thời điểm từ 16h - 23h, điều tra bò sát vào thời điểm 15h - 23h

- Cách phát hiện

+ Tìm đến nơi sống cụ thể hoặc nơi ẩn tạm thời của loài cần điều tra

+ Lắng nghe tiếng kêu, tiếng động, bước nhảy

Quan sát trực tiếp bằng mắt thường hay ống nhòm để nhận diện hình dạng, màu sắc, cách di chuyển

+ Ban đêm dùng đèn pin, đèn ắc quy soi tìm

+ Có thể gây khua động hay vạch tìm trong hang đất, khe đá, lá cây

Kết quả điều tra thực địa được tổng hợp theo phiếu điều tra sau:

Mẫu bảng 3.2: Mẫu bảng điều tra theo tuyến

Tên tuyến: Người điều tra: Ngày điều tra:

STT Tên loài Số lượng Dấu vết/quan

sát

Địa điểm phát hiện Ghi chú

1

2

3

Trang 24

Mẫu bảng 3.3: Phiếu thu thập mẫu vật

Ngày: Địa điểm:

STT Tên mẫu vật Tên chủ hộ Số lượng Năm bắt được

32/2006/NĐ-CP

Mẫu bảng 3.4: Tính đa dạng lưỡng cư, bò sát theo các bậc phân loại

tại RĐD Cham Chu

Trang 25

Mẫu bảng 3.5: Danh lục các loài lưỡng cư, bò sát khu vực nghiên cứu

TT Tên Việt Nam Tên khoa học

Nguồn thông tin

Điểm ghi nhận Ghi chú

1

2

3

Ghi chú:

- Nguồn tư liệu; PV: Phỏng vấn, QS: Quan sát, DV: Dấu vết, TL: Tài liệu

- Địa điểm ghi nhận; (1) - xã Yên Thuận, (2) - xã Phù Lưu

- Ghi chú; PB: Phổ biến; H: Hiếm; RH: Rất hiếm

Trang 26

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tính đa dạng về thành phần loài của khu hệ lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu

4.1.1 Đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát

Kết quả điều tra về tổ thành loài lưỡng cư, bò sát tại RĐD Cham Chu được thống kê trong bảng sau:

Bảng 4.1 Tính đa dạng lưỡng cư, bò sát theo các bậc phân loại tại RĐD Cham Chu

STT

Tên phổ thông Tên khoa học

Lớp lưỡng cư Amphibia

và Tài nguyên sinh vật)

Trên cơ sở kế thừa các báo cáo về động thực vật rừng ở rừng đặc dụng Cham Chu kết hợp với điều tra thực địa của bản thân và tham khảo một số tài liệu liên quan khác chúng tôi đã tổng hợp được khu hệ lưỡng cư – bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu có 35 loài thuộc 12 họ, 3 bộ

Kết quả bảng 4.1 cho thấy mức độ đa dạng loài của các bộ như sau: Bộ có vảy (Squamata) chiếm ưu thế nhất với 7 họ (chiếm 58%) và 18 loài (chiếm 51%), tiếp đến

là bộ Không đuôi có 3 họ (chiếm 25%) và 14 loài (chiếm 40%), ít nhất là bộ Rùa có 2

họ (chiếm 17%) và 3 loài (chiếm (9%)

+ Xét về đa dạng bộ: Ở Việt Nam lớp lưỡng cư, bò sát tổng số có 6 bộ thì ở

Cham Chu có 3 bộ, chiếm 50% số bộ của lớp lưỡng cư, bò sát trên toàn quốc (Đặng Huy Huỳnh, 2005),

Trang 27

+ Xét về đa dạng họ: Ở Cham Chu có 12 họ thuộc lớp lưỡng cư và bò sát, chiếm 37,5 % số họ lưỡng cư và bò sát của cả nước (cả nước có 32 họ) (Đặng Huy Huỳnh, 2005) Trong đó đa dạng nhất là họ ếch nhái với 9 loài, chiếm 23,08%, các

họ kém đa dạng là họ trăn, họ kỳ đà, họ tắc kè với 1 loài chiếm 2,86%

+ Xét về đa dạng loài: So với toàn quốc (484 loài) thì số loài lưỡng cư, bò sát

ở Cham Chu (35 loài) chiếm tỷ lệ 7,23% Như vậy mức độ đa dạng về thành phần loài tại rừng đặc dụng Cham Chu là thấp

Kết quả điều tra về thành phần loài lưỡng cư - bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu được thống kê ở bảng sau:

Bảng 4.2 Danh lục các loài lưỡng cư và bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu

thông tin

Điểm ghi nhận

Ghi chú

LỚP LƯỠNG CƯ Amphibia

I Bộ không đuôi Anura

5 Ếch màng nhĩ lớn Ranna

1, 2 PB

6 Chàng mẫu sơn Rana maosonensis PV 1, 2 PB

7 Chàng đài bắc Rana taipehensis PV 1, 2 PB

Trang 28

3 Họ nhái bầu Rhacophoridae

12 Nhái bầu hây môn Microhyla heymonsi PV 1, 2 PB

13 Nhái bầu vân Microhyla pulchra PV 1, 2 PB

Trang 29

21 Kỳ đà hoa Varanus salvato PV 1, 2 RH

8 Họ trăn Pythonidae

9 Họ rắn nước Colubridae

23 Rắn ráo thường Ptyas korros PV, QS 1, 2 PB

24 Rắn nước Xenochrophis piscator PV, QS 1, 2 PB

26 Rắn sãi thường Amphiesma stolata PV 1, 2 PB

27 Rắn nhiều đai Cyclophyops

30 Rắn hổ mang chúa Ophiophagus hannah

1, 2 H

31 Rắn cạp nong Bungarus fasciatus PV 1, 2 H

32 Rắn cạp nia bắc Bungarus multicinctus PV 1, 2 H

III Bộ rùa Testudines

11 Họ rùa đầu to Platysternon

33 Rùa đầu to Platysternon

1, 2 H

12 Họ rùa đầm Geoemydidae

35 Rùa đất spangle Geoemyda spengleri PV 1, 2 H

Trang 30

(Nguồn: Kết quả Điều tra đánh giá hiện trạng các loài bị đe dọa toàn cầu và các sinh cảnh quan trọng trong Khu bảo tồn Cham Chu năm 2009, Viện Sinh

thái và Tài nguyên sinh vật)

Ghi chú

- Nguồn tư liệu; PV: Phỏng vấn, QS: Quan sát, DV: Dấu vết, TL: Tài liệu

- Địa điểm ghi nhận; (1) - xã Yên Thuận, (2) - xã Phù Lưu

- Ghi chú; PB: Phổ biến; H: Hiếm; RH: Rất hiếm

4.1.2 So sánh thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu với các Khu BTTN và VQG ở khu vực miền Bắc

Để có thể đánh giá mức độ đa dạng của khu hệ lưỡng cư - bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu chúng tôi đã tiến hành tập hợp các dẫn liệu hiện có về thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở một số VQG, Khu BTTN ở khu vực miền Bắc và so sánh với thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu, kết quả được thể hiện ở bảng 4.3 và hình 4.1

Bảng 4.3 Số lượng loài lưỡng cư, bò sát ở một số VQG, Khu BTTN

Trang 31

Hình 4.1: So sánh số lượng loài lưỡng cư tại rừng đặc dụng Cham Chu

với các Khu BTTN và VQG ở khu vực miền Bắc

Từ bảng 4.3 và hình 4.1 nhận thấy:

+ Xét về bộ: Số bộ lưỡng cư, bò sát ở Cham Chu tương đương với bộ lưỡng

cư, bò sát ở VQG Ba Bể (3 bộ), bằng 75% số bộ lưỡng cư, bò sát của khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng và bằng 60% số bộ lưỡng cư, bò sát của Khu BTTN Na Hang (5 bộ), bằng 50% số bộ lưỡng cư, bò sát của Khu BTTN Kim Hỷ (6 bộ)

+ Xét về họ: Qua kết quả so sánh rừng đặc dụng Cham Chu với các VQG, KBTTN ở khu vực miền Bắc nhận thấy số họ lưỡng cư, bò sát ở Cham Chu bằng Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng (12 họ), ít hơn VQG Ba Bể (15 họ), bằng 66,67% số

họ lưỡng cư, bò sát ở khu BTTN Na Hang (18 họ), bằng 48% số họ lưỡng cư, bò sát ở Kim Hỷ (25 họ)

+ Xét về loài: Rừng đặc dụng Cham Chu có 35 loài lưỡng cư – bò sát bằng 89,74% số loài lưỡng cư, bò sát Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng (39 loài), bằng 76,09 % số loài lưỡng cư, bò sát của VQG Ba Bể (46 loài), bằng 55,56 % số loài lưỡng cư, bò sát Khu BTTN Na Hang (63 loài), bằng 47,3 % số loài lưỡng cư,

bò sát của Khu BTTN Kim Hỷ (74loài)

Trang 32

Như vậy, tính đa dạng về thành phần loài, họ, bộ của khu hệ lưỡng cư, bò sát Rừng đặc dụng Cham Chu đạt mức độ thấp, thua kém đa dạng khu hệ lưỡng cư, bò sát trong Khu BTTN và VQG ở khu vực miền Bắc

4.1.3 Đa dạng nguồn gen quý hiếm

Theo thống kê, nước ta có 167 loài lưỡng cư và 317 loài bò sát, trong đó có

21 loài ếch nhái và 33 loài bò sát đặc hữu Sách đỏ Việt Nam (2000) đã thống kê được 11 loài ếch nhái và 43 loài bò sát đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Sách đỏ Việt Nam (2007) đã ghi nhận 14 loài ếch nhái và 40 loài bò sát nguy cấp quý hiếm

và có 1 loài bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên đó là Cá sấu hoa cà

Qua kết quả điều tra tại rừng đặc dụng Cham Chu, trong tổng số 35 loài lưỡng cư, bò sát có 10 loài thuộc diện quý hiếm cần được bảo vệ, chiếm 28,57% tổng số loài được ghi nhận ở khu vực này, kết quả thể hiện qua bảng 4.4

Bảng 4.4 Những loài lưỡng cư, bò sát quý hiếm tại RĐD Cham Chu

STT Tên phổ thông Tên khoa học

Tình trạng bảo tồn SĐVN

4 Rắn ráo thường Ptyas korros EN

6 Rắn hổ mang chúa Ophiophagus hannah CR VU IB

7 Rắn cạp nong Bungarus fasciatus EN LR IIB

8 Rùa đầu to Platysternon

9 Rùa đất spangle Geoemyda spengleri EN

(Nguồn: Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các loài bị đe dọa toàn cầu và các

sinh cảnh quan trọng trong khu rừng đặc dụng Cham Chu năm 2009, Viện Sinh thái

và Tài nguyên sinh vật)

Trang 33

Ghi chú: (CR: Rất nguy cấp; EN: Đang nguy cấp; VU: Sẽ nguy cấp; LR: Ít quan

tâm; NĐ – Nghị định 32/2006/NĐ-CP; IB: Nghiêm cấm khai thác sử dụng với mục đích thương mại; IIB: Hạn chế khai thác và sử dụng với mục đích thương mại)

Kết quả bảng 4.4 cho thấy, trong số 35 loài lưỡng cư – bò sát ghi nhận được

ở Cham Chu có 9 loài thuộc diện quý hiếm ở mức độ khác nhau Trong đó:

Số loài lưỡng cư – bò sát ở Cham Chu có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) là 8 loài (chiếm 22,86 %), trong đó có 2 loài ở mức Rất nguy cấp (CR), 4 loài ở mức Nguy cấp (EN) và 1 loài thuộc mức Sẽ nguy cấp (VU)

Số loài ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2015) có 5 loài (chiếm 14,29 %), trong

đó có 2 loài ở mức Nguy cấp (EN), 2 loài thuộc mức Sẽ nguy cấp (VU) và 1 loài thuộc mức Ít quan tâm (LR); Số loài ghi trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ là 6 loài (chiếm 17,14 %), trong đó có 1 loài ở mức nghiêm cấm khai thác sử dụng (IB), 5 loài ở mức hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại (IIB)

Trong số các loài lưỡng cư – bò sát quý hiếm có 2 loài có ý nghĩa bảo tồn

nguồn gen rất cao là: Trăn đất (Python molorus) và Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah)

4.2 Đặc điểm phân bố theo sinh cảnh của các loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu

Để tồn tại và phát triển động vật rừng nói chung và lưỡng cư, bò sát nói riêng cần

có các yếu tố cơ bản đó là thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ mà các yếu tố này liên quan mật thiết với sinh cảnh Nghiên cứu phân bố các loài theo sinh cảnh nhằm tìm hiểu sinh cảnh sống thích hợp của các loài Đây cũng là cơ sở quan trọng để xác định các biện pháp quản lý, bảo vệ Vì vậy, muốn quản lý, bảo vệ các loài lưỡng cư, bò sát trước hết phải bảo vệ sinh cảnh sống của chúng

Ngày đăng: 15/05/2016, 18:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích rừng và các loài đất đai tại khu RĐD Cham Chu - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Bảng 2.1 Diện tích rừng và các loài đất đai tại khu RĐD Cham Chu (Trang 10)
Bảng 2.2: Diện tích các loài thảm thực vật ở khu RĐD Cham Chu - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Bảng 2.2 Diện tích các loài thảm thực vật ở khu RĐD Cham Chu (Trang 11)
Bảng 2.3. Thành phần thực vật ở khu rừng đặc dụng Cham Chu - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Bảng 2.3. Thành phần thực vật ở khu rừng đặc dụng Cham Chu (Trang 12)
Hình 3.3: Điều tra theo tuyến                   Hình 3.4: Hình ảnh Ô rô vảy - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Hình 3.3 Điều tra theo tuyến Hình 3.4: Hình ảnh Ô rô vảy (Trang 21)
Bảng 3.1 Các tuyến điều tra ở Rừng đặc dụng Cham Chu - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Bảng 3.1 Các tuyến điều tra ở Rừng đặc dụng Cham Chu (Trang 22)
Bảng 4.1. Tính đa dạng lưỡng cư, bò sát theo các bậc phân loại tại RĐD Cham Chu - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Bảng 4.1. Tính đa dạng lưỡng cư, bò sát theo các bậc phân loại tại RĐD Cham Chu (Trang 26)
Bảng 4.2. Danh lục các loài lưỡng cư và bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Bảng 4.2. Danh lục các loài lưỡng cư và bò sát tại rừng đặc dụng Cham Chu (Trang 27)
Hình 4.1: So sánh số lượng loài lưỡng cư tại rừng đặc dụng Cham Chu - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Hình 4.1 So sánh số lượng loài lưỡng cư tại rừng đặc dụng Cham Chu (Trang 31)
Bảng 4.4. Những loài lưỡng cư, bò sát quý hiếm tại RĐD Cham Chu - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Bảng 4.4. Những loài lưỡng cư, bò sát quý hiếm tại RĐD Cham Chu (Trang 32)
Bảng 4.5. Phân bố lưỡng cư – bò sát theo sinh cảnh tại RĐD Cham Chu - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Bảng 4.5. Phân bố lưỡng cư – bò sát theo sinh cảnh tại RĐD Cham Chu (Trang 34)
Hình 4.2: Sinh cảnh rừng núi đất - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Hình 4.2 Sinh cảnh rừng núi đất (Trang 36)
Hình 4.4: Sinh cảnh thủy vực - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Hình 4.4 Sinh cảnh thủy vực (Trang 37)
Hình 4.3: Sinh cảnh núi rừng đá vôi - Xác định được tính đa dạng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát tại rừng đặc dụng cham chu và phân tích đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố các loài lưỡng cư, bò sát theo sinh cảnh tại rừng đặc dụng cham chu
Hình 4.3 Sinh cảnh núi rừng đá vôi (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w