Ngoài là cây lương thực, một số loài cây có củ còn được sử dụng vào các mục đích khác như Gừng được dùng làm gia vị và làm thuốc, Huệ ngoài là cây cảnh còn được sử dụng sản xuất tinh dầu
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và
sâu sắc nhất đến TS Lê Đồng Tấn và Th.S Dương Thị Thanh Thảo là những
người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên,
tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc nghiên cứu, thu
thập số liệu
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân và bạn bè đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt thời gian tôi học tập
và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Cù Thị Diệu Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do tôi thực hiện cùng với sự hướng dẫn của TS Lê Đồng Tấn và Th.S Dương Thị Thanh Thảo Các số liệu nêu trong
đề tài là trung thực, được thu thập từ thực nghiệm và qua xử lí thống kê Các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Cù Thị Diệu Linh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
4 Bố cục của khóa luận 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Nghiên cứu về đa dạng loài thực vật 3
1.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài 3
1.1.2 Nghiên cứu về dạng sống thực vật 4
1.2 Nghiên cứu về cây có củ 7
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.1 Đối tượng nghiên cứu 10
2.2 Phạm vi nghiên cứu 10
2.3 Thời gian nghiên cứu 10
2.4 Nội dung nghiên cứu 10
2.5 Phương pháp nghiên cứu 10
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
3.1 Thành phần loài cây có củ tại xã Cao Minh 12
3.2 Đa dạng về dạng sống của các loài cây có củ tại xã Cao Minh 17
3.3 Nguồn gốc cây có củ tại xã Cao Minh 17
3.4 Tình hình khai thác và sử dụng cây có củ tại xã Cao Minh 18
3.4.1 Tình hình canh tác cây có củ tại xã Cao Minh 18
3.4.2 Cây có củ thuộc loài quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa tuvệt chủng 20 3.5 Giá trị sử dụng cây có củ 21
3.6 Đề xuất giải pháp phát triển và bảo tồn nguồn tài nguyên cây có củ tại xã Cao Minh 23
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, cùng với lúa, các loài cây có củ (Sắn, Khoai lang, Yam và các loài thuộc họ Ráy…) là nhóm cây trồng thứ hai sau cây ngũ cốc Chúng được sản xuất với chi phí đầu vào thấp và thường được tiêu thụ bởi những người nghèo, nhưng nó có vai trò đóng góp đáng kể vào nguồn lương thực của đất nước và làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất công nghiệp
Nhóm cây có củ góp phần vào việc ổn định an ninh lương thực thế giới
và đất nước Ngoài là cây lương thực, một số loài cây có củ còn được sử dụng vào các mục đích khác như Gừng được dùng làm gia vị và làm thuốc, Huệ ngoài là cây cảnh còn được sử dụng sản xuất tinh dầu… Bên cạnh đó chúng cung cấp nguồn nguyên liệu phục vụ cho các mục đích nghiên cứu khoa học
Vai trò quan trọng của chúng là thế, nhưng những năm gần đây diện tích của chúng càng ngày càng giảm cả về mặt số lượng lẫn chất lượng Bảo tồn và khai thác sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên cây có củ là nhiệm vụ cần thiết được đặt ra cho chúng ta và cuộc sống của con cháu trong tương lai
Xã Cao Minh thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc có tổng diện tích 12,4 km², nằm sát hồ Đại Lải Thu nhập của người dân phụ thuộc chủ yếu vào trồng trọt, là vùng có điều kiện thời tiết đất đai khá thuận lợi cho trồng và tiêu thụ các giống cây có củ Việc bảo tồn, nhân rộng các giống cây có củ không chỉ làm phong phú nguồn lương thực, thực phẩm mà còn làm giàu cho bà con nông dân trong vùng
Chính vì thế, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu đa dạng về thành
phần loài cây có củ tại xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”
Trang 7
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng thành phần loài cây có củ làm cơ sở khoa học cho công tác khai thác bảo tồn và phát triển nguồn gen cây có củ tại khu vực
và vùng lân cận
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
liệu khoa học về nguồn gen cây có củ tại địa phương
nguồn gen cây có củ làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp khai thác,
sử dụng và và phát triển cây có củ phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội tại
vùng nghiên cứu
4 Bố cục của khóa luận
Gồm 26 trang, 7 ảnh, 4 bảng, chia thành các phần như sau: mở đầu (2 trang), chương 1: tổng quan tài liệu (7 trang), chương 2: đối tượng và phương pháp nghiên cứu (2 trang), chương 3: kết quả nghiên cứu (12 trang), kết luận
và đề nghị (1 trang), tài liệu tham khảo (2 trang), phụ lục (không đánh số trang)
Trang 8
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nghiên cứu về đa dạng loài thực vật
Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của một loài cũng như đối với các quần thể khác nhau
Việc nghiên cứu đa dạng các loài thực vật trên thế giới đã được tiến hành từ lâu Chủ yếu là nhằm xác định cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp khoa học kĩ thuật tác động vào các hệ thực vật nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường
1.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu của Vusotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicop (1933), Creepva (1978) Theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Do đó việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là một chỉ tiêu quan trọng trong nghiên cứu đa dạng thực vật [12]
Pócs Tama‟s (1965) đã thống kê được ở miền Bắc Việt Nam có 5190 loài thực vật [24]
Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1970) đã thống kê và bổ sung số loài ở miền Bắc lên 5609 loài, 1660 chi và 140 họ với 5069 loài thực vật Hạt kín và
540 loài thuộc các ngành còn lại [18]
Thái Văn Trừng (1978) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi, 289 họ [24]
Hoàng Chung (1980) khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ [12]
Trang 9Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc (1984) thống kê hệ thực vật Tây Nguyên có 3754 loài thực vật có mạch [2]
Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê
số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài [17]
Đỗ Tất Lợi (1995, 2004) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố
798 loài thuộc 164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta [20]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1996) thống kê thực vật Việt Nam có 10580 loài thuộc 2342 chi, 318 họ [22]
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1997) nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của sa van bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau [14]
Phan Kế Lộc, Lê Trọng Cúc (1997) đã thống kê thực vật Việt Nam có
10340 loài thuộc 2256 chi, 305 họ [19]
Lê Ngọc Công (1998) khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một số mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi đã công bố thành phần loài gồm 211 loài thuộc 64 họ [13]
Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2024 loài thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa - Phansipan [23]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) xác định thực vật Hạt trần có 63 loài, Hạt kín có 9812 loài [24]
Hoàng Chung (2004) đã công bố thành phần loài ở đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam có 79 họ với 402 loài [13]
1.1.2 Nghiên cứu về dạng sống thực vật
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái, cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường sống Nó liên quan chặt chẽ với các nhân tố sinh thái của mỗi vùng, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm
Trang 10Schow (1823) đã nghiên cứu về sự phân bố của thực vật và cho rằng: cách mọc được hiểu là đặc điểm phân bố của các loài trong quần xã [12] Theo Ewarming (1884, 1908, 1909) khi nghiên cứu và phân chia dạng sống của thực vật thuộc thảo vùng ôn đới đã sử dụng những đặc điểm sinh vật học như: đặc điểm chồi, những phương thức sinh sản, sự kéo dài đời sống, sự phát triển
Drude (1913), Raunkiner (1905, 1934) khi phân chia dạng sống đã sử dụng vị trí của chồi và khả năng tồn tại trong điều kiện bất lợi làm tiêu chuẩn
để phân chia [13]
I.K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm G N Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm [12]
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất
là hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) [24] để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm
Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn
Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
Therophytes (Th): nhóm cây sống chồi một năm
Trang 11Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB):
SB = 46Ph + 9Ch + 26Hc + 6Cr + 13Th
Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu
tố môi trường tạo nên Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản
Braun - Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc le; mọc thành vạt; mọc thành dải nhỏ; mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn [13]
Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như: Doãn Ngọc Chất (1969) nghiên cứu dạng sống của một số loài thực vật thuộc họ Hoà thảo Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam,đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ sa van, thảo nguyên [12]
Hoàng Chung (2004) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm [13]
Nhìn chung, những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu, đánh giá thành phần loài ở một vùng và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện địa hình và khí hậu Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn, rộng rãi hơn
Trang 12nhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia
1.2 Nghiên cứu về cây có củ
Thực vật nước ta rất đa dạng, phong phú Mỗi loài cây có ích lợi khác
nhau trong cuộc sống Đã có nhiều nghiên cứu khác nhau về lợi ích của chúng
Võ Văn Chi - Trần Hợp (2002) đã chia cây cỏ Việt Nam thành 11
nhóm: nhóm cây cung cấp gỗ; nhóm cây cho sợi; nhóm cây có nhựa mủ, gôm, nhựa dầu; nhóm cây cho dầu béo, sáp mỡ; nhóm cây cho dầu thơm (hương liệu); nhóm cây cho tanin, chất nhuộm; nhóm cây làm thuốc, diệt sâu bọ, cỏ dại; nhóm cây làm lương thực, cây cho bột, cho đường; nhóm cây làm thực phẩm; nhóm cây làm thức ăn gia súc và nhóm cây cho gia vị, nước uống Trong đó cây có củ được xếp vào nhóm cây làm lương thực với 251 loài trong
90 chi và 50 họ thực vật [10]
Trong Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi (2012) đã giới thiệu rất nhiều loài thực vật được sử dụng làm thuốc trong đó có nhiều loài có
củ như Gừng, Riềng, Cà rốt, Su hào, Khoai lang… [11]
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Đỗ Hữu Bích và cộng
sự (2004) đã miêu tả đặc điểm phân loại cũng như công dụng làm thuốc của nhiều loài động thực vật ở Việt Nam trong đó có nhiều loài cây có củ [9]
Dự án hỗ trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam - pha II (2007) chia các cây lâm sản ngoài gỗ thành 6 nhóm cây là nhóm cây có sợi; nhóm cây làm thực phẩm; nhóm cây thuốc; nhóm cây cho dầu và nhựa; nhóm tanin thuốc nhuộm ; cây bóng mát Cây có củ được kể đến trong các nhóm cây thuốc, nhóm cây làm thực phẩm và nhóm cây cho dầu và nhựa [16]
Đỗ Tất Lợi trong Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (2004) đã sắp
xếp các loài cây, trong đó có nhiều loài cây có củ vào các nhóm có tác dụng
Trang 13làm thuốc như : cây thuốc và vị thuốc cầm máu (Riềng), cây thuốc về đường tiêu hóa (Gừng, Gừng gió, Cà rốt ) [20]
Trong 1900 loài cây có ích của Trần Đình Lý và cộng sự (1993) đã xếp các loài cây theo các nhóm công dụng khác nhau Nhiều loài cây có củ dùng làm thức ăn cho người và gia súc, dùng làm thuốc, làm gia vị… [21]
Trong cuốn sách Rau - hoa - quả - củ làm thuốc của Trần Bá Cừ [15], khái niệm về củ được giới thiệu như sau: Củ là các bộ phận của thực vật phát triển ngầm dưới mặt đất hay trên mặt đất, tích lũy chất dinh dưỡng dự trữ giúp cây qua thời kì rụng lá mùa đông có điều kiện chuyển lên phát triển các chồi xuân năm sau khỏi mặt đất hay thúc các mầm ngủ trên thân, cành, ngọn cây đông trước đã rụng lá mọc lên Ba dạng thường gặp:
1 Rễ củ (Tuberculum) như củ Khoai lang, củ Sắn dây thường chứa nhiều đường, bột, các glucozit, một số ancaloit và nhiều loại vitamin Có củ do rễ cái, có củ do các rễ bên tạo thành
2 Thân hành còn gọi là giò hành hay rò (Bulbus) như củ Hành, củ Tỏi, giò phong lan là các bẹ lá cùng mọc từ một thân đế ngầm phình lên chứa chất dự trữ thường kèm theo nhiều lại tinh dầu và tích tụ cả sunfua
3 Thân rễ (Rhizoma) như củ Riềng, củ Gừng mang các lá địa sinh biến thành vẩy không có diệp lục Các lại thân rễ này chứa nhiều glucozit và ancaloit Đôi khi còn gặp những cành địa sinh phình lên thành củ ngầm như Khoai tây và những cành khí sinh thành củ treo như dái Khoai mài, Khoai vạc, hoặc thân phình lên thành củ như củ Su hào Các loại củ này chứ nhiều đường tinh bột hay protein
Trong Từ điển bách khoa thực vật học Việt Nam [1], xuất bản 2014, củ (Tuber) là phần phình lên ở thân hoặc rễ, thường là biến dạng cho chức năng
dự trữ, thường là chỉ cho 1 năm mà thôi, ví dụ củ thân như Khoai tây
(Solanum tuberosum L.), củ rễ như Thược dược (Dahlia pinnata) Củ rễ phát
triển từ các rễ phụ Củ thân phân biệt với củ rễ ở chỗ có chồi hay „mắt‟
Trang 14Nguồn tài nguyên cây có củ rất phong phú, đa dạng Chúng có nhiều công dụng khác nhau trong cuộc sống Vì lẽ đó cần phải có biện pháp bảo tồn
chúng Đề tài “Nghiên cứu đa dạng về thành phần loài cây có củ tại xã Cao
Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” sẽ giúp thống kê các loài cây có củ
ở khu vực nghiên cứu từ đó đưa ra các biện pháp góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên này
Trang 15Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
tự nhiên trong các sinh cảnh tại xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Phạm vi nghiên cứu
2.3 Thời gian nghiên cứu
2.4 Nội dung nghiên cứu
tại xã Cao Minh
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp kế thừa
tham khảo thành phần loài cây có củ có liên quan tại vùng nghiên cứu
điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế dân sinh; các báo cáo thống kê về tình hình sản xuất nông lâm nghiệp để thu thập thông tin về cây có củ đã trồng trên địa bàn
Trang 16Phương pháp điều tra
xóm để thu thập số liệu Trên tuyến điều tra thiết lập các điểm điều tra (là hộ gia đình, ruộng canh tác, các sinh cảnh tự nhiên…) để thu thập thông tin và số liệu về cây có củ Trên tuyến, hoặc các điểm điều tra, tiến hành quan sát và thu thập các số liệu về cây có củ Các số liệu được ghi riêng cho từng loài theo mẫu phiếu điều tra
Phương pháp phỏng vấn nhanh có sự tham gia của người dân (PRA)
Phỏng vấn người dân địa phương, cán bộ làm công tác quản lý để bổ sung thông tin về thành phần loài, các đặc điểm sinh học - sinh thái, tình hình sản xuất, khai thác và mua bán các loài…
Các loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng được xác định theo Sách
Đỏ Việt Nam (2007) - phần thực vật, Danh lục đỏ của IUCN (2011), Nghị định số 32/2006-CP của Chính phủ về Quản lý Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Giá trị sử dụng được xác định theo bảng phân loại cây
tài nguyên của chương trình “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á - Prosea”, Từ
điển cây thuốc Việt Nam, 1900 loài cây có ích… Có bổ sung thông tin thu
thập được thông qua phỏng vấn trực tiếp của người dân địa phương
Trang 17
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thành phần loài cây có củ tại xã Cao Minh
Danh lục các loài cây có củ tại xã Cao Minh được trình bày trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Danh lục các loài cây có củ tại xã Cao Minh
TT Tên khoa học Tên Việt
Nam
Dạng sống
Công dụng
Loài quý hiếm
Nguồn gốc
1 Alliaceae Agardh - Họ Hành
1 Allium ascalocium L Hành ta Thảo R, T Cây trồng
2 Allium cepa L Hành tây Thảo R, T Cây trồng
3 Allium fistulosum L Hành hoa Thảo R, T Cây trồng
5 Allium porrum L Tỏi tây Thảo R, T Cây trồng
7 Allium schoenoprasum L Hành dưa Thảo R , T Cây trồng
2 Amaryllidaceae Jaume - Họ Náng
8 Hippeastrum puniceum
(Lamk.) Kuntze Loa kèn đỏ Thảo Ca, T Cây trồng
9 Narcissus tazetta L Thủy tiên Thảo Ca, T Cây trồng,
NN
10 Polianthes tuberosa L Huệ Thảo Ca, D Cây trồng
3 Apiaceae Lindl - Họ Hoa tán
11 Daucus carota L Cà rốt Thảo R, T Cây trồng
4 Araceae Juss - Họ Ráy
12 Alocasia indica Schott